Công tác xây dựng - Chương trình, kế hoạch công tác
 
 
  
Phân loại
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Nội dung
  
  
Bình Dương: Hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật trong kỳ 2014-2018 đảm bảo tiến độ, chất lượngVăn bản QPPL; Tin ngành tư phápTinBình Dương: Hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật trong kỳ 2014-2018 đảm bảo tiến độ, chất lượng/CMSImageNew/2019-05/IMG-4050_Key_07052019140419_Key_07052019150911.jpg
Bình Dương: Hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật trong kỳ 2014-2018 đảm bảo tiến độ, chất lượng
5/7/2019 4:00 PMNoĐã ban hành

TTĐT - Ngày 13/3/2018, UBND tỉnh Bình Dương đã ban hành Kế hoạch hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) kỳ 2014-2018 trên địa bàn tỉnh. Trên cơ sở kế hoạch của UBND tỉnh, hướng dẫn của Sở Tư pháp, các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thị, thành phố đã triển khai thực hiện nghiêm túc, đồng bộ công tác hệ thống hóa văn bản QPPL kỳ 2014-2018.

Tích cực triển khai thực hiện

Theo Nghị định số 16/2013/NĐ-CP ngày 06/02/2013 của Chính phủ, mục đích của rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL nhằm phát hiện quy định trái pháp luật, mâu thuẫn, chồng chéo, hết hiệu lực hoặc không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội để kịp thời đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ, thay thế, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản mới, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật và phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời, hệ thống hóa văn bản nhằm công bố tập hệ thống hóa văn bản còn hiệu lực và các danh mục văn bản, giúp công tác xây dựng, áp dụng, thi hành pháp luật được hiệu quả, thuận tiện, tăng cường tính công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật.

Nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng trên, Sở Tư pháp đã nỗ lực thực hiện tốt vai trò, trách nhiệm tham mưu UBND tỉnh ban hành Kế hoạch hệ thống hóa văn bản QPPL kỳ 2014-2018 trên địa bàn tỉnh Bình Dương; đồng thời hướng dẫn các cơ quan, đơn vị, địa phương xây dựng kế hoạch, thực hiện hệ thống hóa văn bản QPPL. Được sự ủy quyền của UBND tỉnh, Sở Tư pháp cũng đã tổ chức hội nghị quán triệt, tập huấn nghiệp vụ rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL cho các cán bộ, công chức làm công tác văn bản của các sở, ban, ngành tỉnh và địa phương; đôn đốc các cơ quan đơn vị thực hiện hệ thống hóa văn bản QPPL.


Tập huấn nghiệp vụ rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL

Qua thời gian tích cực triển khai thực hiện, công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL kỳ 2014-2018 trên địa bàn tỉnh đã đảm bảo đúng tiến độ, đồng bộ và đạt hiệu quả cao. Ngày 01/3/2019, UBND tỉnh Bình Dương đã ban hành Quyết định số 470/QĐ-UBND công bố kết quả hệ thống hóa văn bản QPPL của HĐND, UBND tỉnh trên địa bàn tỉnh Bình Dương trong kỳ 2014-2018. Kết quả rà soát 926 văn bản QPPL của HĐND, UBND tỉnh được tập hợp để hệ thống hóa kỳ 2014-2018 có tổng số 466 văn bản QPPL còn hiệu lực; 496 văn bản QPPL hết hiệu lực, ngưng hiệu lực toàn bộ; 34 văn bản QPPL hết hiệu lực, ngưng hiệu lực một phần và 90 văn bản QPPL cần đình chỉ thi hành, ngưng hiệu lực, sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới. Kết quả hệ thống hóa văn bản trên đã được công khai bởi Công báo tỉnh, Cổng thông tin điện tử tỉnh Bình Dương (www.binhduong.gov.vn). Đối với cấp huyện, có tổng số 185 văn bản QPPL còn hiệu lực; 497 văn bản hết hiệu lực, ngưng hiệu lực toàn bộ; 04 văn bản QPPL hết hiệu lực, ngưng hiệu lực một phần và 50 văn bản QPPL cần đình chỉ thi hành, ngưng hiệu lực, sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới.


Công khai kết quả hệ thống hóa văn bản QPPL của HĐND, UBND tỉnh kỳ 2014-2018 trên Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bình Dương

Để đạt được kết quả như trên, bà Nguyễn Anh Hoa - Giám đốc Sở Tư pháp cho biết, việc triển khai nhiệm vụ hệ thống hóa văn bản QPPL trên địa bàn tỉnh kỳ 2014-2018 có nhiều thuận lợi. Trước hết là sự quan tâm, chỉ đạo sát sao, kịp thời của UBND tỉnh đối với công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản. Lãnh đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương nhận thức rõ trách nhiệm hệ thống hóa của đơn vị mình và vai trò, ý nghĩa của công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản đối với quá trình xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thi hành pháp luật nên đã quan tâm, tích cực trong tổ chức thực hiện.

Cần rà soát, hệ thống hóa văn bản một cách tổng thể

Theo Sở Tư pháp, rà soát, hệ thống hóa văn bản là nhiệm vụ đã được các sở, ban, ngành thực hiện thường xuyên, tuy nhiên kỳ hệ thống hóa văn bản 05 năm mới được triển khai một lần, đến nay là lần thứ hai theo Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015. Do đó, một số cơ quan vẫn còn lúng túng về cách thức triển khai, kỹ năng nghiệp vụ rà soát văn bản QPPL, chỉ mới thực hiện rà soát hiệu lực của văn bản mà chưa thực hiện rà soát phần nội dung để phát hiện các quy định chưa phù hợp, mâu thuẫn, chồng chéo với các căn cứ rà soát để tham mưu xử lý hoặc kiến nghị cơ quan, người có thẩm quyền xử lý theo quy định. Hơn nữa việc thực hiện công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản của các sở, ngành tỉnh được giao cho công chức làm công tác pháp chế, trong khi hầu hết các công chức này còn kiêm nhiệm nhiều công việc khác, do vậy việc thực hiện công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản chưa được thực hiện thường xuyên.

Bên cạnh đó, việc hỗ trợ kinh phí cho công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản được thực hiện theo quy định của Bộ Tài chính chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ công việc, chưa tạo động lực, khuyến khích cho đội ngũ công chức làm công tác văn bản.

Từ thực tiễn triển khai thực hiện nhiệm vụ hệ thống hóa văn bản QPPL, Sở Tư pháp đã kiến nghị UBND tỉnh tiếp tục quan tâm, chỉ đạo công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL. Các sở, ban, ngành tỉnh tăng cường ý thức, trách nhiệm thường xuyên rà soát văn bản thuộc lĩnh vực quản lý được giao; kịp thời phát hiện quy định mâu thuẫn, chồng chéo, hết hiệu lực hoặc không còn phù hợp để sớm xử lý hoặc kiến nghị xử lý, bảo đảm tính hợp pháp, thống nhất của hệ thống pháp luật, phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước, cũng là cơ sở tạo thuận lợi cho việc hệ thống hóa văn bản các kỳ tiếp theo. Đồng thời, tham mưu UBND tỉnh kiến nghị Bộ Tư pháp và các Bộ, ngành liên quan phối hợp ban hành văn bản quy định cụ thể về kinh phí để thực hiện công tác kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa văn bản.​


Nguồn: Mai Xuân (https://www.binhduong.gov.vn)

FalsePhòng Hành chính Tư pháp
Kết quả hệ thống hóa văn bản QPPL của HĐND, UBND tỉnh Bình Dương trong kỳ hệ thống hóa 2014 – 2018Tin ngành tư pháp; Văn bản QPPL; Văn bản nghiệp vụBài viếtKết quả hệ thống hóa văn bản QPPL của HĐND, UBND tỉnh Bình Dương trong kỳ hệ thống hóa 2014 – 2018/CMSImageNew/2019-03/vbqppl_Key_28032019142359.jpg
Kết quả hệ thống hóa văn bản QPPL của HĐND, UBND tỉnh Bình Dương trong kỳ hệ thống hóa 2014 – 2018
3/28/2019 3:00 PMNoĐã ban hành

Kết quả hệ thống hóa văn bản QPPL của HĐND, UBND tỉnh Bình Dương trong kỳ hệ thống hóa 2014 – 2018

Ngày 01/3/2019, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ký ban hành Quyết định số 470/QĐ-UBND về việc công bố kết quả hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương trong kỳ hệ thống hóa 2014 - 2018, bao gồm:

1. Danh mục văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành, còn hiệu lực trong kỳ hệ thống hóa 2014 - 2018: 466 văn bản, gồm: 114 Nghị quyết, 342 Quyết định, 10 Chỉ thị;

2. Danh mục văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành, hết hiệu lực, ngưng hiệu lực toàn bộ trong kỳ hệ thống hóa 2014 - 2018: 496 văn bản, gồm 81 Nghị quyết, 315 Quyết định, 100 Chỉ thị;

3. Danh mục văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành, hết hiệu lực, ngưng hiệu lực một phần trong kỳ hệ thống hóa 2014 - 2018: 34 văn bản, gồm: 05 Nghị quyết, 29 Quyết;

4. Danh mục văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành, cần đình chỉ việc thi hành, ngưng hiệu lực, sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới trong kỳ hệ thống hóa 2014 - 2018: 90 văn bản, gồm: 17 Nghị quyết, 72 Quyết định, 01 Chỉ thị.

5. Tập hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương còn hiệu lực trong kỳ hệ thống hóa 2014 - 2018, gồm: 466 văn bản, gồm: 114 Nghị quyết, 342 Quyết định, 10 Chỉ thị./.

​Tải về:

470-QĐ.pdf


Tập hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật kỳ 2014-2018:

TAP HTH_ SO GIAO DUC.pdf

TAP HTH_ SO NGOAI VU.pdf

TAP HTH_ SO Y TE.pdf

TAP HTH_ SOXAYDUNG.pdf

TAP HTH_ TAI CHINH.pdf

TAP HTH_BO CHQS TINH.pdf

TAP HTH_BQL KCN.pdf

TAP HTH_CONG AN TINH.pdf

TAP HTH_CUC THUE TINH.pdf

TAP HTH_KHOAHOCCONGNGHE.pdf

TAP HTH_LDTBXH.pdf

TAP HTH_LVUC KHAC (HC).pdf

TAP HTH_NOI VU.pdf

TAP HTH_NONGNGHIEP.pdf

TAP HTH_SO CONG THUONG.pdf

TAP HTH_SO GTVT.pdf

TAP HTH_SO KHĐT.pdf

TAP HTH_SO TNMT.pdf

TAP HTH_SO TU PHAP.pdf

TAP HTH_SO VAN HOA.pdf

TAP HTH_THANH TRA TINH.pdf

TAP HTH_THONGTINTRUYENTHONG.pdf

 

Huỳnh Hữu Tốt - Phòng XDKTVBQPPL

FalseHuỳnh Hữu Tốt
Kết quả rà soát văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực, ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương năm 2018Thông tinTinKết quả rà soát văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực, ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương năm 2018/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
2/19/2019 12:00 PMNoĐã ban hànhFalsePhòng XD&KTVB
Báo cáo kết quả xử lý các văn bản có dấu hiệu trái pháp luật trên địa bàn tỉnh Bình Dương Thông tinTinBáo cáo kết quả xử lý các văn bản có dấu hiệu trái pháp luật trên địa bàn tỉnh Bình Dương /Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
1/29/2019 12:00 PMNoĐã ban hànhFalsePhòng XD&KTVB
Danh mục văn bản do các cơ quan Trung ương ban hành năm 2018  giao nhiệm vụ xây dựng thể chế cho chính quyền địa phươngThông tinTinDanh mục văn bản do các cơ quan Trung ương ban hành năm 2018  giao nhiệm vụ xây dựng thể chế cho chính quyền địa phương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
1/10/2019 3:00 PMNoĐã ban hành

 

STT

 

Số, ký hiệu, trích yếu  văn bản

 

Trách nhiệm xây dựng thể chế

Cơ quan chịu trách nhiệm tham mưu
1Nghị định 77/2018/NĐ-CP ngày 16 tháng 05 năm 2018 quy định hỗ trợ phát triển thủy lợi nhỏ, thủy lợi nội đồng và tưới tiên tiến, tiết kiệm nước

Điều 11. Trách nhiệm của địa phương

1. Trách nhiệm của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

a) Ban hành quy định cụ thể mức hỗ trợ của từng chính sách theo khả năng cân đối của ngân sách và bố trí kinh phí hàng năm để thực hiện các chính sách theo quy định của Nghị định này;

b) Ban hành chính sách hỗ trợ đặc thù khác ngoài các chính sách đã quy định tại Nghị định này để hỗ trợ phát triển thủy lợi nhỏ, thủy lợi nội đồng và tưới tiên tiến, tiết kiệm nước.

2. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

a) Trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể mức hỗ trợ của từng chính sách trên cơ sở điều kiện thực tế của địa phương. Chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện theo quy định;

b) Căn cứ nhu cầu thực tế và khả năng ngân sách của địa phương, xây dựng trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ban hành chính sách hỗ trợ đặc thù khác ngoài các chính sách đã quy định tại Nghị định này;

c) Ban hành thiết kế mẫu, thiết kế điển hình công trình thủy lợi nhỏ, thủy lợi nội đồng, tưới tiên tiến, tiết kiệm nước phù hợp với đặc thù từng vùng, miền trong tỉnh;

d) Đối với các dự án thực hiện theo hình thức ngân sách nhà nước hỗ trợ vật liệu xây dựng, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể việc quản lý, thanh quyết toán phần vốn ngân sách nhà nước hỗ trợ cho phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương;

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
2Nghị định 71/2018/NĐ-CP quy định chi tiết một số Điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ về vật liệu nổ công nghiệp và tiền chất thuốc nổ.

Điều 19. Trách nhiệm thi hành

4. Trách nhiệm của chính quyền địa phương

a) Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý, thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử phạt vi phạm hành chính về hoạt động vật liệu nổ công nghiệp, tiền chất thuốc nổ tại địa phương theo phân cấp của Chính phủ, quy định của Nghị định này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

b) Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ban hành Quy chế quản lý vật liệu nổ công nghiệp, tiền chất thuốc nổ trên địa bàn phù hợp với tình hình của địa phương theo quy định pháp luật; tiếp nhận thông báo sử dụng vật liệu nổ công nghiệp của các tổ chức quy định tại Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.

 

Sở Công thương
3Nghị định 65/2018/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đường sắt.UBND tỉnh ban hành quy định cụ thể việc quản lý và xóa bỏ lối đi tự mở qua đường sắt quy định tại Chương II Nghị định này (Khoản 2 Điều 52 ).Sở Giao thông vận tải
4Nghị định số 61/2018/NĐ-CP về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính.

Tại Điều 36 Nghị định quy định:

Ủy ban nhân dân các cấp ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của Bộ phận Một cửa theo quy định tại Nghị định này.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quy chế hoạt động của Cổng Dịch vụ công và Hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo xây dựng và ban hành quy trình nội bộ, quy trình điện tử đối với việc giải quyết từng thủ tục hành chính cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã để thực hiện thống nhất trong toàn địa phương.

 

Văn phòng UBND tỉnh
5

Nghị định 57/2018/NĐ-CP về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn

 

1. Hội đồng nhân dân cấp tỉnh:

a) Rà soát, ban hành chính sách đặc thù khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn tại địa phương, trong đó quy định chính sách tín dụng tại địa phương quy định tại Điều 8 Nghị định này; vốn cấp bù lãi suất hỗ trợ cho các dự án và mức vốn sử dụng ngân sách địa phương để đảm bảo thực hiện hỗ trợ doanh nghiệp.

b) Ban hành cơ chế thúc đẩy tập trung đất đai, tạo quỹ đất để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn phù hợp với thẩm quyền và các quy định của pháp luật.

2. Ủy ban nhân dân các tỉnh:

- Ban hành quyết định chủ trương đầu tư về danh mục dự án khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nông thôn theo quy định tại khoản 1 Điều 16 Nghị định này. Thời hạn 05 năm một lần; hàng năm Ủy ban nhân dân cấp tỉnh rà soát và điều chỉnh.

- Ban hành định mức hỗ trợ đối với từng loại hạng mục, công trình phù hợp với các mức hỗ trợ quy định tại Nghị định này.

-  Ban hành danh mục sản phẩm nông nghiệp chủ lực cấp tỉnh.

 

Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn
6

Nghị định 52/2018/NĐ-CP của Chính phủ về việc phát triển ngành nghề nông thôn.

 

UBND tỉnh có trách nhiệm xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách, quy định mức chi để hỗ trợ đầu tư phát triển làng nghề, ngành nghề nông thôn.Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn
7

Nghị định số 27/2018/NĐ-CP ngày 01/3/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng.

 

Tại điểm c khoản 2 Điều 1 Nghị định 27/2018/NĐ-CP quy định: "c) Bổ sung Khoản 5 như sau: "5. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định về thời gian hoạt động của các đại lý Internet và điểm truy nhập Internet công cộng không cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử trên địa bàn tỉnh, thành phố."

