Công tác xây dựng
 
​     Ngày 05/3/2020, Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành Thông tư số 05/2020/TT-BTTT quy định giá cước kết nối cuộc gọi thoại giữa hai mạng viễn thông di động mặt đất toàn quốc và giữa mạng viễn thông cố định mặt đất nội hạt với mạng viễn thông di động mặt đất toàn quốc.     Thông tư này áp dụng đối với các doanh nghiệp viễn thông cung cấp dịch vụ kết nối cuộc ...
 
​Ngày 06/3/2020, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Quyết định số 09/2020/QĐ-UBND về việc ban hành Quy chế thu thập, quản lý, khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu ngành Xây dựng trên địa bàn tỉnh Bình Dương.Quyết định 09/2020/QĐ-UBND quy định đối với các hoạt động thu thập, quản lý, khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu Quy hoạch xây dựng, Hạ tầng kỹ thuật đô thị (sau đây gọi chung CSDL ngành ...
 
​Ngày 06/3/2020, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương đã ban hành Quyết định số 07/2020/QĐ-UBND về việc Bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực Nội vụ do Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành.Theo đó, bãi bỏ toàn bộ 02 văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực Nội vụ do Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành không còn phù hợp với quy định pháp luật hiện hành và tình hình ...
 
​     Ngày 02/3/2020, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương đã ban hành Quyết định số 06/2020/QĐ-UBND ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật trong hoạt động vận hành hệ thống giám sát các nguồn thải trên địa bàn tỉnh Bình Dương     Theo đó, Quyết định số 06/2020/QĐ-UBND quy định định mức kinh tế - kỹ thuật trong hoạt động vận hành hệ thống giám sát các nguồn thải trên địa ...
 
     1. Khái quát tình hình xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV     -    Trong giai đoạn từ tháng 01/ 2016 đến nay (tháng 03/2020), tổng số văn bản quy định chi tiết mà Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ phải ban hành là 453 văn bản (214 nghị định, 13 quyết định, 211 thông tư, 15 thông tư liên ...
 
      Sáng ngày 25/02, Bộ Tư pháp đã tổ chức Hội nghị trao đổi, thảo luận về những giải pháp khắc phục tình trạng nợ ban hành văn bản quy định chi tiết. Thứ trưởng Phan Chí Hiếu, Vụ trưởng Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật (Vụ CVĐCVXDPL) Nguyễn Hồng Tuyến cùng chủ trì Hội nghị. Tham dự Hội nghị còn có đại diện lãnh đạo các Bộ, ban, ngành liên quan và đại diện một số ...
 
​     Nhằm đảm bảo các quy định về chuyển giao Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính thuộc Sở Tư pháp sang Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh (theo Nghị định số 92/2017/NĐ-CP ngày 07/8/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính); chuyển Trung tâm Hành chính công và chức năng, nhiệm vụ về triển khai thực hiện cơ chế một cửa, ...
 
     Thực hiện Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, nhằm triển khai thực hiện hiệu quả Chương trình công tác của Ngành Tư pháp năm 2020 và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh năm 2020; ngày ...
 
​     Nhằm xây dựng bổ sung đơn giá một số hoạt động quan trắc môi trường phù hợp với yêu cầu pháp lý và thực tiễn quản lý môi trường của tỉnh Bình Dương theo đúng với các quy định hiện hành của Nhà nước; tạo cơ sở pháp lý để áp dụng đơn giá quan trắc (bao gồm lấy mẫu, phân tích, vận hành) cho các chương trình quan trắc và phân tích môi trường có sử dụng nguồn vốn ngân sách và phí ...
 
 
  
Phân loại
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Nội dung
  
  
Thay đổi giá cước kết nối cuộc gọi thoại giữa hai mạng viễn thông di động mặt đất toàn quốc và giữa mạng viễn thông cố định mặt đất nội hạt với mạng viễn thông di động mặt đất toàn quốcThông tinTinThay đổi giá cước kết nối cuộc gọi thoại giữa hai mạng viễn thông di động mặt đất toàn quốc và giữa mạng viễn thông cố định mặt đất nội hạt với mạng viễn thông di động mặt đất toàn quốc/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
3/24/2020 9:00 AMNoĐã ban hành

​     Ngày 05/3/2020, Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành Thông tư số 05/2020/TT-BTTT quy định giá cước kết nối cuộc gọi thoại giữa hai mạng viễn thông di động mặt đất toàn quốc và giữa mạng viễn thông cố định mặt đất nội hạt với mạng viễn thông di động mặt đất toàn quốc.

     Thông tư này áp dụng đối với các doanh nghiệp viễn thông cung cấp dịch vụ kết nối cuộc gọi thoại của mạng di động và của mạng cố định nội hạt; các tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động quản lý, cung cấp dịch vụ viễn thông tại Việt Nam.

     Theo đó, giá cước kết nối đối được quy định như sau:

     - Giá cước kết nối đối với cuộc gọi thoại giữa hai mạng di động: mạng khởi phát cuộc gọi trả mạng kết cuối cuộc gọi giá cước kết nối là 270 đồng/phút (hai trăm bảy mươi đồng một phút);

     - Giá cước kết nối đối với cuộc gọi thoại từ mạng cố định nội hạt vào mạng di động: mạng khởi phát cuộc gọi trả mạng kết cuối cuộc gọi giá cước kết nối là 270 đồng/phút (hai trăm bảy mươi đồng một phút);

     - Giá cước kết nối đối với cuộc gọi thoại từ mạng di động vào mạng cố định nội hạt: mạng khởi phát cuộc gọi trả mạng kết cuối cuộc gọi giá cước kết nối là 270 đồng/phút (hai trăm bảy mươi đồng một phút);

     Các mức giá cước kết nối nêu trên chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng.

     Mức giá cước này được áp dụng kể từ ngày 01/5/2020, thay thế các mức giá cước kết nối được quy định tại các văn bản: Thông tư số 48/2017/TT-BTTTT ngày 29/12/2017 quy định giá cước kết nối đối với cuộc gọi thoại từ mạng viễn thông cố định mặt đất nội hạt vào mạng thông tin di động mặt đất toàn quốc và giá cước kết nối đối với cuộc gọi thoại giữa hai mạng thông tin di động mặt đất toàn quốc; Thông tư số 22/2011/TT-BTTTT ngày 02/8/2011 về việc ban hành cước kết nối cuộc gọi từ mạng thông tin di động mặt đất đến mạng viễn thông cố định mặt đất nội hạt; Quyết định số 53/2008/QĐ-BTTTT ngày 08/12/2008 về việc ban hành cước kết nối nội tỉnh đối với liên lạc điện thoại từ mạng viễn thông cố định vào mạng điện thoại di động; Quyết định số 43/2008/QĐ-BTTTT ngày 17/7/2008 về việc ban hành cước kết nối nội tỉnh đối với cuộc liên lạc đường dài liên tỉnh và liên lạc di động gọi cố định./.

FalseTrần Thị Kim Yến
Ban hành Quy chế thu thập, quản lý, khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu ngành Xây dựng trên địa bàn tỉnh Bình DươngThông tinBan hành Quy chế thu thập, quản lý, khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu ngành Xây dựng trên địa bàn tỉnh Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
3/11/2020 10:00 AMNoĐã ban hành

Ngày 06/3/2020, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Quyết định số 09/2020/QĐ-UBND về việc ban hành Quy chế thu thập, quản lý, khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu ngành Xây dựng trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

Quyết định 09/2020/QĐ-UBND quy định đối với các hoạt động thu thập, quản lý, khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu Quy hoạch xây dựng, Hạ tầng kỹ thuật đô thị (sau đây gọi chung CSDL ngành Xây dựng); trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia các hoạt động trên CSDL ngành Xây dựng trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20/03/2020./.​

09-2020-QD.signed.pdf

FalseĐào Thị Quyên
Bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật thuộc  lĩnh vực Nội vụ do Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Thông tinBãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật thuộc  lĩnh vực Nội vụ do Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành /Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
3/7/2020 10:00 AMNoĐã ban hành

Ngày 06/3/2020, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương đã ban hành Quyết định số 07/2020/QĐ-UBND về việc Bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực Nội vụ do Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành.

Theo đó, bãi bỏ toàn bộ 02 văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực Nội vụ do Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành không còn phù hợp với quy định pháp luật hiện hành và tình hình thực tế tại địa phương, cụ thể:

- Chỉ thị số 13/1998/CT-UB ngày 18 tháng 6 năm 1998 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương về việc triển khai thực hiện quy chế dân chủ ở xã.

- Quyết định số 73/2011/QĐ-UBND ngày 20 tháng 12 năm 2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Quy định số lượng, chức danh, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức, những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã và cán bộ ấp, khu phố và kinh phí hoạt động ấp, khu phố trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

Quyết định này có hiệu lực thi hành, kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2020./.


07-2020-QD.signed.pdf

FalseĐào Thị Quyên
Ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật trong hoạt động vận hành hệ thống giám sát các nguồn thải trên địa bàn tỉnh Bình DươngThông tinTinBan hành định mức kinh tế - kỹ thuật trong hoạt động vận hành hệ thống giám sát các nguồn thải trên địa bàn tỉnh Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
3/6/2020 4:00 PMNoĐã ban hành

​     Ngày 02/3/2020, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương đã ban hành Quyết định số 06/2020/QĐ-UBND ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật trong hoạt động vận hành hệ thống giám sát các nguồn thải trên địa bàn tỉnh Bình Dương

     Theo đó, Quyết định số 06/2020/QĐ-UBND quy định định mức kinh tế - kỹ thuật trong hoạt động vận hành hệ thống giám sát các nguồn thải trên địa bàn tỉnh Bình Dương, bao gồm:

       - Định mức kinh tế - kỹ thuật trong hoạt động giám sát các nguồn thải qua hệ thống camera;

       - Định mức kinh tế - kỹ thuật trong hoạt động vận hành hệ thống quan trắc và giám sát khí thải tự động;

       - Định mức kinh tế - kỹ thuật trong hoạt động quan trắc và giám sát nước thải tự động.

     Định mức kinh tế - kỹ thuật này áp dụng cho các tổ chức và cá nhân thực hiện hoạt động vận hành hệ thống giám sát các nguồn thải có sử dụng ngân sách nhà nước.

     Định mức kinh tế - kỹ thuật được xây dựng trên cở sở phù hợp với yêu cầu thực   tiễn và đặc thù phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Bình Dương; tạo cở sở pháp lý cho việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung đơn giá vận hành hệ thống quan trắc và giám sát các nguồn thải trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

     Quyết định số 06/2020/QĐ-UBND có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/3/2020./.

06-2020-QD.signed.pdf

FalseTrần Thị Kim Yến
Thực trạng công tác xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết - Những khó khăn, vướng mắc và một số giải pháp khắc phục tình trạng nợ, chậm ban hành văn bản quy định chi tiếtThông tinTinThực trạng công tác xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết - Những khó khăn, vướng mắc và một số giải pháp khắc phục tình trạng nợ, chậm ban hành văn bản quy định chi tiết/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
3/4/2020 9:00 AMNoĐã ban hành

     1. Khái quát tình hình xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV

     -    Trong giai đoạn từ tháng 01/ 2016 đến nay (tháng 03/2020), tổng số văn bản quy định chi tiết mà Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ phải ban hành là 453 văn bản (214 nghị định, 13 quyết định, 211 thông tư, 15 thông tư liên tịch) quy định chi tiết 86 luật, pháp lệnh, nghị quyết, trong đó có 110/453 văn bản là gối từ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII (năm 2015) sang.
Tính đến thời điểm hiện tại, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ đã ban hành được 432/453 văn bản (196 nghị định, 12 quyết định, 210 thông tư, 14 thông tư liên tịch) quy định chi tiết 81 luật, pháp lệnh, nghị quyết đã có hiệu lực. Số văn bản nợ ban hành là 21/453 văn bản (18 nghị định, 01 quyết định, 01 thông tư, 01 thông tư liên tịch) quy định chi tiết 8 luật đã có hiệu lực.

     -    Ngoài ra, trong thời gian tới, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ còn có nhiệm vụ phải xây dựng và ban hành 102 văn bản (56 nghị định. 45 thông tư, 01 quyết định) quy định chi tiết 17 luật chuẩn bị có hiệu lực.

     2. Đánh giá tình trạng nợ ban hành văn bản quy định chi tiết

     2.1. Đánh giá tình trạng nợ ban hành văn bản quy định chi tiết

     Qua theo dõi cho thấy, nhiệm vụ giao cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành văn bản quy định chi tiết có xu hướng giảm xuống, song số lượng văn bản chậm, nợ ban hành vẫn còn tồn tại, cụ thể:

     - Năm 2016: tổng số văn bản phải ban hành là 251 văn bản, cuối năm nợ ban hành là 14 văn bản (02 quyết định, 14 thông tư) quy định chi tiết 10 luật và pháp lệnh;

     - Năm 2017: tổng số văn bản phải ban hành là 191 văn bản, cuối năm nợ ban hành là 09 văn bản (09 thông tư) quy định chi tiết 04 luật và pháp lệnh.

     - Năm 2018: tổng số văn bản phải ban hành là 213 văn bản, cuối năm nợ ban hành là 04 văn bản (04 nghị định) quy định chi tiết 03 luật.

     - Năm 2019: tổng số văn bản phải ban hành là 109 văn bản, cuối năm nợ ban hành là 10 văn bản (09 nghị định, 01 quyết định) quy định chi tiết 5 luật.

    - Thời điểm hiện tại, số nợ là 21 văn bản quy định chi tiết 8 luật, thuộc nhiệm vụ xây dựng của Bộ Công an, Bộ Công Thương, Bộ Y tế, Bộ Tư pháp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Thanh tra Chính phủ (xem Phụ lục 1 kèm theo).

      2.2. Nguyên nhân

     a) Nguyên nhân khách quan

     - Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ phải xây dựng, ban hành một số lượng lớn văn bản quy phạm pháp luật. Bên cạnh việc tổ chức triển khai thi hành luật, pháp lệnh và ban hành văn bản quy định chi tiết, các bộ còn phải tập trung nguồn lực cho công tác soạn thảo, trình các dự án luật, pháp lệnh theo Chương trình năm 2019, 2020.

     - Một số luật giao Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng quy định chi tiết tương đối nhiều nội dung, khoảng thời gian từ lúc luật, pháp lệnh được thông qua đến thời điểm có hiệu lực tương đối ngắn; vẫn có trường hợp nội dung giao quy định chi tiết là những vấn đề mới, khó, phức tạp; nội dung chính sách chưa rõ hoặc thiếu định hướng cụ thể về chính sách hoặc phải chờ kết quả thực hiện thí điểm chính sách, dẫn đến kéo dài thời gian soạn thảo, ban hành văn bản quy định chi tiết.

     b)  Nguyên nhân chủ quan

     - Trong giai đoạn lập đề nghị, cơ quan lập đề nghị chưa xác định rõ những chính sách nào nên ủy quyền, cần ủy quyền để giao ban hành văn bản quy định chi tiết.
     - Trong quá trình soạn thảo, trình, phối hợp chỉnh lý các dự án luật, pháp lệnh, các cơ quan chưa lường trước được những khó khăn trong việc soạn thảo văn bản quy định chi tiết các nội dung; việc đầu tư thời gian, nguồn lực cho công tác xây dựng, ban hành văn bản còn hạn chế, chưa tương xứng với yêu cầu, tính chất phức tạp của công việc này.

     - Trình tự, thủ tục xây dựng văn bản được quy định trong luật rất chặt chẽ, giai đoạn soạn thảo, góp ý, thẩm định thường tuân thủ theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, quá trình phối hợp vẫn còn chưa chặt chẽ, dẫn đến kéo dài thời gian, nhất là ở giai đoạn làm thủ tục xin ý kiến thành viên chính phủ, giai đoạn tiếp thu, chính lý, giải trình ý kiến thành viên chính phủ kéo dài. Ví dụ:  (1) Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Ủy ban cạnh tranh Quốc gia, đã trình Chính phủ theo Tờ trình số 3803/BCT-CT ngày 30/5/2019, tuy nhiên, đến nay cũng chưa được ban hành; (2) Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh, đã được Bộ Công Thương trình ngày 31/01/2019, tuy nhiên đến nay cũng chưa được ban hành…; (3) Nghị quy định chi tiết một số điều trong Luật An ninh mạng, đã được Bộ Công an trình Chính phủ từ ngày 30/9/2019, tuy nhiên, đến nay chưa được ban hành.

     - Sự đóng góp của đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác pháp chế, sự huy động đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học vào quá trình xây dựng văn bản trong một số trường hợp vẫn còn một số hạn chế nhất định.

     - Việc chấp hành kỷ cương, kỷ luật trong xây dựng văn bản ở một số nơi còn chưa nghiêm.

