Tài liệu tuyên truyền
 
 
  
Phân loại
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Nội dung
  
  
Một số quy định về Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nướcTờ rơi, tờ gấpTinMột số quy định về Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/3/2018 4:00 PMNoĐã ban hành

BOI THUONG NHA NUOC_1.jpg

BOI THUONG NHA NUOC_2.jpg

FalseLê Phương
Pháp luật về công chứng, chứng thực năm 2018Tờ rơi, tờ gấpTinPháp luật về công chứng, chứng thực năm 2018/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/3/2018 4:00 PMNoĐã ban hành

CONG CHUNG_CHUNGTHUC_1.jpg

CONG CHUNG_CHUNGTHUC_2.jpg

FalseLê Phương
Một số quy định pháp luật về thừa phát lại, đấu giá tài sản, luật sưTờ rơi, tờ gấpTinMột số quy định pháp luật về thừa phát lại, đấu giá tài sản, luật sư/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/3/2018 4:00 PMNoĐã ban hành

DG-TPL-LS1.jpg

DG-TPL-LS2.jpg

FalseLê Phương
An toàn giao thông (dùng cho học sinh trong các trường học)Tờ rơi, tờ gấpTinAn toàn giao thông (dùng cho học sinh trong các trường học)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/3/2018 4:00 PMNoĐã ban hành

GIAO THONG 1.jpg

GIAO THONG 2.jpg

FalseLê Phương
Một số quy định về đăng ký khai sinh, khai tử trong nướcTờ rơi, tờ gấpTinMột số quy định về đăng ký khai sinh, khai tử trong nước/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/3/2018 4:00 PMNoĐã ban hành

KHAI SINH - KHAI TU_1.jpg

KHAI SINH - KHAI TU_2.jpg

FalseLê Phương
Một số quy định pháp luật về phòng, chống ma túyTờ rơi, tờ gấpTinMột số quy định pháp luật về phòng, chống ma túy/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/3/2018 4:00 PMNoĐã ban hành

Ma tuy to_1.jpg

Ma tuy to_2.jpg

FalseLê Phương
Tìm hiểu một số quy định pháp luật về nghĩa vụ quân sựTờ rơi, tờ gấpTinTìm hiểu một số quy định pháp luật về nghĩa vụ quân sự/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/3/2018 4:00 PMNoĐã ban hành

NGHIA VU QUAN SU_1.jpg

NGHIA VU QUAN SU_2.jpg

FalseLê Phương
Tìm hiểu tội vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩmTờ rơi, tờ gấpTinTìm hiểu tội vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/3/2018 4:00 PMNoĐã ban hành

VE SINH ATTP_1.jpg

VE SINH ATTP_2.jpg

FalseLê Phương
Trách nhiệm của cơ quan nhà nước bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dânTờ rơi, tờ gấpTinTrách nhiệm của cơ quan nhà nước bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/3/2018 4:00 PMNoĐã ban hành

TIEP CAN THONG TIN_1.jpg

TIEP CAN THONG TIN_2.jpg

FalseLê Phương
Tìm hiểu một số quy định của Bộ luật hình sự về tội phạm và tội phạm có tổ chứcTờ rơi, tờ gấpTinTìm hiểu một số quy định của Bộ luật hình sự về tội phạm và tội phạm có tổ chức/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/3/2018 4:00 PMNoĐã ban hành

Toi pham to_1.jpg

Toi pham to_2.jpg

FalseLê Phương
Một số thông tin về lĩnh vực công chứngĐề cương tuyên truyền; Văn bản luậtTinMột số thông tin về lĩnh vực công chứng/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/3/2018 3:00 PMNoĐã ban hành

       1.     Văn phòng công chứng giả mạo

      Qua phản ánh của báo chí, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương được biết thông tin việc phát hiện Văn phòng công chứng giả mạo Sao Bắc Đẩu tại phường Hiệp Phú, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại tờ báo Tuổi Trẻ trang số 05 (Phát hành ngày Chủ Nhật 30/9/2018) có đưa nội dung: "Về khoảng 600 hồ sơ, giao dịch đã được công chứng, chứng thực từ văn phòng theo quy định là vô hiệu vì bị giả mạo. Các giao dịch đã được công chứng nếu phát sinh tranh chấp thì cơ quan giải quyết căn cứ vào Bộ luật dân sự để xử lý".

Nhằm đảm bảo tính pháp lý khi xác lập hợp đồng, giao dịch, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương đã ban hành công văn số 1555/STP-BTP ngày 01/10/2018 thông báo đến các tổ chức hành nghề công chứng không chấp nhận các hợp đồng, giấy tờ đã được công chứng, chứng thực tại Văn phòng công chứng nói trên để thực hiện công chứng, chứng thực các hợp đồng, giao dịch khác có liên quan và hướng dẫn người yêu cầu công chứng trình báo Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh hoặc Cơ quan công an có thẩm quyền để được hướng dẫn, giải quyết theo quy định của pháp luật.

      2.     Hợp đồng vay tiền biến tướng thành hợp đồng vay tài sản 

     Thời gian qua đã phát sinh nhiều biến tướng của hoạt động cho vay của các cá nhân, tổ chức. Bên cho vay, ngoài ký kết hợp đồng cho vay, còn yêu cầu bên vay ký thêm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà hoặc hợp đồng ủy quyền chuyển nhượng đối với tài sản này với giá thấp, khiến bên đi vay dễ rơi vào cảnh mất trắng (các loại hợp đồng này điều được bên cho vay yêu cầu bên vay phải thực hiện thủ tục công chứng đúng theo quy định của pháp luật).

- Theo Điều 463 BLDS năm 2015 thì, hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: "Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay…". Như vậy, lãi suất vay do hai bên thỏa thuận, nhưng không được vượt quá 20% trong một năm của khoản tiền vay. Tuy nhiên, thực tế lãi suất vay do hai bên thỏa thuận cao hơn nhiều so với quy định. 

- Theo Điều 430 BLDS 2015, hợp đồng mua bán tài sản (mua bán nhà ở, bất động sản) là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán. Bên bán nhà có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua đúng thời hạn đã thỏa thuận. Như vậy, xét một cách độc lập thì hợp đồng mua bán nhà mà các bên cho vay và bên vay tiến hành ký kết sẽ có hiệu lực.

Thực tế hiện nay có nhiều trường hợp, khi hợp đồng vay tiền đến hạn trả mà bên vay không có khả năng chi trả cho bên cho vay, thì chủ nợ tiến hành đăng bộ sang tên đối với Hợp đồng mua bán nhà như đã thỏa thuận đã ký song song cùng lúc với hợp đồng vay tiền (trong hợp đồng mua bán nhà thường ghi nhận giá trị rất thấp so với giá trị thật của thị trường) dẫn đến bên đi vay trắng tay. Tuy nhiên, trong trường hợp bên vay tiền có giấy tờ chứng minh được hợp đồng mua bán nhà nêu trên là hợp đồng giả tạo nhằm che dấu hợp đồng vay tiền thì hợp đồng mua bán nhà sẽ vô hiệu (theo Điều 124 BLDS năm 2015 quy định: "Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan.") 

      Hậu quả pháp lý của của giao dịch dân sự vô hiệu: Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập; Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận (Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả); Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó; Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường; Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định.

