Công tác xây dựng - Chương trình, kế hoạch công tác
 
 
  
Phân loại
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Nội dung
  
  
Hội nghị trực tuyến quán triệt việc thi hành Bộ luật Hình sự và Luật Tiếp cận thông tinTin ngành tư pháp; Thông tinBài viếtHội nghị trực tuyến quán triệt việc thi hành Bộ luật Hình sự và Luật Tiếp cận thông tin/CMSImageNew/2017-11/truc tuyen_Key_07112017140006.jpg
11/7/2017 2:00 PMNoĐã ban hành

Hội nghị trực tuyến quán triệt việc thi hành Bộ luật Hình sự

và Luật Tiếp cận thông tin

 

Thực hiện Quyết định số 2157/QĐ-BTP ngày 31/10/2017 của Bộ Tư pháp ban hành Kế hoạch tổ chức hội nghị quán triệt việc thi hành Bộ luật Hình sự  và Luật Tiếp cận thông tin. Sáng ngày 04/11/2017, tại phòng họp trực tuyến VNPT Bình Dương, Sở Tư pháp tổ chức hội nghị trực tuyến quán triệt việc thi hành Bộ luật Hình sự và Luật Tiếp cận thông tin điểm cầu Bình Dương theo sự ủy quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh. Bà Nguyễn Anh Hoa - Giám đốc Sở Tư pháp chủ trì hội nghị, tham gia hội nghị gồm đại diện Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh và lãnh đạo các sở, ban, ngành tỉnh, đoàn Luật sư, Hội Luật gia, Phòng Tư pháp thành phố Thủ Dầu Một...

                        truc tuyen 3.jpg

                                                            Hội nghị trực tuyến của Bộ Tư pháp tại Hà Nội

Tại hội nghị các đại biểu tham dự đã nghe Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long phát biểu khai mạc hội nghị. Qua đó, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long khẳng định việc triển khai thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 và Luật Tiếp cận thông tin là rất cần thiết và quan trọng, nhằm đưa các đạo luật này đi vào cuộc sống, phát huy giá trị thực tiễn

Bộ luật Hình sự năm 2015 gồm có 3 phần, 26 chương, 426 điều, có hiệu lực từ ngày 01-01-2018. Luật Tiếp cận thông tin gồm 5 chương, 37 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01-07-2018. Sau khi nghe triển khai thi hành 02 đạo luật này, hội nghị cũng dành thời gian để các đại biểu tại hội nghị các điểm cầu trực tuyến thảo luận nhằm thực hiện có hiệu quả đối với 2 đạo luật này trong thời gian tới.

                          truc tuyen.jpg

                                                                   Quang cảnh Hội nghị tại điểm cầu Bình Dương

Bế mạc hội nghị, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long đã chỉ đạo các sở, ban, ngành tỉnh tại các địa phương trong thời gian tới cần thực hiện một số công tác nhằm triển khai có hiệu quả 02 đạo luật này như tuyên truyền, phổ biến 2 đạo luật này một cách rộng rãi và rà soát các văn bản có liên quan đến 02 đạo luật này để thực hiện đồng bộ và thống nhất…

                                                         

                                                                                                                                                                                                                      Mỹ Hằng

FalsePhòng XD&KTVB
DANH MỤC VĂN BẢN DO CÁC CƠ QUANTRUNG ƯƠNG BAN HÀNH NĂM 2015 GIAO NHIỆM VỤ XÂY DỰNG THỂ CHẾ CHO CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNGThông tinTinDANH MỤC VĂN BẢN DO CÁC CƠ QUANTRUNG ƯƠNG BAN HÀNH NĂM 2015 GIAO NHIỆM VỤ XÂY DỰNG THỂ CHẾ CHO CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/17/2017 2:00 PMNoĐã ban hànhFalsePhòng Hành chính Tư pháp
DANH MỤC VĂN BẢN DO CÁC CƠ QUANTRUNG ƯƠNG BAN HÀNH NĂM 2016 GIAO NHIỆM VỤ XÂY DỰNG THỂ CHẾ CHO CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNGThông tinTinDANH MỤC VĂN BẢN DO CÁC CƠ QUANTRUNG ƯƠNG BAN HÀNH NĂM 2016 GIAO NHIỆM VỤ XÂY DỰNG THỂ CHẾ CHO CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/17/2017 2:00 PMNoĐã ban hànhFalsePhòng Hành chính Tư pháp
DANH MỤC VĂN BẢN DO CÁC CƠ QUANTRUNG ƯƠNG BAN HÀNH NĂM 2017 GIAO NHIỆM VỤ XÂY DỰNG THỂ CHẾ CHO CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNGThông tinTinDANH MỤC VĂN BẢN DO CÁC CƠ QUANTRUNG ƯƠNG BAN HÀNH NĂM 2017 GIAO NHIỆM VỤ XÂY DỰNG THỂ CHẾ CHO CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/17/2017 2:00 PMNoĐã ban hànhFalsePhòng Hành chính Tư pháp
Quy định mới về định mức phân bổ kinh phí bảo đảm cho công tác  xây dựng VBQPPL của HĐND, UBND các cấp trên địa bàn tỉnh Bình DươngThông tin; Tin ngành tư phápBài viếtQuy định mới về định mức phân bổ kinh phí bảo đảm cho công tác  xây dựng VBQPPL của HĐND, UBND các cấp trên địa bàn tỉnh Bình Dương/CMSImageNew/2017-08/VBQPPL_Key_31082017152110.png
8/31/2017 2:00 PMNoĐã ban hành

 Huỳnh Hữu Tốt

Đính kèm Quyết định số 18/2017/QĐ-UBND ngày 21/8/2017QD 18 2017 UBND TINH BD.PDF


​Quy định mới về định mức phân bổ kinh phí bảo đảm cho công tác

xây dựng VBQPPL của HĐND, UBND các cấp trên địa bàn tỉnh Bình Dương

     Ngày 20 tháng 7 năm 2017, Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐND về việc quy định định mức phân bổ kinh phí đảm bảo cho công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND các cấp trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Theo đó, định mức phân bổ kinh phí đối với từng loại văn bản:

    - Nghị quyết của HĐND, Quyết định của UBND ban hành mới hoặc thay thế:

Đơn vị tính: đồng

STT​NỘI DUNGMỨ​C CHI
Cấp tỉnhCấp huyệnCấp xã
1Nghị quyết, Quyết định phức tạp

 

10.000.000

 

8.000.000

 

6.000.000

2Nghị quyết, Quyết định ít phức tạp8.000.0006.000.0004.500.000

   
     - Nghị quyết của HĐND, Quyết định của UBND sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ:

Đơn vị tính: đồng

NỘI DUNGMỨC CHI
Cấp tỉnhCấp huyệnCấp xã
Nghị quyết, Quyết định sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ8.000.0006.000.0004.500.000

               - Nguồn kinh phí chi trả được bố trí trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm giao cho các cơ quan, đơn vị theo phân cấp ngân sách nhà nước hiện hành và được sử dụng từ nguồn kinh phí tự chủ của đơn vị.

               Để triển khai kịp thời, có hiệu quả các quy định tại "Thông tư số 338/2016/TT-BTC ngày 28/12/2016 của Bộ Tài chính quy định lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật" và "Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐND ngày 20 tháng 7 năm 2017 của Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Dương về việc quy định định mức phân bổ kinh phí đảm bảo cho công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp trên địa bàn tỉnh Bình Dương". Ngày 21/8/2017, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 18/2017/QĐ-UBND về việc thực hiện một số nội dung về định mức phân bổ kinh phí bảo đảm cho công tác xây dựng văn bản QPPL của HĐND, UBND các cấp trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Theo đó, tiêu chí xác định Nghị quyết, Quyết định phức tạp, ít phức tạp và quản lý, sử dụng, quyết toán kinh phí đảm bảo cho công tác xây dựng văn bản QPPL của HĐND, UBND các cấp trên địa bàn tỉnh Bình Dương, như sau:

          - Nghị quyết, Quyết định (ban hành mới hoặc thay thế) phức tạp phải đáp ứng một trong các tiêu chí sau:

               + Có nội dung phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực.

               + Có nội dung phức tạp, phải tổ chức họp lấy ý kiến nhiều lần với phạm vi rộng.

           - Nghị quyết, Quyết định (ban hành mới hoặc thay thế) ít phức tạp là các dự thảo Nghị quyết, Quyết định không thuộc trường hợp nêu trên.

           - Quản lý, sử dụng, quyết toán kinh phí xây dựng văn bản QPPL:

             + Kinh phí xây dựng văn bản QPPL của HĐND, UBND các cấp do ngân sách nhà nước bảo đảm, được tổng hợp chung vào dự toán ngân sách chi thường xuyên (kinh phí tự chủ) của cơ quan, đơn vị.