Và khoản 35 Điều 1 Nghị định 27/2018/NĐ-CP quy định: "4. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

a) Hướng dẫn cụ thể về loại hình đô thị của từng khu vực trên địa bàn để áp dụng Điều kiện về diện tích phòng máy quy định tại điểm d Khoản 2 Điều 35 Nghị định này;(Các nội dung này trước đây được quy định tại Thông tư 23/2013/TT-BTTTT).

Hiện nay, UBND tỉnh đã có quyết định số 19/2015/QĐ-UBND ngày 19/9/2015 Quy định thời gian hoạt động của đại lý Internet và điểm truy nhập Internet công cộng của doanh nghiệp không cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử trên địa bàn tỉnh Hà Nam. Tuy nhiên, Quyết định chưa quy định nội dung "hướng dẫn cụ thể về loại hình đô thị của từng khu vực trên địa bàn để áp dụng Điều kiện về diện tích phòng máy". Do đó, đề nghị ban hành quyết định mới quy định cả 02 nội dung Nghị định 27/2018/NĐ-CP giao cho địa phương và thay thế quyết định số 19/2015/QĐ-UBND ngày 19/9/2015 của UBND tỉnh.

 

Sở TTTT
8

Nghị định số 15/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ hướng dẫn Luật an toàn thực phẩm

 

Trong trường hợp địa phương có các sản phẩm thực phẩm đặc thù thì UBND tỉnh xây dựng và ban hành quy chuẩn kỹ thuật địa phương về an toàn thực phẩm đối với các sản phẩm thực phẩm đặc thù của địa phương.Sở công thương
9Quyết định số 28/2018/QĐ-TTg về việc gửi, nhận văn bản điện tử giữa các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước.

Điều 19. Trách nhiệm của bộ, ngành, địa phương

1. Các bộ, ngành, địa phương chịu trách nhiệm:

a) Xây dựng, ban hành Quy chế tiếp nhận, xử lý, phát hành và quản lý văn bản theo quy định tại Quyết định này và các văn bản pháp luật khác liên quan;

 

Văn phòng UBND tỉnh
10

Quyết định số 22/2018/QĐ-TTg về xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước

 

Ủy ban nhân dân các cấp xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước.Sở Văn hóa thể thao và Du lịch
11​Thông tư 04/2018/TT-BTC hướng dẫn quản lý và sử dụng tin dịch vụ môi trường rừng.

Điều 4. Quản lý và sử dụng tiền theo hình thức chi trả gián tiếp

3. Sử dụng tiền đối với Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây viết tắt là Quỹ Bảo vệ phát triển rừng cấp tỉnh)

a) Kinh phí quản lý được trích tối đa 10% tổng số tiền dịch vụ môi trường rừng thực thu trong năm để chi cho các hoạt động của bộ máy Quỹ, chi phụ cấp kiêm nhiệm và hỗ trợ chi phí quản lý đối với các đơn vị, tổ chức được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây viết chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) giao hỗ trợ Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ chi trả (nếu có). Mức trích cụ thể được lập trong kế hoạch thu, chi hàng năm của Quỹ, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định.

Nội dung chi quản lý được thực hiện theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 15 Nghị định số 99/2010/NĐ-CP; Điểm b Khoản 2 Điều 4 Thông tư số 85/2012/TT-BTC. Trường hợp các đơn vị, tổ chức được giao hỗ trợ Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh thực hiện nhiệm vụ chi trả, các cán bộ hỗ trợ chi trả được thanh toán tiền bồi dưỡng cho những ngày làm việc. Mức bồi dưỡng, số người, thời gian được hưởng bồi dưỡng do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định.

 

Sở Tài chính+ Sở Nông nghiệp PTNT
FalsePhòng XD&KTVB
Bãi bỏ một số văn bản pháp luật của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnhTin ngành tư phápTinBãi bỏ một số văn bản pháp luật của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh/CMSImageNew/2018-12/1_Key_26122018130809.png
Bãi bỏ một số văn bản pháp luật của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh.
12/26/2018 2:00 PMNoĐã ban hành

Bãi bỏ một số văn bản pháp luật của Ủy ban nhân dân,

Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh

Ngày 21/12/2018, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Quyết định số 36/2018/QĐ-UBND về việc bãi bỏ một số văn bản pháp luật của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương. Theo đó, Ủy ban nhân dân tỉnh bãi bỏ toàn bộ 04 văn bản quy phạm pháp luật và 05 văn bản pháp luật do Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành do không còn phù hợp với quy định pháp luật hiện hành và tình hình thực tiễn của địa phương. Quyết định số 36/2018/QĐ-UBND có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2019 (có Quyết định số 36/2018/QĐ-UBND kèm theo)./

File đính kèm: QD36_UBND.pdf

Huỳnh Hữu Tốt

FalsePhòng XD&KTVB
Tính thống nhất, đồng bộ của Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 với các luật hiện hành liên quanThông tinTinTính thống nhất, đồng bộ của Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 với các luật hiện hành liên quan/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/21/2018 11:00 AMNoĐã ban hành

Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 đã được Quốc hội khóa XIII thông qua tại Kỳ họp thứ 7, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015. Để bảo đảm tính đồng bộ trong việc áp dụng Luật, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ đã ban hành hơn 60 văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành, trong đó có 11 nghị định, 04 quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 48 thông tư (11 thông tư ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường).
Qua hơn 03 năm triển khai thực hiện, Luật đã bước đầu đi vào thực tiễn cuộc sống, công tác bảo vệ môi trường. đã có những chuyển biến tích cực, nhiều vấn đề môi trường đã được quan tâm giải quyết. Áp lực từ các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội lên môi trường đã dần được kiểm soát tốt hơn; nhiều cơ sở, nguồn gây ô nhiễm, tác động xấu lên môi trường được hạn chế, giảm thiểu. một số quy định của Luật này đã bộc lộ những vướng mắc, bất cập.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, một số quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 cũng đã bộc lộ những vướng mắc, bất cập cần phải được nghiên cứu để sớm đề xuất sửa đổi, bổ sung, kịp thời đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Trong đó, đáng lưu ý là những vướng mắc, bất cập của Luật Bảo vệ môi trường liên quan đến tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật. Qua rà soát cho thấy, quy định của Luật Bảo vệ môi trường có sự chồng chéo, mâu thuẫn với nhiều luật hiện hành liên quan, trong đó có các luật như Luật Đầu tư, Luật Đầu tư công, Luật Xây dựng, Luật Tài nguyên nước, Luật Khoáng sản. Cụ thể như sau:
1. Sự thiếu thống nhất giữa quy định của Luật Bảo vệ môi trường với các luật
1.1. Luật Đầu tư, Luật Đầu tư công và Luật Xây dựng
Khoản 2 Điều 25 của Luật Bảo vệ môi trường quy định quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường là căn cứ dể cấp có thẩm quyền thực hiện quyết định chủ trương đầu tư dự án trong trường hợp pháp luật quy định dự án phải quyết định chủ trương đầu tư.
Điều 22 của Luật Bảo vệ môi trường quy định các nội dung chính của báo cáo đánh giá tác động môi trường, bao gồm 11 nội dung cơ bản sau đây:
“1. Xuất xứ của dự án, chủ dự án, cơ quan có thẩm quyền phê duyệt dự án; phương pháp đánh giá tác động môi trường.
2. Đánh giá việc lựa chọn công nghệ, hạng mục công trình và các hoạt động của dự án có nguy cơ tác động xấu đến môi trường.
3. Đánh giá hiện trạng môi trường tự nhiên, kinh tế - xã hội nơi thực hiện dự án, vùng lân cận và thuyết minh sự phù hợp của địa điểm lựa chọn thực hiện dự án.
4. Đánh giá, dự báo các nguồn thải và tác động của dự án đến môi trường và sức khỏe cộng đồng.
5. Đánh giá, dự báo, xác định biện pháp quản lý rủi ro của dự án đến môi trường và sức khỏe cộng đồng.
6. Biện pháp xử lý chất thải.
7. Các biện pháp giảm thiểu tác động đến môi trường và sức khỏe cộng đồng.
8. Kết quả tham vấn.
9. Chương trình quản lý và giám sát môi trường.
10. Dự toán kinh phí xây dựng công trình bảo vệ môi trường và thực hiện các biện pháp giảm thiểu tác động môi trường.
11. Phương án tổ chức thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường”.
Theo đó, Báo cáo đánh giá tác động môi trường phải thể hiện đầy đủ, cụ thể và rõ ràng về 11 nội dung nêu trên. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều dự án chưa thể thực hiện được các nội dung này trong giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi phục vụ quyết định chủ trương đầu tư, mà chỉ có thể thực hiện được trong giai đoạn báo cáo nghiên cứu khả thi. Đây chính là các vướng mắc đối với dự án đầu tư công.
Trong khi đó, Điều 34 của Luật Đầu tư công quy định 08 nội dung chủ yếu của Báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư chương trình đầu tư công thì đối với đánh giá tác động môi trường, khoản 6 Điều này cũng chỉ yêu cầu có “Phân tích, đánh giá sơ bộ những ảnh hưởng, tác động về môi trường, xã hội của chương trình”.  Tương tự, đối với Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi dự án quan trọng quốc gia và dự án nhóm A, Điều 55 của Luật Đầu tư công quy định 13 nội dung, trong đó về đánh giá tác động môi trường, điểm g khoản 2 Điều 35 của Luật này cũng chỉ yêu cầu có “Phân tích, đánh giá sơ bộ tác đông về môi trường, xã hội của dự án”. Thực tế triển khai thực hiện cho thấy, tại thời điểm trình Báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư chương trình đầu tư công (Điều 34 của Luật Đầu tư công) và trình phê duyệt Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi dự án quan trọng quốc gia và dự án nhóm A (Điều 35 của Luật Đầu tư công), nhiều dự án chưa thể có đầy đủ căn cứ để lập, trình thẩm định và phê duyệt Báo cáo đánh giá tác động môi trường theo quy định tại khoản 2 Điều 25 của Luật Bảo vệ môi trường.
Cũng liên quan đến vấn đề đánh giá tác động môi trường, Điều 34 và Điều 35 của Luật Đầu tư quy định về hồ sơ, trình tự, thủ tục quyết định của trương đầu tư của Thủ tướng Chính phủ và hồ sơ, trình tự, thủ tục quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội chỉ yêu cầu có “Đánh giá sơ bộ tác động môi trường, các giải pháp bảo vệ môi trường”. Tương tự như quy định của Luật Đầu tư công, tại thời điểm trình Thủ tướng Chính phủ và Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư, nhiều dự án cũng chưa đủ thông tin để lập, trình thẩm định và phê duyệt Báo cáo đánh giá tác động môi trường theo quy định tại khoản 2 Điều 25 của Luật Bảo vệ môi trường.
Bên cạnh đó, quy định tại điểm d khoản 2 Điều 25 Luật Bảo vệ môi trường cũng chưa thống nhất với quy định tại Điều 95 và Điều 98 của Luật Xây dựng. Như đã phân tích ở trên, theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 25 của Luật Bảo vệ môi trường thì “Quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường  là căn cứ để cấp có thẩm quyền thực hiện các việc sauCấp, điều chỉnh giấy phép xây dựng đối với dự án có hạng mục xây dựng công trình thuộc đối tượng phải có giấy phép xây dựng”. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 95 và 98 Luật Xây dựng thì thành phần hồ sơ cấp phép xây dựng không có Quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường.
Như vậy, cùng quy định về thời điểm phê duyệt Báo cáo đánh giá tác động môi trường nhưng Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 lại có quy định khác với Luật Đầu tư, Luật Đầu tư công và Luật Xây dựng. Sự chồng chéo, mâu thuẫn này đã phát sinh những vướng mắc trên thực tế, đòi hỏi phải kịp thời xử lý.
1.2. Luật Tài nguyên nước 
Sự thiếu thống nhất giữa quy định của Luật Bảo vệ môi trường và Luật Tài nguyên nước thể hiện ở 03 nội dung sau đây:
Thứ nhất, Luật Tài nguyên nước quy định về giấy phép xả thải vào nguồn nước (là hình thức giấy phép đơn lẻ), trong khi đó Luật Bảo vệ môi trường quy định về Giấy xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường (là hình thức giấy phép hợp nhất). Việc tồn tại cả 2 phương thức cấp phép tại hai Luật này đã dẫn đến sự chồng chéo, mâu thuẫn trong nội dung cấp phép, gây phiền hà, phức tạp về mặt thủ tục. Cụ thể, việc xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường tại khoản 2 Điều 27 của Luật Bảo vệ môi trường đã bao gồm kiểm tra, xác nhận hiệu quả xử lý hệ thống xử lý nước thải. Trong khi đó, Điều 38 của Luật Tài nguyên nước cũng quy định về việc lập hồ sơ xin phép xả thải vào nguồn nước của chủ dự án. Hai giấy phép này gần như cùng một nội dung mà doanh nghiệp phải xin 2 giấy phép, gây tốn kém, lãng phí.
Thứ hai, khoản 3 và khoản 4 Điều 101 của Luật bảo vệ môi trường quy định “Chủ quản lý hệ thống xử lý nước thải phải thực hiện quan trắc định kỳ nước thải trước và sau khi xử lý”. Trong khi đó, khoản 3 và khoản 4 Điều 37 của Luật Tài nguyên nước lại quy định “xả nước thải vào nguồn nước phải căn cứ vào tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về chất lượng nước thải, chức năng của nguồn nước, khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước…”; theo đó, phải quan trắc cả nước trên nguồn tiếp nhận (sông, hồ, rạch).
Thứ ba, việc đánh giá chất lượng nước, đánh giá sức chịu tải của nguồn nước lưu vực sông, khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường các dòng sông, đoạn sông bị ô nhiễm trong Luật Bảo vệ môi trường trùng với nội dung điều tra, đánh giá chất lượng nước, phân vùng chất lượng nước, đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước, phân vùng tiếp nhận nước thải và phục hồi các nguồn nước bị ô nhiễm cạn kiệt trong các Điều 27 và Điều 37 của Luật Tài nguyên nước.
1.3. Luật Khoáng sản
Theo quy định tại khoản 2 Điều 30 của Luật Khoáng sản về bảo vệ môi trường trong hoạt động khoáng sản thì tổ chức, cá nhân hoạt động khoáng sản phải thực hiện các giải pháp, chi phí bảo vệ, cải tạo, phục hồi môi trường phải được xác định trong dự án đầu tư, báo cáo đánh giá tác động môi trường, bản cam kết bảo vệ môi trường được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.  Tuy nhiên, khoản 2 Điều 106 của Luật Bảo vệ môi trường lại quy định: “Dự án khai thác mỏ, khoáng sản phải có phương án cải tạo, phục hồi môi trường trình cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phê duyệt trước khi hoạt động và ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường”.
Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 74 của Luật Khoáng sản quy định “… Kinh phí thực hiện đề án đóng cửa mỏ khoáng sản được lấy từ tiền ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường của tổ chức, cá nhân được phép khai thác”, trong khi Luật Bảo vệ môi trường không có quy định này.
Ngoài ra, theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 47, điểm đ khoản 1 Điều 59 và điểm d khoản 1 Điều 70 của Luật khoáng sản có quy định về “Cam kết bảo vệ môi trường”. Tuy nhiên, trong Luật Bảo vệ môi trường không còn khái niệm cam kết bảo vệ môi trường mà đã được thay thế bằng khái niệm Kế hoạch bảo vệ môi trường.
2. Một số kiến nghị, đề xuất
Những chồng chéo, mâu thuẫn giữa quy định của Luật Bảo vệ môi trường với các luật nêu trên đã ảnh hưởng đến tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, đặc biệt đã gây khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật trên thực tế. Do vậy, cần sớm đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định của Luật Bảo vệ môi trường và các quy định của các luật hiện hành liên quan nhằm bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn.
Thứ nhất, nghiên cứu, sửa đổi quy định của Luật Bảo vệ môi trường theo hướng quy định việc đánh giá tác động môi trường sơ bộ được thực hiện trước khi phê duyệt chủ trương đầu tư hoặc báo cáo nghiên cứu tiền khả thi của dự án.
Thứ hai, cần nghiên cứu để bổ sung quy định cụ thể về giấy phép môi trường vào Chương VII của Luật Bảo vệ môi trường, bao gồm các quy định về vai trò, vị trí của giấy phép môi trường (là công cụ quản lý môi trường thống nhất đối với cơ sở khi đã đi vào giai đoạn hoạt động; là căn cứ để các cơ sở thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường và để các cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm - thay cho việc kiểm tra căn cứ vào báo cáo đánh giá tác động môi trường như hiện nay); nội dung của giấy phép môi trường (quy định phù hợp với đặc thù đối với từng loại ngành, nghề khác nhau, nhóm đối tượng có rủi ro môi trường khác nhau); lập, phê duyệt và thực hiện giấy phép môi trường. Các quy định này sẽ thay thế toàn bộ các nội dung về giấy phép, thủ tục về môi trường đối với cơ sở trong giai đoạn hoạt động đang được quy định tại Luật Bảo vệ môi trường, các Luật khác và văn bản hướng dẫn khác nhau.
Đồng thời, đề nghị bỏ quy định tại khoản 3, 4 và sửa đổi khoản 6 Điều 37 của Luật Tài nguyên nước thành “việc cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước được thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường”; sửa đổi, bổ sung điểm e khoản 2 Điều 12, Điều 37 Luật Tài nguyên nước theo hướng việc xác định khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước được thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; sửa đổi, bổ sung khoản 1, khoản 2, khoản 4 Điều 27 của Luật Tài nguyên nước theo hướng ứng phó, khắc phục sự cố ô nhiễm nguồn nước và phục hồi nguồn nước bị ô nhiễm theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.
Thứ ba, rà soát, thay cụm từ “Cam kết bảo vệ môi trường” thành “Kế hoạch bảo vệ môi trường” trong các điều, khoản, điểm liên quan của Luật Khoáng sản để phù hợp với Luật Bảo vệ môi trường.
Sưu tầm Cổng thông tin điện tử Bộ tư pháp - LiMi​
FalsePhòng XD&KTVB
Bảo đảm tính công khai, minh bạch trong quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật tại Việt NamThông tinTinBảo đảm tính công khai, minh bạch trong quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/21/2018 11:00 AMNoĐã ban hành

