Giám định tư pháp - Danh sách
 
Để kịp thời tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh công bố danh sách người giám định tư pháp theo vụ việc, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc trên địa bàn tỉnh năm 2015 theo quy định tại Điều 9, Điều 20 Luật Giám định tư pháp, Điều 23 Nghị định 85/2013/NĐ-CP ngày 29/7/2013 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Giám định tư pháp, Sở Tư pháp đề nghị các sở, ngành tiến hành rà soát ...
 
 
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Nội dung
Phân loại
  
  
  
Ủy ban Tư pháp của Quốc hội tổ chức Hội thảo “Một số định hướng lớn của dự án Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp”NewTinỦy ban Tư pháp của Quốc hội tổ chức Hội thảo “Một số định hướng lớn của dự án Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp”/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
8/20/2019 1:00 PMNoĐã ban hành

Trong 02 ngày 12-13/8/2019, tại TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội đã tổ chức Hội thảo “Một số định hướng lớn của dự án Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp”. Ông Nguyễn Công Hồng – Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội chủ trì Hội thảo. Tham dự Hội thảo còn có các vị Đại biểu của Quốc hội, các luật gia, chuyên gia, đại biểu đến từ các bộ, ngành ở Trung ương và đại diện Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội, lãnh đạo sở, ngành của các tỉnh, thành phố trong cả nước.
Tại Hội thảo, sau khi nghe báo cáo thực tiễn công tác quản lý nhà nước về giám định tư pháp từ năm 2013 đến nay và định hướng sửa đổi, bổ sung Luật Giám định tư pháp của Cục Bổ trợ tư pháp, Bộ Tư pháp, các đại biểu đã tập trung trao đổi, thảo luận về những hạn chế, khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách, pháp luật và nguyên nhân; đồng thời kiến nghị những giải pháp đối với hoạt động giám định pháp và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của Viện Pháp y Quốc gia, Viện Pháp y tâm thần Trung ương từ năm 2013 đến nay; công tác trưng cầu giám định tư pháp trong quá trình điều tra các vụ án tham nhũng, kinh tế, buôn lậu; công tác quản lý nhà nước về giám định tư pháp và hoạt động giám định tư pháp của các bộ, cơ quan ngang bộ, chính quyền cấp tỉnh; công tác trưng cầu giám định tư pháp trong hoạt động điều tra của cơ quan Công an các cấp…
Phát biểu tại Hội thảo, ông Nguyễn Công Hồng – Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội nhấn mạnh: “Hội thảo có ý nghĩa quan trọng đối với việc hoàn thiện dự án Luật trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội vào tháng 9 tới. Hội thảo sẽ là diễn đàn để các vị đại biểu Quốc hội, đại diện các cơ quan tư pháp, các chuyên gia, nhà khoa học và cán bộ làm công tác thực tiễn trao đổi, phân tích, đánh giá, góp ý trực tiếp vào các nội dung cụ thể của dự án Luật. Trong đó, có nhiều nội dung sửa đổi, bổ sung cần đặt trong tổng thể Chiến lược cải cách tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật, nhất là pháp luật về tố tụng, đáp ứng yêu cầu cấp thiết hiện nay trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, phòng, chống tham nhũng”.
Luật Giám định tư pháp số 13/2012/QH13 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20/6/2012.  Theo Nghị quyết số 78/2019/QH14 ngày 11/6/2019 của Quốc hội khóa XIV về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2020, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2019, dự án Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp đã được Quốc hội bổ sung vào Chương trình năm 2019 và sẽ được trình Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp thứ 8 (tháng 10/2019)./.
                                                                                              Mỹ Cẩm
(Nguồn Cổng Thông tin điện tử Bộ Tư pháp: http://bttp.moj.gov.vn/qt/gdtp/Pages/tin-nong.aspx?ItemID=191​)
Thông tinFalseNguyễn Thị Vân Anh
Một số kinh nghiệm nước ngoài trong lĩnh vực giám định, công chứng, thừa phát lại có thể tham khảo tại Việt NamNewTinMột số kinh nghiệm nước ngoài trong lĩnh vực giám định, công chứng, thừa phát lại có thể tham khảo tại Việt Nam/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
7/20/2019 2:00 PMNoĐã ban hành