     - Các bộ chưa phát huy đầy đủ vai trò, trách nhiệm của tổ chức pháp chế; ở các địa phương chưa huy động được sự tham gia tích cực của pháp chế các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc xây dựng, ban hành văn bản.

     - Việc thi hành các quy định của Luật năm 2015 liên quan đến ban hành văn bản quy định chi tiết vẫn còn hạn chế, trong đó có quy định về chuẩn bị dự thảo các văn bản quy định chi tiết thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các Bộ trưởng, để trình cấp có thẩm quyền kèm theo khi trình dự án, dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết.

     3. Một số giải pháp và kiến nghị nhằm khắc phục tình trạng chậm, nợ ban hành văn bản quy định chi tiết

     3.1. Các giải pháp cần thực hiện trong quá trình xây dựng, ban hành luật, pháp lệnh, nghị quyết

     - Trong giai đoạn lập đề nghị: Tiếp tục thực hiện nghiêm quy định của Luật năm 2015, trong giai đoạn này, trên cơ sở báo cáo tổng kết thi hành luật, nội dung chính sách, đánh giá tác động của chính sách cần làm rõ một số nội dung sau:

     + Dự báo và chỉ rõ nội dung chính sách sẽ ủy quyền, chủ thể được giao ban hành văn bản quy định chi tiết;

     + Bộ Tư pháp khi thẩm định đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, cần xem xét, có ý kiến về nội dung chính sách ủy quyền, giao quy định chi tiết; chủ thể được giao quy định chi tiết;

     + Trách nhiệm của các bộ, ngành có liên quan trong việc triển khai luật, đặc biệt là trách nhiệm xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết.

     - Trong giai đoạn soạn thảo:

     + Quá trình soạn thảo các dự án, dự thảo luật, pháp lệnh cần đồng thời chuẩn bị dự thảo các văn bản quy định chi tiết thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ để trình kèm theo khi trình dự án, dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Đối với những dự án, dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết mà nội dung dự kiến giao quy định chi tiết có liên quan đến nhiều bộ, cơ quan ngang bộ thì phải chỉ rõ trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ và lấy ý kiến của các cơ quan này. Nội dung giao quy định chi tiết cần phải được nêu rõ trong Tờ trình và dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết.

     + Khâu thẩm định: Tại cuộc họp, hội đồng thẩm định, cơ quan chủ trì soạn thảo báo cáo rõ về dự kiến các nội dung sẽ giao Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương quy định chi tiết. Hội đồng thẩm định, Bộ Tư pháp phải sẽ có ý kiến về phạm vi, nội dung, chủ thể được giao quy định chi tiết, thời điểm có hiệu lực của nội dung giao quy định chi tiết để bảo đảm tính khả thi.

      + Khâu thẩm tra, chỉnh lý, thông qua: Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với cơ quan thẩm tra xác định thời điểm có hiệu lực của luật, pháp lệnh, nghị quyết để đảm bảo đủ thời gian xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết. Trong quá trình chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết, cơ quan chủ trì soạn thảo cần bám sát những nội dung dự kiến giao quy định chi tiết. Phối hợp chặt chẽ với các bộ, cơ quan ngang bộ (không phải là cơ quan chủ trì soạn thảo luật, nghị quyết) về dự kiến nội dung giao quy định chi tiết, tránh trường hợp luật đã thông qua các bộ mới biết nhiệm vụ xây dựng văn bản quy định chi tiết.

      3.2. Trong quá trình đề xuất văn bản quy định chi tiết

     - Ngay sau khi Quốc hội thông qua luật, nghị quyết, các bộ cơ quan ngang bộ phải gửi đề xuất các văn bản quy định chi tiết cho Bộ Tư pháp tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Trong đó, cần lưu ý một số vấn đề sau:

      + Áp dụng nguyên tắc một văn bản để quy định chi tiết nhiều nội dung được giao, hạn chế số lượng văn bản quy định chi tiết;

      + Xác định chính xác nội dung giao quy định chi tiết (điều, khoản, điểm), hình thức văn bản quy định chi tiết, cơ quan chịu trách nhiệm soạn thảo, ban hành văn bản quy định chi tiết, cơ quan phối hợp. Trường hợp nội dung giao quy định chi tiết thuộc các cơ quan khác (không phải cơ quan chủ trì soạn thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết) thì cần trao đổi, thống nhất với các cơ quan đó.
      + Xác định rõ những nội dung giao cho địa phương quy định chi tiết luật, pháp lệnh, nghị quyết.

     - Bộ Tư pháp phối hợp chặt chẽ với Văn phòng Chính phủ xây dựng dự thảo Quyết định về danh mục và phân công các cơ quan soạn thảo văn bản quy định chi tiết để trình Thủ tướng Chính phủ ban hành.

     3.3. Trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết

     - Về phía các bộ, cơ quan ngang bộ được giao xây dựng văn bản quy định chi tiết
     + Tập trung các nguồn lực để tổ chức soạn thảo văn bản quy định chi tiết đúng thời hạn trong quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

     ​+ Phối hợp chặt chẽ với các bộ, cơ quan ngang bộ (không phải là cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản giao quy định chi tiết) về những nội dung có liên quan trong văn bản quy định chi tiết; Quan tâm lấy ý kiến của các chuyên gia, nhà khoa học, đối tượng chịu tác động của văn bản để đảm bảo sự phù hợp với phạm vi điều chỉnh, đối tượng tác động, đảm bảo tính khả thi của các quy định trong văn bản.

     + Thường xuyên báo cáo với Chính phủ, Bộ Tư pháp về tiến độ soạn thảo các văn bản quy định chi tiết.

+ Kịp thời báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp về những khó khăn, vướng mắc trong quá trình soạn thảo văn bản quy định chi tiết để tìm cách tháo gỡ, đề xuất những giải pháp khắc phục khó khăn, vướng mắc đó.

     - Về phía Văn phòng Chính phủ:

     + Đẩy nhanh tiến độ việc trình, lấy phiếu ý kiến thành viên Chính phủ đối với các văn bản quy phạm pháp luật đã được các bộ, cơ quan ngang bộ trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ;

     + Thủ tục xem xét hồ sơ cần được thực hiện theo đúng thời gian được quy định tại Quy chế làm việc của Chính phủ; Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm phải phối hợp chặt chẽ với cơ quan chủ trì soạn thảo trong quá trình chỉnh lý, tiếp thu, giải trình ý kiến thành viên Chính phủ đảm bảo thời gian ban hành văn bản quy định chi tiết;

     + Sắp xếp thời gian, lịch họp tại các phiên họp Chính phủ thường kỳ để Bộ Tư pháp có thời gian để báo cáo về tình trạng nợ ban hành văn bản quy định chi tiết của các bộ, cơ quan ngang bộ.

     - Về phía Bộ Tư pháp:

     + Tăng cường theo dõi, đôn đốc kiểm tra tình hình xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết, định kỳ hàng tháng, quý, 06 tháng, 01 năm báo cáo Chính phủ tại phiên họp thường kỳ về tình hình xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết của các bộ, cơ quan ngang bộ, đăng tải công khai tình hình xây dựng, ban hành, nợ ban hành văn bản trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ và Bộ Tư pháp;
     + Cử cán bộ phối hợp chặt chẽ ngay từ đầu với các bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì xây dựng luật, pháp lệnh từ trong giai đoạn lập đề nghị xây dựng cho đến giao đoạn soạn thảo, chỉnh lý dự án luật, pháp lệnh để kiểm soát phạm vi, nội dung giao quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành để bảo đảm tính khả thi;

     + Yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì xây dựng dự án luật, pháp lệnh phải thực hiện nghiêm quy định của Luật năm 2015, như chuẩn bị dự thảo văn bản quy định chi tiết trình kèm theo dự án luật, pháp lệnh; dự kiến hợp lý thời điểm bắt đầu có hiệu lực của luật, pháp lệnh để có đủ thời gian cho việc ban hành văn bản quy định chi tiết; tiếp tục thực hiện nguyên tắc ban hành một văn bản để quy định chi tiết nhiều nội dung được giao,...

     + Tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện các quy định của Luật năm 2015, khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thi hành, đồng thời kiến nghị với Quốc hội quy định thời điểm có hiệu lực của điều, khoản giao quy định chi tiết một cách hợp lý để có đủ thời gian ban hành văn bản quy định chi tiết.

     3.4. Về nguồn lực cho việc xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết
     Tiếp tục nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác xây dựng pháp luật, nhất là đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác pháp chế ở bộ, ngành và địa phương; tiếp tục chuẩn hóa đội ngũ người làm công tác pháp chế ở các bộ, ngành, địa phương; triển khai các lớp đào tạo văn bằng 2 chuyên ngành luật cho đội ngũ người làm công tác pháp chế theo Quyết định số 290/QĐ-BTP ngày 06/02/2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành kế hoạch thực hiện Quyết định số 73/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch thực hiện triển khai Nghị quyết số 67/2013/QH13 của Quốc hội về việc tăng cường công tác triển khai thi hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội và ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành.

     4. Một số kiến nghị

     4.1. Đối với Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội, Bộ Tư pháp đề nghị:

     - Tăng cường hoạt động giám sát đối với công tác lập và tổ chức thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; công tác xây dựng và thi hành pháp luật; việc triển khai thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.
      - Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội tăng cường công tác phối hợp với Chính phủ, các cơ quan có liên quan, tham gia ngay từ đầu vào quá trình soạn thảo, chỉnh lý dự án luật, pháp lệnh. Trong khâu chỉnh lý các dự án luật, pháp lệnh cần xác định rõ phạm vi, nội dung giao quy định chi tiết; dự kiến hợp lý thời điểm có hiệu lực của luật, pháp lệnh, quy định các biện pháp, điều kiện cần thiết bảo đảm tổ chức triển khai thi hành luật, pháp lệnh và ban hành văn bản quy định chi tiết.

     4.2. Đối với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao: Tiếp tục phối hợp chặt chẽ, kịp thời với các cơ quan của Chính phủ trong việc thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; tổ chức triển khai thi hành luật, pháp lệnh, ban hành văn bản quy định chi tiết nhất là các văn bản liên tịch với các bộ, cơ quan ngang bộ để quy định chi tiết luật, pháp lệnh, nghị quyết.

     4.3. Đối với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đề nghị:

     - Hằng tháng, quý, Chính phủ tiếp tục đăng tải công khai tình trạng ban hành văn bản, danh mục văn bản nợ ban hành trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ;
     - Thủ tướng Chính phủ cần tăng cường chỉ đạo, yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trực tiếp chỉ đạo công tác này, phân công rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân trong việc nghiên cứu, soạn thảo, trình văn bản; thường xuyên kiểm tra, kiểm điểm rõ trách nhiệm và có hình thức xử lý trách nhiệm đối với đơn vị, cá nhân để xảy ra tình trạng chậm tiến độ và không bảo đảm chất lượng văn bản.

     ​- Tại các Phiên họp thường kỳ của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cần xem xét, nhắc nhở, kiểm điểm trực tiếp các đồng chí Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ còn để xảy ra tình trạng chậm, nợ ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành luật, pháp lệnh; coi đó là một trong những tiêu chí để lấy phiếu tín nhiệm đối với các thành viên của Chính phủ; nội dung này cũng đã được nhấn mạnh tại các Nghị quyết phiên họp thường kỳ của Chính phủ.

Nguồn: https://xdpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/Nghien-cuu-trao-%C4%91oi.aspx?ItemID=55​ (VỤ CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XÂY DỰNG PHÁP LUẬT - BỘ TƯ PHÁP)
FalseTrần Thị Kim Yến
Không để xảy ra tình trạng “báo động” nợ ban hành văn bản quy định chi tiếtThông tinTinKhông để xảy ra tình trạng “báo động” nợ ban hành văn bản quy định chi tiết/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
2/26/2020 9:00 AMNoĐã ban hành

1.jpg 

     Sáng ngày 25/02, Bộ Tư pháp đã tổ chức Hội nghị trao đổi, thảo luận về những giải pháp khắc phục tình trạng nợ ban hành văn bản quy định chi tiết. Thứ trưởng Phan Chí Hiếu, Vụ trưởng Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật (Vụ CVĐCVXDPL) Nguyễn Hồng Tuyến cùng chủ trì Hội nghị. Tham dự Hội nghị còn có đại diện lãnh đạo các Bộ, ban, ngành liên quan và đại diện một số đơn vị thuộc Bộ.

Báo cáo về tình hình xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết tại hội nghị, đồng chí Trần Anh Đức, Phó Vụ trưởng Vụ CVĐCVXDPL cho biết, số văn bản nợ ban hành là 21/453 văn bản quy định chi tiết 8 luật đã có hiệu lực. Ngoài ra, trong thời gian tới, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang Bộ còn có nhiệmvụ phải xây dựng và ban hành 102 văn bản quy định chi tiết 17 luật chuẩn bị có hiệu lực.​

2.jpg

3.jpg


     Với ​​con số trên, theo đồng chí Nguyễn Hồng Tuyến, Vụ trưởng Vụ CVĐCVXDPL thì hiện nay văn bản nợ đọng là không nhiều. Tuy nhiên, nếu các bộ, ngành không có giải pháp khắc phục tình trạng nợ đọng văn bản ngay thì trong thời gian tới với 102 văn bản quy định chi tiết 17 luật chuẩn bị có hiệu lực, rất có thể xảy ra tình trạng “báo động” tình trạng nợ đọng. Do vậy, đồng chí Hồng​​ Tuyến mong rằng, các đại biểu tham dự hội nghị sẽ tập trung thảo luận và đưa ra các giải pháp để khắc phục tình trạng này.Trên cơ sở đó, ngoài việc chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến tình trạng nợ đọng văn bản quy định chi tiết, các đại biểu đã tập trung sâu vào việc thảo luận các giải pháp khắc phục tình trạng nợ, chậm ban hành văn bản quy định chi tiết. Nhiều giải pháp đã được các đại biểu nêu ra như: Cần nâng cao công tác đôn đốc, giám sát, kiểm tra văn bản; Xây dựng kế hoạch chi tiết, cụ thể để xây dựng văn bản; Đưa công tác xây dựng văn bản vào tiêu chí đánh giá hoàn thành công việc của cán bộ, công chức, viên chức; Nâng cao tinh thầnh, trách nhiệm và là một trong những tiêu chí đánh giá thi đua, khen thưởng; Ứng dụng công nghệ thông tin để hỗ trợ công tác xây dựng luật pháp, giúp cho các bộ, ngành tăng cường tính chuyên nghiệp hóa trong công tác xây dựng văn bản pháp luật,…

4.jpg

     Khẳng định giải pháp cốt lõi giải quyết những khó khăn, vướng mắc nợ ban hành văn bản quy định chi tiết đó là “lòng quyết tâm”, Thứ trưởng Phan Chí Hiếu nhấn mạnh rằng, quyết tâm cao thì sẽ giải quyết được các vấn đề còn tồn đọng. Do đó, trong năm 2020, các Bộ, ban, ngành cần “nghiêm túc” khắc phục tình trạng nợ đọng văn bản, đồng thời nhấn mạnh một số giải pháp sau:

     Thứ nhất: Tiếp tục thực hiện nghiêm túc quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Trong quá trình soạn thảo các dự án, dự thảo luật, pháp lệnh cần đồng thời chuẩn bị các văn bảnquy định chi tiết thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ để trình kèm theo khi trình dự án, dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Trong quá trình chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết, cơ quan chủ trì soạn thảo cần bám sát những nội dung dự kiến giao quy định chi tiết. Phối hợp chặt chẽ với các bộ, cơ quan ngang bộ (không phải là cơ quan chủ trì soạn thảo luật, nghị quyết) về dự kiến nội dung giao quy định chi tiết.

5.jpg

6.jpg

     Thứ hai: Trong quá trình đề xuất văn bản quy định chi tiết: Ngay sau khi Quốc hội thông qua luật, nghị quyết, các bộ, cơ quan ngang bộ phải gửi đề xuất các văn bản quy định chi tiết cho Bộ Tư pháp tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Bộ Tư pháp phối hợp chặt chẽ với văn phòng Chính phủ xây dựng dự thảo Quyết định về danh mục và phân công các cơ quan soạn thảo văn bản quy định chi tiết để trình Thủ tướng Chính phủ ban hành.