Trong bối cảnh thực hiện chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền và quá trình hội nhập quốc tế, việc bảo đảm công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật ở Việt Nam luôn được coi là một yêu cầu không thể thiếu nhằm đảm bảo nguyên tắc dân chủ trong hoạt động của nhà nước và là yêu cầu bắt buộc đối với Việt Nam theo nhiều điều ước mà Việt Nam là thành viên. Đảm bảo tính công khai, minh bạch có ý nghĩa quan trọng đối với hệ thống pháp luật nói chung và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật nói riêng.
 Với mục tiêu xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, minh bạch, khả thi, dễ tiếp cận, hiệu lực và hiệu quả thì một trong những điều kiện, giải pháp cần thiết và quan trọng là phải bảo đảm tính công khai, minh bạch ngay trong quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Theo đó, bên cạnh việc quy định trình tự, thủ tục chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước với nhau thì cần bảo đảm sự tham gia của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật và quyền tiếp cận của người dân sau khi văn bản được ban hành.
Nhằm tạo khuôn khổ pháp lý thống nhất cho việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam, từ cấp trung ương đến địa phương, ngày 22/6/2015, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016. Luật năm 2015 có nhiều quy định mới mang tính đột phá so với Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004, trong đó có nhiều quy định nhằm bảo đảm tốt hơn yêu cầu công khai, minh bạch trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
1. Bảo đảm tính công khai - quyền được biết và tham gia vào quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Luật năm 2015 đã dành 09 chương (Chương III, IV, V, VI, VII, VIII, IX, X và XI) để quy định trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền từ Quốc hội, Chính phủ đến chính quyền địa phương. Căn cứ vào tính chất quan trọng và phức tạp của mỗi loại văn bản quy phạm pháp luật mà trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành mỗi loại văn bản có những điểm đặc thù riêng. Tuy nhiên, đều được quy định rõ ràng, cụ thể về quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan có liên quan, thời hạn, hồ sơ, cách thức tiến hành xây dựng, xem xét, thông qua văn bản. Theo đó, bảo đảm tính công khai được coi là một trong những yêu cầu xuyên suốt trong quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, bảo đảm sự tham gia các chuyên gia, nhà khoa học trong quá trình lập đề nghị, soạn thảo, thẩm định, thẩm tra dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật
Theo quy định tại Điều 11 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 thì trong quá trình lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan, tổ chức lập đề nghị có thể huy động sự tham gia của các viện nghiên cứu, trường đại học, hội, hiệp hội, tổ chức khác có liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học vào các hoạt động như: (1) Tổng kết, đánh giá tình hình thi hành pháp luật; rà soát đánh giá các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành; (2) Khảo sát, điều tra xã hội học; đánh giá thực trạng quan hệ xã hội có liên quan đến các chính sách trong đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; (3) Tập hợp, nghiên cứu, so sánh tài liệu, điều ước quốc tế có liên quanđến các chính sách trong đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; (4) Đánh giá tác động của chính sách trong đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.
Trong giai đoạn soạn thảo, các chuyên gia, nhà khoa học được quy định là thành phần bắt buộc trong Ban soạn thảo, trong Hội đồng thẩm định, Hội đồng tư vấn thẩm định các dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Để bảo đảm tính khả thi của cơ chế huy động chuyên gia, nhà khoa học, Nghị định số 34 đã dành 1 điều (Điều 175) để quy định về điều kiện bảo đảm cho việc sử dụng chuyên gia trong quá trình lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, soạn thảo, thẩm định, thẩm tra dự án, dự thảo văn bản.
Thứ hai, bảo đảm sự tham gia của các cơ quan, tổ chức, cá nhân thông qua việc cho ý kiến đối với dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật
Trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, các cơ quan nhà nước cần phải lấy ý kiến, lắng nghe ý kiến của người dân để bàn bạc, nghiên cứu tiếp thu nhằm làm cho các chính sách được đề xuất sau khi được luật hóa sẽ phù hợp và đáp ứng được yêu cầu của cuộc sống. Sự tham gia này là một trong những điều kiện quan trọng và không thể thiếu giúp bảo đảm tính khả thi của văn bản trong thực tiễn thi hành, bảo đảm pháp luật sát dân, gần dân, phản ánh được ý chí, nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân góp phần bảo đảm hài hòa các quyền, lợi ích trong xã hội.
Luật năm 2015 đã bổ sung những quy định hợp lý hơn về việc lấy ý kiến và tạo điều kiện để nhân dân tham gia xây dựng pháp luật một cách thực chất, hiệu quả hơn như:
-  Quy định việc lấy ý kiến là thủ tục bắt buộc trong cả giai đoạn xây dựng chính sách và giai đoạn soạn thảo đối với tất cả các luật, pháp lệnh, một số loại nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh. Đối với các loại văn bản pháp luật còn lại thì việc lấy ý kiến được thực hiện khi đã có dự thảo văn bản.
- Việc lấy ý kiến được thực hiện với nhiều hình thức đa dạng và trong các giai đoạn khác nhau giúp có cái nhìn toàn diện, khách quan và chính xác nhất về những chính sách trong đề nghị và dự thảo văn bản. Chẳng hạn: dự thảo Luật quy định cần phải đăng tải hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh trên Trang thông tin về xây dựng pháp luật của Chính phủ trong thời gian ít nhất là 30 ngày. Đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, trong trường hợp cần thiết thì tổ chức họp báo thông tin về những chính sách cơ bản trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh để thu hút hơn nữa sự quan tâm của các đối tượng chịu sự tác động. Đối với đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, trong trường hợp cần thiết, cơ quan chủ trì soạn thảo tổ chức đối thoại trực tiếp về chính sách với các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của nghị quyết.
- Quy định trách nhiệm bắt buộc lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp các chính sách trong đề nghị và dự thảo văn bản. (Theo Luật năm 2015 thì đối tượng này là cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm chịu ảnh hưởng trực tiếp từ việc áp dụng văn bản đó sau khi được ban hành).
- Quy định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức được yêu cầu góp ý kiến như quy định trách nhiệm góp ý kiến bằng văn bản về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị định trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị góp ý kiến và trách nhiệm góp ý kiến bằng văn bản về nguồn tài chính, nguồn nhân lực, tác động đối với môi trường, sự tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Với những quy định nêu trên, có thể thấy rằng, việc lấy ý kiến trong Luật năm 2015 đã được sửa đổi khá toàn diện, với nhiều quy định mới, tiến bộ, hợp lý nhằm tăng cường tính dân chủ, phát huy trách nhiệm của công dân cũng như bảo đảm tốt hơn sự tham gia của người dân, doanh nghiệp, tổ chức xã hội trong xây dựng, ban hành văn bản pháp luật. Trong đó, đặc biệt là quy định tổ chức lấy ý kiến những vấn đề lớn về chính sách ngay từ giai đoạn đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trong thời gian ít nhất là 30 ngày và quy định đăng tải báo cáo tiếp thu, giải trình trên trang thông tin điện tử về xây dựng pháp luật của Chính phủ, Cổng thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức lập đề nghị xây dựng văn bản.
Thứ ba, bảo đảm quyền tiếp cận văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân sau khi văn bản được ban hành
Sau khi văn bản quy phạm pháp luật được thông qua hoặc ký ban hành, cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền có trách nhiệm thực hiện một số hoạt động như: công bố văn bản quy phạm pháp luật; đăng Công báo; đăng tải văn bản quy phạm pháp luật trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật và đưa tin trên phương tiện thông tin đại chúng. Các hoạt động nêu trên là hết sức quan trọng, để bảo đảm công khai văn bản với người dân, giúp mọi người biết được quyền, nghĩa vụ của mình để thực hiện cho đúng pháp luật. Cụ thể như sau:
- Luật, pháp lệnh sau khi được Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua phải được Chủ tịch nước công bố (chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày luật, pháp lệnh được thông qua). Đối với nghị quyết của Quốc hội, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, để bảo đảm tính công khai, minh bạch, Luật năm 2015 bổ sung quy định: Tổng thư ký Quốc hội có trách nhiệm công bố chậm nhất là 15 ngày, kể từ ngày nghị quyết được thông qua, trừ nghị quyết được xây dựng, ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn;
- Đăng Công báo văn bản quy phạm pháp luật (trừ văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền cấp huyện, cấp xã). Theo đó, Điều 150 Luật năm 2015 quy định các văn bản quy phạm pháp luật ở trung ương phải được đăng Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền cấp tỉnh và ở đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt phải được đăng Công báo cấp tỉnh. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành, cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải gửi văn bản đến cơ quan Công báo để đăng Công báo.
- Đăng tải văn bản quy phạm pháp luật trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật và đưa tin trên phương tiện thông tin đại chúng. Với mục tiêu tăng cường tính công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật, bảo đảm quyền được thông tin và tiếp cận thông tin của công dân, trong đó có thông tin pháp luật theo quy định của Hiến pháp, ngoài việc công bố và đăng Công báo, Luật năm 2015 còn quy định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc đăng tải văn bản quy phạm pháp luật trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật và đưa tin trên các phương tin thông tin đại chúng.
2. Bảo đảm tính minh bạch - trách nhiệm giải trình, phản hồi của cơ quan chủ trì soạn thảo
Trong thời gian qua, về cơ bản, các cơ quan chủ trì soạn thảo đã bảo đảm sự công khai trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật như việc thực hiện nghiêm túc thủ tục đăng tải dự án, dự thảo để lấy lý kiến; bảo đảm sự tham gia của chuyên gia, nhà khoa học trong quá trình soạn thảo; công bố, đăng công báo văn bản quy phạm pháp luật… Tuy nhiên, nhiều hoạt động còn chưa sát thực tế, mang tính hình thức, chẳng hạn như đăng tải toàn văn dự án, dự thảo văn bản đồ sộ, nhiều thuật ngữ chuyên ngành để lấy ý kiến người dân; cơ quan soạn thảo chưa công khai việc tiếp thu, phản hồi ý kiến góp ý… Để khắc phục những tồn tại, hạn chế nêu trên, góp phần tăng cường hơn nữa tính minh bạch trong quy trình xây dựng văn bản, Luật năm 2015 bổ sung một số quy định như sau:
Thứ nhất, bên cạnh việc đăng tải toàn văn dự thảo văn bản, cơ quan lấy ý kiến cần xác định nội dung lấy ý kiến phù hợp với từng đối tượng lấy ý kiến và xác định cụ thể địa chỉ tiếp nhận ý kiến kiến; tập trung vào những chính sách lớn, quan trọng, trực tiếp ảnh hưởng đến doanh nghiệp, người dân.
Thứ hai, quy định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức lấy ý kiến trong việc phản hồi đối với các ý kiến góp ý, phản biện. Theo đó, cơ quan lấy ý kiến có trách nhiệm tổng hợp, nghiên cứu, tiếp thu, giải trình các ý kiến góp ý và phải đăng tải báo cáo tiếp thu, giải trình trên trên Trang thông tin điện tử của Quốc hội đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh do Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội trình, Trang thông tin điện tử về xây dựng pháp luật đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh do Chính phủ trình, Cổng thông tin điện tử của các cơ quan, tổ chức lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh. Thời gian đăng tải ít nhất là ba mươi ngày để các cơ quan, tổ chức, cá nhân góp ý kiến.
Thứ ba, bảo đảm việc cập nhật dự thảo văn bản mới trong trường hợp dự thảo đã đăng tải để lấy ý kiến có thay đổi về nội dung. Một thời gian dài trước đây, cơ quan chủ trì soạn thảo chỉ đăng một lần dự thảo văn bản để lấy ý kiến. Tiếp thu ý kiến góp ý của cộng đồng doanh nghiệp và nhiều chuyên gia pháp lý, Luật năm 2015 đã có quy định mới trong lĩnh vực này. Cụ thể: trong thời gian dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết đang được lấy ý kiến nếu cơ quan chủ trì soạn thảo chỉnh lý lại dự thảo văn bản mà khác với dự thảo đã đăng tải trước đó thì phải đăng lại dự thảo văn bản đã được chỉnh lý./.
                                                                                                   Sưu tầm Công thông tin điện tử Bộ Tư pháp - Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật
FalsePhòng XD&KTVB
Bàn về việc lấy ý kiến trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luậtThông tinTinBàn về việc lấy ý kiến trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/21/2018 11:00 AMNoĐã ban hành

