Văn bản chính sách mới
 
​​1. Không được gọi điện thoại quảng cáo trước 8h sáng và sau 5h chiềuTừ ngày 01/10/2020, Nghị định 91/2020/NĐ-CP quy định về chống tin nhắn rác, thư điện tử rác, cuộc gọi rác chính thức có hiệu lực thi hành. Theo đó, chỉ được gửi tin nhắn trong khoảng thời gian từ 07 giờ đến 22 giờ mỗi ngày, gọi điện thoại quảng cáo từ 08 giờ đến 17 giờ mỗi ngày trừ trường hợp đã có thỏa thuận khác với ...
 
​Ngày Ngày 07/10, Chính phủ đã ban hành Nghị định 119/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, hoạt động xuất bản, trong đó quy định cụ thể mức phạt tiền đối với vi phạm quy định về trang thông tin điện tử tổng hợp.(Nguồn: internet)Đơn cử như sau:Phạt tiền từ 150-200 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau đây: Cung cấp thông tin chống nhà nước Cộng ...
 
​Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 117/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính (VPHC) trong lĩnh vực y tế.Nghị định này quy định về hành vi VPHC, hình thức, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi VPHC, thẩm quyền lập biên bản, thẩm quyền xử phạt VPHC theo từng chức danh đối với hành vi VPHC trong lĩnh vực y tế.Theo Nghị định, hình thức xử phạt chính là ...
 
Ngày 24/8/2020, Chính phủ ban hành Nghị định số 96/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính (VPHC) trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia. Nghị định này quy định về các hành vi VPHC, hình thức, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền lập biên bản và thẩm quyền xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia. Các hành vi VPHC xảy ra ở khu vực biên ...
1. Thời gian nghỉ hè hằng năm của giáo viên phổ thông là 08 tuầnTừ ngày 01/9/2020, Nghị định 84/2020/NĐ-CP hướng dẫn Luật Giáo dục 2019 chính thức có hiệu lực thi hành. (Ảnh minh họa)Theo đó, thời gian nghỉ hè hằng năm của giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông, trường chuyên biệt là 08 tuần, bao gồm cả nghỉ phép hằng năm (quy định hiện hành là 2 tháng). Trường hợp đột xuất, khẩn cấp ...
 
​1. Điều kiện doanh nghiệp được giảm mức đóng BHXH bắt buộc từ 15/7/2020Đây là nội dung được đề cập tại Nghị định 58/2020/NĐ-CP về mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Theo đó, các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành nghề có nguy cơ cao về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (TNLĐ, BNN) được giảm tỷ lệ đóng vào quỹ TNLĐ, BNN từ 0.5% ...
 
1. Lộ trình tăng mức phí bảo vệ môi trường với nước thải công nghiệpNghị định 53/2020/NĐ-CP về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải đưa ra lộ trình tăng mức phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp như sau: Đối với cơ sở có tổng lượng nước thải trung bình trong năm dưới 20 m3/ngày (24 giờ) áp dụng phí cố định tính theo khối lượng nước thải (không áp dụng mức phí biến ...
 
​​1. Luật quản lý thuế 2019 (thông qua tại kỳ họp thứ 7 ngày 13/6/2019)- Người nộp thuế phải thực hiện đăng ký thuế và được cơ quan thuế cấp mã số thuế trước khi bắt đầu hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc có phát sinh nghĩa vụ với ngân sách nhà nước như vậy, không còn quy định trong thời hạn 10 ngày làm việc như hiện hành yêu cầu người nộp thuế phải thực hiện đăng ký thuế.- Thời hạn ...
1. Quy định về cửa khẩu NK, XK hàng hóa tạm nhập tái xuấtĐây là quy định tại Thông tư 09/2020/TT-BCT về lộ trình áp dụng cửa khẩu nhập khẩu, xuất khẩu qua biên giới đất liền đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập tái xuất, kinh doanh chuyển khẩu.Theo đó, từ 00h00 ngày 01/01/2021, hàng hóa kinh doanh tạm nhập tái xuất, kinh doanh chuyển khẩu, nếu nhập khẩu vào hoặc tái xuất ra khỏi Việt ...
 
Nhằm tiếp tục thực hiện các giải pháp để hỗ trợ cho các đối tượng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, ngày 01/6/2020, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 49/2020/TT-BTC để giảm phí từ 20% đối với một số dịch vụ trong lĩnh vực đăng ký giao dịch đảm bảo.Theo quy định tại Thông tư, kể từ ngày 01/6/2020, cơ quan, đơn vị thực hiện các công việc đăng ký giao dịch bảo đảm sẽ nộp phí bằng 80% mức thu phí ...
 
 
  
Phân loại
  
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Nội dung
Các chính sách pháp luật nổi bật có hiệu lực tháng 10/2020Thông tinTinNguyễn Thị LinhCác chính sách pháp luật nổi bật có hiệu lực tháng 10/2020/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/26/2020 5:00 PMNoĐã ban hành

​​1. Không được gọi điện thoại quảng cáo trước 8h sáng và sau 5h chiều

Từ ngày 01/10/2020, Nghị định 91/2020/NĐ-CP quy định về chống tin nhắn rác, thư điện tử rác, cuộc gọi rác chính thức có hiệu lực thi hành.

Theo đó, chỉ được gửi tin nhắn trong khoảng thời gian từ 07 giờ đến 22 giờ mỗi ngày, gọi điện thoại quảng cáo từ 08 giờ đến 17 giờ mỗi ngày trừ trường hợp đã có thỏa thuận khác với chủ thuê bao.

Tổ chức có hành vi gọi điện thoại quảng cáo ngoài khoảng thời gian từ 08 giờ đến 17 giờ mỗi ngày mà không có thỏa thuận khác với người sử dụng sẽ bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

Trường hợp cá nhân có cùng hành vi vi phạm thì mức phạt tiền bằng 1/2 mức phạt tiền đối với tổ chức.

2. Người Việt Nam vào khu vực biên giới đất liền không mang theo CMND/CCCD/Hộ chiếu sẽ bị phạt

Nghị định 96/2020/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia có hiệu lực thi hành từ ngày 10/10/2020.

Theo đó, phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong những hành vi sau:

- Công dân Việt Nam vào khu vực biên giới đất liền, vành đai biên giới không mang theo Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân hoặc Hộ chiếu;

- Tạm trú, lưu trú, đi lại trong khu vực biên giới đất liền không đúng quy định;

- Không thông báo, khai báo, đăng ký hoặc che giấu, giúp đỡ người khác đi lại, lưu trú, tạm trú trái phép trong khu vực biên giới đất liền.

3. Mức phạt hành vi pha chế xăng dầu khi không phải là thương nhân đầu mối

Nội dung này được quy định tại Nghị định 99/2020/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực dầu khí, kinh doanh xăng dầu và khí.

Theo đó, phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với hành vi pha chế xăng dầu khi không phải là thương nhân đầu mối và có thể bị tịch thu phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính.

Đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây, có thể bị phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng:

+ Thương nhân đầu mối thực hiện pha chế xăng dầu nhưng không đăng ký cơ sở pha chế theo quy định;

+ Thực hiện pha chế xăng dầu tại địa điểm không phải nơi sản xuất, xưởng pha chế hoặc kho xăng dầu phục vụ cho nhu cầu nội địa của thương nhân đầu mối.

Lưu ý, các mức phạt nêu trên áp dụng đối với tổ chức, cá nhân có cùng hành vi vi phạm thì mức phạt bằng ½ so với tổ chức.

Nghị định 99/2020/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ 11/10/2020.

4. Tăng mức phạt hành vi vi phạm về quấy rối người tiêu dùng

Theo Nghị định 98/2020/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có hiệu lực từ 15/10/2020 thì:

- Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng (hiện hành từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng) đối với thương nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có các hành vi quấy rối người tiêu dùng như sau:

+ Quấy rối người tiêu dùng thông qua tiếp thị hàng hóa, dịch vụ trái với ý muốn của người tiêu dùng từ 02 lần trở lên.

+ Có hành vi gây cản trở, ảnh hưởng đến công việc, sinh hoạt bình thường của người tiêu dùng.

Trường hợp nếu có các hành vi ép buộc người tiêu dùng sau đây thì có thể bị phạt tiền đến 30.000.000 đồng:

- Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc hành vi khác gây thiệt hại đến sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của người tiêu dùng để ép buộc giao dịch;

- Lợi dụng hoàn cảnh khó khăn của người tiêu dùng hoặc lợi dụng thiên tai, dịch bệnh để ép buộc giao dịch.



Xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, hoạt động xuất bảnThông tinTinNguyễn Thị LinhXử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, hoạt động xuất bản/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/15/2020 5:00 PMNoĐã ban hành

Ngày Ngày 07/10, Chính phủ đã ban hành Nghị định 119/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, hoạt động xuất bản, trong đó quy định cụ thể mức phạt tiền đối với vi phạm quy định về trang thông tin điện tử tổng hợp.

119.jpg

(Nguồn: internet)

Đơn cử như sau:

Phạt tiền từ 150-200 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau đây: Cung cấp thông tin chống nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; phá hoại việc thực hiện chính sách đoàn kết quốc tế mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; cung cấp thông tin xuyên tạc, bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; cung cấp thông tin có nội dung kích động chiến tranh nhằm chống lại độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; cung cấp thông tin xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; cung cấp thông tin có nội dung thuộc danh mục bí mật nhà nước mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;...

Phạt tiền từ 10-20 triệu đồng đối với một trong các hành vi: Cung cấp thông tin xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín của cá nhân; thực hiện không đúng quy định trong giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp; cung cấp đường dẫn đến trang thông tin điện tử hoặc ứng dụng có nội dung vi phạm pháp luật; đăng, phát các tác phẩm báo chí, văn học, nghệ thuật, xuất bản phẩm mà không được sự đồng ý của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ; không gỡ bỏ ngay nội dung thông tin đã tổng hợp khi nguồn thông tin được trích dẫn đã gỡ bỏ nội dung thông tin đó hoặc theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền; không thực hiện đăng tải nội dung thông tin cải chính, xin lỗi của cơ quan báo chí vi phạm mà trang thông tin điện tử tổng hợp đã trích dẫn thông tin.

Không trích dẫn nguyên văn, chính xác nguồn tin sẽ bị phạt đến 30 triệu đồng

Phạt tiền từ 20-30 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau đây: Không trích dẫn nguyên văn, chính xác nguồn tin chính thức theo quy định; cung cấp thông tin có nội dung cổ súy các hủ tục, mê tín, dị đoan, những chuyện thần bí gây hoang mang trong xã hội, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội và sức khỏe của cộng đồng; cung cấp thông tin không phù hợp thuần phong mỹ tục Việt Nam; cung cấp thông tin ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần của trẻ em;...

Đối với một trong các hành vi: Cung cấp thông tin có nội dung kích động bạo lực; cung cấp thông tin miêu tả tỉ mỉ hành vi tội ác, tai nạn rùng rợn, hành động dâm ô, đồi trụy thì sẽ bị phạt tiền từ 30-40 triệu đồng.

Phạt tiền từ 40-50 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau đây: Thể hiện không đúng chủ quyền quốc gia khi đăng, phát hình ảnh bản đồ Việt Nam; cung cấp thông tin có nội dung sai sự thật, xuyên tạc, xúc phạm danh dự, uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân; cung cấp thông tin có nội dung quy kết tội danh khi chưa có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật; đăng, phát các tác phẩm báo chí, nội dung thông tin trong tác phẩm báo chí, xuất bản phẩm đã bị đình chỉ phát hành, thu hồi, tịch thu, cấm lưu hành, gỡ bỏ, tiêu hủy; cung cấp thông tin trên trang thông tin điện tử tổng hợp ngoài phạm vi tổng hợp thông tin đã được cấp phép.

Phạt tiền từ 50-70 triệu đồng đối với hành vi thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp khi chưa được cấp phép.

Nghị định có hiệu lực thi hành từ 1/12/2020./.

Linh Nguyễn

 

 

Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tếThông tinTinNguyễn Thị LinhQuy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/1/2020 9:00 AMNoĐã ban hành

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 117/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính (VPHC) trong lĩnh vực y tế.

Nghị định này quy định về hành vi VPHC, hình thức, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi VPHC, thẩm quyền lập biên bản, thẩm quyền xử phạt VPHC theo từng chức danh đối với hành vi VPHC trong lĩnh vực y tế.

Theo Nghị định, hình thức xử phạt chính là cảnh cáo và phạt tiền. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, tổ chức, cá nhân có hành vi VPHC có thể bị áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung: a- Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn từ 1-24 tháng đối với: giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dược; giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh; giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn an toàn sinh học cấp III; giấy chứng nhận đủ điều kiện xét nghiệm HIV; giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất mỹ phẩm; giấy phép kinh doanh rượu, bia; giấy phép hoạt động Ngân hàng mô; chứng chỉ hành nghề dược; chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh; b- Tịch thu tang vật, phương tiện VPHC trong lĩnh vực y tế; c- Đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 1-24 tháng; d- Trục xuất.

Ngoài hình thức xử phạt chính, hình thức xử phạt bổ sung, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, cá nhân, tổ chức VPHC trong lĩnh vực y tế có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả được quy định tại Luật Xử lý VPHC.

Nghị định quy định, mức phạt tiền tối đa đối với hành vi VPHC về dân số là 30 triệu đồng đối với cá nhân và 60 triệu đồng đối với tổ chức.

Mức phạt tiền tối đa đối với hành vi VPHC về y tế dự phòng và phòng, chống HIV/AIDS là 50 triệu đồng đối với cá nhân và 100 triệu đồng đối với tổ chức.

Mức phạt tiền tối đa đối với hành vi VPHC về bảo hiểm y tế là 75 triệu đồng đối với cá nhân và 150 triệu đồng đối với tổ chức.

Mức phạt tiền tối đa đối với hành vi VPHC về khám bệnh, chữa bệnh, dược, mỹ phẩm và trang thiết bị y tế là 100 triệu đồng đối với cá nhân và 200 triệu đồng đối với tổ chức.

Tập trung đông người tại vùng dịch bị phạt tới 40 triệu đồng

Theo Nghị định, phạt tiền từ 10-20 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau đây: Không thực hiện quyết định áp dụng biện pháp tạm đình chỉ hoạt động của cơ sở dịch vụ ăn uống công cộng có nguy cơ làm lây truyền bệnh dịch tại vùng có dịch; không thực hiện quyết định áp dụng biện pháp cấm kinh doanh, sử dụng loại thực phẩm là trung gian truyền bệnh; không thực hiện quyết định áp dụng biện pháp hạn chế tập trung đông người hoặc tạm đình chỉ hoạt động kinh doanh, dịch vụ tại nơi công cộng.

Bên cạnh đó, phạt tiền từ 20-30 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau đây: Không thực hiện quyết định kiểm tra, giám sát, xử lý y tế trước khi ra vào vùng có dịch thuộc nhóm A; đưa ra khỏi vùng có dịch thuộc nhóm A những vật phẩm, động vật, thực vật, thực phẩm và hàng hóa khác có khả năng lây truyền bệnh dịch; không thực hiện quyết định buộc tiêu hủy động vật, thực phẩm, thực vật và các vật khác là trung gian truyền bệnh thuộc nhóm A.

Ngoài ra, phạt tiền từ 30-40 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau đây: Không thực hiện yêu cầu kiểm tra và xử lý y tế đối với phương tiện vận tải trước khi ra khỏi vùng có dịch trong tình trạng khẩn cấp về dịch; không thực hiện quyết định cấm tập trung đông người tại vùng đã được ban bố tình trạng khẩn cấp về dịch; đưa người, phương tiện không có nhiệm vụ vào ổ dịch tại vùng đã được ban bố tình trạng khẩn cấp về dịch; không thực hiện quyết định buộc tiêu hủy động vật, thực phẩm, thực vật và các vật khác có nguy cơ làm lây lan bệnh dịch sang người tại vùng đã được ban bố tình trạng khẩn cấp về dịch.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 15/11/2020.

Nguồn: chinhphu.vn

 

Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ biên giới quốc giaThông tinTinNguyễn Thị LinhXử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
9/28/2020 2:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 24/8/2020, Chính phủ ban hành Nghị định số 96/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính (VPHC) trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia. 

Nghị định này quy định về các hành vi VPHC, hình thức, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền lập biên bản và thẩm quyền xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia. Các hành vi VPHC xảy ra ở khu vực biên giới không quy định tại Nghị định này thì áp dụng quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý nhà nước khác có liên quan để xử phạt.

Theo đó, mức phạt tiền tối đa đối với hành vi VPHC của cá nhân trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia là 50 triệu đồng. Trường hợp tổ chức có cùng hành vi vi phạm như của cá nhân thì mức phạt tiền bằng hai lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

Trong đó: Phạt tiền từ 40 - 50 triệu đồng đối với một trong những hành vi:

- Làm hư hại mốc quốc giới, cọc dấu, dấu hiệu đường biên giới, vật đánh dấu đường biên giới, cột cờ, điểm cơ sở, bia chủ quyền trên các đảo.

- Làm thay đổi dòng chảy sông, suối biên giới hoặc làm ảnh hưởng đến đường biên giới quốc gia.

- Xây dựng công trình kiên cố trong phạm vi 30 mét tính từ đường biên giới trên đất liền tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc hoặc 100 mét tính từ đường biên giới trên đất liền tuyến biên giới Việt Nam - Lào, Việt Nam - Campuchia.

- Xây dựng trái phép công trình trên sông, suối biên giới.

Phạt tiền từ 20 - 30 triệu đồng đối với một trong các hành vi: Thăm dò địa chất, khai thác tài nguyên, khoáng sản theo giấy phép làm hư hại dấu hiệu đường biên giới quốc gia, mốc quốc giới, cọc dấu, vật đánh dấu đường biên giới, cột cờ, bia chủ quyền trên các đảo, điểm cơ sở; công trình phòng thủ vùng biển, công trình biên giới; đổ đất đá, chất thải xuống sông, suối biên giới.

Nghị định cũng quy định cụ thể mức phạt đối với hành vi vi phạm quy chế khu vực biên giới đất liền, trong đó, phạt tiền từ 40 - 50 triệu đồng đối với hành vi bắn, phóng, thả, điều khiển các phương tiện bay trong khu vực biên giới hoặc qua biên giới.

Nổ súng săn bắn trong phạm vi 1.000 mét tính từ đường biên giới trên đất liền sẽ bị phạt tiền từ 30 - 40 triệu đồng.

Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 300.000-500.000 đồng đối với một trong các hành vi: Công dân Việt Nam vào khu vực biên giới đất liền, vành đai biên giới không mang theo Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân hoặc Hộ chiếu; không thông báo, khai báo đăng ký hoặc che giấu, giúp đỡ người khác đi lại, lưu trú, tạm trú trái phép trong khu vực biên giới đất liền.

Phạt tiền từ 500.000 - 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi: Cư dân biên giới sử dụng giấy tờ xuất, nhập cảnh biên giới hết giá trị để qua lại biên giới; cư dân biên giới đi quá phạm vi quy định khi được phép qua lại biên giới; người nước ngoài vào vành đai biên giới không trình báo với đồn biên phòng; cư dân biên giới chăn thả gia súc, gia cầm qua biên giới;...

Phạt tiền từ 1-2 triệu đồng đối với một trong các hành vi: Cư dân biên giới cho người khác sử dụng giấy tờ có giá trị xuất, nhập cảnh biên giới để qua lại biên giới; không khai báo với đồn Biên phòng hoặc Công an cấp xã sở tại về mục đích, thời gian, danh sách người, số lượng phương tiện, nội dung và phạm vi hoạt động ở vành đai biên giới; ra, vào, đi lại, điều khiển phương tiện, tiến hành các hoạt động không đúng quy định trong vùng cấm;...

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 10/10/2020 và thay thế Nghị định số 169/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia. Ngoài ra, đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia xảy ra trước khi Nghị định này có hiệu lực mà sau đó mới bị phát hiện hoặc đang xem xét, giải quyết thì áp dụng các quy định có lợi cho tổ chức, cá nhân vi phạm.

Linh Nguyễn

Nghị định 96.2020.NĐ-CP.pdf

 

Các chính sách pháp luật nổi bật có hiệu lực tháng 9/2020Thông tinTinNguyễn Thị LinhCác chính sách pháp luật nổi bật có hiệu lực tháng 9/2020/XLVPHCTDTHPL/PublishingImages/2020-09/HINH 1_Key_15092020153614.jpg
9/15/2020 4:00 PMNoĐã ban hành

1. Thời gian nghỉ hè hằng năm của giáo viên phổ thông là 08 tuần

Từ ngày 01/9/2020, Nghị định 84/2020/NĐ-CP hướng dẫn Luật Giáo dục 2019 chính thức có hiệu lực thi hành. 

phothong.jpg

(Ảnh minh họa)

Theo đó, thời gian nghỉ hè hằng năm của giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông, trường chuyên biệt là 08 tuần, bao gồm cả nghỉ phép hằng năm (quy định hiện hành là 2 tháng).

Trường hợp đột xuất, khẩn cấp để phòng chống thiên tai, dịch bệnh hoặc trường hợp cấp bách, thời gian nghỉ hè của giáo viên do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT quyết định theo thẩm quyền.

Ngoài thời gian nghỉ hè, giáo viên được nghỉ lễ, tết và các ngày nghỉ khác theo quy định của Bộ luật Lao động.

Căn cứ kế hoạch thời gian năm học do Bộ GD&ĐT ban hành và điều kiện cụ thể của địa phương, Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định thời điểm nghỉ hè của giáo viên ở cơ sở giáo dục phổ thông trên địa bàn.

2. Phạt đến 30 triệu đồng nếu yêu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch giả tạo

Đây là nội dung tại Nghị định 82/2020/NĐ-CP quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; HN&GĐ; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.

Theo đó, phạt tiền từ 20 - 30 triệu đồng đối với cá nhân có một trong các hành vi vi phạm quy định về công chứng hợp đồng, giao dịch sau:

- Giả mạo, thuê hoặc nhờ người khác giả mạo người yêu cầu công chứng hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến hợp đồng, giao dịch để công chứng hợp đồng, giao dịch;

- Giả mạo chữ ký của người yêu cầu công chứng;

- Yêu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch giả tạo;

- Cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật để công chứng hợp đồng, giao dịch;

- Cản trở hoạt động công chứng.