     Thứ ba: Trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết: tăng cường theo dõi, đôn đốc kiểm tra tình hình xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết; Cử cán bộ phối hợp chặt chẽ ngay từ đầu với các bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì xây dựng luật, pháp lệnh; Yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì xây dựng dự án luật, pháp lệnh phải thực hiện nghiêm quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, dự kiến hợp lý thời điểm bắt đầu có hiệu lực của luật, pháp lệnh để có đủ thời gian cho việc ban hành văn bản quy định chi tiết, tiếp tục thực hiện nguyên tắc ban hành một văn bản để quy định chi tiết nhiều nội dung được giao; Tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện các quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thi hành…​

Nguồn: Trang thông tin điện tử Bộ Tư pháp (tác giả: Thùy Dung - Trung tâm Thông tin)

             (https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/hoat-dong-cua-lanh-dao-bo.aspx?ItemID=4344)​

FalseTrần Thị Kim Yến
Kế hoạch Kiểm tra, xử lý, rà soát và hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật  năm 2020 trên địa bàn tỉnh Bình Dương Chương trình, kế hoạch công tácTinKế hoạch Kiểm tra, xử lý, rà soát và hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật  năm 2020 trên địa bàn tỉnh Bình Dương /Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
2/21/2020 11:00 AMNoĐã ban hànhFalseTrần Thị Kim Yến
Ban hành Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng UBND tỉnh Bình DươngThông tinTinBan hành Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng UBND tỉnh Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
2/17/2020 4:00 PMNoĐã ban hành

​     Nhằm đảm bảo các quy định về chuyển giao Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính thuộc Sở Tư pháp sang Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh (theo Nghị định số 92/2017/NĐ-CP ngày 07/8/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính); chuyển Trung tâm Hành chính công và chức năng, nhiệm vụ về triển khai thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông từ Sở Nội vụ về Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh (theo Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23/4/2018 của Chính phủ Về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính); đồng thời, thực hiện Quyết định số 908-QĐ/TU ngày 28/12/2018 của Tỉnh ủy phê duyệt Đề án sắp xếp tổ chức bộ máy của Văn phòng UBND tỉnh theo Nghị quyết số 18-NQ/TW; ngày 06/02/2020, UBND tỉnh Bình Dương đã ban hành Quyết định số 02/2020/QĐ-UBND ban hành Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng UBND tỉnh Bình Dương.

aa657e1bd3a62bf872b7.jpg

(Trung tâm Hành chính công tỉnh Bình Dương)

4e668fbbdd0625587c17.jpg

(Trụ sở tiếp Công dân tỉnh Bình Dương)

    Theo đó, cơ cấu tổ chức của Văn phòng UBND tỉnh Bình Dương bao gồm: 08 tổ chức hành chính (Phòng Nội chính, Phòng Kinh tế, Phòng Khoa giáo – Văn xã, Phòng Tổng hợp, Phòng Hành chính - Tổ chức, Phòng Quản trị - Tài vụ, Ban Tiếp Công dân tỉnh, Trung tâm Hành chính công tỉnh) và 03 đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc (Ban Quản lý Tòa nhà Trung tâm Hành chính tỉnh, Nhà khách UBND tỉnh, Trung tâm Công báo).

3774aeed0350fb0ea241.jpg

​(Ban Quản lý Tòa nhà Trung tâm Hành chính tỉnh Bình Dương)

     Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/3/2020 và thay thế Quyết định sô 10/2016/QĐ-UBND ngày 30/5/2016 ban hành Quy định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng UBND tỉnh Bình Dương./.

02-2020-QD.signed.pdf

FalseTrần Thị Kim Yến
Tỉnh Bình Dương ban hành Kế hoạch  kiểm tra, rà soát và hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật năm 2020 trên địa bàn tỉnh Bình DươngThông tinTinTỉnh Bình Dương ban hành Kế hoạch  kiểm tra, rà soát và hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật năm 2020 trên địa bàn tỉnh Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
2/6/2020 9:00 AMNoĐã ban hành

     Thực hiện Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, nhằm triển khai thực hiện hiệu quả Chương trình công tác của Ngành Tư pháp năm 2020 và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh năm 2020; ngày 04/02/2020, UBND tỉnh Bình Dương đã có Quyết định số 286/QĐ-UBND ban hành Kế hoạch kiểm tra, rà soát và hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật năm 2020 trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

3658324ec8c7309969d6.jpg

     Kế hoạch đặt ra yêu cầu: công tác tự kiểm tra, kiểm tra theo thẩm quyền, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật của tỉnh phải bám sát nội dung các quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015; Nghị định số 34/2016/NĐ-CP; kịp thời phát hiện những sai sót, vướng mắc, tồn tại, những văn bản mâu thuẫn, chồng chéo, đề xuất, kiến nghị các giải pháp cụ thể, khả thi để xử lý; đồng thời, đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan trong quá trình thực hiện.

     Nội dung Kế hoạch nêu rõ trách nhiệm thực hiện, thời gian thực hiện các nội dung công việc như: tự kiểm tra các văn bản quy phạm pháp luật do UBND tỉnh, UBND cấp huyện và UBND cấp xã ban hành trong năm; kiểm tra theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật nhận được thuộc thẩm quyền kiểm tra của cơ quan tư pháp; xử lý hoặc tham mưu cấp có thẩm quyền xử lý các văn bản quy phạm pháp luật do địa phương ban hành có nội dung chưa phù hợp với quy định của pháp luật thông qua kiểm tra phát hiện hoặc khi nhận được thông báo kiểm tra văn bản của cơ quan có thẩm quyền; thực hiện rà soát thường xuyên các văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND các cấp ngay sau khi văn bản làm căn cứ pháp lý để rà soát được ban hành hoặc tình hình kinh tế - xã hội liên quan đến đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản có sự thay đổi làm cho nội dung của văn bản không còn phù hợp; …

Quyet dinh 286_KH.KTRSVB 2020.pdf

FalseTrần Thị Kim Yến
Tỉnh Bình Dương ban hành Quyết định bổ sung bổ sung đơn giá hoạt động quan trắc và phân tích môi trườngThông tinTinTỉnh Bình Dương ban hành Quyết định bổ sung bổ sung đơn giá hoạt động quan trắc và phân tích môi trường/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
2/1/2020 9:00 PMNoĐã ban hành

​     Nhằm xây dựng bổ sung đơn giá một số hoạt động quan trắc môi trường phù hợp với yêu cầu pháp lý và thực tiễn quản lý môi trường của tỉnh Bình Dương theo đúng với các quy định hiện hành của Nhà nước; tạo cơ sở pháp lý để áp dụng đơn giá quan trắc (bao gồm lấy mẫu, phân tích, vận hành) cho các chương trình quan trắc và phân tích môi trường có sử dụng nguồn vốn ngân sách và phí dịch vụ quan trắc môi trường đối với các nguồn ngoài ngân sách; ngày 16/01/2020, Ủy ban nhân dan tỉnh Bình Dương đã ban hành Quyết định số 01/2020/QĐ-UBND Bổ sung Điều 1 của Quyết định số 22/2018/QĐ-UBND ngày 20 tháng 8 năm 2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành quy định về đơn giá hoạt động quan trắc và phân tích môi trường trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

     Các đơn giá hoạt động quan trắc và phân tích môi trường được bổ sung gồm: đơn giá hoạt động quan trắc môi trường của trạm quan trắc môi trường không khí tự động, liên tục; đơn giá hoạt động giám sát các nguồn phát thải qua hệ thống camera và đơn giá hoạt động quan trắc và giám sát khí thải tự động.

     Đơn giá bổ sung được xây dựng trên cơ sở phù hợp với yêu cầu thực tiễn và đặc thù phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Bình Dương; tạo mặt bằng giá chung và phù hợp trong công tác quan trắc và phân tích môi trường, đáp ứng đúng nhu cầu thị trường.

     Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 02 năm 2020./.

     01-2020-QD.signed.pdf

FalseTrần Thị Kim Yến
Bình Dương ban hành giá dịch vụ xử lý nước thải sinh hoạtThông tinTinBình Dương ban hành giá dịch vụ xử lý nước thải sinh hoạt/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
1/18/2020 9:00 PMNoĐã ban hành

​     Ngày 31/12/2019, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương đã ban hành Quyết định số 47/2019/QD-UBND quy định giá dịch vụ xử lý nước thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Bình Dương

1f66245f67ed9fb3c6fc.jpg

(Ban Quản lý dự án chuyên ngành nước thải tỉnh Bình Dương)

     Quyết định được ban hành sẽ là cơ sở để triển khai thu giá dịch vụ xử lý nước thải sinh hoạt đối với hộ thoát nước đấu nối nước thải sinh hoạt vào hệ thống nước thải được đầu tư xây dựng từ nguồn vốn nhà nước, hệ thống thoát nước thải sinh hoạt được Ủy ban nhân dân tỉnh, cấp huyện nhận bàn giao theo Điểm b, Điểm c Khoản 1 Điều 10 Nghị định số 80/2014/NĐ-CP ngày 06/8/2014 của Chính phủ về thoát nước và xử lý nước thải; nhằm tạo nguồn ngân sách để bù đắp một phần chi phí quản lý vận hành các hệ thống xử lý nước thải đã đi vào hoạt động trên địa bàn tỉnh.

     Theo đó: Giá dịch vụ xử lý nước thải sinh hoạt = (Khối lượng nước thải) x (Đơn giá dịch vụ xử lý nước thải sinh hoạt)

        Trong đó:

        - Khối lượng nước thải sinh hoạt được xác định như sau: Đối với hộ thoát nước sử dụng nước sạch từ hệ thống cấp nước tập trung, khối lượng nước thải được xác định theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 39 Nghị định số 80/2014/NĐ-CP; đối với hộ thoát nước không sử dụng nước sạch từ hệ thống cấp nước tập trung, khối lượng nước thải được tính bình quân là 120 lít/người/ngày đối với phường, thị trấn và 80 lít/người/ngày đối với xã (áp dụng định mức khoán theo tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam TCXDVN 33:2006, Cấp nước - Mạng lưới đường ống và công trình - Tiêu chuẩn thiết kế được ban hành theo Quyết định số 06/2006/QĐ-BXD ngày 17 tháng 3 năm 2006 của Bộ Xây dựng) nhân (x) với số người trong hộ gia đình.

        - Đơn giá dịch vụ xử lý nước thải sinh hoạt: được áp dụng theo đơn giá dịch vụ xử lý nước thải sinh hoạt được Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương phê duyệt (có khấu hao tài sản và không khấu hao tài sản) tại thời điểm và theo từng hệ thống thoát nước thải được đầu tư xây dựng tại khu vực xác định trên địa bàn tỉnh.

     ​Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20/02/2020./.

47-2019-QD.signed.pdf

FalseTrần Thị Kim Yến
Quyết liệt chấm dứt tình trạng nợ đọng văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hànhThông tinTinQuyết liệt chấm dứt tình trạng nợ đọng văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
1/15/2020 10:00 AMNoĐã ban hành

Đây là đề nghị của Thứ trưởng Phan Chí Hiếu tại Hội nghị triển khai công tác của Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật (gọi tắt là Vụ Các vấn đề chung VXDPL) diễn ra ngày 14/01. Dự Hội nghị còn có đại diện tổ chức pháp chế một số Bộ, ngành; đại diện lãnh đạo một số đơn vị thuộc Bộ.
Thực hiện tốt nhiệm vụ trọng tâm công tác Tư pháp năm 2019
Năm 2019, xác định nhiệm vụ nghiên cứu, xây dựng dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật là một trong các nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp năm 2019 của Bộ, ngành Tư pháp, Vụ Các vấn đề chung VXDPL đã phối hợp với pháp chế của các Bộ, ngành, địa phương, các tổ chức cá nhân có liên quan thực hiện xây dựng dự án Luật bảo đảm chất lượng và tiến độ.
14.01.2020 vdcxdpl (5).jpg
Công tác lập và thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp luật và công tác thẩm định đề nghị, dự án, dự thảo văn bản tiếp tục được triển khai bài bản. Bên cạnh đó, việc theo dõi, đôn đốc công tác ban hành văn bản quy định chi tiết của các bộ, cơ quan ngang bộ được thực hiện rất sát sao. Vụ cũng đã kịp thời tham mưu ban hành các văn bản chỉ đạo, điều hành về kiểm soát TTHC. Cùng với đó, Vụ tiếp tục duy trì, tăng cường mối quan hệ phối hợp công tác thông qua triển khai thực hiện các hoạt động thường xuyên của Vụ; hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, chương trình đạo tạo bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ, chương trình phối hợp thực hiện công tác pháp luật giữa Bộ Tư pháp và các bộ, ngành, địa phương. Qua đó, góp phần củng cố, thắt chặt mối quan hệ phối hợp công tác, đề cao hiệu quả công việc và nâng cao vị trí, vai trò của Bộ, ngành Tư pháp.
Tiếp tục rà soát để hướng dẫn thực hiện Luật ban hành văn bản QPPL
Cùng với nhiều đại biểu đánh giá cao kết quả đạt được của Vụ, Cục trưởng Cục Kiểm tra VBQPPL Đồng Ngọc Ba quan niệm, công việc năm 2020 vẫn sẽ nhiều và khó nên cần thiết phải duy trì bền vững chất lượng công việc. Điều này đòi hỏi phải chú trọng cách thức triển khai công việc, huy động được trí tuệ tập thể, trí tuệ từ xã hội. 
Theo đồng chí Ngọc Ba, “Làm tốt khâu xây dựng thì hậu kiểm sẽ nhẹ nhàng”, ít hoặc không có sai sót, đồng thời đồng chí còn cho rằng, các đơn vị thuộc Bộ, các bộ, ngành phải phối hợp chặt chẽ trong quá trình xây dựng văn bản để ngăn chặn kịp thời hậu quả có thể xảy ra do việc sai sót.
14.01.2020 vdcxdpl (4).jpg
Để thực hiện tốt việc xây dựng văn bản QPPL, theo đồng chí Đinh Trung Tụng, nguyên Thứ trưởng Bộ Tư pháp, vẫn phải rà soát lại Luật ban hành văn bản QPPL năm 2015 để tiếp tục hướng dẫn. Nguyên Thứ trưởng chỉ ra rằng, trên thực tế, việc triển khai Luật ở nhiều bộ, ngành, địa phương vẫn còn lúng túng, nhất là trong xây dựng chính sách, phân tích chính sách và đánh giá tác động của chính sách. Đề cập đến vấn đề nợ đọng văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành, đồng chí Đinh Trung Tụng chia sẻ, trước đây, có thời điểm các bộ, ngành nợ đọng văn bản nhiều nhất là 120 văn bản. Những năm gần đây, tình trạng nợ đọng đã giảm đi rất nhiều, năm vừa qua chỉ còn 04 văn bản. Mặc dù tình trạng nợ đọng văn bản có giảm, nhưng vẫn chưa bền vững, do đó, trước mắt cần phải lập danh sách các bộ, ngành nợ đọng và có cảnh báo để biết và thực hiện. Cũng theo nguyên Thứ trưởng, việc phối hợp giữa các Bộ, ngành đã tốt nhưng vẫn tiếp tục phải đổi mới để hiệu quả phối hợp được tốt hơn.
Tăng tính chế tài trong giải pháp khắc phục tình trạng nợ đọng văn bản
Nói đến vai trò của Vụ Các vấn đề chung VXDPL, Thứ trưởng Phan Chí Hiếu nhấn mạnh, có thể gọi Vụ là “Bộ tổng tham mưu” thu nhỏ của Bộ Tư pháp về xây dựng pháp luật, giúp Bộ thực hiện việc quản lý nhà nước về công tác xây dựng pháp luật và pháp chế. Điểm lại các kết quả nổi bật trong năm 2019, Thứ trưởng đặc biệt khen ngợi công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và cách thức tổ chức thực hiện công việc của Vụ.
 14.01.2020 vdcxdpl (2).jpg
14.01.2020 vdcxdpl (3).jpg
Chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, Thứ trưởng nhấn mạnh, Vụ vẫn chưa đề xuất được biện pháp mạnh mang tính đột phá để chấm dứt tình nợ đọng văn bản. Bên cạnh đó, chất lượng hoàn thành một số nhiệm vụ được giao chưa được như mong muốn.
Trong năm 2020, Thứ trưởng đề nghị, Vụ tiếp tục phối hợp chỉnh lý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản QPPL năm 2015 và Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 34/2016/NĐ-CP; Tham mưu, đề xuất giải pháp mới để quyết liệt chấm dứt tình trạng nợ đọng văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành, trong đó chú ý đến việc tăng tính chế tài; Thứ trưởng cũng đề nghị Vụ tham mưu sâu về việc tăng cường năng lực cho cán bộ pháp chế các bộ, ngành; Ngoài ra, tiếp tục tăng cường phối kết hợp trong và ngoài Bộ trong đó chú ý đến đổi mới phương pháp phối hợp…

Nguồn: ​An Như – Trung tâm Thông tin (https://moj.gov.vn/)

FalseTrần Thị Kim Yến
Ban hành Quy chế quản lý, sử dụng kinh phí khuyến công trên địa bàn tỉnh Bình DươngThông tinTinBan hành Quy chế quản lý, sử dụng kinh phí khuyến công trên địa bàn tỉnh Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
1/3/2020 9:00 PMNoĐã ban hành

​     Nhằm cụ thể hóa các nội dung chi và mức chi một cách rõ ràng cho phù hợp với địa phương và áp dụng hỗ trợ thiết thực nhất đến các cơ sở công nghiệp nông thôn đang hoạt động sản xuất trên địa bàn tỉnh; hỗ trợ, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế đầu tư phát triển sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp một cách bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh; ngày 20/12/2019, Ủy ban nhân dân tỉnh đã có Quyết định số 40/2019/QĐ-UBND Ban hành           Quy chế về quản lý và sử dụng kinh phí khuyến công trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

Theo đó, việc sử dụng kinh phí khuyến công phải đảm bảo 03 nguyên tắc: (1). Kinh phí khuyến công cấp tỉnh bảo đảm chi cho những hoạt động khuyến công do Sở Công Thương quản lý và tổ chức thực hiện đối với hoạt động khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn có ý nghĩa trong tỉnh phù hợp với chiến lược, quy hoạch tỉnh; (2). Kinh phí khuyến công cấp huyện, cấp xã bảo đảm chi cho những hoạt động khuyến công do Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã quản lý và tổ chức thực hiện đối với hoạt động khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn có ý nghĩa trên địa bàn huyện, xã phù hợp với chiến lược, quy hoạch của địa phương; (3). Đề án, nhiệm vụ khuyến công thực hiện theo phương thức xét chọn theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã hoặc đấu thầu theo quy định hiện hành.