Một trong những hoạt động quan trọng của quản lý nhà nước đó là việc xây dựng ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật. Đây cũng chính là hoạt động thực hiện và thể hiện quyền lực Nhà nước nhằm quản lý xã hội. Một văn bản pháp luật được ban hành bao giờ cũng tác động lên một hoặc một số đối tượng đến quyền và lợi ích của một hoặc một nhóm người nhất định. Thực tế cho thấy nếu văn bản pháp luật không phù hợp với thực tiễn có thể dẫn tới những khó khăn trong quá trình thực thi làm ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản. Để hạn chế những tác động tiêu cực có thể xẩy ra đối với văn bản quy phạm pháp luật cần phải tuân thủ quy trình ban hành văn bản trong đó có quy trình lấy ý kiến đối tượng tác động.
1. Ý nghĩa, vai trò của việc lấy ý kiến trong xây dựng luật
Trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, các cơ quan nhà nước cần phải lấy ý kiến, lắng nghe ý kiến của người dân để bàn bạc, nghiên cứu tiếp thu nhằm làm cho các chính sách được đề xuất sau khi được luật hóa sẽ phù hợp và đáp ứng được yêu cầu của cuộc sống. Sự tham gia này là một trong những điều kiện quan trọng và không thể thiếu giúp bảo đảm tính khả thi của văn bản trong thực tiễn thi hành, bảo đảm pháp luật sát dân, gần dân, phản ánh được ý chí, nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân góp phần bảo đảm hài hòa các quyền, lợi ích trong xã hội. Có thể thấy, việc lấy ý kiến của các đối tượng trực tiếp chịu sự điều chỉnh của luật, của các chuyên gia, nhà khoa học, của người dân có ý nghĩa vô cùng quan trọng:
Thứ nhất, thông qua việc lấy ý kiến của người dân người hoạch định chính sách sẽ có thông tin về thực tế cuộc sống để đưa ra được những quy định phù hợp với các điều kiện xã hội hiện có. Từ đó văn bản pháp luật sẽ có tính khả thi cao tránh được bệnh chủ quan duy ý chí áp đặt từ một phía. Trên thực tế có những văn bản pháp luật rất cần thiết ban hành nhưng lại thiếu điều kiện xã hội để thực thi.
Thứ hai, nếu như kết quả lấy ý kiến nhóm đối tượng tác động của văn bản cho thấy văn bản pháp luật phù hợp với tâm tư nguyện vọng lợi ích của đa số quần chúng nhân dân thì văn bản sẽ dễ dàng đi vào cuộc sống. Niềm tin của nhân dân đối với chính quyền sẽ được củng cố. Ngược lại nếu văn bản pháp luật không phù hợp với lợi ích của một số nhóm nào đó thì quy trình lấy ý kiến văn bản là cơ hội để các cơ quan có thẩm quyền có những biện pháp tuyên truyền để người dân nâng cao nhận thức trách nhiệm với cộng đồng xã hội. Từ đó tránh được hiện tượng người dân phản ứng khi lợi ích của họ bị ảnh hưởng dưới tác động của văn bản.
Thứ ba, đây cũng là một hình thức tuyên truyền mang tính tích cực chủ động để người dân nghiên cứu thảo luận tiếp cận trước một bước với văn bản pháp luật tạo điều kiện thuận lợi để văn bản đi vào cuộc sống khi được chính thức ban hành.
2. Thực tiễn quy định của pháp luật về việc lấy ý kiến trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
Hiểu rõ tầm quan trọng, ý nghĩa to lớn của việc lấy ý kiến nhân dân trong công tác xây dựng pháp luật, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 đã bổ sung những quy định hợp lý hơn về việc lấy ý kiến theo đó đã xác định rất rõ ràng về thời điểm, trách nhiệm, quy trình của việc xác định đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của luật cũng như tổ chức lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động của luật trong quá trình lập chương trình và soạn thảo luật, pháp lệnh, theo đó trách nhiệm này thuộc về cơ quan đề nghị xây dựng luật cũng như cơ quan soạn thảo luật, tạo điều kiện để nhân dân tham gia xây dựng pháp luật một cách thực chất, hiệu quả, cụ thể như sau:
Trong quá trình lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, điểm a, b khoản 1 Điều 36 quy định trách nhiệm lấy ý kiến và hình thức  lấy ý kiến của cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh. Theo đó, để lấy ý kiến đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, cơ quan, tổ chức lập đề nghị phải đăng tải báo cáo tổng kết, báo cáo đánh giá tác động của chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh trên Cổng thông tin điện tử của Quốc hội đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Cổng thông tin điện tử của Chính phủ đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của Chính phủ, Cổng thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức có đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh. Thời gian đăng tải ít nhất là 30 ngày. Để công khai các nội dung lấy ý kiến, đồng thời để mọi tổ chức, cá nhân theo dõi, góp ý kiến trực tiếp qua thư điện tử. Bên cạnh đó, luật cũng quy định bắt buộc phải lấy ý kiến góp ý của Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp và cơ quan, tổ chức có liên quan, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của chính sách và giải pháp thực hiện chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh. Trong trường hợp cần thiết, tổ chức họp để lấy ý kiến về những chính sách cơ bản trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh.
Trong quá trình soạn thảo văn bản, khoản 1 Điều 57 quy định: cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội chủ trì soạn thảo phải lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản và cơ quan, tổ chức có liên quan; nêu những vấn đề cần xin ý kiến phù hợp với từng đối tượng lấy ý kiến và xác định, cụ thể địa chỉ tiếp nhận ý kiến; đăng tải toàn văn dự thảo văn bản và tờ trình trên cổng thông tin điện tử quy định tại điểm a khoản 1 Điều 36 của Luật này và của cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo trong thời gian ít nhất là 60 ngày, trừ những văn bản được ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn, để các cơ quan, tổ chức, cá nhân góp ý kiến. Trong thời gian dự thảo đang được lấy ý kiến, nếu cơ quan chủ trì soạn thảo chỉnh lý lại dự thảo văn bản mà khác với dự thảo đã đăng tải trước đó thì phải đăng lại dự thảo văn bản đã được chỉnh lý. Đối với trường hợp lấy ý kiến bằng văn bản, cơ quan, tổ chức được lấy ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị góp ý kiến. Ngoài đăng tải để lấy ý kiến, việc lấy ý kiến có thể thông qua hình thức lấy ý kiến trực tiếp, gửi dự thảo đề nghị góp ý kiến, tổ chức hội thảo, tọa đàm, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng.
Với những quy định nêu trên, có thể thấy rằng, việc lấy ý kiến trong Luật năm 2015 đã được sửa đổi khá toàn diện, với nhiều quy định mới, tiến bộ, hợp lý nhằm tăng cường tính dân chủ, phát huy trách nhiệm của công dân cũng như bảo đảm tốt hơn sự tham gia của người dân, doanh nghiệp, tổ chức xã hội trong xây dựng, ban hành văn bản pháp luật. Trong đó, đặc biệt là quy định tổ chức lấy ý kiến những vấn đề lớn về chính sách ngay từ giai đoạn đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trong thời gian ít nhất là 30 ngày và quy định đăng tải báo cáo tiếp thu, giải trình trên trang thông tin điện tử về xây dựng pháp luật của Chính phủ, Cổng thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức lập đề nghị xây dựng văn bản.
Có thể thấy, với những quy định cụ thể trên, công tác xây dựng pháp luật đã có nhiều tiến bộ đáng kể. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được phải thừa nhận rằng, đây là một quy trình quan trọng và có ý nghĩa nhưng dường như chưa được các cơ quan có thẩm quyền quan tâm đúng mức, việc thực hiện còn nhiều hạn chế, bất cập, chưa thực sự đạt được kết quả như mong muốn.
Thứ nhất, về phương thức và đối tượng lấy ý kiến, việc tổ chức lấy ý kiến trong quá trình xây dựng dự án còn hình thức, phải thừa nhận việc đăng tải dự thảo văn bản trên cổng thông tin điện tử của các cơ quan nhà nước chưa thu hút được sự chú ý cũng như quan tâm của các tầng lớp nhân dân, có những dự thảo đăng tải trên cổng thông tin điện tử nhưng khi kiểm tra ý kiến góp ý, nhận xét thì hầu như không có, số lượng truy cập vào xem cũng cực thấp; đối tượng được lấy ý kiến chưa đầy đủ; việc tham gia ý kiến của các cơ quan, tổ chức hữu quan còn nặng về hình thức, nhiều cơ quan được lấy ý kiến chưa làm hết trách nhiệm, thường chỉ có ý kiến vào nội dung có liên quan trực tiếp đến lĩnh vực mình phụ trách, đối với những lĩnh vực khác thì cơ bản thống nhất dẫn tới nhiều vấn đề vốn có thể giải quyết ngay từ khâu soạn thảo văn bản tuy nhiên đến giai đoạn trình vẫn chưa nhận được sự đồng thuận, làm giảm chất lượng dự thảo văn bản.
Thứ hai, về lấy ý kiến nhân dân, việc lấy ý kiến nhân dân cũng đã nêu rất rõ tại Điều 57 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Cơ quan chủ trì soạn thảo đăng tải toàn bộ dự thảo văn bản và tờ trình trên cổng thông tin điện tử, tổng hợp, nghiên cứu, tiếp thu các ý kiến góp ý và đăng tải nội dung giải trình, tiếp thu để nhân dân biết, và tổ chức lấy ý kiến nhân dân về dự án luật theo quyết định của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nếu có, quy định tại Điều 76. Thực tiễn cho thấy, công tác này chưa đạt hiệu quả. Vấn đề tuyên truyền và phổ biến giáo dục pháp luật đã được luật hóa thành Luật Phổ biến giáo dục pháp luật năm 2012 với phạm vi điều chỉnh là quy định quyền được thông tin về pháp luật và trách nhiệm tìm hiểu, học tập pháp luật của công dân, nội dung, hình thức phổ biến giáo dục pháp luật, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền và các điều kiện bảo đảm cho công tác phổ biến giáo dục pháp luật và công dân có quyền được thông tin về pháp luật, có trách nhiệm chủ động tìm hiểu, học tập pháp luật, nhà nước bảo đảm tạo điều kiện cho công dân thực hiện quyền được thông tin về pháp luật. Tuy nhiên, vấn đề lấy ý kiến nhân dân đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật vẫn chưa được thực hiện chặt chẽ theo một quy chuẩn, quy trình cụ thể nhằm bảo đảm sự tham gia của người dân trong quá trình xây dựng luật, đảm bảo chất lượng xây dựng pháp luật và đưa văn bản quy phạm pháp luật sớm đi vào cuộc sống. Hạn chế một số trường hợp khi văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành đã có sự phản hồi, phản ánh, nhiều ý kiến khác nhau từ xã hội.
Thứ ba, trong thực tế sản phẩm của việc lấy ý kiến của nhân dân, của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp không được thể hiện bằng văn bản cụ thể, trừ trường hợp đối tượng tác động đó là các bộ, ban, ngành và chỉ được tích hợp chung trong các báo cáo đánh tác động của chính sách. Vì vậy khó để có được cái nhìn tổng quan và đánh giá cụ thể được đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản là ai và bao nhiêu phần trăm trong số đó đã được lấy ý kiến và quan điểm của họ như thế nào về nội dung được lấy ý kiến.
Thứ tư, hình thức lấy ý kiến chưa đa dạng, phong phú, chưa thu hút được sự tham gia của người dân, dẫn tới nhiều văn bản khi đã ban hành rồi hay gần ban hành vẫn còn nhận được nhiều ý trái chiều, thậm chí phản ứng gay gắt từ cộng đồng, ví dụ như: dự án Luật về đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt được Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 5 có nhiều chính sách về vấn đề đất đai còn nhiều ý kiến chưa thống nhất, quy định về Hội đồng nhân dân trong luật có tính hình thức rất cao; hay dự thảo Luật An toàn thông tin mạng trong quá trình xây dựng chưa tuyên truyền, phổ biến tới nhân dân về vai trò, ý nghĩa của dự án luật, chưa lấy ý kiến mạnh mẽ từ phía nhân dân nên ngay khi dự án Luật được Quốc hội thông qua vẫn tạo cơ hội cho các thành phần xấu tuyên truyền, kích động nhân dân phản đối dự thảo luật. 
3. Một số kiến nghị
Để nâng cao chất lượng dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, để văn bản khi được ban hành có sự đồng thuận cao, để việc lấy ý kiến dự thảo văn bản quy phạm pháp luật thể hiện được đúng ý nghĩa, vai trò và tầm quan trọng trong việc xây dựng pháp luật, cần:
Thứ nhất, thực hiện nghiêm quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quy trình xây dựng, lấy ý kiến đối với văn bản.
Thứ hai, cần có hướng dẫn về cơ chế trong việc lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp, trong đó quy định rõ ràng hơn về chủ thể tiến hành lấy ý kiến, xác định rõ hơn sản phẩm của việc lấy ý kiến đối với đối tượng chịu sự tác động trực tiếp cũng như chế tài để đảm bảo thực hiện nội dung này.
Thứ ba, có cơ chế cụ thể để khắc phục những hạn chế liên quan đến phương thức và đối tượng lấy ý kiến dự thảo văn bản. Cần mở rộng, phát huy trí tuệ toàn dân, đặc biệt là đội ngũ nhà khoa học, chuyên gia, cơ quan chuyên môn có trách nhiệm, tránh hình thức. Việc lấy ý kiến nhân dân cần cụ thể hóa và được thực hiện bởi quy định chặt chẽ hơn theo quy trình cụ thể, như từ yêu cầu thực tiễn để đề xuất dự án luật, xác định trách nhiệm, lấy ý kiến xây dựng kênh thông tin tuyên truyền dự thảo luật, văn bản quy phạm pháp luật, gợi mở các vấn đề cần lấy ý kiến, khuyến khích sự tham gia cơ chế giải trình, tiếp thu, phản hồi ý kiến, bố trí thời gian hợp lý để toàn dân có đủ điều kiện đóng góp ý kiến, như vậy sẽ thu thập được nhiều ý kiến, nâng cao hiệu quả dự thảo luật và đảm bảo tính khả thi, tính lâu bền của dự án luật.
Thứ tư, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm lấy ý kiến thực hiện nghiêm túc, đúng quy trình lấy ý kiến theo quy định của Luật ban hành, khắc phục được triệt để tính hình thức trong việc tổ chức lấy ý kiến; việc tổng hợp, đánh giá và phản ánh một cách khách quan, đầy đủ những diễn biến từ thực tiễn cuộc sống có vai trò hết sức quan trọng đối với cơ quan xây dựng văn bản, không chỉ giúp việc xây dựng được các quy định phù hợp với điều kiện của thực tiễn xã hội, phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của người chịu sự tác động trực tiếp, đưa người dân vào đúng vị trí của họ trong quá trình xây dựng luật mà đây cũng sẽ là một hình thức tuyên truyền chủ động để người dân được tiếp cận trước với luật, pháp lệnh và khi ban hành sẽ đạt tính khả thi cao.
Thứ năm, phát huy vai trò của các đoàn đại biểu, đại biểu Quốc hội của các tỉnh, thành phố để tiếp cận sâu rộng hơn trong nhân dân thông qua việc lấy ý kiến cử tri, điều này được quy định tại Điều 21 Nghị quyết liên tịch số 525 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và của đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam về việc tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội về nội dung tiếp xúc cử tri là căn cứ vào mục đích, yêu cầu của cuộc tiếp xúc cử tri, đại biểu Quốc hội lựa chọn các nội dung để báo cáo, trao đổi với cử tri. Như vậy, nếu các đại biểu Quốc hội quan tâm, phối hợp chặt chẽ với Chính phủ, với cơ quan xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ngay từ đầu thì các cơ quan xây dựng pháp luật sẽ có nhiều thông tin từ thực tế hơn và thông tin đa chiều từ nhân dân, từ đối tượng điều chỉnh của văn bản, của chính quyền địa phương, của chuyên gia làm cơ sở cho việc soạn thảo văn bản có chất lượng cao.
Bên cạnh việc quy định trình tự, thủ tục chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước với nhau thì cần nâng cao chất lượng, hiểu quả của việc sự tham gia, góp ý của các cơ quan, tổ chức và toàn thể nhân dân trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đó là một trong những giải pháp quan trọng để đảm bảo nguyên tắc dân chủ trong xây dựng pháp luật, để đáp ứng mục tiêu xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, minh bạch, khả thi, dễ tiếp cận, hiệu lực và hiệu quả.
Sưu tầm Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp - Đỗ Mai​
FalsePhòng XD&KTVB
Nhìn lại 03 năm thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015Thông tinTinNhìn lại 03 năm thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Nhằm đánh giá 03 năm thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (BHVBQPPL), Bộ Tư pháp đã tổ chức Hội nghị với sự tham gia của đại diện lãnh đạo các Bộ, Ban, Ngành ở Trung ương, cơ quan ở địa phương và các chuyên gia, nhà khoa học cùng dự. Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long chỉ đạo Hội nghị
12/21/2018 10:00 AMNoĐã ban hành
Cần đánh giá khách quan, toàn diện quy định của Luật BHVBQPPL
Sau 03 năm thi hành Luật BHVBQPPL và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật, công tác xây dựng pháp luật đã có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần quan trọng vào sự phát triển chung của đất nước. Bên cạnh những kết quả đạt được, Luật đã bộc lộ một số tồn tại, hạn chế nhất định.  
 
Điểm lại một số đóng góp quan trọng của Luật BHVBQPPL năm 2015 cũng như các vấn đề tồn tại, phát sinh trong quá trình tổ chức thi hành Luật, Bộ trưởng Lê Thành Long đề nghị các đại biểu trao đổi, thảo luận thẳng thắn những kết quả đạt được và chưa đạt được của việc thi hành Luật. Đặc biệt là cần đánh giá khách quan mặt chưa đạt được là do quy định của pháp luật, do việc tổ chức thi hành Luật hay do sự phối hợp hay từ trách nhiệm thực hiện của các cơ quan. Việc xem xét cần phải toàn diện từ quy định của pháp luật đến thực tiễn. Bộ trưởng cũng đề nghị cần đánh giá kỹ quy trình xây dựng pháp luật để phát hiện vướng mắc ở khâu nào và đề xuất giải pháp thực hiện. Bên cạnh đó cần xem xét đến các quy định liên quan đến trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện Luật. 
Đừng vì mới làm chưa quen, đừng vì đường cày chưa thẳng mà đã bỏ
Đặc biệt quan tâm đến quy trình lập đề nghị xây dựng chính sách trong luật hiện hành, đồng chí Nguyễn Phước Thọ, Phó vụ trưởng Vụ Pháp luật Văn phòng Chính phủ cho rằng, việc tách riêng quy trình lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh thành một quy trình độc lập trong trong xây dựng, ban hành VBQPPL là một chính sách lớn, quan trọng nhất khi xây dựng Luật BHVBQPPL năm 2015 nhưng hiệu quả chưa cao. Thực tế cho thấy, việc đề xuất, xác định tên gọi, nội dung, tư tưởng, nhất là việc phân tích, đánh giá tác động chính sách trong dự án, dự thảo Luật vẫn còn gặp khó khăn, lúng túng. Xây dựng chính sách là vấn đề khó, phức tạp, lại chưa có hướng dẫn cụ thể nên nội dung, phương pháp, kỹ năng phân tích chính sách chưa được làm bài bản, thiếu thống nhất. Về giải pháp, đồng chí Phước Thọ đề xuất, Bộ Tư pháp cần có thông tư hướng dẫn cụ thể để thực hiện thống nhất, hiệu quả các quy định này.
Cũng theo đồng chí Đinh Dũng Sỹ, Vụ trưởng Vụ Pháp luật Văn phòng Chính phủ, phân tích xây dựng chính sách là một cải cách của Luật và được coi là điểm sáng và mang tính cách mạng của Luật BHVBQPPL hiện hành. Nếu làm tốt quy trình xây dựng chính sách thì rất có lợi cho quá trình làm luật. Hiện nay, sau 03 năm tổ chức thực hiện Luật, mặc dù có phát sinh tồn tại, hạn chế, nhưng theo đồng chí, không nên nhìn vào việc làm chưa tốt, làm chưa quen mà bỏ quy trình này. Đồng chí cho rằng, “nên duy trì, thực hiện chưa tốt thì phải tổ chức thế nào để làm cho tốt, đừng vì mới làm chưa quen, đừng vì đường cày chưa thẳng mà đã bỏ”.
 