             + Việc lập dự toán, quản lý, sử dụng, quyết toán kinh phí bảo đảm cho công tác xây dựng văn bản QPPL thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật này.

            + Căn cứ vào định mức phân bổ kinh phí đảm bảo cho công tác xây dựng văn bản QPPL của HĐND, UBND các cấp quy định tại Khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐND ngày 20 tháng 7 năm 2017 của HĐND tỉnh, thủ trưởng cơ quan, đơn vị được giao nhiệm vụ chủ trì xây dựng văn bản QPPL quyết định thực hiện chi tiêu cho các nội dung công việc với mức chi phù hợp (thấp hơn hoặc cao hơn mức chi quy định tại Điều 4 Thông tư số 338/2016/TT-BTC) trong tổng định mức phân bổ kinh phí đã được giao để thực hiện nhiệm vụ xây dựng văn bản QPPL.

             + Hàng năm, căn cứ chức năng, nhiệm vụ và các quy định hiện hành, các cơ quan, đơn vị lập dự toán kinh phí xây dựng văn bản QPPL tổng hợp chung vào dự toán kinh phí hoạt động của cơ quan, đơn vị mình gửi cơ quan tài chính cùng cấp để tổng hợp vào dự toán ngân sách nhà nước tham mưu bố trí kinh phí theo thẩm quyền.

     Các nội dung quy định nêu trên có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/9/2017./.


FalsePhòng XD&KTVB
Sẽ hướng dẫn áp dụng thống nhất Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luậtThông tinTinSẽ hướng dẫn áp dụng thống nhất Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
8/21/2017 9:00 AMNoĐã ban hành

Sẽ hướng dẫn áp dụng thống nhất Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) năm 2015 tuy đã qua 01 năm triển khai thi hành nhưng do có nhiều quy định mới, mang tính đột phá nên nhiều bộ, ngành, địa phương vẫn lúng túng trong việc hiểu và áp dụng một số quy định của Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành. Đây là nhận định của Vụ trưởng Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật (Bộ Tư pháp) Nguyễn Hồng Tuyến tại cuộc họp góp ý cho cuốn Hỏi đáp về Luật Ban hành VBQPPL diễn ra ngày 10/8.

Qua thực tiễn áp dụng Luật năm 2015, các bộ, ngành, địa phương đã phản ánh nhiều vướng mắc của mình. Đơn cử, khoản 2 và khoản 3 Điều 156 của Luật năm 2015 quy định về nguyên tắc áp dụng pháp luật trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề. Tuy nhiên, trong thực tế, một số bộ, ngành gặp khó khăn, lúng túng trong việc xác định các văn bản khác nhau có quy định về cùng một vấn đề hay không để từ đó lựa chọn luật áp dụng.
Cụ thể, cùng quy định về miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với các dự án cải tạo, xây dựng lại các chung cư hay không, ngày 15/5/2014, Chính phủ ban hành Nghị định số 45/2014/NĐ-CP quy định về thu tiền sử dụng đất. Điều 2 của Nghị định 45 quy định đối tượng áp dụng của Nghị định là tổ chức kinh tế được giao đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê, không phải là doanh nghiệp kinh doanh bất động sản là chủ đầu tư dự án đầu tư cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư cũ. Thông tư số 76/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Nghị định 45 quy định về thu tiền sử dụng đất, miễn, giảm tiền sử dụng đất nói chung, không quy định về thu tiền sử dụng đất, miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với các dự án cải tạo, xây dựng lại các chung cư cũ bị hư hỏng, xuống cấp. Ngày 20/10/2015, Chính phủ ban hành Nghị định số 101/2015/NĐ-CP về cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư. Như vậy, Nghị định số 101, Nghị định số 45 và Thông tư số 76 có phải là các văn bản quy định về cùng một vấn đề hay không?

 

Một ví dụ khác thì cho thấy có những quy định về cùng một vấn đề nhưng lại quy định khác nhau. Đó là khoản 2 Điều 143 và khoản 4 Điều 144 của Luật Đất đai năm 2013 giao UBND cấp tỉnh thẩm quyền quy định diện tích tối thiểu được tách thửa đối với đất ở nông thôn và đối với đất ở đô thị. Còn Điều 43d của Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định: "UBND cấp tỉnh quy định diện tích tối thiểu được phép tách thửa đối với từng loại đất cho phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương". Như vậy, cùng một vấn đề là thẩm quyền của UBND cấp tỉnh trong việc quyết định diện tích tối thiểu được phép tách thửa đối với đất tại vùng nông thôn và đô thị song khoản 2 Điều 143, khoản 4 Điều 144 Luật Đất đai năm 2013 và Điều 43d của Nghị định 43 quy định không giống nhau.
Hay khoản 4 Điều 27 của Luật năm 2015 quy định HĐND ban hành nghị quyết để quy định "biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương". Tuy nhiên, các ý kiến chỉ ra rằng Luật năm 2015 không định nghĩa thế nào là "biện pháp có tính chất đặc thù".
Trước những băn khoăn rất thực tế của các bộ, ngành, địa phương, qua công tác theo dõi, kiểm tra, Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật dự kiến xây dựng cuốn sách "Hỏi đáp về Luật Ban hành VBQPPL". Nội dung cuốn sách được thiết kế trên cơ sở tổng hợp khó khăn, vướng mắc thực sự mà các bộ, ngành, địa phương đã gặp phải và phản ánh về Bộ Tư pháp cũng như câu hỏi của cử tri, chất vấn của đại biểu Quốc hội và vấn đề do báo chí nêu. Tuy cuốn sách chỉ có tính chất tham khảo, khuyến nghị nhưng ông Tuyến hy vọng cuốn sách sẽ giúp các bộ, ngành, địa phương trong việc thi hành Luật năm 2015 và các văn bản quy định chi tiết thi hành một cách đúng đắn và thống nhất.
Chẳng hạn, tại ví dụ thứ 2, Vụ Các vấn đề chung cho rằng, căn cứ khoản 2 Điều 156 của Luật năm 2015 thì trong trường hợp này, quy định tại khoản 2 Điều 143, khoản 4 Điều 144 của Luật Đất đai năm 2013 được ưu tiên áp dụng. Theo đó, UBND cấp tỉnh chỉ có thẩm quyền quy định diện tích tối thiểu được tách thửa đối với đất ở tại các vùng nông thôn và vùng đô thị, chứ không phải đối với tất cả các loại đất tại địa phương.
Còn với "biện pháp có tính chất đặc thù", Vụ lý giải, tính chất đặc thù của biện pháp phụ thuộc vào vị trí địa – chính trị hoặc trình độ phát triển kinh tế xã hội của từng địa phương (vùng đồng bào dân tộc thiểu số; vùng núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng hải đảo; vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn). Các địa phương này có hạn chế và thế mạnh riêng của mình. Nhà nước và các tỉnh có thể ban hành các cơ chế, chính sách, biện pháp đặc thù để khắc phục khó khăn cố hữu và phát huy thế mạnh sẵn có của các địa phương.

Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp

FalseLộc Phạm
Xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật – những vấn đề phát sinh trong thực tiễnThông tinTinXây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật – những vấn đề phát sinh trong thực tiễn/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
7/21/2017 12:00 PMNoĐã ban hành

Xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật – những vấn đề phát sinh trong thực tiễn