     Quyết định quy định mức chi cho các hoạt động khuyến công địa phương như: Chi hỗ trợ xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật; Chi hỗ trợ xây dựng mô hình thí điểm về áp dụng sản xuất sạch hơn trong công nghiệp cho các cơ sở sản xuất công nghiệp; Chi hỗ trợ ứng dụng máy móc thiết bị tiên tiến, chuyển giao công nghệ, tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; Chi hỗ trợ tổ chức, tham gia hội chợ triển lãm hàng công nghiệp nông thôn, hàng thủ công mỹ nghệ trong nước; Chi tổ chức, tham gia hội chợ triển lãm cho các cơ sở công nghiệp nông thôn tại nước ngoài; ….

     Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2020 và thay thế Quyết định số 36/2015/QĐ-UBND ngày 07 tháng 9 năm 2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương về việc ban hành Quy chế về quản lý và sử dụng kinh phí khuyến công trên địa bàn tỉnh Bình Dương./.

40-2019-QD.signed.pdf

FalseTrần Thị Kim Yến
Ban hành tiêu chuẩn, định mức xe ô tô chuyên dùng thuộc địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh Bình DươngThông tinTinBan hành tiêu chuẩn, định mức xe ô tô chuyên dùng thuộc địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
1/3/2020 8:00 PMNoĐã ban hành

​     Ngày 20/12/2019, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Quyết định số 42/2019/QĐ-UBND về việc ban hành tiêu chuẩn, định mức xe ô tô chuyên dùng thuộc địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Quyết định được ban hành nhằm tổ chức thực hiện quy định về trang bị xe ô tô chuyên dùng của Chính phủ tại Nghị định số 04/2019/NĐ-CP ngày 11 tháng 01 năm 2019 quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô, đồng thời đáp ứng yêu cầu thực tiễn của địa phương.

     Quyết định số 42/2019/QĐ-UBND quy định tiêu chuẩn, định mức xe ô tô chuyên dùng, gồm: xe ô tô có kết cấu đặc biệt (xe chở tiền, xe trang bị phòng thí nghiệm, xe cần cẩu,...); xe ô tô gắn thiết bị chuyên dùng hoặc xe ô tô được gắn biển hiệu nhận biết theo quy định của pháp luật (xe gắn thiết bị thu, phát vệ tinh, xe phát thanh truyền hình lưu động, xe thanh tra giao thông, xe phục vụ tang lễ,...);  xe ô tô tải; xe ô tô bán tải; xe ô tô trên 16 chỗ ngồi và được áp dụng đối với cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội được ngân sách nhà nước đảm bảo kinh phí hoạt động, đơn vị sự nghiệp công lập, ban quản lý dự án sử dụng vốn nhà nước và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan. Quyết định này không áp dụng đối với tiêu chuẩn, định mức xe ô tô chuyên dùng của đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an đóng trên địa bàn tỉnh; đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư; xe ô tô chuyên dùng trong lĩnh vực y tế; xe ô tô chuyên dùng khác phục vụ nhiệm vụ đặc thù.

     Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2020 và thay thế Quyết định số 2322/QĐ-UBND ngày 07 tháng 9 năm 2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh quy định định mức xe ô tô chuyên dùng trang bị cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị, Ban Quản lý dự án trên địa bàn tỉnh Bình Dương và Quyết định số 1891/QĐ-UBND ngày 17 tháng 7 năm 2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh về bổ sung định mức xe ô tô chuyên dùng./.

42-2019-QD.signed.pdf

FalseTrần Thị Kim Yến
Bình Dương áp dụng giá cụ thể sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi mới từ ngày 01/01/2020Thông tinTinBình Dương áp dụng giá cụ thể sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi mới từ ngày 01/01/2020/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
1/2/2020 8:00 PMNoĐã ban hành

     ​UBND tỉnh Bình Dương vừa ban hành Quyết định 44/2019/QĐ-UBND giá cụ thể sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi trên địa bàn tỉnh Bình Dương năm 2020. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2020 và thay thế Quyết định số 29/2013/QĐ-UBND ngày 04 tháng 10 năm 2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc quy định mức thu thủy lợi phí và tiền nước trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

     Quyết định áp dụng đối với doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, tổ chức hợp tác dùng nước có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, tổ chức, cá nhân đăng ký hoạt động hợp pháp có liên quan quản lý khai thác công trình thủy lợi (sau đây gọi tắt là đơn vị thủy nông), cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan   đến quản lý khai thác công trình thủy lợi; tổ chức, cá nhân sử dụng sản phẩm, dịch vụ thủy lợi trên địa bàn tỉnh.

     Quyết định 44/2019/QĐ-UBND đã quy định cụ thể giá sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi đối với đất trồng lúa, màu, mạ, cây công nghiệp ngắn ngày; giá cấp nước để chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và cấp nước tưới cho cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả, hoa và cây dược liệu; giá tiêu thoát nước khu vực nông thôn và đô thị (trừ vùng nội thị) với mức tăng so với Quyết định số 29/2013/QĐ-UBND ngày 04 tháng 10 năm 2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh./.

44-2019-QD.signed.pdf

FalseTrần Thị Kim Yến
Quy định Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 nhằm bảo đảm sự gắn kết giữa xây dựng pháp luật và thi hành pháp luậtThông tinBài viếtQuy định Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 nhằm bảo đảm sự gắn kết giữa xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
1/2/2020 3:00 PMNoĐã ban hành

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sau đây gọi tắt là Luật năm 2015) có hiệu lực từ ngày 01/7/2016. Kể từ ngày Luật có hiệu lực đến nay, sau hơn 03 năm thi hành trên thực tế thì không thể phủ nhận rằng đây là một đạo luật được xây dựng với tư duy đổi mới, trong đó chứa đựng nhiều quy định tiến bộ. Trong thời gian qua, cũng đã có rất nhiều diễn đàn, công trình nghiên cứu ở nhiều cấp độ khác nhau phân tích, đánh giá về những quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) năm 2015. Nhìn chung, nhiều ý kiến đánh giá cho rằng quy trình xây dựng, ban hành VBQPPL được quy định chặt chẽ, khoa học hơn so với trước đây chính là một trong những nguyên nhân quan trọng góp phần tạo ra những chuyển biến tích cực đối với chất lượng của các VBQPPL, qua đó cũng góp phần nâng cao hiệu quả thi hành các VBQPPL.

Vậy, câu hỏi đặt ra là: Với vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của mình (đó là tạo ra cơ sở pháp lý thống nhất cho hoạt động xây dựng, ban hành VBQPPL trong cả nước) thì Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 đã có những điều khoản, quy định nào để bảo đảm gắn kết giữa xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật?

Để trả lời cho câu hỏi đó, bài viết sẽ tập trung xác định và làm rõ những quy định của Luật năm 2015 đã trực tiếp hoặc gián tiếp thể hiện được tinh thần bảo đảm gắn kết giữa xây dựng pháp luật với thi hành pháp luật.

1. Sự cần thiết phải gắn kết giữa xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật

Thời gian qua, công tác xây dựng pháp luật đã góp phần quan trọng trong việc tạo ra môi trường pháp lý thông thoáng, bình đẳng để ổn định xã hội và phát triển kinh tế. Công tác xây dựng pháp luật được đẩy mạnh nhờ sự ra đời của các đạo luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Theo các Luật này, "xây dựng pháp luật" là một quy trình phức tạp, bao gồm nhiều hoạt động khác nhau của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, cũng như của các tổ chức, cá nhân có liên quan, từ việc phân tích, hoạch định chính sách đến soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, xem xét, thông qua và công khai văn bản.

Thi hành pháp luật trong khoa học pháp lý và thực tiễn xây dựng pháp luật ở Việt Nam được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Theo tài liệu giảng dạy tại một số cơ sở đào tạo pháp luật, thi hành pháp luật thường được xem là một trong 04 hình thức thực hiện pháp luật, bao gồm: tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật. Theo quan niệm này, thi hành pháp luật là việc chủ thể pháp luật chủ động thực hiện nghĩa vụ mà pháp luật quy định (ví dụ: công dân thực hiện nghĩa vụ quân sự, doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ đóng thuế...). Tuy nhiên, căn cứ thực tiễn công tác xây dựng pháp luật và các quy định của pháp luật hiện hành tại Việt Nam thì "thi hành pháp luật" được hiểu là những hoạt động nhằm đưa pháp luật vào cuộc sống, biến các quy phạm pháp luật trở thành hành vi xử sự của các chủ thể. Trong bài viết này, thi hành pháp luật được xem xét với góc độ là bước tiếp nối của hoạt động xây dựng pháp luật và có mối quan hệ mật thiết với hoạt động xây dựng pháp luật. Thực tiễn đã chứng minh, việc ban hành một văn bản tốt, có chất lượng sẽ là tiền đề quan trọng bảo đảm tính hiệu lực, hiệu quả trong quá trình thi hành văn bản đó. Ngược lại, nếu trong quá trình xây dựng pháp luật mà không xem xét, đánh giá đầy đủ các điều kiện bảo đảm cho quá trình thi hành pháp luật thì sẽ cho ra đời những văn bản quy phạm pháp luật thiếu tính khả thi, không phù hợp với thực tiễn và chỉ là những văn bản quy phạm pháp luật tồn tại "trên giấy". Do vậy, việc gắn kết giữa xây dựng pháp luật với thi hành pháp luật là rất cần thiết và đặc biệt quan trọng nhằm khắc phục khuynh hướng tách biệt giữa hai hoạt động này, coi kết quả của xây dựng pháp luật chỉ là các quy định pháp luật đơn thuần mà không tính đến hoặc không xem xét đầy đủ những đòi hỏi của thực tiễn thi hành pháp luật. Trong giai đoạn hệ thống pháp luật ở nước ta đã tương đối hoàn thiện như hiện nay, thi hành pháp luật cần phải được coi là khâu trung tâm, thực hiện vai trò "kiểm định chất lượng" đối với các văn bản quy phạm pháp luật. Thể chế hóa Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 về chủ trương tiếp tục nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật và xác lập cơ chế bảo đảm luật được thi hành ngay khi có hiệu lực, Luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sau đây gọi tắt là Nghị định số 34/2016/NĐ-CP) đã kế thừa nhiều quy định trước đây và bổ sung nhiều quy định mới nhằm gắn kết giữa xây dựng pháp luật với thi hành pháp luật ngay trong quy trình xây dựng, ban hành VBQPPL. Những quy định này được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau như: các nguyên tắc, quy định chung trong xây dựng pháp luật để bảo đảm gắn kết với thi hành pháp luật; các quy định cụ thể về trách nhiệm bảo đảm gắn kết với thi hành pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong suốt quy trình xây dựng, ban hành VBQPPL và một số quy định gián tiếp khác.

2. Những quy định của pháp luật hiện hành về ban hành VBQPPL nhằm bảo đảm gắn kết giữa xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật

2.1. Những quy định mang tính nguyên tắc

Đây là những quy định mang tính định hướng chung cho hoạt động xây dựng pháp luật nhằm ban hành ra những VBQPPL có chất lượng tốt nhất, đáp ứng yêu cầu thực tiễn và nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Tinh thần này được thể hiện cụ thể tại các điều, khoản sau đây:

Thứ nhất, về nguyên tắc xây dựng, ban hành VBQPPL (Điều 5 Luật năm 2015): kế thừa quy định của Luật Ban hành VBQPPL năm 2008 về nguyên tắc bảo đảm tính minh bạch, khả thi của VBQPPL, Luật năm 2015 bổ sung yêu cầu về tính tiết kiệm, hiệu quả, kịp thời, dễ tiếp cận, dễ thực hiện của văn bản. Theo đó, khoản 3 và khoản 4 Điều này quy định: "3. Bảo đảm tính minh bạch trong quy định của VBQPPL"  "4. Bảo đảm tính khả thi, tiết kiệm, hiệu quả, kịp thời, dễ tiếp cận, dễ thực hiện của VBQPPL".

Thứ hai, về ngôn ngữ, kỹ thuật soạn thảo VBQPPL (Điều 8 Luật năm 2015): khoản 1 và khoản 2 Điều này quy định: "1. Ngôn ngữ trong VBQPPL là tiếng Việt. Ngôn ngữ sử dụng trong VBQPPL phải chính xác, phổ thông, cách diễn đạt phải rõ ràng, dễ hiểu."  "2. VBQPPL phải quy định cụ thể nội dung cần điều chỉnh, không quy định chung chung, không quy định lại các nội dung đã được quy định trong VBQPPL khác."
Theo các nguyên tắc này, khi xây dựng pháp luật, nhà làm luật phải luôn chú ý để làm sao các quy định của pháp luật sau khi ban hành có khả năng thi hành trên thực tế, tránh tình trạng văn bản được ban hành chứa đựng những quy định khó hiểu, khó thi hành.

2.2. Những quy định cụ thể

Theo quy định của Luật năm 2015 thì quy trình xây dựng, ban hành VBQPPL gồm 06 giai đoạn chính sau đây:

(1) Đề nghị xây dựng văn bản;

(2) Soạn thảo VBQPPL;

(3) Lấy ý kiến dự án, dự thảo VBQPPL;

(4) Thẩm định, thẩm tra dự án, dự thảo VBQPPL;

 (5) Thảo luận, xem xét thông qua hoặc ký ban hành dự án, dự thảo VBQPPL;

(6) Công khai VBQPPL.

Trong từng giai đoạn của quá trình xây dựng, ban hành VBQPPL và tại nhiều điều, khoản cụ thể của Luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP, việc bảo đảm gắn kết giữa xây dựng pháp luật với thi hành pháp luật được xem là một trong những nhiệm vụ quan trọng của các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng, ban hành VBQPPL, đặc biệt là các cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội đề nghị xây dựng VBQPPL; cơ quan, người có thẩm quyền trong việc soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, xem xét, thông qua dự án, dự thảo VBQPPL. Cụ thể như sau:

2.2.1. Trong giai đoạn lập đề nghị xây dựng VBQPPL

Chủ thể lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị định của Chính phủ, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc thi hành luật, pháp lệnh, nghị định, nghị quyết sau khi được Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân thông qua.
Để làm được điều này, chủ thể lập đề nghị phải đánh giá tác động của các chính sách trong đề nghị. Cùng với việc tổng kết việc thi hành pháp luật, quá trình đánh giá tác động của chính sách trong đề nghị giúp cơ quan lập đề nghị có cái nhìn tổng thể, toàn diện về vấn đề sẽ được giải quyết trong văn bản; dự kiến được chi phí để thực thi văn bản và ước tính được những lợi ích quan trọng mà văn bản mang lại. Do vậy, việc đánh giá tác động sẽ giúp giảm chi phí thực thi chính sách, pháp luật thông qua việc giảm những chính sách không cần thiết, kém chất lượng, đồng thời góp phần thi hành chính sách có hiệu quả hơn. Kết quả của hoạt động này sẽ giúp chủ thể lập đề nghị xác định chính xác nguồn lực và điều kiện bảo đảm cho việc thi hành văn bản sau khi văn bản được ban hành.