Theo ý kiến một số đại biểu từ địa phương, Luật hiện hành quy định về xây dựng chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết của HĐND thành phố, tuy nhiên, đây là nội dung mới, Nghị định hướng dẫn còn chung chung nên khó thực hiện tại địa phương. Bên cạnh nội dung nêu trên, đồng chí Ngô Anh Tuấn, Giám đốc Sở Tư pháp TP. Hà Nội còn đề cập đến quy định hạn chế quy định thủ tục hành chính trong nghị quyết của HĐND cấp tỉnh, quyết định của UBND cấp tỉnh chưa thật sự hợp lý, vì theo đồng chí Ngô Anh Tuấn, trong trường hợp nghị quyết của HĐND thành phố ban hành cơ chế chính sách đặc thù của thành phố, quyết định của UBND thành phố ban hành những biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương nhưng không được quy định thủ tục hành chính để thực hiện là không khả thi.
Tại Hội nghị, các đại biểu còn tập trung thảo luận nhiều nội dung khác của Luật BHVBQPPL như xây dựng, ban hành VBQPPL theo trình tự, thủ tục rút gọn; hoạt động thẩm tra dự án luật; trách nhiệm của cơ quan chủ trì thẩm tra trong việc tiếp thu, chỉnh lý dự án luật; thẩm quyền và quy trình xây dựng, ban hành VBQPPL của HĐND, UBND và một số vấn đề khác…
Bộ trưởng Lê Thành Long nhận định, một số quy định trong Luật hiện hành là mới và khó nhưng các bộ, ngành, địa phương đã cố gắng thực hiện. Đánh giá chung tại Hội nghị cho thấy, có nhiều nguyên nhân dẫn đến tồn tại, hạn chế, nhưng nguyên nhân chủ yếu là do vấn đề nhận thức, trách nhiệm và việc tổ chức thi hành Luật vẫn còn hạn chế. Bộ trưởng khẳng định Bộ Tư pháp sẽ ghi nhận và tiếp thu đầy đủ ý kiến của các đại biểu để nghiên cứu, tổng hợp và báo cáo Chính phủ.
Sưu tầm: Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp - An Như
FalsePhòng XD&KTVB
Diễn đàn pháp luật: Thi hành pháp luật về bảo vệ người nghèo và nhóm yếu thế trong lĩnh vực tư phápThông tinTinDiễn đàn pháp luật: Thi hành pháp luật về bảo vệ người nghèo và nhóm yếu thế trong lĩnh vực tư pháp/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Ngày 13/12, Bộ Tư pháp phối hợp cùng với Liên minh Châu Âu (EU) tại Việt Nam và Cơ quan của Liên hợp quốc tại Việt Nam tổ chức Diễn đàn pháp luật lần thứ hai năm 2018 với chủ đề “Thi hành pháp luật về bảo vệ người nghèo và nhóm yếu thế trong lĩnh vực tư pháp”.
12/21/2018 10:00 AMNoĐã ban hành

Tham dự diễn đàn có đại diện các cơ quan của Trung ương Đảng, Quốc hội, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, một số Bộ, ngành, Viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo luật, Hội Luật gia Việt Nam, Liên đoàn Luật sư Việt Nam, UBND và Sở Tư pháp một số  tỉnh, Hội Liên hiệp phụ nữ, các tổ chức xã hội và đại diện một số cơ quan đại diện ngoại giao của các nước, các Tổ chức quốc tế, nhà tài trợ trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp.
Diễn đàn pháp luật là hoạt động được tổ chức thường niên trong khuôn khổ hoạt động của Nhóm quan hệ đối tác pháp luật – thiết chế được thành lập và vận hành theo Nghị định số 113/2014/NĐ-CP ngày 26/11/2014 của Chính phủ về quản lý hợp tác quốc tế về pháp luật, là cơ hội để các đại biểu trong nước và quốc tế trao đổi, thảo luận, cập nhật và chia sẻ các thông tin về tình hình và kết quả thực hiện công tác hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải cách tư pháp ở Việt Nam.


Phát biểu tại Diễn đàn lần này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Khánh Ngọc khẳng định: chăm lo và bảo vệ người nghèo và nhóm yếu thế luôn là mục tiêu ưu tiên trong chính sách phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam, nhằm đảm bảo sự phát triển toàn diện và bền vững của xã hội, đảm bảo sự tham gia một cách rộng rãi, bình đẳng, thực chất của tất cả các thành phần trong xã hội trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Trong những năm qua, Chính phủ Việt Nam đã triển khai nhiều chương trình, chính sách để thực hiện mục tiêu nói trên.

Trong lĩnh vực tư pháp, Việt Nam đã quan tâm và nỗ lực xây dựng Chiến lược cải cách tư pháp, hoàn thiện và tổ chức và thi thành pháp luật nhằm chăm sóc, tạo điều kiện thuận lợi cho người nghèo và nhóm yếu thế tham gia vào đời sống chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa tại Việt Nam. Hiến pháp năm 2013, Luật trẻ em năm 2016, Luật trợ giúp pháp lý năm 2017, Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Luật xử lý vi phạm hành chính… và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác tạo khuôn khổ pháp luật trong nước, thể hiện quan điểm nhất quán của Việt Nam trong thúc đẩy và bảo vệ quyền con người nói chung và quyền, lợi ích của người nghèo, nhóm yếu thế trong xã hội.

Ngoài ra, Việt Nam cũng tham gia nhiều điều ước quốc tế, công ước quốc tế liên quan đến bảo vệ quyền trẻ em, xóa bỏ phân biệt với phụ nữ, đăng ký, thống kê hộ tịch… Các quy định pháp luật trong nước và quốc tế khá đồng bộ, tuy nhiên việc thực thi pháp luật về bảo vệ người nghèo và nhóm yếu thế trong lĩnh vực tư pháp còn nhiều khó khăn, thách thức. Do vậy, Diễn đàn là dịp để các đại biểu chia sẻ, cung cấp các thông tin hữu ích để có cái nhìn tổng quát về khuôn khổ pháp luật dành cho các đối tượng này đồng thời đề xuất các giải pháp để hoàn thiện pháp luật tốt hơn, để các đối tác quốc tế cùng chung tay, hỗ trợ Chính phủ Việt Nam trong công tác này.

Đồng tình với ý kiến của Thứ trưởng Nguyễn Khánh Ngọc, đại diện EU và Liên hợp quốc đều bày tỏ sự quan tâm của các tổ chức này đối với việc đảm bảo quyền được tiếp cận công lý của những người yếu thế trong xã hội. Ngài Bruno Angelet, đại sứ EU tại Việt Nam lưu ý tới việc cường các dịch vụ công, sự tham gia của các thiết chế tư nhân để nâng cao tính minh bạch trong hệ thống tư pháp Việt Nam, tăng khả năng tiếp cận của người nghèo, người bị tổn thương, đặc biệt là trong hoạt động trợ giúp pháp lý. Trong khi đó, ngài Kamal Malhotra - Điều phối viên thường trú Liên hợp quốc tại Việt Nam cho rằng hiện nay nhóm yếu thế trong xã hội ít có cơ hội để tìm hiểu, tiếp cận thông tin pháp luật, trợ giúp pháp lý bởi những rào cản về ngôn ngữ, cách thức chia sẻ thông tin. Vì vậy, cần tăng cường pháp quyền thông qua hệ thống tư pháp tin cậy và chất lượng tốt hơn để đảm bảo công lý cho mọi người, không ai bị bỏ lại phía sau.
Tại Diễn đàn, các đại biểu đã tập trung chia sẻ thông tin, trao đổi về thi hành pháp luật về bảo vệ người nghèo và nhóm yếu thế trong lĩnh vực tư pháp theo định hướng chiến lược phát triển bền vững của Chính phủ Việt Nam giai đoạn 2011 – 2010 cũng như các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đáp ứng các yêu cầu của cải cách pháp luật và cải cách tư pháp.
                                                                                                                                                    Sưu tầm: Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp

FalsePhòng XD&KTVB
Hội nghị trực tuyến quán triệt việc thi hành Bộ luật Hình sự và Luật Tiếp cận thông tinTin ngành tư pháp; Thông tinBài viếtHội nghị trực tuyến quán triệt việc thi hành Bộ luật Hình sự và Luật Tiếp cận thông tin/CMSImageNew/2017-11/truc tuyen_Key_07112017140006.jpg
11/7/2017 2:00 PMNoĐã ban hành

Hội nghị trực tuyến quán triệt việc thi hành Bộ luật Hình sự

và Luật Tiếp cận thông tin

 

Thực hiện Quyết định số 2157/QĐ-BTP ngày 31/10/2017 của Bộ Tư pháp ban hành Kế hoạch tổ chức hội nghị quán triệt việc thi hành Bộ luật Hình sự  và Luật Tiếp cận thông tin. Sáng ngày 04/11/2017, tại phòng họp trực tuyến VNPT Bình Dương, Sở Tư pháp tổ chức hội nghị trực tuyến quán triệt việc thi hành Bộ luật Hình sự và Luật Tiếp cận thông tin điểm cầu Bình Dương theo sự ủy quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh. Bà Nguyễn Anh Hoa - Giám đốc Sở Tư pháp chủ trì hội nghị, tham gia hội nghị gồm đại diện Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh và lãnh đạo các sở, ban, ngành tỉnh, đoàn Luật sư, Hội Luật gia, Phòng Tư pháp thành phố Thủ Dầu Một...

                        truc tuyen 3.jpg

                                                            Hội nghị trực tuyến của Bộ Tư pháp tại Hà Nội

Tại hội nghị các đại biểu tham dự đã nghe Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long phát biểu khai mạc hội nghị. Qua đó, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long khẳng định việc triển khai thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 và Luật Tiếp cận thông tin là rất cần thiết và quan trọng, nhằm đưa các đạo luật này đi vào cuộc sống, phát huy giá trị thực tiễn

Bộ luật Hình sự năm 2015 gồm có 3 phần, 26 chương, 426 điều, có hiệu lực từ ngày 01-01-2018. Luật Tiếp cận thông tin gồm 5 chương, 37 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01-07-2018. Sau khi nghe triển khai thi hành 02 đạo luật này, hội nghị cũng dành thời gian để các đại biểu tại hội nghị các điểm cầu trực tuyến thảo luận nhằm thực hiện có hiệu quả đối với 2 đạo luật này trong thời gian tới.

                          truc tuyen.jpg

                                                                   Quang cảnh Hội nghị tại điểm cầu Bình Dương

Bế mạc hội nghị, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long đã chỉ đạo các sở, ban, ngành tỉnh tại các địa phương trong thời gian tới cần thực hiện một số công tác nhằm triển khai có hiệu quả 02 đạo luật này như tuyên truyền, phổ biến 2 đạo luật này một cách rộng rãi và rà soát các văn bản có liên quan đến 02 đạo luật này để thực hiện đồng bộ và thống nhất…

                                                         

                                                                                                                                                                                                                      Mỹ Hằng

FalsePhòng XD&KTVB
DANH MỤC VĂN BẢN DO CÁC CƠ QUANTRUNG ƯƠNG BAN HÀNH NĂM 2015 GIAO NHIỆM VỤ XÂY DỰNG THỂ CHẾ CHO CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNGThông tinTinDANH MỤC VĂN BẢN DO CÁC CƠ QUANTRUNG ƯƠNG BAN HÀNH NĂM 2015 GIAO NHIỆM VỤ XÂY DỰNG THỂ CHẾ CHO CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/17/2017 2:00 PMNoĐã ban hànhFalsePhòng Hành chính Tư pháp
DANH MỤC VĂN BẢN DO CÁC CƠ QUANTRUNG ƯƠNG BAN HÀNH NĂM 2016 GIAO NHIỆM VỤ XÂY DỰNG THỂ CHẾ CHO CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNGThông tinTinDANH MỤC VĂN BẢN DO CÁC CƠ QUANTRUNG ƯƠNG BAN HÀNH NĂM 2016 GIAO NHIỆM VỤ XÂY DỰNG THỂ CHẾ CHO CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/17/2017 2:00 PMNoĐã ban hànhFalsePhòng Hành chính Tư pháp
DANH MỤC VĂN BẢN DO CÁC CƠ QUANTRUNG ƯƠNG BAN HÀNH NĂM 2017 GIAO NHIỆM VỤ XÂY DỰNG THỂ CHẾ CHO CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNGThông tinTinDANH MỤC VĂN BẢN DO CÁC CƠ QUANTRUNG ƯƠNG BAN HÀNH NĂM 2017 GIAO NHIỆM VỤ XÂY DỰNG THỂ CHẾ CHO CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/17/2017 2:00 PMNoĐã ban hànhFalsePhòng Hành chính Tư pháp
Quy định mới về định mức phân bổ kinh phí bảo đảm cho công tác  xây dựng VBQPPL của HĐND, UBND các cấp trên địa bàn tỉnh Bình DươngThông tin; Tin ngành tư phápBài viếtQuy định mới về định mức phân bổ kinh phí bảo đảm cho công tác  xây dựng VBQPPL của HĐND, UBND các cấp trên địa bàn tỉnh Bình Dương/CMSImageNew/2017-08/VBQPPL_Key_31082017152110.png
8/31/2017 2:00 PMNoĐã ban hành

 Huỳnh Hữu Tốt

Đính kèm Quyết định số 18/2017/QĐ-UBND ngày 21/8/2017QD 18 2017 UBND TINH BD.PDF


​Quy định mới về định mức phân bổ kinh phí bảo đảm cho công tác

xây dựng VBQPPL của HĐND, UBND các cấp trên địa bàn tỉnh Bình Dương

     Ngày 20 tháng 7 năm 2017, Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐND về việc quy định định mức phân bổ kinh phí đảm bảo cho công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND các cấp trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Theo đó, định mức phân bổ kinh phí đối với từng loại văn bản:

    - Nghị quyết của HĐND, Quyết định của UBND ban hành mới hoặc thay thế:

Đơn vị tính: đồng

STT​NỘI DUNGMỨ​C CHI
Cấp tỉnhCấp huyệnCấp xã
1Nghị quyết, Quyết định phức tạp

 

10.000.000

 

8.000.000

 

6.000.000

2Nghị quyết, Quyết định ít phức tạp8.000.0006.000.0004.500.000

   
     - Nghị quyết của HĐND, Quyết định của UBND sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ:

Đơn vị tính: đồng

NỘI DUNGMỨC CHI
Cấp tỉnhCấp huyệnCấp xã
Nghị quyết, Quyết định sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ8.000.0006.000.0004.500.000

               - Nguồn kinh phí chi trả được bố trí trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm giao cho các cơ quan, đơn vị theo phân cấp ngân sách nhà nước hiện hành và được sử dụng từ nguồn kinh phí tự chủ của đơn vị.

               Để triển khai kịp thời, có hiệu quả các quy định tại "Thông tư số 338/2016/TT-BTC ngày 28/12/2016 của Bộ Tài chính quy định lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật" và "Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐND ngày 20 tháng 7 năm 2017 của Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Dương về việc quy định định mức phân bổ kinh phí đảm bảo cho công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp trên địa bàn tỉnh Bình Dương". Ngày 21/8/2017, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 18/2017/QĐ-UBND về việc thực hiện một số nội dung về định mức phân bổ kinh phí bảo đảm cho công tác xây dựng văn bản QPPL của HĐND, UBND các cấp trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Theo đó, tiêu chí xác định Nghị quyết, Quyết định phức tạp, ít phức tạp và quản lý, sử dụng, quyết toán kinh phí đảm bảo cho công tác xây dựng văn bản QPPL của HĐND, UBND các cấp trên địa bàn tỉnh Bình Dương, như sau:

          - Nghị quyết, Quyết định (ban hành mới hoặc thay thế) phức tạp phải đáp ứng một trong các tiêu chí sau:

               + Có nội dung phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực.

               + Có nội dung phức tạp, phải tổ chức họp lấy ý kiến nhiều lần với phạm vi rộng.

           - Nghị quyết, Quyết định (ban hành mới hoặc thay thế) ít phức tạp là các dự thảo Nghị quyết, Quyết định không thuộc trường hợp nêu trên.

           - Quản lý, sử dụng, quyết toán kinh phí xây dựng văn bản QPPL:

             + Kinh phí xây dựng văn bản QPPL của HĐND, UBND các cấp do ngân sách nhà nước bảo đảm, được tổng hợp chung vào dự toán ngân sách chi thường xuyên (kinh phí tự chủ) của cơ quan, đơn vị.

             + Việc lập dự toán, quản lý, sử dụng, quyết toán kinh phí bảo đảm cho công tác xây dựng văn bản QPPL thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật này.

            + Căn cứ vào định mức phân bổ kinh phí đảm bảo cho công tác xây dựng văn bản QPPL của HĐND, UBND các cấp quy định tại Khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐND ngày 20 tháng 7 năm 2017 của HĐND tỉnh, thủ trưởng cơ quan, đơn vị được giao nhiệm vụ chủ trì xây dựng văn bản QPPL quyết định thực hiện chi tiêu cho các nội dung công việc với mức chi phù hợp (thấp hơn hoặc cao hơn mức chi quy định tại Điều 4 Thông tư số 338/2016/TT-BTC) trong tổng định mức phân bổ kinh phí đã được giao để thực hiện nhiệm vụ xây dựng văn bản QPPL.