20/07/2017

Công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật là một trong những nhiệm vụ quan trọng của chính quyền địa phương nhằm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, đảm bảo việc quản lý xã hội hiệu quả. Thực hiện công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật sẽ có các trường hợp xây dựng, ban hành văn bản mới, văn bản thay thế, văn bản bãi bỏ hoặc văn bản sửa đổi, bổ sung. Trong Tạp chí dân chủ và Pháp luật số tháng 3 (276) năm 2015, đồng chí Nguyễn Thị Thu Hòe – Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật đã có bài viết nêu “Một số ý kiến về văn bản sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật”. Theo đó, tại bài viết đồng chí Nguyễn Thị Thu Hòe đã nêu nhiều vấn đề còn tồn tại trong việc ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung. Ngày 22/6/2015, Quốc hội thông qua Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 80/2015/QH13, về cơ bản luật này cũng đã giải quyết được nhiều vấn đề mà bài viết đã nêu tuy nhiên, trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung nhận thấy còn phát sinh một vấn đề như sau:
1. Xác định căn cứ để đề xuất xây dựng, ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật
Sửa đổi, bổ sung văn bản được áp dụng trong trường hợp một phần nội dung của văn bản trái, chồng chéo, mâu thuẫn với văn bản là căn cứ để rà soát hoặc không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội (theo quy định tại khoản 3 Điều 143 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật). Như vậy, vấn đề sửa đổi, bổ sung văn bản được đặt ra trong hai trường hợp.
Một là, một phần nội dung của văn bản trái, chồng chéo, mâu thuẫn với văn bản là căn cứ để rà soát. Đối với trường hợp này, căn cứ để đề nghị sửa đổi, bổ sung văn bản khá rõ ràng vì khi đặt văn bản là căn cứ rà soát và văn bản cần sửa đổi, bổ sung ra để so sánh, đối chiếu, đánh giá các nội dung mang tính chất chồng chéo, mâu thuẫn thì người làm công tác xây dựng văn bản có thể nhận diện được những nội dung nào của văn bản trái, chồng chéo, mâu thuẫn với văn bản là căn cứ để rà soát. Từ đó, có kiến nghị đến cơ quan có thẩm quyền việc sửa đổi, bổ sung văn bản.
Hai là, vấn đề sửa đổi, bổ sung văn bản được đặt ra khi rà soát nội dung văn bản nhận thấy không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội. Hiện nay chưa có một “bộ công cụ” nào hoặc một chuẩn nào để đánh giá tính không phù hợp của văn bản đối với tình hình phát triển kinh tế - xã hội. Do đó, trên thực tế việc xác định, đánh giá nội dung văn bản không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội rất chung chung, đôi khi còn có sự nhầm lẫn.
2. Xác định thẩm quyền sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật
Thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương được quy định từ điều 27 đến điều 30 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Theo đó, chính quyền địa phương cấp tỉnh có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh/ Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) để quy định chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.
Về thẩm quyền sửa đổi, bổ sung văn bản: Theo quy định tại Điều 12 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, quy định: “Văn bản quy phạm pháp luật chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó hoặc bị đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên có thẩm quyền. Văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn bản khác phải xác định rõ tên văn bản, phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm của văn bản bị sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành”.
Trên thực tế vẫn có nhiều trường hợp lúng túng trong việc xác định thẩm quyền ban hành văn bản và thẩm quyền sửa đổi, bổ sung văn bản. Ví dụ trong trường hợp xác định thẩm quyền ban hành Quyết định quy định (ban hành) hệ số điều chỉnh giá đất hằng năm và thẩm quyền ban hành Quyết định sửa đổi, bổ sung Quyết định quy định (ban hành) hệ số điều chỉnh giá đất hàng năm ở địa phương, cụ thể như sau:
Tại khoản 4 Điều 3 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai quy định về việc sửa đổi, bổ sung khoản 2 và khoản 3 Điều 18 Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 về giá đất, quy định: “3. Hàng năm, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định hệ số điều chỉnh giá đất để áp dụng cho các trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều này”
Theo quy định trên, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền ban hành hệ số điều chỉnh giá đất – Trường hợp này, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quyết định quy phạm pháp luật để quy định chi tiết khoản 4 Điều 3 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ (trước đó là khoản 3 Điều 18 Nghị định số 44/2014/NĐ-CP). Năm 2017, Ủy ban nhân dân tỉnh A ban hành Quyết định số 01/2017/QĐ-UBND ban hành hệ số điều chỉnh giá đất năm 2017 áp dụng trên địa bàn tỉnh, trong quá trình áp dụng Quyết định số 01/2017/QĐ-UBND đến tháng 6/2017, nhận thấy hệ số điều chỉnh giá đất ở một số khu vực được quy định tại Quyết định số 01/2017/QĐ-UBND không còn phù hợp với thực tế, vậy Ủy ban nhân dân tỉnh A có được ban hành Quyết định sửa đổi, bổ sung Quyết định số 01/2017/QĐ-UBND không?
Quá trình giải quyết vấn đề, có hai luồng quan điểm như sau: Luồng quan điểm thứ nhất, cho rằng Ủy ban nhân dân tỉnh A không có thẩm quyền ban hành Quyết định sửa đổi, bổ sung Quyết định số 01/2017/QĐ-UBND, vì Nghị định số 01/2017/NĐ-CP chỉ giao thẩm quyền cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành hệ số điều chỉnh giá đất hằng năm chứ không giao thẩm quyền sửa đổi, bổ sung hệ số điều chỉnh giá đất. Và hệ số điều chỉnh giá đất được ban hành hàng năm nên nếu quá trình áp dụng phát sinh vấn đề gì thì sẽ được nghiên cứu, điều chỉnh trong Quyết định ban hành hệ số điều chỉnh giá đất của năm sau. Luồng quan điểm thứ hai, cho rằng thẩm quyền sửa đổi, bổ sung văn bản được xác định theo quy định tại Điều 12 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 nên Ủy ban nhân dân tỉnh A có thẩm quyền ban hành Quyết định sửa đổi, bổ sung Quyết định số 01/2017/QĐ-UBND. Đồng thời, tại Điều 1 Thông tư số 333/2016/TT-BTC ngày 26/12/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 77/2014/TT-BTC ngày 16/6/2014 hướng dẫn một số điều của Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về quy định thu tiền thuê đất, thuê mặt nước quy định: “Hệ số điều chỉnh giá đất, mức tỷ lệ phần trăm (%) để xác định giá khởi điểm là hệ số điều chỉnh giá đất, mức tỷ lệ phần trăm (%) do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành để xác định đơn giá thuê đất trong trường hợp cho thuê đất không thông qua hình thức đấu giá. Trường hợp thửa đất hoặc khu đất đấu giá thuộc đô thị, trung tâm thương mại, dịch vụ, đầu mối giao thông, khu dân cư tập trung có khả năng sinh lợi đặc biệt, có lợi thế trong việc sử dụng đất làm mặt bằng sản xuất kinh doanh, thương mại và dịch vụ thì căn cứ tình hình thực tế tại địa phương, Sở Tài chính báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định điều chỉnh tăng hệ số điều chỉnh giá đất, mức tỷ lệ phần trăm (%) để xác định giá khởi điểm.” Như vậy, để điều chỉnh hệ số điều chỉnh giá đất theo quy định này thì Ủy ban nhân dân tỉnh A phải ban hành Quyết định sửa đổi, bổ sung Quyết định số 01/2017/QĐ-UBND.
Vì có những quan điểm khác nhau như vậy nên quá trình giải quyết vấn đề - xác định Ủy ban nhân dân tỉnh A có thẩm quyền ban hành Quyết định sửa đổi, bổ sung Quyết định số 01/2017/QĐ-UBND hay không còn nhiều khó khăn.
3. Xác định khi nào thì sửa đổi, bổ sung khi nào thì thay thế
Điều 143 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, quy định các hình thức xử lý văn bản được rà soát, bao gồm: Bãi bỏ toàn bộ, bãi bỏ một phần; Thay thế văn bản, Sửa đổi, bổ sung văn bản; Ban hành văn bản mới; Đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản; Ngưng hiệu lực một phần hoặc toàn bộ văn bản trong một thời hạn nhất định. Mặc dù, Nghị định đã đưa ra quy định giải thích đối với từng hình thức, tuy nhiên trên thực tế việc áp dụng đôi khi vẫn chưa thống nhất.
Một văn bản quy phạm pháp luật có thể có nhiều điều khoản, chứa đựng nhiều nội dung nhưng không phải tất cả các nội dung được quy định trong văn bản là nội dung chính, nội dung trọng tâm của văn bản. Ví dụ như, Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định mức hỗ trợ bồi dưỡng nguồn nhân lực của hợp tác xã, thành lập mới và tổ chức lại hoạt động của hợp tác xã theo chương trình hỗ trợ phát triển hợp tác xã, trong Quyết định này nội dung chính, trọng tâm nhất có thể xác định là “quy định về mức hỗ trợ” ngoài ra, còn các quy định khác về đối tượng, phạm vi áp dụng; nguồn kinh phí; trách nhiệm thực hiện… Khi cần điều chỉnh nội dung quy định về mức hỗ trợ thì sẽ sửa đổi, bổ sung văn bản hay thay thế văn bản. Thực tế, có nhiều quan điểm áp dụng pháp luật xác định việc áp dụng hình thức sửa đổi, bổ sung văn bản hay thay thế văn bản thường không phải căn cứ vào mức độ là một phần, phần lớn hay toàn bộ nội dung văn bản mà xác định trên cơ sở mức độ là một phần, phần lớn hay toàn bộ nội dung chính của văn bản.
 Trên đây là những vấn đề phát sinh trong thực tiễn xây dựng, ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung mà nguyên nhân chính là xuất phát từ việc hiểu và áp dụng pháp luật chưa thống nhất. Để đảm bảo việc áp dụng quy định pháp luật trong việc xây dựng, ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung thống nhất, phù hợp với quy định pháp luật, các cơ quan có thẩm quyền cần có sự tổng hợp, nghiên cứu và hướng dẫn cụ thể hơn. Đồng thời là vấn đề phát sinh trong thực tiễn xây dựng, ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung, do đó ở mỗi địa phương có thể có những tình huống tương tự hoặc khác nhau, mong rằng sẽ được các địa phương đưa ra để cùng trao đổi, nghiên cứu và có hướng giải quyết vấn đề phù hợp với quy định pháp luật./.
Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp
FalsePhòng XD&KTVB
Tập huấn Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luậtThông tin; Tin ngành tư phápTinTập huấn Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật/CMSImageNew/2017-06/hoi nghi 3_Key_06062017152659.jpg
6/6/2017 3:00 AMNoĐã ban hành

        Ngày 31/5/2017, Ủy ban nhân dân huyện Bắc Tân Uyên phối hợp với Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương tổ chức hội nghị tập huấn Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật cho cán bộ các cơ quan, đơn vị, các xã trong huyện.

hoi nghi 3.jpg

Đồng chí Huỳnh Hữu Tốt - Trưởng Phòng Xây dựng và Kiểm tra văn bản QPPL - Sở Tư pháp triển khai các nội dung liên quan đến Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP.