Đồng thời, buộc tổ chức hành nghề công chứng đang lưu trữ hồ sơ công chứng thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền, nghĩa vụ liên quan về hành vi vi phạm trên (trừ hành vi cản trở hoạt động công chứng).

Nghị định 82/2020/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/9/2020.

3. Điều kiện hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho người bị TNLĐ, BNN

Ngày 28/7/2020, Chính phủ ban hành Nghị định 88/2020/NĐ-CP hướng dẫn Luật an toàn, vệ sinh lao động về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (TNLĐ, BNN) bắt buộc.

Theo đó: Người sử dụng lao động (NSDLĐ) được hỗ trợ kinh phí đào tạo nghề để chuyển đổi nghề nghiệp cho NLĐ theo quy định khi NLĐ có đủ các điều kiện:

- Đang tham gia bảo hiểm TNLĐ, BNN theo quy định tại thời điểm bị TNLĐ, BNN (điều kiện mới);

- Suy giảm khả năng lao động do bị TNLĐ, BNN từ 31% trở lên;

- Được NSDLĐ sắp xếp công việc mới thuộc quyền quản lý phù hợp với sức khỏe, nguyện vọng của NLĐ nhưng công việc đó cần phải đào tạo nghề để chuyển đổi.

Nghị định 88/2020/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 15/9/2020.

4. Hướng dẫn quy trình đăng ký hộ tịch trực tuyến

Nghị định 87/2020/NĐ-CP về cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, đăng ký hộ tịch (ĐKHT) trực tuyến có hiệu lực từ ngày 15/9/2020. 

hotich.jpg

(Ảnh minh họa)

Theo đó, người có yêu cầu ĐKHT trực tuyến truy cập Cổng dịch vụ công quốc gia, Cổng dịch vụ công cấp tỉnh để đăng ký tài khoản, xác thực người dùng theo hướng dẫn.
Khi đăng nhập tài khoản thành công, người có yêu cầu cung cấp thông tin theo biểu mẫu điện tử tương tác, đính kèm bản chụp hoặc bản sao điện tử các giấy tờ, tài liệu theo quy định.

Nộp phí, lệ phí thông qua chức năng thanh toán trực tuyến hoặc bằng cách thức khác theo quy định.

Sau khi hoàn tất việc nộp hồ sơ, người có yêu cầu được cấp 01 mã số hồ sơ thủ tục hành chính để theo dõi, tra cứu tiến độ giải quyết hoặc truy cập để hoàn thiện hồ sơ khi có yêu cầu của cơ quan ĐKHT…

5. Hệ thống tổ chức của BHXH Việt Nam

Nghị định 89/2020/NĐ-CP về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam có hiệu lực từ ngày 20/9/2020.
Theo đó, BHXH Việt Nam được tổ chức và quản lý theo hệ thống dọc, tập trung, thống nhất từ trung ương đến địa phương, gồm:

- Ở trung ương là BHXH Việt Nam;

- Ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là BHXH tỉnh trực thuộc BHXH Việt Nam;

- Ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là BHXH huyện trực thuộc BHXH tỉnh;

- Không tổ chức đơn vị BHXH huyện tại đơn vị hành chính là thành phố, thị xã trực thuộc tỉnh, nơi có trụ sở BHXH cấp tỉnh đóng trên địa bàn (mới).

Linh Nguyễn

 

Các chính sách pháp luật nổi bật có hiệu lực tháng 7/2020 (phần 2)Thông tinTinNguyễn Thị LinhCác chính sách pháp luật nổi bật có hiệu lực tháng 7/2020 (phần 2)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
7/22/2020 10:00 AMNoĐã ban hành

1. Điều kiện doanh nghiệp được giảm mức đóng BHXH bắt buộc từ 15/7/2020

Đây là nội dung được đề cập tại Nghị định 58/2020/NĐ-CP về mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

Theo đó, các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành nghề có nguy cơ cao về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (TNLĐ, BNN) được giảm tỷ lệ đóng vào quỹ TNLĐ, BNN từ 0.5% xuống còn 0.3% khi có các điều kiện sau:

- Trong vòng 03 năm tính đến thời điểm đề xuất không bị xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền, không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi vi phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động và BHXH;

- Thực hiện việc báo cáo định kỳ TNLĐ và báo cáo về an toàn, vệ sinh lao động chính xác, đầy đủ, đúng thời hạn trong 03 năm liền kề trước năm đề xuất;

- Tần suất TNLĐ của năm liền kề trước năm đề xuất phải giảm từ 15% trở lên so với tần suất TNLĐ trung bình của 03 năm liền kề trước năm đề xuất hoặc không để xảy ra TNLĐ tính từ 03 năm liền kề trước năm đề xuất.

Nghị định 58/2020/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 15/7/2020.

2. Thay đổi trong hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp

Đây là nội dung đáng chú ý tại Nghị định 61/2020/NĐ-CP sửa đổi Nghị định số 28/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp.

Theo đó, bổ sung một số giấy tờ sau có thể sử dụng để xác nhận về việc chấm dứt HĐLĐ hoặc hợp đồng làm việc trong hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp:

- Xác nhận của người sử dụng lao động trong đó có nội dung cụ thể về thông tin của người lao động; loại hợp đồng lao động đã ký; lý do, thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động;

- Xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc DN hoặc HTX giải thể, phá sản hoặc quyết định bãi nhiệm, miễn nhiệm, cách chức đối với các chức danh được bổ nhiệm trong trường hợp NLĐ là người quản lý DN, quản lý HTX;

Trường hợp người lao động không có các giấy tờ xác nhận về việc chấm dứt HĐLĐ do đơn vị sử dụng lao động không có người đại diện theo pháp luật và người được người đại diện theo pháp luật ủy quyền thì thực hiện theo quy trình tại Khoản 6 Điều 1 Nghị đinh 61/2020.

Nghị định 61/2020/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 15/7/2020. 

3. Chậm nhất là 15/6 phải gửi kế hoạch biên chế công chức hằng năm

Ngày 01/6/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định 62/2020/NĐ-CP về vị trí việc làm và biên chế công chức.

Theo đó, chậm nhất là ngày 15 tháng 6 hằng năm, các bộ, ngành, địa phương phải gửi hồ sơ kế hoạch biên chế công chức về Bộ Nội vụ để thẩm định.

(Hiện hành, theo Điều 9 Nghị định 21/2010/NĐ-CP của Chính phủ thì mốc thời gian quy định là chậm nhất ngày 20/7 của năm trước liền kề).

Hồ sơ kế hoạch biên chế công chức hằng năm bao gồm:

+ Văn bản đề nghị kế hoạch biên chế công chức hằng năm;

+ Kế hoạch biên chế công chức hằng năm của cơ quan, tổ chức theo quy định tại Điều 11 Nghị định này;

+ Bản sao các văn bản của cơ quan có thẩm quyền, người có thẩm quyền quyết định hoặc phê duyệt biên chế công chức của năm trước liền kề với năm kế hoạch.

Nghị định 62/2020/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 20/7/2020.

4. Từ 2021, cơ sở phân phối nguyên liệu làm thuốc phải thực hiện quản lý hoạt động phân phối bằng phần mềm vi tính

Ngày 10/6/2020, Bộ Y tế ban hành Thông tư 9/2020/TT-BYT sửa đổi Thông tư 03/2018/TT-BYT quy định về thực hành tốt phân phối thuốc, nguyên liệu làm thuốc.

Theo đó, bổ sung quy định quy định về đánh giá thực hành tốt nguyên liệu làm thuộc như sau:

- Đến ngày 01/01/2021, cơ sở phân phối nguyên liệu làm thuốc phải có thiết bị, máy tính kết nối internet và thực hiện quản lý hoạt động phân phối bằng phần mềm vi tính, thực hiện kết nối mạng, bảo đảm kiểm soát xuất xứ, giá cả, nguồn gốc mua vào, bán ra.

- Có cơ chế chuyển thông tin về việc mua bán nguyên liệu làm thuốc, chất lượng nguyên liệu làm thuốc giữa nhà cung cấp với khách hàng cũng như việc chuyển giao thông tin cho cơ quan quản lý liên quan khi được yêu cầu.

Thông tư 9/2020/TT-BYT có hiệu lực từ ngày 25/07/2020.

Linh Nguyễn

 

Các chính sách pháp luật nổi bật có hiệu lực tháng 7/2020Thông tinTinNguyễn Thị LinhCác chính sách pháp luật nổi bật có hiệu lực tháng 7/2020/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
7/8/2020 10:00 AMNoĐã ban hành

1. Lộ trình tăng mức phí bảo vệ môi trường với nước thải công nghiệp

Nghị định 53/2020/NĐ-CP về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải đưa ra lộ trình tăng mức phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp như sau:

Đối với cơ sở có tổng lượng nước thải trung bình trong năm dưới 20 m3/ngày (24 giờ) áp dụng phí cố định tính theo khối lượng nước thải (không áp dụng mức phí biến đổi):

- Năm 2020, áp dụng mức phí 1.500.000 đồng/năm.

- Kể từ ngày 01/01/2021 trở đi, áp dụng theo Biểu sau:

+ 4.000.000 đồng/năm đối với cơ sở lưu lượng nước thải bình quân từ 10 đến dưới 20 m3/ngày (24 giờ);

+ 3.000.000 đồng/năm đối với cơ sở có tổng lượng nước thải trung bình trong năm từ 05 đến dưới 10 m3/ngày (24 giờ).

+ 2.500.000 đồng/năm đối với cơ sở có tổng lượng nước thải trung bình trong năm dưới 05 m3/ngày (24 giờ).

Đối với cơ sở sản xuất, chế biến có tổng lượng nước thải trung bình trong năm từ 20 m3/ngày trở lên: phí tính theo công thức sau: F = f + C.

Trong đó:

- F là số phí phải nộp.

- f là mức phí cố định: 1.500.000 đồng/năm (kể từ ngày 01/01/2021 trở đi là 4.000.000 đồng/năm); trường hợp cơ sở bắt đầu hoạt động sau quý I, số phí phải nộp tính cho thời gian từ quý cơ sở bắt đầu hoạt động đến hết năm, mức phí cho 01 quý = f/4.

- C là phí biến đổi, tính theo: tổng lượng nước thải ra, hàm lượng thông số ô nhiễm của từng chất có trong nước thải và mức thu đối với mỗi chất theo Biểu tại điểm b khoản 2 Điều 6 Nghị định 53/2020.

2. Quy định về sao, chụp tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước

Theo Nghị định 26/2020/NĐ-CP hướng dẫn Luật Bảo vệ bí mật nhà nước, việc sao, chụp tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước được quy định như sau:

- Sao tài liệu bí mật nhà nước là việc chép lại hoặc tạo ra bản khác theo đúng nội dung bản gốc hoặc bản chính của tài liệu.

Chụp tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước là việc ghi lại bằng hình ảnh tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước.

Hình thức sao tài liệu bí mật nhà nước gồm sao y bản chính, sao lục và trích sao.

- Việc sao, chụp tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước phải tiến hành tại địa điểm bảo đảm an toàn do người đứng đầu của cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý bí mật nhà nước quy định.

- Phương tiện, thiết bị sử dụng để sao, chụp tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước không được kết nối với mạng Internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, trừ trường hợp thực hiện theo quy định pháp luật về cơ yếu.

Nghị định 26/2020/NĐ-CP thay thế Nghị định 33/2002/NĐ-CP ngày 28/3/2002.

3. Những việc hiệu trưởng trường công lập phải công khai

Thông tư 11/2020/TT-BGDĐT hướng dẫn thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ sở giáo dục công lập, quy định 12 việc hiệu trưởng phải công khai:

-  09 việc phải công khai để nhà giáo, cán bộ quản lý và người lao động biết, đơn cử như:

+ Chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước liên quan đến hoạt động của cơ sở giáo dục;

+ Các nội quy, quy chế của cơ sở giáo dục;

+ Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong cơ sở giáo dục;...

- 03 việc phải công khai để người học, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền và xã hội tham gia giám sát, đánh giá cơ sở giáo dục theo quy định của pháp luật:
+ Những việc được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định tại Quy chế thực hiện công khai đối với cơ sở giáo dục và đào tạo thuộc hệ thống giáo dục quốc dân;
+ Tất cả các quy định của cơ sở giáo dục liên quan đến việc học tập của người học theo quy định của pháp luật;

+ Kết quả kiểm định chất lượng giáo dục.

Thông tư 11/2020/TT-BGDĐT thay thế Quyết định 04/2000/QĐ-BGDĐT ngày 01/3/2000.

4. 19 biểu mẫu sử dụng trong công tác bảo vệ bí mật nhà nước

Bộ Công an ban hành Thông tư 24/2020/TT-BCA về biểu mẫu sử dụng trong công tác bảo vệ bí mật nhà nước.

Theo đó, quy định 19 biểu mẫu sử dụng trong công tác bảo vệ bí mật nhà nước, đơn cử như:

- Mẫu số 01: Văn bản xác định độ mật đối với vật, địa điểm, lời nói, hoạt động, hình thức khác chứa bí mật nhà nước.

- Mẫu số 02: Dấu chỉ độ Tuyệt mật, Tối mật, Mật.

- Mẫu số 03: Dấu ký hiệu A, B, C.

- Mẫu số 04: Dấu Thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước; dấu Gia hạn thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước.

- Mẫu số 05: Dấu Giải mật.

Thông tư 24/2020/TT-BCA bãi bỏ Thông tư 33/2015/TT-BCA ngày 20/7/2015.

5. 03 Thông tư về thuế, phí, lệ phí

- Thông tư 32/2020/TT-BTC sửa đổi Thông tư 268/2016/TT-BTC quy định về mức thu, chế độ thu, nộp quản lý, sử dụng lệ phí phân bổ và phí sử dụng mã, số viễn thông.

- Thông tư 31/2020/TT-BTC sửa đổi Thông tư 263/2016/TT-BTC quy định về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí sở hữu công nghiệp.

- Thông tư 92/2019/TT-BTC sửa đổi Thông tư 72/2014/TT-BTC quy định về hoàn thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa của người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mang theo khi xuất cảnh.

​​Linh Nguyễn

Từ 01/7/2020, 12 Luật sẽ chính thức có hiệu lực thi hànhThông tinTinNguyễn Thị LinhTừ 01/7/2020, 12 Luật sẽ chính thức có hiệu lực thi hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/25/2020 9:00 AMNoĐã ban hành

​​1. Luật quản lý thuế 2019 (thông qua tại kỳ họp thứ 7 ngày 13/6/2019)

- Người nộp thuế phải thực hiện đăng ký thuế và được cơ quan thuế cấp mã số thuế trước khi bắt đầu hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc có phát sinh nghĩa vụ với ngân sách nhà nước như vậy, không còn quy định trong thời hạn 10 ngày làm việc như hiện hành yêu cầu người nộp thuế phải thực hiện đăng ký thuế.

- Thời hạn cấp giấy chứng nhận đăng ký thuế là 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đăng ký thuế của người nộp thuế (hiện hành là 10 ngày làm việc). Trường hợp cấp lại do bị mất, rách, nát, cháy thì trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ (hiện hành là 05 ngày làm việc).

- Kéo dài thời hạn nộp hồ sơ quyết toán thuế tncn: xem chi tiết tại đây.

- Luật hóa quy định về hóa đơn điện tử: xem chi tiết tại đây.

- Thêm trường hợp được gia hạn nộp thuế: xem chi tiết tại đây.

2. Luật kiểm toán nhà nước sửa đổi 2019 (thông qua tại kỳ họp thứ 8, ngày 26/11/2019)

- Bổ sung khái niệm cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động kiểm toán là: cơ quan, tổ chức, cá nhân được xác định trong quá trình kiểm toán tại đơn vị được kiểm toán là có liên quan đến việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công của đơn vị được kiểm toán.

- Bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm toán nhà nước:

+ Thực hiện nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng theo quy định của luật phòng, chống tham nhũng;

+ Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kiểm toán nhà nước theo quy định của luật xử lý vi phạm hành chính.

- Bổ sung quy định về việc kiểm soát chất lượng kiểm toán nhằm bảo đảm mọi hoạt động kiểm toán đều được kiểm tra, soát xét về chất lượng, tổng kiểm toán nhà nước quy định cụ thể về tổ chức thực hiện kiểm soát chất lượng kiểm toán.

- Đơn vị được kiểm toán được quyền khởi kiện quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước theo quy định của luật tố tụng hành chính 2015.

3. Luật bảo vệ bí mật nhà nước 2018 (thông qua tại kỳ họp thứ 6, ngày 15/11/2018)

- Quy định rõ phạm vi thông tin bí mật nhà nước (bmnn) thuộc từng lĩnh vực cụ thể, ví dụ như:

+ Thông tin về giáo dục và đào tạo có đề thi, đáp án và thông tin liên quan đến việc tổ chức kỳ thi cấp quốc gia;

+ Thông tin về y tế, dân số có thông tin bảo vệ sức khỏe lãnh đạo cấp cao của đảng, nhà nước; thông tin, tài liệu, số liệu điều tra về dân số;

- Quy định thời hạn bảo vệ bmnn là khoảng thời gian được tính từ ngày xác định độ mật của bmnn đến hết thời hạn sau đây:

+ 30 năm đối với BMNN độ tuyệt mật;

+ 20 năm đối với BMNN độ tối mật;

+ 10 năm đối với BMNN độ mật.

- Các trường hợp BMNN được giải mật toàn bộ hoặc một phần gồm có:

+ Hết thời hạn bảo vệ BMNN quy định tại điều 19 và thời gian gia hạn quy định tại điều 20 của luật bảo vệ bí mật nhà nước 2018;

+ Đáp ứng yêu cầu thực tiễn bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; phát triển kinh tế - xã hội; hội nhập, hợp tác quốc tế;

+ Không còn thuộc danh mục BMNN.

4. Luật dân quân tự vệ 2019 (thông qua tại kỳ họp thứ 8, ngày 22/11/2019)

- Về thành phần của dân quân tự vệ:

+ Không còn phân chia dân quân tự vệ thành dân quân tự vệ nòng cốt và dân quân tự vệ rộng rãi như luật dân quân tự vệ 2009;

+ Bổ sung thêm trong thành phần có dân quân tự vệ thường trực và dân quân tự vệ biển.

- Thêm nhiều trường hợp được tạm hoãn thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ, đơn cử như:

+ Nam giới một mình nuôi con dưới 36 tháng tuổi;

+ Vợ hoặc chồng, một con của thương binh, bệnh binh, người bị nhiễm chất độc da cam suy giảm khả năng lao động từ 61% đến 80%;

+ Người đang lao động, học tập, làm việc ở nước ngoài.

5. Luật cán bộ, công chức và luật viên chức sửa đổi 2019

- Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn chỉ được áp dụng với 03 đối tượng sau:
+ Viên chức được tuyển dụng trước ngày 01/7/2020;

+ Cán bộ, công chức chuyển sang làm viên chức theo quy định tại điểm b khoản 1 điều 58 luật viên chức 2010;

+ Người được tuyển dụng làm viên chức làm việc tại vùng có điều kiện kt-xh đặc biệt khó khăn. Ngoài ra, thời hạn của hợp đồng làm việc xác định thời hạn cũng được kéo dài đến 60 tháng (hiện nay tối đa chỉ đến 36 tháng);

- Bổ sung thêm 02 đối tượng được tuyển dụng công chức thông qua xét tuyển:

+ Người học theo chế độ cử tuyển theo quy định của luật giáo dục, sau khi tốt nghiệp về công tác tại địa phương nơi cử đi học;

+ Sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, nhà khoa học trẻ tài năng.

- Hình thức kỷ luật hạ bậc lương chỉ áp dụng đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.

6. Lut giáo dc 2019

- Quy định mới về trình độ chuẩn được đào tạo của giáo viên (gv):

+ Mầm non: có bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm trở lên (hiện nay chỉ yêu cầu có bằng tốt nghiệp trung cấp sư phạm);

+ Tiểu học, thcs, thpt: có bằng cử nhân thuộc ngành đào tạo gv trở lên, nếu môn học chưa đủ gv đáp ứng yêu cầu này thì gv phải có bằng cử nhân chuyên ngành phù hợp và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm.

- Học sinh, sinh viên sư phạm được hỗ trợ tiền đóng học phí và chi phí sinh hoạt trong toàn khóa học, tuy nhiên sẽ phải hoàn trả lại nếu sau 02 năm kể từ khi tốt nghiệp:

 + Không công tác trong ngành giáo dục;

 + Công tác không đủ thời gian quy định.

7. Lut nhp cnh, xut cnh, quá cnh, cư trú ca ngưi nưc ngoài ti vit nam sa đi 2019

- Thị thực không được chuyển đổi mục đích, trừ 4 trường hợp sau:

+ Có giấy tờ chứng minh là nhà đầu tư hoặc người đại diện cho tổ chức nước ngoài đầu tư tại việt nam theo quy định;

+ Có giấy tờ chứng minh quan hệ là cha, mẹ, vợ, chồng, con với cá nhân mời, bảo lãnh;

+ Được cơ quan, tổ chức mời, bảo lãnh vào làm việc và có giấy phép lao động (gplđ) hoặc xác nhận không thuộc diện cấp gplđ theo quy định;

+ Nhập cảnh bằng thị thực điện tử và có gplđ hoặc xác nhận không thuộc diện cấp GPLĐ theo quy định.

- Sửa đổi, bổ sung thêm các ký hiệu thị thực như: Ls, Đt1, Đt2, Đt3, Đt4, Dn1, Dn2, Lđ1, Lđ2 (hiện hành chỉ có các ký hiệu là Đt, Dn, Lđ);

- Luật hóa quy định về thị thực điện tử:

+ Ký hiệu Ev, có giá trị một lần và có thời hạn không quá 30 ngày;

+ Người nước ngoài sử dụng thị thực điện tử nhập cảnh, xuất cảnh phải đủ các điều kiện theo quy định và phải nhập cảnh, xuất cảnh qua các cửa khẩu quốc tế do chính phủ quyết định.