 

FalsePhòng PBGDPL
Quy định mới về chính sách “Bảo hiểm y tế 05 năm liên tục”Đề cương tuyên truyền; Văn bản luậtTinQuy định mới về chính sách “Bảo hiểm y tế 05 năm liên tục”/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/3/2018 3:00 PMNoĐã ban hành

         Ngày 17 tháng 10 năm 2018, Chỉnh phủ ban hành  Nghị định số: 146/2018/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn biện pháp thi hành một số điều của luật Bảo hiểm y tế, theo đó khi thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với người bệnh có thời gian tham gia bảo hiểm y tế 05 năm liên tục trở lên và có số tiền cùng chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong năm lớn hơn 06 tháng lương cơ sở theo quy định pháp luật được thực hiện như sau:

- Trường hợp người bệnh có số tiền cùng chi trả tại một lần hoặc nhiều lần khám bệnh, chữa bệnh tại cùng cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đó lớn hơn 06 tháng lương cơ sở thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không thu số tiền cùng chi trả lớn hơn 06 tháng lương cơ sở của người bệnh. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm cung cấp hóa đơn thu đối với số tiền cùng chi trả đủ 06 tháng lương cơ sở để người bệnh có căn cứ đề nghị cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận không phải cùng chi trả trong năm đó;

- Trường hợp người bệnh có số tiền cùng chi trả lũy kế trong năm tài chính tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác nhau hoặc tại cùng một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh lớn hơn 06 tháng lương cơ sở thì người bệnh mang chứng từ đến cơ quan bảo hiểm xã hội nơi cấp thẻ bảo hiểm y tế để thanh toán số tiền cùng chi trả lớn hơn 06 tháng lương cơ sở và nhận giấy xác nhận không phải cùng chi trả trong năm đó;

- Trường hợp người bệnh có số tiền cùng chi trả vượt quá 06 tháng lương cơ sở được tính từ ngày 01 tháng 01, quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 100% chi phí khám bệnh chữa bệnh trong phạm vi quyền lợi của người bệnh kể từ thời điểm người bệnh tham gia đủ 05 năm liên tục đến hết ngày 31 tháng 12 của năm đó.

Ngoài ra, Nghị định 146/2018/NĐ-CP cũng bổ sung, sửa đổi một số trường hợp được xác định là tham gia bảo hiểm y tế liên tục như:

- Người được cử đi công tác, học tập, làm việc hoặc theo chế độ phu nhân, phu quân hoặc con đẻ, con nuôi hợp pháp dưới 18 tuổi đi theo bố hoặc mẹ công tác nhiệm kỳ tại cơ quan Việt Nam ở nước ngoài.

- Khoảng thời gian đã tham gia bảo hiểm y tế trước khi đi lao động ở nước ngoài được tính nếu tham gia bảo hiểm y tế khi về nước trong thời gian 30 ngày kể từ ngày nhập cảnh.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 12 năm 2018./.

FalseLê Phương
Quy định về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việcĐề cương tuyên truyền; Văn bản luậtTinQuy định về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/3/2018 3:00 PMNoĐã ban hành

         Ngày 07/11/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 149/2018/NĐ-CP quy định chi tiết Khoản 3, Điều 63 của Bộ luật lao động về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc. Đối tượng áp dụng của Nghị định gồm: Người lao động theo quy định tại Khoản 1, Điều 3 của Bộ luật lao động; doanh nghiệp, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động; tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở theo quy định tại Khoản 4 Điều 3 của Bộ luật lao động và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác liên quan đến việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc theo quy định tại Nghị định này. Nghị định này không áp dụng đối với cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động.

Theo đó, Nghị định quy định những nội dung người sử dụng lao động phải công khai là:

- Tình hình thực hiện nhiệm vụ, sản xuất, kinh doanh;

- Nội quy, quy chế và các văn bản quy định khác của doanh nghiệp liên quan đến nghĩa vụ, quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động;

- Thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp, thỏa ước lao động tập thể ngành, thỏa ước lao động tập thể khác mà doanh nghiệp tham gia;

- Nghị quyết Hội nghị người lao động;

- Việc trích lập, sử dụng quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi và các quỹ do người lao động đóng góp (nếu có);

- Việc trích nộp kinh phí công đoàn, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp;

- Tình hình thực hiện thi đua, khen thưởng, kỷ luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động.

Bên cạnh đó, Nghị định cũng quy định trách nhiệm ban hành Quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc. Theo đó, người sử dụng lao động có trách nhiệm ban hành Quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc. Quy chế này phải có sự tham gia ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở và được phổ biến công khai đến người lao động trước khi thực hiện.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2019. Nghị định số 60/2013/NĐ-CP ngày 19/6/2013 của Chính phủ quy định chi tiết Khoản 3, Điều 63 của Bộ luật lao động về thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành./.

FalseLê Phương
Một số quy định của pháp luật về phòng chống bạo lực gia đìnhTờ rơi, tờ gấpTinMột số quy định của pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/3/2018 3:00 PMNoĐã ban hành

Bao luc gia dinh to_1.jpg

Bao luc gia dinh to_2.jpg

FalseLê Phương
Hỏi đáp pháp luật: Lĩnh vực khai sinhĐề cương tuyên truyền; Văn bản luậtTinHỏi đáp pháp luật: Lĩnh vực khai sinh/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
11/20/2018 4:00 PMNoĐã ban hành

Hỏi: Bà Nguyễn Thị A – công dân Việt Nam, đã được đăng ký khai sinh nhưng nay bà đã bị mất bản chính giấy khai sinh. Vậy bà A có được đăng ký lại khai sinh và cấp giấy khai sinh bản chính không? Nếu được thì bà A phải liên hệ cơ quan nào để được giải quyết?

Trả lời

Theo quy định tại Khoản 1, 3 Điều 24 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch "Việc khai sinh, kết hôn, khai tử đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam trước ngày 01 tháng 01 năm 2016 nhưng Sổ hộ tịch và bản chính giấy tờ hộ tịch đều bị mất thì được đăng ký lại. Việc đăng ký lại khai sinh, kết hôn chỉ được thực hiện nếu người yêu cầu đăng ký còn sống vào thời điểm tiếp nhận hồ sơ" và Khoản 1 Điều 25 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định "Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đã đăng ký khai sinh, kết hôn trước đây hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người yêu cầu thường trú, thực hiện đăng ký lại khai sinh, kết hôn"

Như vậy, nếu bà A đã được đăng ký khai sinh tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam trước ngày 01/01/2016 nhưng Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh đều bị mất thì được đăng ký lại khai sinh (điều kiện bà A vẫn còn sống tại thời điểm đăng ký).

Thẩm quyền giải quyết: Bà A có thể liên hệ Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đã đăng ký khai sinh trước đây hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bà thường trú để thực hiện đăng ký lại khai sinh theo quy định.


Hỏi: Anh Trần Văn M đang chuẩn bị hồ sơ để thực hiện đăng ký lại khai sinh. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì anh M phải nộp những loại giấy tờ nào để làm cơ sở đăng ký lại khai sinh?

Trả lời

Theo quy định tại Điều 26 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch và Điều 9 Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch thì hồ sơ đăng ký lại khai sinh gồm các giấy tờ sau đây:

(1) Tờ khai theo mẫu quy định, trong đó có cam đoan của người yêu cầu về việc đã đăng ký khai sinh nhưng người đó không lưu giữ được bản chính Giấy khai sinh;

(2) Bản sao toàn bộ hồ sơ, giấy tờ của người yêu cầu hoặc hồ sơ, giấy tờ, tài liệu khác trong đó có các thông tin liên quan đến nội dung khai sinh của người đó, trong đó:

- Bản sao Giấy khai sinh do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp (bản sao được công chứng, chứng thực hợp lệ, bản sao được cấp từ Sổ đăng ký khai sinh).

- Bản chính hoặc bản sao giấy tờ có giá trị thay thế Giấy khai sinh được cấp trước năm 1945 ở miền Bắc và trước năm 1975 ở miền Nam.

- Trường hợp người yêu cầu đăng ký lại khai sinh không có giấy tờ trên thì giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp hợp lệ sau đây là cơ sở để xác định nội dung đăng ký lại khai sinh:

+ Giấy chứng minh nhân dân, Thẻ căn cước công dân hoặc Hộ chiếu;

+ Sổ hộ khẩu, Sổ tạm trú, giấy tờ chứng minh về nơi cư trú;

+ Bằng tốt nghiệp, Giấy chứng nhận, Chứng chỉ, Học bạ, Hồ sơ học tập do cơ quan đào tạo, quản lý giáo dục có thẩm quyền cấp hoặc xác nhận;

+ Giấy tờ khác có thông tin về họ, chữ đệm, tên, ngày, tháng, năm sinh của cá nhân;

+ Giấy tờ chứng minh quan hệ cha con, mẹ con.