        Tham dự hội nghị gồm có đồng chí Huỳnh Hữu Tốt - Trưởng Phòng Xây dựng và Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật - Sở Tư pháp; đại diện lãnh đạo HĐND, UBND huyện, UBMTTQ Việt Nam huyện; các Ban của HĐND huyện; Thủ trưởng và cán bộ, công chức được giao phụ trách công tác xây dựng, ban hành, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện; Lãnh đạo HĐND-UBND, công chức phụ trách công tác của Ban Pháp chế, Ban Kinh tế - Xã hội HĐND xã, công chức văn phòng - Thống kê, công chức Tư pháp - Hộ tịch.

hoinghi 1.jpg

​​tot1.jpg

Quang cảnh buổi Hội nghị


        Tại Hội nghị, các đại biểu đã được nghe đồng chí Huỳnh Hữu Tốt - Trưởng Phòng Xây dựng và Kiểm tra văn bản QPPL - Sở Tư pháp truyền đạt một số nội dung của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Nghị định số 34/2016 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Đồng chí nhấn mạnh một số nội dung về thẩm quyền ban hành, nội dung, hình thức văn bản QPPL của HĐND, UBND cấp huyện, cấp xã; hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc áp dụng, công khai văn bản quy phạm pháp luật; giám sát, kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật; rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật…

        Thông qua Hội nghị tập huấn giúp cho đội ngũ cán bộ quản lý và cán bộ trực tiếp làm công tác soạn thảo, ban hành, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn huyện nắm vững các quy định của Luật và Nghị định số 34/2016 của Chính phủ để tổ chức triển khai thực hiện Luật đảm bảo chặt chẽ, kịp thời, thống nhất, đạt hiệu quả cao, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực, thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội tại địa phương./.

                                                                                Phòng XD&KTVBQPPL

FalsePhòng XD&KTVB
Bãi bỏ một số văn bản pháp luật của Ủy ban nhân dân,  Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnhThông tinTinBãi bỏ một số văn bản pháp luật của Ủy ban nhân dân,  Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
5/15/2017 5:00 PMNoĐã ban hành

Bãi bỏ một số văn bản pháp luật của Ủy ban nhân dân,

Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh


Ngày 05/5/2017, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Quyết định số 11/2017/QĐ-UBND về việc bãi bỏ một số văn bản pháp luật của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh. Theo đó, Ủy ban nhân dân tỉnh bãi bỏ toàn bộ 93 văn bản pháp luật của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh gồm: 66 Chỉ thị và 27 Quyết định của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành do không còn phù hợp với quy định pháp luật hiện hành và tình hình thực tiễn của địa phương.  Quyết định số 11/2017/QĐ-UBND có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/5/2017 (có Quyết định số 11/2017/QĐ-UBND kèm theo)./

QD-11-2017-UBND-TINH-BD_001.jpg

QD-11-2017-UBND-TINH-BD_003.jpg

QD-11-2017-UBND-TINH-BD_004.jpg 

QD-11-2017-UBND-TINH-BD_005.jpg 

QD-11-2017-UBND-TINH-BD_006.jpg

QD-11-2017-UBND-TINH-BD_007.jpg

QD-11-2017-UBND-TINH-BD_008.jpg

QD-11-2017-UBND-TINH-BD_009.jpg

QD-11-2017-UBND-TINH-BD_010.jpg

QD 11 2017 UBND TINH BD.pdf

​Huỳnh Hữu Tốt​

FalsePhòng XD&KTVB
Tọa đàm về việc thực hiện quy trình xây dựng, ban hành  Nghị quyết của HĐND tỉnhThông tin; Tin ngành tư phápTinTọa đàm về việc thực hiện quy trình xây dựng, ban hành  Nghị quyết của HĐND tỉnh/CMSImageNew/2017-03/Tọa đàm về thực hiện quy trình xây dựng, ban hành Nghị quyết của HĐND tỉnh_hdd_Key_23032017144905.jpg
3/23/2017 3:00 PMNoĐã ban hành

Sáng ngày 23/3/2017, tại HĐND tỉnh, Ban Pháp chế HĐND tỉnh phối hợp với Sở Tư pháp tổ chức Tọa đàm về thực hiện quy trình xây dựng, ban hành Nghị quyết của HĐND tỉnh.


IMG_2313.jpg 

Tham dự có lãnh đạo các Ban HĐND tỉnh và các sở, ban ngành tỉnh.

Bà Nguyễn Trường Nhật Phượng - Phó Trưởng Ban Pháp chế HĐND tỉnh cho biết, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 22/6/2015 và đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/07/2016. Đây là văn bản luật được áp dụng thống nhất cho việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật từ Trung ương đến địa phương, trong đó kế thừa những nội dung còn phù hợp của các luật trước đây, đồng thời đổi mới quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trọng tâm là đổi mới giai đoạn phân tích và đánh giá tác động của chính sách. Do đó, buổi tọa đàm nhằm mục đích trao đổi, thống nhất về cách hiểu, cách thực hiện những quy định mới để đảm bảo thực hiện đúng những quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, phân tích những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện để tổng hợp kiến nghị, đề xuất các cơ quan Trung ương hướng dẫn thực hiện thống nhất.

Tại buổi tọa đàm, các đại biểu đã được nghe Báo cáo viên đại diện Ban Pháp chế HĐND tỉnh, Sở Tư pháp, Sở Khoa học và Công nghệ trình bày các chuyên đề: Giải pháp nâng cao chất lượng quy trình soạn thảo, ban hành và triển khai thực hiện Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh;  Quy trình xây dựng, ban hành Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh theo quy định của Luật Ban hành văn bản quv phạm pháp luật 2015; việc thực hiện quy trình xây dựng, ban hành Nghị quyết HĐND tỉnh đối với một Nghị quyết cụ thể.


IMG_2308.jpg 

Bà Trần Thị Minh Hạnh - Phó Giám đốc Sở Tư pháp trình bày tham luận

tại buổi tọa đàm

Đại biểu đã tập trung thảo luận các vấn đề nêu ra trong các bài tham luận, đồng thời trao đổi thêm về quy trình xây dựng các Nghị quyết cá biệt; thời gian trình đề nghị xây dựng Nghị quyết; phân tích làm rõ sự khác nhau về quy trình xây dựng, ban hành đối với Nghị quyết có nội dung quy định tại Khoản 1 Điều 27 với các nghị quyết có nội dung quy định tại Khoản 2, 3, 4 Điều 27 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015; nhiệm vụ của cơ quan đề nghị xây dựng Nghị quyết và những khó khăn, vướng mắc trong thực hiện quy trình xây dựng, ban hành Nghị ​quyết HĐND tỉnh./.

 

Huỳnh Hữu Tốt

FalsePhòng XD&KTVB
Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Công văn về việc xây dựng, ban hành Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh năm 2017Văn bản nghiệp vụ; Thông tin; Tin ngành tư phápTinỦy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Công văn về việc xây dựng, ban hành Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh năm 2017/CMSImageNew/2016-07/frame_LBHVBQPPL2015_Key_04072016182647.jpg
2/27/2017 2:00 PMNoĐã ban hành

​​

Thực hiện Văn bản số 44/HĐND-VP ngày 10/02/2017 của Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh về xây dựng, ban hành nghị quyết năm 2017, đồng thời, trên cơ sở Công văn số 4844/UBND-NC ngày 19/12/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh  hướng dẫn thực hiện quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Ngày 22/02/2017, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Công văn số 530/UBND-TH về việc xây dựng, ban hành Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh năm 2017. Theo đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo Thủ trưởng các sở, ban, ngành tỉnh; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố thực hiện nội dung sau:

1. Lập đề nghị xây dựng Nghị quyết (Giai đoạn 1): Thực hiện theo Điểm a Khoản 1 Mục I Công văn số 4844/UBND-NC của Ủy ban nhân dân tỉnh. Thời gian gửi hồ sơ về Ủy ban nhân dân tỉnh, chậm nhất vào cuối tháng 03/2017 đối với nội dung trình kỳ họp giữa năm; chậm nhất vào cuối tháng 08/2017 đối với nội dung trình kỳ họp cuối năm để Ủy ban nhân dân tỉnh thông qua trước khi trình Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh xem xét theo quy định.