1. Lĩnh vực giám định tư pháp
1.1. Về khái niệm giám định tư pháp
Quan niệm chung của các nước về giám định tư pháp là giám định được thực hiện bởi nhà chuyên môn (người am hiểu, tinh thông về lĩnh vực cần giám định) để làm sáng tỏ vấn đề có liên quan, theo trưng cầu của cơ quan điều tra, truy tố và xét xử đến vụ án dưới góc độ chuyên môn nhằm phục vụ cho việc giải quyết vụ án. Chẳng hạn như: (1) ở Pháp có quy định rất rõ rằng việc giám định được thực hiện theo trưng cầu của thẩm phán (có thẩm phán điều tra, thẩm phán xét xử và thẩm phán thi hành án) thì được coi là giám định tư pháp; (2) pháp luật của Thụy Điển lại cho rằng, chỉ cần xác định việc giám định đó có được đánh giá và sử dụng làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án hay không, nếu kết luận giám định nào phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án và được Hội đồng xét xử chấp nhận làm căn cứ để giải quyết vụ án thì được coi là giám định tư pháp.
1.2. Về khái niệm người giám định
Nhìn chung, các nước đều quan niệm, bất kỳ một chuyên gia nào không phân biệt là công chức nhà nước hay người hành nghề tự do đều có thể là người giám định nếu như người đó thực sự am hiểu, tinh thông trong lĩnh vực cần giám định và được các cơ quan tiến hành tố tụng trưng cầu giám định.        Tuy nhiên, hầu hết các nước đều có phân loại người giám định thành giám định viên (người được cơ quan hoặc tổ chức có thẩm quyền bổ nhiệm hoặc công nhận và ghi danh) và người giám định vụ việc.
1.3. Căn cứ bổ nhiệm, công nhận giám định viên và tiêu chuẩn giám định viên
Việc bổ nhiệm, công nhận giám định viên của các nước đều phải căn cứ vào nhu cầu thực tế của hoạt động tố tụng. Trình tự, thủ tục bổ nhiệm hoặc công nhận giám định viên được tiến hành rất chặt chẽ nhằm bảo đảm chất lượng giám định viên.
Mặc dù, có sự khác nhau về cách thức, thủ tục bổ nhiệm hoặc công nhận, ghi danh giám định viên giữa các nước nhưng các tiêu chí về điều kiện để trở thành giám định viên của các nước về cơ bản là giống nhau. Cụ thể là các điều kiện về: trình độ chuyên môn và khả năng nghiệp vụ (hầu hết các nước còn yêu cầu người được bổ nhiệm hoặc công nhận phải qua đào tạo nghiệp vụ giám định của từng lĩnh vực); kinh nghiệm thực tế; điều kiện về sức khoẻ; về phẩm chất; thời gian và những điều kiện cần thiết cho việc tham gia hoạt động giám định tư pháp.
1.4. Danh sách giám định viên và việc lựa chọn người giám định của cơ quan tiến hành tố tụng
Hầu hết các nước đều lập Danh sách người giám định hoặc các nhà chuyên môn ở các lĩnh vực và phổ biến cho các cơ quan tiến hành tố tụng biết để trưng cầu giám định. Chẳng hạn như, ở Đức, ngoài lĩnh vực pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự có giám định viên là các cán bộ chuyên môn nhà nước, còn ở các lĩnh vực khác thì các tổ chức, hiệp hội nghề nghiệp như Phòng Thủ công nghiệp, Phòng thương mại, Phòng xây dựng,... lựa chọn người để lập, công bố danh sách giám định viên ở các lĩnh vực ngành nghề đó để phổ biến cho các cơ quan tiến hành tố tụng. Ở Pháp, Toà án là cơ quan có thẩm quyền lựa chọn và công nhận, lập Danh sách giám định viên ở tất cả các lĩnh vực chuyên môn, ngành nghề.
Nhìn chung pháp luật các nước không bắt buộc các cơ quan tiến hành tố tụng phải trưng cầu giám định viên được bổ nhiệm hoặc công nhận nhưng một số nước đã có quy định trong pháp luật tố tụng mang tính khuyến nghị cơ quan tiến hành tố tụng ưu tiên trưng cầu các giám định viên đã có trong danh sách.
1.5. Về tổ chức giám định
Các nước không thành lập hệ thống tổ chức giám định tư pháp ở tất cả các lĩnh vực. Tuy nhiên, tất cả các nước đều có cơ quan giám định pháp y (chỉ về tử thi), pháp y tâm thần và kỹ thuật hình sự theo hệ thống tổ chức của cơ quan tiến hành tố tụng. Riêng về giám định kỹ thuật hình sự, thì tất cả các nước trên thế giới đều duy trì tổ chức giám định kỹ thuật hình sự trong cơ quan cảnh sát. Hầu hết các nước đều đặt giám định pháp y ở cơ quan y tế. Còn ở các lĩnh vực khác, các nước không thành lập tổ chức mà chỉ bổ nhiệm hoặc công nhận và lập Danh sách giám định viên.
1.6. Về hoạt động giám định tư pháp
Về trưng cầu giám định tư pháp: Theo quy định của pháp luật các nước, chỉ có cơ quan tiến hành tố tụng (cơ quan điều tra, truy tố và xét xử) mới có quyền trưng cầu giám định tư pháp cả trong tố tụng hình sự và tố tụng dân sự. Tuy nhiên, thông thường thì trong án hình sự thì việc trưng cầu giám định chủ yếu do cơ quan điều tra thực hiện. Còn trong tố tụng dân sự thì các bên có quyền tự do lựa chọn giám định viên và có thể yêu cầu Toà án đứng ra trưng cầu giám định hoặc tự họ thoả thuận với nhau về việc mời một người giám định nào đó.
Về đánh giá, sử dụng kết luận giám định: Pháp luật của các nước quy định kết luận giám định là một nguồn chứng cứ. Việc đánh giá và sử dụng chứng cứ thuộc thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng. Vì thế, việc đánh giá và sử dụng kết luận giám định thuộc thẩm quyền và trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng.
Nếu có sự khác nhau thì cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm xem xét, đánh giá độ tin cậy của các kết luận giám định đó.
Pháp luật của các nước không có quy định về giám định cuối cùng vì việc có cần trưng cầu giám định hay không là tuỳ thuộc sự cần thiết trong quá trình giải quyết vụ án. Tuy nhiên, với hoạt động giám định của các nước thì rất nề nếp, chặt chẽ, chất lượng, cộng với cách thức đánh giá kết luận giám định như đã nêu trên nên ít có mâu thuẫn kết luận giám định và nếu có thì đều được cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết thoả đáng, hầu như không có khiếu kiện và không phải trưng cầu giám định nhiều lần.
2. Lĩnh vực công chứng
2.1. Khái niệm công chứng
Nhìn chung các nước đều quy định công chứng là hoạt động của cơ quan công chứng xác nhận tính xác thực và tính hợp pháp của các hành vi pháp lý dân sự, sự kiện pháp lý và các văn bản pháp lý theo các trình tự quy định của pháp luật.
2.2. Chức năng của công chứng
Hệ thống công chứng có hai chức năng chính. Thứ nhất là để ngăn chặn các tranh chấp pháp lý: việc chuẩn bị các văn bản công chứng mang lại bằng chứng rõ ràng liên quan đến các quyền lợi hợp pháp và giúp ngăn chặn tranh chấp pháp lý. Thứ hai là để giải quyết các tranh chấp pháp lý: các văn bản công chứng đáp ứng được những yêu cầu nhất định sẽ cấu thành văn bản quy phạm có hiệu lực thi hành hoặc là cơ sở để một bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết khi một bên không thực hiện nghĩa vụ của mình.   
2.3. Căn cứ để thực hiện công chứng
Pháp luật của nhiều nước có quy định tương đối thống nhất về vấn đề này, đó là có hai căn cứ để thực hiện việc công chứng: công chứng theo yêu cầu và công chứng bắt buộc. Theo đó, một số loại hợp đồng, giao dịch sẽ bắt buộc phải công chứng, số còn lại thì được thực hiện trên cơ sở tự nguyện.
Pháp luật Tây Ban Nha quy định một số hợp đồng, giao dịch nhất định phải bắt buộc phải công chứng, nếu không qua thủ tục công chứng thì hợp đồng không có hiệu lực thi hành, như hợp đồng hôn nhân, hợp đồng liên quan đến tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, tặng cho tài sản… được quy định rõ trong Bộ Luật dân sự để bảo đảm an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch. Tương tự như vậy, tại Nhật Bản các hợp đồng cho thuê thương mại hoặc sắp xếp giám hộ tự nguyện phải được CCV soạn thảo và chứng nhận thì mới có giá trị pháp lý và tính ràng buộc.
Tuy nhiên, ngoài các hợp đồng bắt buộc phải công chứng, các hợp đồng, giao dịch khác do sự tự nguyện của người dân (hợp đồng tùy nghi) thì văn bản công chứng sẽ không được Tòa án coi là một chứng cứ hiển nhiên mà chỉ coi đó là một sự kiện pháp lý. Trung Quốc là một trong các nước đi theo hướng quy định này.
2.4. Về công chứng viên
Về khái niệm: Mặc dù cách thể hiện khác nhau, song về cơ bản công chứng viên (sau đây gọi tắt là CCV) được hiểu là viên chức công được bổ nhiệm để lập các hợp đồng và văn bản mà theo đó các bên phải hoặc muốn đảm bảo tính xác thực của văn bản đó giống như văn bản của các cơ quan công quyền khác và đảm bảo việc lưu giữ, cấp bản sao của văn bản đó (Pháp, Đức, Ba Lan, Tây Ban Nha...)
Về chức năng: Về chức năng cơ bản, CCV có chức năng soạn thảo chứng thư liên quan đến kiện tụng hoặc luật tư pháp, chứng nhận giấy chứng nhận cá nhân và các giấy tờ số và xử lý các trường hợp theo quy định của Luật này và các quy định khác.
  Pháp luật công chứng của Pháp ghi nhận CCV là các công chức được Bộ trưởng Bộ tư pháp bổ nhiệm, vì thế CCV được trao cho công quyền. CCV là người hợp thức hóa thỏa thuận của các bên và có thẩm quyền đóng con dấu xác thực vào toàn bộ các văn bản mà mình tiếp nhận. CCV cũng đảm bảo lưu giữ toàn bộ các dự thảo biên bản. Ngoài chức năng xác thực tính hợp lệ và bảo đảm an toàn cho các văn bản nói trên, các CCV còn có thể can thiệp với phạm vi rộng hơn: họ là các chuyên gia về pháp luật tổng quát với một tầm nhìn tổng thể về các vấn đề pháp lý. Họ có thể can thiệp vào khuôn khổ pháp lý nói chung và khuôn khổ pháp lý về thuế, điều đó khiến họ trở nên đặc biệt hiệu quả trong việc tư vấn cho khách hàng của mình. Do đó, các CCV có thể được mô tả là các "bác sĩ về tài sản".
Tại Đức, CCV là công chức do nhà nước bổ nhiệm, chuyên tư vấn một cách độc lập, trung lập và khách quan cho các giao dịch pháp lý quan trọng. CCV đóng vai trò then chốt trong luật về bất động sản, luật thế chấp, luật về hợp đồng, luật công ty cũng như các luật khác về gia đình và thừa kế.
Theo quy định của Tây Ban Nha, CCV là công chức có thẩm quyền cung cấp bằng chứng (niềm tin công chúng) theo quy định của pháp luật về các hợp đồng và các hoạt động ngoại tụng khác. Để thực hiện vai trò này, CCV là một người hành nghề luật độc lập, có nhiệm vụ đánh giá một cách công tâm không thiên vị những người yêu cầu cung cấp dịch vụ và tư vấn cho họ những công cụ pháp lý phù hợp nhất để đạt được kết quả hợp pháp mà họ mong muốn. Sau đó, CCV có thẩm quyền hành động và chứng từ hóa toàn bộ các tình tiết, hành vi và nói chung là mọi hoạt động kinh doanh hợp pháp trong phạm vi luật pháp ngoài tố tụng. Như vậy, có thể thấy rằng không có loại công chức nào khác có thể hành động với phạm vi rộng như CCV trong các lĩnh vực vừa nêu.
Tại Tây Ban Nha và rất nhiều nước khác, CCV được đặt dưới sự quản lý chặt chẽ của Bộ Tư pháp và được coi như công chức dù không hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Nói cách khác, CCV là một công chức đặc biệt vì CCV do nhà nước bổ nhiệm nhưng lại hành nghề với tư cách tự do (tự hành nghề, tự đầu tư cơ sở vật chất, tự nuôi bộ máy giúp việc, thu nhập từ nguồn khách hàng…) mà vẫn phải tuân theo quy định của Nhà nước, đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của nhà nước.
Về vai trò của công chứng viên:
 Hệ thống công chứng của Pháp, Tây Ban Nha, Đức và Trung Quốc quy định CCV có vai trò "thẩm phán hợp đồng", công lý phòng ngừa. Bốn hệ thống pháp luật này mang lại giá trị chứng minh và hiệu lực thi hành cho văn bản công chứng, điều này rất quan trọng đối với hòa bình xã hội vì chúng mang đến cho người dân sự đảm bảo về pháp luật cho tất cả các thủ tục dân sự cần thiết: hôn nhân, thừa kế, quyền sở hữu đất và thành lập kinh doanh. CCV không chỉ soạn văn bản mà còn là nhân chứng có đặc quyền của văn bản công chứng được các bên nhất trí. CCV cũng không phải là nhân viên tư vấn của một bên để gây thiệt hại cho bên kia mà là chuyên gia khách quan và không thiên vị để lập ra những hợp đồng công bằng vì lợi ích của tất cả mọi người. Về quyền sở hữu, CCV đảm bảo sự an toàn gần như tuyệt đối cho người nắm giữ quyền này. Nhờ đó, ở các nước phương Tây, các tranh chấp về quyền sở hữu gần như không tồn tại.
Ở Nhật Bản và Hàn Quốc, hệ thống công chứng đem lại cho CCV vai trò của nhân chứng và cán bộ chứng nhận. Họ chỉ có quyền yêu cầu thi hành nghĩa vụ trả tiền.
Về tiêu chuẩn công chứng viên:
Tuy có những điểm khác nhau về thể chế, hầu hết các nước đều công nhận công chứng là một nghề rất khó. CCV đều là những nhà luật học giỏi, là những chuyên gia pháp luật, có kiến thức pháp lý sâu rộng và biết cách áp dụng pháp luật nhuần nhuyễn, linh hoạt. Do vậy, việc gia nhập đội ngũ CCV là một quy trình có tính cạnh tranh rất cao; tương tự như các lĩnh vực dịch vụ công khác, việc lựa chọn các ứng viên tốt nhất là quá trình cực kỳ nghiêm ngặt (Đức, Pháp, Tây Ban Nha, Trung Quốc...).
Do thống nhất quan điểm về nghề công chứng, pháp luật các nước có khá nhiều điểm tương đồng trong quy định về tiêu chuẩn CCV. Cụ thể CCV phải là công dân của nước đó, có nhân cách và năng lực phù hợp với chức danh, đã trải qua khoá đào tạo nghề dài và chuyên sâu, hoàn thành thời gian tập sự hành nghề công chứng và vượt qua kỳ thi tuyển CCV.
Để khẳng định vị trí của chức danh CCV, một số nước quy định tất cả các CCV phải đủ điều kiện chuyên môn làm thẩm phán và luật sư (Đức) hoặc đã làm CCV dự bị với một thời gian nhất định (ít nhất 2 năm theo pháp luật Ba Lan) hoặc phải là người đã được bổ nhiệm trong hơn 10 năm vào các công việc được quy định theo luật (Hàn Quốc).... Với một số đối tượng nhất định như giáo sư, tiến sỹ luật học, thẩm phán, luật sư, tư vấn pháp luật có thâm niên ít nhất 3 năm.... thì một số tiêu chuẩn có thể được xem xét giảm bớt, ví dụ như tiêu chuẩn về thời gian làm CCV dự bị hoặc được miễn khoá đào tạo nghề, miễn giảm thời gian tập sự hành nghề (Ba Lan, Trung Quốc).
2.5. Tổ chức hành nghề công chứng
Về khái niệm: Tổ chức hành nghề công chứng, với các tên gọi khác nhau theo quy định của mỗi nước, là nơi để CCV hành nghề, được thành lập theo quy định của pháp luật không vì mục đích tìm kiếm lợi nhuận, thực hiện chức năng công chứng một cách độc lập, chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật.
Về các hình thức tổ chức:
Có hai mô hình tổ chức hành nghề phổ biến, đó là Văn phòng công chứng của một CCV hoặc Văn phòng công chứng của hai CCV trở lên. Một số nước như Đức, Indonexia.... chỉ cho phép loại hình thứ nhất; Trung Quốc thì lại yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng phải có ít nhất hai CCV, trong khi một số nước khác cho phép tồn tại cả hai loại hình (Tây Ban Nha, ...).
Về nguyên tắc, Văn phòng công chứng không phải là một công ty, doanh nghiệp, song thường hoạt động theo mô hình doanh nghiệp: Văn phòng công chứng một CCV thường hoạt động theo mô hình doanh nghiệp tư nhân; CCV Trưởng Văn phòng chịu trách nhiệm toàn bộ và vô hạn về hoạt động của tổ chức mình. Một mô hình khác là công ty dân sự do nhiều CCV hợp thành. Trong trường hợp này mỗi thành viên chỉ chịu trách nhiệm cá nhân về văn bản do mình thực hiện.
Trong khi tổ chức hành nghề công chứng tại hầu hết các nước là của tư nhân, thì ở một số nước như Trung quốc, Đức vẫn duy trì mô hình tổ chức hành nghề công chứng nhà nước.
2.6. Mối quan hệ giữa cơ quan công chứng và các cơ quan khác
Công chứng luôn có mối quan hệ rất chặt chẽ với các cơ quan khác như thuế, cơ quan đăng ký nhà đất.... Để đảm bảo cho tính an toàn của hoạt động công chứng và sự thuận tiện cho người dân, cơ chế liên thông giữa các cơ quan này thường được xây dựng và hoạt động rất hiệu quả.
Một trong những cơ quan mà công chứng thường có quan hệ mật thiết nhất chính là cơ quan đăng ký nhà, đất và các tài sản khác cần đăng ký quyền sở hữu. Tại Tây Ban Nha, mối quan hệ giữa hoạt động công chứng và đăng ký ở Tây Ban Nha là rất khăng khít. Về mặt quản lý nhà nước, Tổng cục quản lý Đăng ký và Công chứng có chức năng quản lý hai mảng lớn, đó là quản lý đăng ký và quản lý công chứng; mỗi mảng do 01 Phó Tổng cục trưởng phụ trách. Hai mảng này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Với các hợp đồng, giao dịch thì giai đoạn công chứng và đăng ký là hai giai đoạn gắn liền với nhau, sau khi công chứng phải đăng ký thì giấy tờ sở hữu đó mới có giá trị, chịu sự kiểm soát song trùng
Một cấp độ cao của cơ chế liên thông chính là cơ chế một cửa: Tại Tây Ban Nha, trong nhiều trường hợp CCV có thể thay nhà nước thu thuế. CCV ở Tây Ban Nha và Pháp đều có chức năng thu thuế thay cho nhà nước từ khách hàng. Khách hàng chỉ cần đến một đầu mối (cơ quan công chứng/cơ quan đăng ký), theo đó, cơ quan công chứng/cơ quan đăng ký thu thuế, sau đó sẽ trả cho nhà nước. Tại Đức cũng tương tự như vậy, CCV sẽ thay mặt khách hàng thực hiện toàn bộ các dịch vụ có liên quan như nộp thuế, lệ phí, đăng ký chuyển dịch tài sản tại Sở địa chính....
2.7. Giá trị pháp lý của văn bản công chứng
Pháp luật công chứng của tất cả các nước đều thừa nhận giá trị pháp lý cao của văn bản công chứng, mà thông thường các nước đều quy định văn bản công chứng mang tính chất của văn bản công, có giá trị chứng cứ hiển nhiên và không phải chứng minh việc lập văn bản đó hoặc tính trung thực của các tình tiết được nêu ra trong văn bản đó (Ba Lan, Nhật Bản....).
  Mức độ giá trị được thừa nhận phổ biến nhất của văn bản công chứng là giá trị khẳng định tính xác thực của sự việc, ngoại trừ có những chứng cứ ngược lại phủ nhận văn bản công chứng này. Đối với văn bản liên quan đến nghĩa vụ đã được công chứng mà người có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, người có quyền có thể gửi yêu cầu giải quyết tới Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật (Trung Quốc, ...).
  Ở một cấp độ cao hơn, một số nước quy định các văn bản công chứng có thể được thi hành ngay. Quy định này tạo nên giá trị quan trọng đặc biệt của văn bản công chứng mặc dù nó không phải là bản án hay quyết định của Tòa án. Lý do là nó giúp giảm gánh nặng đặt lên vai tòa án, vai trò quan trọng của CCV đã được thừa nhận trong xã hội và nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng sự thỏa thuận, cam kết giữa các bên.
  Pháp luật Tây Ban Nha thừa nhận văn bản công chứng có giá trị chứng cứ vật chất nên được Tòa án coi là “chứng cứ hiển nhiên”; khi được trình lên Thẩm phán thì không cần phải qua giám định hoặc xác minh, điều tra. Cũng vì được thừa nhận là chứng cứ hiển nhiên nên các bên khi đã ký vào văn bản thì không có quyền khiếu nại về nội dung của văn bản đã được công chứng mà văn bản công chứng có “giá trị thi hành ngay”, có giá trị như một phán quyết của Tòa án. Nếu một hợp đồng, giao dịch đã công chứng mà có tranh chấp thì chỉ cần chuyển một bản sao của văn bản công chứng đến là Tòa án có thể cho thi hành ngay mà không cần xem lại hợp đồng, giao dịch gốc. Với việc mua bán bất động sản, hợp đồng mua bán có công chứng được coi là giấy tờ sở hữu. Văn bản công chứng được coi là văn bản được cơ quan công quyền xác thực.
  Tương tự như Tây Ban Nha, tại Pháp văn bản công chứng có giá trị cưỡng chế thi hành trên toàn lãnh thổ, trừ trường hợp bị đình chỉ thi hành bởi Tòa án CCV có thể ban hành lệnh thực thi trong một số vấn đề đặc biệt theo yêu cầu tự nguyện của các bên có liên quan. Lệnh thực thi này cho phép tịch thu tài sản của bên có nghĩa vụ (là bên đi vay, bên đi thuê v.v...) mà không cần phải ra tòa.
  Tại Nhật Bản, các văn bản công chứng đáp ứng được những yêu cầu nhất định sẽ trở thành văn bản quy phạm có hiệu lực thi hành (văn bản gắn với việc thanh toán một số tiền cụ thể và các bên đã thỏa thuận với nhau về việc văn bản sẽ được thi hành ngày). Trong trường họp này, không giống như các trường hợp khi đơn khiếu nại đã nộp và bản án đã được đưa ra, các văn bản công chứng có hiệu lực thi hành có thể được đem ra thi hành mà không cần đến tòa án và được sử dụng khi cần cưỡng chế thi hành.
  Luật công chứng Hàn Quốc không có một quy định nào về giá trị chứng minh và hiệu lực thi hành của các văn bản công chứng; tuy nhiên Luật lại có quy định cho phép CCV có thể soạn thảo văn bản cho phép cưỡng chế thi hành và gắn nó vào hối phiếu hoặc séc.
  Tại Đức, bên cạnh sự đảm bảo về tính chắc chắn và chính xác về mặt pháp lý, một giao dịch dưới hình thức văn bản công chứng đem lại cho các bên những lợi ích khác nữa. Cụ thể là văn bản công chứng còn được coi là bằng chứng và có khả năng thực thi ngay lập tức. Điều này có nghĩa là một văn bản công chứng là bằng chứng đầy đủ về việc các bên đã chấp nhận các cam kết được đưa ra. Hơn nữa, người phải thực hiện một yêu cầu thanh toán tiền có thể tuyên bố trong một văn bản công chứng gọi là "thực thi ngay lập tức tài sản của mình". Trong trường hợp này, chủ nợ có thể tịch thu và khai thác tài sản của người phải thi hành mà không phải nộp đơn khởi kiện. Như vậy, các văn bản công chứng được xác lập bởi một CCV có thể so sánh được với một bản án có hiệu lực thi hành của tòa.
  Qua nghiên cứu kinh nghiệm của các nước Pháp, Đức, Tây Ban Nha, An-giê-ri, Trung Quốc, có thể thấy công chứng viên có vai trò rất quan trọng, được coi như “thẩm pháp hợp đồng”, góp phần bảo đảm an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch, phòng ngừa và hạn chế các rủi ro, tranh chấp. Các văn bản công chứng có giá trị pháp lý cao, có thể so sánh được với một bản án có hiệu lực thi hành của tòa.
3. Lĩnh vực thừa phát lại
Nghề thừa phát lại ở An-giê-ri hiện được điều chỉnh bởi Luật về tổ chức nghề thừa phát lại năm 2006. Đạo luật này gồm 68 điều được chia thành 5 chương: Chương 1 “Những quy định chung” (từ Điều 1 tới Điều 7). Chương 2 “Gia nhập nghề thừa phát lại và phương thức hành nghề” (từ Điều 8 đến Điều 38). Chương 3 “Tổ chức nghề thừa phát lại và việc thanh tra, kiểm tra” (từ Điều 39 đến Điều 48). Chương 4 “Kỷ luật” (từ Điều 49 đến Điều 63). Chương 5 “Các quy định chuyển tiếp và hiệu lực thi hành” (từ Điều 64 đến Điều 68).
Nghề thừa phát lại ở An-giê-ri chính thức được thành lập năm 1991, thừa phát lại khi đó được chuyển đổi từ các nhân viên lục sự (các thư ký Tòa án). Như vậy, nghề thừa phát lại ở An-giê-ri cũng phải trải qua giai đoạn chuyển đổi từ nhà nước thành tư nhân. Ban đầu cũng gặp rất nhiều nghi ngại nhưng đến nay, thừa phát lại trở thành nghề trụ cột trong hệ thống tư pháp ở An-giê-ri, có mối quan hệ phối hợp rất tốt với các cơ quan, tổ chức khác cũng như với các nghề tư pháp khác.
Nghề thừa phát lại ở An-giê-ri là một nghề tự do nhưng thừa phát lại thì được coi là “công lại”. Người muốn hành nghề thừa phát lại phải là cử nhân luật, có chứng chỉ đào tạo thừa phát lại, trải qua 02 năm tập sự và phải vượt qua kỳ thi tuyển. Người hành nghề thừa phát lại do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Thừa phát lại được quy định trong Luật về tổ chức nghề thừa phát lại năm 2006 và trong luật tố tụng dân sự là rất rộng. Theo đó, thừa phát lại có trách nhiệm: (i) thi hành các phán quyết dân sự của tòa án (có quyền bán đấu giá tài sản thi hành án theo quy định của luật tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu thẩm phán giải thích về bản án dân sự, công tố viên giải thích bản án hình sự); (ii) tống đạt giấy tờ của tòa án (dân sự, hành chính và cả hình sự), của cá nhân, tổ chức (văn bản thực hiện nghĩa vụ pháp lý của Ngân hàng, công chứng...), văn bản tương trợ tư pháp; (iii) lập vi bằng (theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân đối với tài sản của chính người yêu cầu và chỉ định của Tòa án cũng như các cơ quan nhà nước đối với tài sản là bất động sản của người thứ 3); đặc biệt còn được tham gia vào quá trình tố tụng. Gần đây, thừa phát lại còn được bổ sung thêm một nhiệm vụ, quyền hạn nữa là giám sát việc bỏ phiếu ở các cuộc bầu cử. Mức phí dịch vụ thừa phát lại được ấn định cụ thể, không được quyền thỏa thuận. Tỷ lệ thi hành án (do thừa phát lại thực hiện) đạt trên 90%, trung bình một vụ thi hành án trong 03 tháng, tối đa theo quy định là 06 tháng.
Hiện tại, số lượng người hành nghề thừa phát lại ở An-giê-ri là 1.500 người, sắp tới sẽ tổ chức thêm 1 kỳ thi quốc gia, bổ sung thêm khoảng 1.500 thừa phát lại nữa. Bộ Tư pháp An-giê-ri đang có đề án thành lập trường đào tạo thừa phát lại riêng. Trước khi hành nghề, thừa phát lại cũng phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp.
Văn phòng thừa phát lại ở An-giê-ri có thể do một hoặc nhiều thừa phát lại thành lập, hoạt động tương ứng theo loại hình doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty hợp danh (có văn phòng, cơ sở vật chất, thư ký nghiệp vụ...). Các văn phòng thừa phát lại không được quảng cáo về dịch vụ của mình.
Hội đồng thừa phát lại Quốc gia An-giê-ri bao gồm 25 thành viên (kể cả Chủ tịch), có 03 Văn phòng thừa phát lại vùng quản lý các Văn phòng thừa phát lại và chịu sự quản lý trực tiếp của Hội đồng thừa phát lại quốc gia (mỗi Văn phòng thừa phát lại vùng sẽ cử ra 15 thừa phát lại để bầu lấy 8 thừa phát lại tham gia vào Hội đồng thừa phát lại Quốc gia). Thừa phát lại An-giê-ri đã gia nhập Liên minh thừa phát lại quốc tế./.
CỤC BỔ TRỢ TƯ PHÁP
(Nguồn Cổng Thông tin điện tử Bộ Tư pháp: http://bttp.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/tin-su-kien.aspx?ItemID=398​)