2.2.2. Trong giai đoạn soạn thảo VBQPPL

Trong giai đoạn này, tinh thần xây dựng pháp luật phải bảo đảm gắn kết với thi hành pháp luật được lồng ghép vào nội dung các điều luật và được thể hiện thông qua một quy trình soạn thảo chặt chẽ, khoa học với sự tham gia của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân, các chuyên gia, nhà khoa học, qua đó phát huy tối đa trí tuệ tập thể nhằm đánh giá, góp ý, phản biện một cách đa chiều đối với nội dung của dự án, dự thảo văn bản.

Đặc biệt, để bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật, Điều 11 Luật năm 2015 về văn bản quy định chi tiết quy định: "Dự thảo văn bản quy định chi tiết phải được chuẩn bị và trình đồng thời với dự án luật, pháp lệnh và phải được ban hành để có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của văn bản hoặc điều, khoản, điểm được quy định chi tiết". Theo quy định này, việc soạn thảo, ban hành văn bản quy định chi tiết phải được tiến hành đồng thời với các VBQPPL được quy định chi tiết để khi các văn bản này có hiệu lực thì các văn bản quy định chi tiết cũng được thực hiện ngay, tránh tình trạng một số văn bản đã có hiệu lực pháp luật nhưng lại không thể thi hành được vì thiếu quy định chi tiết, cụ thể.

2.2.3. Đối với hoạt động thẩm định, thẩm tra đề nghị xây dựng VBQPPL và dự án, dự thảo VBQPPL

a) Thẩm định đề nghị xây dựng VBQPPL: theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 39 và điểm c khoản 3 Điều 88 của Luật năm 2015, cơ quan thẩm định có trách nhiệm đánh giá và phát biểu ý kiến thẩm định về tính khả thi, tính dự báo của nội dung chính sách, các giải pháp và điều kiện bảo đảm thực hiện chính sách trong đề nghị xây dựng văn bản. Với nội dung này, cơ quan thẩm định cần đánh giá: (i) sự phù hợp giữa nội dung chính sách trong đề nghị xây dựng văn bản với điều kiện kinh tế - xã hội; (ii) sự phù hợp của các chính sách trong đề nghị xây dựng văn bản với điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp, đời sống của người dân; (iii) sự phù hợp giữa chính sách trong đề nghị xây dựng văn bản với chủ trương cải cách hành chính; (iv) sự phù hợp của các chính sách trong đề nghị xây dựng văn bản với trình độ quản lý, trình độ dân trí; (v) sự phù hợp của các chính sách trong đề nghị xây dựng văn bản với xu hướng phát triển chung của quốc tế; (vi) sự toàn diện của các giải pháp thực hiện chính sách trong đề nghị xây dựng văn bản so với yêu cầu giải quyết vấn đề; (vii) đánh giá tính dự báo của các chính sách khi thực hiện trên thực tế.
b) Thẩm định dự án, dự thảo VBQPPL: theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 58, điểm d khoản 3 Điều 92, điểm đ khoản 3 Điều 98, điểm đ khoản 3 Điều 102... cơ quan, đơn vị chủ trì thẩm định có trách nhiệm đánh giá điều kiện bảo đảm về nguồn nhân lực, tài chính để bảo đảm thi hành VBQPPL. Khi thẩm định về điều kiện bảo đảm về nguồn nhân lực, tài chính để bảo đảm thi hành VBQPPL, báo cáo thẩm định cần nêu rõ các ý kiến đánh giá theo các nội dung sau: (i) đánh giá về nguồn lực tài chính cho việc tổ chức thực hiện văn bản (chi phí cho công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, phổ biến pháp luật; chi phí mà tổ chức, cá nhân và các đối tượng áp dụng của văn bản bỏ ra khi thực hiện văn bản; chi phí cho việc xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ việc tổ chức thực hiện văn bản; chi phí cho việc thay đổi tổ chức, bộ máy, nhân sự của các cơ quan hiện hành; các chi phí khác có liên quan đến việc tổ chức thực hiện văn bản); (ii) đánh giá về dự kiến nguồn nhân lực cho việc tổ chức thực hiện văn bản (việc thay đổi, sắp xếp lại tổ chức bộ máy, nhân sự để thực hiện văn bản; phương thức xử lý đối với đội ngũ cán bộ, công chức dư thừa khi có sự tinh giảm bộ máy hoặc biện pháp bổ sung đội ngũ cán bộ, công chức khi có phát sinh bộ máy mới để thực hiện văn bản).

c) Thẩm tra dự án, dự thảo VBQPPL: theo quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 68 của Luật năm 2015 thì cơ quan chủ trì thẩm tra có trách nhiệm đánh giá (i) tính khả thi của các quy định trong dự thảo văn bản; và (ii) điều kiện bảo đảm về nguồn nhân lực, tài chính để bảo đảm thi hành VBQPPL.

2.2.4. Về việc lấy ý kiến đối với đề nghị xây dựng VBQPPL và dự án, dự thảo VBQPPL
Để có được những VBQPPL sát thực tế, có tính khả thi, cơ quan xây dựng, ban hành văn bản cần nắm bắt đầy đủ, đúng đắn tâm lý, nguyện vọng của đối tượng điều chỉnh mà văn bản hướng tới. Ý kiến góp ý của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, nhất là của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản trong quá trình xây dựng văn bản có tác dụng phát hiện những thiếu sót, bất cập, hạn chế, khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thi hành pháp luật, giúp cho cơ quan nhà nước có biện pháp sửa đổi, bổ sung và điều chỉnh kịp thời. Xuất phát từ lý do nêu trên, Luật năm 2015 bổ sung nhiều quy định nhằm tăng cường tính công khai, minh bạch trong quá trình xây dựng pháp luật ngay từ giai đoạn đề xuất chính sách và có cơ chế để bảo đảm huy động tốt hơn sự tham gia của người dân, doanh nghiệp trong quá trình xây dựng VBQPPL. Với các quy định này, Luật năm 2015 đã thể hiện rõ tinh thần việc ban hành pháp luật là dành cho đối tượng áp dụng nên các đối tượng này cần được biết và có quyền tham gia góp ý kiến đối với chính sách trong đề nghị cũng như các quy định trong dự án, dự thảo VBQPPL.

(1) Trách nhiệm của cơ quan tổ chức lấy ý kiến:

- Đăng tải công khai hồ sơ đề nghị, dự án, dự thảo văn bản trên Cổng thông tin điện tử của các cơ quan, tổ chức lập đề nghị, cơ quan trình, cơ quan chủ trì soạn thảo;
- Tổ chức lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của các chính sách trong đề nghị và của VBQPPL; nội dung lấy ý kiến phải phù hợp với đối tượng được lấy ý kiến;

- Gửi hồ sơ đề nghị xây dựng VBQPPL, hồ sơ dự án, dự thảo văn bản đến Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp; hồ sơ đề nghị xây dựng VBQPPL, hồ sơ dự án, dự thảo văn bản liên quan đến quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp đến Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam để lấy ý kiến;

- Tổng hợp, nghiên cứu, tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý; phản hồi đầy đủ ý kiến góp ý thông qua việc đăng tải công khai nội dung giải trình, tiếp thu ý kiến trên Cổng thông tin điện tử của cơ quan lập đề nghị, cơ quan trình, cơ quan chủ trì soạn thảo.
(2) Trách nhiệm và sự tham gia của các cơ quan, tổ chức, cá nhân:
 Cùng với việc quy định trách nhiệm của cơ quan tổ chức lấy ý kiến, Luật năm 2015 bổ sung một số quy định nhằm xác định rõ hơn vai trò, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong khi tham gia góp ý xây dựng pháp luật. Theo đó, khoản 3 Điều 7 quy định: "Cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền được đề nghị tham gia góp ý kiến về đề nghị xây dựng VBQPPL, dự thảo VBQPPL chịu trách nhiệm về nội dung và thời hạn tham gia góp ý kiến".

Đặc biệt, khoản 2 Điều 36 Luật năm 2015 bổ sung trách nhiệm của 04 bộ là Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp trong việc đánh giá về nguồn tài chính, nguồn nhân lực, sự tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, về tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị định với hệ thống pháp luật.
2.2.5. Quy định về hiệu lực của VBQPPL, công bố, công khai VBQPPL
Thứ nhất, về hiệu lực của VBQPPL, theo quy định của Luật năm 2015, thời điểm bắt đầu có hiệu lực của VBQPPL được xác định như sau: "Thời điểm có hiệu lực của toàn bộ hoặc một phần VBQPPL được quy định tại văn bản đó nhưng không sớm hơn 45 ngày kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành đối với VBQPPL của cơ quan nhà nước trung ương; không sớm hơn 10 ngày kể từ ngày ký ban hành đối với VBQPPL của Hội đồng nhân dân; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; không sớm hơn 07 ngày kể từ ngày ký ban hành đối với VBQPPL của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã" (trừ trường hợp văn bản được ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn có thể quy định hiệu lực ngay kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành). Việc quy định VBQPPL có hiệu lực sau một khoảng thời gian ban hành như trên nhằm mục đích bảo đảm có thời gian cho quá trình chuẩn bị tốt các điều kiện để tổ chức thi hành văn bản cũng như thông tin đến mọi đối tượng có liên quan đến việc thi hành văn bản đó. Trong khoảng thời gian này, để bảo đảm minh bạch hóa, công khai hóa VBQPPL, các cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật năm 2015 thực hiện việc công bố, đăng Công báo và niêm yết VBQPPL.
2.2.6. Quy định nhằm bảo đảm điều kiện cần thiết cho công tác xây dựng, ban hành VBQPPL
Với việc bổ sung nhiều quy định mới trong hoạt động lập pháp, lập quy ở nước ta, từ việc xác định lại hệ thống các VBQPPL đến việc đổi mới cơ bản quy trình xây dựng, ban hành VBQPPL, Luật năm 2015 được ban hành với mục tiêu tạo cơ sở pháp lý để xây dựng một hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, minh bạch, khả thi, dễ tiếp cận, hiệu lực và hiệu quả, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển đất nước. Để hiện thực hóa mục tiêu nêu trên, đồng thời bảo đảm thực hiện nghiêm và có hiệu quả các quy định của Luật nói chung và các quy định nhằm bảo đảm gắn kết giữa xây dựng pháp luật với thi hành pháp luật nói riêng, Luật năm 2015 dành 1 điều (Điều 171) quy định về bảo đảm nguồn lực xây dựng, ban hành VBQPPL. Việc quy định về 03 điều kiện cần thiết nhất nhằm phục vụ cho hoạt động xây dựng pháp luật và việc khẳng định trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm các điều kiện này thể hiện một tư duy đổi mới về lập pháp và nhận thức sâu sắc hơn của Chính phủ của Quốc hội về vai trò của pháp luật trong quản lý xã hội theo nguyên tắc pháp quyền. Điều 171 Luật năm 2015 quy định: "Nhà nước có chính sách thu hút, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ, công chức tham gia xây dựng, ban hành VBQPPL phù hợp đối với yêu cầu, nhiệm vụ quy định tại Luật này; hiện đại hóa phương tiện, hạ tầng kỹ thuật; bảo đảm kinh phí cho hoạt động xây dựng chính sách, soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, chỉnh lý, hoàn thiện và ban hành VBQPPL.".
Căn cứ quy định của Luật năm 2015, Nghị định số 34/2016/NĐ-CP đã đưa ra các quy định cụ thể về bảo đảm nguồn lực cho hoạt động xây dựng, ban hành VBQPPL tại Chương X (từ Điều 172 đến Điều 182), trong đó quy định chi tiết về: (1) Bảo đảm nguồn nhân lực (bố trí, sử dụng cán bộ, công chức tham gia xây dựng VBQPPL và hoàn thiện hệ thống pháp luật; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức tham gia xây dựng VBQPPL và hoàn thiện hệ thống pháp luật; sử dụng chuyên gia và cộng tác viên kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản); (2) Bảo đảm cơ sở, vật chất, kỹ thuật (trách nhiệm hiện đại hóa phương tiện, hạ tầng kỹ thuật; cơ sở dữ liệu phục vụ công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa VBQPPL); (3) Bảo đảm kinh phí (nguồn kinh phí; nguyên tắc bảo đảm kinh phí; hoạt động xây dựng VBQPPL và hoàn thiện hệ thống pháp luật được ngân sách cấp kinh phí; lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí).

2.2.7. Bổ sung quy định về trách nhiệm tổ chức thi hành VBQPPL
Với quan niệm thi hành pháp luật là bước tiếp nối của hoạt động xây dựng pháp luật thì tổ chức thi hành VBQPPL được xem như "gạch nối" quan trọng để gắn kết xây dựng pháp luật với thi hành pháp luật, bảo đảm văn bản sau khi được ban hành sẽ sớm đi vào cuộc sống và và phát huy hiệu quả trong thực tế đời sống xã hội. Vì vậy, Nghị định số 34/2016/NĐ-CP đã dành 1 điều (Điều 183) để quy định về trách nhiệm tổ chức thi hành VBQPPL. Theo đó, Điều này liệt kê cụ thể, chi tiết các hoạt động mà các cơ quan có thẩm quyền phải thực hiện sau khi văn bản được ban hành, bao gồm: (1) xây dựng kế hoạch tổ chức thi hành văn bản; (2) tổ chức thực hiện chính sách, biện pháp trong văn bản; (3) Phổ biến, tập huấn văn bản; (4) ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành; (5) tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức; (6) bảo đảm cơ sở vật chất, kinh phí, tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực để triển khai thi hành văn bản; (7) theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thi hành văn bản; (8) sơ kết, tổng kết việc thi hành văn bản; (9) báo cáo việc tổ chức triển khai thi hành và kiến nghị, xử lý vướng mắc trong việc tổ chức thi hành văn bản.
3. Đánh giá và một số đề xuất, kiến nghị

3.1. Đánh giá chung:

Sau 03 năm thi hành Luật năm 2015, theo đánh giá của Bộ Tư pháp, các quy định của Luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP nói chung, cũng như các quy định nhằm bảo đảm gắn kết giữa xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật nói riêng đã được các bộ, ngành, địa phương tuân thủ và thực hiện tương đối nghiêm túc. Chính vì vậy, chất lượng văn bản ngày càng được nâng cao, bảo đảm tính khả thi, dễ tiếp cận, dễ thực hiện và cơ bản đáp ứng được những đòi hỏi từ thực tiễn.
Tuy vậy, cũng phải thẳng thắn thừa nhận rằng, nhiều quy định mới, tiến bộ trong đó có những quy định nhằm bảo đảm gắn kết giữa xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật chưa được phát huy hết hiệu quả và giá trị thực tiễn như việc xác định nguồn lực, điều kiện bảo đảm thi hành văn bản ngay trong giai đoạn xây dựng văn bản; việc thẩm định về tính khả thi và nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc thi hành văn bản sau khi được ban hành; việc lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp và cơ chế thu hút sự tham gia góp ý kiến của người dân, doanh nghiệp... Cụ thể như sau:
Một là, hoạt động tổng kết thi hành pháp luật và đánh giá tác động của chính sách chưa được quan tâm đúng mức, thậm chí chỉ mang tính hình thức, đối phó để đáp ứng yêu cầu về hồ sơ, thủ tục. Do vậy, nhiều chính sách chưa được đánh giá đầy đủ các khía cạnh kinh tế, xã hội, thủ tục hành chính, giới và hệ thống pháp luật; nội dung đánh giá tác động còn thiếu số liệu cụ thể, chủ yếu sử dụng phương pháp định tính. Điều này dẫn đến việc khó có thể dự kiến chính xác nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc thi hành văn bản.

Hai là, việc bảo đảm tính minh bạch trong quá trình xây dựng pháp luật còn nhiều hạn chế. Do vậy, không ít văn bản được soạn thảo mang tính cục bộ, nghiêng về việc bảo đảm lợi ích của bộ, ngành mình, gây nhiều phản ứng sau khi văn bản được ban hành và ảnh hưởng đến hiệu quả thi hành văn bản.

Ba là, nhiều báo cáo thẩm định, thẩm tra cũng chưa đánh giá được chi tiết về sự cần thiết, tính hợp lý của nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc thi hành pháp luật. Cùng với nguyên nhân là do năng lực của người làm công tác thẩm định thì một nguyên nhân quan trọng khác dẫn đến thực trạng nêu trên là do thông tin, dữ liệu đầu vào (hồ sơ gửi thẩm định) mà các cơ quan chủ trì lập đề nghị, soạn thảo cung cấp chưa đầy đủ, thông tin còn chung chung, chưa cụ thể, rõ ràng.