Người yêu cầu đăng ký lại khai sinh có trách nhiệm nộp đầy đủ bản sao các giấy tờ nêu trên (nếu có) và phải cam đoan đã nộp đủ các giấy tờ mình có. Trường hợp người yêu cầu đăng ký lại khai sinh cam đoan không đúng sự thật, cố ý chỉ nộp bản sao giấy tờ có lợi để đăng ký lại khai sinh thì việc đăng ký lại khai sinh không có giá trị pháp lý.

Trường hợp người yêu cầu đăng ký lại việc sinh là cán bộ, công chức, viên chức, người đang công tác trong lực lượng vũ trang thì phải có văn bản xác nhận của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 26 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP.

Trường hợp người yêu cầu đăng ký lại việc sinh là cán bộ, công chức, viên chức, người đang công tác trong lực lượng vũ trang thì ngoài các giấy tờ trên còn phải có văn bản xác nhận của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị về việc những nội dung khai sinh của người đó gồm họ, chữ đệm, tên; giới tính; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán; quan hệ cha - con, mẹ - con phù hợp với hồ sơ do cơ quan, đơn vị đang quản lý./.

FalseLê Phương
Quy định về đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trên địa bàn tỉnh Bình DươngĐề cương tuyên truyền; Văn bản luậtTinQuy định về đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trên địa bàn tỉnh Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
11/20/2018 4:00 PMNoĐã ban hành

​       Ngày 11 tháng 10 năm 2018, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Quyết định số 28/2018/QĐ-UBND ngày 11/10/2018 "Quy định về đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trên địa bàn tỉnh Bình Dương"; theo đó, Quyết định này áp dụng đối với cơ quan quản lý nhà nước về đất đai, đấu giá tài sản, thu tiền sử dụng đất và tiền thuê đất; các đơn vị tổ chức thực hiện việc đấu giá; đơn vị thực hiện cuộc đấu giá quyền sử dụng đất và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc đấu giá quyền sử dụng đất, theo đó, cần lưu ý một số nội dung:

      1. Về Đơn vị tổ chức thực hiện việc đấu giá quyền sử dụng đất: Là các cơ quan, tổ chức được Ủy ban nhân dân tỉnh giao hoặc được cơ quan có thẩm quyền khác giao tổ chức, thực hiện việc đấu giá quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật; Đơn vị thực hiện cuộc đấu giá quyền sử dụng đất gồm: Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bình Dương; Các doanh nghiệp có chức năng đấu giá tài sản (theo quy định của Luật Đấu giá tài sản năm 2016); Hội đồng đấu giá quyền sử dụng đất trong trường hợp đặc biệt theo quy định của pháp luật.

     2. Về Nguyên tắc đấu giá quyền sử dụng đất: Việc đấu giá quyền sử dụng đất phải đảm bảo tính độc lập, trung thực công khai, minh bạch, công bằng, khách quan; bảo vệ quyền, lợi ích của Nhà nước, của người tham gia đấu giá, người trúng đấu giá, người mua được tài sản đấu giá, tổ chức đấu giá tài sản và đấu giá viên (theo quy định tại Điều 6 Luật đấu giá tài sản). Việc đấu giá quyền sử dụng đất phải thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật về đấu giá tài sản.

      3. Về Quỹ đất được sử dụng để đấu giá quyền sử dụng đất:  so với Quyết định 70/2015/QĐ-UBND ngày ngày 31 tháng 12 năm 2015 có bổ sung, sửa đổi một số nội dung, bao gồm:

- Đất Nhà nước thu hồi do vi phạm pháp luật về đất đai (theo quy định tại Khoản 1 Điều 64 của Luật đất đai năm 2013); thu hồi do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất (theo quy định tại các điểm a, b, c và d, Khoản 1 Điều 65 Luật đất đai năm 2013).

- Đất Nhà nước thu hồi do sắp xếp lại, xử lý trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh mà tài sản gắn liền với đất thuộc sở hữu Nhà nước.

- Đất do Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn; tổ chức phát triển quỹ đất được giao quản lý mà Nhà nước chưa giao hoặc cho thuê để sử dụng theo quy định của pháp luật.

- Đất do các tổ chức được giao để quản lý (theo quy định tại điểm b và điểm c, Khoản 1 Điều 8 của Luật đất đai năm 2013) được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định giao, cho thuê để sử dụng theo quy định của pháp luật.

- Các tài sản khác là quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật hiện hành có liên quan quy định thực hiện giao đất, cho thuê đất phải thông qua hình thức đất giá quyền sử dụng đất.

Ngoài ra, Quyết định còn quy định các vấn đề sau: Điều kiện tham gia đấu giá quyền sử dụng đất; Các trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất; Xác định và phê duyệt giá khởi điểm của thửa đất đấu giá; Lập và phê duyệt phương án đấu giá quyền sử dụng đất,…

Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/11/2018 và thay thế Quyết định số 70/2015/QĐ-UBND ngày 31 tháng 12 năm 2015./.

FalseLê Phương
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 123/2013NĐ-CP ngày 14/10/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều  và biện pháp thi hành Luật Luật sưĐề cương tuyên truyền; Văn bản luậtTinSửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 123/2013NĐ-CP ngày 14/10/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều  và biện pháp thi hành Luật Luật sư/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
11/20/2018 4:00 PMNoĐã ban hành

            Ngày 08/10/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 137/2018/NĐ-CP ngày 08/10/2018 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 123/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Luật sư.

Một trong các nội dung được bổ sung tại Nghị định là quy định miễn đào tạo nghề luật sư và miễn, giảm thời gian tập sự hành nghề luật sư, cụ thể: Người thuộc trường hợp quy định tại Điều 13 và Điều 16 của Luật Luật sư được miễn đào tạo nghề luật sư và miễn, giảm thời gian tập sự hành nghề luật sư.

Người đã bị xử lý hình sự hoặc xử lý kỷ luật đến mức bị cách chức chức danh thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên, kiểm tra viên, thẩm tra viên; tước danh hiệu công an nhân dân, tước quân hàm sĩ quan quân đội nhân dân; tước học hàm, học vị giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật, tiến sỹ luật hoặc đã bị thu hồi quyết định bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên cao cấp, nghiên cứu viên cao cấp, giảng viên cao cấp, chuyên viên chính, nghiên cứu viên chính, giảng viên chính trong lĩnh vực pháp luật thì không được miễn đào tạo nghề luật sư, miễn, giảm thời gian tập sự hành nghề luật sư theo quy định tại Điều 13 và Điều 16 của Luật Luật sư.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 25 tháng 11 năm 2018./.

FalseLê Phương
Hỏi đáp pháp luật: Lĩnh vực Thừa phát lạiĐề cương tuyên truyền; Văn bản luậtTinHỏi đáp pháp luật: Lĩnh vực Thừa phát lại/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
11/20/2018 3:00 PMNoĐã ban hành

HỎI: Ông A muốn chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông B thì có thể ra Văn phòng Thừa phát lại yêu cầu Thừa phát lại lập vi bằng về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hai bên không?

Trà lời:

Ông A và ông B không thể yêu cầu lập vi bằng về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hai bên, vì: tại Điều 167 Luật đất đai năm 2013 quy định chuyển quyền sử dụng đất phải lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được công chứng tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc chứng thực tại Ủy ban nhân dân cấp xã. Vì vậy, Thừa phát lại không có thẩm quyền lập vi bằng trong trường hợp này (Điều 25 Nghị định 61/2009/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 135/2013/NĐ-CP về Thừa phát lại).

Hậu quả pháp lý của việc lập vi bằng không đúng thẩm quyền của thừa phát lại: Vi bằng sẽ không được đăng ký tại Sở Tư pháp và không có giá trị pháp lý, không được xem là cơ sở để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Các thỏa thuận của 2 bên về nội dung chuyển nhượng quyền sử dụng đất sẽ không được pháp luật công nhận.

HỎI: Ông C và bà D đang là vợ chồng hợp pháp, nay ông C và bà D muốn phân chia tài sản chung là quyền sử dụng đất thì có thể đến yêu cầu Thừa phát lại lập vi bằng phân chia tài sản không?