Thông tinFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Nội dung cơ bản của Quy chế phối hợp số 992/QCPH-BTP-BCA-BQP-VKSNDTC-TANDTC ngày 26/3/2018 về quy chế phối hợp liên ngành trong công tác giám định tư phápNewTinNội dung cơ bản của Quy chế phối hợp số 992/QCPH-BTP-BCA-BQP-VKSNDTC-TANDTC ngày 26/3/2018 về quy chế phối hợp liên ngành trong công tác giám định tư pháp/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/12/2019 1:00 PMNoĐã ban hành

Luật giám định tư pháp, Quyết định số 1549/QĐ-TTg ngày 16/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ về Kế hoạch triển khai thi hành Luật giám định tư pháp, Nghị định số 85/2013/NĐ-CP ngày 29/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật giám định tư pháp và Đề án 258 có nhiều quy định về phối hợp giữa Bộ Tư pháp với các Bộ, ngành trong việc xây dựng, ban hành các văn bản hướng dẫn về tổ chức, hoạt động, quản lý giám định tư pháp (Mục 3 phần II của Kế hoạch triển khai thi hành Luật GĐTP theo QĐ số 1549/QĐ-TTg), đặc biệt là sự phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp Trung ương, nhất là Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Khoản 2, Khoản 3 Điều 42 và Khoản 3 Điều 44 của Luật giám định tư pháp) trong việc thống kê, báo cáo về tình hình trưng cầu, yêu cầu giám định, đánh giá về tình hình thực hiện giám định, sử dụng kết luận giám định trong hoạt động tố tụng. Thời gian qua, quan hệ phối hợp giữa ngành tư pháp (Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp) với các cơ quan tiến hành tố tụng trong quản lý giám định tư pháp đã được quan tâm, cải thiện một bước nhưng còn nhiều hạn chế, bất cập như còn thiếu thông tin, số liệu thống kê về trưng cầu, đánh giá, sử dụng kết luận giám định trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử nên việc quy hoạch, phát triển đội ngũ người, tổ chức giám định tư pháp và nhiều giải pháp quản lý còn thiếu căn cứ thực tiễn của hoạt động tố tụng... Nhiều vướng mắc, khó khăn trong tổ chức, hoạt động, quản lý giám định tư pháp chưa được kịp thời thông tin, phối hợp giải quyết, làm hạn chế hiệu quả hoạt động, quản lý giám định tư pháp. Vì vậy, để khắc phục những hạn chế nếu trên và bảo đảm đáp ứng tốt yêu cầu ngày cao của hoạt động tố tụng đối với giám định tư pháp thì liên ngành giữa Bộ Tư pháp - Bộ Công an - Bộ Quốc phòng - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao (sau đây gọi tắt là liên ngành) đã xây dựng và ban hành Quy chế phối hợp liên ngành số 992/QCPH-BTP-BCA-BQP-VKSNDTC-TANDTC ngày 26/3/2018 về giám định tư pháp. Chúng tôi xin giới thiệu những nội dung cơ bản của Quy chế phối hợp liên ngành như sau:

1. Quan điểm chỉ đạo và mục đích của việc ban hành Quy chế phối hợp
a) Quan điểm chỉ đạo
- Tiếp tục cụ thể hóa các quy định của Luật giám định tư pháp, Nghị định số 85/2013/NĐ-CP ngày 29/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật giám định tư pháp, các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về giám định tư pháp và các văn bản khác có liên quan trong việc phối hợp giữa các Bộ, ngành quản lý giám định tư pháp, cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan, tổ chức, hoạt động, quản lý giám định tư pháp, nhằm bảo đảm phù hợp với tính chất, đặc thù và yêu cầu thực tiễn của công tác giám định tư pháp.
- Sự phối hợp liên ngành về giám định tư pháp phải bảo đảm tạo lập cơ chế thông tin thông suốt, kịp thời và phối hợp toàn diện, hiệu quả nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, quản lý giám định tư pháp, đáp ứng tốt yêu cầu của hoạt động tố tụng trong thời gian tới.
- Quy định cụ thể trách nhiệm của từng cơ quan phối hợp và cơ quan có liên quan; bảo đảm tính khả thi và hiệu quả của Quy chế phối hợp trên thực tế.
b) Mục đích
Việc xây dựng Quy chế phối hợp nhằm tăng cường vai trò, trách nhiệm, năng lực tổ chức thực hiện và sự phối hợp giữa cơ quan giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác giám định tư pháp với các cơ quan tiến hành tố tụng cấp Trung ương và cơ quan có liên quan đối với công tác giám định tư pháp. Qua đó, thúc đẩy thực hiện đầy đủ và có hiệu quả các quy định của pháp luật về giám định tư pháp; kịp thời giải quyết, tháo gỡ các vướng mắc, khó khăn trong hoạt động giám định, quản lý giám định tư pháp; bảo đảm tăng cường hiệu quả hoạt động, quản lý giám định tư pháp, góp phần quan trọng vào việc đáp ứng tốt yêu cầu của hoạt động tố tụng trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và phòng, chống tham nhũng ở nước ta trong thời gian tới.
2. Nội dung cơ bản của Quy chế phối hợp
a) Phạm vi điều chỉnh
Quy chế phối hợp liên ngành về giám định tư pháp quy định cơ chế thông tin, phối hợp giữa Bộ Tư pháp và Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao trong công tác quản lý nhà nước về giám định tư pháp và giải quyết các vướng mắc, khó khăn về giám định tư pháp trong hoạt động điều tra, truy tố và xét xử nói chung và giải quyết án kinh tế, tham nhũng nói riêng (Điều 1).
b) Nguyên tắc phối hợp
Hoạt động phối hợp được thực hiện trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp và các Bộ, ngành nhằm hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Đồng thời, hoạt động phối hợp phải được thực hiện thường xuyên, kịp thời, đảm bảo chính xác, công khai, minh bạch và bảo đảm nguyên tắc bí mật nhà nước, bí mật công tác theo quy định của pháp luật (Điều 3).
c) Các hình thức phối hợp liên ngành
Các cơ quan thực hiện việc thông tin, phối hợp với nhau về giám định tư pháp bằng các hình thức: (1) trao đổi trực tiếp, gửi công văn, thông báo bằng văn bản, tổ chức họp liên ngành, hoặc hình thức khác liên quan đến giám định tư pháp thuộc thẩm quyền giải quyết; (2) cung cấp số liệu về tổ chức, hoạt động, quản lý giám định tư pháp và các tài liệu có liên quan về giám định tư pháp; (3) kiểm tra liên ngành về công tác giám định tư pháp.
d) Những nội dung và cách thức phối hợp cụ thể
Chương II của Quy chế phối hợp liên ngành quy định nội dung, cách thức phối hợp, trách nhiệm cụ thể của từng cơ quan chủ trì, phối hợp đối với mỗi nội dung phối hợp. Cụ thể như sau:
- Điều 5 của Quy chế quy định cơ chế phối hợp giữa Bộ Tư pháp và Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao trong việc xây dựng, ban hành văn bản về giám định tư pháp, trong đó xác lập nguyên tắc khi cần có sự phối giữa liên ngành về xây dựng, ban hành văn bản về giám định tư pháp thì các cơ quan chủ trì, phối hợp phải thực hiện tốt trách nhiệm của mình (chủ trì soạn thảo hoặc tham gia ý kiến theo đề nghị của cơ quan chủ trì) theo đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Để phát huy vai trò, trách nhiệm của Cơ quan giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về giám định tư pháp, Điều này của Quy chế đã quy định Bộ Tư pháp có trách nhiệm thông báo, đôn đốc các cơ quan phối hợp, cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc xây dựng, ban hành văn bản về giám định tư pháp; cơ quan, tổ chức được thông báo, đôn đốc có trách nhiệm rà soát, thông báo lại cho Bộ Tư pháp về tiến độ, kết quả thực hiện.
- Phối hợp giải quyết khó khăn, vướng mắc về giám định tư pháp trong hoạt động tố tụng được quy định tại Điều 6, trong đó quy định rõ cơ chế, trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng (Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao) trong việc chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan và Ban Nội chính Trung ương trong việc giải quyết các vướng mắc, khó khăn trong trưng cầu, đánh giá sử dụng kết luận giám định ở giai đoạn tố tụng thuộc thẩm quyền của Bộ, ngành mình; bên cạnh đó, theo đề nghị của cơ quan phối hợp, Bộ Tư pháp có trách nhiệm đôn đốc Bộ, cơ quan ngang Bộ quản lý lĩnh vực giám định tư pháp giải quyết vướng mắc, khó khăn.
- Phối hợp trong việc hướng dẫn thống kê và cung cấp thông tin, số liệu thống kê về giám định tư pháp trong hoạt động tố tụng được quy định tại Điều 7, trong đó quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng (Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao) trong việc chỉ đạo thực hiện thống kê về trưng cầu, đánh giá, sử dụng kết luận giám định tư pháp trong giai đoạn tố tụng thuộc thẩm quyền và định kỳ 6 tháng, hằng năm cung cấp cho Bộ Tư pháp để phục vụ cho quản lý nhà nước về giám định tư pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám định phục vụ tốt yêu cầu của hoạt động tố tụng.
- Phối hợp trong kiểm tra về giám định tư pháp được quy định tại Điều 8, trong đó quy định nguyên tắc trường hợp cần thiết và trong phạm vi thẩm quyền quản lý nhà nước, Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các cơ quan phối hợp và cơ quan, tổ chức có liên quan tiến hành kiểm tra công tác giám định tư pháp. Cục Bổ trợ tư pháp có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với đơn vị đầu mối của các cơ quan phối hợp (Tổng cục Cảnh sát Bộ Công an, Vụ Pháp chế Bộ Quốc phòng, Vụ Pháp chế và quản lý khoa học Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Vụ Pháp chế và quản lý khoa học Tòa án nhân dân tối cao) xây dựng kế hoạch kiểm tra, trình Lãnh đạo Bộ Tư pháp phê duyệt và tổ chức thực hiện kiểm tra liên ngành về giám định tư pháp.
- Phối hợp trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về giám định tư pháp được quy định tại Điều 9, trong đó quy định rõ cơ chế phối hợp, trách nhiệm của các cơ quan phối hợp trong việc chủ trì, phối hợp giải quyết các khiếu nại tố cáo thuộc thẩm quyền hoặc có liên quan theo nguyên tắc cơ quan nào tiếp nhận khiếu nại, tổ cáo thì giải quyết, trong trường hợp không thuộc thẩm quyền thì chuyển đến cơ quan có trách nhiệm để xử lý theo thẩm quyền; khi xử lý xong thì thông báo kết quả cho cơ quan đã chuyển đơn biết.
- Phối hợp trong tổ chức họp giao ban liên ngành về giám định tư pháp được quy định tại Điều 10, trong đó hằng năm Bộ Tư pháp chủ trì tổ chức họp họp giao ban liên ngành để thông tin, trao đổi và bàn các biện pháp giải quyết các vướng mắc, khó khăn về giám định tư pháp phát sinh, bảo đảm hiệu quả hoạt động, quản lý giám định tư pháp và đáp ứng tốt yêu cầu của hoạt động tố tụng.
d) Về tổ chức thực hiện
Chương III của Quy chế phối hợp quy định cụ thể đơn vị đầu mối của cơ quan phối hợp tại Điều 11; trách nhiệm của Bộ Tư pháp và các cơ quan phối hợp khác trong việc tổ chức thực hiện Quy chế tại Điều 12 và Điều 13; trách nhiệm của đơn vị đầu mối thuộc các cơ quan phối hợp là Cục Bổ trợ tư pháp Bộ Tư pháp, Tổng cục Cảnh sát Bộ Công an, Vụ Pháp chế Bộ Quốc phòng, Vụ Pháp chế và quản lý khoa học Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Vụ Pháp chế và quản lý khoa học Tòa án nhân dân tối cao trong việc tham mưu cho Lãnh đạo Bộ, ngành mình trong tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, trách nhiệm của cơ quan mình tại Điều 14; kinh phí bảo đảm thực hiện nhiệm vụ phối hợp của mỗi cơ quan theo nguyên tắc kinh phí phục vụ công tác phối hợp được ngân sách nhà nước cấp theo dự toán hàng năm của các cơ quan phối hợp theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, các cơ quan phối hợp có trách nhiệm lập dự toán, thanh quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước cấp cho hoạt động phối hợp theo quy định của pháp luật (Điều 15) và hiệu lực thi hành của Quy chế này kể từ ngày ký ban hành - từ ngày 26/3/2018 (Điều 16).
          Để bảo đảm tổ chức hiệu quả Quy chế này trên thực tế thì liên ngành cần tiếp tục có hướng dẫn, chỉ đạo các cơ quan thuộc ngành mình ở cấp tỉnh triển khai thực hiện một số nhiệm vụ, nhất là về chỉ tiêu thống kê, tổ chức thực hiện giám định tư pháp trong hoạt động điều tra, truy tố và xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng và cung cấp thông tin cho Sở Tư pháp và các Sở, ban ngành có liên quan bảo đảm phục vụ quản lý giám định tư pháp ở địa phương (như đổi mới, nâng cao chất lượng bổ nhiệm giám định viên tư pháp, lập và công bố danh tổ chức, người giám định tư pháp ở địa phương gắn với nhu cầu tố tụng của thực tế; tăng cường bồi dưỡng, đào tạo kiến thức pháp lý, nghiệp vụ giám định cho đội ngũ người giám định tư pháp, người tiến hành tố tụng ở địa phương theo quy định của Đề án tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp…) và bảo đảm hệ thống thông tin thông suốt, thống nhất từ địa phương lên Trung ương về giám định tư pháp; đồng thời cũng cần có cơ chế phối hợp kịp thời, hiệu quả giữa liên ngành ở địa phương để kịp thời giải quyết các vướng mắc, khó khăn trong trưng cầu, đánh giá, sử dụng kết luận giám định tư pháp của hoạt động tố tụng ở địa phương./.
Hải Đăng
(Nguồn Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp: http://bttp.moj.gov.vn/qt/gdtp/Pages/tin-tuc.aspx?ItemID=6​)
Thông tinFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Kết quả đạt được sau 5 năm thi hành Luật Giám định tư pháp trên địa bàn tỉnh Bình DươngTinKết quả đạt được sau 5 năm thi hành Luật Giám định tư pháp trên địa bàn tỉnh Bình Dương/bo-tro-tu-phap/PublishingImages/2018-12/Luat giam dinh tu phap_Key_31122018180557.jpg
11/30/2018 10:00 AMNoĐã ban hành