2. Soạn thảo, thông qua dự thảo Nghị quyết (Giai đoạn 2): Thực  hiện theo Điểm b Khoản 1 Mục I Công văn số 4844/UBND-NC của Uỷ ban nhân dân tỉnh. Thời gian gửi hồ sơ về Ủy ban nhân dân tỉnh, chậm nhất vào đầu tháng 06/2017 đối với nội dung trình kỳ họp giữa năm; chậm nhất vào đầu tháng 11/2017 đối với nội dung trình kỳ họp cuối năm để Ủy ban nhân dân tỉnh thông qua trước khi trình Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh và các Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh thẩm tra theo quy định./.

CV 530 UBND TINH BD.PDF

Mai Đức Thanh

FalsePhòng XD&KTVB
Công văn số 4218/BTP-VĐCXDPL về việc trả lời về một số quy định của Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CPThông tinTinCông văn số 4218/BTP-VĐCXDPL về việc trả lời về một số quy định của Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/21/2016 11:00 AMNoĐã ban hànhFalsePhòng Hành chính Tư pháp
Công văn số 4844/UBND-NC ngày 19/12/2016 về việc hướng dẫn thực hiện quy trình ban hành văn bản QPPL trên địa bàn tỉnh Bình DươngThông tinCông văn số 4844/UBND-NC ngày 19/12/2016 về việc hướng dẫn thực hiện quy trình ban hành văn bản QPPL trên địa bàn tỉnh Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/21/2016 11:00 AMNoĐã ban hànhFalsePhòng Hành chính Tư pháp
Hội thảo về sổ tay soạn thảo văn bản quy phạm pháp luậtThông tin; Tin ngành tư phápTinHội thảo về sổ tay soạn thảo văn bản quy phạm pháp luậthttp://www.moj.gov.vn/qt/tintuc/PublishingImages/2016/Duong/Thang%2011/vdc1.jpg
11/24/2016 2:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 21/11/2016, Bộ Tư pháp phối hợp với Dự án phát triển lập pháp quốc gia tại Việt Nam (NLD) tổ chức Hội thảo về "Sổ tay soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật", tham dự hội thảo có sự có mặt của các chuyên gia, nhà khoa học tham gia xây dựng sổ tay, cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật của các bộ, cơ quan ngang bộ, đại diện sở tư pháp của 05 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là Hải Phòng, Quảng Ninh, Thái Bình, Lạng Sơn và Hải Dương và đại diện một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.

Phát biểu khai mạc tại Hội thảo, ông Nguyễn Hồng Tuyến – Vụ trưởng Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp nhấn mạnh, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 9 ngày 22/6/2015 và có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2016. Ngày 14/5/2016 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 34/2016/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Đây là những văn bản quan trọng trong hệ thống pháp luật của Việt Nam, quy định nguyên tắc, thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tổ chức, người có thẩm quyền trong việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. 

 

Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP có nhiều nội dung đổi mới quan trọng, mang tính đột phá trong công tác xây dựng, ban hành và thi hành văn bản quy phạm pháp luật như thống nhất các quy định về ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong một văn bản, quy định rõ hơn khái niệm văn bản quy phạm pháp luật và khái niệm quy phạm pháp luật, quy định rõ hơn thẩm quyền về mặt nội dung của hình thức văn bản tương ứng với từng chủ thể có thẩm quyền, giảm bớt một số loại văn bản như chỉ thị, thông tư liên tịch; quy định quy trình xây dựng, phê duyệt chính sách trước quy trình soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật; quy định xử lý trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc đề nghị xây dựng văn bản, soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, góp ý, ban hành văn bản quy phạm pháp luật; tăng cường dân chủ trong hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật….

 

Luật và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP đã quy định rõ quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật tương ứng với từng chủ thể có thẩm quyền. Tuy nhiên, để công tác xây dựng pháp luật đạt kết quả tốt hơn thì cần phải có hướng dẫn về các kỹ năng, nghiệp vụ trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo hướng "cầm tay chỉ việc". Do đó việc biên soạn các cuốn sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ, kỹ năng cho cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật là cần thiết, sổ tay sẽ là những cẩm nang quan trọng phục vụ công tác chuyên môn của các cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật, phục vụ nhu cầu nghiên cứu, học tập của các đôi tượng đang học luật.

 Các đại biểu tham dự Hội thảo đã nhất trí về nội dung của cuốn sổ tay, một số ý kiến cho rằng không nên khống chế dung lượng của cuốn sổ tay để mọi đối tượng có thể tra cứu theo nhu cầu, theo những vấn đề chưa rõ có thể mở ra và thực hiện được ngay và không cần thiết phải chia thành nhiều cuốn khác nhau hoặc tách biệt sổ tay soạn thảo của trung ương và địa phương.

Ngoài ra, các ý kiến cũng cho rằng, Sổ tay cần hướng dẫn cụ thể hơn, theo đó cần kèm theo các tình huống, ví dụ thực tế và sau mỗi kỹ năng trong soạn thảo cần có khuyến cáo để người làm công tác soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật tránh mắc phải những lỗi sai trên thực tế.

Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp

FalsePhòng XD&KTVB
Một số ý kiến về việc thực hiện cơ chế “phân cấp” theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015Thông tinTinMột số ý kiến về việc thực hiện cơ chế “phân cấp” theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
9/16/2016 9:00 AMNoĐã ban hành

15/09/2016

Luật Tổ chức chính quyền địa phương được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 19/6/2015. Theo đó, để tạo cơ chế pháp lý rõ ràng trong việc xác định thẩm quyền của mỗi cấp chính quyền địa phương cũng như cơ chế trong việc phân cấp giữa cơ quan nhà nước cấp trên với cơ quan nhà nước cấp dưới, việc ủy quyền giữa cơ quan hành chính nhà nước cấp trên cho Ủy ban nhân dân cấp dưới hoặc cơ quan tổ chức khác, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 đã cụ thể vấn đề này bằng các điều luật: Điều 11. Phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương, Điều 12. Phân quyền cho chính quyền địa phương, Điều 13. Phân cấp cho chính quyền địa phương, Điều 14. Ủy quyền cho cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. Đây là một trong những quy định mới của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 so với Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003.