Trả lời:

Ông C và bà D không thể yêu cầu Thừa phát lại lập vi bằng về việc phân chia tài sản chung là quyền sử dụng đất trong thời kỳ hôn nhân. Vì: Văn bản thỏa thuận phân chia quyền sử dụng đất trong thời kỳ hôn nhân là "Văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất" nên phải được lập thành văn bản và phải được công chứng hoặc chứng thực theo quy định tại (Điều 167 Luật Đất đai năm 2013, Điều 38 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 25 Nghị định 61/2009/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 135/2013/NĐ-CP về Thừa phát lại). Thừa phát lại không có thẩm quyền lập vi bằng trong trường hợp này.

Hậu quả pháp lý của việc lập vi bằng không đúng thẩm quyền: Vi bằng sẽ không được đăng ký tại Sở Tư pháp và không có giá trị pháp lý, các thỏa thuận của vợ chồng về nội dung phân chia quyền sử dụng đất trong thời kỳ hôn nhân sẽ không được pháp luật công nhận.


HỎI: Ngày 10/7/2018, ông E và bà G có giao nhận số tiền là 500.000.000 đồng để đặt cọc nhằm thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Ngày 11/7/2018, ông E và bà G đến Văn phòng Thừa phát lại yêu cầu Thừa phát lại lập vi bằng chứng kiến hành vi giao nhận số tiền trên của 2 bên. Văn phòng Thừa phát lại từ chối lập vi bằng với nội dung trên. Vậy việc từ chối lập vi bằng của Thừa phát lại là đúng hay sai?

Trả lời:

Việc từ chối lập vi bằng của Thừa phát lại trong trường hợp này là đúng, bởi vì: "Vi bằng chỉ ghi nhận những sự kiện, hành vi mà Thừa phát lại trực tiếp chứng kiến; việc ghi nhận phải khách quan, trung thực", hành vi giao nhận tiền giữa ông E và bà G diễn ra vào ngày 10/7/2018, Thừa phát lại không trực tiếp chứng kiến hành vi này mà thông qua lời tường thuật lại của ông E và bà G vào ngày 11/7/2018, do đó không được lập vi bằng về việc chứng kiến hành vi giao nhận tiền của 2 bên.

Cơ sở pháp lý: Điều 26 Nghị định 61/2009/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 135/2013/NĐ-CP) về Thừa phát lại.


HỎI: Một số trường hợp lập vi bằng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không phù hợp với quy định của pháp luật.

Diện tích quyền sử dụng đất không đảm bảo theo Quyết định số 25/2017/QĐ-UBND ngày 27/9/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc quy định diện tích đất tối thiểu được phép tách thửa đối với các loại đất trên địa bàn tỉnh Bình Dương (về điều kiện diện tích được phép tách thửa, điều kiện về diện tích thửa đất mới và diện tích đất còn lại, quy định về điều kiện tiếp giáp đường do Nhà nước quản lý, điều kiện về công trình hạ tầng kỹ thuật…) hoặc đất chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng. Các Vi bằng này sẽ không được đăng ký tại Sở Tư pháp, không được pháp luật công nhận và không được xem là cơ sở để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Hỏi đáp pháp luật: Lĩnh vực Nuôi con nuôiĐề cương tuyên truyền; Văn bản luật; Tờ rơi, tờ gấpTinHỏi đáp pháp luật: Lĩnh vực Nuôi con nuôi/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/5/2018 4:00 PMNoĐã ban hành

    Hỏi: Ông bà M (đã đăng ký kết hôn) muốn xin nhận cháu T (cháu đang sinh sống tại cơ sở nuôi dưỡng) làm con nuôi. Theo quy định của Luật Nuôi con nuôi thì ông bà cần chuẩn bị những giấy tờ gì để đăng ký nuôi con nuôi?

    Trả lời: Theo quy định tại Điều 17, 18 Luật Nuôi con nuôi thì ông bà M phải chuẩn bị những loại giấy tờ sau :

*Hồ sơ của người nhận con nuôi gồm có:

1. Đơn xin nhận con nuôi;

2. Bản sao Hộ chiếu, Giấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ có giá trị thay thế;

3. Phiếu lý lịch tư pháp;

4. Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân;

5. Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp; văn bản xác nhận hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người nhận con nuôi thường trú cấp (Trong trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì được miễn các giấy tờ ở mục này).

 *Hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi trong nước gồm có:

a) Giấy khai sinh;

b) Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp;

c) Hai ảnh toàn thân, nhìn thẳng chụp không quá 06 tháng;

d) Biên bản xác nhận do Ủy ban nhân dân hoặc Công an cấp xã nơi phát hiện trẻ bị bỏ rơi lập đối với trẻ em bị bỏ rơi; Giấy chứng tử của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của trẻ em là đã chết đối với trẻ em mồ côi; quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mất tích đối với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ đẻ mất tích; quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mất năng lực hành vi dân sự đối với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ để mất năng lực hành vi dân sự;

đ) Quyết định tiếp nhận đối với trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng.

Căn cứ quy định trên, ông bà M cần chuẩn bị hồ sơ của người nhận con nuôi và hồ sơ của con nuôi theo quy định.

 

     Hỏi: Vợ chồng anh A sống với nhau đã lâu nhưng chưa có con. Vì vậy, vợ chồng anh A quyết định xin nhận con nuôi tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh và đã được UBND xã cấp Quyết định. Tuy nhiên, qua quá trình chung sống với con nuôi, vợ chồng anh A thấy bé không phù hợp (hiện nay bé 06 tuổi) với gia đình anh nên muốn trả trẻ lại Trung tâm, không nuôi dưỡng nữa. Việc trả trẻ lại Trung tâm của vợ chồng anh A có thực hiện được hay không?

    Trả lời:  Theo quy định tại Điều 25 Luật Nuôi con nuôi

"Việc nuôi con nuôi có thể bị chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

1. Con nuôi đã thành niên và cha mẹ nuôi tự nguyện chấm dứt việc nuôi con nuôi;

2. Con nuôi bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của cha mẹ nuôi; ngược đãi, hành hạ cha mẹ nuôi hoặc con nuôi có hành vi phá tán tài sản của cha mẹ nuôi;

3. Cha mẹ nuôi bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con nuôi; ngược đãi, hành hạ con nuôi;

4. Vi phạm các điều cấm theo quy định của Luật nuôi con nuôi".

Căn cứ quy định trên, việc trẻ không phù hợp với gia đình nhận nuôi không thuộc trường hợp bị chấm dứt nuôi con nuôi. Do đó, vợ chồng anh A không thể trả trẻ lại Trung tâm Bảo trợ xã hội.

 

FalseLê Phương
Tiêu chí đánh giá chất lượng vụ việc Trợ giúp pháp lýĐề cương tuyên truyền; Tờ rơi, tờ gấp; Văn bản luậtTinTiêu chí đánh giá chất lượng vụ việc Trợ giúp pháp lý/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/5/2018 4:00 PMNoĐã ban hành

         Ngày 28/8/2018, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 12/2018/TT-BTP hướng dẫn một số hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý và quản lý chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý. Theo đó, việc đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý được dựa trên các tiêu chí và cơ cấu điểm như sau:

1. Tiêu chí về trách nhiệm nghề nghiệp của người thực hiện trợ giúp pháp lý (30 điểm):

- Tuân thủ pháp luật, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan (10 điểm);

- Giải thích, hướng dẫn, cung cấp thông tin kịp thời về vụ việc cho người được trợ giúp pháp lý (10 điểm);

- Bảo đảm thời gian, tiến độ thực hiện vụ việc (10 điểm).

2. Tiêu chí về thực hiện trợ giúp pháp lý (60 điểm):

- Thực hiện trợ giúp pháp lý phù hợp với yêu cầu trợ giúp pháp lý và phạm vi được phân công (05 điểm);

- Thu thập các thông tin, tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ việc (10 điểm);

- Nghiên cứu và áp dụng đầy đủ các quy định pháp luật có liên quan để bảo đảm nội dung trợ giúp pháp lý đúng và phù hợp với pháp luật (20 điểm);

- Tham gia các hoạt động tố tụng hoặc tham gia các hoạt động đại diện ngoài tố tụng để kịp thời có giải pháp bảo vệ bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý (20 điểm);

- Quá trình thực hiện trợ giúp pháp lý được thể hiện đầy đủ trong hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý (05 điểm).