Luat giam dinh tu phap.jpg

I. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI THI HÀNH LUẬT GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP, NGHỊ ĐỊNH 85/2013/NĐ-CP VÀ CÁC VĂN BẢN CÓ LIÊN QUAN

- Trên cơ sở nhận thức tầm quan trọng của công tác giám định tư pháp, nhằm tuyên truyền, phổ biến Luật Giám định tư pháp đến cán bộ, công chức, các tầng lớp nhân dân; thực hiện tốt công tác bồi dưỡng kiến thức pháp luật và nghiệp vụ cho đội ngũ người làm giám định tư pháp, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Luật Giám định tư pháp trên địa bàn tỉnh (kèm theo Quyết định số 239/QĐ-UBND ngày 28/01/2013); tổ chức Hội nghị triển khai Luật cho cho lãnh đạo các sở, ngành, báo cáo viên cấp tỉnh, các giám định viên tư pháp, cán bộ pháp chế các sở, ngành, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã. Đồng thời, chỉ đạo Sở Tư pháp và các sở, ngành chuyên môn quan tâm và tích cực tuyên truyền, phổ biến sâu, rộng đến các cơ quan, tổ chức, cá nhân bằng nhiều hình thức như: tuyên truyền trên Báo Bình Dương, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh thực hiện chuyên mục "Pháp luật và cuộc sống"; đăng Website của Sở Tư pháp và Báo Bình Dương về những nội dung cơ bản của Luật Giám định tư pháp.

- Tình hình triển khai thực hiện Luật Giám định tư pháp và các văn bản hướng dẫn thi hành từ năm 2013 đến nay: Ngay khi Luật Giám định tư pháp có hiệu lực pháp luật, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 239/QĐ-UBND ngày 28/01/2013 ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Giám định tư pháp trên địa bàn tỉnh, ngày 05/3/2014, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch thực hiện "Đề án Đổi mới và nâng cao hoạt động Giám định tư pháp" trên địa bàn tỉnh Bình Dương năm 2014; Thực hiện các quy định của Luật Giám định tư pháp, Đề án "Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp", Quyết định số 01/2014/QĐ-TTg trong đó có nội dung về thực hiện chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp. Đặc biệt, Ủy ban nhân dân tỉnh đã xây dựng dự thảo Nghị quyết trình Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành Nghị quyết số 35/2014/NQ-HĐND ngày 10/12/2014 về chế độ hỗ trợ công tác pháp y, tâm thần, kỹ thuật hình sự trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Ngày 22/12/2014, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 65/2014/QĐ-UBND về việc Quy định chế độ hỗ trợ công tác pháp y, tâm thần, kỹ thuật hình sự trên địa bàn tỉnh Bình Dương; Trong năm 2017, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành kế hoạch số 2542/KH-UBND ngày 22/6/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương về việc tổ chức bồi dưỡng kiến thức pháp lý cho người giám định tư pháp trên địa bàn tỉnh Bình Dương năm 2017, theo đó Lớp học đã diễn ra từ ngày 13/12/2017 đến ngày 15/12/2017 với sự tham gia của gần 60 giám định viên tư pháp, người làm công tác giám định trên địa bàn tỉnh. Lớp bồi dưỡng đã cung cấp các kiến thức pháp lý cơ bản trong lĩnh vực giám định tư pháp, giúp các học viên hiểu rõ hơn về vị trí, vai trò của hoạt động giám định trong hoạt động tố tụng từ đó hỗ trợ cho công tác giám định tại cơ quan, đơn vị.

- Về khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai các văn bản: Quyết định số 01/2014/QĐ-TTg đã cụ thể hóa một phần chính sách đãi ngộ của Nhà nước nhằm động viên, khích lệ đối với đội ngũ người giám định tư pháp. Tuy nhiên, theo đánh giá của các sở, ngành, tổ chức giám định và thực tiễn áp dụng các chính sách nêu trên cho thấy: Chế độ bồi dưỡng đối với người giám định tư pháp và người giúp việc cho người giám định tư pháp vẫn còn thấp so với tính chất đặc thù công việc và điều kiện kinh tế xã hội hiện nay. Đây là một trong những lý do cơ bản dẫn đến tình trạng người làm giám định tư pháp chuyên trách không yên tâm gắn bó với công việc giám định cũng như không động viên được những người giám định tư pháp kiêm nhiệm tích cực tham gia hoạt động giám định tư pháp; đồng thời, các chuyên gia giỏi trong các ngành, lĩnh vực không muốn tham gia hoạt động giám định tư pháp.

II. ĐÁNH GIÁ VỀ THỰC TRẠNG TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG, QUẢN LÝ GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP TẠI TỈNH BÌNH DƯƠNG

1. Đánh giá chung

- Nhìn chung, công tác phổ biến, triển khai Luật Giám định tư pháp và các văn bản có liên quan đã được Sở Tư pháp và các sở, ngành chuyên môn quan tâm và tích cực tuyên truyền, phổ biến sâu, rộng đến các cơ quan, tổ chức, cá nhân bằng nhiều hình thức như: tuyên truyền trên Báo, Đài Phát thanh Truyền hình tỉnh. Đến nay, nhiều Sở, ngành đã có Giám định viên tư pháp, tạo một bước chuyển biến trong nhận thức của các ngành, các cấp, các tổ chức, cá nhân về vị trí vai trò và nội dung giám định tư pháp; Hầu hết lãnh đạo các ngành, các cấp và đặc biệt là các cơ quan tiến hành tố tụng ở địa phương đều rất quan tâm và xem trọng công tác giám định, mối quan hệ tốt giữa các cơ quan tiến hành tố tụng ở địa phương đã góp phần vào việc xác định nguyên nhân và thủ phạm gây án, chứng cứ buộc tội, gỡ tội trong các vụ án.

- Hoạt động giám định tư pháp luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh, một số lãnh đạo Sở chuyên môn quản lý về lĩnh vực giám định tư pháp như: Sở Y tế, Công an tỉnh, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch, Sở Công Thương, Cục Thuế, Cục Hải quan, Sở Giao thông-Vận tải, Sở Xây dựng, Chi Cục Kiểm lâm thuộc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn…, bên cạnh đó, địa phương còn nhận được sự quan tâm, hướng dẫn của Bộ Tư pháp, hướng dẫn của Viện Kỹ thuật hình sự, Viện Pháp Y…, qua đó, giúp công tác triển khai Luật Giám định tư pháp và các văn bản hướng dẫn thi hành được hiệu quả hơn.

- Đánh giá đóng góp của hoạt động giám định tư pháp: Giám định tư pháp là hoạt động bổ trợ tư pháp, là công cụ quan trọng, phục vụ đắc lực cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử trước yêu cầu đẩy mạnh cải cách tư pháp, phòng chống tham nhũng, góp phần vào việc đảm bảo trật tự an toàn xã hội, phát triển đất nước; góp phần quan trọng trong việc giải quyết các vụ án được chính xác, khách quan, đúng pháp luật, rút ngắn thời gian giám định để các cơ quan pháp luật xử lý kịp thời các đối tượng vi phạm.

2. Về đội ngũ người, tổ chức giám định tư pháp

- Số lượng, chất lượng đội ngũ người giám định tư pháp có sự tăng giảm qua các năm, nguyên nhân giảm chủ yếu là do nghỉ hưu, chuyển công tác khác. Tuy nhiên chất lượng thì ngày càng được nâng cao do được đào tạo ngày càng bài bản về kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ giám định và bồi dưỡng kiến thức pháp lý. Số lượng cụ thể:

NămTổ chức giám định tư pháp công lậpGiám định viên tư phápNgười giám định tư pháp theo vụ việcGhi chú
2013029204 
20140210704Ngày 30/12/2014 tách TT Giám định Y khoa – Pháp y thành TT Pháp y.
20150210104 
2016029602 
2017028806 
2018028806 

- Việc củng cố, kiện toàn và bảo đảm kinh phí, phương tiện hoạt động, cở sở vật chất và các điều kiện cần thiết khác:

+ Tại các tổ chức giám định tư pháp: Trang thiết bị, phương tiện phục vụ cho công tác giám định được các ngành quan tâm và đầu tư, cơ bản đáp ứng kịp thời các trưng cầu giám định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và yêu cầu của cá nhân, tổ chức. Phòng Kỹ thuật hình sự thuộc - Công an tỉnh và Trung tâm Pháp y đã có trụ sở riêng. Phòng Kỹ thuật hình sự  - Công an tỉnh được trang bị 02 phòng máy dùng để phân tích, so sánh và 01 phòng thí nghiệm dùng lưu mẫu, thanh loại mẫu, 01 phòng giám định vi thể phục vụ công tác giám định pháp y, đặc biệt được Ủy ban nhân dân tỉnh cấp: 01 máy sắc ký khí phối phổi dùng giám định ma túy và hợp chất hữu cơ, 01 máy sắc ký hồng ngoại, 01 máy UV, 01 kính hiển vi kim tương phục vụ giám định cháy, va ly giám định pháp y tử thi… Nhờ có phương tiện hiện đại đã giúp cho công tác giám định hoàn thành nhanh chóng, kịp thời, kết quả trả lời chính xác, là chứng cứ quan trọng trong quá trình điều tra và xét xử, phục vụ đắc lực trong cuộc đấu trang phòng chống tội phạm. Trung tâm Pháp y được cấp máy xét nghiệm làm giải phẩu bệnh để thực hiện công tác giám định pháp y.

+ Tại một số sở, ngành khác: Phần lớn các giám định viên đều chưa được trang bị các trang thiết bị phục vụ cho công tác giám định chuyên môn, hiện chỉ có các giám định viên thuộc lĩnh vực văn hóa, đã được trang bị các thiết bị phục vụ cho công tác giám định gồm: 01 tivi màu 21 inch, 01 màn hình LCD 24 inch, 01 đầu đĩa kỹ thuật số hiệu JVC (3 ngăn đĩa), 01 đầu đĩa DVD, 01 đầu đĩa DVD MP4, 01 đầu đĩa và 01 máy casset hiệu AWA.

- Việc lựa chọn, lập, công bố danh sách và đăng tải danh sách tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc tại địa phương được các sở, ngành quan tâm và thực hiện thường xuyên qua các năm theo quy định của pháp luật.

- Về nguyên nhân của vướng mắc, hạn chế trong việc triển khai thực hiện quy định về thành lập Văn phòng giám định tư pháp trong một số lĩnh vực theo quy định của Luật Giám định tư pháp: Theo Khoản 1 Điều 14 Luật Giám định tư pháp quy định: "Văn phòng giám định tư pháp là tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập, được thành lập trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, xây dựng, cổ vật, di vật, bản quyền tác giả.". Tuy nhiên, qua thực tiễn kết quả hoạt động tại địa phương, các vụ việc giám định tư pháp trong các lĩnh vực này rất hạn chế về số lượng, chủ yếu phát sinh trong lĩnh vực pháp y, pháp y tâm thần và kỹ thuật hình sự. Mặt khác, các giám định viên tư pháp trên địa bàn tỉnh đa số là hoạt động kiêm nhiệm tại các sở, ngành, vì vậy chưa phát sinh nhu cầu thành lập Văn phòng giám định tư pháp trên địa bàn tỉnh.

- Đánh giá khả năng đáp ứng yêu cầu giám định của đội ngũ người giám định tư pháp, các tổ chức giám định tư pháp: Với những kết quả đạt được trong thời gian qua (có số liệu ở phần phụ lục kèm theo) và ngày càng nhận được sự quan tâm, đầu tư của các sở, ngành, trong thời gian tới đội ngũ người, tổ chức giám định tư pháp sẽ đáp ứng yêu cầu giám định tư pháp tại địa phương.

- Nguyên nhân của khó khăn, vướng mắc, hạn chế trong phát triển đội ngũ và chất lượng người, tổ chức giám định tư pháp: Số lượng giám định viên pháp y về mổ tử thi còn hạn chế (hiện nay toàn tỉnh chỉ có 05 giám định viên pháp y về mổ tử thi) do việc tuyển dụng rất khó khăn. Bác sĩ làm công tác giám định pháp y chịu nhiều áp lực từ gia đình, xã hội, trong khi chế độ bồi dưỡng còn thấp. Ngoài ra, việc cử cán bộ đi đào tạo để tạo nguồn bổ nhiệm giám định viên trong vực pháp y, pháp y tâm thần chưa được thực hiện thường xuyên. Giám định viên tại các sở, ngành đều là kiêm nhiệm, phải tập trung cho công tác chuyên môn nên còn hạn chế về kỹ năng và kiến thức pháp luật. Trang thiết bị phục vụ cho công tác giám định tại các sở, ngành còn hạn chế. Trong lĩnh vực giao thông, vận tải các giám định viên phải tự trang bị phương tiện hoạt động.