Trước ngày 01/7/2016, việc phân cấp giữa cơ quan hành chính nhà nước cấp trên cho cơ quan nhà nước cấp dưới được thực hiện trên cơ sở các quy định cụ thể của "luật nội dung". Việc phân cấp chủ yếu được thực hiện trong một lĩnh vực như đầu tư, xây dựng, phê duyệt kinh phí, công tác quản lý trong lĩnh vực đất đai… Do đó, việc phân cấp giữa cơ quan hành chính nhà nước cấp trên cho cơ quan nhà nước cấp dưới không phải là vấn đề quá mới. Tuy nhiên, để hiểu và áp dụng đúng tinh thần Điều 13 của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 cũng như một số quy định khác có liên quan, trong quá trình phân cấp còn rất nhiều vấn đề cần lưu ý, cụ thể:
1. Về việc thực hiện cơ chế "phân cấp" 
Theo quy định tại Điều 17 của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, một trong các nhiệm vụ cơ bản, hàng đầu của chính quyền địa phương ở tỉnh là tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trên địa bàn tỉnh. Để triển khai nhiệm vụ này, chính quyền địa phương ở tỉnh sẽ thông qua hai hoạt động cơ bản, thứ nhất là thông qua việc ban hành các văn bản để triển khai thực hiện, chẳng hạn như quyết định, quy định, chương trình, kế hoạch… và thứ hai là triển khai thực hiện bằng các hoạt động cụ thể.
Điều 13 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, đã tạo cơ sở pháp lý rõ ràng trong việc phân cấp giữa cơ quan nhà nước cấp trên với cơ quan nhà nước cấp dưới, tạo điều kiện thuận lợi cho chính quyền địa phương ở tỉnh chủ động, linh hoạt trong việc điều hành, đảm bảo hiệu quả, thời gian trong giải quyết công việc ở địa phương khi phân cấp cho cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của mình.
Qua kết quả thực hiện cơ chế phân cấp trong một số lĩnh vực tại địa phương trong thời gian qua, nhận thấy đây cũng là một trong các cơ sở về thể chế để đẩy mạnh việc nâng cao chỉ số cải cách hàng chính và chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở địa phương. Vì, thực hiện việc phân cấp đã góp phần rút ngắn thời gian giải quyết công việc, tăng hiệu quả thực hiện cũng như trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong việc triển khai một số nhiệm vụ được cơ quan cấp trên phân cấp. Do đó, thực hiện cơ chế phân cấp tốt sẽ góp phần đẩy mạnh hiệu quả giải quyết công việc tại các cơ quan, đơn vị.
* Tuy nhiên, khi thực hiện cơ chế phân cấp" cần lưu ý những vấn đề sau: 
- Thứ nhất, căn cứ của việc phân cấp: Căn cứ vào yêu cầu công tác, khả năng thực hiện và điều kiện, tình hình cụ thể của địa phương, cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương được quyền phân cấp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện một cách liên tục, thường xuyên một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của mình, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Thứ hai, hình thức của việc phân cấp: Việc phân cấp phải được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước phân cấp.
- Thứ ba, điều kiện để đảm bảo thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp: Cơ quan nhà nước cấp trên khi phân cấp nhiệm vụ, quyền hạn cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới phải bảo đảm các nguồn lực và điều kiện cần thiết khác để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình phân cấp.
- Thứ tư, trách nhiệm của cơ quan phân cấp và cơ quan được phân cấp: Cơ quan phân cấp chịu trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đã phân cấp và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình phân cấp. Cơ quan nhà nước được phân cấp chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp.
Để đảm bảo hiệu quả của việc phân cấp giữa Ủy ban nhân dân tỉnh cho cơ quan cấp dưới (là Ủy ban nhân dân cấp huyện và cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh), khi xem xét, quyết định phân cấp, cơ quan phân cấp phải đảm bảo bốn yếu tố trên, tránh trường hợp phân cấp tràn lan, thực hiện không đồng bộ, không đảm bảo điều kiện thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp dẫn đến việc áp dụng pháp luật tùy tiện, không hiệu quả.
2. Vướng mắc khi thực hiện cơ chế phân cấp 
- Điều 13 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, quy định:
Điều 13. Phân cấp cho chính quyền địa phương
1. Căn cứ vào yêu cầu công tác, khả năng thực hiện và điều kiện, tình hình cụ thể của địa phương, cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương được quyền phân cấp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện một cách liên tục, thường xuyên một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của mình, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Việc phân cấp phải bảo đảm các nguyên tắc quy định tại khoản 2 Điều 11 của Luật này và phải được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước phân cấp, trong đó xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn phân cấp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới, trách nhiệm của cơ quan nhà nước phân cấp và cơ quan nhà nước được phân cấp.
- Điều 28 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, quy định:
Điều 28. Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quyết định để quy định:
1. Chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên;
2. Biện pháp thi hành Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp về phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương;
3. Biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương.
Có thể thấy, rất khó xác định "quyết định quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về việc phân cấp cho cơ quan nhà nước cấp dưới để thực hiện một nhiệm vụ, quyền hạn nào đó của mình" thuộc trường hợp nào trong ba trường hợp được quy định tại điều 28 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Thực tế, trừ những trường hợp thẩm quyền phân cấp đã được quy định cụ thể trong luật nội dung, cụ thể là luật giao cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thẩm quyền phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thì việc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 để phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn của mình là chưa đủ cơ sở, chưa thống nhất với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.
Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 112 Hiến pháp năm 2013 quy định: "3. Trong trường hợp cần thiết, chính quyền địa phương được giao thực hiện một số nhiệm vụ của cơ quan nhà nước cấp trên với các điều kiện bảo đảm thực hiện nhiệm vụ đó.". Như vậy, Hiến pháp năm 2013 chỉ quy định việc phân cấp của cơ quan cấp trên cho chính quyền địa phương, không quy định việc phân cấp của chính quyền địa phương ở cấp tỉnh cho cơ quan cấp dưới. Đồng thời, căn cứ của việc phân cấp là phải "trong trường hợp cần thiết", tuy nhiên Điều 13 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 đã mở rộng căn cứ phân cấp, cụ thể: "Căn cứ vào yêu cầu công tác, khả năng thực hiện và điều kiện, tình hình cụ thể của địa phương…". Thay vì, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 phải hướng dẫn cụ thể "trong trường hợp cần thiết" là trường hợp nào thì cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương được phân cấp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới thì Luật lại quy định chung chung, khó xác định hơn. Và chính vì thế, mỗi địa phương có một cách xác định căn cứ thực hiện việc phân cấp khác nhau; Việc phân cấp trở nên "tràn lan", không đảm bảo tính hiệu quả, thống nhất trong hoạt động quản lý, điều hành.
Từ ngày 01/7/2015, tại nhiều địa phương đã đẩy mạnh việc triển khai thực hiện cơ chế phân cấp. Tuy nhiên, để đảm bảo hiệu quả triển khai đồng bộ, thống nhất Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và các quy định khác có liên quan, nhận thấy trong thời gian tới, cần phải có các hướng dẫn cụ thể về việc thực hiện cơ chế phân cấp theo quy định tại Điều 13 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.
Trên đây là một số ý kiến trao đổi liên quan đến việc thực hiện cơ chế phân cấp theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, rất mong nhận được các ý kiến trao đổi từ các quý đồng nghiệp trong quá trình nghiên cứu cũng như áp dụng pháp luật về vấn đề này tại địa phương./.
 

Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp.

FalsePhòng XD&KTVB
Hội nghị tập huấn về xây dựng, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật; bồi thường nhà nước. Theo dõi thi hành pháp luật và quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chínhTin ngành tư pháp; Thông tinTinHội nghị tập huấn về xây dựng, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật; bồi thường nhà nước. Theo dõi thi hành pháp luật và quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính/CMSImageNew/2016-08/hinhdaidien_taphuanXDVB_Key_10082016111521.jpg
8/10/2016 11:15 AMNoĐã ban hành

Hội nghị tập huấn về xây dựng, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật; bồi thường nhà nước; theo dõi thi hành pháp luật và quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính

 

              Thực hiện Kế hoạch số 3853/KH-UBND ngày 02/11/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương triển khai thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Bình Dương; Kế hoạch số 3478/KH-UBND ngày 28/12/2016 của UBND tỉnh ban hành kế hoạch theo dõi thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh Bình Dương năm 2016 và triển khai thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về báo cáo công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật năm 2014; Kế hoạch số 3528/KH-UBND ngày 30/12/2016 của UBND tỉnh ban hành kế hoạch triển khai nhiệm vụ công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính năm 2016 trên địa bàn tỉnh Bình Dương; Kế hoạch số 480/KH-UBND ngày 24/02/2016 của UBND tỉnh triển khai thực hiện công tác bồi thường nhà nước năm 2016 trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Ngày 09/08/2016, tại Hội trường 1 Trường Chính trị tỉnh Bình Dương, Sở Tư pháp đã tổ chức tập huấn về xây dựng, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật; bồi thường nhà nước; theo dõi thi hành pháp luật và quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

Hội nghị có sự tham dự của hơn 400 đại biểu là đại diện các Ban của HĐND tỉnh, Văn phòng UBND tỉnh; Cán bộ phụ trách công tác pháp chế và cán bộ, công chức phòng chuyên môn, đơn vị thuộc sở, ban, ngành các sở, ban, ngành tỉnh; đại diện Văn phòng HĐND, UBND cấp huyện, Phòng Tư pháp cấp huyện; Cán bộ Văn phòng và cán bộ Tư pháp - Hộ tịch cấp xã.

           Đồng chí Trần Thị Minh Hạnh, Phó Giám đốc Sở Tư pháp đã phát biểu khai mạc Hội nghị và trình bày chuyên đề đầu tiên của nội dung chương trình Hội nghị tập huấn.

IMG_0139.JPG

Đ/c Trần Thị Minh Hạnh- Phó Giám đốc Sở phát biểu khai mạc Hội nghị


IMG_0142.JPG

Đ/c Huỳnh Hữu Tốt triển khai công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL


quangcanhtaphuan.jpg

Quang cảnh hội nghị

 

              Tại Hội nghị tập huấn, các báo cáo viên của Sở Tư pháp đã giới thiệu 4 chuyên đề: Quy trình xây dựng, ban hành văn bản QPPL; kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; bồi thường nhà nước; theo dõi thi hành pháp luật và quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

           Nội dung tập huấn nhằm trang bị cho các học viên những kiến thức cơ bản và chuyên sâu về xây dựng, ban hành, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật; bồi thường nhà nước; theo dõi thi hành pháp luật và quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, đồng thời, đây cũng là diễn đàn để cùng trao đổi những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thi hành./.