8. Lut t chc chính ph và lut t chc chính quyn đa phương sa đi 2019

- Không còn khái niệm họp bất thường trong hoạt động của chính phủ, hđnd và ubnd mà thay vào đó sẽ là họp chuyên đề hoặc họp để giải quyết công việc phát sinh đột xuất.
- Bổ sung thêm 01 tiêu chuẩn của đại biểu hđnd: có một quốc tịch là quốc tịch việt nam.
- Số lượng phó chủ tịch ubnd xã loại ii sẽ có không quá 02 người, đã được tăng thêm 01 người so với quy định hiện hành.

- Tổng số đại biểu hđnd tp.hà nội, tp.hcm được bầu là 95 đại biểu (hiện nay là 105 đại biểu).

Ngoài ra, luật mới còn quy định điều chỉnh giảm số lượng đại biểu hđnd và thay đổi số lượng thành viên thường trực hđnd tỉnh, huyện, xã.

9. Lut lc lưng d b đng viên 2019

- Quy định 04 trường hợp huy động lực lượng dự bị động viên bao gồm:

+ Khi thực hiện lệnh tổng động viên hoặc lệnh động viên cục bộ;

+ Khi thi hành lệnh thiết quân luật;

+ Khi có nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội nhưng chưa đến mức ban bố tình trạng khẩn cấp;

+ Để phòng, chống, khắc phục hậu quả thảm họa, thiên tai, dịch bệnh nguy hiểm.

- Quy định về tổ chức biên chế đơn vị dự bị động viên:

+ Quân nhân dự bị, phương tiện kỹ thuật dự bị đã xếp trong kế hoạch bổ sung cho lực lượng thường  trực của quân đội nhân dân được tổ chức thành các đơn vị dự bị động viên.

+ Đơn vị dự bị động viên phải duy trì quân số quân nhân dự bị, phương tiện kỹ thuật dự bị, có số lượng dự phòng từ 10% đến 15% và dự trữ vũ khí, trang bị kỹ thuật theo phân cấp.

10. Lut xut cnh, nhp cnh ca công dân vit nam 2019

Từ ngày 01/7/2020, nhiều loại hộ chiếu sẽ được gắn chíp điện tử:

Luật quy định hộ chiếu có gắn chíp điện tử là hộ chiếu có gắn thiết bị điện tử lưu giữ thông tin được mã hóa của người mang hộ chiếu và chữ ký số của người được cấp. được cấp cho công dân việt nam từ đủ 14 tuổi trở lên.

Người từ đủ 14 tuổi trở lên có quyền lựa chọn cấp hộ chiếu có gắn chíp điện tử hoặc hộ chiếu không gắn chíp điện tử.

Các loại hộ chiếu sẽ được gắn chíp điện tử bao gồm:

- Hộ chiếu ngoại giao;

- Hộ chiếu công vụ;

- Hộ chiếu phổ thông.

11. Lut thư vin 2019

Luật thư viện 2019 đã mở rộng đối tượng được thành lập thư viện, cụ thể: tổ chức, cá nhân việt nam hoặc tổ chức, cá nhân nước ngoài, cộng đồng dân cư đầu tư đều có quyền thành lập thư viện ngoài công lập khi có đủ các điều kiện sau đây:

- Mục tiêu, đối tượng phục vụ xác định;

- Tài nguyên thông tin phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, đối tượng phục vụ của thư viện;
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị bảo đảm phục vụ hoạt động thư viện;

- Người làm công tác thư viện có chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với hoạt động thư viện;

- Người đại diện theo pháp luật của thư viện có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.

(theo quy định hiện hành, chỉ có tổ chức của việt nam có quyền thành lập thư viện).

12. Lut kiến trúc 2019

Quy định về điều kiện để được cấp chứng chỉ hành nghề kiến trúc:

- Có trình độ đại học trở lên về lĩnh vực kiến trúc;

- Có kinh nghiệm tham gia thực hiện dịch vụ kiến trúc tối thiểu là 03 năm tại tổ chức hành nghề kiến trúc hoặc hợp tác với kiến trúc sư hành nghề với tư cách cá nhân; trường hợp cá nhân đạt giải thưởng kiến trúc quốc gia hoặc giải thưởng quốc tế về kiến trúc sẽ được miễn điều kiện này.

- Đạt yêu cầu sát hạch cấp chứng chỉ hành nghề kiến trúc. trường hợp cá nhân có thời gian liên tục từ 10 năm trở lên trực tiếp tham gia quản lý nhà nước về kiến trúc, đào tạo trình độ đại học trở lên về lĩnh vực kiến trúc, hành nghề kiến trúc được miễn điều kiện này.

nguồn:https://thuvienphapluat.vn/tintuc/vn/thong-bao-van-ban-moi/chinh-sach/29521/tong-hop-diem-moi-12-luat-co-hieu-luc-tu-ngay-01-7-2020

Các chính sách pháp luật nổi bật có hiệu lực tháng 6/2020 (phần 2)Thông tinTinNguyễn Thị LinhCác chính sách pháp luật nổi bật có hiệu lực tháng 6/2020 (phần 2)/XLVPHCTDTHPL/PublishingImages/2020-06/HINH 1_Key_22062020081633.jpg
6/22/2020 9:00 AMNoĐã ban hành

1. Quy định về cửa khẩu NK, XK hàng hóa tạm nhập tái xuất

Đây là quy định tại Thông tư 09/2020/TT-BCT về lộ trình áp dụng cửa khẩu nhập khẩu, xuất khẩu qua biên giới đất liền đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập tái xuất, kinh doanh chuyển khẩu.

TT09.jpg

Theo đó, từ 00h00 ngày 01/01/2021, hàng hóa kinh doanh tạm nhập tái xuất, kinh doanh chuyển khẩu, nếu nhập khẩu vào hoặc tái xuất ra khỏi Việt Nam qua biên giới đất liền thì:

- Việc nhập khẩu hoặc tái xuất đó chỉ được thực hiện qua các cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu chính (cửa khẩu song phương) được mở theo quy định tại Nghị định 112/2014/NĐ-CP ngày 21/11/2014.

- Quy định này áp dụng cho cả hàng hóa nước ngoài tạm nhập tái xuất gửi kho ngoại quan nếu hàng hóa đó được nhập khẩu vào hoặc tái xuất ra khỏi Việt Nam qua biên giới đất liền.

Thông tư 09/2020/TT-BCT có hiệu lực thi hành từ 30/6/2020.

2. Phân loại xe ô tô chuyên dùng trong lĩnh vực y tế

Ngày 14/5/2020, Bộ Y tế ban hành Thông tư 7/2020/TT-BYT về tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô chuyên dùng trong lĩnh vực y tế.

Theo đó, xe ô tô chuyên dùng trong lĩnh vực y tế được phân loại như sau:

- Xe ô tô cứu thương gồm có:

+ Xe ô tô cứu thương đáp ứng quy định tiêu chuẩn và sử dụng xe ô tô cứu thương tại Thông tư 27/2017/TT-BYT ngày 28/6/2017;

+ Xe ô tô cứu thương có kết cấu đặc biệt (xe có kết cấu không gian rộng rãi được trang bị máy móc, trang thiết bị y tế phục vụ công tác cấp cứu, hồi sức tích cực trên xe).

- Xe ô tô chuyên dùng có kết cấu đặc biệt sử dụng trong lĩnh vực y tế gồm: Xe chụp X.quang lưu động; xe khám, chữa mắt lưu động; Xe xét nghiệm lưu động; Xe phẫu thuật lưu động; Xe lấy máu ...

- Xe ô tô chuyên dùng có gắn hoặc sử dụng thiết bị chuyên dùng phục vụ hoạt động y tế, bao gồm: xe vận chuyển người bệnh; xe giám định pháp y, xe vận chuyển tử thi; xe chở máy phun và hóa chất lưu động ...

Thông tư 7/2020/TT-BYT có hiệu lực thi hành từ 28/6/2020.

3. Hướng dẫn cơ cấu tổ chức của đại học vùng

Nội dung này được quy định tại Thông tư 10/2020/TT-BGDĐT về quy chế tổ chức và hoạt động của đại học vùng và các cơ sở giáo dục đại học thành viên.

Theo đó, Đại học vùng là cơ sở giáo dục đại học công lập trực thuộc Bộ GD&ĐT; chịu sự quản lý theo lãnh thổ của UBND cấp tỉnh nơi đại học vùng đặt trụ sở; có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng.

Cơ cấu tổ chức được quy định gồm có:

+ Hội đồng đại học vùng.

+ Giám đốc đại học vùng; phó giám đốc đại học vùng.

+ Hội đồng khoa học và đào tạo; hội đồng khác (nếu có).

+ Trường đại học thành viên, viện nghiên cứu thành viên (nếu có); trường thuộc đại học vùng, ban chức năng; tổ chức khoa học và công nghệ, thư viện và tổ chức phục vụ đào tạo khác.

+ Khoa, phân hiệu, viện nghiên cứu, trung tâm, cơ sở dịch vụ, doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh và đơn vị khác (nếu có) theo nhu cầu phát triển của đại học vùng.

Thông tư 10/2020/TT-BGDĐT có hiệu lực từ 29/6/2020 và thay thế Thông tư 08/2014/TT-BGDĐT ngày 20/3/2014.

4. Bãi bỏ một số VBQPPL trong lĩnh vực ngân sách nhà nước

Theo Thông tư 38/2020/TT-BTC về bãi bỏ VBQPPL do Bộ Tài chính ban hành trong lĩnh vực ngân sách nhà nước có hiệu lực từ 26/6/2020, một số văn bản sau đây bị bãi bỏ toàn bộ:

- Quyết định 42/2004/QĐ-BTC ngày 22/4/2004 về việc ban hành quy định về chi ngân sách trung ương bằng hình thức lệnh chi tiền.

- Thông tư 63/2009/TT-BTC ngày 27/3/2009 quy định về công tác lập dự toán, tổ chức thực hiện dự toán và quyết toán ngân sách huyện, quận, phường nơi không tổ chức Hội đồng nhân dân.

- Thông tư 319/2016/TT-BTC ngày 13/12/2016 quy định việc xử lý chuyển nguồn ngân sách nhà nước năm 2016 sang năm 2017.

Linh Nguyễn

 

Bộ Tài chính giảm 20% mức phí khi đăng ký giao dịch đảm bảo đến hết năm 2020Thông tinTinNguyễn Thị LinhBộ Tài chính giảm 20% mức phí khi đăng ký giao dịch đảm bảo đến hết năm 2020/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/9/2020 9:00 AMNoĐã ban hành

Nhằm tiếp tục thực hiện các giải pháp để hỗ trợ cho các đối tượng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, ngày 01/6/2020, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 49/2020/TT-BTC để giảm phí từ 20% đối với một số dịch vụ trong lĩnh vực đăng ký giao dịch đảm bảo.

Theo quy định tại Thông tư, kể từ ngày 01/6/2020, cơ quan, đơn vị thực hiện các công việc đăng ký giao dịch bảo đảm sẽ nộp phí bằng 80% mức thu phí quy định tại điểm a, b, d khoản 1 Điều 4 Thông tư số 202/2016/TT-BTC ngày 09 tháng 11 năm 2016 và mức thu phí quy định tại điểm c, đ khoản 1 Điều 1 Thông tư số 113/2017/TT-BTC ngày 20 tháng 10 năm 2017. Cụ thể gồm các loại phí:

- Phí đăng ký giao dịch bảo đảm lần đầu bằng động sản (trừ tàu bay), tàu biển;

- Phí đăng ký thay đổi nội dung giao dịch bảo đảm đã đăng ký;

- Phí xóa đăng ký giao dịch bảo đảm;

- Phí đăng ký văn bản thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm;

- Phí cấp bản sao văn bản chứng nhận nội dung đăng ký giao dịch bảo đảm;

- Phí cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm bằng động sản (trừ tàu bay), tàu biển.

Trường hợp yêu cầu cơ quan, đơn vị thực hiện cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm bằng động sản (trừ tàu bay), tàu biển nộp phí bằng 80% mức thu phí quy định tại Khoản 2 Điều 4 Thông tư số 202/2016/TT-BTC.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 6 năm 2020 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2020. Kể từ ngày 01/01/2021, các quy định nộp phí trên sẽ trở lại quy định trước ngày 01/6/2020.

Linh Nguyễn

 TT 49.2020.TTBTC.pdf

Hoàn thiện Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chínhThông tinTinHoàn thiện Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/4/2020 2:00 PMNoĐã ban hành

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính. Trong thời gian qua, các quy định về xử phạt vi phạm hành chính đang phát sinh nhiều bất cập, hạn chế. Hiện nay, Quốc hội đang xem xét sửa đổi, bổ sung Luật Xử lý vi phạm hành chính. Trên cơ sở nghiên cứu Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, bài viết đưa ra một số góp ý hoàn thiện đạo luật quan trọng này.

  ​hinh.jpg

Ảnh minh họa: Nguồn internet

1. Vấn đề đa dạng hóa các hình thức xử phạt

Luật Xử lý vi phạm hành chính (VPHC) năm 2012 quy định các hình thức xử phạt là: cảnh cáo; phạt tiền; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang vật, phương tiện VPHC; trục xuất. Cảnh cáo là hình thức xử phạt nhẹ nhất, chủ yếu tác động về mặt tinh thần. Các hình thức xử phạt như phạt tiền; tịch thu tang vật, phương tiện VPHC gây ra thiệt hại trực tiếp về kinh tế cho người vi phạm. Các hình thức xử phạt như tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn; đình chỉ hoạt động có thời hạn; trục xuất mang tính hạn chế quyền của chủ thể vi phạm. Việc áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn sẽ buộc chủ thể vi phạm phải tạm ngưng thực hiện quyền trong thời gian bị tước, đình chỉ. Việc áp dụng hình thức xử phạt trục xuất sẽ khiến cho người vi phạm bị hạn chế quyền tự do đi lại, tự do cư trú sau khi đã bị trục xuất khỏi lãnh thổ Việt Nam.

Qua thực tiễn áp dụng các hình thức xử phạt có thể nhận thấy, hình thức xử phạt cảnh cáo là quá nhẹ, không có tác dụng trong đấu tranh phòng, chống VPHC. Hình thức phạt tiền chỉ có tính răn đe với "người nghèo" còn "người giàu" thì tình nguyện chịu nộp phạt để tiếp tục vi phạm[1]. Hình thức xử phạt trục xuất chỉ áp dụng đối với người nước ngoài mà không thể áp dụng đối với công dân Việt Nam.Đối với các hình thức xử phạt như tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn; đình chỉ hoạt động có thời hạn cũng phải căn cứ vào các điều kiện cụ thể mới có thể áp dụng. Ngoài ra, nếu chủ thể vi phạm không có giấy phép, chứng chỉ hành nghề hoặc không có tang vật, phương tiện vi phạm hành chính thì không thể áp dụng các hình thức xử phạt kể trên.

   Như vậy, các hình thức xử phạt VPHC được pháp luật hiện hành quy định khá nghèo nàn và không phát huy tính giáo dục, răn đe cũng như hiệu quả trong việc đấu tranh phòng, chống vi phạm. Do đó, yêu cầu đặt ra là cần nghiên cứu để bổ sung một số hình thức xử phạt nhằm thể hiện tính răn đe, trừng trị, giáo dục trong xử phạt VPHC.

   Theo Tờ trình của Bộ Tư pháp ngày 29/9/2019 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý VPHC năm 2012, Cơ quan chủ trì soạn thảo đề xuất bổ sung hình thức xử phạt "tước vĩnh viễn quyền sử dụng giấy phép lái xe". Hình thức xử phạt này được áp dụng đối với hành vi vi phạm quy định về sử dụng rượu, bia, ma túy khi điều khiển phương tiện trong lĩnh vực an toàn giao thông. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, không nên bổ sung hình thức xử phạt này vào hệ thống các hình thức xử phạt VPHC vì những lý do sau đây:

   Thứ nhất, nếu xem "tước vĩnh viễn quyền sử dụng giấy phép lái xe" là một hình thức xử phạt thì đây là một bước thụt lùi của pháp luật xử phạt VPHC, vì đã khôi phục lại hình thức xử phạt "tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề" được quy định trong Pháp lệnh Xử lý VPHC năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008).

Trước đây, hình thức xử phạt "tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề" được áp dụng có thời hạn hoặc không thời hạn[2] - tức là tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề vĩnh viễn. Trong trường hợp chủ thể VPHC bị tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề vĩnh viễn thì xem như đã tươc bỏ hoàn toàn việc thực hiện quyền của một chủ thể. Điều này sẽ gây ra bất lợi rất lớn cho những người bị áp dụng hình thức xử phạt này. Trong Nhà nước pháp quyền, pháp luật phải vì con người; pháp luật vì con người thì trước hết pháp luật phải mang tính nhân đạo[3]. Việc tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề vô thời hạn rõ ràng không thể hiện được mục đích nhân đạo của pháp luật. Do đó, Luật Xử lý VPHC năm 2012 đã loại bỏ hình thức xử phạt này, chỉ quy định hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề được áp dụng trong một khoảng thời gian nhất định - tức là tước có thời hạn chứ không còn tước vĩnh viễn. Quy định này đặc biệt có ý nghĩa vì trong nhiều trường hợp, việc áp dụng các hình thức phạt chính như cảnh cáo, phạt tiền lại không gây nên nhiều ảnh hưởng đến đời sống của cá nhân, tổ chức bằng việc tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề[4].

   Thứ hai, việc áp dụng hình thức xử phạt"tước vĩnh viễn quyền sử dụng giấy phép lái xe" mang nặng tính trừng trị chứ không có ý nghĩa giáo dục. Điều này trái với mục đích xử phạt VPHC. Khi bị áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn thì chủ thể vi phạm không được tiến hành các hoạt động ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề trong một khoảng thời gian nhất định. Đây cũng là khoảng thời gian cần thiết để người vi phạm tự xem xét, điều chỉnh hành vi của mình liên quan đến việc sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề. Áp dụng hình thức xử phạt này không nhằm mục đích vô hiệu giá trị pháp lý của giấy phép, chứng chỉ hành nghề bởi sau khi hết thời hạn bị tước quyền thì người vi phạm vẫn còn cơ hội có trở lại một số quyền cơ bản của mình (lái xe, lái tàu), hoặc một số lĩnh vực mà mình đã có chuyên môn cao (hành nghề y, nghề luật…). Như vậy, hình thức xử phạt này không chỉ nhằm mục đích trừng trị mà còn có ý nghĩa giáo dục người vi phạm. Trong khi đó, nếu "tước vĩnh viễn quyền sử dụng giấy phép" thì rõ ràng mục đích chỉ nhằm trừng trị mà không có ý nghĩa giáo dục. Ngay cả đối với hình thức xử phạt có tính nghiêm khắc nhất là trục xuất - buộc người nước ngoài VPHC phải rời khỏi lãnh thổ nước Việt Nam thì người bị trục xuất vẫn có thể trở lại Việt Nam sau 03 năm kể từ ngàyquyết địnhtrục xuấtcó hiệu lực[5].

   Thứ ba, nếu được thừa nhận thì hình thức xử phạt "tước vĩnh viễn quyền sử dụng giấy phép lái xe" chỉ áp dụng trong lĩnh vực giao thông đường bộ mà không áp dụng trong các lĩnh vực khác. Tính đến ngày 16/9/2019, theo thống kê của Bộ Tư pháp có tất cả 89 nghị định, trong đó có 56 nghị định đang có hiệu lực, tương ứng với 56 lĩnh vực (không tính các nghị định sửa đổi, bổ sung hay đã bị thay thế, hay quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Xử lý VPHC năm 2012, hoặc liên quan đến biện pháp xử lý hành chính)[6]. Như vậy, hình thức xử phạt này nếu được thừa nhận chỉ áp dụng trong Nghị định số 100/2019/NĐ-CP xử phạt VPHC về lĩnh vực giao thông đường bộ. Điều này đã tạo ra sự phân biệt đối xử về chế tài khi xử phạt VPHC trong các lĩnh vực. Trên thực tế, khó có cơ sở để khẳng định rằng, hành vi sử dụng rượu, bia, ma túy khi điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là nguy hiểm hơn so với hành vi sử dụng rượu, bia, ma túy khi điều khiển phương tiện giao thông đường thủy, đường sắt, đường hàng không. Chúng tôi cho rằng, nếu cơ quan soạn thảo chưa có những nghiên cứu thực định và đánh giá tác động hoàn chỉnh thì không nên thừa nhận hình thức xử phạt này. Mặt khác, hiện nay, đối với các vi phạm liên quan đến sử dụng rượu, bia, ma túy khi điều khiển phương tiện giao thông đường bộ thì Nghị định số 100/2019/NĐ-CP đã quy định thời hạn tước tối thiểu là 10 tháng và tối đa lên đến 24 tháng[7]. Thiết nghĩ, khoảng thời gian này đã đủ để người vi phạm ăn năn hối cải và hướng thiện nên không cần phải trừng trị tới mức tước quyền vĩnh viễn.          

Chúng tôi cho rằng, thay vì bổ sung hình thức xử phạt "tước vĩnh viễn quyền sử dụng giấy phép lái xe", Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý VPHC năm 2012 (Dự thảo Luật) cần bổ sung hình thức xử phạt lao động bắt buộc. Hình thức xử phạt này đã được thừa nhận ở nhiều quốc gia trên thế giới như Nga, một số bang ở Úc[8].

Lao động bắt buộc là hình thức xử phạt buộc người VPHC phải lao động phục vụ cộng đồng. Hình thức xử phạt này nhằm buộc người vi phạm phải thực hiện một số công việc mang tính xã hội, phục vụ trực tiếp lợi ích của cộng đồng địa phương. Nếu được thừa nhận thì hình thức xử phạt này sẽ có thể phát huy tác dụng đối với những VPHC mà việc áp dụng các hình thức xử phạt khác không phát huy tác dụng.

Đơn cử, khoản 1 Điều 23 Nghị định số 176/2013/NĐ-CP quy định: "Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với hành vi bỏ mẩu, tàn thuốc lá không đúng nơi quy định khi hút thuốc lá tại những địa điểm được phép hút thuốc lá".