Bốn là, nguồn kinh phí cho công tác xây dựng pháp luật vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, vì vậy chưa tạo được động lực thu hút các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý tham gia nghiên cứu, đóng góp ý kiến; đồng thời chưa tạo được cơ chế phản biện khoa học, đánh giá khách quan trong quá trình xây dựng, ban hành VBQPPL.
3.2. Một số đề xuất, kiến nghị

Thứ nhất, cần tiếp tục đổi mới tư duy trong xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật để thấy được mối quan hệ biện chứng giữa xây dựng và thi hành pháp luật, từ đó thiết lập được sự liên thông trong xây dựng pháp luật, thi hành pháp luật, tránh tình trạng khép kín, thuần túy dựa vào sức mạnh cưỡng chế của nhà nước để thi hành văn bản.
Thứ hai, nghiên cứu, tiếp tục hoàn thiện thể chế về ban hành VBQPPL vì đây là cơ sở pháp lý quan trọng nhất của công tác xây dựng pháp luật. Theo đó cần tập trung vào một số nội dung sau đây:

(1) Nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật năm 2015 nhằm tăng cường kiểm soát chất lượng của VBQPPL, bao gồm cả cơ chế kiểm soát trước khi ban hành (thẩm định, thẩm tra, giám sát, phản biện xã hội…) và sau khi ban hành VBQPPL (kiểm tra, xử lý VBQPPL…);

(2) Quy định cụ thể trách nhiệm, chế tài đối với những hành vi thiếu trách nhiệm của cán bộ, công chức tham gia xây dựng pháp luật có liên quan đến việc ban hành các VBQPPL thiếu tính khả thi, xa rời thực tiễn. Trên cơ sở đó, nghiên cứu bổ sung các quy định để làm rõ hơn cơ chế ràng buộc trách nhiệm và kiểm soát lẫn nhau trong "từng khâu" của quy trình xây dựng, ban hành VBQPPL. Để làm được điều này, 03 vấn đề về "thẩm quyền" - "trách nhiệm" - "hình thức xử lý khi không thực hiện đúng thẩm quyền" cần được bảo đảm quy định một cách cụ thể, đồng bộ, thống nhất.
Thứ ba, về tổ chức thi hành, trong thời gian tới, để tiếp tục tăng cường hơn nữa sự gắn kết giữa xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật, qua đó góp phần nâng cao chất lượng của VBQPPL, các cơ quan, tổ chức, cá nhân cần tiếp tục thực hiện tốt một số nội dung sau đây:

(1) Tiếp tục thực hiện nghiêm quy định của Luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP trong việc tổng kết thực tiễn, đánh giá tác động của chính sách trong đề nghị xây dựng VBQPPL; lấy ý kiến của người dân, doanh nghiệp đối với đề nghị, dự án, dự thảo VBQPPL thông qua việc truyền thông, công khai rộng rãi dự án, dự thảo VBQPPL trên các phương tiện thông tin đại chúng như Internet, báo, đài, truyền hình…; tích cực tiếp nhận và nghiêm túc tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý của người dân, doanh nghiệp và các bộ, ngành, địa phương;

(2) Chú trọng nâng cao chất lượng hoạt động thẩm định, thẩm tra, kiểm tra, đôn đốc việc soạn thảo VBQPPL, qua đó đánh giá đúng tác động của dự án, dự thảo VBQPPL tới thực tiễn cuộc sống, bằng cách tiếp thu ý kiến đóng góp; đi sâu, đi sát vào thực tiễn cuộc sống xã hội…;

(3) Tăng cường hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ thực hiện nhiệm vụ soạn thảo, thẩm định, kiểm tra, ban hành VBQPPL.

                                                                                                                                                                                                                                                            T.V.Đ

Nguồn: http://xdpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/Nghien-cuu-trao-%C4%91oi.aspx?ItemID=48​​

FalsePhòng XD&KTVB
Những văn bản quy phạm pháp luật do HĐND, UBND tỉnh Bình Dương ban hành hết hiệu lực từ ngày 01/01/2020Thông tinTinNhững văn bản quy phạm pháp luật do HĐND, UBND tỉnh Bình Dương ban hành hết hiệu lực từ ngày 01/01/2020/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/31/2019 4:00 PMNoĐã ban hành

​Những văn bản quy phạm pháp luật do HĐND, UBND tỉnh Bình Dương ban hành hết hiệu lực từ ngày 01/01/2020​:

*Nghị quyết của HĐND tỉnh:

- Nghị quyết số 22/2009/NQ-HĐND7 ngày 24/7/2009 của Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Dương về chế độ hỗ trợ đối với cán bộ, viên chức làm việc tại các cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở cai nghiện và sau cai nghiện ma túy;

- Nghị quyết số 23/2009/NQ-HĐND7 ngày 24/7/2009 của Hội đồng nhân dân tỉnh về chế độ hỗ trợ đối với diễn viên, huấn luyện viên, vận động viên ngành văn hoá, thể thao và du lịch;

- Nghị quyết số 41/2009/NQ-HĐND7 ngày 16/12/2009 của Hội đồng nhân dân tỉnh về việc hỗ trợ đối với công chức cấp xã có trình độ sơ cấp chuyên môn; thực hiện chế độ phụ cấp, hỗ trợ những người hoạt động không chuyên trách cấp xã và cán bộ ấp, khu phố; quy định chức danh những người hoạt động không chuyên trách cấp xã trên địa bàn tỉnh Bình Dương;

- Quyết định số 69/2009/QĐ-UBND ngày 28/9/2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc ban hành quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tài chính tỉnh Bình Dương;

- Quyết định số 77/2009/QĐ-UBND ngày 08/12/2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Chi cục Tài chính doanh nghiệp tỉnh Bình Dương;

- Quyết định số 31/2010/QĐ-UBND ngày 06/9/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành quy định chế độ chi tiêu đón tiếp khách nước ngoài vào làm việc tại tỉnh Bình Dương, chi tiêu tổ chức các hội nghị, hội thảo quốc tế tại tỉnh Bình Dương và chi tiêu tiếp khách trong nước;

- Nghị quyết số 59/2011/NQ-HĐND8 ngày 09/12/2011 của Hội đồng nhân dân tỉnh về việc sửa đổi quy định chế độ hỗ trợ đối với công chức cấp xã có trình độ sơ cấp chuyên môn, những người hoạt động không chuyên trách cấp xã, cán bộ ấp, khu phố; bổ sung chức danh những người hoạt động không chuyên trách cấp xã và sửa đổi kinh phí hoạt động của ấp, khu phố trên địa bàn tỉnh Bình Dương;

- Nghị quyết số 62/2011/NQ-HĐND8 ngày 09/12/2011 của Hội đồng nhân dân tỉnh về việc hỗ trợ khen thưởng cho tập thể, cá nhân của tỉnh Bình Dương đạt thành tích xuất sắc trong các hoạt động văn hóa, nghệ thuật và thi đấu thể dục, thể thao;

- Nghị quyết số 41/2012/NQ-HĐND8 ngày 10/12/2012 của Hội đồng nhân dân tỉnh về chế độ hỗ trợ tiền công cho vận động viên thể thao của tỉnh trong thời gian tập trung đội tuyển quốc gia, tiền công tập luyện hàng ngày cho vận động viên thể thao của tỉnh;

- Nghị quyết số 42/2012/NQ-HĐND8 ngày 10/12/2012 của Hội đồng nhân dân tỉnh Quy định chế độ chi tiêu tài chính đối với các giải thi đấu thể thao trên địa bàn tỉnh Bình Dương;

- Nghị quyết số 62/2016/NQ-HĐND9 ngày 16/12/2016 của Hội đồng nhân dân tỉnh về việc quy định mức chi cho các hoạt động văn hóa, thể thao trên địa bàn tỉnh Bình Dương;

*Quyết định của UBND tỉnh:

- Quyết định số 48/2011/QĐ-UBND ngày 17/11/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh về sửa đổi, bổ sung Quyết định số 77/2009/QĐ-UBND ngày 08/12/2009 của UBND tỉnh Bình Dương ban hành quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Chi cục Tài chính doanh nghiệp tỉnh Bình Dương;

- Quyết định số 10/2012/QĐ-UBND ngày 30/3/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc sửa đổi quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tài chính tỉnh Bình Dương kèm theo Quyết định 69/2009/QĐ-UBND;

- Quyết định số 36/2012/QĐ-UBND ngày 28/8/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quy định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của Sở Ngoại vụ tỉnh Bình Dương;

- Quyết định số 29/2013/QĐ-UBND ngày 04 /10/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc quy định mức thu thủy lợi phí và tiền nước trên địa bàn tỉnh Bình Dương;

- Quyết định số 08/2014/QĐ-UBND ngày 25/3/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quy chế quản lý nhà nước về thông tin đối ngoại trên địa bàn tỉnh Bình Dương;

- Quyết định số 29/2014/QĐ-UBND ngày 25/7/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quy định về quản lý vật liệu nổ công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương;

- Quyết định số 36/2015/QĐ-UBND ngày 07/9/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quy chế quản lý và sử dụng kinh phí khuyến công trên địa bàn tỉnh Bình Dương;

- Quyết định số 25/2015/QĐ-UBND ngày 22/7/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh về Quy định về Đơn giá bồi thường, hỗ trợ tài sản trên đất khi Nhà nước thu hồi trên địa bàn tỉnh Bình Dương;

- Quyết định số 03/2018/QĐ-UBND ngày 09/02/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về đơn giá bồi thường, hỗ trợ tài sản trên đất khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Bình Dương ban hành kèm theo Quyết định số 25/2015/QĐ-UBND ngày 22 tháng 7 năm 2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương;

- Quyết định số 32/2018/QĐ-UBND ngày 20/12/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành quy định Bảng giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Bình Dương;

- Quyết định số 33/2018/QĐ-UBND ngày 20/12/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc Quy định hệ số điều chỉnh giá đất (K) năm 2019 trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

- Quyết định số 45/2009/QĐ-UBND ngày 29/6/2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quy chế quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ cấp cơ sở trên địa bàn tỉnh Bình Dương;

- Quyết định số 15/2015/QĐ-UBND ngày 27/4/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh về quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh trên địa bàn tỉnh Bình Dương;

- Quyết định số 17/2015/QĐ-UBND ngày 12/5/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh quy định tuyển chọn, giao trực tiếp tổ chức và cá nhân thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh sử dụng ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Bình Dương;

- Quyết định số 38/2015/QĐ-UBND ngày 15/9/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh quy định trình tự, thủ tục xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh sử dụng ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Bình Dương;

- Quyết định số 39/2015/QĐ-UBND ngày 15/9/2015 quy định đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh sử dụng ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Bình Dương;

- Quyết định số 50/2016/QĐ-UBND ngày 20/12/2016 quy định kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh và chấm dứt hợp đồng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh sử dụng ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

FalseTrần Thị Kim Yến
Những văn bản quy phạm pháp luật do HĐND, UBND tỉnh Bình Dương ban hành có hiệu lực từ ngày 01/01/2020Thông tinTinNhững văn bản quy phạm pháp luật do HĐND, UBND tỉnh Bình Dương ban hành có hiệu lực từ ngày 01/01/2020/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/31/2019 11:00 AMNoĐã ban hành
Danh mục văn bản quy phạm pháp luật do HĐND, UBND tỉnh Bình Dương ban hành có hiệu lực từ ngày 01/01/2020:

1. Nghị quyết của HĐND tỉnh:

​- Nghị quyết số 15/2019/NQ-HĐND ngày 12/12/2019 của HĐND tỉnh về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Nghị quyết số 51/2016/NQ-HĐND9 ngày 16/12/2016 của Hội đồng nhân dân tỉnh về định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên ngân sách địa phương năm 2017 và giai đoạn 2017-2020;

- Nghị quyết số 16/2019/NQ-HĐND ngày 12/12/2019 của HĐND tỉnh quy định chính sách hỗ trợ liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương;

- Nghị quyết số 17/2019/NQ-HĐND ngày 12/12/2019 của HĐND tỉnh quy định nội dung chi, mức chi thực hiện các hoạt động sáng kiến có sử dụng ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Bình Dương;

- Nghị quyết số 18/2019/NQ-HĐND ngày 12/12/2019 của HĐND tỉnh ban hành Quy định chính sách hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo trên địa bàn tỉnh Bình Dương đến năm 2025;

- Nghị quyết số 19/2019/NQ-HĐND ngày 12/12/2019 của HĐND tỉnh về giá sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi trên địa bàn tỉnh Bình Dương năm 2020;

- Nghị quyết số 20/2019/NQ-HĐND ngày 12/12/2019 về Bảng giá các loại đất giai đoạn 2020 - 2024 trên địa bàn tỉnh Bình Dương;

- Nghị quyết số 21/2019/NQ-HĐND ngày 12/12/2019 của HĐND tỉnh quy định về số lượng, chức danh, một số chế độ, chính sách, mức hỗ trợ đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở ấp, khu phố; mức bồi dưỡng người trực tiếp tham gia công việc ở ấp, khu phố; mức khoán kinh phí hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội ở cấp xã và ấp, khu phố trên địa bàn tỉnh Bình Dương;

- Nghị quyết 22/2019/NQ-HĐND ngày 12/12/2019 của HĐND tỉnh về chế độ, chính sách đối với Đại đội Dân quân thường trực cấp tỉnh của tỉnh Bình Dương;

- Nghị quyết số 23/2019/NQ-HĐND ngày 12/12/2019 của HĐND tỉnh quy định về việc xử lý các cơ sở không đảm bảo yêu cầu về phòng cháy và chữa cháy trên địa bàn tỉnh Bình Dương được đưa vào sử dụng trước ngày Luật Phòng cháy và chữa cháy số 27/2001/QH10 có hiệu lực;

- Nghị quyết số 24/2019/NQ-HĐND ngày 12/12/2019 của HĐND tỉnh về chính sách hỗ trợ và kinh phí hoạt động đối với Đội Dân phòng ở cấp xã trên địa bàn tỉnh Bình Dương;

- Nghị quyết 25/2019/NQ-HĐND ngày 12/12/2019 của HĐND tỉnh quy định mức trợ cấp đặc thù và chính sách hỗ trợ đối với công chức, viên chức, người lao động làm việc tại các cơ sở quản lý người nghiện ma túy, người sau cai nghiện ma túy, cơ sở trợ giúp xã hội công lập, Ban quản lý nghĩa trang liệt sĩ tỉnh, Tổ quản trang cấp huyện trên địa bàn tỉnh Bình Dương;

- Nghị quyết số 26/2019/NQ-HĐND ngày 12/12/2019 của HĐND tỉnh ban hành Quy định về chế độ hỗ trợ, chi tiêu tài chính và định mức chi đối với lĩnh vực văn hóa, thể thao tỉnh Bình Dương.

2. Quyết định của UBND tỉnh:

- Quyết định số 24/2019/QĐ-UBND ngày 14/11/2019 của UBND tỉnh về việc ban hành Quy định giá dịch vụ sử dụng diện tích bán hàng tại chơ trên địa bàn tỉnh Bình Dương;

- Quyết định số 29/2019/QĐ-UBND ngày 03/12/2019 của UBND tỉnh ban hành Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương;

- Quyết định số 30/2019/QĐ-UBND ngày 06/12/2019 của UBND tỉnh ban hành Quy định quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Bình Dương;

- Quyết định số 32/2019/QĐ-UBND ngày 13/12/2019 của UBND tỉnh ban hành Quy chế quản lý hoạt động thông tin đối ngoại trên địa bàn tỉnh Bình Dương;

- Quyết định số 34/2019/QĐ-UBND ngày 18/12/2019 của UBND tỉnh ban hành Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Ngoại vụ tỉnh Bình Dương;

- Quyết định số 35/2019/QĐ-UBND ngày 19/12/2019 ban hành quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tài chính tỉnh Bình Dương;

- Quyết định số 36/2019/QĐ-UBND ngày 20/12/2019 của UBND tỉnh ban hành quy định Bảng giá các loại đất giai đoạn 2020 - 2024 trên địa bàn tỉnh Bình Dương;

- Quyết định số 37/2019/QĐ-UBND  ngày 20/12/2019 của UBND tỉnh về việc quy định hệ số điều chỉnh giá đất (K) năm 2020 trên địa bàn tỉnh Bình Dương;

- Quyết định số 39/2019/QĐ-UBND ngày 20/12/2019 của UBND tỉnh quy định về việc thu hồi đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề không đưa đất vào sử dụng, chậm tiến độ sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Bình Dương;

- Quyết định số 42/2019/QĐ-UBND ngày 20/12/2019 của UBND tỉnh về việc ban hành tiêu chuẩn, định mức xe ô tô chuyên dùng thuộc địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh Bình Dương;

- Quyết định số 43/2019/QĐ-UBND ngày 20/12/2019 của UBND tỉnh ban hành Quy chế Cộng tác viên kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Bình Dương;

- Quyết định số 44/2019/QĐ-UBND ngày 20/12/2019 của UBND tỉnh quy định giá cụ thể sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi trên địa bàn tỉnh Bình Dương năm 2020.