3. Về hoạt động giám định tư pháp

a) Về tiếp nhận và thực hiện giám định tư pháp

- Đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động giám định tư pháp tại địa phương: Từ năm 2013 đến tháng 8 năm 2018, các cơ quan đã tiếp nhận và thực hiện tổng cộng 14.362 vụ giám định trong đó có 7.389 vụ giám định kỹ thuật hình sự và 6.915 vụ giám định pháp y, pháp y tâm thần.

Các vụ giám định đều được tiếp nhận và thực hiện giám định trong thời gian nhanh nhất, kết quả trả lời trong thời hạn của quyết định trưng cầu, một số ít vụ còn chậm do thời điểm số lượng vụ việc gửi giám định nhiều, một số thiết bị phương tiện được trang cấp đã lâu, hoặc bị hư hỏng không có thiết bị thay thế dẫn đến một số vụ phải kéo dài thời gian giám định.

- Khó khăn, vướng mắc:

+ Trường hợp người trưng cầu giám định đề nghị giám định những nội dung không phù hợp với tình tiết vụ án dẫn đến kết luận giám định chưa chính xác hoặc nội dung trưng cầu không rõ ràng. Ngược lại, một số giám định viên do chưa trang bị đầy đủ kiến thức pháp luật cần thiết gắn với yêu cầu giám định nên một số trường hợp chưa nắm rõ mục đích, yêu cầu giám định, dẫn đến kết quả giám định chưa đáp ứng yêu cầu trong công tác điều tra, truy tố, xét xử, ví dụ: kết luận giám định chỉ thể hiện về tỉ lệ thương tật mà chưa ghi rõ cơ chế hình thành thương tích dẫn đến việc giải quyết một số vụ án còn khó khăn.

+ Giám định viên tư pháp không được thông tin về việc xử lý kết quả giám định tư pháp từ cơ quan trưng cầu giám định nên dẫn đến khó khăn trong việc đánh giá kết quả, rút ra bài học kinh nghiệm trong công tác giám định tư pháp.

- Tình hình nhận tạm ứng, thanh toán chi phí giám định, tiền bồi dưỡng giám định tư pháp do cơ quan, người trưng cầu, yêu cầu giám định chi trả:

+  Được thực hiện theo quy định của pháp luật, tuy nhiên một số trường hợp còn thanh toán chậm, mức chi trả còn thấp, chưa phù hợp với thời gian, công sức và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của các giám định viên tư pháp, người giám định tư pháp theo vụ việc.

+ Tại phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh, kinh phí bồi dưỡng giám định phân bổ hàng năm còn hạn chế, không đủ quyết toán trong năm, thông thường chỉ đáp ứng được 03 quý/năm. Số vụ việc giám định tư pháp lĩnh vực kỹ thuật hình sự ngày càng nhiều, năm sau thường cao hơn so với năm trước; trong thực tế, trong một thời điểm, một giám định viên thực hiện nhiều vụ việc giám định, trong khi đó chế độ thanh quyết toán theo ngày công (22 ngày/tháng), nên chỉ thanh toán được một phần số vụ trưng cầu.

+ Tại Trung tâm Pháp y tỉnh: Tương tự tình hình chung của các địa phương trong cả nước, do kinh phí cấp cho công tác giám định pháp y còn hạn chế dẫn đến tình trạng cơ quan công an hạn chế trưng cầu Trung tâm Pháp y thực hiện giám định pháp y tử thi, mỗi năm Trung tâm chỉ thực hiện khoảng 10 đến 12 ca. Thu phí giám định và phí bồi dưỡng giám định viên giữa Trung tâm và cơ quan công an còn vướng mắc, cơ quan công an chỉ chi trả cho 01 giám định viên và 01 người giúp việc trên 01 ca giám định tử thi (kể cả các trường hợp cần nhiều người thực hiện hơn).

b) Về trưng cầu, yêu cầu giám định và đánh giá, sử dụng kết luận giám định trong hoạt động tố tụng của cơ quan điều tra, kiểm sát, tòa án

Việc trưng cầu, yêu cầu giám định được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Chất lượng của kết luận giám định đảm bảo tính chính xác, khách quan, nhanh chóng và kịp thời. Đa số các kết luận giám định đều được sử dụng, là nguồn chứng cứ quan trọng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử cũng như giải quyết các vụ tranh chấp dân sự, hành chính, kinh tế; trong đó có vụ kết luận giám định là chứng cứ duy nhất để xác định đối tượng gây án.

4. Công tác quản lý nhà nước về giám định tư pháp của các sở, ngành và trách nhiệm của các cơ quan tố tụng với công tác giám định tư pháp

- Vai trò quản lý nhà nước của cơ quan đầu mối là Sở Tư pháp và sở, ngành chuyên môn:

+ Sở Tư pháp đã thực tốt chức năng tham mưu giúp Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý nhà nước về công tác giám định tư pháp tại địa phương, cụ thể:

Công khai và giải quyết các thủ tục hành chính liên quan đến lĩnh vực giám định tư pháp thuộc phạm vi, thẩm quyền giải quyết của Sở Tư pháp như: thành lập Văn phòng giám định tư pháp; Đăng ký hoạt động Văn phòng giám định tư pháp...đúng pháp luật cho các cá nhân, tổ chức đến liên hệ thực hiện thủ tục. Thẩm định hồ sơ bổ nhiệm giám định viên tư pháp của các sở, ngành một cách nhanh chóng, kịp thời, hỗ trợ cung cấp các căn cứ pháp lý tạo thuận lợi nhất để công tác bổ nhiệm giám định viên tư pháp được nhanh chóng, đúng quy định

Việc tham mưu các văn bản triển khai thực hiện Luật Giám định tư pháp và các văn bản hướng dẫn thi hành được kịp thời, đầy đủ, phù hợp với tình hình thực tiễn tại địa phương. Hằng năm tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh rà soát, lập và công bố danh sách người, tổ chức giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc đúng quy định. Định kỳ báo cáo Bộ Tư pháp về tình hình tổ chức, hoạt động giám định tư pháp ở địa phương theo quy định. Đồng thời, nhằm tạo sự thống nhất trong quá trình thực hiện hoạt động giám định tư pháp tại địa phương, Sở Tư pháp đã tổ chức Hội thảo trao đổi, rút kinh nghiệm trong hoạt động giám định tư pháp trên địa bàn tỉnh.

+ Các sở, ngành: Hầu hết lãnh đạo các sở, ngành và đặc biệt là các cơ quan tiến hành tố tụng ở địa phương đều rất quan tâm và xem trọng công tác giám định, mối quan hệ tốt giữa các cơ quan tiến hành tố tụng ở địa phương.

- Về sự phối hợp trong quản lý nhà nước về giám định tư pháp: Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động giám định tư pháp, Sở Tư pháp – cơ quan đầu mối và các sở, ngành chuyên môn đã có sự phối hợp nhịp nhàng và chặt chẽ qua các công tác tuyên truyền, lựa chọn người, tổ chức giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc, bổ nhiệm giám định viên tư pháp, thực hiên chức năng giám định tư pháp khi có trưng cầu của các cơ quan tiến hành tố tụng...

- Về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị được Sở Tư pháp quan tâm, chú trọng và giải quyết kịp thời theo đúng quy định của pháp luật.

- Về chế độ thông tin, báo cáo: Sở Tư pháp thường xuyên đăng Danh sách cá nhân, tổ chức giám định tư pháp trên địa bàn tỉnh. Các sở, ngành đa số thực hiện tốt chế độ báo cáo định kỳ và báo cáo đột xuất theo yêu cầu của Bộ Tư pháp, Uỷ ban nhân dân tỉnh về công tác tổ chức và hoạt động giám định tư pháp.

III. ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ:

1. Kiến nghị sửa đổi, bổ sung Luật Giám định tư pháp:

- Tại Điều 10 Luật Giám định tư pháp quy định các trường hợp miễn nhiệm giám định viên tư pháp, tuy nhiên không quy định trường hợp miễn nhiệm do chuyển công tác đến đơn vị khác và không còn thực hiện hoạt động giám định, dẫn đến số lượng giám định viên tư pháp theo thống kê hằng năm không phản ánh đúng số lượng giám định viên đang hoạt động thực tế tại địa phương;

- Về quy định bổ nhiệm lại giám định viên tư pháp: Pháp luật chưa quy định việc bổ nhiệm lại hoặc cấp lại quyết định bổ nhiệm trong trường hợp quyết định bổ nhiệm giám định viên tư pháp bị rách, bị mất hoặc bị thất lạc.

2. Kiến nghị, đề xuất giải pháp tiếp tục thực hiện có hiệu quả chủ trương xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp phù hợp với tình hình thực tế: Xây dựng cơ chế ưu đãi riêng đối với các tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập (ngoài việc miễn thuế của Trung ương thì có thể ưu đãi thêm các vấn đề khác như miễn thuế đất đai, tạo điều kiện vay tiền mua trang thiết bị...), mở rộng lĩnh vực thường phát sinh nhu cầu giám định tư pháp như giám định tài liệu, giám định chữ ký.

Thông tinFalseNguyễn Thị Vân Anh
Phụ lục báo cáo danh sách ngưởi, tổ chức giám định tư pháp và tình hình tổ chức và hoạt động giám định tư pháp năm 2018TinPhụ lục báo cáo danh sách ngưởi, tổ chức giám định tư pháp và tình hình tổ chức và hoạt động giám định tư pháp năm 2018/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
11/16/2018 4:00 PMNoĐã ban hành

PHỤ LỤC BÁO CÁO.docx

(Số liệu báo cáo từ ngày 01/10/2017 đến 30/9/2018)​

Thông tinFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Đề cương và Phụ lục Báo cáo tổng kết thi hành Luật Giám định tư phápTinĐề cương và Phụ lục Báo cáo tổng kết thi hành Luật Giám định tư pháp/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
9/13/2018 9:00 AMYesĐã ban hành

​Đề cương Báo cáo Tổng kết Luật Giám định tư pháp: Tải DE CUONG HUONG DAN BC TONG KET LGDTP.docx

Phụ lục Báo cáo Tổng kết Luật Giám định tư pháp: Tải PHU LUC BC TONG KET LGDTP.docx

Hướng dẫn nghiệp vụFalseNguyễn Thị Vân Anh
Hội nghị trực tuyến toàn quốc triển khai Đề án “Tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp”TinHội nghị trực tuyến toàn quốc triển khai Đề án “Tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp”/bo-tro-tu-phap/PublishingImages/2018-07/hoinghitructuyengdtp12018_Key_16072018160253.jpg
7/16/2018 4:00 PMYesĐã ban hành

     ​Ngày 6/7/2018, Bộ Tư pháp tổ chức Hội nghị trực tuyến toàn quốc triển khai Đề án “Tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp”. Chủ trì Hội nghị là Thứ trưởng Bộ Tư pháp Trần Tiến Dũng. Hội nghị được tổ chức bằng hình thức trực tuyến tại 64 điểm cầu trên cả nước. 

hoinghitructuyengdtp12018.jpg

     Tại điểm cầu Bình Dương, Bà Nguyễn Anh Hoa – Giám đốc Sở Tư pháp chủ trì Hội nghị cùng với sự tham gia của đại diện lãnh đạo Tòa án nhân dân, Viện Kiểm Sát, Công an tỉnh, Sở Tài Chính, Sở Y tế, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ngân hàng Nhà nước – Chi nhánh Bình Dương, Phòng Kỹ Thuật hình sự - Công an tỉnh, Trung tâm Pháp y tỉnh.

     Tại Hội nghị, đại diện lãnh đạo Cục Bổ trợ Tư pháp đã trình bày một số nội dung cơ bản của Đề án 250 và Quy chế phối hợp liên ngành về giám định tư pháp. Mục tiêu của Đề án nhằm tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động và quản lý giám định tư pháp, tạo chuyển biến căn bản, đột phá về chất lượng và hiệu quả hoạt động giám định tư pháp, góp phần nâng cao chất lượng của hoạt động tố tụng, phòng, chống tội phạm, tham nhũng, đồng thời tạo động lực mới thúc đẩy xã hội hóa mạnh mẽ hoạt động giám định tư pháp.

Các đại biểu tham dự hội nghị dành thời gian tham luận về những giải pháp và kiến nghị nhằm bảo đảm tiếp tục nâng cao chất lượng hoạt động giám định tư pháp. Các tham luận cũng tập trung bàn về phương hướng, giải pháp bảo đảm tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp tại các địa phương.

     Cũng trong Hội nghị, Bà Nguyễn Anh Hoa – đại diện Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương và các đại biểu tại Bình Dương đã có những trao đổi, thảo luận và đề ra các giải pháp nhằm tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong hoạt động giám định tư pháp của tỉnh; đồng thời tiếp tục có những phương hướng hoạt động cụ thể trong thời gian tới nhằm ngày càng nâng cao chất lượng hoạt động giám định tư pháp trên địa bàn tỉnh./.