Tải các văn bản liên quan:

3 Chuyen de soan thao VBQPPL.docx

4 Chuyen de tham dinh du an du thao.docx

5 Chuyen de kiem tra VBQPPL.docx

6 Chuyen de ra soat he thong hoa VBQPPL.docx

7 Chuyen de dieu kien bao dam.docx

Huỳnh Hữu Tốt

Phòng Xây dựng và Kiểm tra văn bản QPPL

FalsePhòng XD&KTVB
Một số điểm mới của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật Thông tin; Tin ngành tư phápTinMột số điểm mới của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật /CMSImageNew/2016-07/frame_LBHVBQPPL2015_Key_04072016182647.jpg
7/4/2016 6:30 PMNoĐã ban hành

Một số điểm mới của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật

1. Ngày 14/5/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định số 34/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành  Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

Nghị định gồm 11 Chương với 189 điều, quy định chi tiết 07 vấn đề được Luật giao:

- Đánh giá tác động của chính sách;

- Thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản quy phạm pháp luật;

- Công báo và niêm yết văn bản quy phạm pháp luật;

- Dịch văn bản quy phạm pháp luật ra tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài;

- Kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật;

- Rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật;

- Bảo đảm nguồn lực xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Bên cạnh đó, tuân thủ tinh thần của Luật năm 2015 là không ủy quyền tiếp việc ban hành văn bản quy định chi tiết. Do đó, Nghị định đã quy định cụ thể đến mức cao nhất các điều, khoản mà Luật giao để sau khi ban hành có thể thi hành được ngay, hạn chế tối đa việc các bộ, ngành, địa phương ban hành văn bản hướng dẫn tiếp. Đồng thời, để bảo đảm thi hành có hiệu quả Luật năm 2015, Nghị định quy định một số biện pháp thực sự cần thiết thuộc thẩm quyền ban hành của Chính phủ như: quy trình xây dựng chính sách trong lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, thẩm định đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, lập danh mục văn bản quy định chi tiết, thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật…

Ví dụ: Một số điểm mới cơ bản về thể thức, kỷ thuật trình bày, hiệu lực; thủ tục hành chính; sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉnh văn bản QPPL

- Về địa danh và ngày, tháng, năm ban hành văn bản: Thực hiện theo quy định tại Điều 59 Nghị định 34/2016/NĐ-CP, theo đó địa danh ghi trên văn bản do cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành là tên gọi chính thức của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, nơi cơ quan ban hành văn bản đóng trụ sở. Địa danh ghi trên văn bản do các cơ quan nhà nước ở địa phương ban hành là tên gọi chính thức của đơn vị hành chính của cơ quan ban hành văn bản đó, cụ thể văn bản của UBND tỉnh Bình Dương và của các sở, ban, ngành trên địa bàn tỉnh Bình Dương thì địa danh ghi trên văn bản ghi là “Bình Dương”, không phải “Thủ Dầu Một”.

- Về thời điểm có hiệu lực pháp luật của văn bản QPPL được xác định như sau: Ngày có hiệu lực của văn bản QPPL phải được quy định ngay trong văn bản; Cơ quan chủ trì soạn thảo phải dự kiến cụ thể ngày có hiệu lực trong dự thảo văn bản. Văn bản QPPL hết hiệu lực thì văn bản quy định chi tiết thi hành các điều, khoản, điểm được giao quy định chi tiết thi hành văn bản đó đồng thời hết hiệu lực. Trường hợp văn bản QPPL được quy định chi tiết hết hiệu lực một phần thì các nội dung quy định chi tiết phần hết hiệu lực sẽ hết hiệu lực đồng thời với phần hết hiệu lực của văn bản được quy định chi tiết. Trường hợp một văn bản quy định chi tiết nhiều văn bản QPPL, trong đó chỉ có một hoặc một số văn bản được quy định chi tiết hết hiệu lực thì nội dung của văn bản quy định chi tiết thi hành sẽ hết hiệu lực đồng thời với một hoặc một số văn bản được quy định chi tiết hết hiệu lực. Trường hợp không xác định được nội dung hết hiệu lực của văn bản quy định chi tiết thi hành thì văn bản đó hết hiệu lực toàn bộ.

- Về việc quy định thủ tục hành chính trong văn bản QPPL của HĐND, UBND các cấp: Theo quy định tại Khoản 4 Điều 14 Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 thì “Cấm quy định thủ tục hành chính trong Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh, Quyết định của UBND cấp tỉnh; Nghị quyết của HĐND cấp huyện, Quyết định của UBND cấp huyện, Nghị quyết của HĐND cấp xã, Quyết định của UBND cấp xã, trừ trường hợp được giao trong luật”.

- Về việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉnh văn bản quy phạm pháp luật: Văn bản QPPL chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ bằng văn bản QPPL của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó hoặc bị đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên có thẩm quyền. Văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn bản khác phải xác định rõ tên văn bản, phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm của văn bản bị sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành. Văn bản bãi bỏ văn bản QPPL phải được đăng Công báo, niêm yết theo quy định.

Khi ban hành văn bản QPPL, cơ quan ban hành văn bản phải sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ văn bản, phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm của văn bản QPPL do mình đã ban hành trái với quy định của văn bản mới ngay trong văn bản mới đó; trường hợp chưa thể sửa đổi, bổ sung ngay thì phải xác định rõ trong văn bản mới danh mục văn bản, phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm của văn bản QPPL mà mình đã ban hành trái với quy định của văn bản QPPL mới và có trách nhiệm sửa đổi, bổ sung trước khi văn bản QPPL mới có hiệu lực.

Một văn bản QPPL có thể được ban hành để đồng thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ nội dung trong nhiều văn bản QPPL do cùng cơ quan ban hành.

Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016 (cùng thời điểm có hiệu lực của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015).

- Về việc quy định thủ tục hành chính trong văn bản QPPL: quy định tại Khoản 4 Điều 14 Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015: “Cấm quy định thủ tục hành chính trong Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh, Quyết định của UBND cấp tỉnh; Nghị quyết của HĐND cấp huyện, Quyết định của UBND cấp huyện, Nghị quyết của HĐND cấp xã, Quyết định của UBND cấp xã, trừ trường hợp được giao trong luật”.

Kể từ ngày Nghị định có hiệu lực thi hành, các văn bản quy phạm pháp luật sau đây sẽ hết hiệu lực:

Nghị định số 24/2009/NĐ-CP ngày 05 tháng 3 năm 2009 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật;

Nghị định số 91/2006/NĐ-CP ngày 06 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân;

Nghị định số 100/2010/NĐ-CP ngày 28 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ về Công báo;

Nghị định số 40/2010/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ về kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật;

Nghị định số 16/2013/NĐ-CP ngày 06 tháng 02 năm 2013 của Chính phủ về rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật.

2. Trên cơ sở Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22 tháng 6 năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương đã ban hành Quyết định số 15/2016/QĐ-UBND ngày 21/6/2016 về việc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật. Theo đó, bãi bỏ 06 văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương do không còn phù hợp với quy định pháp luật hiện hành, cụ thể như sau:

- Quyết định số 16/2011/QĐ-UBND ngày 28/7/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Quy định về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

- Quyết định số 72/2011/QĐ-UBND ngày 20/12/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Quy định trình tự, thủ tục soạn thảo, ban hành, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

- Quyết định số 19/2013/QĐ-UBND ngày 26/7/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Quy chế Cộng tác viên kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

- Quyết định số 20/2013/QĐ-UBND ngày 26/7/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định trình tự, thủ tục soạn thảo, ban hành, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Bình Dương ban hành kèm theo Quyết định số 72/2011/QĐ-UBND ngày 20/12/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Quyết định số 40/2015/QĐ-UBND ngày 21/9/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Quy chế phối hợp thực hiện rà soát, hệ thống hóa, cập nhật vào cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật các văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Chỉ thị số 05/2014/CT-UBND ngày 22/8/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương về việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng, ban hành, kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật, theo dõi tình hình thi hành pháp luật và kiểm soát thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh Bình Dương./.