FalseTrần Thị Kim Yến
Hội nghị tập huấn nghiệp vụ công tác văn bản và nghiệp vụ  công tác bồi thường nhà nướcTin ngành tư phápTinHội nghị tập huấn nghiệp vụ công tác văn bản và nghiệp vụ  công tác bồi thường nhà nước/CMSImageNew/2019-12/a757abc413f3eaadb3e2_Key_10122019140916.jpg
12/10/2019 3:00 PMNoĐã ban hành

Hội nghị tập huấn nghiệp vụ công tác văn bản và nghiệp vụ

công tác bồi thường nhà nước


     Thực hiện Quyết định số 3738/QĐ-UBND ngày 27 tháng 12 năm 2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch kiểm tra, xử lý, rà soát và hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật năm 2019 trên địa bàn tỉnh Bình Dương và Kế hoạch số 170/KH-UBND ngày 14 tháng 01 năm 2019 về triển khai thực hiện công tác bồi thường của nhà nước năm 2019 trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Sáng ngày 10/12/2019, được sự ủy quyền của UBND tỉnh, Sở Tư pháp tổ chức Hội nghị tập huấn nghiệp vụ công tác văn bản và nghiệp vụ công tác bồi thường nhà nước.

a757abc413f3eaadb3e2.jpg

Ông Nguyễn Quốc Trí, Phó Giám đốc Sở Tư pháp phát biểu khai mạc tại hội nghị.

     Tham dự hội nghị có ông Nguyễn Quốc Trí, Phó Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh và đại diện Văn phòng UBND tỉnh; cán bộ làm công tác pháp chế thuộc sở, ngành tỉnh; cán bộ, công chức phụ trách công tác bồi thường nhà nước Văn phòng HĐND, UBND, Phòng Tư pháp, cán bộ Tư pháp - Hộ tịch và cán bộ, công chức phụ trách công tác bồi thường nhà nước cấp huyện, cấp xã.

f47c4ccbf5fc0ca255ed.jpg 

Ông Huỳnh Hữu Tốt, Trưởng phòng XD&KTVBQPPL Sở Tư pháp trình bày chuyên đề nghiệp vụ công tác văn bản

 

c1986451dd6624387d77.jpg

Bà Trần Thị Thúy Hường, Trưởng phòng Hành chính tư pháp, Sở Tư pháp trình bày chuyên đề nghiệp vụ  công tác bồi thường nhà nước

     Tại hội nghị này các đại biểu đã được nghe các báo cáo viên giới thiệu các chuyên đề về văn bản QPPL, thẩm quyền ban hành văn bản QPPL; nguyên tắc xây dựng, ban hành VBQPPL; kỹ năng soạn thảo, xây dựng, tham mưu ban hành văn bản; thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản QPPL của HĐND, UBND cấp tỉnh cấp huyện, cấp xã và nghiệp vụ công tác bồi thường nhà nước. Ngoài việc trang bị kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, Hội nghị còn là diễn đàn để các đại biểu địa phương học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm trong công tác xây dựng và ban hành văn bản QPPL, giải đáp vướng mắc trong quá trình triển khai thi hành Luật liên quan đến trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo, những hành vi bị cấm, việc kiểm soát chất lượng văn bản QPPL, huy động sự tham gia của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xây dựng và ban hành V văn bản QPPL, xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách, thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản QPPL của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân và kỹ năng tiếp nhận, thụ lý, giải quyết vụ việc yêu cầu bồi thường nhà nước./.

                                                                                                                                                                                          Huỳnh Hữu Tốt- Phòng XD&KTVBQPPL

FalseHuỳnh Hữu Tốt
Sở Tư pháp tổ chức họp góp ý Quyết định ban hành Quy chế Cộng tác viên kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Bình DươngThông tinTinSở Tư pháp tổ chức họp góp ý Quyết định ban hành Quy chế Cộng tác viên kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/9/2019 10:00 AMNoĐã ban hành

Ngày 06 tháng 12 năm 2019, Sở Tư pháp tổ chức cuộc họp góp ý dự thảo Quyết định Ban hành Quy chế Cộng tác viên kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Bình Dương (gọi tắt là dự thảo Quy chế Cộng tác viên), cuộc họp do ông Nguyễn Quốc Trí – Phó Giám đốc Sở Tư pháp chủ trì, cùng với sự tham gia của đại diện các cơ quan, đơn vị gồm: Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Giao thông vận tải, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch và UBND huyện Dầu Tiếng.

Trước khi cuộc họp diễn ra, Sở Tư pháp đã có văn bản gửi các sở, ngành, đơn vị góp ý đối với dự thảo Quy chế Cộng tác viên; tuy nhiên, đối với một số nội dung góp ý của Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Giao thông vận tải, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch và UBND huyện Dầu Tiếng; Sở Tư pháp chưa hoàn toàn thống nhất.

Tại cuộc họp, sau khi nghe đại diện Sở Tư pháp thuyết minh, giải trình những nội dung góp ý của các đơn vị mà Sở Tư pháp không tiếp thu; đại diện các đơn vị dự họp cơ bản thống nhất với giải trình của Sở Tư pháp. Bên cạnh đó, các đơn vị cũng có góp ý thêm một số nội dung của dự thảo Quy chế Cộng tác viên như: đề nghị bổ sung thêm quy định về hoạt động của Cộng tác viên; bổ sung thêm tiêu chuẩn của Cộng tác viên; làm rõ vấn đề kinh phí hoạt động của Cộng tác viên; đề xuất, xem xét, mở rộng đối tượng Cộng tác viên là các chuyên gia bên ngoài (giáo viên, chuyên gia bất động sản, …) hoặc những cán bộ đã về hưu để phát huy hiệu quả;…

Sau khi nghe các ý kiến góp ý của đại diện các đơn vị dự họp; Sở Tư pháp giải trình, tiếp thu các ý kiến; từ những ý kiến góp ý cũng đã gợi mở để Sở Tư pháp tiếp tục hoàn chỉnh dự thảo Quy chế Cộng tác viên. Sở Tư pháp sẽ tiếp tục xem xét ý kiến góp ý của các đơn vị tại cuộc họp Ban Lãnh đạo Sở trước khi hoàn thiện và trình Ủy ban nhân dân tỉnh./.​

FalseTrần Thị Kim Yến
Bình Dương ban hành giá dịch vụ sử dụng diện tích bán hàng tại chợThông tinTinBình Dương ban hành giá dịch vụ sử dụng diện tích bán hàng tại chợ/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
11/20/2019 10:00 AMNoĐã ban hành

Bình Dương ban hành giá dịch vụ sử dụng diện tích bán hàng tại chợ

Ngày 14/11/2019, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương đã có Quyết định số 24/2019/QĐ-UBND về việc ban hành Quy định giá dịch vụ sử dụng diện tích bán hàng tại chợ.

cho bung.jpg

(Chợ Búng – Thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương)

Quyết định số 24/2019/QĐ-UBND quy định giá cụ thể đối với dịch vụ sử dụng diện tích bán hàng tại các chợ được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước và giá tối đa đối với dịch vụ sử dụng diện tích bán hàng tại chợ được đầu tư bằng nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

Theo đó, giá dịch vụ tại các điểm kinh doanh cố định đối với chợ được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước được quy định như sau:

* Khu vực đô thị:

- Ki – ốt: 125.000 đồng/m2/tháng x (hệ số k).

- Quầy, sạp:

+ Chợ hạng 1: 85.000 đồng/m2/tháng x (hệ số k).

+ Chợ hạng 2: 65.000 đồng/m2/tháng x (hệ số k).

+ Chợ hạng 3: 40.000 đồng/m2/tháng x (hệ số k).

* Khu vực nông thôn:

- Ki – ốt: 100.000 đồng/m2/tháng x (hệ số k).

- Quầy, sạp:

+ Chợ hạng 2: 40.000 đồng/m2/tháng x (hệ số k).

+ Chợ hạng 3: 30.000 đồng/m2/tháng x (hệ số k).

Trong đó, "hệ số k" là hệ số được áp dụng đối với điểm kinh doanh có vị trí kinh doanh thuận tiện, lợi thế cao sẽ chịu mức thu cao hơn. Cụ thể là: các điểm kinh doanh có mặt tiền hướng đường chính (quốc lộ, tỉnh lộ) hoặc có hai mặt tiền đường nội bộ bên ngoài chợ có hệ số k = 1,5; các điểm kinh doanh có một đường nội bộ bên ngoài chợ hoặc có hai mặt tiền đường nội bộ bên trong nhà lồng chính của chợ có hệ số k = 1,3 và các điểm kinh doanh còn lại trong chợ thì hệ số k = 1.

91d7b1b23278cb269269.jpg

(Chợ Phú Mỹ - Tp.Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương)

cho PM.jpg

​(Tiểu thương kinh doanh tại Chợ Phú Mỹ)

 

Đối với chợ được đầu tư bằng nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước, Chủ đầu tư căn cứ hướng dẫn tại Thông tư số 25/2014/TT-BTC ngày 17/02/2014 của Bộ Tài chính quy định phương pháp định giá chung đối với hàng hóa, dịch vụ, xây dựng mức giá dịch vụ sử dụng diện tích bán hàng, nhưng không được cao hơn mức giá tối đa đã được UBND tỉnh quy định tại Điều 7 Quyết định 24/2019/QĐ-UBND.

Quyết định số 24/2019/QĐ-UBND sẽ bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2020.

Tải Quyết định số 24/2019/QĐ-UBND​: 24-2019-QD.signed.pdf

FalseTrần Thị Kim Yến
Hội thảo về kết quả kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh tếThông tinTinHội thảo về kết quả kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh tế/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
11/14/2019 10:00 PMNoĐã ban hành

Thực hiện kế hoạch công tác năm 2019 của Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) và được sự hỗ trợ của Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), ngày 12/11/2019, Cục Kiểm tra văn bản QPPL đã tổ chức Hội thảo về kết quả kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh tế tại Hà Nội. Ông Đồng Ngọc Ba - Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản QPPL chủ trì Hội thảo, cùng sự tham gia của đại diện tổ chức pháp chế thuộc Bộ, ngành, Sở Tư pháp một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và đặc biệt có sự tham gia của chuyên gia dự án JICA ngài Yokomaku Kosuke.

     Hội thảo đã nghe các tham luận: (i) “Những vấn đề cơ bản về kiểm tra xử lý văn bản QPPL”, (ii) “Công tác kiểm tra, xử lý văn bản QPPL trong lĩnh vực đất đai - đầu tư”, (iii) “Kết quả kiểm tra, xử lý văn bản QPPL trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng”, (iv) “Kết quả kiểm tra, xử lý văn bản QPPL trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn” của chuyên gia tới từ trường Đại học Luật Hà Nội, Cục Kiểm tra văn bản QPPL. Bên cạnh đó, Hội thảo còn được chuyên gia Yokomaku Kosuke chia sẻ, giới thiệu về quy trình lập pháp và xử lý văn bản trái pháp luật tại Nhật Bản.
 

     Điều hành phiên thảo luận, bà Nguyễn Thị Thu Hòe - Phó Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản QPPL đề nghị các đại biểu tham dự trao đổi, thảo luận về thực trạng triển khai công tác kiểm tra, xử lý văn bản QPPL trong lĩnh vực kinh tế tại Bộ, ngành, địa phương mình. Các ý kiến đều khẳng định hệ thống văn bản QPPL về kinh tế có vai trò quan trọng trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế; kiểm tra văn bản QPPL nói chung, kiểm tra văn bản QPPL trong lĩnh vực kinh tế nói riêng là giai đoạn “hậu kiểm” rất quan trọng, không thể thiếu trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Hầu hết các ý kiến đều khẳng định, trong những năm qua, tại Bộ, ngành, địa phương mình, công tác kiểm tra, xử lý văn bản QPPL trái pháp luật đã được các cơ quan ban hành văn bản tích cực thực hiện, đảm bảo theo quy định của Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015, Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Đại diện pháp chế các Bộ, ngành, Sở Tư pháp các địa phương cũng đã nêu ý kiến về một số vướng mắc của văn bản QPPL trung ương cũng như đặc thù tại địa phương, đồng thời trao đổi kinh nghiệm trong việc kiểm tra, xử lý văn bản với các địa phương khác để góp phần nâng cao hiệu quả công tác này.
 

     Kết luận Hội thảo, bà Nguyễn Thị Thu Hòe khẳng định kinh tế là lĩnh vực có hệ thống văn bản đồ sộ từ trung ương đến địa phương, các quy định trong văn bản về lĩnh vực này rất phức tạp, liên quan trực tiếp đến quyền lợi của tổ chức, cá nhân. Do đó, kết quả kiểm tra, xử lý văn bản QPPL trong lĩnh vực này là hết sức quan trọng, góp phần tích cực vào việc hạn chế sai sót, nâng cao chất lượng văn bản QPPL, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người dân, doanh nghiệp. Thông qua Hội thảo, Cục Kiểm tra văn bản đề nghị tổ chức pháp chế các bộ, ngành, địa phương tiếp tục nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ kiểm tra, xử lý văn bản QPPL và phối hợp chặt chẽ, thường xuyên với Cục Kiểm tra văn bản QPPL cũng như các cơ quan, đơn vị khác để thực hiện tốt hơn nữa, nâng cao hiệu quả của công tác kiểm tra văn bản QPPL nói chung và trong lĩnh vực kinh tế nói riêng, góp phần hoàn thiện hệ thống văn bản QPPL trong thời gian tới. Cục Kiểm tra văn bản QPPL cũng trân trọng cảm ơn dự án JICA và cá nhân ngài chuyên gia đã hỗ trợ Bộ Tư pháp (Cục Kiểm tra văn bản QPPL) trong quá trình tổ chức Hội thảo cũng như chia sẻ những kinh nghiệm quý báu của Nhật Bản để Việt Nam tham khảo, học tập./.
Nguồn: ​Trang thông tin về kiểm tra, rà soát, hệ thông hóa và hợp nhất văn bản QPPL - Bộ Tư pháp (tác giả: Nguyễn Văn Đức)
FalseTrần Thị Kim Yến
Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương phân cấp thẩm quyền ban hành tiêu chuẩn, định mức sử dụng máy móc, thiết bị chuyên dùngThông tinTinỦy ban nhân dân tỉnh Bình Dương phân cấp thẩm quyền ban hành tiêu chuẩn, định mức sử dụng máy móc, thiết bị chuyên dùng/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
11/5/2019 11:00 AMNoĐã ban hành
     ​Ngày 04/11/2019, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Quyết định số 22/2019/QĐ-UBND quy định phân cấp thẩm quyền ban hành tiêu chuẩn, định mức sử dụng máy móc, thiết bị chuyên dùng tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

    Theo Quyết định số 22/2019/QĐ-UBND, việc phân cấp thẩm quyền ban hành tiêu chuẩn, định mức sử dụng máy móc, thiết bị chuyên dùng phải đảm bảo 04 nguyên tắc: (1) Máy móc, thiết bị chuyên dùng trừ máy móc, thiết bị chuyên dùng trong lĩnh vực y tế, giáo dục và đào tạo là máy móc, thiết bị có yêu cầu về tính năng, dung lượng, cấu hình cao hơn máy móc, thiết bị văn phòng phổ biến và máy móc, thiết bị khác phục vụ nhiệm vụ đặc thù của cơ quan, tổ chức, đơn vị; (2) Máy móc, thiết bị chuyên dùng thuộc lĩnh vực y tế, giáo dục và đào tạo căn cứ trên cơ sở quy định chi tiết hướng dẫn của Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo về tiêu chuẩn, định mức sử dụng máy móc, thiết bị chuyên dùng phục vụ hoạt động sự nghiệp y tế, giáo dục và đào tạo; (3) Việc ban hành tiêu chuẩn, định mức máy móc, thiết bị chuyên dùng được áp dụng đối với máy móc, thiết bị đủ tiêu chuẩn tài sản cố định theo quy định của chế độ quản lý, tính hao mòn tài sản cố định tại cơ quan, tổ chức, đơn vị; Máy móc, thiết bị chuyên dùng không đủ điều kiện tiêu chuẩn tài sản cố định, cơ quan, người có thẩm quyền quyết định giao, đầu tư, mua sắm, điều chuyển, thuê theo quy định của pháp luật quyết định việc trang bị phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, tính chất công việc, nhu cầu sử dụng và khả năng nguồn kinh phí được phép sử dụng, bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả. (4) Các Quyết định ban hành tiêu chuẩn, định mức sử dụng máy móc, thiết bị chuyên dùng phải được: Công khai trên Cổng Thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân tỉnh và trang thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức, đơn vị; gửi cơ quan Kho bạc Nhà nước cùng cấp để thực hiện kiểm soát chi và thanh toán khi cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện mua sắm.