Qua quy định trên, có thể thấy, hành vi "bỏ mẩu, tàn thuốc lá không đúng nơi quy định khi hút thuốc lá tại những địa điểm được phép hút thuốc lá" có bản chất và nguyên nhân từ sự lười biếng, không muốn tốn công sức của người thực hiện. Do đó, theo đúng nguyên tắc, hình thức xử phạt được áp dụng ở đây phải là hình thức tạo ra sự bất lợi về sức lao động thì mới bảo đảm sự tương xứng về tính chất[9]. Tuy nhiên, do Luật Xử lý VPHC năm 2012 không quy định hình thức xử phạt lao động bắt buộc nên Nghị định số 176/2013/NĐ-CP phải áp dụng hình thức phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền.

Về nguyên tắc, hành vi vi phạm nêu trên ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường, sức khỏe của những người xung quanh nên phải thực hiện những hoạt động nhằm cải tạo môi trường. Như vậy, đối với những vi phạm này cần áp dụng hình thức xử phạt lao động bắt buộc tại các công trình công ích như chăm sóc cây xanh, dọn dẹp vệ sinh ở công viên, cải tạo kênh mương… Đây không phải là cưỡng bức lao động mà nhằm mục đích để người vi phạm ý thức về VPHC của họ.

2. Các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính

Để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt VPHC, khoản 2 Điều 86 Luật Xử lý VPHC năm 2012 quy định các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt:

a) Khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập, khấu trừ tiền từ tài khoản của cá nhân, tổ chức vi phạm;

b) Kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá;

c) Thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC do cá nhân, tổ chức khác đang giữ trong trường hợp cá nhân, tổ chức sau khi vi phạm cố tình tẩu tán tài sản.

d) Buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.

Trong lần sửa đổi này, Dự thảo Luật bổ sung thêm hai biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC là: đ) Ngừng cung cấp các dịch vụ điện, nước và các hoạt động dịch vụ khác đối với những cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ vi phạm  e) Chấm dứt hiệu lực giấy phép, chứng chỉ hành nghề, giấy đăng ký hoạt động.

Thứ nhất, về biện pháp "ngừng cung cấp các dịch vụ điện, nước và các hoạt động dịch vụ khácđối với những cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ vi phạm".

Khoản 2 Điều 20 Luật Điện lực năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2012, 2018) quy định việc mua bán điện trên thị trường điện lực được thực hiện theo hai hình thức: i. mua bán thông qua hợp đồng có thời hạn giữa bên bán điện và bên mua điệnii. mua bán giao ngay giữa bên bán điện và bên mua điện thông qua đơn vị điều hành giao dịch thị trường điện lực. Như vậy, quan hệ giữa bên bán điện và khách hàng sử dụng điện là một quan hệ dân sự. Tương tự, quan hệ giữa bên cung cấp nước sạch và khách hàng sử dụng nước cũng được thiết lập trên cơ sở hợp đồng dân sự. Khi chủ thể VPHC không chấp hành quyết định xử phạt mà chủ yếu ở đây là các quyết định phạt tiền[10] thì không phải là vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng cung cấp điện, nước nên nhà cung cấp không thể đơn phương chấm dứt hợp đồng hay ngưng hiệu lực của hợp đồng. Việc đơn phương chấm dứt hợp đồng hay ngưng hiệu lực của hợp đồng sẽ cấu thành một vi phạm của nhà cung cấp. Lúc đó, người bị ngừng cung cấp các dịch vụ điện, nước có thể khởi kiện thành một vụ án dân sự buộc bên cung cấp điện phải bồi thường thiệt hại. Rõ ràng, bên cung cấp các dịch vụ điện, nước sẽ không bao giờ mong muốn bị kéo vào tình thế éo le này.

 Mặt khác, mục đích của việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC nhằm thi hành được quyết định xử phạt mà chủ yếu ở đây thu được tiền vào ngân sách nhà nước. Việc ngừng cung cấp các dịch vụ điện, nước có thể sẽ gây những ảnh hưởng nghiêm trọng tới hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp cũng như gây ảnh hưởng tới hoạt động chung của nền kinh tế. Lúc này đây, các doanh nghiệp có thể sẽ càng kéo dài thời gian thi hành quyết định xử phạt bởi không tiến hành được hoạt động sản xuất, kinh doanh thì không có thu nhập để nộp phạt. Việc áp dụng biện pháp này không chỉ gây thiệt hại cho những người vi phạm mà còn gây thiệt hại cho cả bên cung cấp các dịch vụ điện, nước.

Trong thực tế, nếu được thừa nhận, việc áp dụng biện pháp này cũng sẽ rất dễ vi phạm quyền con người và các nguyên tắc xử phạt VPHC. Đơn cử, một doanh nghiệp tư nhân VPHC và không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt. Biện áp "ngừng cung cấp các dịch vụ điện, nước" được áp dụng có thể dẫn đến trường hợp là tất cả các thành viên trong gia đình sẽ không có điện, nước sinh hoạt. Như vậy, việc áp dụng biện pháp này đã không phù hợp với nguyên tắc phân hóa rõ ràng trách nhiệm hành chính.

Biện pháp ngừng cung cấp điện đã từng được đề cập đến trong Luật Xây dựng năm 2003 và Nghị định số 180/2007/NĐ-CP ngày 07/12/2007 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Xây dựng năm 2003 (Nghị định số 180). Cụ thể, theo khoản 5 Điều 67 Luật Xây dựng năm 2003 và khoản 2 Điều 4 Nghị định số 180, biện pháp ngừng cung cấp điện được áp dụng đối với công trình xây dựng vi phạm. Tuy nhiên, do những khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng nên khi thay thế Nghị định số 180, Nghị định số 139/2017/NĐ-CP xử phạt VPHC trong hoạt động đầu tư xây dựng đã loại bỏ biện pháp này. Điều này là hợp lý bởi trên thực tế, chỉ xét riêng trong lĩnh vực xây dựng thì nhiều dự án, công trình có chủ đầu tư và nhà thầu, đơn vị thi công là khác nhau. Nếu vì lý do nhà thầu, đơn vị thi công vi phạm mà ngưng cung cấp điện, nước cho công trình thì ảnh hưởng đến chủ đầu tư, từ đó có thể ảnh hưởng đến tiến độ giao nhà cho khách hàng được ký kết trong hợp đồng. Cuối cùng thì người gánh chịu thiệt thòi lại là chủ đầu tư và khách hàng - những người không VPHC.

Có quan điểm cho rằng, khi Luật Xử lý VPHC năm 2012 có hiệu lực thì biện pháp ngừng cung cấp điện đã được thừa nhận[11]. Cụ thể, Điều 43 Nghị định số 134/2013/NĐ-CP ngày 17/10/2013 xử phạt VPHC trong lĩnh vực điện lực, an toàn đập thủy điện, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả cũng quy định,"cá nhân, tổ chức sử dụng điện bị xử phạt vi phạm mà không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt thì ngoài các biện pháp cưỡng chế quy định tại khoản 2 Điều 86 Luật xử lý VPHC có thể bị cưỡng chế thi hành bằng biện pháp ngừng cung cấp điện". Chúng tôi cho rằng, Điều 43 Nghị định số 134/2013/NĐ-CP thừa nhận biện pháp cưỡng chế ngừng cung cấp điện là không phù hợp với Luật Xử lý VPHC năm 2012.

Điều 86 Luật Xử lý VPHC năm 2012quy định ngừng cung cấp điện là mộtbiện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC. Dưới góc độ thẩm quyền, Chính phủ cũng không có quyền quy định thêm các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC ngoài các biện pháp đã nêu tại Điều 86 Luật Xử lý VPHC năm 2012[12].

 Ngoài"ngừng cung cấp các dịch vụ điện, nước" thì biện pháp trên nếu được thừa nhận sẽ là căn cứ cho việc "ngừng cung cấp các hoạt động dịch vụ khác đối với những cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ vi phạm". Trong khi đó, thuật ngữ "các hoạt động dịch vụ khác" lại mang tính trừu tượng quá cao. Điều này dễ dẫn đến tính lạm quyền, tùy tiện trong việc áp dụng, từ đó gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị xử phạt.

Thứ hai, về biện pháp "chấm dứt hiệu lực giấy phép, chứng chỉ hành nghề, giấy đăng ký hoạt động".

Biện pháp "chấm dứt hiệu lực giấy phép, chứng chỉ hành nghề, giấy đăng ký hoạt động" một khi được thừa nhận và áp dụng trên thực tế có thể dẫn đến việc chấm dứt luôn việc thực hiện quyền của một cá nhân hoặc hoạt động của một tổ chức. Như vậy, biện pháp này có tính nghiêm khắc hơn cả hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả. Điều này hoàn toàn không phù hợp và tương xứng với các hình thức xử phạt VPHC và các biện pháp khắc phục hậu quả. Suy cho cùng, việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC nhằm mục đích thi hành được trên thực tế các quyết định xử phạt, trong đó quan trọng nhất là thu được tiền xử phạt. Như vậy, các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC phải dung hòa giữa tính cưỡng chế và khả năng thực hiện được quyết định xử phạt. Trong nhiều trường hợp, việc "chấm dứt hiệu lực giấy phép, chứng chỉ hành nghề, giấy đăng ký hoạt động" có thể dẫn đến không thể thực hiện được quyết định xử phạt. Ngoài ra, việc chấm dứt luôn việc thực hiện quyền của một cá nhân hoặc hoạt động của một tổ chức lại có thể ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các cá nhân, tổ chức có liên quan đến chủ thể bị chấm dứt quyền hoặc chấm dứt hoạt động. Một điều rất đáng suy ngẫm là Luật Xử lý VPHC năm 2012 không quy định bất cứ một hình thức xử phạt hay biện pháp khắc phục hậu quả nào được áp dụng nhằm mục đích chấm dứt luôn việc thực hiện quyền của một cá nhân hoặc hoạt động của một tổ chức. Biện pháp "chấm dứt hiệu lực giấy phép, chứng chỉ hành nghề, giấy đăng ký hoạt động" nếu được thừa nhận sẽ đi ngược với nguyên tắc nhân đạo trong xử phạt VPHC.

Không thể phủ nhận ý nghĩa của các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định VPHC. Trên thực tế, có đến 10% quyết định xử phạt VPHC không được thực hiện do thiếu vắng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt hữu hiệu[13]. Tuy nhiên, không phải vì quyết liệt với "bài toán" khó này mà nhà làm luật bất chấp đặt ra mọi biện pháp để giải quyết. Từ những phân tích vừa nêu, chúng tôi cho rằng, Dự thảo Luật không nên quy định bổ sung hai biện pháp xử lý VPHC là"ngừng cung cấp các dịch vụ điện, nước và các hoạt động dịch vụ khác đối với những cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ vi phạm"  "chấm dứt hiệu lực giấy phép, chứng chỉ hành nghề, giấy đăng ký hoạt động".

3. Thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt "tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính" mà không bị giới hạn bởi thẩm quyền áp dụng hình thức phạt tiền

Theo Luật Xử lý VPHC năm 2012, thẩm quyền xử phạt VPHC được quy định từ Điều 38 đến Điều 51. Trong số 185 chức danh có thẩm quyền xử phạt, thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt "tịch thu tang vật, phương tiện VPHC" được giới hạn khá nhiều so với thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo và phạt tiền. Đối với chủ thể có thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt "tịch thu tang vật, phương tiện VPHCthì thẩm quyền tịch thu sẽ giới hạn theo thẩm quyền áp dụng hình thức phạt tiền. Trên thực tế, trong nhiều vụ vi phạm, giá trị của các tang vật, phương tiện đều rất lớn, vượt quá mức tiền phạt thuộc thẩm quyền xử phạt của các chức danh có thẩm quyền xử phạt ở cấp cơ sở nên dẫn đến hiện tượng vô hiệu hóa thẩm quyền xử phạt của cấp dưới. Từ đó, cấp dưới phải chuyển vụ vi phạm cho cấp trên xử phạt, gây quá tải công việc cho cấp trên, từ đó không xử phạt nhanh chóng các VPHC.

Để khắc phục bất cập này,  Dự thảo Luật quy định, thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện VPHC sẽ không bị giới hạn bởi thẩm quyền áp dụng hình thức phạt tiền. Cụ thể, Dự thảo Luật bỏ cụm từ "có giá trị không vượt quá mức xử phạt tiền được quy định tại điểm b khoản này" trong điểm c khoản 1 Điều 38, điểm d khoản 2 Điều 38, điểm c khoản 3 Điều 39, điểm d khoản 4 Điều 39, điểm d khoản 5 Điều 39, điểm c khoản 3 Điều 40, điểm c khoản 4 Điều 41, điểm c khoản 5 Điều 41, điểm c khoản 6 Điều 41, điểm c khoản 3 Điều 42, điểm d khoản 4 Điều 42, điểm c khoản 2 Điều 43, điểm c khoản 3 Điều 43, điểm c khoản 4 Điều 43, điểm c khoản 3 Điều 44, điểm c khoản 4 Điều 44, điểm c khoản 1 Điều 46, điểm d khoản 2 Điều 46, điểm d khoản 3 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47, điểm d khoản 2 Điều 47, điểm c khoản 1 Điều 48, điểm c khoản 2 Điều 48, điểm c khoản 3 Điều 48, điểm c khoản 2 Điều 49, điểm c khoản 4 Điều 49 của Luật Xử lý VPHC năm 2012.

Chúng tôi cho rằng, việc bỏ thuật ngữ "có giá trị không vượt quá mức xử phạt tiền được quy định tại điểm b khoản này" là không hợp lý và tiềm ẩn nhiều bất ổn. Dưới góc độ lý luận, thẩm quyền là một hệ thống các yếu tố cấu thành bao gồm hai nhóm sau: i. các quyền và nghĩa vụ chung để thực hiện các chức năng nhất định mà một chủ thể được trao để giải quyết những vấn đề phát sinh trong hoạt động của mình; ii. các quyền hạn cụ thể để thực hiện các quyền và nghĩa vụ chung nêu trên[14]. Trong xử phạt VPHC, thẩm quyền xử phạt là một chế định pháp lý bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của những chức danh có thẩm quyền xử phạt trong việc áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với chủ thể vi phạm. Khi quyền càng cao thì nghĩa vụ, trách nhiệm càng nặng nề[15]. Do đó, phân định thẩm quyền xử phạt là làm rõ quyền của chủ thể đến đâu và xác lập nghĩa vụ, trách nhiệm tương xứng. Chính vì vậy, khi thiết kế thẩm quyền xử phạt cần quán triệt nguyên tắc "thẩm quyền đến đâu thì xử phạt đến đó" và "chức vụ thấp thì thẩm quyền phạt thấp, chức vụ cao thì thẩm quyền phạt cao". Với tư duy đó thì thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện VPHC cần phải bị giới hạn bởi thẩm quyền phạt tiền. Sẽ là không hợp lý nếu thẩm quyền phạt tiền chỉ vài triệu đồng nhưng lại đồng thời cho phép chính chức danh đó có quyền tịch thu tang vật, phương tiện lên đến vài trăm triệu đồng[16].

Có quan điểm cho rằng, mục đích chính của hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện VPHC là loại trừ khả năng chủ thể vi phạm sử dụng tang vật, phương tiện đó để tiếp tục vi phạm. Do đó, bỏ đi giới hạn thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện VPHC theo thẩm quyền áp dụng hình thức phạt tiền cũng không dẫn đến khả năng lạm quyền[17]. Quan điểm này cũng có phần hợp lý, nhưng thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện là bộ phận cấu thành trong thẩm quyền chung của chủ thể có thẩm quyền xử phạt. Do đó, không thể thiết kế các hình thức xử phạt theo hướng không tương thích về triết lý, nguyên tắc lập pháp. Nếu đã thống nhất hình thức phạt tiền được giới hạn theo thẩm quyền thì hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện VPHC cũng phải được phân thành các cấp khác nhau nhằm bảo đảm tính hiệu quả, phù hợp với thực tiễn, tương xứng với nhiệm vụ, quyền hạn của từng chức danh.

Thẩm quyền áp dụng hình thức phạt tiền và tịch thu tang vật, phương tiện VPHC thấp hay cao phụ thuộc vào "tầm" và "danh phận" của các chức danh có thẩm quyền. Việc xử phạt VPHC cần phải khách quan, công bằng, đúng pháp luật. Do đó, đòi hỏi người có thẩm quyền xử phạt phải rất cẩn trọng trong việc ban hành quyết định xử phạt. Khi áp dụng hình thức phạt tiền với mức tiền phạt cao và tịch thu tang vật, phương tiện VPHC có giá trị tương ứng với mức tiền phạt thì các chức danh có thẩm quyền càng phải cân nhắc kỹ lưỡng, thận trọng nhằm bảo đảm cho quyết định được ban hành có tính hợp pháp cao bởi nếu có sai sót thì chính họ phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý bất lợi. Một trong những trách nhiệm được đề cập đến đó là trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 quy định Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp ra quyết định xử phạt VPHC trái pháp luật[18]. Sau khi Nhà nước đã tiến hành bồi thường thì người thi hành công vụ có lỗi gây thiệt hại có nghĩa vụ hoàn trả cho ngân sách nhà nước một phần hoặc toàn bộ số tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại[19]. Ban hành quyết định xử phạt VPHC là thẩm quyền của cá nhân nên nếu có sai phạm về việc áp dụng hình thức xử phạt thì Nhà nước sẽ đứng ra bồi thường; sau đó, cá nhân sẽ có trách nhiệm hoàn trả cho Nhà nước. Việc áp dụng hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện VPHC nếu không bị giới hạn theo thẩm quyền phạt tiền sẽ dẫn đến khả năng sai phạm lớn, mức bồi thường mà Nhà nước bỏ ra vượt quá khả năng hoàn trả của người có nghĩa vụ hoàn trả.

Vì những lý do trên, tác giả cho rằng, Dự thảo Luật cần giữ lại quy định giới hạn thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện VPHC theo thẩm quyền áp dụng hình thức phạt tiền. Quy định này sẽ tạo ra sự tương thích trong thẩm quyền áp dụng các hình thức xử phạt, đồng thời cũng phù hợp với năng lực, nhiệm vụ và trách nhiệm của các chức danh có thẩm quyền xử phạt./.

 


[1] Nguyễn Cửu Việt, "Vấn đề hoàn thiện pháp luật về vi phạm hành chính",Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 1, năm 2009.

[2] Điều 16 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008) quy định: "tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc không thời hạn được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm nghiêm trọng quy định sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề. Trong thời gian bị tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, cá nhân, tổ chức không được tiến hành các hoạt động ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề".

[3] Nguyễn Đức Minh, "Khái niệm, nội dung của nguyên tắc pháp quyền",Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 6, năm 2018.

[4] Cao Vũ Minh, "Những điểm mới của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân", Tạp chí Tòa án nhân dân, số 13, năm 2014.

[5] Điều 21 Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).

[6] Nguyễn Thanh Hà, "Tổng quan quá trình thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính và một số nội dung chủ yếu trong Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012", Kỷ yếu Hội thảo "Về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính", năm 2019, tr. 2.

[7] Xem thêm điểm e, g, h khoản 10 Điều 5 và khoản đ, e, g khoản 10 Điều 6 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP.

[8] Nguyễn Cửu Việt, "Vài ý kiến về vấn đề xây dựng Bộ luật vi phạm hành chính của Việt Nam qua so sánh với Bộ luật vi phạm hành chính của Liên bang Nga", Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam, số 03, năm 2020.

[9] Đinh Thanh Phương, "Sự thiếu hụt và nhu cầu đa dạng hóa các hình thức chế tài trong pháp luật xử phạt vi phạm hành chính ở Việt Nam", Kỷ yếu Hội thảo "Chế tài trong pháp luật xử phạt vi phạm hành chính ở Việt Nam và kinh nghiệm của một số quốc gia", năm 2019, tr. 229.

[10] Khoản 3 Điều 3 Nghị định số 166/2013/NĐ-CP về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính quy định nguyên tắc: "chỉ áp dụng các biện pháp tiếp theo khi không thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế đó hoặc đã áp dụng nhưng chưa thu đủ số tiền bị cưỡng chế theo quyết định cưỡng chế".

[11] Tờ trình của Bộ Tư pháp ngày 29/9/2019 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

[12] Điều 4 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định: "Căn cứ quy định của Luật này, Chính phủ quy định hành vi vi phạm hành chính; hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính; thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh và thẩm quyền lập biên bản đối với vi phạm hành chính trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước". Như vậy, Chính phủ không được quyền "khai sinh" thêm các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngoài các biện pháp đã nêu tại Điều 86 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012. 

[13] Sáng ngày 10/02/2020, trong phiên họp thứ 42 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long đã phát biểu "có đến 10 % quyết định xử phạt vi phạm hành chính không được thực hiện". Xem thêm: Cổng thông tin điện tử Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, "Bộ trưởng Bộ Tư pháp giải trình một số nội dung về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính", ngày 10/2/2020. http://quochoi.vn/tintuc/pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.aspx?ItemID=44005, truy cập ngày 11/2/2020.

[14] Nguyễn Cửu Việt, "Cải cách hành chính: về khái niệm thẩm quyền", Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 8, năm 2005.

[15] Nguyễn Cửu Việt, "Các yếu tố cấu thành và tính hệ thống của thẩm quyền", Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 9, năm 2005.

[16] Theo điểm a khoản 8 Điều 6 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP thì hành vi "buông cả hai tay khi đang điều khiển xe mô tô" bị phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng, đồng thời bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là "tịch thu phương tiện vi phạm hành chính". Nếu thẩm quyền "tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính" không bị giới hạn bởi thẩm quyền phạt tiền thì Trưởng Công an cấp huyện; Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục Cảnh sát giao thông; Trưởng phòng Cảnh sát giao thông, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt… sẽ có quyền xử phạt. Các chức danh này tuy chỉ có quyền phạt phạt tiền tối đa đến 8.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ nhưng lại có quyền tịch thu xe trị giá đến vài trăm triệu đồng.

[17] Nguyễn Nhật Khanh, "Hoàn thiện pháp luật về các hình thức xử phạt bổ sung trong xử phạt vi phạm hành chính", Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 21, năm 2019.

[18] Khoản 1 Điều 17 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017.

[19] Khoản 1 Điều 64 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017.


Nguồn tin: Bài viết được đăng tải trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 09 (409), tháng 5/2020.)