3. Tiêu chí về sự hài lòng của người được trợ giúp pháp lý trên cơ sở ý kiến phản hồi của người được trợ giúp pháp lý hoặc người thân thích (10 điểm).

Bên cạnh đó, Thông tư cũng quy định việc xếp loại chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý, cụ thể: Vụ việc có tổng số điểm đạt từ 90 điểm trở lên là chất lượng tốt, vụ việc có tổng số điểm đạt từ 70 đến dưới 90 điểm là chất lượng khá, vụ việc có tổng số điểm đạt từ 50 đến dưới 70 điểm là đạt chất lượng và vụ việc có tổng số điểm đạt dưới 50 điểm hoặc vụ việc mà người thực hiện trợ giúp pháp lý hoặc tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý vi phạm điều cấm (quy định tại khoản 1 Điều 6 của Luật Trợ giúp pháp lý: Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động trợ giúp pháp lý) là không đạt chất lượng.

Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 12/10/2018, thay thế Thông tư số 05/2008/TT-BTP ngày 23/9/2008 của Bộ Tư pháp hướng dẫn về nghiệp vụ và quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý; Thông tư số 02/2013/TT-BTP ngày 05/01/2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Bộ Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý; bãi bỏ Điều 1 Thông tư số 19/2011/TT-BTP ngày 31/10/2011 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp sửa đổi, bổ sung một số quy định về thủ tục hành chính của Thông tư số 05/2008/TT-BTP ngày 23/9/2008, Thông tư số 03/2008/TT-BTP ngày 25/8/2008 và Thông tư số 01/2010/TT-BTP ngày 09/02/2010 của Bộ Tư pháp./.

FalseLê Phương
Chính sách hỗ trợ một số đối tượng người có công trên địa bàn tỉnh Bình DươngĐề cương tuyên truyền; Tờ rơi, tờ gấp; Văn bản luậtTinChính sách hỗ trợ một số đối tượng người có công trên địa bàn tỉnh Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/5/2018 4:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 20 tháng 07 năm 2018, Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Nghị Quyết 08/2018/NQ-HĐND về chính sách hỗ trợ một số đối tượng người có công trên địa bàn tỉnh bình Dương (tại Khóa IX - Kỳ họp thứ bảy), theo đó quy định 03 nhóm đối tượng được hỗ trợ hàng tháng:

* Nhóm đối tượng 1: Người có công với cách mạng đang hưởng trợ cấp, phụ cấp hàng tháng được hỗ trợ thêm hàng tháng bằng 0,15 lần (15%) mức trợ cấp, phụ cấp hiện hưởng (theo quy định của Chính phủ), bao gồm:

- Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945;

- Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945;

- Bà mẹ Việt Nam anh hùng;

- Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động trong kháng chiến;

- Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh;

- Bệnh binh;

- Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học;

- Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày;

- Người có công giúp đỡ cách mạng;

- Người hoạt động kháng chiến đang hưởng theo Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg ngày 27 tháng 10 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện chế độ đối với quân nhân tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước có dưới 20 năm công tác trong quân đội đã phục viên, xuất ngũ về địa phương, Quyết định số 38/2010/QĐ-TTg ngày 06 tháng 5 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định số 53/2010/QĐ-TTg ngày 20 tháng 8 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ quy định về chế độ đối với cán bộ, chiến sĩ công an nhân dân tham gia kháng chiến chống Mỹ có dưới 20 năm công tác trong công an nhân dân đã thôi việc, xuất ngũ về địa phương; Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg ngày 09 tháng 11 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ, chính sách đối với đối tượng tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế ở Căm-pu-chi-a, giúp bạn Lào sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc.

* Nhóm đối tượng 2: Thân nhân của người có công với cách mạng đang hưởng trợ cấp được hỗ trợ thêm hàng tháng bằng 0,15 lần (15%) mức trợ cấp, phụ cấp hiện hưởng (theo quy định của Chính phủ) bao gồm:

- Người đang hưởng Tuất liệt sỹ;

- Người đang hưởng Tuất từ trần;

- Người đang hưởng trợ cấp Người phục vụ: Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, thương binh, bệnh binh, người nhiễm chất độc hóa học.

- Con đẻ của Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học.

* Nhóm đối tượng 3: Hỗ trợ thêm hàng tháng bằng 0,3 lần (30%) mức chuẩn hiện hành (theo quy định của Chính phủ):

- Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế (là người tham gia kháng chiến trong khoảng thời gian từ ngày 19/8/1945 đến ngày 30/4/1975 đã được Nhà Nước tặng Huân chương Kháng chiến hoặc Huân chương Chiến thắng, Huy chương Kháng chiến hoặc Huy chương chiến thắng) hưởng trợ cấp một lần ngoài ra không hưởng chế độ nào khác;

- Người hoạt động kháng chiến đang hưởng lương hưu trước năm 1990.

Ngoài ra, Nghị quyết còn quy định Hỗ trợ chi phí chênh lệch cho người có công và thân nhân khi đi làm dụng cụ chỉnh hình, phương tiện trợ giúp và Người có công được hỗ trợ theo Nghị quyết này yêu cầu phải có hồ sơ đang được Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bình Dương quản lý từ 3 năm (36 tháng) trở lên.

Nghị quyết có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2019 ./.


FalseLê Phương
Hỏi đáp pháp luật: Lĩnh vực đấu giá tài sảnĐề cương tuyên truyền; Văn bản luật; Tờ rơi, tờ gấpTinHỏi đáp pháp luật: Lĩnh vực đấu giá tài sản/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
9/13/2018 11:00 AMNoĐã ban hành

Hỏi: Đấu giá theo hình thức rút gọn là gì? Tổ chức đấu giá tài sản và người có tài sản đấu giá thỏa thuận thực hiện việc đấu giá theo thủ tục rút gọn trong các trường hợp nào?

Trả lời:

Đấu giá theo hình thức rút gọn là trường hợp cuộc đấu giá được thực hiện theo trình tự, thủ tục rút gọn hơn so với đấu giá thông thường.

Theo quy định tại điều 53 Luật Đấu giá tài sản năm 2017 thì tổ chức đấu giá tài sản và người có tài sản đấu giá thỏa thuận thực hiện việc đấu giá theo thủ tục rút gọn trong các trường hợp sau đây:

- Đấu giá tài sản thi hành án, tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu mà giá khởi điểm của tất cả tài sản đấu giá trong một cuộc đấu giá dưới năm mươi triệu đồng;

- Đấu giá lại trong trường hợp đã đấu giá lần thứ hai nhưng vẫn không thành;

- Đấu giá tài sản mà tài sản thuộc sở hữu của cá nhân, tổ chức tự nguyện lựa chọn bán thông qua đấu giá lựa chọn trình tự, thủ tục rút gọn.


Hỏi: Thời gian niêm yết việc đấu giá tài sản theo thủ tục rút gọn? Thông báo công khai việc đấu giá tài sản theo thủ tục rút gọn được quy định như thế nào?

Trả lời:

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 53 Luật Đấu giá tài sản năm 2017 thì thời gian niêm yết việc đấu giá tài sản theo thủ tục rút gọn được thực hiện như sau:

-  Đối với tài sản là động sản thì tổ chức đấu giá tài sản phải niêm yết việc đấu giá tài sản ít nhất là 03 ngày làm việc trước ngày mở cuộc đấu giá (Giảm 04 ngày so với thủ tục đấu giá thông thường);

- Đối với tài sản là bất động sản thì tổ chức đấu giá tài sản phải niêm yết việc đấu giá tài sản ít nhất là 05 ngày làm việc trước ngày mở cuộc đấu giá (Giảm 10 ngày so với thủ tục đấu giá thông thường).

Theo quy định tại khoản 2 Điều 57 Luật Đấu giá tài sản năm 2017 thì trường hợp đấu giá theo thủ tục rút gọn quy định đấu giá lại trong trường hợp đã đấu giá lần thứ hai nhưng vẫn không thành thì tổ chức đấu giá tài sản thông báo công khai một lần việc đấu giá tài sản trên báo in hoặc báo hình của trung ương hoặc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có tài sản đấu giá./.