     Nội dung phân cấp được quy định như sau:

     - Đối với máy móc, thiết bị chuyên dùng (trừ máy móc, thiết bị chuyên dùng thuộc lĩnh vực y tế, giáo dục):

     + Đối với máy móc, thiết bị chuyên dùng có giá mua từ 500 triệu đồng trở lên/01 đơn vị tài sản: Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành tiêu chuẩn, định mức sử dụng máy móc, thiết bị chuyên dùng (chủng loại, số lượng) trang bị cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị trên cơ sở đề xuất của Sở Tài chính.

     + Đối với máy móc, thiết bị chuyên dùng còn lại: Thủ trưởng các cơ quan, tổ chức, đơn vị và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố căn cứ vào nhu cầu, chức năng nhiệm vụ và dự toán ngân sách hàng năm ban hành danh mục tiêu chuẩn, định mức (chủng loại, số lượng) máy móc, thiết bị chuyên dùng sử dụng tại cơ quan, đơn vị mình và tất cả các đơn vị trực thuộc, thuộc phạm vi quản lý trên cơ sở ý kiến thẩm định bằng văn bản của cơ quan tài chính cùng cấp.

    - Đối với máy móc, thiết bị chuyên dùng thuộc lĩnh vực y tế, giáo dục và đào tạo: Giám đốc Sở Y tế và Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo ban hành danh mục tiêu chuẩn, định mức (chủng loại, số lượng) máy móc, thiết bị chuyên dùng sử dụng tại cơ quan, đơn vị mình và đơn vị trực thuộc thuộc phạm vi quản lý trên cơ sở căn cứ quy định chi tiết hướng dẫn của Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo về tiêu chuẩn, định mức sử dụng máy móc, thiết bị chuyên dùng phục vụ hoạt động sự nghiệp y tế, giáo dục và đào tạo

     Việc phân cấp thẩm quyền ban hành tiêu chuẩn, định mức sử dụng máy móc, thiết bị chuyên dùng sẽ tạo sự chủ động cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị và UBND các huyện, thị xã, thành phố trong việc rà soát, xây dựng và ban hành tiêu chuẩn, định mức sử dụng máy móc, thiết bị chuyên dùng phù hợp nhiệm vụ chuyên môn, khả năng sử dụng và khả năng tài chính của cơ quan, đơn vị, địa phương mình.

     Quyết định số 22/2019/QĐ-UBND có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/12/2019.​

Tải Quyết định số 22/2019/QĐ-UBND: 22-2019-QD.pdf

FalseTrần Thị Kim Yến
Danh mục Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh quy định chi tiết các nội dung được giao trong các Luật được Quốc hội khóa XIV thông qua tại kỳ họp thứ 7Thông tinTinDanh mục Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh quy định chi tiết các nội dung được giao trong các Luật được Quốc hội khóa XIV thông qua tại kỳ họp thứ 7/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/29/2019 4:00 PMNoĐã ban hànhFalseLê Thị Phương
Bình Dương ban hành Quy định về tổ chức và hoạt động của ấp, khu phốThông tinTinBình Dương ban hành Quy định về tổ chức và hoạt động của ấp, khu phố/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/23/2019 11:00 AMNoĐã ban hành

     Ngày 18/10/2019, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Bình Dương đã ban hành Quyết định số 19/2019/QĐ-UBND ban hành Quy định về tổ chức và hoạt động của ấp, khu phố trên địa bàn tỉnh.

     Có 04 nguyên tắc tổ chức và hoạt động của ấp, khu phố được quy định như sau: (1) Bảo đảm tính tự quản của cộng đồng dân cư, chấp hành sự quản lý nhà nước trực tiếp của chính quyền cấp xã và sự lãnh đạo của cấp ủy đảng. (2) Tuân thủ pháp luật, thực hiện theo hương ước, quy ước đã được ban hành; đảm bảo dân chủ, công khai, minh bạch. (3) Không chia tách các ấp, khu phố đang hoạt động ổn định; thực hiện sáp nhập các ấp, khu phố phù hợp với điều kiện, đặc điểm từng địa phương. (4) Trường hợp do quy hoạch giải phóng mặt bằng, quy hoạch giãn dân, cộng đồng dân cư mới hình thành không đủ điều kiện thành lập ấp mới, khu phố mới thì ghép vào ấp, khu phố liền kề.

khu pho.jpg

(Văn phòng Khu phố Bình Hòa 1, Phường Tân Phước Khánh, thị xã Tân Uyên)

khu pho 2.jpg

(Khu phố 7, Phường Phú Mỹ, Tp. Thủ Dầu Một)

     Về tổ chức của ấp, khu phố: Mỗi ấp có Trưởng ấp; mỗi khu phố có Trưởng khu phố. Trường hợp ấp có trên 350 hộ gia đình thì có thể bố trí 01 Phó Trưởng ấp, khu phố có trên 500 hộ gia đình thì có thể bố trí 01 Phó Trưởng khu phố. 2. Phó Trưởng ấp, Phó Trưởng khu phố do Trưởng ấp, Trưởng khu phố lựa chọn sau khi thống nhất với Trưởng Ban công tác mặt trận ấp, khu phố. Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định công nhận Phó Trưởng ấp, Phó Trưởng khu phố.

    Quyết định còn quy định những nội dung về điều kiện thành lập ấp mới, khu phố mới; điều kiện sáp nhập, giải thể, đặt tên, đổi tên ấp, khu phố; quy trình và hồ sơ thành lập ấp mới, khu phố mới; quy trình và hồ sơ sáp nhập, giải thể và đặt tên, đổi tên ấp, khu phố; quy trình và hồ sơ ghép cụm dân cư vào ấp, khu phố hiện có; nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng ấp và Trưởng khu phố; tiêu chuẩn Trưởng ấp, Trưởng khu phố và Phó Trưởng ấp, Phó Trưởng khu phố,…

    Quyết định này có hiệu lực thi hành, kể từ ngày 01 tháng 11 năm 2019 và thay thế Quyết định số 07/2014/QĐ-UBND ngày 11 tháng 3 năm 2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Quy định về tổ chức và hoạt động của ấp, khu phố trên địa bàn tỉnh Bình Dương./.

FalseTrần Thị Kim Yến
Danh mục Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh quy định chi tiết các nội dung được giao giao trong các luật được Quốc hội khóa XIV  thông qua tại kỳ họp thứ 6Thông tinTinDanh mục Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh quy định chi tiết các nội dung được giao giao trong các luật được Quốc hội khóa XIV  thông qua tại kỳ họp thứ 6/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/8/2019 3:00 PMNoĐã ban hành

Quyết định số 422/QĐ-UBND ngày ​25/2/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quyết định Danh mục Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh quy định chi tiết

các nội dung được giao giao trong các luật được Quốc hội khóa XIV thông qua tại kỳ họp thứ 6


QD_422_UBND_TINH_BD.PDF.pdf

FalseLê Thị Phương
Bàn về các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về công tác xây dựng pháp luậtThông tinTinBàn về các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về công tác xây dựng pháp luật/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
9/30/2019 10:00 PMNoĐã ban hành

Thực hiện Kế hoạch công tác năm 2019 đã được lãnh đạo Bộ phê duyệt, nhằm đánh giá thực trạng và đề xuất những giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý nhà nước về công tác xây dựng pháp luật. Vừa qua, Bộ Tư pháp tổ chức Hội thảo “Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về công tác xây dựng pháp luật”. Hội thảo có sự tham gia của một số lãnh đạo đơn vị thuộc Bộ Tư pháp, lãnh đạo Vụ pháp chế các Bộ, lãnh đạo một số Sở Tư pháp và đông đảo các chuyên gia, cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật của các bộ, ngành, địa phương. Hội thảo do ông Nguyễn Hồng Tuyến, Vụ trưởng Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp, Bộ Tư pháp luật chủ trì.

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 (Luật năm 2015), Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Nghị định số 96/2017/NĐ-CP ngày 16/8/2017 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp đề cao trách nhiệm của Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ quản lý thống nhất trong phạm vi cả nước về công tác xây dựng và thi hành pháp luật, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật. Theo đó, chức năng, nhiệm vụ của Bộ Tư pháp trong lĩnh vực xây dựng và thi hành pháp luật tiếp tục được tăng cường, mở rộng, đặc biệt là công tác quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật. Kể từ khi Luật năm 2015 có hiệu lực đến nay, công tác quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật đã có nhiều chuyển biến tích cực, cụ thể là, Bộ Tư pháp đã quan tâm hơn đến việc tăng cường quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật, công tác theo dõi, đôn đốc việc thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hằng năm, đôn đốc việc xây dựng văn bản quy định chi tiết thi hành luật, pháp lệnh, hướng dẫn nghiệp vụ xây dựng văn bản quy phạm pháp luật cho bộ, ngành, địa phương…

Các ý kiến tại Hội thảo cho rằng, trong những năm qua, mặc dù có nhiều chuyển biến nhưng công tác quản lý nhà nước về xây dựng pháp luậtvẫn tồn tại một số hạn chế như: quy định về công tác quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật còn chưa cụ thể, rõ ràng, cụ thể; chưa xác định rõ vai trò quản lý ngành của Bộ Tư pháp trong công tác xây dựng pháp luật, đặc biệt trong mối quan hệ với các Bộ, ngành và địa phương trong công tác xây dựng pháp luật;chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật chậm thay đổi cách thức và tư duy quản lý; cơ chế phối hợp trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác xây dựng pháp luật ở bộ, ngành, địa phương chưa thực sự hiệu quả;công tác kiểm tra, đôn đốc, bộ ngành, địa phương trong quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật chưa thực sự hiệu quả, còn lãng phí nguồn lực; quy định về cơ chế báo cáo về công tác xây dựng pháp luật chuyển biến chậm, dù đã có cải tiến nhưng vẫn còn phức tạp, chồng chéo làm mất nhiều thời gian của bộ, ngành, địa phương.

Tại Hội thảo, các ý kiến tham luận đã trao đổi, thảo luận nhiều vấn đề xoay quanh những tồn tại, hạn chế, khó khăn, vướng mắc cần tháo gỡ để nâng cao hiệu quả quản lý công tác xây dựng pháp luật trong thời gian tới. Trong đó, các ý kiến tập trung phân tích quy định của pháp luật về vị trí, vai trò của Bộ Tư pháp trong việc giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật; quản lý công tác xây dựng pháp luật tại các bộ, cơ quan ngang bộ và thực tiễn quản lý nhà nước về công tác xây dựng pháp luật ở các địa phương. Bên cạnh đó, các tham luận còn đề xuất nhiều giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật.
 
Xuất phát từ những bất cập, hạn chế nêu được đặt ra, đòi hỏi phải có sự kiện toàn, đổi mới, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về công tác xây dựng pháp luật để triển khai thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị của Bộ, ngành Tư pháp, hoàn thành các mục tiêu cải cách hành chính, cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Các tham luận đã đưa ra nhiều giải pháp theo đó tập trung vào việc hoàn thiện thể chế về quản lý nhà nước đối với công tác xây dựng pháp luật; nâng cao hiệu quả và chất lượng công tác phối hợp liên ngành trong xây dựng pháp luật và quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật; làm tốt hơn nữa công tác hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra công tác xây dựng pháp luật của các bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương; đào tạo, bồi dưỡng và chính sách đãi ngộ cho cán bộ, công chức làm công tác quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật, công tác xây dựng pháp luật; tăng cường kinh phí, cơ sở vật chất gắn với ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật.
Kết luận Hội thảo, ông Nguyễn Hồng Tuyến ghi nhận các ý kiến tham luận của các đại biểu đến từ Bộ Tư pháp và đại biểu đến từ các bộ ngành, địa phương. Thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm tiếp tục nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về công tác xây dựng pháp luật để thể hiện rõ hơn vị trí, vai trò của mình trong việc giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật trên toàn quốc.​​​
Nguồn:​ Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp (www.moj.gov.vn)​​​
FalseTrần Thị Kim Yến
Danh mục Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh quy định chi tiết các nội dung được giao trong các Luật được Quốc hội khóa XIV thông qua tại kỳ họp thứ 7Thông tinTinDanh mục Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh quy định chi tiết các nội dung được giao trong các Luật được Quốc hội khóa XIV thông qua tại kỳ họp thứ 7/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
9/30/2019 11:00 AMNoĐã ban hành

Quyết định số 2760/QĐ-UBND ngày 24/9/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Danh mục Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh quy định chi tiết các nội dung được giao trong các Luật được Quốc hội khóa XIV thông qua tại kỳ họp thứ 7​


2760-QD.signed.pdf

FalseLê Thị Phương
Danh mục Nghị quyết quy phạm pháp luật của  Hội đồng nhân dân tỉnh quy định chi tiết các nội dung được giao  trong các luật được Quốc hội khóa XIV thông qua tại kỳ họp thứ 6Thông tinTinDanh mục Nghị quyết quy phạm pháp luật của  Hội đồng nhân dân tỉnh quy định chi tiết các nội dung được giao  trong các luật được Quốc hội khóa XIV thông qua tại kỳ họp thứ 6/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
9/25/2019 3:00 PMNoĐã ban hành

​Quyết định số 02/QĐ-HĐND ngày 20/3/2019 của Hội đồng nhân dân tỉnh Quyết định Danh mục Nghị quyết quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân tỉnh quy định chi tiết các nội dung được giao trong các luật được Quốc hội khóa XIV thông qua tại kỳ họp thứ 6​


QD_02_HDND_TINH_BD.PDF.pdf

FalseLê Thị Phương
Sở Tư pháp tổ chức họp tư vấn thẩm định đề nghị xây dựng  Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh Thông tin; Tin ngành tư phápTinSở Tư pháp tổ chức họp tư vấn thẩm định đề nghị xây dựng  Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh /CMSImageNew/2019-09/32fce48e812b66753f3a_Key_25092019075807.jpg
9/23/2019 8:00 AMYesĐã ban hành

         Chiều ngày 23 tháng 9 năm 2019, Sở Tư pháp tổ chức họp tư vấn thẩm định đề nghị xây dựng Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh về quy định mức trợ cấp đặc thù và chính sách hỗ trợ đối với công chức, viên chức, người lao động làm việc tại các cơ sở quản lý người nghiện ma túy, người sau cai nghiện ma túy, cơ sở trợ giúp xã hội công lập, Ban quản lý nghĩa trang liệt sĩ, Tổ quản trang cấp huyện trên địa bàn tỉnh Bình Dương (do Sở Lao động – Thương binh và Xã hội chủ trì soạn thảo) theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

        Thành phần tham dự, gồm có: ông Nguyễn Quốc Trí – Phó Giám đốc Sở Tư pháp – Chủ trì cuộc họp, cùng các đại diện là Sở Tài chính, Sở Lao động – thương binh và xã hội, Sở Nội vụ, Đoàn Luật sư, Sở Tư pháp.

         Tại cuộc họp, sau khi nghe đại diện Sở Lao động – Thương binh và Xã hội báo cáo tóm tắt một số nội dung liên quan đến đề nghị xây dựng Nghị quyết, trong đó nêu rõ sự cần thiết ban hành Nghị quyết, mức trợ cấp đặc thù và chính sách hỗ trợ đối với công chức, viên chức, người lao động làm việc tại các cơ sở quản lý người nghiện ma túy, người sau cai nghiện ma túy, cơ sở trợ giúp xã hội công lập, Ban quản lý nghĩa trang liệt sĩ, Tổ quản trang cấp huyện trên địa bàn tỉnh Bình Dương, đại diện các đơn vị đã đóng góp ý kiến đối với đề nghị xây dựng Nghị quyết. 

32fce48e812b66753f3a.jpg

(Đại diện Sở Lao động – Thương binh và Xã hội báo cáo tóm tắt một số nội dung

liên quan đến đề nghị xây dựng Nghị quyết)

 

         Trên cơ sở các ý kiến góp ý của các cơ quan, đơn vị, đại diện Sở Lao động – Thương binh và Xã hội đã có ý kiến giải trình, làm rõ thêm một số nội dung liên quan đến dự thảo Nghị quyết như: mức quy định tăng thêm đối với công chức, viên chức, người lao động làm việc tại trung tâm bảo trợ xã hội và cơ sở cai nghiệm ma túy; giải thích về tên gọi dự thảo Nghị quyết và một số nội dung khác.

        Kết thúc cuộc họp, ông Nguyễn Quốc Trí - Phó Giám đốc Sở Tư pháp có ý kiến như sau: thứ nhất, đối với một số ý kiến cụ thể của các ngành tại các văn bản góp ý và tại cuộc họp này, đề nghị Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tiếp thu, chỉnh sửa thêm; thứ hai, về kinh phí chưa thống nhất được với Sở Tài chính, đề nghị lãnh đạo Sở Lao động - Thương binh và xã hội làm việc với Sở Tài chính một lần nữa để tiếp tục có ý kiến và rút lại một số vấn đề liên quan đến kinh phí./.

​ 


FalseLê Thị Phương
1 - 30Next
Ảnh
Video
Audio