 

Hướng dẫn mới về bảo hiểm thất nghiệpThông tinTinNguyễn Thị LinhHướng dẫn mới về bảo hiểm thất nghiệp/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/1/2020 9:00 AMNoĐã ban hành

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 61/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp.

sua-doi-bo-sung-mot-so-dieu-cua-luat-viec-lam-ve-bao-hiem-that-nghiep1590815451.jpg

(Ảnh minh họa)

Theo đó, Nghị định sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều Nghị định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp.

Cụ thể, tại khoản 2 Điều 3, Nghị định số 61/2020/NĐ-CP nêu rõ trường hợp gặp khó khăn thuộc các trường hợp theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Luật Việc làm dẫn đến nguy cơ phải cắt giảm số lao động hiện có từ 30% hoặc từ 30 lao động trở lên đối với người sử dụng lao động có sử dụng dưới 200 lao động; từ 50 lao động trở lên đối với người sử dụng lao động  có sử dụng từ 200 đến 1.000 lao động; từ 100 lao động trở lên đối với người sử dụng lao động có sử dụng trên 1.000 lao động, không kể lao động giao kết hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc một công việc nhất định có thời hạn dưới 1 tháng.

Những trường hợp được coi là bất khả kháng theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Luật Việc làm bao gồm: hoả hoạn, lũ lụt, động đất, sóng thần, địch hoạ, dịch bệnh làm thiệt hại một phần hoặc toàn bộ cơ sở vật chất, thiết bị, máy móc, nhà xưởng có xác nhận của Chủ tịch UBND quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh nơi người sử dụng lao động bị thiệt hại. Bên cạnh đó, việc thực hiện yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc di dời hoặc thu hẹp địa điểm sản xuất kinh doanh cũng được coi là trường hợp bất khả kháng.

Nghị định số 61/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số nội dung liên quan đến phương thức chuyển kinh phí chi quản lý bảo hiểm thất nghiệp; trường hợp người lao động được xác định đang đóng bảo hiểm thất nghiệp; việc lập, phân bổ, giao dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán chi phí quản lý bảo hiểm thất nghiệp thực hiện theo quy định; giá dịch vụ tư vấn, giới thiệu việc làm từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động.

Ngoài ra, Nghị định số 61/2020/NĐ-CP nêu rõ việc hưởng bảo hiểm y tế; hồ sơ đề nghị hỗ trợ học nghề; quyết định hỗ trợ học nghề.

Nghị định số 61/2020/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/7/2020.

​Linh Nguyễn

Các chính sách pháp luật nổi bật có hiệu lực tháng 6/2020Thông tinTinNguyễn Thị LinhCác chính sách pháp luật nổi bật có hiệu lực tháng 6/2020/XLVPHCTDTHPL/PublishingImages/2020-05/HINH 1_Key_28052020083932.jpg
5/28/2020 9:00 AMNoĐã ban hành
1. Bãi bỏ 09 VBQPPL lĩnh vực chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm, ngân hàng từ 02/6/2020

Ngày 17/4/2020, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 28/2020/TT-BTC (có hiệu lực từ ngày 02/6/2020) bãi bỏ toàn bộ 09 văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm và tài chính ngân hàng sau đây:

- Thông tư 194/2009/TT-BTC ngày 02/10/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn chào mua công khai cổ phiếu của công ty đại chúng, chứng chỉ quỹ của quỹ đầu tư chứng khoán đại chúng dạng đóng;

- Quyết định 99/2005/QĐ-BTC ngày 22/12/2005 của Bộ Tài chính về việc ban hành quy tắc, biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của người kinh doanh vận tải hành khách, hàng hóa dễ cháy và dễ nổ trên đường thủy nội địa;

- Thông tư 99/2011/TT-BTC ngày 07/7/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn quản lý tài chính đối với việc thực hiện thí điểm bảo hiểm tín dụng xuất khẩu;

- Thông tư 121/2011/TT-BTC ngày 17/8/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 01/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp giai đoản 2011-2013;

- Thông tư 101/2012/TT-BTC ngày 20/6/2012 của Bộ Tài chính quy định một số vấn đề về tài chính đối với các doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp theo Quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 01/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp giai đoản 2011-2013;

- Thông tư 57/2013/TT-BTC ngày 06/5/2013 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Thông tư 121/2011/TT-BTC ngày 17/8/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 01/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp giai đoản 2011-2013;

- Thông tư 96/2013/TT-BTC ngày 23/7/2013 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Thông tư 121/2011/TT-BTC ngày 17/8/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 01/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp giai đoản 2011-2013 và Thông tư số 101/2012/TT-BTC ngày 20/6/2012 quy định một số vấn đề về tài chính đối với các doanh nghiệp bảo hiểm,  doanh nghiệp tái bảo hiểm thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp theo Quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 01/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp giai đoản 2011-2013;

- Thông tư 105/2007/TT-BTC ngày 30/8/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn xử lý rủi ro vốn tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của nhà nước;

- Thông tư 35/2012/TT-BTC ngày 02/3/2012 của Bộ Tài chính  hướng dẫn một số điều của Nghị định số 75/2011/NĐ-CP ngày 30/8/2011 của Chính phủ về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước;

2. Thời hạn hoàn trả tạm ứng, thời hạn rút vốn tạm ứng ngân quỹ nhà nước

Thông tư 23/2020/TT-BTC quy định về tạm ứng, vay ngân quỹ nhà nước của ngân sách nhà nước chính thức có hiệu lực từ ngày 01/06/2020.

Theo đó, quy định thời hạn hoàn trả tạm ứng, thời hạn rút vốn tạm ứng ngân quỹ nhà nước với các đơn vị tạm ứng ngân quỹ nhà nước như sau:

- Thời hạn hoàn trả tạm ứng ngân quỹ nhà nước cho ngân sách nhà nước do Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định, đảm bảo chậm nhất ngày 31 tháng 12 của năm phát sinh khoản tạm ứng ngân quỹ nhà nước.

- Thời hạn rút vốn đối với các khoản tạm ứng ngân quỹ nhà nước chậm nhất ngày 20 tháng 12 của năm phát sinh khoản tạm ứng ngân quỹ nhà nước.

Sau thời hạn trên, khoản tạm ứng ngân quỹ nhà nước hết hạn rút vốn và bị hủy bỏ.

3. Những biện pháp cưỡng chế thi hành án đối với pháp nhân thương mại

Ngày 08/4/2020, Chính phủ ban hành Nghị định 44/2020/NĐ-CP quy định về cưỡng chế thi hành án đối với pháp nhân thương mại.

Theo đó, pháp nhân thương mại không chấp hành hoặc chấp hành không đầy đủ bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật sẽ bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án sau:

- Phong tỏa tài khoản.

- Kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền bảo đảm thi hành cưỡng chế biện pháp tư pháp (kê biên tài sản).

- Tạm giữ tài liệu, chứng từ, thiết bị chứa dữ liệu điện tử.

- Tạm giữ hoặc thu hồi con dấu của pháp nhân thương mại.

Việc thực hiện cưỡng chế được thực hiện theo các nguyên tắc như:

- Chỉ được thực hiện khi có quyết định cưỡng chế bằng văn bản của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền.

- Thời hạn áp dụng biện pháp cưỡng chế để bảo đảm thi hành án không quá thời hạn chấp hành hình phạt theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; thời hạn bảo đảm thi hành biện pháp tư pháp được xác định khi biện pháp tư pháp được thi hành xong.

Nghị định 44/2020/NĐ-CP chính thức có hiệu lực từ ngày 01/6/2020.

4. Danh mục hàng hóa nguy hiểm khi vận chuyển

Ngày 08/4/2020, Chính phủ ban hành Nghị định 42/2020/NĐ-CP quy định về Danh mục hàng hoá nguy hiểm, vận chuyển hàng hoá nguy hiểm bằng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ và vận chuyển hàng hóa nguy hiểm trên đường thuỷ nội địa.

Theo đó, ban hành kèm theo Thông tư là Danh mục hàng hóa nguy hiểm được phân thành 09 nhóm theo tính chất hóa, lý:

- Loại 1. Chất nổ và vật phẩm dễ nổ.

- Loại 2. Khí.

- Loại 3. Chất lỏng dễ cháy và chất nổ lỏng khử nhạy.

- Loại 4.

+ Nhóm 4.1: Chất rắn dễ cháy, chất tự phản ứng và chất nổ rắn được ngâm trong chất lỏng hoặc bị khử nhạy.

+ Nhóm 4.2: Chất có khả năng tự bốc cháy.

+ Nhóm 4.3: Chất khi tiếp xúc với nước tạo ra khí dễ cháy.

- Loại 5.

+ Nhóm 5.1: Chất ôxi hóa.

+ Nhóm 5.2: Perôxít hữu cơ.

- Loại 6.

+ Nhóm 6.1: Chất độc.

+ Nhóm 6.2: Chất gây nhiễm bệnh.

- Loại 7: Chất phóng xạ.

- Loại 8: Chất ăn mòn.

- Loại 9: Chất và vật phẩm nguy hiểm khác.

Nghị định 42/2020/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/6/2020.

Các chính sách pháp luật nổi bật có hiệu lực tháng 5/2020 (phần 2)Thông tinTinNguyễn Thị LinhCác chính sách pháp luật nổi bật có hiệu lực tháng 5/2020 (phần 2)/XLVPHCTDTHPL/PublishingImages/2020-05/HINH 1_Key_20052020154251.jpg
5/20/2020 4:00 PMNoĐã ban hành

1. Hồ sơ cấp phép hoạt động dịch vụ đưa NLĐ đi làm việc tại nước ngoài

Ngày 03/4/2020, Chính phủ ban hành Nghị định 38/2020/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

lao-dong-xuat-khau.jpg

(Ảnh minh họa)

Theo đó, doanh nghiệp đã đủ điều kiện hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo quy định thì chuẩn bị hồ sơ để cấp phép gồm có:

- Văn bản đề nghị của doanh nghiệp (theo Mẫu số 03 Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này).

- 01 bản sao Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mới nhất.

- Các giấy tờ chứng minh điều kiện về vốn theo quy định tại Điều 13 của Nghị định này.

- 01 bản chính Giấy xác nhận nộp tiền ký quỹ.

- 01 bản chính Đề án hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.

- 01 bản sao Giấy chứng nhận quyền sở hữu hoặc hợp đồng thuê cơ sở vật chất để tổ chức bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động.

- Các giấy tờ chứng minh điều kiện về người lãnh đạo điều hành hoạt động và nhân viên nghiệp vụ theo quy định tại Điều 14 của Nghị định này.

- 01 bản sao Điều lệ Công ty.

Nghị định 38/2020/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ 20/5/2020.

2. Quy định về cộng tác viên theo dõi tình hình thi hành pháp luật

Đây là nội dung tại Nghị định 32/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 59/2012/NĐ-CP về theo dõi THPL.

Theo đó, bổ sung đối tượng là cộng tác viên (CTV) tham gia theo dõi tình hình thi hành pháp luật, cụ thể như sau:

- CTV theo dõi tình hình thi hành pháp luật được huy động để tham gia hoạt động thu thập, tổng hợp thông tin; điều tra, khảo sát; tham gia ý kiến về xử lý kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật;

- Các tổ chức theo quy định được huy động tham gia làm CTV phải có lĩnh vực hoạt động phù hợp với lĩnh vực cần theo dõi tình hình thi hành pháp luật, các cá nhân được huy động tham gia làm CTV phải am hiểu lĩnh vực cần theo dõi tình hình thi hành pháp luật;

- CTV theo dõi tình hình thi hành pháp luật thực hiện theo chế độ hợp đồng theo từng vụ việc cụ thể, trừ trường hợp CTV theo dõi tình hình thi hành pháp luật là cán bộ, công chức, viên chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

Nghị định 32/2020/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ 15/5/2020.

3. Mức phí khai thác và sử dụng dữ liệu về môi trường

Bộ Tài chính ban hành Thông tư 22/2020/TT-BTC quy định về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí khai thác và sử dụng dữ liệu về môi trường (có hiệu lực từ ngày 26/5/2020).

Theo đó, ban hành kèm theo Thông tư là Biểu mức thu phí khai thác và sử dụng dữ liệu về môi trường.

Kể từ ngày 26/5/2020 đến hết ngày 31/12/2020 áp dụng mức phí khai thác và sử dụng dữ liệu về môi trường bằng 70% mức quy định tại Biểu mức thu phí ban hành kèm theo Thông tư 22.

Lưu ý: Thông tư 22 không điều chỉnh đối với việc khai thác và sử dụng dữ liệu về môi trường của cơ quan nhà nước phục vụ cho mục đích quy định tại khoản 5 Điều 32 Luật Khí tượng thủy văn, Điều 23 Nghị định 38/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016.

4. 15 mẫu giấy tờ về quốc tịch áp dụng từ ngày 24/5/2020

Thông tư 02/2020/TT-BTP hướng dẫn sử dụng, quản lý mẫu sổ quốc tịch và mẫu giấy tờ về quốc tịch có hiệu lực thi hành từ ngày 24/5/2020.

171320mau-so-quoc-tich.jpg

(Ảnh minh họa)

Theo đó, kể từ ngày 24/5/2020, giấy tờ về quốc tịch sẽ được áp dụng theo mẫu quy định tại Thông tư 02, đơn cử như:

- Đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam.

- Đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam (Dùng cho người giám hộ/người đại diện theo pháp luật làm Đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam cho người được giám hộ/được đại diện).
- Đơn xin trở lại quốc tịch Việt Nam.

- Đơn xin trở lại quốc tịch Việt Nam (Dùng cho người giám hộ/người đại diện theo pháp luật làm Đơn xin trở lại quốc tịch Việt Nam cho người được giám hộ/được đại diện).

5. Quy định chế độ báo cáo thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tài chính

Bộ Tài chính ban hành Thông tư 16/2020/TT-BTC quy định về chế độ báo cáo thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ.

Các loại báo cáo bao gồm:

- Báo cáo định kỳ là báo cáo được ban hành để đáp ứng yêu cầu thông tin, tổng hợp, được thực hiện theo một chu kỳ xác định và lặp lại nhiều lần.

- Báo cáo chuyên đề là báo cáo được ban hành để đáp ứng yêu cầu thông tin có tính chuyên sâu về một chủ đề nào đó và thực hiện trong khoảng thời gian nhất định.

- Báo cáo đột xuất là báo cáo được ban hành để đáp ứng yêu cầu thông tin về vấn đề phát sinh bất thường.

Thông tư 16/2020/TT-BTC có hiệu lực từ ngày 29/5/2020.

Các chính sách pháp luật nổi bật có hiệu lực tháng 5/2020Thông tinTinNguyễn Thị LinhCác chính sách pháp luật nổi bật có hiệu lực tháng 5/2020/XLVPHCTDTHPL/PublishingImages/2020-04/HINH 1_Key_29042020085021.jpg
4/29/2020 9:00 AMNoĐã ban hành

1. Hướng dẫn mới về thực hiện ủy thác thi hành án dân sự

Nội dung này được đề cập tại Nghị định 33/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 62/2015/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Thi hành án dân sự.

Theo đó, trên cơ sở bản án, quyết định được thi hành hoặc kết quả xác minh, Thủ trưởng cơ quan THA dân sự phải ủy thác THA cho cơ quan THA dân sự nơi người phải thi hành án có tài sản, làm việc, cư trú hoặc có trụ sở.

Quy định mới không còn phân định theo loại tài sản là bất động sản, động sản hay tài sản khác và có bổ sung xác định theo nơi cư trú, làm việc hoặc có trụ sở.

Bên cạnh đó, trường hợp người phải THA có nhiều tài sản ở nhiều nơi thì cơ quan THA dân sự thực hiện ủy thác theo thứ tự:

- Theo thỏa thuận của đương sự;

- Nơi có tài sản đủ để thi hành án;

- Nơi có tổng giá trị tài sản lớn nhất (Hiện hành quy định trường hợp tài sản không đủ để THA thì ủy thác đến nơi có tài sản giá trị lớn nhất, nơi có nhiều tài sản nhất).

Nghị định 33/2020/NĐ-CP có hiệu lực thi hành ngày 01/5/2020. 

2. Điều kiện nhà, kho, bãi dùng để tạm giữ phương tiện, tang vật VPHC

Ngày 05/3/2020, Chính phủ ban hành Nghị định 31/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 115/2013/NĐ-CP về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện VPHC bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính.

vuong-mac-trong-bao-quan-tang-vat-phuong-tien-VPHC.jpg

(Ảnh minh họa)

Theo đó, đối với nơi tạm giữ phương tiện, tạng vật vi phạm hành chính là nhà, kho, bãi, phải đáp ứng điều kiện sau:

- Phải bảo đảm an toàn, an ninh, trật tự; có hàng rào bảo vệ, nội quy ra, vào, nội quy về bảo vệ môi trường, phòng cháy và chữa cháy;

- Phải bảo đảm khô ráo, thoáng khí, trường hợp nơi tạm giữ tang vật, phương tiện ở ngoài trời thì phải bố trí mái che hoặc có các biện pháp phòng, chống mưa, nắng;

- Có hệ thống thiết bị chiếu sáng; trang bị phương tiện, thiết bị phòng cháy, chữa cháy và thiết bị, phương tiện kỹ thuật phù hợp cho việc quản lý, bảo quản từng loại tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu.

Nghị định 31/2020/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2020.

3. Mức phạt hành vi khai thác cát không có giấy phép

Đây là quy định tại Nghị định 36/2020/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản.

Theo đó, hành vi khai thác cát ngoài phạm vi như phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi; hành lang bảo vệ luồng ... mà không có giấy phép khai thác khoáng sản sẽ bị xử lý như sau:

- Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng khi tổng khối lượng khoáng sản đã khai thác tại thời điểm phát hiện vi phạm dưới 10 m3;

- Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng khi tổng khối lượng khoáng sản đã khai thác tại thời điểm phát hiện vi phạm từ 10 m3 đến dưới 20 m3;

- Từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng khi tổng khối lượng khoáng sản đã khai thác tại thời điểm phát hiện vi phạm từ 20 m3 đến dưới 30 m3;…

Đây là mức phạt áp dụng đối với cá nhân, tổ chức có cùng hành vi vi phạm sẽ bị phạt gấp đôi.

Nghị định 36/2020/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ 10/5/2020 và thay thế cho Nghị định 33/2017/NĐ-CP ngày 03/4/2017.

4. Thay đổi cơ cấu tổ chức của Đài truyền hình Việt Nam

Theo Nghị định 34/2020/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 02/2018/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Đài Truyền hình Việt Nam, có một số thay đổi trong cơ cấu tổ chức như sau:

images5596873_Screenshot_17.png

(Ảnh minh họa)

- Ban Thư ký biên tập ngoài vai trò là tổ chức giúp việc Tổng Giám đốc thì còn thực hiện sản xuất, phát sóng chương trình.

- Các Trung tâm Truyền hình Việt Nam tại địa phương được phân chia thành 02 nhóm, không phân chia thành 1 số tỉnh thành như hiện tại: 

+ Trung tâm Truyền hình Việt Nam khu vực Nam Bộ.

+ Trung tâm Truyền hình Việt Nam khu vực miền Trung - Tây Nguyên.

- Bổ sung vào cơ cấu tổ chức: Trung tâm Sản xuất và Phát triển nội dung số.

- Bỏ Tạp chí truyền hình ra khỏi cơ cấu tổ chức.

Nghị định 34/2020/NĐ-CP có hiệu lực thi hành ngày 10/5/2020.

Linh Nguyễn

Nghị định 50/2020/NĐ-CP: Quy định về viện trợ quốc tế khẩn cấp để cứu trợ và khắc phục hậu quả thiên taiThông tinTinNguyễn Thị LinhNghị định 50/2020/NĐ-CP: Quy định về viện trợ quốc tế khẩn cấp để cứu trợ và khắc phục hậu quả thiên tai/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
4/27/2020 5:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 20/4, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 50/2020/NĐ-CP quy định về tiếp nhận, quản lý và sử dụng viện trợ quốc tế khẩn cấp để cứu trợ và khắc phục hậu quả thiên tai.

Nghị định nêu rõ:

Bên viện trợ là Chính phủ nước ngoài, tổ chức quốc tế, tổ chức được Chính phủ nước ngoài ủy quyền, tổ chức phi Chính phủ, tổ chức và cá nhân nước ngoài khác cung cấp trực tiếp viện trợ khẩn cấp không hoàn lại nhằm cứu trợ và khắc phục hậu quả thiên tai.

Bên tiếp nhận viện trợ là các tổ chức thành lập theo pháp luật Việt Nam; có chức năng, nhiệm vụ và hoạt động phù hợp với mục tiêu và nội dung của các khoản viện trợ gồm:

Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội; Hội Chữ thập đỏ Việt Nam.

Đối tượng thụ hưởng viện trợ: Các cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi thiên tai.

Các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc tiếp nhận, quản lý và sử dụng viện trợ quốc tế khẩn cấp để cứu trợ và khắc phục hậu quả thiên tai tại Việt Nam.
Nguyên tắc tiếp nhận, quản lý và sử dụng viện trợ

Việc tiếp nhận, quản lý và sử dụng viện trợ phải công khai, minh bạch, đúng mục đích, kịp thời, hiệu quả, đúng đối tượng; có sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương, tổ chức và cá nhân có liên quan.

Không tiếp nhận những hàng hóa không được phép nhập khẩu theo quy định của pháp luật, các khoản viện trợ gây ảnh hưởng xấu đến môi trường, sức khỏe cộng đồng, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, xâm hại đến lợi ích của Nhà nước và của Nhân dân.

Việc tiếp nhận, quản lý và sử dụng các khoản viện trợ phải thực hiện theo các quy định của pháp luật Việt Nam và cam kết với Bên viện trợ.

Các trường hợp Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chủ trương tiếp nhận viện trợ quốc tế khẩn cấp để khắc phục hậu quả thiên tai

Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chủ trương tiếp nhận viện trợ quốc tế khẩn cấp để khắc phục hậu quả thiên tai đối với các trường hợp sau đây:

Khoản viện trợ có nội dung liên quan đến an ninh, quốc phòng, tôn giáo;
Viện trợ mua sắm, cung cấp các loại hàng hóa thuộc diện phải được Thủ tướng Chính phủ cho phép;

Các khoản viện trợ chưa xác định cơ quan chủ quản.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 6 năm 2020.