 

FalseLê Phương
Quyền và trách nhiệm của người tham gia lễ hộiĐề cương tuyên truyền; Tờ rơi, tờ gấp; Văn bản luậtTinQuyền và trách nhiệm của người tham gia lễ hội/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
9/13/2018 11:00 AMNoĐã ban hành

Ngày 29 tháng 8 năm 2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 110/2018/NĐ-CP quy định về quản lý và tổ chức Lễ hội, Nghị định này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân là người Việt Nam; tổ chức, cá nhân là người nước ngoài tham gia hoạt động lễ hội trên lãnh thổ Việt Nam.

Theo đó, người tham gia lễ hội có trách nhiệm thực hiện nghiêm các quy định sau:

- Chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật; nội quy thực hiện nếp sống văn minh trong lễ hội;

- Ứng xử có văn hóa trong hoạt động lễ hội; trang phục lịch sự, phù hợp với thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam; không nói tục, chửi thề xúc phạm tâm linh, gây ảnh hưởng xấu tới không khí trang nghiêm của lễ hội;

- Thắp hương, đốt vàng mã đúng nơi quy định; không chen lấn, xô đẩy gây mất trật tự an ninh; giữ gìn vệ sinh môi trường;

- Không tổ chức hoặc tham gia các hoạt động mê tín, dị đoan, cờ bạc và các hành vi vi phạm pháp luật khác; 

- Không thực hiện việc đổi tiền có chênh lệch giá trong khu vực di tích, lễ hội;

- Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động ngoài việc chấp hành nghiêm quy định nêu trên còn phải thực hiện các quy định sau: không đi lễ hội trong giờ hành chính; không dùng xe công và các phương tiện công (hoặc thuê khoán phương tiện) tham gia lễ hội (trừ trường hợp thuộc thành phần tham gia tổ chức lễ hội hoặc được giao thực thi nhiệm vụ).

Ngoài ra, người tham gia lễ hội được thể hiện lòng thành kính, biết ơn đối với bậc tiền nhân, nhân vật lịch sử, tôn trọng những giá trị đạo đức, văn hóa, tâm linh, tín ngưỡng; thể hiện mong muốn Điều tốt đẹp, may mắn đến với cá nhân, gia đình, quê hương và đất nước; được giao lưu, sinh hoạt văn hóa và hưởng thụ những giá trị văn hóa tinh thần.

Nghị định 110/2018/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 15/10/2018./.

FalseLê Phương
Hỏi đáp pháp luật: Lĩnh vực lý lịch tư phápĐề cương tuyên truyền; Tờ rơi, tờ gấp; Văn bản luậtTinHỏi đáp pháp luật: Lĩnh vực lý lịch tư pháp/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
9/13/2018 11:00 AMNoĐã ban hành

Hỏi: Tôi có hộ khẩu thường trú tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương và đang tạm trú tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tôi có nhu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp để nộp cho công ty, vậy thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho tôi là cơ quan nào và tôi có thể thực hiện nộp hồ sơ bằng những phương thức nào?

Trả lời:

       Quy định tại khoản 1, khoản 2, Điều 44 Luật Lý lịch tư pháp về thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp, thì:

- Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia thực hiện việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp trong các trường hợp: Công dân Việt Nam mà không xác định được nơi thường trú hoặc nơi tạm trú và người nước ngoài đã cư trú tại Việt Nam.

- Sở Tư pháp thực hiện việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp trong các trường hợp: Công dân Việt Nam thường trú hoặc tạm trú ở trong nước; Công dân Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài; Người nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam.

       Khi yêu cầu cấp Phiếu Lý lịch tư pháp, cá nhân được quyền lựa chọn 01 trong các phương thức sau đây:
- Nộp hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu Lý lịch tư pháp trực tiếp hoặc gửi hồ sơ yêu cầu qua dịch vụ bưu chính; nhận kết quả trực tiếp tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Sở Tư pháp hoặc nhận kết quả qua dịch vụ bưu chính;
- Đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến (Nộp hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu Lý lịch tư pháp trực tiếp hoặc gửi hồ sơ yêu cầu qua dịch vụ bưu chính); nhận kết quả trực tiếp tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Sở Tư pháp hoặc nhận kết quả qua dịch vụ bưu chính;
- Nộp hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu Lý lịch tư pháp trực tuyến và nhận kết quả trực tiếp tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Sở Tư pháp.
       Như vậy, trường hợp của ông (bà) sẽ thực hiện nộp hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lịch tư pháp tại Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương và ông (bà) có thể lựa chọn 01 trong các phương thức trên.


Hỏi: Tôi thấy có rất nhiều phương thức nộp hồ sơ cấp Phiếu LLTP khác nhau, vậy thời gian giải quyết đối với các phương thức trên có khác nhau không và thời gian là bao lâu?
Trả lời:

        Tại Điều 48 Luật Lý lịch tư pháp thì thời hạn cấp Phiếu lý lịch tư pháp được quy định: Thời gian giải quyết đối với tất cả các phương thức nộp hồ sơ LLTP trên là như nhau. Cụ thể: trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày Sở Tư pháp nhận hồ sơ đầy đủ và hợp lệ. Trường hợp hồ sơ cần xác minh nhiều nơi thì thời hạn không quá 15 ngày làm việc, kể từ ngày Sở Tư pháp nhận hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, bao gồm: Người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp là công dân Việt Nam đã cư trú ở nhiều nơi hoặc có thời gian cư trú ở nước ngoài; Người nước ngoài; Trường hợp phải xác minh về điều kiện đương nhiên được xóa án tích./.

FalseLê Phương
Hỏi đáp pháp luật: Phòng chống ma túyĐề cương tuyên truyền; Văn bản luậtTinHỏi đáp pháp luật: Phòng chống ma túy/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
8/30/2018 5:00 PMNoĐã ban hành

        Hỏi: Để đấu tranh, ngăn chặn tệ nạn ma tuý, Luật Phòng, chống ma tuý nghiêm cấm các hành vi nào?

Trả lời:

Theo quy định tại điều 3, Luật Phòng, chống ma túy năm 2000 thì để đấu tranh, ngăn chặn tệ nạn ma tuý, Luật Phòng, chống ma tuý nghiêm cấm các hành vi sau đây:

- Trồng cây có chứa chất ma túy;

- Sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, bảo quản, mua bán, phân phối, giám định, xử lý, trao đổi, xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, nghiên cứu trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần;

- Sử dụng, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; xúi giục, cưỡng bức, lôi kéo, chứa chấp, hỗ trợ việc sử dụng trái phép chất ma túy;

- Sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất, sử dụng trái phép chất ma túy;

- Hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội về ma túy mà có;

- Chống lại hoặc cản trở việc cai nghiện ma túy;

- Trả thù hoặc cản trở người có trách nhiệm hoặc người tham gia phòng, chống ma túy;

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp để vi phạm pháp luật về phòng, chống ma túy;

- Các hành vi trái phép khác về ma túy.

Hỏi: Hãy cho biết cá nhân và gia đình có trách nhiệm gì trong đấu tranh phòng, chống ma tuý?

Trả lời:

Theo quy định tại điều 6, điều 7, khoản 1 điều 8 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2000 thì trách nhiệm của cá nhân, gia đình trong đấu tranh phòng, chống ma tuý được quy định như sau:

Giáo dục thành viên trong gia đình, thân nhân về tác hại của ma tuý và thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống ma tuý; quản lý chặt chẽ, ngăn chặn thành viên trong gia đình tham gia tệ nạn ma tuý;

Thực hiện đúng chỉ định của thầy thuốc về sử dụng thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần để chữa bệnh;

Đấu tranh với các hành vi trái phép về ma tuý của thân nhân và của người khác;

Tham gia, hỗ trợ hoạt động cai nghiện ma tuý tại các cơ sở cai nghiện và tại cộng đồng; theo dõi, giúp đỡ người đã cai nghiện ma tuý hoà nhập cộng đồng; phòng, chống tái nghiện;

Phát hiện, cung cấp nhanh chóng các thông tin về tệ nạn ma tuý cho cơ quan công an hoặc cơ quan khác có thẩm quyền. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xem xét, giải quyết kịp thời những thông tin, tố giác về tệ nạn ma tuý;

Phát hiện, báo cáo kịp thời cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền việc trồng cây có chứa chất ma tuý; tham gia triệt phá cây có chứa chất ma tuý do chính quyền địa phương tổ chức./.