             + Hàng năm, căn cứ chức năng, nhiệm vụ và các quy định hiện hành, các cơ quan, đơn vị lập dự toán kinh phí xây dựng văn bản QPPL tổng hợp chung vào dự toán kinh phí hoạt động của cơ quan, đơn vị mình gửi cơ quan tài chính cùng cấp để tổng hợp vào dự toán ngân sách nhà nước tham mưu bố trí kinh phí theo thẩm quyền.

     Các nội dung quy định nêu trên có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/9/2017./.


FalsePhòng XD&KTVB
Sẽ hướng dẫn áp dụng thống nhất Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luậtThông tinTinSẽ hướng dẫn áp dụng thống nhất Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
8/21/2017 9:00 AMNoĐã ban hành

Sẽ hướng dẫn áp dụng thống nhất Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) năm 2015 tuy đã qua 01 năm triển khai thi hành nhưng do có nhiều quy định mới, mang tính đột phá nên nhiều bộ, ngành, địa phương vẫn lúng túng trong việc hiểu và áp dụng một số quy định của Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành. Đây là nhận định của Vụ trưởng Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật (Bộ Tư pháp) Nguyễn Hồng Tuyến tại cuộc họp góp ý cho cuốn Hỏi đáp về Luật Ban hành VBQPPL diễn ra ngày 10/8.

Qua thực tiễn áp dụng Luật năm 2015, các bộ, ngành, địa phương đã phản ánh nhiều vướng mắc của mình. Đơn cử, khoản 2 và khoản 3 Điều 156 của Luật năm 2015 quy định về nguyên tắc áp dụng pháp luật trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề. Tuy nhiên, trong thực tế, một số bộ, ngành gặp khó khăn, lúng túng trong việc xác định các văn bản khác nhau có quy định về cùng một vấn đề hay không để từ đó lựa chọn luật áp dụng.
Cụ thể, cùng quy định về miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với các dự án cải tạo, xây dựng lại các chung cư hay không, ngày 15/5/2014, Chính phủ ban hành Nghị định số 45/2014/NĐ-CP quy định về thu tiền sử dụng đất. Điều 2 của Nghị định 45 quy định đối tượng áp dụng của Nghị định là tổ chức kinh tế được giao đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê, không phải là doanh nghiệp kinh doanh bất động sản là chủ đầu tư dự án đầu tư cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư cũ. Thông tư số 76/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Nghị định 45 quy định về thu tiền sử dụng đất, miễn, giảm tiền sử dụng đất nói chung, không quy định về thu tiền sử dụng đất, miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với các dự án cải tạo, xây dựng lại các chung cư cũ bị hư hỏng, xuống cấp. Ngày 20/10/2015, Chính phủ ban hành Nghị định số 101/2015/NĐ-CP về cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư. Như vậy, Nghị định số 101, Nghị định số 45 và Thông tư số 76 có phải là các văn bản quy định về cùng một vấn đề hay không?

 

Một ví dụ khác thì cho thấy có những quy định về cùng một vấn đề nhưng lại quy định khác nhau. Đó là khoản 2 Điều 143 và khoản 4 Điều 144 của Luật Đất đai năm 2013 giao UBND cấp tỉnh thẩm quyền quy định diện tích tối thiểu được tách thửa đối với đất ở nông thôn và đối với đất ở đô thị. Còn Điều 43d của Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định: "UBND cấp tỉnh quy định diện tích tối thiểu được phép tách thửa đối với từng loại đất cho phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương". Như vậy, cùng một vấn đề là thẩm quyền của UBND cấp tỉnh trong việc quyết định diện tích tối thiểu được phép tách thửa đối với đất tại vùng nông thôn và đô thị song khoản 2 Điều 143, khoản 4 Điều 144 Luật Đất đai năm 2013 và Điều 43d của Nghị định 43 quy định không giống nhau.
Hay khoản 4 Điều 27 của Luật năm 2015 quy định HĐND ban hành nghị quyết để quy định "biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương". Tuy nhiên, các ý kiến chỉ ra rằng Luật năm 2015 không định nghĩa thế nào là "biện pháp có tính chất đặc thù".
Trước những băn khoăn rất thực tế của các bộ, ngành, địa phương, qua công tác theo dõi, kiểm tra, Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật dự kiến xây dựng cuốn sách "Hỏi đáp về Luật Ban hành VBQPPL". Nội dung cuốn sách được thiết kế trên cơ sở tổng hợp khó khăn, vướng mắc thực sự mà các bộ, ngành, địa phương đã gặp phải và phản ánh về Bộ Tư pháp cũng như câu hỏi của cử tri, chất vấn của đại biểu Quốc hội và vấn đề do báo chí nêu. Tuy cuốn sách chỉ có tính chất tham khảo, khuyến nghị nhưng ông Tuyến hy vọng cuốn sách sẽ giúp các bộ, ngành, địa phương trong việc thi hành Luật năm 2015 và các văn bản quy định chi tiết thi hành một cách đúng đắn và thống nhất.
Chẳng hạn, tại ví dụ thứ 2, Vụ Các vấn đề chung cho rằng, căn cứ khoản 2 Điều 156 của Luật năm 2015 thì trong trường hợp này, quy định tại khoản 2 Điều 143, khoản 4 Điều 144 của Luật Đất đai năm 2013 được ưu tiên áp dụng. Theo đó, UBND cấp tỉnh chỉ có thẩm quyền quy định diện tích tối thiểu được tách thửa đối với đất ở tại các vùng nông thôn và vùng đô thị, chứ không phải đối với tất cả các loại đất tại địa phương.
Còn với "biện pháp có tính chất đặc thù", Vụ lý giải, tính chất đặc thù của biện pháp phụ thuộc vào vị trí địa – chính trị hoặc trình độ phát triển kinh tế xã hội của từng địa phương (vùng đồng bào dân tộc thiểu số; vùng núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng hải đảo; vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn). Các địa phương này có hạn chế và thế mạnh riêng của mình. Nhà nước và các tỉnh có thể ban hành các cơ chế, chính sách, biện pháp đặc thù để khắc phục khó khăn cố hữu và phát huy thế mạnh sẵn có của các địa phương.

Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp

FalseNgô Hoàng Nam
Xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật – những vấn đề phát sinh trong thực tiễnThông tinTinXây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật – những vấn đề phát sinh trong thực tiễn/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
7/21/2017 12:00 PMNoĐã ban hành

Xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật – những vấn đề phát sinh trong thực tiễn

20/07/2017

Công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật là một trong những nhiệm vụ quan trọng của chính quyền địa phương nhằm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, đảm bảo việc quản lý xã hội hiệu quả. Thực hiện công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật sẽ có các trường hợp xây dựng, ban hành văn bản mới, văn bản thay thế, văn bản bãi bỏ hoặc văn bản sửa đổi, bổ sung. Trong Tạp chí dân chủ và Pháp luật số tháng 3 (276) năm 2015, đồng chí Nguyễn Thị Thu Hòe – Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật đã có bài viết nêu “Một số ý kiến về văn bản sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật”. Theo đó, tại bài viết đồng chí Nguyễn Thị Thu Hòe đã nêu nhiều vấn đề còn tồn tại trong việc ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung. Ngày 22/6/2015, Quốc hội thông qua Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 80/2015/QH13, về cơ bản luật này cũng đã giải quyết được nhiều vấn đề mà bài viết đã nêu tuy nhiên, trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung nhận thấy còn phát sinh một vấn đề như sau:
1. Xác định căn cứ để đề xuất xây dựng, ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật
Sửa đổi, bổ sung văn bản được áp dụng trong trường hợp một phần nội dung của văn bản trái, chồng chéo, mâu thuẫn với văn bản là căn cứ để rà soát hoặc không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội (theo quy định tại khoản 3 Điều 143 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật). Như vậy, vấn đề sửa đổi, bổ sung văn bản được đặt ra trong hai trường hợp.
Một là, một phần nội dung của văn bản trái, chồng chéo, mâu thuẫn với văn bản là căn cứ để rà soát. Đối với trường hợp này, căn cứ để đề nghị sửa đổi, bổ sung văn bản khá rõ ràng vì khi đặt văn bản là căn cứ rà soát và văn bản cần sửa đổi, bổ sung ra để so sánh, đối chiếu, đánh giá các nội dung mang tính chất chồng chéo, mâu thuẫn thì người làm công tác xây dựng văn bản có thể nhận diện được những nội dung nào của văn bản trái, chồng chéo, mâu thuẫn với văn bản là căn cứ để rà soát. Từ đó, có kiến nghị đến cơ quan có thẩm quyền việc sửa đổi, bổ sung văn bản.
Hai là, vấn đề sửa đổi, bổ sung văn bản được đặt ra khi rà soát nội dung văn bản nhận thấy không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội. Hiện nay chưa có một “bộ công cụ” nào hoặc một chuẩn nào để đánh giá tính không phù hợp của văn bản đối với tình hình phát triển kinh tế - xã hội. Do đó, trên thực tế việc xác định, đánh giá nội dung văn bản không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội rất chung chung, đôi khi còn có sự nhầm lẫn.
2. Xác định thẩm quyền sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật
Thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương được quy định từ điều 27 đến điều 30 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Theo đó, chính quyền địa phương cấp tỉnh có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh/ Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) để quy định chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.
Về thẩm quyền sửa đổi, bổ sung văn bản: Theo quy định tại Điều 12 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, quy định: “Văn bản quy phạm pháp luật chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó hoặc bị đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên có thẩm quyền. Văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn bản khác phải xác định rõ tên văn bản, phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm của văn bản bị sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành”.
Trên thực tế vẫn có nhiều trường hợp lúng túng trong việc xác định thẩm quyền ban hành văn bản và thẩm quyền sửa đổi, bổ sung văn bản. Ví dụ trong trường hợp xác định thẩm quyền ban hành Quyết định quy định (ban hành) hệ số điều chỉnh giá đất hằng năm và thẩm quyền ban hành Quyết định sửa đổi, bổ sung Quyết định quy định (ban hành) hệ số điều chỉnh giá đất hàng năm ở địa phương, cụ thể như sau:
Tại khoản 4 Điều 3 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai quy định về việc sửa đổi, bổ sung khoản 2 và khoản 3 Điều 18 Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 về giá đất, quy định: “3. Hàng năm, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định hệ số điều chỉnh giá đất để áp dụng cho các trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều này”
Theo quy định trên, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền ban hành hệ số điều chỉnh giá đất – Trường hợp này, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quyết định quy phạm pháp luật để quy định chi tiết khoản 4 Điều 3 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ (trước đó là khoản 3 Điều 18 Nghị định số 44/2014/NĐ-CP). Năm 2017, Ủy ban nhân dân tỉnh A ban hành Quyết định số 01/2017/QĐ-UBND ban hành hệ số điều chỉnh giá đất năm 2017 áp dụng trên địa bàn tỉnh, trong quá trình áp dụng Quyết định số 01/2017/QĐ-UBND đến tháng 6/2017, nhận thấy hệ số điều chỉnh giá đất ở một số khu vực được quy định tại Quyết định số 01/2017/QĐ-UBND không còn phù hợp với thực tế, vậy Ủy ban nhân dân tỉnh A có được ban hành Quyết định sửa đổi, bổ sung Quyết định số 01/2017/QĐ-UBND không?
Quá trình giải quyết vấn đề, có hai luồng quan điểm như sau: Luồng quan điểm thứ nhất, cho rằng Ủy ban nhân dân tỉnh A không có thẩm quyền ban hành Quyết định sửa đổi, bổ sung Quyết định số 01/2017/QĐ-UBND, vì Nghị định số 01/2017/NĐ-CP chỉ giao thẩm quyền cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành hệ số điều chỉnh giá đất hằng năm chứ không giao thẩm quyền sửa đổi, bổ sung hệ số điều chỉnh giá đất. Và hệ số điều chỉnh giá đất được ban hành hàng năm nên nếu quá trình áp dụng phát sinh vấn đề gì thì sẽ được nghiên cứu, điều chỉnh trong Quyết định ban hành hệ số điều chỉnh giá đất của năm sau. Luồng quan điểm thứ hai, cho rằng thẩm quyền sửa đổi, bổ sung văn bản được xác định theo quy định tại Điều 12 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 nên Ủy ban nhân dân tỉnh A có thẩm quyền ban hành Quyết định sửa đổi, bổ sung Quyết định số 01/2017/QĐ-UBND. Đồng thời, tại Điều 1 Thông tư số 333/2016/TT-BTC ngày 26/12/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 77/2014/TT-BTC ngày 16/6/2014 hướng dẫn một số điều của Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về quy định thu tiền thuê đất, thuê mặt nước quy định: “Hệ số điều chỉnh giá đất, mức tỷ lệ phần trăm (%) để xác định giá khởi điểm là hệ số điều chỉnh giá đất, mức tỷ lệ phần trăm (%) do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành để xác định đơn giá thuê đất trong trường hợp cho thuê đất không thông qua hình thức đấu giá. Trường hợp thửa đất hoặc khu đất đấu giá thuộc đô thị, trung tâm thương mại, dịch vụ, đầu mối giao thông, khu dân cư tập trung có khả năng sinh lợi đặc biệt, có lợi thế trong việc sử dụng đất làm mặt bằng sản xuất kinh doanh, thương mại và dịch vụ thì căn cứ tình hình thực tế tại địa phương, Sở Tài chính báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định điều chỉnh tăng hệ số điều chỉnh giá đất, mức tỷ lệ phần trăm (%) để xác định giá khởi điểm.” Như vậy, để điều chỉnh hệ số điều chỉnh giá đất theo quy định này thì Ủy ban nhân dân tỉnh A phải ban hành Quyết định sửa đổi, bổ sung Quyết định số 01/2017/QĐ-UBND.
Vì có những quan điểm khác nhau như vậy nên quá trình giải quyết vấn đề - xác định Ủy ban nhân dân tỉnh A có thẩm quyền ban hành Quyết định sửa đổi, bổ sung Quyết định số 01/2017/QĐ-UBND hay không còn nhiều khó khăn.
3. Xác định khi nào thì sửa đổi, bổ sung khi nào thì thay thế
Điều 143 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, quy định các hình thức xử lý văn bản được rà soát, bao gồm: Bãi bỏ toàn bộ, bãi bỏ một phần; Thay thế văn bản, Sửa đổi, bổ sung văn bản; Ban hành văn bản mới; Đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản; Ngưng hiệu lực một phần hoặc toàn bộ văn bản trong một thời hạn nhất định. Mặc dù, Nghị định đã đưa ra quy định giải thích đối với từng hình thức, tuy nhiên trên thực tế việc áp dụng đôi khi vẫn chưa thống nhất.
Một văn bản quy phạm pháp luật có thể có nhiều điều khoản, chứa đựng nhiều nội dung nhưng không phải tất cả các nội dung được quy định trong văn bản là nội dung chính, nội dung trọng tâm của văn bản. Ví dụ như, Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định mức hỗ trợ bồi dưỡng nguồn nhân lực của hợp tác xã, thành lập mới và tổ chức lại hoạt động của hợp tác xã theo chương trình hỗ trợ phát triển hợp tác xã, trong Quyết định này nội dung chính, trọng tâm nhất có thể xác định là “quy định về mức hỗ trợ” ngoài ra, còn các quy định khác về đối tượng, phạm vi áp dụng; nguồn kinh phí; trách nhiệm thực hiện… Khi cần điều chỉnh nội dung quy định về mức hỗ trợ thì sẽ sửa đổi, bổ sung văn bản hay thay thế văn bản. Thực tế, có nhiều quan điểm áp dụng pháp luật xác định việc áp dụng hình thức sửa đổi, bổ sung văn bản hay thay thế văn bản thường không phải căn cứ vào mức độ là một phần, phần lớn hay toàn bộ nội dung văn bản mà xác định trên cơ sở mức độ là một phần, phần lớn hay toàn bộ nội dung chính của văn bản.
 Trên đây là những vấn đề phát sinh trong thực tiễn xây dựng, ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung mà nguyên nhân chính là xuất phát từ việc hiểu và áp dụng pháp luật chưa thống nhất. Để đảm bảo việc áp dụng quy định pháp luật trong việc xây dựng, ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung thống nhất, phù hợp với quy định pháp luật, các cơ quan có thẩm quyền cần có sự tổng hợp, nghiên cứu và hướng dẫn cụ thể hơn. Đồng thời là vấn đề phát sinh trong thực tiễn xây dựng, ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung, do đó ở mỗi địa phương có thể có những tình huống tương tự hoặc khác nhau, mong rằng sẽ được các địa phương đưa ra để cùng trao đổi, nghiên cứu và có hướng giải quyết vấn đề phù hợp với quy định pháp luật./.
Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp
FalsePhòng XD&KTVB
Tập huấn Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luậtThông tin; Tin ngành tư phápTinTập huấn Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật/CMSImageNew/2017-06/hoi nghi 3_Key_06062017152659.jpg
6/6/2017 3:00 AMNoĐã ban hành

        Ngày 31/5/2017, Ủy ban nhân dân huyện Bắc Tân Uyên phối hợp với Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương tổ chức hội nghị tập huấn Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật cho cán bộ các cơ quan, đơn vị, các xã trong huyện.

hoi nghi 3.jpg

Đồng chí Huỳnh Hữu Tốt - Trưởng Phòng Xây dựng và Kiểm tra văn bản QPPL - Sở Tư pháp triển khai các nội dung liên quan đến Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP.