Nguồn: https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/van-ban-chinh-sach-moi.aspx?ItemID=3176

Thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp nâng xếp hạng Chỉ số chi phí tuân thủ pháp luật năm 2020Thông tinTinNguyễn Thị LinhThực hiện các nhiệm vụ, giải pháp nâng xếp hạng Chỉ số chi phí tuân thủ pháp luật năm 2020/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
4/16/2020 11:00 AMNoĐã ban hành

Ngày 07/4/2020, UBND tỉnh Bình Dương ban hành Công văn số 1665/UBND-NC về việc thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp nâng xếp hạng Chỉ số chi phí tuân thủ pháp luật năm 2020.

Theo Công văn để góp phần nâng xếp hạng Chỉ số chi phí tuân thủ pháp luật theo nhiệm vụ được giao tại khoản 1 Mục III Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 01/01/2020 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2020. UBND tỉnh yêu cầu các sở, ban, ngành tỉnh; UBND các huyện, thị xã, thành phố triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời, quyết liệt, đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của đơn vị mình theo nội dung hướng dẫn nâng xếp hạng Chỉ số B1 ban hành kèm theo Công văn 1083/BTP-QLXLVPHC&TDTHPL ngày 29/3/2019 của Bộ Tư pháp. Trong đó, tập trung thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp sau:

1. Khẩn trương thực hiện rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ các quy định do Trung ương và địa phương ban hành thuộc ngành, lĩnh vực quản lý chưa rõ ràng, không đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ, khả thi, cản trở điều kiện kinh doanh, gây khó khăn, phiền hà cho doanh nghiệp; đặc biệt là các quy định có liên quan đến chi phí tuân thủ pháp luật.

2. Bố trí nguồn lực về biên chế, kinh phí phù hợp để tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp thực hiện việc cắt giảm chi phí tuân thủ pháp luật của năm 2020; chú trọng kiện toàn đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế của các sở, ban, ngành đủ về số lượng và chất lượng để thực hiện tốt công tác tham mưu cho Thủ trưởng đơn vị trong việc chỉ đạo triển khai và tổ chức thực hiện các giải pháp cắt giảm chi phí tuân thủ pháp luật.

3. Tiếp tục đẩy mạnh công tác truyền thông về các hoạt động triển khai các giải pháp giảm thiểu chi phí tuân thủ pháp luật đối với doanh nghiệp, người dân; chú trọng thông tin trên cổng thông tin điện tử của các đơn vị, địa phương để cán bộ, công chức thực thi công vụ, cộng đồng doanh nghiệp và người dân hiểu rõ, hưởng ứng, phối hợp thực hiện đồng bộ các giải pháp mà địa phương đã đề ra.

4. Thường xuyên tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ pháp luật, đặc biệt là kỹ năng, nghiệp vụ rà soát, đánh giá các quy định về điều kiện kinh doanh để cắt giảm các khoản chi phí tuân thủ pháp luật không hợp lý, không khả thi hoặc có mâu thuẫn, chồng chéo.

5. Phối hợp chặt chẽ với Sở Tư pháp trong quá trình tổ chức triển khai các nhiệm vụ, giải pháp nâng xếp hạng Chỉ số B1 nêu tại văn bản này và theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp.

6. Thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo tình hình nâng xếp hạng Chỉ số B1 theo tinh thần Nghị quyết số 02/NQ-CP của Chính phủ. Theo đó, các sở, ban, ngành tỉnh, UBND cấp huyện gửi báo cáo (theo đề cương ban hành kèm theo Công văn số 1083/BTP-QLXLVPHC&TDTHPL của Bộ Tư pháp) về UBND tỉnh (thông qua Sở Tư pháp) trước ngày 01/6/2020 (đối với báo cáo 06 tháng) và trước ngày 01/12/2020 (đối với báo cáo năm 2020) để tổng hợp, báo cáo Chính phủ, Bộ Tư pháp theo quy định.

Linh - CV Phòng QLXLVPHC&TDTHPL STP. BD

1665-NC.signed.pdf

Nghị định số 47/2020/NĐ-CP: Quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nướcThông tinTinNguyễn Thị LinhNghị định số 47/2020/NĐ-CP: Quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
4/13/2020 3:00 PMYesĐã ban hành

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 47/2020/NĐ-CP quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước. Nghị định có hiệu lực từ ngày 25/5/2020.

Nghị định này quy định về các hoạt động quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước bao gồm: quản lý, quản trị dữ liệu số; kết nối, chia sẻ dữ liệu số; sử dụng, khai thác dữ liệu số của cơ quan nhà nước; cung cấp dữ liệu mở của cơ quan nhà nước cho tổ chức, cá nhân; quyền và trách nhiệm trong kết nối, chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước.

Giá trị pháp lý của dữ liệu được chia sẻ trong thông điệp dữ liệu được xác định theo giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu quy định tại Mục 1 Chương II Luật Giao dịch điện tử và quy định của pháp luật có liên quan.

Nguyên tắc chung về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu: Dữ liệu hình thành trong hoạt động của cơ quan nhà nước được chia sẻ phục vụ các hoạt động của cơ quan nhà nước hướng tới phục vụ người dân, doanh nghiệp tuân thủ quy định của pháp luật trong việc tạo lập, quản lý và sử dụng dữ liệu.

Cơ quan nhà nước phải có trách nhiệm chia sẻ dữ liệu với cơ quan, tổ chức, cá nhân khác theo quy định của pháp luật; không cung cấp thông tin qua hình thức văn bản đối với thông tin đã được khai thác qua hình thức kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống thông tin; không được thu thập, tổ chức thu thập lại dữ liệu hoặc yêu cầu người dân, doanh nghiệp cung cấp thông tin, dữ liệu trong quá trình giải quyết các thủ tục hành chính nếu dữ liệu này đã được cơ quan nhà nước khác cung cấp, sẵn sàng cung cấp thông qua kết nối, chia sẻ dữ liệu, trừ trường hợp dữ liệu đó không bảo đảm yêu cầu về chất lượng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn chuyên ngành hoặc pháp luật có quy định khác.

Việc chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước không làm ảnh hưởng tới quyền lợi và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan, không được xâm phạm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Dữ liệu chia sẻ phải bảo đảm tính cập nhật, chính xác theo quy định của  pháp luật; dữ liệu chia sẻ giữa các cơ quan nhà nước là không thu phí, trừ trường hợp khai thác, sử dụng dữ liệu thuộc danh mục được quy định trong Luật Phí và lệ phí.

Dữ liệu của cơ quan nhà nước chia sẻ cho tổ chức, cá nhân thực hiện theo các nguyên tắc sau: Tổ chức, cá nhân được quyền khai thác dữ liệu của mình hoặc dữ liệu của tổ chức, cá nhân khác khi được tổ chức, cá nhân đó chấp nhận, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; các trường hợp ngoài quy định trên, dữ liệu của cơ quan nhà nước được chia sẻ cho tổ chức, cá nhân được thực hiện theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin và các quy định của pháp luật hiện hành.

Yêu cầu quản lý, kết nối, chia sẻ dữ liệu

Cơ quan nhà nước thực hiện kết nối, chia sẻ dữ liệu phải thực hiện, tuân thủ các yêu cầu sau:

Chỉ định một cán bộ làm đầu mối phụ trách kết nối và chia sẻ dữ liệu; công khai số điện thoại, địa chỉ thư điện tử, tên và vị trí, chức năng cán bộ đầu mối phụ trách. Cán bộ đầu mối phụ trách có trách nhiệm tiếp nhận, phối hợp, xử lý các vấn đề về kết nối, chia sẻ dữ liệu của cơ quan, đơn vị mình đối với cơ quan, đơn vị bên ngoài.

Công khai thông tin về đầu mối phụ trách kết nối, chia sẻ dữ liệu; các thông tin về sự sẵn sàng chia sẻ dữ liệu và các thông tin cần công bố khác theo quy định tại Nghị định này.

Tuân thủ các quy định về bảo mật thông tin; các quy định về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến dữ liệu; quyền riêng tư của tổ chức, cá nhân.

Bảo đảm dữ liệu chia sẻ phải có khả năng gửi, nhận, lưu trữ, xử lý được bằng thiết bị số.

Tuân thủ các quy định, hướng dẫn kỹ thuật về trao đổi dữ liệu, về ứng dụng công nghệ thông tin trong cơ quan nhà nước và các nguyên tắc được quy định tại Điều 5 của Nghị định này.

Phù hợp với Khung kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam.

Nghị định cũng quy định rõ các hành vi không được làm gồm: Cản trở hoạt động kết nối, quyền khai thác và sử dụng dữ liệu hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật; mua bán, trao đổi, chia sẻ dữ liệu trái quy định của pháp luật; vi phạm các quy định về quyền sở hữu trí tuệ, quyền bảo vệ thông tin cá nhân khi kết nối, chia sẻ dữ liệu; làm sai lệch dữ liệu trong quá trình lưu chuyển dữ liệu từ cơ quan cung cấp dữ liệu tới cơ quan khai thác dữ liệu; phá hoại cơ sở hạ tầng thông tin, làm gián đoạn việc kết nối, chia sẻ dữ liệu.

Nguồn: https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/van-ban-chinh-sach-moi.aspx?ItemID=3174

 

Chính sách pháp luật nổi bật có hiệu lực trong tháng 4/2020Thông tinTinNguyễn Thị LinhChính sách pháp luật nổi bật có hiệu lực trong tháng 4/2020/XLVPHCTDTHPL/PublishingImages/2020-04/HINH 1_Key_10042020143806.jpg
4/10/2020 3:00 PMNoĐã ban hành

1. Quy định mới về việc bồi thường khi kinh doanh vận tải hàng hóa

Đây là nội dung đáng chú ý tại Nghị định 10/2020/NĐ-CP quy định về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô.

Theo đó, việc bồi thường hàng hóa hư hỏng, mất mát, thiếu hụt được thực hiện theo hợp đồng vận chuyển hoặc theo thỏa thuận giữa người kinh doanh vận tải và người thuê vận tải.

Nếu trong Hợp đồng vận tải không ghi nhận hoặc các bên không thỏa thuận được mức bồi thường thì sẽ theo phán quyết của Tòa án hoặc trọng tài.

(Hiện hành, mức bồi thường là 70.000 đồng cho một kilôgam hàng hóa bị tổn thất nếu HĐ không có quy định và hai bên không thỏa thuận được, trừ trường hợp có quyết định khác của Tòa án hoặc trọng tài).

Nghị định 10/2020/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ 01/4/2020 và thay thế Nghị định 86/2014/NĐ-CP ngày 10/9/2014.

2. Bỏ một số quy định XPHC về điều kiện hoạt động xây dựng

Nội dung này được đề cập tại Nghị định 21/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 139/2017/NĐ-CP về xử phạt hành chính trong lĩnh vực xây dựng.

Theo đó, bãi bỏ một số hành vi vi phạm về điều kiện hoạt động xây dựng tại Điều 23 Nghị định 139 như sau:

- Đối với tổ chức hoạt động xây dựng

+ Không có hợp đồng lao động với những cá nhân đảm nhận những chức danh chủ

chốt theo quy định;

+ Những chức danh chủ chốt không có chứng nhận bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về lĩnh vực đặc thù của dự án theo quy định.

- Đối với nhà thầu nước ngoài: Không công bố thông tin trên trang thông tin điện tử theo quy định khi tham gia các hoạt động xây dựng.

Nghị định 21/2020/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01/4/2020.

3. Quy định về thuốc sử dụng cho thi hành án tử hình

Ngày 08/4/2020, Chính phủ ban hành Nghị định 43/2020/NĐ-CP quy định về thi hành án tử hình bằng hình thức tiêm thuốc độc.

thuốc độc.jpg 

Theo đó, thuốc tiêm để sử dụng cho thi hành án tử hình bao gồm:

- Thuốc làm mất tri giác;

- Thuốc làm liệt hệ vận động;

- Thuốc làm ngừng hoạt động của tim.

Một liều thuốc gồm 03 loại thuốc quy định tại khoản 1 Điều này và dùng cho 01 người.

Thuốc sử dụng cho thi hành án tử hình do Bộ Y tế cấp theo đề nghị của Bộ Công an, Bộ quốc phòng.

Bảo quản thuốc theo điều kiện ghi trên nhãn liều thuốc, hướng dẫn của đơn vị cung cấp.

Nghị định 43/2020/NĐ-CP bắt đầu có hiệu lực từ ngày 15/4/2020.

4. Hồ sơ đăng ký xét tiếp nhận vào viên chức KH&CN trong trường hợp đặc biệt

Ngày 01/3/2020, Chính phủ ban hành Nghị định 27/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 40/2014/NĐ-CP ngày 12/5/2014.

Theo đó, quy định hồ  sơ đăng ký xét tiếp nhận vào viên chức khoa học và công nghệ (KH&CN) đối với cá nhân có thành tích vượt trội trong hoạt động KH&CN.

Cụ thể, Cá nhân đáp ứng đủ yêu cầu về vị trí việc làm nộp một bộ hồ sơ gồm:

- Phiếu đăng ký xét tiếp nhận vào viên chức (theo Mẫu số 01/KHCN ban hành kèm theo Nghị định này);

- Bản Sơ yếu lý lịch tự thuật có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền trong thời hạn 06 tháng tính đến ngày nộp hồ sơ;

- Bản sao các văn bằng, chứng chỉ và kết quả học tập, thành tích KH&CN theo yêu cầu của vị trí xét tuyển; trường hợp có văn bằng do cơ sở đào tạo nước ngoài cấp phải được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận;

- Giấy chứng nhận sức khỏe còn giá trị sử dụng do cơ quan y tế đủ điều kiện được khám sức khỏe cấp theo quy định của Bộ Y tế;

- Lý lịch khoa học của người đề nghị tiếp nhận vào viên chức.

Nghị định 27/2020/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 15/4/2020.

5. Tăng mức phạt tiền với NSDLĐ khi không giao kết đúng loại HĐLĐ

Chính phủ đã ban hành Nghị định 28/2020/NĐ-CP quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực lao động, BHXH, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

Theo đó, người sử dụng lao động sẽ bị phạt tiền từ 02 – 25 triệu đồng tùy theo số lượng NLĐ bị vi phạm (quy định hiện hành là từ 01 – 20 triệu đồng) khi không giao kết đúng loại HĐLĐ với người lao động.

(Đây là mức phạt tiền đối với cá nhân, tổ chức có cùng hành vi vi phạm thì mức phạt gấp đôi).

Ngoài ra, nếu NSDLĐ có hành vi cưỡng bức lao động, ngược đãi người lao động mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì sẽ bị phạt tiền từ 50 – 75 triệu đồng.

Nghị định 28/2020/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 15/4/2020.

6. Phạt tiền nếu miêu tả tỉ mỉ hành động chém, giết, tai nạn lên facebook

Đây là nội dung được nêu tại Nghị định 15/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử.

facebook.jpg 

Theo đó, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với tổ chức có hành vi lợi dụng mạng xã hội để thực hiện một trong 08 nhóm hành vi tại Khoản 1 Điều 101; đơn cử như:

- Cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân;

- Cung cấp, chia sẻ thông tin miêu tả tỉ mỉ hành động chém, giết, tai nạn, kinh dị, rùng rợn…

Bên cạnh việc phạt tiền thì người vi phạm buộc phải gỡ bỏ thông tin vi phạm khỏi các trang mạng xã hội.

Lưu ý: Cá nhân có hành vi vi phạm như tổ chức thì mức phạt tiền bằng ½ mức phạt tiền đối với tổ chức.

Nghị định 15/2020/NĐ-CP chính thức có hiệu lực từ ngày 15/04/2020, bãi bỏ Nghị định 174/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013, Điều 2 Nghị   định 49/2017/NĐ-CP ngày 24/4/2017.

Linh - CV Phòng QLXLVPHC&TDTHPL STP. BD



 

Nghị định 38/2020/NĐ-CP: Điều kiện cấp giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoàiThông tinTinNguyễn Thị LinhNghị định 38/2020/NĐ-CP: Điều kiện cấp giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
4/7/2020 11:00 AMNoĐã ban hành

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 38/2020/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Trong đó nêu rõ điều kiện cấp giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.

Nghị định nêu rõ, nhân viên nghiệp vụ thực hiện hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài phải đáp ứng các điều kiện sau: Ký hợp đồng lao động xác định thời hạn hoặc không xác định thời hạn với doanh nghiệp dịch vụ; không trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành bản án hình sự của toà án, không trong thời hạn cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc công việc; trình độ chuyên môn từ cao đẳng trở lên; nhân viên nghiệp vụ khai thác thị trường ngoài nước, tuyển chọn lao động, quản lý lao động làm việc ở nước ngoài và bồi dưỡng kiến thức cần thiết phải tốt nghiệp một trong các chuyên ngành luật, kinh tế/quản trị kinh doanh, ngoại ngữ và có ít nhất 1 năm làm việc trong lĩnh vực đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.

Người lãnh đạo điều hành hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, đáp ứng điều kiện tại khoản 3 Điều 9 của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và không trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành bản án hình sự của toà án, không trong thời hạn cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc công việc.

Vốn pháp định không thấp hơn 5 tỷ Việt Nam đồng.

Nghị định quy định, doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài (doanh nghiệp dịch vụ) là công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và công ty hợp danh được thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, đáp ứng các điều kiện sau đây về vốn: Vốn pháp định không thấp hơn 5 tỷ Việt Nam đồng; có chủ sở hữu, tất cả các thành viên, cổ đông là nhà đầu tư trong nước theo quy định của Luật Đầu tư.

Theo Nghị định, doanh nghiệp dịch vụ phải có Đề án hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Nội dung của Đề án hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam và nước tiếp nhận lao động, được thực hiện theo Mẫu số 02 Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này.

Bộ máy chuyên trách để bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài và hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài của doanh nghiệp dịch vụ (bộ máy) bao gồm: 1- Trung tâm bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài gồm bộ phận đào tạo và bộ phận quản lý học viên; 2- Các phòng nghiệp vụ thực hiện hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với nhiệm vụ khai thác thị trường ngoài nước, tuyển chọn lao động, quản lý lao động làm việc ở nước ngoài, hỗ trợ lao động về nước, tài chính; 3- Trung tâm bồi dưỡng kiến thức cần thiết và các phòng nghiệp vụ phải đảm bảo số lượng nhân viên nghiệp vụ để thực hiện hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.

Cơ sở vật chất để tổ chức bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động thuộc sở hữu của doanh nghiệp dịch vụ hoặc được doanh nghiệp dịch vụ thuê ổn định theo hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật và phải đáp ứng điều kiện tối thiểu sau: Có đủ phòng học và phòng ở cho 100 lao động tại một thời điểm; diện tích phòng học trung bình 1,4 m2/học viên và phòng ở trung bình 3,5 m2/học viên, có trang thiết bị cơ bản bảo đảm phục vụ học tập và sinh hoạt nội trú.
Doanh nghiệp dịch vụ lần đầu được cấp Giấy phép hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài phải thực hiện phương án tổ chức bộ máy chuyên trách để bồi dưỡng kiến thức cần thiết và hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy phép.
Nghị định có hiệu lực từ ngày 20/5/2020.

Nguồn: https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/van-ban-chinh-sach-moi.aspx?ItemID=3158

 

Nghị định số 37/2020/NĐ-CP về việc bổ sung Danh mục ngành, nghề ưu đãi đầu tư Thông tinTinNguyễn Thị LinhNghị định số 37/2020/NĐ-CP về việc bổ sung Danh mục ngành, nghề ưu đãi đầu tư /Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
4/7/2020 10:00 AMNoĐã ban hành

Nghị định số 37/2020/NĐ-CP bổ sung Danh mục ngành, nghề ưu đãi đầu tư ban hành kèm theo Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư được ban hành ngày 30/3/2020.

hinh.jpg

(Ảnh minh họa)

Theo đó, Nghị định số 37 bổ sung khoản 2 vào Mục V Phần B Phụ lục I về danh mục ngành, nghề ưu​ đãi đầu tư đối với hoạt động đầu tư kinh doanh theo quy định của Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, gồm:

- Đầu tư kinh doanh chuỗi phân phối sản phẩm của doanh nghiệp nhỏ và vừa;

- Đầu tư kinh doanh cơ sở ươm tạo doanh nghiệp nhỏ và vừa;

- Đầu tư kinh doanh cơ sở kỹ thuật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa;

- Đầu tư kinh doanh khu vực làm việc chung cho doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

Nghị định có hiệu lực từ ngày 15/5/2020.

Linh - CV Phòng QLXLVPHC&TDTHPL STP.BD

​​NĐ 37.2020_NĐCP.pdf



Cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho khách hàng chịu ảnh hưởng do dịch Covid - 19Thông tinTinNguyễn Thị LinhCơ cấu lại thời hạn trả nợ cho khách hàng chịu ảnh hưởng do dịch Covid - 19/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
4/1/2020 11:00 AMNoĐã ban hành

Ngày 13/3/2020, Ngân hàng nhà nước đã ban hành Thông tư số 01/2020/TT-NHNN quy định về việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid - 19.

2.jpg

(Ảnh minh họa)

Theo đó, đối tượng áp dụng của Thông tư này bao gồm: Tổ chức tín dụng (không bao gồm ngân hàng chính sách), chi nhánh ngân hàng nước ngoài; khách hàng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (trừ khách hàng là tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài) và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid-19.

Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ

Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ là số dư nợ gốc và/hoặc lãi (bao gồm cả số dư nợ của các khoản nợ thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn (đã được sửa đổi, bổ sung)) đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:
- Phát sinh từ hoạt động cho vay, cho thuê tài chính;

- Phát sinh nghĩa vụ trả nợ gốc và/hoặc lãi trong khoảng thời gian từ ngày 23/01/2020 đến ngày liền kề sau 03 tháng kể từ ngày Thủ tướng Chính phủ công bố hết dịch Covid -19;

- Khách hàng không có khả năng trả nợ đúng hạn nợ gốc và/hoặc lãi theo hợp đồng, thỏa thuận cho vay, cho thuê tài chính đã ký do doanh thu, thu nhập sụt giảm bởi ảnh hưởng của dịch Covid -19.