FalseLê Phương
Chương trình hành động quốc gia của Việt Nam về đăng ký và thống kê hộ tịch giai đoạn 2017-2024Đề cương tuyên truyền; Văn bản luậtTinChương trình hành động quốc gia của Việt Nam về đăng ký và thống kê hộ tịch giai đoạn 2017-2024/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
8/30/2018 5:00 PMNoĐã ban hành

       Ngày 23/01/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 101/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình hành động quốc gia của Việt Nam về đăng ký và thống kê hộ tịch giai đoạn 2017-2024 để bảo đảm các sự kiện hộ tịch của công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú trên lãnh thổ Việt Nam, công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài được đăng ký kịp thời, đầy đủ, chính xác, đúng quy định pháp luật; nâng cao tỷ lệ đăng ký hộ tịch, tập trung vào tỷ lệ đăng ký khai sinh, đăng ký khai tử. Bảo đảm mọi người dân đều được cấp giấy tờ hộ tịch có nội dung đầy đủ, phù hợp với thông lệ quốc tế. Số liệu đăng ký hộ tịch được thống kê, tổng hợp đầy đủ, chính xác, kịp thời.

        Theo đó, Chương trình nêu rõ mục tiêu cụ thể đến năm 2020, ít nhất 75% dân số cư trú trên lãnh thổ Việt Nam được đăng ký và cấp Giấy khai sinh, tỷ lệ này đến năm 2024 là 85%; ít nhất 80% các trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng trên lãnh thổ Việt Nam đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền và được cấp giấy chứng nhận kết hôn, tỷ lệ này đến năm 2024 là 90%. Đến năm 2022, số liệu thống kê hàng năm về tỷ lệ khai sinh (có phân loại theo tuổi của mẹ, giới tính của trẻ, khu vực địa lý, đơn vị hành chính) được lấy từ dữ liệu đăng ký hoặc các nguồn dữ liệu hành chính có giá trị khác. Đến năm 2024, ít nhất 80% các ca tử vong xảy ra ở các cơ sở y tế hoặc có sự theo dõi của nhân viên y tế có giấy chứng nhận về nguyên nhân chính gây tử vong phù hợp với tiêu chuẩn của Phân loại bệnh quốc tế (phiên bản mới phù hợp)...

       Trên cơ sở Quyết định số 101/QĐ-TTg ngày 23/01/2017 của Thủ tướng Chính phủ, UBND tỉnh Bình Dương đã ban hành Kế hoạch số 2806/KH-UBND ngày 06/7/2017 về việc triển khai Chương trình hành động quốc gia của Việt Nam về đăng ký và thống kê hộ tịch giai đoạn 2017-2024 trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Theo đó, gồm 7 nội dung cần phải thực hiện như sau:

      (1) Tổ chức khảo sát, thanh tra, kiểm tra, hướng dẫn và tháo gỡ vướng mắc, khó khăn trong thực tế triển khai thi hành Luật Hộ tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành. Rà soát quy định pháp luật và các quy định pháp luật liên quan; sơ kết việc triển khai thi hành Luật Hộ tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành;

       (2) Củng cố tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực đội ngũ công chức làm công tác đăng ký, thống kê hộ tịch, bảo đảm đủ tiêu chuẩn, chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng bổ trợ, thực hiện hiệu quả công tác đăng ký, thống kê hộ tịch;

       (3) Cải thiện cơ sở vật chất, kỹ thuật; hiện đại hóa phương thức đăng ký và thống kê hộ tịch;

      (4) Các trường hợp tử vong được đăng ký khai tử đều xác định đúng nguyên nhân tử vong, có chứng nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền, kể cả các trường hợp tử vong ngoài cơ sở y tế; nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ y tế thực hiện việc cấp Giấy chứng sinh, Giấy báo tử, thu thập và cung cấp dữ liệu sinh, tử;

       (5) Nâng cao nhận thức của người dân về quyền lợi, trách nhiệm trong đăng ký hộ tịch; nhận thức của cơ quan, tổ chức, xã hội về ý nghĩa, vai trò của đăng ký, thống kê hộ tịch;

       (6) Thông tin thống kê về hộ tịch được đảm bảo chính xác, đầy đủ, kịp thời, đáp ứng nhu cầu quản lý của Nhà nước và nhu cầu khai thác, sử dụng của tổ chức, cá nhân theo quy định pháp luật;

      (7) Nâng dần tỷ lệ đăng ký, xác nhận các sự kiện hộ tịch quan trọng, cơ bản của cá nhân (khai sinh, khai tử, kết hôn, nuôi con nuôi, ly hôn); nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác thống kê hộ tịch nhằm bảo đảm số liệu thống kê hộ tịch chính xác, đầy đủ, kịp thời, bảo đảm tính phổ biến theo lộ trình khuyến nghị của Khung hành động khu vực giai đoạn 2015-2024./.

FalseLê Phương
Hỏi đáp pháp luật: Phòng chống bạo lực gia đìnhĐề cương tuyên truyền; Văn bản luậtTinHỏi đáp pháp luật: Phòng chống bạo lực gia đình/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
8/30/2018 5:00 PMNoĐã ban hành

       Hỏi: Cơ sở trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình bao gồm? Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn hoạt động trợ giúp nạn nhân của các cơ sở trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình như thế nào?

       Trả lời:

Theo quy định tại Điều 26 Luật Phòng chống, bạo lực gia đình năm 2017 thì Cơ sở trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình là nơi chăm sóc, tư vấn, tạm lánh, hỗ trợ những điều kiện cần thiết khác cho nạn nhân bạo lực gia đình, bao gồm: Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; Cơ sở bảo trợ xã hội; Cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình; Cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình; Địa chỉ tin cậy ở cộng đồng.

Tại Điều 13 Nghị đinh số 08/2009/NĐ-CP ngày 04/02/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật phòng, chống bạo lực gia đình, theo đó Hoạt động trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình là hoạt động nhân đạo, không vì mục đích lợi nhuận nhằm giúp đỡ nạn nhân bạo lực gia đình, bao gồm: Chăm sóc sức khoẻ; chăm sóc y tế; Tư vấn pháp Luật; tư vấn tâm lý; Cung cấp nơi tạm lánh trong trường hợp nạn nhân bạo lực gia đình không có chỗ ở khác, nhằm tránh những hành vi bạo lực tiếp theo của người gây bạo lực gia đình; Hỗ trợ một số nhu cầu thiết yếu cho nạn nhân bạo lực gia đình trong trường hợp nạn nhân bạo lực gia đình không tự lo được hoặc không có sự hỗ trợ từ người thân, bạn bè. Hỗ trợ nhu cầu thiết yếu bao gồm cung cấp đồ ăn, nước uống, cung cấp hoặc cho mượn quần áo, chăn màn và các đồ dùng thiết yếu khác.

Theo đó, giao Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tạo điều kiện cho các cơ sở trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình hoạt động; Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc bảo vệ cơ sở trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình trong trường hợp cần thiết.

       Hỏi: Các hành vi bạo lực gia đình bao gồm những hành vi nào? Qua đó, gia đình có trách nhiệm gì trong phòng, chống bạo lực gia đình?

       Trả lời:

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 2 Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm 2007 thì, các hành vi bạo lực gia đình bao gồm: Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng; Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm; Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng; Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau; Cưỡng ép quan hệ tình dục; Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình; Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính; Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở.

Ngoài ra, hành vi bạo lực gia đình cũng được áp dụng đối với thành viên gia đình của vợ, chồng đã ly hôn hoặc nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng.