                                                                                    Huỳnh Hữu Tốt

15-2016-QD-UBND.PDF

FalseLộc Phạm
KẾ HOẠCH XÂY DỰNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT NĂM 2016 CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNGChương trình, kế hoạch công tácKẾ HOẠCH XÂY DỰNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT NĂM 2016 CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
5/31/2016 4:00 PMNoĐã ban hành
False
KẾ HOẠCH TRIỂN KHAI THI HÀNH LUẬT BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNGChương trình, kế hoạch công tácKẾ HOẠCH TRIỂN KHAI THI HÀNH LUẬT BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
5/31/2016 4:00 PMNoĐã ban hành
False
CÔNG VĂN HƯỚNG DẪN MỘT SỐ NỘI DUNG QUYẾT TOÁN KINH PHÍ TRONG LĨNH VỰC TƯ PHÁPVăn bản nghiệp vụCÔNG VĂN HƯỚNG DẪN MỘT SỐ NỘI DUNG QUYẾT TOÁN KINH PHÍ TRONG LĨNH VỰC TƯ PHÁP/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
5/31/2016 4:00 PMNoĐã ban hành
False
LUẬT BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT NĂM 2015Văn bản QPPLLUẬT BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT NĂM 2015/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
5/31/2016 4:00 PMNoĐã ban hành
False
NGHỊ ĐỊNH SỐ 34/2016/NĐ-CP NGÀY 14/05/2016 QUY ĐỊNH CHI TIẾT MỘT SỐ ĐIỀU VÀ BIỆN PHÁP THI HÀNH LUẬT BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT NĂM 2015Chương trình, kế hoạch công tácNGHỊ ĐỊNH SỐ 34/2016/NĐ-CP NGÀY 14/05/2016 QUY ĐỊNH CHI TIẾT MỘT SỐ ĐIỀU VÀ BIỆN PHÁP THI HÀNH LUẬT BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT NĂM 2015/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
5/31/2016 4:00 PMNoĐã ban hành
False
HỘI NGHỊ TRIỂN KHAI THI HÀNH LUẬT BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT NĂM 2015Thông tinTinHỘI NGHỊ TRIỂN KHAI THI HÀNH LUẬT BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT NĂM 2015/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
1/1/2016 3:20 PMNoĐã ban hành

HỘI NGHỊ TRIỂN KHAI THI HÀNH LUẬT BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT NĂM 2015

          Sáng ngày 31/12/2015, UBND tỉnh đã tổ chức Hội nghị triển khai thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 trên cơ sở thực hiện Kế hoạch số 3853/KH-UBND ngày 2-11-2015 của UBND tỉnh Bình Dương. Tham dự hội nghị có ông Trần Thanh Liêm, Phó Bí thư tỉnh ủy - Chủ tịch UBND tỉnh và hơn 400 đại biểu là đại diện các Ban của HĐND tỉnh; lãnh đạo Sở Tư pháp, Sở Y tế, Công an tỉnh và đại diện các ban, ngành tỉnh; đại diện UBND, thường trực HĐND các cấp trong tỉnh.

          Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (Luật năm 2015) đã được Quốc hội thông qua ngày 22-6-2015. Đây là một văn bản pháp luật quan trọng, là luật hợp nhất giữa hai luật gồm Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND năm 2004. Luật năm 2015 được ban hành với mục đích tạo ra một khuôn khổ pháp lý chung, thống nhất từ Trung ương đến địa phương thành một Luật để áp dụng thống nhất việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong phạm vi cả nước.


TKTHLBHVBQPPL2015_1.jpg
ông Trần Thanh Liêm, Phó Bí thư tỉnh ủy - Chủ tịch UBND tỉnh phát biểu khai mạc tại hội nghị.


          Phát biểu khai mạc hội nghị, đồng chí Trần Thanh Liêm, Phó Bí thư tỉnh ủy - Chủ tịch UBND tỉnh nhấn mạnh việc triển khai thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật là nhiệm vụ quan trọng, có liên quan trực tiếp và ảnh hưởng sâu rộng đến toàn hệ thống chính trị. Đề nghị các đại biểu tiếp tục triển khai, quán triệt, áp dụng thực hiện, nâng cao hiệu quả công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Đồng thời, các ngành, các cấp chủ động rà soát toàn diện, đồng bộ các văn bản quy phạm pháp luật do địa phương ban hành để đề xuất sửa đổi, bổ dung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật, đảm bảo thi hành hiệu quả Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Rà soát đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác xây dựng pháp luật để có biện pháp bố trí cán bộ đủ năng lực, làm tốt công tác này trên địa bàn tỉnh.

TKTHLBHVBQPPL2015_2.jpg
Bà Trần Thị Minh Hạnh, Phó Giám đốc Sở Tư pháp triển khai nội dung Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.


TKTHLBHVBQPPL2015_3.jpg
Quang cảnh buổi hội nghị


          Tại hội nghị, các đại biểu đã được nghe báo cáo viên pháp luật của Sở Tư pháp giới thiệu những nội dung cơ bản, những điểm mới của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 9 ngày 22/6/2015. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật gồm 17 chương, 173 điều, có hiệu lực từ ngày 01/7/2016 tạo khuôn khổ pháp lý với nhiều đổi mới về xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhằm xây dựng và vận hành hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, minh bạch, khả thi, dễ tiếp cận, hiệu lực và hiệu quả, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng. So với Luật 2008, Luật 2015 có thêm nhiều điểm mới cũng như bãi bỏ một số hình thức văn bản quy phạm pháp luật. Cụ thể, so với Luật 2008, Luật 2015 bỏ 5 loại văn bản QPPL gồm: Nghị quyết liên tịch giữa Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với cơ quan Trung Ương của tổ chức chính trị - xã hội; Thông tư liên tịch giữa các Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ; Chỉ thị của UBND cấp tỉnh; Chỉ thị của UBND cấp huyện và Chỉ thị của UBND cấp xã./.

Huỳnh Hữu Tốt

 

FalsePhòng XD&KTVB
Bộ Tư pháp tổ chức Hội thảo tham vấn chuyên gia về báo cáo đánh giá tác động và góp ý dự thảo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật tại thành phố Hồ Chí MinhThông tinTinBộ Tư pháp tổ chức Hội thảo tham vấn chuyên gia về báo cáo đánh giá tác động và góp ý dự thảo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật tại thành phố Hồ Chí Minh/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/30/2015 3:00 PMNoĐã ban hành

Bộ Tư pháp tổ chức Hội thảo tham vấn chuyên gia về báo cáo đánh giá tác động và góp ý dự thảo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật tại thành phố Hồ Chí Minh

Ngày 01/8/2014, tại thành phố Hồ Chí Minh, với sự hỗ trợ của Dự án "Quản trị Nhà nước nhằm tăng trưởng toàn diện" (Dự án GIG), Bộ Tư pháp đã tổ chức Hội thảo tham vấn chuyên gia về báo cáo đánh giá tác động và góp ý dự thảo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Ông Trần Anh Đức, Phó vụ trưởng, Vụ Các vấn đề chung về Xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp, chủ trì Hội thảo. Tham dự Hội thảo có các thành viên của Ban soạn thảo và Tổ biên tập Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và khoảng 40 đại biểu đại diện các Sở Tư pháp: thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Vũng Tàu và Phòng Tư pháp các quận, huyện, Phòng Thương mại và Công nghiệp, Đoàn Luật sư tại thành phố Hồ Chí Minh.

Tại Hội thảo bà Bùi Thu Hằng, Trưởng phòng Công tác Xây dựng pháp luật, Vụ Các vấn đề chung về Xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp đã giới thiệu dự thảo Báo cáo đánh giá tác động của dự án Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Chuyên gia đã trình bày những đánh giá toàn diện về Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo phương pháp dự báo tác động điều chỉnh của quy phạm pháp luật (RIA-Regulatory Impact Assessment). Hội thảo tập trung thảo luận phân tích các vấn đề: "Thẩm quyền ban hành văn bản QPPL, Xây dựng chính sách trong lập dự kiến chương trình xây dựng văn bản QPPL, đánh giá tác động văn bản QPPL, chuyên nghiệp hóa trong xây dựng chính sách và soạn thảo văn bản QPPL, đảm bảo cho đại biểu Quốc hội thực hiện quyền kiến nghị về luật, pháp lệnh và quyền trình dự án Luật, pháp lệnh, bảo đảm sự tham gia của tổ chức, cá nhân trong xây dựng chính sách và soạn thảo văn bản QPPL, Gắn kết giữa xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật". Trong quá trình đánh giá, nhiều phương án lựa chọn cho một số quy định trong dự thảo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã được cân nhắc; các thông tin về tác động tích cực và tác động tiêu cực của các phương án lựa chọn cũng đã được đưa ra thảo luận và được các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia đóng góp ý kiến. Các thông tin đó đặc biệt có ích khi còn có nhiều ý kiến khác nhau về nội dung của dự thảo, cho dù có nhiều ý kiến thống nhất về tác động của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.


Một số hình ảnh tại Hội thảo

GopYDuThao_LBHVBQPPL_1.jpg 

GopYDuThao_LBHVBQPPL_2.jpg

Phát biểu kết thúc Hội thảo , Ông Trần Anh Đức nêu rõ các yêu cầu về vấn đề tiếp thu, chỉnh sửa, bổ sung báo cáo và những vấn đề cần giải trình chi tiết về những tồn tại, khiếm khuyết mà trong khuôn khổ Dự án chưa giải quyết hết, và yêu cầu nhóm chuyên gia nghiên cứu tiếp thu để hoàn thiện Báo cáo đánh giá tác động của dự thảo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong thời gian sớm nhất./.

 Huỳnh Hữu Tốt

FalsePhòng XD&KTVB
Ảnh
Video
Audio