Cơ cấu lại thời hạn trả nợ

Việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ đối với số dư nợ quy định tại khoản 1 Điều 4 Thông tư này được thực hiện trong các trường hợp sau đây:

- Số dư nợ còn trong hạn hoặc quá hạn đến 10 (mười) ngày kể từ ngày đến hạn thanh toán, thời hạn trả nợ theo hợp đồng, thỏa thuận cho vay, cho thuê tài chính đã ký;

- Số dư nợ đã quá hạn (trừ trường hợp nêu trên) trong khoảng thời gian từ ngày 23/01/2020 đến ngày liền kề sau 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành.


- Ngoài ra, trên cơ sở đề nghị của khách hàng và đánh giá của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài về khả năng trả nợ đầy đủ nợ gốc và/hoặc lãi của khách hàng sau khi được cơ cấu lại thời hạn trả nợ, phù hợp mức độ ảnh hưởng của dịch Covid - 19 và đảm bảo các yêu cầu sau đây:

+ Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ đối với khoản nợ vi phạm quy định pháp luật.

+ Thời gian cơ cấu lại trong trường hợp kéo dài thêm một khoảng thời gian trả nợ không vượt quá 12 tháng kể từ ngày cuối cùng của thời hạn cho vay, cho thuê tài chính (thời điểm khách hàng phải trả hết toàn bộ nợ gốc và lãi theo hợp đồng, thỏa thuận cho vay, cho thuê tài chính đã ký).

Miễn, giảm lãi, phí

Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài quyết định việc miễn, giảm lãi, phí theo quy định nội bộ đối với số dư nợ phát sinh từ hoạt động cấp tín dụng (trừ hoạt động mua, đầu tư trái phiếu doanh nghiệp) mà nghĩa vụ trả nợ gốc và/hoặc lãi đến hạn thanh toán trong khoảng thời gian từ ngày 23/01/2020 đến ngày liền kề sau 03 tháng kể từ ngày Thủ tướng Chính phủ công bố hết dịch Covid - 19 và khách hàng không có khả năng trả nợ đúng hạn nợ gốc và/hoặc lãi theo hợp đồng, thỏa thuận đã ký do doanh thu, thu nhập sụt giảm bởi ảnh hưởng của dịch Covid - 19.

Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 13 tháng 3 năm 2020.

Linh - CV Phòng QLXLVPHC&TDTHPL STP. BD

Nghị định số 36/2020/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sảnThông tinTinNguyễn Thị LinhNghị định số 36/2020/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
4/1/2020 10:00 AMNoĐã ban hành

Ngày 24/03, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 36/2020/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản. Trong đó, mức phạt tiền tối đa đối với một hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước là 250 triệu đồng đối với cá nhân và 500 triệu đồng đối với tổ chức.

1.jpg

(Ảnh minh họa)

Nghị định quy định cụ thể mức phạt đối với hành vi vi phạm các quy định về phòng, chống ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước. Cụ thể, Phạt tiền từ 220 - 250 triệu đồng đối với hành vi xả khí thải độc hại trực tiếp vào nguồn nước. Đối với hành vi không thực hiện biện pháp chống thấm, chống tràn ao, hồ, khu chứa nước thải trong trường hợp nước thải không chứa chất thải nguy hại sẽ bị phạt tiền từ 3 - 5 triệu đồng. Phạt tiền từ 10-15 triệu đồng đối với hành vi sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y và các loại hoá chất khác trong trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản không bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật gây ô nhiễm nguồn nước. Phạt tiền từ 30-50 triệu đồng đối với một trong các hành vi vi phạm:

- Không có phương án phòng, chống ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước khi xây dựng các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp, khu đô thị, khu dân cư tập trung, khu du lịch, vui chơi, giải trí, tập trung, tuyến giao thông đường thuỷ, đường bộ, công trình ngầm, công trình cấp, thoát nước, công trình khai thác khoáng sản, nhà máy điện, khu chứa nước thải và cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, các công trình khác có nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước;

- Không có phương án, trang thiết bị, nhân lực bảo đảm phòng ngừa, hạn chế ô nhiễm nước biển khi hoạt động trên biển.

Phạt tiền từ 50-70 triệu đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau: Không có biện pháp bảo đảm an toàn để rò rỉ, thất thoát dẫn đến gây ô nhiễm nguồn nước của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, khai khoáng và các hoạt động sản xuất khác sử dụng hoá chất độc hại; không thực hiện biện pháp chống thấm, chống tràn đối với ao, hồ chứa nước thải, khu chứa nước thải đối với nước thải chứa chất thải nguy hại.
Phạt tiền từ 200-220 triệu đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau:

- Bơm hút nước, tháo khô trong hoạt động khai thác mỏ, xây dựng công trình dẫn đến hạ thấp mực nước dưới đất gây cạn kiệt nguồn nước.

- Không thực hiện các biện pháp hạn chế, khắc phục theo chỉ đạo của cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về tài nguyên nước có thẩm quyền khi bơm hút nước, tháo khô trong hoạt động khai thác mỏ, xây dựng công trình dẫn đến hạ thấp mực nước dưới đất gây cạn kiệt nguồn nước.

Nghị định nêu rõ, các mức phạt tiền trên là mức phạt đối với cá nhân. Mức phạt đối với hộ kinh doanh áp dụng như đối với cá nhân. Mức phạt tiền đối với tổ chức gấp 2 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

Nghị định có hiệu lực từ ngày 10/5/2020.

Linh - CV Phòng QLXLVPHC&TDTHPL STP. BD

Chính sách pháp luật nổi bật có hiệu lực trong tháng 03/2020 (Phần 2)Thông tinTinNguyễn Thị LinhChính sách pháp luật nổi bật có hiệu lực trong tháng 03/2020 (Phần 2)/XLVPHCTDTHPL/PublishingImages/2020-03/HINH 1_Key_19032020084833.jpg
3/19/2020 9:00 AMNoĐã ban hành

1. Rút ngắn thời hạn giải quyết trợ cấp với nhà giáo chưa có phụ cấp thâm niên trong lương hưu

Chính phủ ban hành Nghị định 14/2020/NĐ-CP quy định về chế độ trợ cấp đối với nhà giáo đã nghỉ hưu chưa được hưởng chế độ phụ cấp thâm niên trong lương hưu. Theo đó, trong thời hạn 20 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ đề nghị của người đủ điều kiện hưởng trợ cấp, cơ quan BHXH có trách nhiệm giải quyết và chi trả trợ cấp cho người được hưởng.

Trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
(Hiện hành giải quyết trong thời hạn 30 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ đề nghị).

Trong đó, hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp bao gồm:

- Đối với nhà giáo đang hưởng lương hưu: Tờ khai đề nghị hưởng trợ cấp (mẫu số 01);
- Đối với nhà giáo đủ điều kiện hưởng trợ cấp, chưa được giải quyết chế độ mà từ trần từ ngày 01/01/2012 trở về sau, hồ sơ gồm:

+ Tờ khai đề nghị hưởng trợ cấp của thân nhân (mẫu 02);

+ Bản chụp Giấy chứng tử hoặc giấy báo tử hoặc quyết định của Tòa án tuyên bố là đã chết (mang bản chính để đối chiếu);

+ Văn bản ủy quyền (mẫu số 03) của các thân nhân, trường hợp chỉ có 01 thân nhân thì không cần văn bản này.

Nghị định 14/2020/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 15/3/2020.

2. Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động quốc tịch

Ngày 03/02/2020, Chính phủ ban hành Nghị định 16/2020/NĐ-CP hướng dẫn Luật Quốc tịch Việt Nam.

Theo đó, quy định các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động quốc tịch gồm:

- Dùng giấy tờ giả, bị sửa chữa, tẩy xóa làm sai lệch nội dung; khai báo không trung thực, có hành vi gian dối để làm thủ tục giải quyết các việc về quốc tịch;

- Dùng giấy tờ không còn giá trị chứng minh quốc tịch Việt Nam để chứng minh đang có quốc tịch Việt Nam;

- Lợi dụng thẩm quyền được giao để:

+ Cấp giấy tờ về quốc tịch Việt Nam, giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam hoặc giấy tờ khác có ghi quốc tịch Việt Nam trái quy định;

+ Xác nhận không có cơ sở, không đúng sự thật về người xin nhập, xin trở lại quốc tịch Việt Nam;

- Lợi dụng việc nhập, trở lại, thôi quốc tịch Việt Nam và việc xin giữ quốc tịch nước ngoài khi được nhập, trở lại quốc tịch Việt Nam để:

+ Xâm hại an ninh, lợi ích quốc gia, trật tự, an toàn xã hội của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

+ Phương hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, công dân Việt Nam.

Nghị định 16/2020/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 20/3/2020.

3. Hồ sơ nộp tiền vào ngân sách nhà nước

Ngày 20/01/2020, Chính phủ ban hành Nghị định 11/2020/NĐ-CP quy định về thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực Kho bạc Nhà nước.

Theo đó, hồ sơ nộp tiền vào ngân sách nhà nước gồm chứng từ nộp ngân sách nhà nước (NSNN) hoặc văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc yêu cầu người nộp NSNN nộp tiền vào NSNN.

Số lượng hồ sơ cụ thể như sau:

- Trường hợp nộp NSNN theo phương thức nộp trực tiếp: 01 bản gốc chứng từ nộp NSNN;

Nếu nộp tại ngân hàng chưa phối hợp thu NSNN với các cơ quan trong ngành tài chính thì lập 02 bản gốc chứng từ nộp NSNN hoặc 01 bản chính hoặc 01 bản chụp (bản photo) văn bản yêu cầu nộp tiền vào NSNN.

- Trường hợp nộp NSNN theo phương thức điện tử: 01 chứng từ nộp ngân sách nhà nước được lập trên:

+ Các chương trình ứng dụng tại Cổng thông tin điện tử của cơ quan quản lý thuế;
+ Hoặc Cổng Dịch vụ công Quốc gia;

+ Hoặc hệ thống ứng dụng thanh toán điện tử của ngân hàng;

+ Hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán.

Nghị định 11/2020/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 16/3/2020.

4. Bãi bỏ một số quy định về điều kiện kinh doanh thuốc lá

Đây là nội dung đáng chú ý tại Nghị định 17/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Công Thương. 

thuoc la.jpg

(Ảnh minh họa)

Theo đó, đối với hoạt động sản xuất sản phẩm thuốc lá đã bãi bỏ các quy định sau về điều kiện để được cấp phép:

- Điều kiện về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đối với sản phẩm thuốc lá.

- Điều kiện về sở hữu nhãn hiệu hàng hóa.

- Điều kiện về môi trường và phòng, chống cháy nổ.

Nghị định 17/2020/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 22/3/2020.

5. Diện tích làm việc của GS, PGS, giảng viên chính, giảng viên

Đây là quy định tại Thông tư 03/2020/TT-BGDĐT quy định chi tiết hướng dẫn về tiêu chuẩn, định mức sử dụng diện tích công trình sự nghiệp thuộc lĩnh vực giáo dục và đào tạo.

Theo đó, diện tích làm việc của giáo sư, phó giáo sư, giảng viên chính, giảng viên được quy định như sau:

- Mỗi giáo sư cần có diện tích làm việc 18m2;

- Mỗi phó giáo sư cần có diện tích làm việc 15m2;

- Mỗi giảng viên chính, giảng viên cần có diện tích làm việc 10m2.

Đối với đơn vị có 20 phòng học thì phải có 01 phòng chờ cho giảng viên, diện tích chuyên dùng của phòng chờ là 3m2/giảng viên, với diện tích phòng không nhỏ hơn 24m2/phòng.

Lưu ý: Quy định nêu trên áp dụng đối với các đại học, học viện, trường đại học, viện nghiên cứu khoa học được phép đào tạo trình độ tiến sĩ, trường cao đẳng sư phạm, trường trung cấp sư phạm trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Thông tư 03/2020/TT-BGDĐT có hiệu lực thi hành từ ngày 27/3/2020.

6. Ban hành 05 quy chuẩn kỹ thuật quốc gia lĩnh vực giao thông vận tải

05 quy chuẩn kỹ thuật quốc gia mới được ban hành kèm theo Thông tư 27/2019/TT-BGTVT như sau:

- QCVN 101:2018/BGTVT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cơ sở đóng mới, sửa chữa tàu biển.

- QCVN 67:2018/BGTVT  - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về thiết bị áp lực trên phương tiện giao thông vận tải và phương tiện, thiết bị thăm dò, khai thác trên biển.
- QCVN 22:2018/BGTVT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chế tạo và kiểm tra phương tiện, thiết bị xếp dỡ.

- QCVN 102:2018/BGTVT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn lao động và kỹ thuật nồi hơi lắp đặt trên phương tiện, thiết bị thăm dò và khai thác trên biển.
- Sửa đổi 3: 2018 QCVN 21:2015/BGTVT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về Phân cấp và đóng tàu biển vỏ thép - Sửa đổi 3:2019.

Thông tư 27/2019/TT-BGTVT có hiệu lực từ ngày 31/3/2020.

Linh - CV Phòng QLXLVPHC&TDTHPL STP.BD

Kế hoạch thực hiện cải thiện điểm số, tiếp tục nâng xếp hạng chỉ số B1 năm 2020 của Cục Quản lý XLVPHC và theo dõi THPLThông tinTinNguyễn Thị LinhKế hoạch thực hiện cải thiện điểm số, tiếp tục nâng xếp hạng chỉ số B1 năm 2020 của Cục Quản lý XLVPHC và theo dõi THPL/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
3/17/2020 2:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 25/02/2020 Cục trưởng Cục Quản lý xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật đã phê duyệt Kế hoạch thực hiện cải thiện điểm số, tiếp tục nâng xếp hạng chỉ số chi phí tuân thủ pháp luật (Chỉ số B1) năm 2020.

Với mục đích tổ chức triển khai thực hiện đầy đủ, toàn diện và hiệu quả các nhiệm vụ được nêu tại Quyết định số 86/QĐ-BTP ngày 17/01/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Chương trình hành động của ngành Tư pháp thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2020 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2020; Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 01/01/2020 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2020. Đồng thời, xác định rõ các nhiệm vụ, tiến độ và trách nhiệm công việc của từng cá nhân, các đơn vị thuộc Cục trong việc tham mưu, giúp Cục trưởng thực hiện các nhiệm vụ được giao trong thực hiện cải thiện điểm số, tiếp tục nâng xếp hạng chỉ số B1 trong năm 2020, Kế hoạch thực hiện cải thiện điểm số, tiếp tục nâng xếp hạng chỉ số B1 năm 2020 của Cục Quản lý xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật xác định 07 nhóm công việc sẽ thực hiện trong năm 2020:

Một là, rà soát, hoàn thiện tài liệu hướng dẫn nâng xếp hạng chỉ số B1 năm 2019. Thời gian thực hiện: Tháng 2-3/2020.

Hai là, tổ chức các hội nghị, hội thảo, tập huấn về thực hiện nhiệm vụ cải thiện điểm số, tiếp tục nâng xếp hạng chỉ số B1. Thời gian thực hiện: Tháng 3-11/2020.

Ba là, hỗ trợ, kiểm tra, theo dõi, đánh giá tình hình và kết quả thực hiện việc cải thiện điểm số, tiếp tục nâng xếp hạng chỉ số B1 tại các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Thời gian thực hiện: Tháng 7-11/2020 (Kết hợp, lồng ghép với công tác kiểm tra, điều tra, khảo sát tình hình thi hành pháp luật trong lĩnh vực trọng tâm liên ngành).

Bốn là, tăng cường công tác truyền thông về hoạt động cải thiện điểm số, tiếp tục nâng xếp hạng chỉ số B1. Thời gian thực hiện: Tháng 1-12/2020.

Năm là, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về tình hình, kết quả và đề xuất, kiến nghị các giải pháp thực hiện cải thiện điểm số, tiếp tục nâng xếp hạng chỉ số B1. Thời gian thực hiện: Trước ngày 20/6/2020 và trước ngày 20/12/2020.

Sáu là, phối hợp với Vụ Hợp tác quốc tế trong việc kết nối với Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) để trao đổi, cung cấp thông tin cần thiết, bảo đảm đánh giá, xếp hạng khách quan; Thực hiện thông tin đối ngoại để giới thiệu về kết quả đánh giá, xếp hạng hàng năm đối với chỉ số B1. Thời gian thực hiện: Theo đề nghị của Vụ Hợp tác quốc tế.

Bảy là, phối hợp với Văn phòng Bộ trong việc nghiên cứu, lồng ghép các tiêu chí đánh giá, xếp hạng của chỉ số B1 vào nội dung khảo sát hàng năm của Chỉ số cải cách hành chính (PAR Index) và chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính (SIPAS) theo đề nghị của Bộ Nội vụ (nếu có). Thời gian thực hiện: Theo đề nghị của Văn phòng Bộ.

Bên cạnh việc xác định các công việc thực hiện trong năm 2020 như trên, Kế hoạch cũng quy định rõ trách nhiệm của các đơn vị thuộc Cục trong việc chủ trì, phối hợp, bảo đảm hoàn thành các công việc đúng tiến độ, chất lượng theo Kế hoạch đề ra./.​

Nguồn: https://xlvphc.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/tin-tuc.aspx?ItemID=766

Nghị định 31/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 115/2013/NĐ-CP ngày 3/10/2013 của Chính phủ quy định về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính.Thông tinTinNguyễn Thị LinhNghị định 31/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 115/2013/NĐ-CP ngày 3/10/2013 của Chính phủ quy định về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính./Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
3/9/2020 3:00 PMNoĐã ban hành

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 31/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 115/2013/NĐ-CP ngày 3/10/2013 của Chính phủ quy định về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính.

Nghị định có hiệu lực từ 1/5/2020, trong đó, sửa đổi quy định giao phương tiện giao thông vi phạm hành chính cho tổ chức, cá nhân vi phạm giữ, bảo quản.

Những trường hợp được giao, quản lý phương tiện bị tạm giữ

Theo đó, phương tiện giao thông vi phạm hành chính thuộc trường hợp bị tạm giữ để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nếu tổ chức, cá nhân vi phạm có một trong các điều kiện dưới đây thì người có thẩm quyền tạm giữ có thể giao cho tổ chức, cá nhân vi phạm giữ, bảo quản phương tiện dưới sự quản lý của cơ quan của người có thẩm quyền tạm giữ, cụ thể:

Cá nhân vi phạm có nơi đăng ký thường trú hoặc có đăng ký tạm trú còn thời hạn hoặc có giấy xác nhận về nơi công tác của cơ quan, tổ chức nơi cá nhân vi phạm đang công tác; tổ chức vi phạm phải có địa chỉ hoạt động cụ thể, rõ ràng. Tổ chức, cá nhân vi phạm phải có nơi giữ, bảo quản phương tiện.

vuong-mac-trong-bao-quan-tang-vat-phuong-tien-VPHC.jpg

Phương tiện tạm giữ bị quá tải.

Tổ chức, cá nhân vi phạm có khả năng tài chính đặt tiền bảo lãnh thì có thể được xem xét để giao giữ, bảo quản phương tiện.

Làm gì để được giao giữ, bảo quản phương tiện vi phạm giao thông?

Để được giao giữ, bảo quản phương tiện, thì tổ chức, cá nhân vi phạm phải làm đơn gửi cơ quan của người có thẩm quyền tạm giữ đề nghị được giữ, bảo quản phương tiện; trong đơn ghi rõ họ tên, địa chỉ, nghề nghiệp của người vi phạm hoặc tên, địa chỉ của tổ chức vi phạm, hành vi vi phạm hành chính, tên, số lượng, đặc điểm, chủng loại, số hiệu, nhãn hiệu, ký hiệu, xuất xứ, năm sản xuất, số máy, số khung, dung tích (nếu có), tình trạng của phương tiện, nơi giữ, bảo quản phương tiện theo đề nghị của tổ chức, cá nhân sau khi được cơ quan có thẩm quyền giao giữ, bảo quản phương tiện.

Cá nhân vi phạm khi gửi đơn phải gửi kèm theo bản chính hoặc bản sao kèm theo bản chính để đối chiếu hoặc bản sao có công chứng, chứng thực sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú hoặc CMND hoặc Thẻ CCCD hoặc giấy xác nhận về nơi công tác của cơ quan, tổ chức nơi cá nhân vi phạm đang công tác; đối với tổ chức vi phạm phải có giấy tờ chứng minh về địa chỉ nơi đóng trụ sở hoạt động của tổ chức đó.

Trường hợp sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú được thay thế bằng hình thức quản lý theo số định danh cá nhân thì cá nhân vi phạm cung cấp số định danh của mình cho cơ quan của người có thẩm quyền tạm giữ khi gửi đơn đề nghị.

Trong thời hạn không quá 2 ngày, kể từ ngày nhận được đơn đề nghị, cơ quan của người có thẩm quyền tạm giữ phải xem xét, quyết định việc giao phương tiện cho tổ chức, cá nhân vi phạm, bảo quản. Đối với vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp, cần phải có thêm thời gian để xác minh thì trong thời hạn không quá 3 ngày, kể từ ngày nhận được đơn đề nghị, cơ quan của người có thẩm quyền tạm giữ phải xem xét, quyết định việc giao phương tiện cho tổ chức, cá nhân vi phạm giữ, bảo quản. Trường hợp không giao phương tiện cho tổ chức, cá nhân vi phạm giữ, bảo quản phải có văn bản trả lời, nêu rõ lý do.

Cơ quan của người có thẩm quyền tạm giữ phương tiện có trách nhiệm quản lý, bảo quản phương tiện vi phạm từ khi ra quyết định tạm giữ cho đến khi giao phương tiện cho tổ chức, cá nhân vi phạm giữ, bảo quản.

Khi giao phương tiện cho tổ chức, cá nhân vi phạm giữ, bảo quản, người có thẩm quyền tạm giữ phải lập biên bản ghi rõ tên, số lượng, khối lượng, đặc điểm, chủng loại, nhãn hiệu, xuất xứ, nơi giữ, bảo quản, tình trạng của phương tiện (nếu có) và phải có chữ ký của tổ chức, cá nhân vi phạm và người có thẩm quyền tạm giữ; thời hạn tổ chức, cá nhân vi phạm giữ, bảo quản phương tiện. Biên bản được lập thành 2 bản, mỗi bên giữ một bản.