Tại Điều 32 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007, để phòng chống bạo lực gia đình thì gia đình có trách nhiệm: Giáo dục, nhắc nhở thành viên gia đình thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác; Hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình; can ngăn người có hành vi bạo lực gia đình chấm dứt hành vi bạo lực; chăm sóc nạn nhân bạo lực gia đình; Phối hợp với cơ quan, tổ chức và cộng đồng dân cư trong phòng, chống bạo lực gia đình; Thực hiện các biện pháp khác về phòng, chống bạo lực gia đình theo quy định của Luật này./.


FalseLê Phương
Hỏi đáp pháp luật: Lĩnh vực Hòa giải thương mạiĐề cương tuyên truyền; Tờ rơi, tờ gấp; Văn bản luậtTinHỏi đáp pháp luật: Lĩnh vực Hòa giải thương mại/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
8/30/2018 5:00 PMNoĐã ban hành

Hỏi: Hòa giải thương mại là gì? Ai là người có thẩm quyền hòa giải thương mại?

Trả lời:

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP ngày 24/02/2017 về Hòa giải thương mại thì Hòa giải thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại do các bên thỏa thuận và được hòa giải viên thương mại làm trung gian hòa giải hỗ trợ giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật về hòa giải thương mại.

Tại Khoản 3 Điều 3 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP ngày 24/02/2017 về Hòa giải thương mại thì Hòa giải viên thương mại là người có thẩm quyền hòa giải thương mại, theo đó, Hòa giải viên thương mại bao gồm hòa giải viên thương mại vụ việc và hòa giải viên thương mại của tổ chức hòa giải thương mại được các bên lựa chọn hoặc được tổ chức hòa giải thương mại chỉ định theo đề nghị của các bên để hỗ trợ các bên giải quyết tranh chấp theo quy định.

Ngoài ra, Hòa giải viên thương mại do các bên thỏa thuận lựa chọn từ danh sách hòa giải viên thương mại của tổ chức hòa giải thương mại hoặc từ danh sách hòa giải viên thương mại vụ việc do Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương công bố; Việc chỉ định hòa giải viên thương mại thông qua tổ chức hòa giải thương mại được thực hiện theo Quy tắc hòa giải của tổ chức hòa giải thương mại.

Hỏi: Những tranh chấp nào được giải quyết tranh chấp bằng hòa giải thương mại? Điều kiện giải quyết tranh chấp bằng hòa giải thương mại?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 2 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP ngày 24/02/2017 về Hòa giải thương mại, những tranh chấp sau đây được giải quyết tranh chấp bằng hòa giải thương mại, bao gồm:

+ Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại.

+ Tranh chấp giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại.

+Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng hòa giải thương mại.

Về điều kiện giải quyết tranh chấp bằng hòa giải thương mại được quy định tại Điều 6 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP ngày 24/02/2017 về Hòa giải thương mại: tranh chấp được giải quyết bằng hòa giải thương mại nếu các bên có thoả thuận hòa giải. Các bên có thể thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng hòa giải trước, sau khi xảy ra tranh chấp hoặc tại bất cứ thời điểm nào của quá trình giải quyết tranh chấp./.

FalseLê Phương
Tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp Đề cương tuyên truyền; Tờ rơi, tờ gấp; Văn bản luậtTinTiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp /Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
8/30/2018 5:00 PMNoĐã ban hành
        Ngày 28/02/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 250/QĐ-TTg phê duyệt Đề án tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp (Đề án 250), theo đó, quan điểm chung là tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp trong giai đoạn tiếp theo bảo đảm hoạt động giám định đáp ứng tốt các yêu cầu của hoạt động tố tụng, công tác phòng, chống tham nhũng, gắn với thực hiện cải cách hành chính, cải cách tư pháp; khắc phục những hạn chế, bất cập hiện nay trong tổ chức, hoạt động, quản lý giám định tư pháp; bảo đảm tính khoa học, phù hợp với thực tiễn, đồng bộ và khả thi, kế thừa và phát triển những kết quả đạt được của Đề án 258 trước đây (Đề án “Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 258/QĐ-TTg ngày 11 tháng 02 năm 2010), tận dụng tối đa kết quả và nguồn lực hiện có.

Đề án 250 có những nội dung cơ bản như sau:

Về Mục tiêu của Đề án 250:

Đề án 250 được ban hành nhằm tiếp tục đổi mới và tạo chuyển biến mạnh mẽ, đột phá về chất lượng, hiệu quả hoạt động giám định tư pháp, nâng cao chất lượng của hoạt động tố tụng trong thời gian tới và thúc đẩy xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp. Trên cơ sở mục tiêu tổng quát, Đề án 250 đã xác định rõ 07 mục tiêu cụ thể cần đạt được trong 05 năm tới để công tác giám định tư pháp phát triển bền vững, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới: (1) Hoàn thiện thể chế về giám định tư pháp bảo đảm đầy đủ, đồng bộ, khả thi, phù hợp với tình hình mới; (2) Hoàn thiện hệ thống tổ chức pháp y tâm thần theo hướng chú trọng yếu tố trọng điểm, khu vực; (3) Đào tạo nguồn nhân lực pháp y, pháp y tâm thần về số lượng, chất lượng chuyên môn và kiến thức pháp lý; (4) Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại cho tổ chức giám định tư pháp công lập; (5) Nghiên cứu, kiến nghị cơ chế phù hợp để tổ chức thực hiện giám định theo yêu cầu của hoạt động tố tụng trong các lĩnh vực không có tổ chức giám định tư pháp công lập chuyên trách và đề ra giải pháp đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp; (6) Kiến nghị chính sách bảo đảm việc đãi ngộ và thu hút người làm giám định; (7) Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước và giữa cơ quan quản lý nhà nước với cơ quan trưng cầu giám định.

Về nhiệm vụ và giải pháp của Đề án 250:

Trên cơ sở kết quả tổng kết 05 năm thực hiện Đề án 258 và mục tiêu cần đạt được trong giai đoạn tiếp theo, Đề án 250 đã đưa ra 03 nhóm nhiệm vụ với 15 giải pháp trọng tâm, cụ thể:

- Nhóm nhiệm vụ thứ nhất tập trung vào việc tiếp tục hoàn thiện chế định giám định tư pháp.

- Nhóm nhiệm vụ thứ hai tập trung vào việc hoàn thiện tổ chức giám định tư pháp; nâng cao chất lượng người giám định tư pháp; đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện phục vụ giám định.

- Nhóm nhiệm vụ thứ ba tập trung vào việc tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về giám định tư pháp./.

 

FalseLê Phương
Tăng mức trợ cấp ưu đãi hàng tháng đối với người có côngĐề cương tuyên truyền; Tờ rơi, tờ gấp; Văn bản luậtTinTăng mức trợ cấp ưu đãi hàng tháng đối với người có công/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
8/30/2018 5:00 PMNoĐã ban hành

       Ngày 12/7/2018, Chính phủ ban hành Nghị định 99/2018/NĐ-CP quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng thay thế Nghị định 70/2017/NĐ-CP ngày 06/6/2017.

      Theo đó, tăng mức chuẩn để xác định các mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng từ 1.417.000 đồng lên 1.515.000 đồng. Mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng bao gồm: mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng; mức trợ cấp thương tật đối với thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; mức trợ cấp thương tật đối với thương binh loại B.

      Với thay đổi nêu trên, mức trợ cấp ưu đãi hàng tháng đối với người có công với cách mạng được điều chỉnh tăng đáng kể so với trước đây, đơn cử như:

- Người hoạt động cách mạng trước ngày 01/01/1945 diện thoát ly: 1.693.000 đồng/tháng (tăng 110.000 đồng so với quy định cũ);

- Người hoạt động cách mạng trước ngày 01/01/1945 diện không thoát ly: 2.874.000 đồng/tháng (tăng 186.000 đồng);

- Người hoạt động cách mạng từ 01/01/1945 đến khởi nghĩa tháng Tám năm 1945: 1.566.000 đồng/tháng (tăng 101.000 đồng);

- Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến: 1.270.000 đồng/tháng (tăng 82.000 đồng);

- Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày: 909.000 đồng/tháng (tăng 59.000 đồng);…

     Nghị định 99/2018/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ 27/8/2018; các mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi mới được thực hiện từ 01/7/2018./.

FalseLê Phương
1 - 30Next
Ảnh
Video
Audio