Thông tin; Tin ngành tư phápFalseNguyễn Thị Vân Anh
Nội dung cơ bản của Quy chế phối hợp số 992/QCPH-BTP-BCA-BQP-VKSNDTC-TANDTC ngày 26/3/2018 về quy chế phối hợp liên ngành trong công tác giám định tư phápTinNội dung cơ bản của Quy chế phối hợp số 992/QCPH-BTP-BCA-BQP-VKSNDTC-TANDTC ngày 26/3/2018 về quy chế phối hợp liên ngành trong công tác giám định tư pháp/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/11/2018 5:00 PMNoĐã ban hành

Luật giám định tư pháp, Quyết định số 1549/QĐ-TTg ngày 16/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ về Kế hoạch triển khai thi hành Luật giám định tư pháp, Nghị định số 85/2013/NĐ-CP ngày 29/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật giám định tư pháp và Đề án 258 có nhiều quy định về phối hợp giữa Bộ Tư pháp với các Bộ, ngành trong việc xây dựng, ban hành các văn bản hướng dẫn về tổ chức, hoạt động, quản lý giám định tư pháp (Mục 3 phần II của Kế hoạch triển khai thi hành Luật GĐTP theo QĐ số 1549/QĐ-TTg), đặc biệt là sự phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp Trung ương, nhất là Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Khoản 2, Khoản 3 Điều 42 và Khoản 3 Điều 44 của Luật giám định tư pháp) trong việc thống kê, báo cáo về tình hình trưng cầu, yêu cầu giám định, đánh giá về tình hình thực hiện giám định, sử dụng kết luận giám định trong hoạt động tố tụng. Thời gian qua, quan hệ phối hợp giữa ngành tư pháp (Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp) với các cơ quan tiến hành tố tụng trong quản lý giám định tư pháp đã được quan tâm, cải thiện một bước nhưng còn nhiều hạn chế, bất cập như còn thiếu thông tin, số liệu thống kê về trưng cầu, đánh giá, sử dụng kết luận giám định trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử nên việc quy hoạch, phát triển đội ngũ người, tổ chức giám định tư pháp và nhiều giải pháp quản lý còn thiếu căn cứ thực tiễn của hoạt động tố tụng... Nhiều vướng mắc, khó khăn trong tổ chức, hoạt động, quản lý giám định tư pháp chưa được kịp thời thông tin, phối hợp giải quyết, làm hạn chế hiệu quả hoạt động, quản lý giám định tư pháp. Vì vậy, để khắc phục những hạn chế nếu trên và bảo đảm đáp ứng tốt yêu cầu ngày cao của hoạt động tố tụng đối với giám định tư pháp thì liên ngành giữa Bộ Tư pháp - Bộ Công an - Bộ Quốc phòng - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao (sau đây gọi tắt là liên ngành) đã xây dựng và ban hành Quy chế phối hợp liên ngành số 992/QCPH-BTP-BCA-BQP-VKSNDTC-TANDTC ngày 26/3/2018 về giám định tư pháp. Chúng tôi xin giới thiệu những nội dung cơ bản của Quy chế phối hợp liên ngành như sau:

1. Quan điểm chỉ đạo và mục đích của việc ban hành Quy chế phối hợp
a) Quan điểm chỉ đạo
- Tiếp tục cụ thể hóa các quy định của Luật giám định tư pháp, Nghị định số 85/2013/NĐ-CP ngày 29/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật giám định tư pháp, các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về giám định tư pháp và các văn bản khác có liên quan trong việc phối hợp giữa các Bộ, ngành quản lý giám định tư pháp, cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan, tổ chức, hoạt động, quản lý giám định tư pháp, nhằm bảo đảm phù hợp với tính chất, đặc thù và yêu cầu thực tiễn của công tác giám định tư pháp.
- Sự phối hợp liên ngành về giám định tư pháp phải bảo đảm tạo lập cơ chế thông tin thông suốt, kịp thời và phối hợp toàn diện, hiệu quả nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, quản lý giám định tư pháp, đáp ứng tốt yêu cầu của hoạt động tố tụng trong thời gian tới.
- Quy định cụ thể trách nhiệm của từng cơ quan phối hợp và cơ quan có liên quan; bảo đảm tính khả thi và hiệu quả của Quy chế phối hợp trên thực tế.
b) Mục đích
Việc xây dựng Quy chế phối hợp nhằm tăng cường vai trò, trách nhiệm, năng lực tổ chức thực hiện và sự phối hợp giữa cơ quan giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác giám định tư pháp với các cơ quan tiến hành tố tụng cấp Trung ương và cơ quan có liên quan đối với công tác giám định tư pháp. Qua đó, thúc đẩy thực hiện đầy đủ và có hiệu quả các quy định của pháp luật về giám định tư pháp; kịp thời giải quyết, tháo gỡ các vướng mắc, khó khăn trong hoạt động giám định, quản lý giám định tư pháp; bảo đảm tăng cường hiệu quả hoạt động, quản lý giám định tư pháp, góp phần quan trọng vào việc đáp ứng tốt yêu cầu của hoạt động tố tụng trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và phòng, chống tham nhũng ở nước ta trong thời gian tới.
2. Nội dung cơ bản của Quy chế phối hợp
a) Phạm vi điều chỉnh
Quy chế phối hợp liên ngành về giám định tư pháp quy định cơ chế thông tin, phối hợp giữa Bộ Tư pháp và Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao trong công tác quản lý nhà nước về giám định tư pháp và giải quyết các vướng mắc, khó khăn về giám định tư pháp trong hoạt động điều tra, truy tố và xét xử nói chung và giải quyết án kinh tế, tham nhũng nói riêng (Điều 1).
b) Nguyên tắc phối hợp
Hoạt động phối hợp được thực hiện trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp và các Bộ, ngành nhằm hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Đồng thời, hoạt động phối hợp phải được thực hiện thường xuyên, kịp thời, đảm bảo chính xác, công khai, minh bạch và bảo đảm nguyên tắc bí mật nhà nước, bí mật công tác theo quy định của pháp luật (Điều 3).
c) Các hình thức phối hợp liên ngành
Các cơ quan thực hiện việc thông tin, phối hợp với nhau về giám định tư pháp bằng các hình thức: (1) trao đổi trực tiếp, gửi công văn, thông báo bằng văn bản, tổ chức họp liên ngành, hoặc hình thức khác liên quan đến giám định tư pháp thuộc thẩm quyền giải quyết; (2) cung cấp số liệu về tổ chức, hoạt động, quản lý giám định tư pháp và các tài liệu có liên quan về giám định tư pháp; (3) kiểm tra liên ngành về công tác giám định tư pháp.
d) Những nội dung và cách thức phối hợp cụ thể
Chương II của Quy chế phối hợp liên ngành quy định nội dung, cách thức phối hợp, trách nhiệm cụ thể của từng cơ quan chủ trì, phối hợp đối với mỗi nội dung phối hợp. Cụ thể như sau:
- Điều 5 của Quy chế quy định cơ chế phối hợp giữa Bộ Tư pháp và Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao trong việc xây dựng, ban hành văn bản về giám định tư pháp, trong đó xác lập nguyên tắc khi cần có sự phối giữa liên ngành về xây dựng, ban hành văn bản về giám định tư pháp thì các cơ quan chủ trì, phối hợp phải thực hiện tốt trách nhiệm của mình (chủ trì soạn thảo hoặc tham gia ý kiến theo đề nghị của cơ quan chủ trì) theo đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Để phát huy vai trò, trách nhiệm của Cơ quan giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về giám định tư pháp, Điều này của Quy chế đã quy định Bộ Tư pháp có trách nhiệm thông báo, đôn đốc các cơ quan phối hợp, cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc xây dựng, ban hành văn bản về giám định tư pháp; cơ quan, tổ chức được thông báo, đôn đốc có trách nhiệm rà soát, thông báo lại cho Bộ Tư pháp về tiến độ, kết quả thực hiện.
- Phối hợp giải quyết khó khăn, vướng mắc về giám định tư pháp trong hoạt động tố tụng được quy định tại Điều 6, trong đó quy định rõ cơ chế, trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng (Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao) trong việc chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan và Ban Nội chính Trung ương trong việc giải quyết các vướng mắc, khó khăn trong trưng cầu, đánh giá sử dụng kết luận giám định ở giai đoạn tố tụng thuộc thẩm quyền của Bộ, ngành mình; bên cạnh đó, theo đề nghị của cơ quan phối hợp, Bộ Tư pháp có trách nhiệm đôn đốc Bộ, cơ quan ngang Bộ quản lý lĩnh vực giám định tư pháp giải quyết vướng mắc, khó khăn.
- Phối hợp trong việc hướng dẫn thống kê và cung cấp thông tin, số liệu thống kê về giám định tư pháp trong hoạt động tố tụng được quy định tại Điều 7, trong đó quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng (Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao) trong việc chỉ đạo thực hiện thống kê về trưng cầu, đánh giá, sử dụng kết luận giám định tư pháp trong giai đoạn tố tụng thuộc thẩm quyền và định kỳ 6 tháng, hằng năm cung cấp cho Bộ Tư pháp để phục vụ cho quản lý nhà nước về giám định tư pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám định phục vụ tốt yêu cầu của hoạt động tố tụng.
- Phối hợp trong kiểm tra về giám định tư pháp được quy định tại Điều 8, trong đó quy định nguyên tắc trường hợp cần thiết và trong phạm vi thẩm quyền quản lý nhà nước, Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các cơ quan phối hợp và cơ quan, tổ chức có liên quan tiến hành kiểm tra công tác giám định tư pháp. Cục Bổ trợ tư pháp có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với đơn vị đầu mối của các cơ quan phối hợp (Tổng cục Cảnh sát Bộ Công an, Vụ Pháp chế Bộ Quốc phòng, Vụ Pháp chế và quản lý khoa học Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Vụ Pháp chế và quản lý khoa học Tòa án nhân dân tối cao) xây dựng kế hoạch kiểm tra, trình Lãnh đạo Bộ Tư pháp phê duyệt và tổ chức thực hiện kiểm tra liên ngành về giám định tư pháp.
- Phối hợp trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về giám định tư pháp được quy định tại Điều 9, trong đó quy định rõ cơ chế phối hợp, trách nhiệm của các cơ quan phối hợp trong việc chủ trì, phối hợp giải quyết các khiếu nại tố cáo thuộc thẩm quyền hoặc có liên quan theo nguyên tắc cơ quan nào tiếp nhận khiếu nại, tổ cáo thì giải quyết, trong trường hợp không thuộc thẩm quyền thì chuyển đến cơ quan có trách nhiệm để xử lý theo thẩm quyền; khi xử lý xong thì thông báo kết quả cho cơ quan đã chuyển đơn biết.
- Phối hợp trong tổ chức họp giao ban liên ngành về giám định tư pháp được quy định tại Điều 10, trong đó hằng năm Bộ Tư pháp chủ trì tổ chức họp họp giao ban liên ngành để thông tin, trao đổi và bàn các biện pháp giải quyết các vướng mắc, khó khăn về giám định tư pháp phát sinh, bảo đảm hiệu quả hoạt động, quản lý giám định tư pháp và đáp ứng tốt yêu cầu của hoạt động tố tụng.
d) Về tổ chức thực hiện
Chương III của Quy chế phối hợp quy định cụ thể đơn vị đầu mối của cơ quan phối hợp tại Điều 11; trách nhiệm của Bộ Tư pháp và các cơ quan phối hợp khác trong việc tổ chức thực hiện Quy chế tại Điều 12 và Điều 13; trách nhiệm của đơn vị đầu mối thuộc các cơ quan phối hợp là Cục Bổ trợ tư pháp Bộ Tư pháp, Tổng cục Cảnh sát Bộ Công an, Vụ Pháp chế Bộ Quốc phòng, Vụ Pháp chế và quản lý khoa học Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Vụ Pháp chế và quản lý khoa học Tòa án nhân dân tối cao trong việc tham mưu cho Lãnh đạo Bộ, ngành mình trong tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, trách nhiệm của cơ quan mình tại Điều 14; kinh phí bảo đảm thực hiện nhiệm vụ phối hợp của mỗi cơ quan theo nguyên tắc kinh phí phục vụ công tác phối hợp được ngân sách nhà nước cấp theo dự toán hàng năm của các cơ quan phối hợp theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, các cơ quan phối hợp có trách nhiệm lập dự toán, thanh quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước cấp cho hoạt động phối hợp theo quy định của pháp luật (Điều 15) và hiệu lực thi hành của Quy chế này kể từ ngày ký ban hành - từ ngày 26/3/2018 (Điều 16).
          Để bảo đảm tổ chức hiệu quả Quy chế này trên thực tế thì liên ngành cần tiếp tục có hướng dẫn, chỉ đạo các cơ quan thuộc ngành mình ở cấp tỉnh triển khai thực hiện một số nhiệm vụ, nhất là về chỉ tiêu thống kê, tổ chức thực hiện giám định tư pháp trong hoạt động điều tra, truy tố và xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng và cung cấp thông tin cho Sở Tư pháp và các Sở, ban ngành có liên quan bảo đảm phục vụ quản lý giám định tư pháp ở địa phương (như đổi mới, nâng cao chất lượng bổ nhiệm giám định viên tư pháp, lập và công bố danh tổ chức, người giám định tư pháp ở địa phương gắn với nhu cầu tố tụng của thực tế; tăng cường bồi dưỡng, đào tạo kiến thức pháp lý, nghiệp vụ giám định cho đội ngũ người giám định tư pháp, người tiến hành tố tụng ở địa phương theo quy định của Đề án tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp…) và bảo đảm hệ thống thông tin thông suốt, thống nhất từ địa phương lên Trung ương về giám định tư pháp; đồng thời cũng cần có cơ chế phối hợp kịp thời, hiệu quả giữa liên ngành ở địa phương để kịp thời giải quyết các vướng mắc, khó khăn trong trưng cầu, đánh giá, sử dụng kết luận giám định tư pháp của hoạt động tố tụng ở địa phương./.
Hải Đăng​
(Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp (www.moj.gov.vn))
Thông tinFalseNguyễn Thị Vân Anh
Một số nội dung cơ bản của Đề án tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư phápTinMột số nội dung cơ bản của Đề án tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Sau 05 năm thực hiện Đề án “Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp” (Đề án 258), hầu hết các nhiệm vụ, giải pháp đã được tổ chức thực hiện có kết quả trên thực tế, khắc phục được những khó khăn, vướng mắc của hoạt động giám định tư pháp, đáp ứng yêu cầu tố tụng trong thời gian qua. Vì vậy, để tiếp tục thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm của Đề án 258 cũng như bổ sung, hoàn thiện các nhiệm vụ mới nhằm tăng cường hơn nữa hiệu lực, hiệu quả của hoạt động giám định tư pháp cũng như đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của hoạt động tố tụng trong giai đoạn tiếp theo thì việc xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo Quyết định phê duyệt Đề án tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp là yêu cầu cần thiết, khách quan. Thực hiện Chương trình công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ năm 2017, Bộ Tư pháp đã phối hợp với các Bộ, ngành hữu quan xây dựng dự thảo Đề án tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp. Ngày 28/02/2018 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 250/QĐ-TTg phê duyệt Đề án tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp (Đề án 250).
5/31/2018 5:00 PMNoĐã ban hành