Cùng với việc lập biên bản khi giao phương tiện, người có thẩm quyền tạm giữ phải tạm giữ giấy chứng nhận đăng ký phương tiện để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt, trừ trường hợp tổ chức, cá nhân vi phạm đã đặt tiền bảo lãnh. Việc tạm giữ giấy chứng nhận phải được lập thành biên bản.

Không được sử dụng phương tiện vi phạm trong thời gian tự bảo quản

Nghị định quy định, tổ chức, cá nhân vi phạm trong thời gian được giao giữ, bảo quản phương tiện vi phạm thì không được phép sử dụng phương tiện vi phạm đó tham gia giao thông; không được tự ý thay đổi nơi giữ, bảo quản phương tiện vi phạm, nếu không có sự đồng ý bằng văn bản của người có thẩm quyền tạm giữ.

Trường hợp do thiên tai, hỏa hoạn hoặc khi có nguy cơ trực tiếp phát sinh tình huống mà nếu không kịp thời di chuyển, thay đổi nơi giữ, bảo quản phương tiện sẽ gây thiệt hại đến phương tiện thì được thay đổi nơi giữ, bảo quản phương tiện nhưng ngay sau đó phải thông báo cho người có thẩm quyền tạm giữ biết.

Trong thời gian được giao giữ, bảo quản phương tiện, nếu tổ chức, cá nhân vi phạm không chấp hành đúng quy định thì người có thẩm quyền tạm giữ phương tiện xem xét, quyết định chuyển phương tiện vi phạm đó về nơi tạm giữ của cơ quan của người có thẩm quyền tạm giữ.

Trong thời gian được giao giữ, bảo quản phương tiện vi phạm, nếu tổ chức, cá nhân để xảy ra mất, đánh tráo, bán, trao đổi, cầm cố, thế chấp, thay thế, hủy hoại, làm hư hỏng phương tiện thì phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại, hậu quả do hành vi mà mình gây ra theo quy định của pháp luật.

Nghị định cũng quy định cụ thể các trường hợp không giao phương tiện giao thông vi phạm hành chính cho tổ chức, cá nhân vi phạm giữ, bảo quản gồm: Phương tiện giao thông của vụ vi phạm pháp luật là vật chứng của vụ án hình sự; phương tiện giao thông được sử dụng để đua xe trái phép, chống người thi hành công vụ, gây rối trật tự công cộng hoặc gây tai nạn giao thông; Giấy chứng nhận đăng ký phương tiện bị làm giả, sửa chữa; biển kiểm soát giả, phương tiện bị thay đổi trái phép số khung, số máy hoặc bị xóa số khung, số máy.

Theo Phương Thuỷ (cand.com.vn)

Nguồn: https://quangninh.gov.vn/Trang/ChiTietTinTuc.aspx?nid=89794

Sửa đổi, bổ sung một số điều về theo dõi tình hình thi hành pháp luậtThông tinTinNguyễn Thị LinhSửa đổi, bổ sung một số điều về theo dõi tình hình thi hành pháp luật/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
3/9/2020 3:00 PMNoĐã ban hành

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 32/2020/NĐ-CP ngày 05/3/2020 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ về theo dõi tình hình thi hành pháp luật

Về cộng tác viên theo dõi tình hình thi hành pháp luật

Cộng tác viên theo dõi tình hình thi hành pháp luật được huy động để tham gia hoạt động thu thập, tổng hợp thông tin; điều tra, khảo sát; tham gia ý kiến về xử lý kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật.

Các tổ chức (Hội luật gia Việt Nam, Liên đoàn luật sư Việt Nam và các Đoàn luật sư, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các hội xã hội, nghề nghiệp, tổ chức nghiên cứu, đào tạo, chuyên gia, nhà khoa học) được huy động tham gia làm cộng tác viên phải có lĩnh vực hoạt động phù hợp với lĩnh vực cần theo dõi tình hình thi hành pháp luật. Cá nhân được huy động tham gia làm công tác viên phải am hiểu lĩnh vực cần theo dõi tình hình thi hành pháp luật.

Cộng tác viên theo dõi tình hình thi hành pháp luật thực hiện theo chế độ hợp đồng theo từng vụ việc cụ thể, trừ trường hợp cộng tác viên theo dõi tình hình thi hành pháp luật là cán bộ, công chức, viên chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

Về đánh giá tác động của việc thi hành pháp luật đối với đời sống kinh tế, xã hội

Trên cơ sở theo dõi tình hình thi hành pháp luật các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm xem xét, đánh giá tình hình thi hành pháp luật trong phạm vi quản lý nhà nước được giao.

Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm xem xét, đánh giá tác động tích cực, tác động tiêu cực của việc thi hành các quy định của pháp luật đối với đời sống kinh tế, xã hội.

Về xử lý kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật

Theo đó, Bộ Tư pháp có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh kịp thời xử lý kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật; tổng hợp, nghiên cứu, đề xuất Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xử lý kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật đối với những vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Trong trường hợp phát hiện tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật hoặc quyết định áp dụng pháp luật chưa bảo đảm tính chính xác, vi phạm quy định pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thì bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp phải ban hành văn bản yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền kịp thời đính chính, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ, ban hành mới văn bản theo đúng quy định của pháp luật.

Trường hợp phát hiện các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của bộ, cơ quan ngang bộ, ủy ban nhân dân các cấp có quy định trái với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên thì Bộ trưởng Bộ Tư pháp, bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp phải kịp thời xử lý văn bản trái pháp luật theo thẩm quyền được quy định tại Điều 118, Điều 119 và Điều 120 của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14-5-2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Ngoài ra, Nghị định còn sửa đổi, bổ sung các nội dung khác như: xây dựng, ban hành Kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật; kiểm tra tình hình thi hành pháp luật trong lĩnh vực trong lĩnh vực trọng tâm, liên ngành; kiểm tra thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật và phối hợp theo dõi tình hình thi hành pháp luật.

Nghị định cũng bãi bỏ khoản 2 Điều 15, khoản 2 Điều 16 Nghị định số 59/2012/NĐ-CP của Chính phủ về theo dõi tình hình thi hành pháp luật.

Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 15/5/2020.

Linh - CV Phòng QLXLVPHC&TDTHPL STP.BD​

NĐ 32_2020_NĐCP.pdf

Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồngThông tinTinNguyễn Thị LinhQuy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
3/5/2020 4:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 01/3/2020, Chính phủ ban hành Nghị định số 28/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

Hình NĐ 28.jpg

Theo đó, Nghị định này quy định về hành vi vi phạm, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền xử phạt, thẩm quyền lập biên bản, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì bị xử phạt theo hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền. Căn cứ tính chất, mức độ của hành vi vi phạm, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm hành chính còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung. Cụ thể một vài mức xử phạt đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng như sau:

- Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có hành vi không thực hiện đối thoại khi đại diện tập thể lao động yêu cầu;

- Phạt tiền từ từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có hành vi không công bố công khai tại nơi làm việc thang lương, bảng lương, định mức lao động, quy chế thưởng;

- Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người lao động có hành vi thỏa thuận với người sử dụng lao động không tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp, tham gia không đúng đối tượng hoặc tham gia không đúng mức quy định;

-  Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với doanh nghiệp dịch vụ có hành vi không công bố Giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo quy định;….

Đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng xảy ra trước ngày 15/4/2020 mà sau đó mới bị phát hiện hoặc đang xem xét, giải quyết thì áp dụng các quy định về xử phạt quy định tại Nghị định này nếu Nghị định này không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy đinh trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn cho các cá nhân, tổ chức vi phạm.

Nghị định nêu rõ các mức phạt tiền nêu trên là mức phạt đối với cá nhân. Mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 2 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 15/4/2020 và thay thế Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và nghị định số 88/2015/NĐ-CP ngày 07/10/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 95 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

Linh - CV Phòng QLXLVPHC&TDTHPL STP.BD

NĐ 28_2020_NĐCP.pdf

Nghị định số 20/2020/NĐ-CP: Thí điểm quản lý lao động, tiền lương, thưởng 3 Tập đoàn, TCtyThông tinTinNguyễn Thị LinhNghị định số 20/2020/NĐ-CP: Thí điểm quản lý lao động, tiền lương, thưởng 3 Tập đoàn, TCty/XLVPHCTDTHPL/PublishingImages/2020-03/HINH 1_Key_02032020064316.jpg
3/2/2020 7:00 AMNoĐã ban hành

Ngày 17/02/2020, Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 20/2020/NĐ-CP thực hiện thí điểm quản lý lao động, tiền lương, tiền thưởng đối với một số tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước.

Nghị định này quy định việc thực hiện thí điểm về quản lý lao động, xây dựng thang lương, bảng lương; tiền lương, tiền thưởng của người lao động và Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng; tiền lương, thù lao, tiền thưởng của Thành viên Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, Trưởng ban kiểm soát, Kiểm soát viên năm 2020 tại 3 tập đoàn, tổng công ty gồm: Công ty mẹ - Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT); Công ty mẹ - Tổng công ty Hàng không Việt Nam - CTCP (Vietnam Airlines); Công ty mẹ - Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam (VATM) (gọi chung là công ty).

Tiền lương của người lao động và Ban điều hành

Nghị định quy định, tiền lương của người lao động và Ban điều hành được khoán theo đơn giá tiền lương. Đối với công ty mẹ - Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam, đơn giá khoán theo tỷ lệ % trên tổng doanh thu trừ tổng chi phí chưa có tiền lương, được xác định trên cơ sở đơn giá bình quân của giai đoạn 2018 - 2019 và có tính bù chênh lệch tiền lương của lao động trực tiếp thực hiện sản phẩm công nghệ cao theo Danh mục sản phẩm công nghệ cao do Thủ tướng Chính phủ hoặc các bộ chuyên ngành ban hành mà công ty trả lương thấp hơn so với mặt bằng tiền lương cùng ngành nghề trên thị trường.

Đối với công ty mẹ - Tổng công ty Hàng không Việt Nam, đơn giá khoán theo chỉ tiêu tấn - km thực hiện có doanh thu, được xác định trên cơ sở đơn giá bình quân của giai đoạn 2018 - 2019 và có tính bù chênh lệch tiền lương của người lái máy bay là người Việt Nam mà công ty trả thấp hơn so với người lái máy bay là người nước ngoài.

Đối với công ty mẹ - Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam, đơn giá khoán theo chỉ tiêu km điều hành bay quy đổi, được xác định trên cơ sở đơn giá bình quân của giai đoạn 2018 - 2019 và tiền lương, tiền thưởng an toàn (nếu có) tính cho số lao động dự kiến phải bổ sung năm 2020 theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền vì mục tiêu an ninh, an toàn hàng không.

Đơn giá bình quân của giai đoạn 2018 - 2019 được tính trên cơ sở tổng quỹ tiền lương, tiền thưởng an toàn (nếu có) thực tế hằng năm của người lao động và Ban điều hành chia cho chỉ tiêu tính đơn giá khoán theo khoản 1 Điều này trong giai đoạn 2018 - 2019.

Khi xác định đơn giá khoán, công ty phải bảo đảm lợi nhuận (trước thuế) kế hoạch năm 2020 không thấp hơn lợi nhuận thực hiện bình quân của giai đoạn 2018 - 2019. Công ty quyết định tạm ứng tiền lương không quá 85% đơn giá khoán để chi trả hàng tháng cho người lao động và Ban điều hành.

Quỹ tiền lương thực hiện được xác định trên cơ sở đơn giá khoán nhân với chỉ tiêu tính đơn giá khoán, bảo đảm mức tăng tiền lương bình quân thấp hơn mức tăng năng suất lao động bình quân và lợi nhuận thực hiện không thấp hơn lợi nhuận thực hiện bình quân của giai đoạn 2018 - 2019. Đối với công ty có lợi nhuận thực hiện vượt lợi nhuận bình quân của giai đoạn 2018 - 2019 thì được tính thêm vào quỹ tiền lương (hạch toán vào chi phí) theo nguyên tắc vượt 1% lợi nhuận, được tính thêm tối đa 2% quỹ tiền lương, nhưng không quá 20% phần lợi nhuận vượt và không quá 2 tháng tiền lương thực hiện.

Trường hợp lợi nhuận thực hiện thấp hơn bình quân của giai đoạn 2018 - 2019 thì phải giảm trừ quỹ tiền lương theo một trong hai cách do công ty lựa chọn: giảm trừ tỷ lệ (%) hoặc theo mức chênh lệch giá trị lợi nhuận thực hiện thấp hơn lợi nhuận bình quân của giai đoạn 2018 - 2019. Mức giảm trừ tối đa không quá 02 tháng tiền lương và bảo đảm quỹ tiền lương thực hiện không thấp hơn quỹ tiền lương tính theo mức tiền lương bình quân trong hợp đồng lao động.

Căn cứ quỹ tiền lương thực hiện và tiền lương đã tạm ứng cho người lao động, công ty xác định quỹ tiền lương còn lại được hưởng. Trường hợp đã tạm ứng và chi vượt quá quỹ tiền lương thực hiện thì phải hoàn trả từ quỹ tiền lương của năm sau liền kề.

Mức lương cơ bản của Chủ tịch Hội đồng thành viên 60-70 triệu đồng/tháng

Về tiền lương của Thành viên Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, Trưởng ban kiểm soát và Kiểm soát viên, Nghị định quy định mức lương cơ bản được hưởng theo chức danh và loại công ty.

Theo đó, đối với công ty có chỉ tiêu kế hoạch: vốn chủ sở hữu từ 10.000 tỷ đồng trở lên; doanh thu từ 30.000 tỷ đồng trở lên và có 10 đầu mối quản lý (công ty con hạch toán độc lập hoặc phụ thuộc) hoặc tổng số lao động sử dụng từ 5.000 người trở lên: Mức lương cơ bản đối với Chủ tịch Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị là 70 triệu đồng/tháng; đối với Thành viên Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, Trưởng ban kiểm soát là 60 triệu đồng/tháng và đối với kiểm soát viên là 50 triệu đồng/tháng.

Đối với công ty có chỉ tiêu kế hoạch: vốn chủ sở hữu dưới 10.000 tỷ đồng; doanh thu dưới 30.000 tỷ đồng và có dưới 10 đầu mối quản lý hoặc tổng số lao động sử dụng dưới 5.000 người thì các mức lương trên lần lượt là 60; 50 và 40 triệu đồng/tháng.

Công ty căn cứ vào các chỉ tiêu kế hoạch để xác định loại công ty và mức lương cơ bản của Thành viên Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, Trưởng ban kiểm soát và Kiểm soát viên chuyên trách.

Mức tiền lương kế hoạch của Thành viên Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, Trưởng ban kiểm soát và Kiểm soát viên chuyên trách được xác định theo mức lương cơ bản gắn với lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (sau đây gọi tắt là tỷ suất lợi nhuận) kế hoạch so với lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận thực hiện năm trước liền kề như sau: a- Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận kế hoạch bằng hoặc cao hơn lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận năm trước liền kề thì mức tiền lương kế hoạch tối đa bằng 02 lần mức lương cơ bản; b- Lợi nhuận hoặc tỷ suất lợi nhuận kế hoạch thấp hơn lợi nhuận hoặc tỷ suất lợi nhuận năm trước liền kề thì mức tiền lương kế hoạch tối đa được tính bằng 02 lần mức lương cơ bản nhân tỷ lệ (%) lợi nhuận hoặc (%) tỷ suất lợi nhuận kế hoạch thấp hơn so với lợi nhuận hoặc tỷ suất lợi nhuận năm trước liền kề. Trường hợp lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận kế hoạch đều thấp hơn lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận năm trước liền kề thì mức tiền lương kế hoạch tối đa được tính bằng 02 lần mức lương cơ bản nhân tỷ lệ (%) lợi nhuận kế hoạch so với lợi nhuận năm trước liền kề và nhân với tỷ suất lợi nhuận kế hoạch so với tỷ suất lợi nhuận năm trước liền kề. Mức tiền lương kế hoạch sau khi tính theo lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận không thấp hơn 50% mức lương cơ bản; c- Không có lợi nhuận thì mức tiền lương kế hoạch tối đa bằng 50% mức lương cơ bản; lỗ thì mức tiền lương kế hoạch tối đa bằng 30% mức lương cơ bản.

Mức tiền lương thực hiện được căn cứ vào mức tiền lương kế hoạch và lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận thực hiện so với kế hoạch theo nguyên tắc quy định tại khoản 1 Điều này. Trường hợp lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận thực hiện vượt lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận kế hoạch thì được tính thêm vào tiền lương (hạch toán vào chi phí) theo nguyên tắc vượt 1% lợi nhuận so với kế hoạch, được tính thêm 2% tiền lương nhưng tối đa bằng 02 tháng tiền lương kế hoạch.

Mức tiền thưởng căn cứ theo lợi nhuận và xếp loại công ty

Về mức tiền thưởng, Nghị định quy định, căn cứ lợi nhuận thực hiện sau khi hoàn thành nghĩa vụ với Nhà nước và trích lập các quỹ theo quy định của Nhà nước về phân phối lợi nhuận, công ty trích tiền thưởng của Thành viên Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, Trưởng ban kiểm soát, Kiểm soát viên như sau: Đối với công ty do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ được trích tiền thưởng theo mức độ hoàn thành chỉ tiêu lợi nhuận và xếp loại công ty: không quá 02 tháng tiền lương và thù lao, nếu lợi nhuận thực hiện bằng hoặc vượt kế hoạch và công ty xếp loại A; không quá 02 tháng tiền lương và thù lao nhân với tỷ lệ (%) lợi nhuận thực hiện so với lợi nhuận kế hoạch, nếu lợi nhuận thực hiện thấp hơn kế hoạch và công ty xếp loại A hoặc loại B; không được trích tiền thưởng nếu công ty xếp loại C hoặc công ty không thực hiện xếp loại.

Việc xếp loại công ty được thực hiện theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Bộ Tài chính về giám sát đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp; giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động và công khai thông tin tài chính của doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn nhà nước.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/4 /2020. Các quy định về tiền lương, tiền thưởng của người lao động và Ban điều hành; tiền lương, thù lao, tiền thưởng của Thành viên Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, Trưởng ban kiểm soát và Kiểm soát viên tại Nghị định này được thực hiện từ ngày 01/01/2020 đến hết ngày 31/12/2020.

Nguồn: https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/van-ban-chinh-sach-moi.aspx?ItemID=3112

 

Nghị định số 22/2020/NĐ-CP: Thêm 3 trường hợp được miễn lệ phí môn bàiThông tinTinNguyễn Thị LinhNghị định số 22/2020/NĐ-CP: Thêm 3 trường hợp được miễn lệ phí môn bài/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
3/2/2020 7:00 AMNoĐã ban hành

Ngày 24/02/2020, Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 22/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 139/2016/NĐ-CP ngày 4/10/2016 của Chính phủ quy định về lệ phí môn bài.

Nghị định số 22/2020/NĐ-CP bổ sung khoản 8, 9, 10 Điều 3 Nghị định 139/2016/NĐ-CP quy định về các trường hợp miễn lệ phí môn bài.

Theo đó, miễn lệ phí môn bài trong năm đầu thành lập hoặc ra hoạt động sản xuất, kinh doanh (từ ngày 01/01 đến 31/12) đối với:

a- Tổ chức thành lập mới (được cấp mã số thuế mới, mã số doanh nghiệp mới).

b- Hộ gia đình, cá nhân, nhóm cá nhân lần đầu ra hoạt động sản xuất, kinh doanh.

c- Trong thời gian miễn lệ phí môn bài, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, nhóm cá nhân thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh thì chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh được miễn lệ phí môn bài trong thời gian tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, nhóm cá nhân được miễn lệ phí môn bài.

Doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển từ hộ kinh doanh (theo quy định tại Điều 16 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa) được miễn lệ phí môn bài trong thời hạn 3 năm kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu.

Trong thời gian miễn lệ phí môn bài, doanh nghiệp nhỏ và vừa thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh thì chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh được miễn lệ phí môn bài trong thời gian doanh nghiệp nhỏ và vừa được miễn lệ phí môn bài.

Chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa (thuộc diện miễn lệ phí môn bài theo quy định tại Điều 16 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa) được thành lập trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực thi hành thì thời gian miễn lệ phí môn bài của chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh được tính từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành đến hết thời gian doanh nghiệp nhỏ và vừa được miễn lệ phí môn bài.

Doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi từ hộ kinh doanh trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thực hiện miễn lệ phí môn bài theo quy định tại Điều 16 và Điều 35 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Ngoài ra, cơ sở giáo dục phổ thông công lập và cơ sở giáo dục mầm non công lập cũng được miễn lệ phí môn bài.

Bên cạnh đó, Nghị định 22/2020/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 5 của Nghị định số 139/2016/NĐ-CP về khai, nộp lệ phí môn bài. Thời hạn nộp lệ phí môn bài chậm nhất là ngày 30/1 hàng năm.

Doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi từ hộ kinh doanh (bao gồm cả chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh) kết thúc thời gian được miễn lệ phí môn bài (năm thứ tư kể từ năm thành lập doanh nghiệp) nộp lệ phí môn bài như sau: Trường hợp kết thúc thời gian miễn lệ phí môn bài trong thời gian 6 tháng đầu năm thì thời hạn nộp lệ phí môn bài chậm nhất là ngày 30/7 năm kết thúc thời gian miễn; trường hợp kết thúc thời gian miễn lệ phí môn bài trong thời gian 6 tháng cuối năm thì thời hạn nộp lệ phí môn bài chậm nhất là ngày 30/1 năm liền kề năm kết thúc thời gian miễn.

Hộ gia đình, cá nhân, nhóm cá nhân sản xuất, kinh doanh đã giải thể, ra hoạt động sản xuất, kinh doanh trở lại nộp lệ phí môn bài như sau: Trường hợp ra hoạt động trong 6 tháng đầu năm thì thời hạn nộp lệ phí môn bài chậm nhất là ngày 30/7 năm ra hoạt động; trường hợp ra hoạt động trong thời gian 6 tháng cuối năm thì thời hạn nộp lệ phí môn bài chậm nhất là ngày 30/1 năm liền kề năm ra hoạt động.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 25/2/2020.​

Nguồn: ​https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/van-ban-chinh-sach-moi.aspx?ItemID=3113

1 - 30Next
Ảnh
Video
Audio