        Tham dự hội nghị gồm có đồng chí Huỳnh Hữu Tốt - Trưởng Phòng Xây dựng và Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật - Sở Tư pháp; đại diện lãnh đạo HĐND, UBND huyện, UBMTTQ Việt Nam huyện; các Ban của HĐND huyện; Thủ trưởng và cán bộ, công chức được giao phụ trách công tác xây dựng, ban hành, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện; Lãnh đạo HĐND-UBND, công chức phụ trách công tác của Ban Pháp chế, Ban Kinh tế - Xã hội HĐND xã, công chức văn phòng - Thống kê, công chức Tư pháp - Hộ tịch.

hoinghi 1.jpg

​​tot1.jpg

Quang cảnh buổi Hội nghị


        Tại Hội nghị, các đại biểu đã được nghe đồng chí Huỳnh Hữu Tốt - Trưởng Phòng Xây dựng và Kiểm tra văn bản QPPL - Sở Tư pháp truyền đạt một số nội dung của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Nghị định số 34/2016 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Đồng chí nhấn mạnh một số nội dung về thẩm quyền ban hành, nội dung, hình thức văn bản QPPL của HĐND, UBND cấp huyện, cấp xã; hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc áp dụng, công khai văn bản quy phạm pháp luật; giám sát, kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật; rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật…

        Thông qua Hội nghị tập huấn giúp cho đội ngũ cán bộ quản lý và cán bộ trực tiếp làm công tác soạn thảo, ban hành, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn huyện nắm vững các quy định của Luật và Nghị định số 34/2016 của Chính phủ để tổ chức triển khai thực hiện Luật đảm bảo chặt chẽ, kịp thời, thống nhất, đạt hiệu quả cao, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực, thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội tại địa phương./.

                                                                                Phòng XD&KTVBQPPL

FalsePhòng XD&KTVB
Bãi bỏ một số văn bản pháp luật của Ủy ban nhân dân,  Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnhThông tinTinBãi bỏ một số văn bản pháp luật của Ủy ban nhân dân,  Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
5/15/2017 5:00 PMNoĐã ban hành

Bãi bỏ một số văn bản pháp luật của Ủy ban nhân dân,

Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh


Ngày 05/5/2017, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Quyết định số 11/2017/QĐ-UBND về việc bãi bỏ một số văn bản pháp luật của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh. Theo đó, Ủy ban nhân dân tỉnh bãi bỏ toàn bộ 93 văn bản pháp luật của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh gồm: 66 Chỉ thị và 27 Quyết định của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành do không còn phù hợp với quy định pháp luật hiện hành và tình hình thực tiễn của địa phương.  Quyết định số 11/2017/QĐ-UBND có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/5/2017 (có Quyết định số 11/2017/QĐ-UBND kèm theo)./

QD-11-2017-UBND-TINH-BD_001.jpg

QD-11-2017-UBND-TINH-BD_003.jpg

QD-11-2017-UBND-TINH-BD_004.jpg 

QD-11-2017-UBND-TINH-BD_005.jpg 

QD-11-2017-UBND-TINH-BD_006.jpg

QD-11-2017-UBND-TINH-BD_007.jpg

QD-11-2017-UBND-TINH-BD_008.jpg

QD-11-2017-UBND-TINH-BD_009.jpg

QD-11-2017-UBND-TINH-BD_010.jpg

QD 11 2017 UBND TINH BD.pdf

​Huỳnh Hữu Tốt​

FalsePhòng XD&KTVB
Tọa đàm về việc thực hiện quy trình xây dựng, ban hành  Nghị quyết của HĐND tỉnhThông tin; Tin ngành tư phápTinTọa đàm về việc thực hiện quy trình xây dựng, ban hành  Nghị quyết của HĐND tỉnh/CMSImageNew/2017-03/Tọa đàm về thực hiện quy trình xây dựng, ban hành Nghị quyết của HĐND tỉnh_hdd_Key_23032017144905.jpg
3/23/2017 3:00 PMNoĐã ban hành

Sáng ngày 23/3/2017, tại HĐND tỉnh, Ban Pháp chế HĐND tỉnh phối hợp với Sở Tư pháp tổ chức Tọa đàm về thực hiện quy trình xây dựng, ban hành Nghị quyết của HĐND tỉnh.


IMG_2313.jpg 

Tham dự có lãnh đạo các Ban HĐND tỉnh và các sở, ban ngành tỉnh.

Bà Nguyễn Trường Nhật Phượng - Phó Trưởng Ban Pháp chế HĐND tỉnh cho biết, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 22/6/2015 và đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/07/2016. Đây là văn bản luật được áp dụng thống nhất cho việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật từ Trung ương đến địa phương, trong đó kế thừa những nội dung còn phù hợp của các luật trước đây, đồng thời đổi mới quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trọng tâm là đổi mới giai đoạn phân tích và đánh giá tác động của chính sách. Do đó, buổi tọa đàm nhằm mục đích trao đổi, thống nhất về cách hiểu, cách thực hiện những quy định mới để đảm bảo thực hiện đúng những quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, phân tích những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện để tổng hợp kiến nghị, đề xuất các cơ quan Trung ương hướng dẫn thực hiện thống nhất.

Tại buổi tọa đàm, các đại biểu đã được nghe Báo cáo viên đại diện Ban Pháp chế HĐND tỉnh, Sở Tư pháp, Sở Khoa học và Công nghệ trình bày các chuyên đề: Giải pháp nâng cao chất lượng quy trình soạn thảo, ban hành và triển khai thực hiện Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh;  Quy trình xây dựng, ban hành Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh theo quy định của Luật Ban hành văn bản quv phạm pháp luật 2015; việc thực hiện quy trình xây dựng, ban hành Nghị quyết HĐND tỉnh đối với một Nghị quyết cụ thể.


IMG_2308.jpg 

Bà Trần Thị Minh Hạnh - Phó Giám đốc Sở Tư pháp trình bày tham luận

tại buổi tọa đàm

Đại biểu đã tập trung thảo luận các vấn đề nêu ra trong các bài tham luận, đồng thời trao đổi thêm về quy trình xây dựng các Nghị quyết cá biệt; thời gian trình đề nghị xây dựng Nghị quyết; phân tích làm rõ sự khác nhau về quy trình xây dựng, ban hành đối với Nghị quyết có nội dung quy định tại Khoản 1 Điều 27 với các nghị quyết có nội dung quy định tại Khoản 2, 3, 4 Điều 27 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015; nhiệm vụ của cơ quan đề nghị xây dựng Nghị quyết và những khó khăn, vướng mắc trong thực hiện quy trình xây dựng, ban hành Nghị ​quyết HĐND tỉnh./.

 

Huỳnh Hữu Tốt

FalsePhòng XD&KTVB
Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Công văn về việc xây dựng, ban hành Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh năm 2017Văn bản nghiệp vụ; Thông tin; Tin ngành tư phápTinỦy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Công văn về việc xây dựng, ban hành Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh năm 2017/CMSImageNew/2016-07/frame_LBHVBQPPL2015_Key_04072016182647.jpg
2/27/2017 2:00 PMNoĐã ban hành

​​

Thực hiện Văn bản số 44/HĐND-VP ngày 10/02/2017 của Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh về xây dựng, ban hành nghị quyết năm 2017, đồng thời, trên cơ sở Công văn số 4844/UBND-NC ngày 19/12/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh  hướng dẫn thực hiện quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Ngày 22/02/2017, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Công văn số 530/UBND-TH về việc xây dựng, ban hành Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh năm 2017. Theo đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo Thủ trưởng các sở, ban, ngành tỉnh; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố thực hiện nội dung sau:

1. Lập đề nghị xây dựng Nghị quyết (Giai đoạn 1): Thực hiện theo Điểm a Khoản 1 Mục I Công văn số 4844/UBND-NC của Ủy ban nhân dân tỉnh. Thời gian gửi hồ sơ về Ủy ban nhân dân tỉnh, chậm nhất vào cuối tháng 03/2017 đối với nội dung trình kỳ họp giữa năm; chậm nhất vào cuối tháng 08/2017 đối với nội dung trình kỳ họp cuối năm để Ủy ban nhân dân tỉnh thông qua trước khi trình Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh xem xét theo quy định.

2. Soạn thảo, thông qua dự thảo Nghị quyết (Giai đoạn 2): Thực  hiện theo Điểm b Khoản 1 Mục I Công văn số 4844/UBND-NC của Uỷ ban nhân dân tỉnh. Thời gian gửi hồ sơ về Ủy ban nhân dân tỉnh, chậm nhất vào đầu tháng 06/2017 đối với nội dung trình kỳ họp giữa năm; chậm nhất vào đầu tháng 11/2017 đối với nội dung trình kỳ họp cuối năm để Ủy ban nhân dân tỉnh thông qua trước khi trình Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh và các Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh thẩm tra theo quy định./.

CV 530 UBND TINH BD.PDF

Mai Đức Thanh

FalsePhòng XD&KTVB
Công văn số 4218/BTP-VĐCXDPL về việc trả lời về một số quy định của Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CPThông tinTinCông văn số 4218/BTP-VĐCXDPL về việc trả lời về một số quy định của Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/21/2016 11:00 AMNoĐã ban hànhFalsePhòng Hành chính Tư pháp
Công văn số 4844/UBND-NC ngày 19/12/2016 về việc hướng dẫn thực hiện quy trình ban hành văn bản QPPL trên địa bàn tỉnh Bình DươngThông tinCông văn số 4844/UBND-NC ngày 19/12/2016 về việc hướng dẫn thực hiện quy trình ban hành văn bản QPPL trên địa bàn tỉnh Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/21/2016 11:00 AMNoĐã ban hànhFalsePhòng Hành chính Tư pháp
Hội thảo về sổ tay soạn thảo văn bản quy phạm pháp luậtThông tin; Tin ngành tư phápTinHội thảo về sổ tay soạn thảo văn bản quy phạm pháp luậthttp://www.moj.gov.vn/qt/tintuc/PublishingImages/2016/Duong/Thang%2011/vdc1.jpg
11/24/2016 2:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 21/11/2016, Bộ Tư pháp phối hợp với Dự án phát triển lập pháp quốc gia tại Việt Nam (NLD) tổ chức Hội thảo về "Sổ tay soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật", tham dự hội thảo có sự có mặt của các chuyên gia, nhà khoa học tham gia xây dựng sổ tay, cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật của các bộ, cơ quan ngang bộ, đại diện sở tư pháp của 05 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là Hải Phòng, Quảng Ninh, Thái Bình, Lạng Sơn và Hải Dương và đại diện một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.

Phát biểu khai mạc tại Hội thảo, ông Nguyễn Hồng Tuyến – Vụ trưởng Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp nhấn mạnh, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 9 ngày 22/6/2015 và có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2016. Ngày 14/5/2016 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 34/2016/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Đây là những văn bản quan trọng trong hệ thống pháp luật của Việt Nam, quy định nguyên tắc, thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tổ chức, người có thẩm quyền trong việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. 

 

Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP có nhiều nội dung đổi mới quan trọng, mang tính đột phá trong công tác xây dựng, ban hành và thi hành văn bản quy phạm pháp luật như thống nhất các quy định về ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong một văn bản, quy định rõ hơn khái niệm văn bản quy phạm pháp luật và khái niệm quy phạm pháp luật, quy định rõ hơn thẩm quyền về mặt nội dung của hình thức văn bản tương ứng với từng chủ thể có thẩm quyền, giảm bớt một số loại văn bản như chỉ thị, thông tư liên tịch; quy định quy trình xây dựng, phê duyệt chính sách trước quy trình soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật; quy định xử lý trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc đề nghị xây dựng văn bản, soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, góp ý, ban hành văn bản quy phạm pháp luật; tăng cường dân chủ trong hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật….

 

Luật và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP đã quy định rõ quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật tương ứng với từng chủ thể có thẩm quyền. Tuy nhiên, để công tác xây dựng pháp luật đạt kết quả tốt hơn thì cần phải có hướng dẫn về các kỹ năng, nghiệp vụ trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo hướng "cầm tay chỉ việc". Do đó việc biên soạn các cuốn sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ, kỹ năng cho cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật là cần thiết, sổ tay sẽ là những cẩm nang quan trọng phục vụ công tác chuyên môn của các cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật, phục vụ nhu cầu nghiên cứu, học tập của các đôi tượng đang học luật.

 Các đại biểu tham dự Hội thảo đã nhất trí về nội dung của cuốn sổ tay, một số ý kiến cho rằng không nên khống chế dung lượng của cuốn sổ tay để mọi đối tượng có thể tra cứu theo nhu cầu, theo những vấn đề chưa rõ có thể mở ra và thực hiện được ngay và không cần thiết phải chia thành nhiều cuốn khác nhau hoặc tách biệt sổ tay soạn thảo của trung ương và địa phương.

Ngoài ra, các ý kiến cũng cho rằng, Sổ tay cần hướng dẫn cụ thể hơn, theo đó cần kèm theo các tình huống, ví dụ thực tế và sau mỗi kỹ năng trong soạn thảo cần có khuyến cáo để người làm công tác soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật tránh mắc phải những lỗi sai trên thực tế.

Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp

FalsePhòng XD&KTVB
Một số ý kiến về việc thực hiện cơ chế “phân cấp” theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015Thông tinTinMột số ý kiến về việc thực hiện cơ chế “phân cấp” theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
9/16/2016 9:00 AMNoĐã ban hành

15/09/2016

Luật Tổ chức chính quyền địa phương được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 19/6/2015. Theo đó, để tạo cơ chế pháp lý rõ ràng trong việc xác định thẩm quyền của mỗi cấp chính quyền địa phương cũng như cơ chế trong việc phân cấp giữa cơ quan nhà nước cấp trên với cơ quan nhà nước cấp dưới, việc ủy quyền giữa cơ quan hành chính nhà nước cấp trên cho Ủy ban nhân dân cấp dưới hoặc cơ quan tổ chức khác, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 đã cụ thể vấn đề này bằng các điều luật: Điều 11. Phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương, Điều 12. Phân quyền cho chính quyền địa phương, Điều 13. Phân cấp cho chính quyền địa phương, Điều 14. Ủy quyền cho cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. Đây là một trong những quy định mới của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 so với Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003.