Đề án bao gồm một số nội dung cơ bản như sau:
1. Mục tiêu của Đề án 250
Đề án 250 được ban hành nhằm tiếp tục đổi mới và tạo chuyển biến mạnh mẽ, đột phá về chất lượng, hiệu quả hoạt động giám định tư pháp, nâng cao chất lượng của hoạt động tố tụng trong thời gian tới và thúc đẩy xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp.
Trên cơ sở mục tiêu tổng quát, Đề án 250 đã xác định rõ 07 mục tiêu cụ thể cần đạt được trong 05 năm tới để công tác giám định tư pháp phát triển bền vững, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới: (1) Hoàn thiện thể chế về giám định tư pháp bảo đảm đầy đủ, đồng bộ, khả thi, phù hợp với tình hình mới; (2) Hoàn thiện hệ thống tổ chức pháp y tâm thần theo hướng chú trọng yếu tố trọng điểm, khu vực; (3) Đào tạo nguồn nhân lực pháp y, pháp y tâm thần về số lượng, chất lượng chuyên môn và kiến thức pháp lý; (4) Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại cho tổ chức giám định tư pháp công lập; (5) Nghiên cứu, kiến nghị cơ chế phù hợp để tổ chức thực hiện giám định theo yêu cầu của hoạt động tố tụng trong các lĩnh vực không có tổ chức giám định tư pháp công lập chuyên trách và đề ra giải pháp đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp; (6) Kiến nghị chính sách bảo đảm việc đãi ngộ và thu hút người làm giám định; (7) Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước và giữa cơ quan quản lý nhà nước với cơ quan trưng cầu giám định.
2. Các nhiệm vụ và giải pháp của Đề án 250
Trên cơ sở kết quả tổng kết 05 năm thực hiện Đề án 258 và mục tiêu cần đạt được trong giai đoạn tiếp theo, Đề án 250 đã đưa ra 03 nhóm nhiệm vụ với 15 giải pháp trọng tâm, cụ thể:
Nhóm nhiệm vụ thứ nhất tập trung vào việc tiếp tục hoàn thiện chế định giám định tư pháp. Ngay trong năm 2018, các cơ quan tiến hành tố tụng phải ban hành văn bản hướng dẫn việc trưng cầu, đánh giá, sử dụng kết luận giám định tư pháp trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử. Đồng thời, cũng trong năm 2018, các Bộ, cơ quan ngang Bộ cần rà soát, ban hành đầy đủ các văn bản quy định về quy trình giám định hoặc hướng dẫn áp dụng quy trình giám định ở các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, xây dựng, văn hóa, tài nguyên và môi trường, đầu tư, thông tin và truyền thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công thương, khoa học và công nghệ…trong đó quy định rõ thời hạn giám định ở từng lĩnh vực, bảo đảm hoạt động giám định tư pháp được thực hiện theo trình tự thống nhất trong cả nước.
Nhóm nhiệm vụ thứ hai tập trung vào việc hoàn thiện tổ chức giám định tư pháp; nâng cao chất lượng người giám định tư pháp; đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện phục vụ giám định.
Về hoàn thiện tổ chức giám định tư pháp, trước mắt, trong năm 2018, Bộ Y tế cần nghiên cứu, thành lập Phân viện Viện Pháp y tâm thần Trung ương tại Bắc miền Trung, Phân viện Viện Pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa tại Nam Trung Bộ và các khu vực khác để đáp ứng kịp thời yêu cầu của hoạt động tố tụng về giám định pháp y tâm thần. Bộ Công an, Bộ Quốc phòng rà soát, củng cố hệ thống tổ chức giám định kỹ thuật hình sự theo hướng tinh gọn, không thành lập mới và đầu tư trọng điểm khu vực.
Về nâng cao chất lượng người giám định tư pháp, đối với các Bộ, cơ quan ngang Bộ chưa có đơn vị đầu mối để tiếp nhận, báo cáo người có thẩm quyền quyết định phân công tổ chức, cá nhân thuộc thẩm quyền quản lý thực hiện giám định thì ngay trong quý II năm 2018 cần chỉ định đơn vị đầu mối và có biện pháp tăng cường năng lực, trách nhiệm của đơn vị này. Đồng thời, hằng năm, các Bộ, cơ quan ngang Bộ cần tăng cường bồi dưỡng, tập huấn kiến thức pháp lý, nghiệp vụ giám định cho đội ngũ người giám định tư pháp và người tiến hành tố tụng. Riêng đối với đội ngũ giám định viên pháp y, pháp y tâm thần, để góp phần nâng cao chất lượng của đội ngũ này, Bộ Y tế cần nghiên cứu, kiến nghị các giải pháp hiệu quả thực hiện Đề án “khuyến khích đào tạo và phát triển nhân lực y tế các chuyên ngành lao, phong, tâm thần, pháp y và giải phẫu bệnh giai đoạn 2013-2020”. Cuối cùng, để huy động được tối đa đội ngũ các tổ chức chuyên môn và chuyên gia giỏi ở các lĩnh vực đang có nhu cầu giám định tư pháp tăng cao tham gia vào hoạt động giám định tư pháp theo cơ chế cung cấp dịch vụ thì Bộ Tư pháp cần nghiên cứu, xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ Quyết định phê duyệt Đề án đẩy mạnh xã hội hóa giám định tư pháp sao cho bảo đảm điều kiện để thực hiện xã hội hóa được các lĩnh vực này trên thực tế.
Về cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện phục vụ giám định, Bộ Công an, Bộ Y tế, Bộ Quốc phòng cần nghiên cứu, kiến nghị các giải pháp sử dụng nguồn ngân sách Trung ương đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện phục vụ giám định cho tổ chức giám định tư pháp công lập trong lĩnh vực Bộ mình quản lý. Đồng thời, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cũng có các giải pháp sử dụng ngân sách để đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho Trung tâm pháp y tại địa phương mình.
Nhóm nhiệm vụ thứ ba tập trung vào việc tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về giám định tư pháp. Để thực hiện nhiệm vụ này, mỗi Bộ, cơ quan ngang Bộ cần có giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước của Bộ mình và giữa các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng với nhau cần nâng cao cơ chế phối hợp sao cho chặt chẽ, hiệu quả.
Vì vậy, về phía từng Bộ, cơ quan ngang Bộ, trong năm 2018 cần đổi mới quy trình rà soát lập và công bố danh sách người làm giám định tư pháp theo vụ việc đảm bảo chính xách, thuận lợi trong hoạt động trưng cầu giám định. Đồng thời, cần hoàn thiện chính sách đãi ngộ, thu hút nhân lực làm giám định tư pháp. Bộ Tư pháp với tư cách là cơ quan giúp Chính phủ quản lý chung về giám định tư pháp sẽ chủ trì nghiên cứu trình Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung Quyết định số 01/2014/QĐ-TTg về chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp cho phù hợp với thực tế. Riêng Bộ Y tế với đặc thù quản lý đội ngũ giám định viên pháp y, pháp y tâm thần đang đứng trước thực trạng thiếu hụt nhân lực trầm trọng thì cần khẩn trương nghiên cứu, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành các chế độ đặc thù cho nhóm đối tượng này như chế độ trực, chế độ phụ cấp thâm niên và việc kéo dài thời gian công tác. Bên cạnh đó, hằng năm, các Bộ, cơ quan ngang Bộ cần phải tăng cường kiểm tra, thanh tra tình hình tổ chức, hoạt động giám định tư pháp, việc thực hiện nhiệm vụ của các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan tiến hành tố tụng về giám định tư pháp.
Đối với việc nâng cao cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước với nhau cũng như giữa cơ quan quản lý nhà nước với cơ quan tiến hành tố tụng thì Viện kiểm sát nhân dân tối cao được giao trong năm 2018 chủ trì, phối hợp với Ban Nội chính Trung ương, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao và các cơ quan có liên quan để nghiên cứu, trình Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng thành lập Tổ tư vấn liên ngành về công tác giám định tư pháp để kịp thời tham mưu các giải pháp tháo gỡ vướng mắc, khó khăn về giám định tư pháp trong quá trình chỉ đạo, giải quyết các vụ án tham nhũng. Bộ Tư pháp chủ trì ban hành Quy chế phối hợp liên ngành giữa Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao. Bộ Công an chủ trì ban hành Quy chế phối hợp giữa cơ qua trưng cầu giám định với cơ quan, tổ chức được trưng cầu và thực hiện giám định. Hai Quy chế phối hợp này cũng phải được ban hành trong năm 2018. Giải pháp cuối cùng trong nhóm nhiệm vụ này là tổ chức họp giao ban liên ngành định kỳ hằng năm để thông tin, đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ của các bộ, ngành, địa phương và kịp thời tháo gỡ các vướng mắc, khó khăn về giám định tư pháp.
3. Yêu cầu đặt ra với các Bộ, ngành, địa phương trong quá trình triển khai Đề án 250
Để bảo đảm thực thi các nhiệm vụ và giải pháp của Đề án 250, yêu cầu đầu tiên đặt ra đối với các Bộ, ngành, địa phương là cần khẩn trương triển khai, có kế hoạch thực hiện Đề án tại Bộ, ngành, địa phương mình; trong đó, cần xác định rõ nhiệm vụ cần thực hiện, thời hạn hoàn thành. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố cũng khẩn trương tổ chức quán triệt, xây dựng Kế hoạch triển khai Đề án, phân công nhiệm vụ cụ thể cho các Sở, ngành ở địa phương mình. Để bảo đảm điều kiện kinh phí thực hiện các nhiệm vụ được giao, các Bộ, ngành, địa phương cần xây dựng dự toán để gửi cấp có thẩm quyền phê duyệt. Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan hướng dẫn việc lập dự toán, quản lý và sử dụng kinh phí để bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ, hoạt động của Đề án.
Các Bộ, ngành, địa phương cần tiếp tục củng cố, kiện toàn, bảo đảm điều kiện và nâng cao chất lượng hoạt động của Ban Chỉ đạo và Tổ thư ký giúp việc Ban Chỉ đạo thực hiện Đề án ở cấp Trung ương và các địa phương. Trước hết, các Bộ, ngành, địa phương phải rà soát lại danh sách Ban Chỉ đạo Đề án, lựa chọn những người có năng lực, trách nhiệm, tâm huyết, thực sự là đại diện của các cơ quan, đơn vị chức năng để giúp Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc triển khai thực hiện Đề án. Đồng thời, cần đổi mới cách thức, chất lượng các cuộc họp của Ban Chỉ đạo để thực hiện hiệu quả, kịp thời, đầy đủ các nhiệm vụ, giải pháp của Đề án.
Cuối cùng, các Bộ, ngành có trách nhiệm hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc việc triển khai thực hiện Đề án ở ngành, lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý. Bộ Tư pháp có trách nhiệm làm đầu mối hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc việc triển khai thực hiện Đề án. Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ tăng cường chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, cơ quan có liên quan để tiến hành kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ được giao của Bộ, ngành, địa phương./.
                                                  ​Vân Anh - Cục Bổ trợ tư pháp, Bộ Tư pháp

​(Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp (www.moj.gov.vn)​)

Thông tinFalseNguyễn Thị Vân Anh
Danh sách cá nhân, tổ chức Giám định tư pháp trên địa bàn tỉnh Bình Dương năm 2017TinDanh sách cá nhân, tổ chức Giám định tư pháp trên địa bàn tỉnh Bình Dương năm 2017/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
1/26/2018 3:00 PMNoĐã ban hành
Danh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
 Tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư phápTin Tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
5/7/2017 9:00 PMNoĐã ban hành

27/04/2017

1.jpg

Sáng 26/4, Bộ Tư pháp đã tổ chức tọa đàm về Đề án "Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp" đến năm 2022. Cục trưởng Cục Bổ trợ tư pháp Đỗ Hoàng Yến chủ trì Tọa đàm.

Phát biểu khai mạc Tọa đàm, bà Đỗ Hoàng Yến cho biết: Đề án "Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp" được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 258/QĐ-TTg ngày 11/02/2010 (Đề án 258) đã tạo ra bước đột phá trong hoạt động giám định tư pháp. Sau 05 năm triển khai, Đề án 258 đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên, nhiều nhiệm vụ quan trọng của Đề án 258 đang được các Bộ, ngành và địa phương triển khai, thực hiện như tăng cường cơ sở vật chất, đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng hoạt động giám định tư pháp, phối hợp liên ngành… cần phải tiếp tục thực hiện trong nhiều năm mới thì mới đạt kết quả và phát huy tác dụng trên thực tế.

2.jpg3.jpg

Vì vậy, tại Hội nghị trực tuyến tổng kết 05 năm thực hiện Đề án 258, Phó Thủ tướng Chính phủ Trương Hòa Bình đã chỉ đạo giao cho Bộ Tư pháp dự thảo Quyết định về việc tiếp tục thực hiện và điều chỉnh bổ sung các nhiệm vụ, giải pháp của Đề án "Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp" đến năm 2020 gắn với cải cách tư pháp và thực hiện Luật giám định tư pháp.
Mục tiêu tổng quát của Đề án là tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động và quản lý giám định tư pháp nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ, căn bản về chất lượng và hiệu quả hoạt động giám định tư pháp, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của hoạt động tố tụng, góp phần vào việc nâng cao chất lượng của hoạt động tố tụng, phòng chống tham nhũng, giúp giải quyết các vụ án được chính xác, khách quan, đúng pháp luật, góp phần đảm bảo công lý, công bằng xã hội; đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu của tổ chức, cá nhân ngoài hoạt động tố tụng, góp phần ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

4.jpg5.jpg

Tại tọa đàm, các đại biểu đã tập trung thảo luận về thời gian thực hiện Đề án, vì trước đó đã có nhiều ý kiến cho rằng nếu chỉ thực hiện đến năm 2020 thì thời gian thực tế triển khai là quá ngắn, cần kéo dài đến năm 2022. Những nội dung khác cũng được quan tâm trao đổi là hạn chế, vướng mắc trong thực hiện Đề án thời gian qua; những nhiệm vụ, giải pháp mà Đề án cần tập trung thực hiện trong giai đoạn tiếp theo đến năm 2022...

P.V

(Trích nguồn từ moj.gov.vn)

 

 

Thông tinFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
 Cục Bổ trợ tư pháp – Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 19/QĐ-BTTP về việc Ban hành tài liệu Bồi dưỡng kiến thức pháp lý về giám định tư phápTin Cục Bổ trợ tư pháp – Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 19/QĐ-BTTP về việc Ban hành tài liệu Bồi dưỡng kiến thức pháp lý về giám định tư pháp/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
4/15/2017 10:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 12/4/2017, Cục Bổ trợ tư pháp – Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 19/QĐ-BTTP về việc Ban hành tài liệu Bồi dưỡng kiến thức pháp lý về giám định tư pháp, Quyết định ban hành kèm theo Phụ lục tài liệu. Tài liệu bao gồm các nội dung gồm hai phần. Phần thứ nhất là Quy định pháp luật về giám định tư pháp, gồm có 8 chương, cụ thể: Chương I. Những vấn đề pháp lý chung, Chương II. Người giám định tư pháp; Chương III. Tổ chức giám định tư pháp , Chương IV. Nguyên tắc thực hiện giám định tư pháp, và các hành vi bị nghiêm cấm, Chương V. Vai trò của hoạt động giám định tư pháp đối với hoạt động tố tụng; quyền và nghĩa vụ của người giám định tư pháp khi thực hiện giám định, Chương VI. Các hình thức giám định tư pháp và việc trưng cầu, yêu cầu giám định tư pháp; đánh giá, sử dụng Kết luận giám định tư pháp, Chương VII. Chi phí giám định tư pháp, chế độ, chính sách trong hoạt động giám định tư pháp, Chương VIII. Quản lý nhà nước về giám định tư pháp. Phần thứ hai là Một số kỹ năng pháp lý cơ bản cần thiết của người giám định tư pháp. Ngoài ra tài liệu còn gợi ý một số câu hỏi thảo luận sau khi kết thúc chương trình bồi dưỡng.

Tài liệu bồi dưỡng kiến thức pháp lý về giám định tư pháp được ban hành là cơ sở pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho cho việc tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ pháp lý cho giám định viên tư pháp trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới.

Vân Anh

Thông tinFalseNguyễn Thị Vân Anh
Luật Giám định tư pháp năm 2012TinLuật Giám định tư pháp năm 2012/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/30/2016 1:00 PMNoĐã ban hành
Văn bản Quy phạm Pháp luậtFalseNguyễn Thị Vân Anh
Hội nghị trực tuyến tổng kết đề án "Đổi mới và nâng cao hoạt động giám định Tư pháp"TinHội nghị trực tuyến tổng kết đề án "Đổi mới và nâng cao hoạt động giám định Tư pháp"/bo-tro-tu-phap/PublishingImages/2016-12/vananh1_Key_05122016100208.jpg
12/5/2016 11:00 AMNoĐã ban hành
      Ngày 25/11/2016, Chính phủ tổ chức Hội nghị trực tuyến toàn quốc Tổng kết Đề án "Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp" (gọi tắt Đề án 258). Đồng chí Trương Hòa Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng thường trực Chính phủ, Trưởng ban chỉ đạo Đề án chủ trì hội nghị, với sự tham dự của các đại biểu tại 63 điểm cầu trên cả nước. Tại điểm cầu Bình Dương, dự hội nghị có đồng chí Đặng Minh Hưng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh và đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành liên quan.
vananh1.jpg 

      Qua Báo cáo kết quả 5 năm thực hiện Đề án, cho thấy Đề án 258 đã tạo những chuyển biến sâu sắc nhận thức của lãnh đạo các bộ, ngành, UBND cấp tỉnh và cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân về vị trí, vai trò quan trọng của hoạt động GĐTP trong hoạt động tố tụng cũng như đáp ứng yêu cầu của cá nhân, tổ chức. Hầu hết các nhiệm vụ, giải pháp của Đề án được các bộ, ngành và địa phương thực hiện, đã và đang tạo ra sự phát triển có tính bước ngoặt về tổ chức hoạt động và quản lý giám định tư pháp, nâng cao chất lượng của hoạt động giám định tư pháp, phục vụ đắc lực, hiệu quả cho hoạt động điều tra, truy tố và xét xử trước yêu cầu ngày càng cao của cải cách tư pháp; đáp ứng yêu cầu giám định của cá nhân, tổ chức trong các quan hệ dân sự, hành chính. Việc tiếp nhận trưng cầu, yêu cầu giám định được các tổ chức, cơ quan giám định thực hiện nhanh gọn, đảm bảo phù hợp nội dung cần giám định.