Trước ngày 01/7/2016, việc phân cấp giữa cơ quan hành chính nhà nước cấp trên cho cơ quan nhà nước cấp dưới được thực hiện trên cơ sở các quy định cụ thể của "luật nội dung". Việc phân cấp chủ yếu được thực hiện trong một lĩnh vực như đầu tư, xây dựng, phê duyệt kinh phí, công tác quản lý trong lĩnh vực đất đai… Do đó, việc phân cấp giữa cơ quan hành chính nhà nước cấp trên cho cơ quan nhà nước cấp dưới không phải là vấn đề quá mới. Tuy nhiên, để hiểu và áp dụng đúng tinh thần Điều 13 của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 cũng như một số quy định khác có liên quan, trong quá trình phân cấp còn rất nhiều vấn đề cần lưu ý, cụ thể:
1. Về việc thực hiện cơ chế "phân cấp" 
Theo quy định tại Điều 17 của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, một trong các nhiệm vụ cơ bản, hàng đầu của chính quyền địa phương ở tỉnh là tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trên địa bàn tỉnh. Để triển khai nhiệm vụ này, chính quyền địa phương ở tỉnh sẽ thông qua hai hoạt động cơ bản, thứ nhất là thông qua việc ban hành các văn bản để triển khai thực hiện, chẳng hạn như quyết định, quy định, chương trình, kế hoạch… và thứ hai là triển khai thực hiện bằng các hoạt động cụ thể.
Điều 13 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, đã tạo cơ sở pháp lý rõ ràng trong việc phân cấp giữa cơ quan nhà nước cấp trên với cơ quan nhà nước cấp dưới, tạo điều kiện thuận lợi cho chính quyền địa phương ở tỉnh chủ động, linh hoạt trong việc điều hành, đảm bảo hiệu quả, thời gian trong giải quyết công việc ở địa phương khi phân cấp cho cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của mình.
Qua kết quả thực hiện cơ chế phân cấp trong một số lĩnh vực tại địa phương trong thời gian qua, nhận thấy đây cũng là một trong các cơ sở về thể chế để đẩy mạnh việc nâng cao chỉ số cải cách hàng chính và chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở địa phương. Vì, thực hiện việc phân cấp đã góp phần rút ngắn thời gian giải quyết công việc, tăng hiệu quả thực hiện cũng như trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong việc triển khai một số nhiệm vụ được cơ quan cấp trên phân cấp. Do đó, thực hiện cơ chế phân cấp tốt sẽ góp phần đẩy mạnh hiệu quả giải quyết công việc tại các cơ quan, đơn vị.
* Tuy nhiên, khi thực hiện cơ chế phân cấp" cần lưu ý những vấn đề sau: 
- Thứ nhất, căn cứ của việc phân cấp: Căn cứ vào yêu cầu công tác, khả năng thực hiện và điều kiện, tình hình cụ thể của địa phương, cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương được quyền phân cấp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện một cách liên tục, thường xuyên một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của mình, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Thứ hai, hình thức của việc phân cấp: Việc phân cấp phải được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước phân cấp.
- Thứ ba, điều kiện để đảm bảo thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp: Cơ quan nhà nước cấp trên khi phân cấp nhiệm vụ, quyền hạn cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới phải bảo đảm các nguồn lực và điều kiện cần thiết khác để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình phân cấp.
- Thứ tư, trách nhiệm của cơ quan phân cấp và cơ quan được phân cấp: Cơ quan phân cấp chịu trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đã phân cấp và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình phân cấp. Cơ quan nhà nước được phân cấp chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp.
Để đảm bảo hiệu quả của việc phân cấp giữa Ủy ban nhân dân tỉnh cho cơ quan cấp dưới (là Ủy ban nhân dân cấp huyện và cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh), khi xem xét, quyết định phân cấp, cơ quan phân cấp phải đảm bảo bốn yếu tố trên, tránh trường hợp phân cấp tràn lan, thực hiện không đồng bộ, không đảm bảo điều kiện thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp dẫn đến việc áp dụng pháp luật tùy tiện, không hiệu quả.
2. Vướng mắc khi thực hiện cơ chế phân cấp 
- Điều 13 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, quy định:
Điều 13. Phân cấp cho chính quyền địa phương
1. Căn cứ vào yêu cầu công tác, khả năng thực hiện và điều kiện, tình hình cụ thể của địa phương, cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương được quyền phân cấp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện một cách liên tục, thường xuyên một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của mình, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Việc phân cấp phải bảo đảm các nguyên tắc quy định tại khoản 2 Điều 11 của Luật này và phải được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước phân cấp, trong đó xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn phân cấp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới, trách nhiệm của cơ quan nhà nước phân cấp và cơ quan nhà nước được phân cấp.
- Điều 28 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, quy định:
Điều 28. Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quyết định để quy định:
1. Chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên;
2. Biện pháp thi hành Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp về phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương;
3. Biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương.
Có thể thấy, rất khó xác định "quyết định quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về việc phân cấp cho cơ quan nhà nước cấp dưới để thực hiện một nhiệm vụ, quyền hạn nào đó của mình" thuộc trường hợp nào trong ba trường hợp được quy định tại điều 28 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Thực tế, trừ những trường hợp thẩm quyền phân cấp đã được quy định cụ thể trong luật nội dung, cụ thể là luật giao cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thẩm quyền phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thì việc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 để phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn của mình là chưa đủ cơ sở, chưa thống nhất với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.
Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 112 Hiến pháp năm 2013 quy định: "3. Trong trường hợp cần thiết, chính quyền địa phương được giao thực hiện một số nhiệm vụ của cơ quan nhà nước cấp trên với các điều kiện bảo đảm thực hiện nhiệm vụ đó.". Như vậy, Hiến pháp năm 2013 chỉ quy định việc phân cấp của cơ quan cấp trên cho chính quyền địa phương, không quy định việc phân cấp của chính quyền địa phương ở cấp tỉnh cho cơ quan cấp dưới. Đồng thời, căn cứ của việc phân cấp là phải "trong trường hợp cần thiết", tuy nhiên Điều 13 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 đã mở rộng căn cứ phân cấp, cụ thể: "Căn cứ vào yêu cầu công tác, khả năng thực hiện và điều kiện, tình hình cụ thể của địa phương…". Thay vì, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 phải hướng dẫn cụ thể "trong trường hợp cần thiết" là trường hợp nào thì cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương được phân cấp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới thì Luật lại quy định chung chung, khó xác định hơn. Và chính vì thế, mỗi địa phương có một cách xác định căn cứ thực hiện việc phân cấp khác nhau; Việc phân cấp trở nên "tràn lan", không đảm bảo tính hiệu quả, thống nhất trong hoạt động quản lý, điều hành.
Từ ngày 01/7/2015, tại nhiều địa phương đã đẩy mạnh việc triển khai thực hiện cơ chế phân cấp. Tuy nhiên, để đảm bảo hiệu quả triển khai đồng bộ, thống nhất Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và các quy định khác có liên quan, nhận thấy trong thời gian tới, cần phải có các hướng dẫn cụ thể về việc thực hiện cơ chế phân cấp theo quy định tại Điều 13 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.
Trên đây là một số ý kiến trao đổi liên quan đến việc thực hiện cơ chế phân cấp theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, rất mong nhận được các ý kiến trao đổi từ các quý đồng nghiệp trong quá trình nghiên cứu cũng như áp dụng pháp luật về vấn đề này tại địa phương./.
 

Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp.

FalsePhòng XD&KTVB
Hội nghị tập huấn về xây dựng, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật; bồi thường nhà nước. Theo dõi thi hành pháp luật và quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chínhTin ngành tư pháp; Thông tinTinHội nghị tập huấn về xây dựng, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật; bồi thường nhà nước. Theo dõi thi hành pháp luật và quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính/CMSImageNew/2016-08/hinhdaidien_taphuanXDVB_Key_10082016111521.jpg
8/10/2016 11:15 AMNoĐã ban hành

Hội nghị tập huấn về xây dựng, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật; bồi thường nhà nước; theo dõi thi hành pháp luật và quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính

 

              Thực hiện Kế hoạch số 3853/KH-UBND ngày 02/11/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương triển khai thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Bình Dương; Kế hoạch số 3478/KH-UBND ngày 28/12/2016 của UBND tỉnh ban hành kế hoạch theo dõi thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh Bình Dương năm 2016 và triển khai thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về báo cáo công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật năm 2014; Kế hoạch số 3528/KH-UBND ngày 30/12/2016 của UBND tỉnh ban hành kế hoạch triển khai nhiệm vụ công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính năm 2016 trên địa bàn tỉnh Bình Dương; Kế hoạch số 480/KH-UBND ngày 24/02/2016 của UBND tỉnh triển khai thực hiện công tác bồi thường nhà nước năm 2016 trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Ngày 09/08/2016, tại Hội trường 1 Trường Chính trị tỉnh Bình Dương, Sở Tư pháp đã tổ chức tập huấn về xây dựng, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật; bồi thường nhà nước; theo dõi thi hành pháp luật và quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

Hội nghị có sự tham dự của hơn 400 đại biểu là đại diện các Ban của HĐND tỉnh, Văn phòng UBND tỉnh; Cán bộ phụ trách công tác pháp chế và cán bộ, công chức phòng chuyên môn, đơn vị thuộc sở, ban, ngành các sở, ban, ngành tỉnh; đại diện Văn phòng HĐND, UBND cấp huyện, Phòng Tư pháp cấp huyện; Cán bộ Văn phòng và cán bộ Tư pháp - Hộ tịch cấp xã.

           Đồng chí Trần Thị Minh Hạnh, Phó Giám đốc Sở Tư pháp đã phát biểu khai mạc Hội nghị và trình bày chuyên đề đầu tiên của nội dung chương trình Hội nghị tập huấn.

IMG_0139.JPG

Đ/c Trần Thị Minh Hạnh- Phó Giám đốc Sở phát biểu khai mạc Hội nghị


IMG_0142.JPG

Đ/c Huỳnh Hữu Tốt triển khai công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL


quangcanhtaphuan.jpg

Quang cảnh hội nghị

 

              Tại Hội nghị tập huấn, các báo cáo viên của Sở Tư pháp đã giới thiệu 4 chuyên đề: Quy trình xây dựng, ban hành văn bản QPPL; kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; bồi thường nhà nước; theo dõi thi hành pháp luật và quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

           Nội dung tập huấn nhằm trang bị cho các học viên những kiến thức cơ bản và chuyên sâu về xây dựng, ban hành, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật; bồi thường nhà nước; theo dõi thi hành pháp luật và quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, đồng thời, đây cũng là diễn đàn để cùng trao đổi những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thi hành./.


Tải các văn bản liên quan:

3 Chuyen de soan thao VBQPPL.docx

4 Chuyen de tham dinh du an du thao.docx

5 Chuyen de kiem tra VBQPPL.docx

6 Chuyen de ra soat he thong hoa VBQPPL.docx

7 Chuyen de dieu kien bao dam.docx

Huỳnh Hữu Tốt

Phòng Xây dựng và Kiểm tra văn bản QPPL

FalsePhòng XD&KTVB
Một số điểm mới của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật Thông tin; Tin ngành tư phápTinMột số điểm mới của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật /CMSImageNew/2016-07/frame_LBHVBQPPL2015_Key_04072016182647.jpg
7/4/2016 6:30 PMNoĐã ban hành

Một số điểm mới của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật

1. Ngày 14/5/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định số 34/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành  Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

Nghị định gồm 11 Chương với 189 điều, quy định chi tiết 07 vấn đề được Luật giao:

- Đánh giá tác động của chính sách;

- Thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản quy phạm pháp luật;

- Công báo và niêm yết văn bản quy phạm pháp luật;

- Dịch văn bản quy phạm pháp luật ra tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài;

- Kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật;

- Rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật;

- Bảo đảm nguồn lực xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Bên cạnh đó, tuân thủ tinh thần của Luật năm 2015 là không ủy quyền tiếp việc ban hành văn bản quy định chi tiết. Do đó, Nghị định đã quy định cụ thể đến mức cao nhất các điều, khoản mà Luật giao để sau khi ban hành có thể thi hành được ngay, hạn chế tối đa việc các bộ, ngành, địa phương ban hành văn bản hướng dẫn tiếp. Đồng thời, để bảo đảm thi hành có hiệu quả Luật năm 2015, Nghị định quy định một số biện pháp thực sự cần thiết thuộc thẩm quyền ban hành của Chính phủ như: quy trình xây dựng chính sách trong lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, thẩm định đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, lập danh mục văn bản quy định chi tiết, thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật…

Ví dụ: Một số điểm mới cơ bản về thể thức, kỷ thuật trình bày, hiệu lực; thủ tục hành chính; sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉnh văn bản QPPL

- Về địa danh và ngày, tháng, năm ban hành văn bản: Thực hiện theo quy định tại Điều 59 Nghị định 34/2016/NĐ-CP, theo đó địa danh ghi trên văn bản do cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành là tên gọi chính thức của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, nơi cơ quan ban hành văn bản đóng trụ sở. Địa danh ghi trên văn bản do các cơ quan nhà nước ở địa phương ban hành là tên gọi chính thức của đơn vị hành chính của cơ quan ban hành văn bản đó, cụ thể văn bản của UBND tỉnh Bình Dương và của các sở, ban, ngành trên địa bàn tỉnh Bình Dương thì địa danh ghi trên văn bản ghi là “Bình Dương”, không phải “Thủ Dầu Một”.

- Về thời điểm có hiệu lực pháp luật của văn bản QPPL được xác định như sau: Ngày có hiệu lực của văn bản QPPL phải được quy định ngay trong văn bản; Cơ quan chủ trì soạn thảo phải dự kiến cụ thể ngày có hiệu lực trong dự thảo văn bản. Văn bản QPPL hết hiệu lực thì văn bản quy định chi tiết thi hành các điều, khoản, điểm được giao quy định chi tiết thi hành văn bản đó đồng thời hết hiệu lực. Trường hợp văn bản QPPL được quy định chi tiết hết hiệu lực một phần thì các nội dung quy định chi tiết phần hết hiệu lực sẽ hết hiệu lực đồng thời với phần hết hiệu lực của văn bản được quy định chi tiết. Trường hợp một văn bản quy định chi tiết nhiều văn bản QPPL, trong đó chỉ có một hoặc một số văn bản được quy định chi tiết hết hiệu lực thì nội dung của văn bản quy định chi tiết thi hành sẽ hết hiệu lực đồng thời với một hoặc một số văn bản được quy định chi tiết hết hiệu lực. Trường hợp không xác định được nội dung hết hiệu lực của văn bản quy định chi tiết thi hành thì văn bản đó hết hiệu lực toàn bộ.

- Về việc quy định thủ tục hành chính trong văn bản QPPL của HĐND, UBND các cấp: Theo quy định tại Khoản 4 Điều 14 Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 thì “Cấm quy định thủ tục hành chính trong Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh, Quyết định của UBND cấp tỉnh; Nghị quyết của HĐND cấp huyện, Quyết định của UBND cấp huyện, Nghị quyết của HĐND cấp xã, Quyết định của UBND cấp xã, trừ trường hợp được giao trong luật”.

- Về việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉnh văn bản quy phạm pháp luật: Văn bản QPPL chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ bằng văn bản QPPL của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó hoặc bị đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên có thẩm quyền. Văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn bản khác phải xác định rõ tên văn bản, phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm của văn bản bị sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành. Văn bản bãi bỏ văn bản QPPL phải được đăng Công báo, niêm yết theo quy định.

Khi ban hành văn bản QPPL, cơ quan ban hành văn bản phải sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ văn bản, phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm của văn bản QPPL do mình đã ban hành trái với quy định của văn bản mới ngay trong văn bản mới đó; trường hợp chưa thể sửa đổi, bổ sung ngay thì phải xác định rõ trong văn bản mới danh mục văn bản, phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm của văn bản QPPL mà mình đã ban hành trái với quy định của văn bản QPPL mới và có trách nhiệm sửa đổi, bổ sung trước khi văn bản QPPL mới có hiệu lực.

Một văn bản QPPL có thể được ban hành để đồng thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ nội dung trong nhiều văn bản QPPL do cùng cơ quan ban hành.

Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016 (cùng thời điểm có hiệu lực của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015).

- Về việc quy định thủ tục hành chính trong văn bản QPPL: quy định tại Khoản 4 Điều 14 Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015: “Cấm quy định thủ tục hành chính trong Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh, Quyết định của UBND cấp tỉnh; Nghị quyết của HĐND cấp huyện, Quyết định của UBND cấp huyện, Nghị quyết của HĐND cấp xã, Quyết định của UBND cấp xã, trừ trường hợp được giao trong luật”.

Kể từ ngày Nghị định có hiệu lực thi hành, các văn bản quy phạm pháp luật sau đây sẽ hết hiệu lực:

Nghị định số 24/2009/NĐ-CP ngày 05 tháng 3 năm 2009 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật;

Nghị định số 91/2006/NĐ-CP ngày 06 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân;

Nghị định số 100/2010/NĐ-CP ngày 28 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ về Công báo;

Nghị định số 40/2010/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ về kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật;

Nghị định số 16/2013/NĐ-CP ngày 06 tháng 02 năm 2013 của Chính phủ về rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật.

2. Trên cơ sở Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22 tháng 6 năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương đã ban hành Quyết định số 15/2016/QĐ-UBND ngày 21/6/2016 về việc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật. Theo đó, bãi bỏ 06 văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương do không còn phù hợp với quy định pháp luật hiện hành, cụ thể như sau:

- Quyết định số 16/2011/QĐ-UBND ngày 28/7/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Quy định về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

- Quyết định số 72/2011/QĐ-UBND ngày 20/12/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Quy định trình tự, thủ tục soạn thảo, ban hành, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

- Quyết định số 19/2013/QĐ-UBND ngày 26/7/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Quy chế Cộng tác viên kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

- Quyết định số 20/2013/QĐ-UBND ngày 26/7/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định trình tự, thủ tục soạn thảo, ban hành, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Bình Dương ban hành kèm theo Quyết định số 72/2011/QĐ-UBND ngày 20/12/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Quyết định số 40/2015/QĐ-UBND ngày 21/9/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Quy chế phối hợp thực hiện rà soát, hệ thống hóa, cập nhật vào cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật các văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Chỉ thị số 05/2014/CT-UBND ngày 22/8/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương về việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng, ban hành, kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật, theo dõi tình hình thi hành pháp luật và kiểm soát thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh Bình Dương./.

                                                                                    Huỳnh Hữu Tốt

15-2016-QD-UBND.PDF

FalseNgô Hoàng Nam
KẾ HOẠCH XÂY DỰNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT NĂM 2016 CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNGChương trình, kế hoạch công tácKẾ HOẠCH XÂY DỰNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT NĂM 2016 CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
5/31/2016 4:00 PMNoĐã ban hành
False
KẾ HOẠCH TRIỂN KHAI THI HÀNH LUẬT BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNGChương trình, kế hoạch công tácKẾ HOẠCH TRIỂN KHAI THI HÀNH LUẬT BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
5/31/2016 4:00 PMNoĐã ban hành
False
1 - 30Next
Ảnh
Video
Audio