      Tại Hội nghị, đại diện các bộ, ngành Trung ương và địa phương đã phân tích những thuận lợi và khó khăn, những kinh nghiệm thực tiễn trong việc thực hiện Đề án. Đồng thời, đề xuất, kiến nghị để tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám định tư pháp trong thời gian tới.

vananh2.jpg 


      Cũng trong Hội Nghị, Bộ Tư pháp cũng đã công bố Quyết định tặng Bằng khen cho các tập thể, cá nhân đã có thành tích xuất sắc thực hiện Đề án "Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động Giám định tư pháp". Trong đó, tập thể Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương được vinh dự tặng bằng khen.

      Ghi nhận những ý kiến của các bộ, ngành địa phương và để công tác GĐTP trong thời gian tới hiệu quả hơn nữa, Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình giao Bộ Tư pháp căn cứ kết quả của hội nghị, xây dựng báo cáo trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định về việc tiếp tục thực hiện Đề án 258 đến năm 2020 gắn với cải cách tư pháp và thực hiện Luật GĐTP. Đồng thời đề nghị các bộ, ngành địa phương liên quan chỉ đạo tháo gỡ ngay các vướng mắc về giám định trong các vụ án tham nhũng, kinh tế để nâng cao hiệu quả phòng chống tham nhũng. Người đứng đầu bộ ngành cần quan tâm, đôn đốc, theo dõi, kiểm tra đảm bảo tốt việc GĐTP ở nơi mình quản lý, cần chỉ rõ lý do giám định chậm trễ, những trường hợp từ chối, né tránh giám định./.

Vân Anh – Phòng Bổ trợ tư pháp

 

Thông tinFalseNguyễn Thị Vân Anh
Hướng dẫn về việc thẩm định hồ sơ đề nghị bổ nhiệm giám định viên tư phápTinHướng dẫn về việc thẩm định hồ sơ đề nghị bổ nhiệm giám định viên tư pháp/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/5/2016 11:00 AMNoĐã ban hành

Trong thời gian qua, Cục Bổ trợ tư pháp nhận được ý kiến phản ánh khó khăn, vướng mắc trong quá trình thẩm định hồ sơ đề nghị bổ nhiệm giám định viên tư pháp của một số địa phương, Cục Bổ trợ tư pháp có ý kiến cụ thể như sau:

    1. Về vấn đề xác định lĩnh vực chuyên môn của người được đề nghị bổ nhiệm giám định viên tư pháp

Luật giám định tư pháp không quy định cụ thể tiêu chuẩn của từng lĩnh vực giám định mà giao trách nhiệm cho Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quy định chi tiết về tiêu chuẩn giám định viên tư pháp phù hợp với từng lĩnh vực chuyên môn do Bộ, cơ quan ngang bộ quản lý (khoản 3 Điều 7 Luật giám định tư pháp). Tuy nhiên, thực tiễn hướng dẫn thi hành Luật giám định tư pháp hiện chỉ có Bộ Công an (Thông tư số 33/2014/TT-BCA ngày 5/8/2014), Bộ Y tế (Thông tư số 02/2014/TT-BYT ngày 15/01/2014) hướng dẫn rõ tiêu chuẩn đối với từng lĩnh vực giám định thuộc lĩnh vực quản lý, các Bộ, cơ quan ngang bộ khác chưa có quy định hướng dẫn cụ thể về vấn đề này.

Vì vậy, đề nghị Sở Tư pháp căn cứ điểm b khoản 1 Điều 7 Luật giám định tư pháp về tiêu chuẩn bổ nhiệm giám định viên tư pháp quy định: "có trình độ đại học trở lên và đã qua thực tế hoạt động chuyên môn ở lĩnh vực được đào tạo từ đủ 05 năm trở lên" và khoản 2 Điều 8 Luật giám định tư pháp quy định về hồ sơ đề nghị bổ nhiệm giám định viên tư pháp quy định: "Bản sao bằng tốt nghiệp đại học trở lên phù hợp với lĩnh vực chuyên môn được đề nghị bổ nhiệm" để xác định lĩnh vực giám định của người được đề nghị bổ nhiệm giám định viên tư pháp.

2. Các trường hợp cụ thể

a) Đối với người có bằng tốt nghiệp Đại học Bách khoa, chuyên ngành kỹ thuật xây dựng được Sở Kế hoạch và Đầu tư đề nghị bổ nhiệm giám định viên tư pháp ở lĩnh vực kế hoạch và đầu tư chuyên về kỹ thuật xây dựng là phù hợp quy định pháp luật.

b) Đối với trường hợp thuộc các lĩnh vực khác mà chưa được Bộ, cơ quan ngang bộ hướng dẫn cụ thể về lĩnh vực giám định nêu tại điểm 2, điểm 3 Công văn số 1668/STP-BTTP ngày 03 tháng 10 năm 2016 của Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh, đề nghị Sở Tư pháp vận dụng như hướng dẫn tại điểm 1 Công văn này./.​
CV hướng dẫn thẩm định hồ sơ đề nghị bổ nhiệm giám định viên tư pháp.doc

​Trích nguồn: Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp.

Hướng dẫn nghiệp vụFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Nghị định số 85/NĐ- CP ngày 28/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Giám định tư phápTinNghị định số 85/NĐ- CP ngày 28/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Giám định tư pháp/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
11/15/2016 11:00 AMNoĐã ban hành
Văn bản Quy phạm Pháp luậtFalseNguyễn Thị Vân Anh
DANH SÁCH CÁ NHÂN, TỔ CHỨC GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG NĂM 2015 TinDANH SÁCH CÁ NHÂN, TỔ CHỨC GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG NĂM 2015 /Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Cập nhật vào ngày 30/11 hàng năm
10/18/2016 11:00 AMNoĐã ban hành
Danh sáchFalseNguyễn Thị Vân Anh
PHỤ LỤC BÁO CÁO ĐỘI NGŨ NGƯỜI, TỔ CHỨC GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁPPHỤ LỤC BÁO CÁO ĐỘI NGŨ NGƯỜI, TỔ CHỨC GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
11/24/2015 9:01 AMNoĐã ban hành
Để kịp thời tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh công bố danh sách người giám định tư pháp theo vụ việc, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc trên địa bàn tỉnh năm 2015 theo quy định tại Điều 9, Điều 20 Luật Giám định tư pháp, Điều 23 Nghị định 85/2013/NĐ-CP ngày 29/7/2013 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Giám định tư pháp, Sở Tư pháp đề nghị các sở, ngành tiến hành rà soát đội ngũ người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc thuộc lĩnh vực quản lý; lập danh sách theo Phụ lục đính kèm.
Báo cáo gửi về Sở Tư pháp trước ngày 30/11/2015; đồng thời gửi kèm 01 bản điện tử theo địa chỉ mail: phongbotrotuphap.stpbd@gmail.com;
Điện thoại liên hệ: 06503.822.881 (Phòng Bổ trợ tư pháp-Sở Tư pháp).
Tải  Phụ lục báo cáo TẠI ĐÂY.
Danh sáchFalse
Kiện toàn Ban chỉ đạo thực hiện Đề án “Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp” trên địa bàn tỉnh Bình DươngKiện toàn Ban chỉ đạo thực hiện Đề án “Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp” trên địa bàn tỉnh Bình Dương/DataOld2//PublishingImages/CMS/2015_03/1.jpg
3/12/2015 9:50 AMNoĐã ban hành

Ngày 03/3/2015, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 490/QĐ-UBND về việc kiện toàn Ban Chỉ đạo thực hiện Đề án “Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp” trên địa bàn tỉnh Bình Dương.


 
Ban Chỉ đạo gồm có 14 thành viên, trong đó, ông Võ Văn Minh - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh làm Trưởng ban, ông Nguyễn Quốc Cường - Phó Giám đốc Sở Tư pháp
làm Phó Trưởng ban thường trực. Các thành viên khác là đại diện của Sở Nội vụ, Sở Y tế, Sở Xây dựng, Sở Tài chính, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Công thương, Sở Khoa học và Công nghệ; Tòa án nhân dân tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, Công an tỉnh, Cục Thuế tỉnh và Ban pháp chế Hội đồng nhân dân tỉnh. Ban Chỉ đạo có nhiệm vụ tổ chức, phối hợp với các sở, ngành triển khai Đề án “Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp”; hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, đánh giá việc tổ chức triển khai thực hiện Đề án; tổng hợp và định kỳ 06 tháng, năm báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh về tình hình thực hiện Đề án.
Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký và thay thế Quyết định số 1627/QĐ-UBND ngày 18/6/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện Đề án “Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp” trên địa bàn tỉnh Bình Dương./.
Hà Chi - Phòng Bổ trợ Tư pháp.
 
 
 
 
 
 
Tin ngành tư pháp; Thông tinFalse
Thành lập Trung tâm pháp y tỉnh Bình DươngThành lập Trung tâm pháp y tỉnh Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
1/27/2015 4:34 AMNoĐã ban hành
Thành lập Trung tâm pháp y tỉnh Bình Dương

Thực hiện Luật Giám định tư pháp, Nghị định số 85/2013/NĐ-CP ngày 29/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Giám định tư pháp; nhằm củng cố tổ chức bộ máy, năng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của các tổ chức giám định tư pháp công lập UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 4455/QĐ-UBND ngày 30/12/2014 thành lập Trung tâm pháp y tỉnh Bình Dương.
Trung tâm pháp y tỉnh Bình Dương được thành lập trên cơ sở tách lĩnh vực công tác giám định pháp y của Trung tâm giám định Y khoa-Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Bình Dương (Trung tâm có trụ sở có trụ sở làm việc tại: số 211 đường Yersin, phường Phú Cường, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương). Trung tâm là đơn vị sự nghiệp công lập. Trung tâm trực thuộc và chịu sự quản lý, chỉ đạo của Sở Y tế và chịu sự chỉ đạo về chuyên môn lĩnh vực pháp y của Viện pháp y Quốc gia thuộc Bộ Y tế.
Trung tâm có tư cách pháp nhân, được sử dụng con dấu riêng và được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước để hoạt động. Trung tâm thực hiện giám định pháp y theo quy định của pháp luật tố tụng và Luật Giám định tư pháp.
Trung tâm có Giám đốc, 01 Phó Giám đốc và các chuyên viên. Chức vụ giám đốc, Phó giám đốc do Giám đốc Sở Y tế bổ nhiệm./. 
Tin ngành tư pháp; Thông tinFalse
Một số kết quả đạt được trong việc thực hiện Đề án “Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp” và Luật Giám định tư pháp trên  địa bàn tỉnh Bình Dương năm 20141;#TinMột số kết quả đạt được trong việc thực hiện Đề án “Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp” và Luật Giám định tư pháp trên  địa bàn tỉnh Bình Dương năm 2014/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
1/22/2015 10:40 AMNoĐã ban hành
Một số kết quả đạt được trong việc thực hiện Đề án “Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp” và Luật Giám định tư pháp trên địa bàn tỉnh Bình Dương năm 2014
 

Thứ nhất, về công quán triệt, phổ biến Luật Giám định tư pháp và các văn bản hướng dẫn thi hành
Nhằm tuyên truyền, phổ biến Luật Giám định tư pháp đến cán bộ, công chức, các tầng lớp nhân dân, Sở Tư pháp đã thường xuyên phổ biến quy định của Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành trên các phương tiện thông tin đại chúng như: đăng Web site của Sở Tư pháp và Báo Bình Dương về những nội dung cơ bản của Luật Giám định tư pháp; phối hợp với Đài Phát thanh Truyền hình tỉnh thực hiện chuyên mục “Pháp luật và cuộc sống”. Ngoài ra, Sở Tư pháp chủ trì phối hợp với cơ quan tiến hành tố tụng và các sở, ngành có liên quan tổ chức Hội thảo “Trao đổi, rút kinh nghiệm trong hoạt động giám định tư pháp” trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Qua đó, đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp.
Thứ hai, về củng cố tổ chức bộ máy, năng lực, hiệu quả hoạt động của các tổ chức giám định tư pháp
Năm 2014, trên địa bàn tỉnh có 02 tổ chức giám định tư pháp, gồm: Trung tâm Giám định Y khoa-Pháp y thuộc Sở Y tế và Phòng Kỹ thuật hình sự thuộc Công an tỉnh.
Trung tâm Giám định Y khoa-Pháp y có Giám đốc, Phó giám đốc và các nhân viên. Biên chế của của Trung tâm là 23 người, trong đo có 04 giám định viên chuyên trách, 19 nhân viên; ngoài ra, còn có 31 giám định viên kiêm nhiệm (đang làm việc tại Bệnh viện đa khoa tỉnh) thực hiện công tác giám định pháp y
Ngày 30/12/2014, Ủy ban nhân dân tỉnh đã có Quyết định số 4455/QĐ-UBND thành lập Trung tâm pháp y tỉnh Bình Dương theo quy định của Luật Giám định tư pháp.
Phòng Kỹ thuật hình sự hiện nay có 25 đồng chí, trong đó có 08 giám định viên, các giám định viên đều đáp ứng trình độ theo quy định pháp luật.
Thứ ba, về cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện phục vụ cho công tác giám định
Trang thiết bị, phương tiện phục vụ cho công tác giám định được các ngành quan tâm và đầu tư, cơ bản đáp ứng kịp thời các trưng cầu giám định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và yêu cầu của cá nhân, tổ chức.
Trung tâm Giám định Y khoa-Pháp y được trang bị các trang thiết bị, phương tiện cần thiết phục vụ cho công tác giám định.
 Phòng Kỹ thuật hình sự được UBND tỉnh đầu tư một số thiệt bị hiện đại phục vụ cho công tác giám định như: 01 máy sắc ký khí phối phổi dùng giám định ma túy và hợp chất hữu cơ, 01 máy sắc ký hồng ngoại, 01 máy UV, 01 kính hiển vi kim tương phục vụ giám định cháy, va ly giám định pháp y tử thi.
Thứ tư, về đội ngũ giám định viên tư pháp
Số lượng giám định viên tư pháp trên địa bàn tỉnh hiện là 107 người (trong đó có 19 giám định viên đã nghỉ hưu hoặc chuyển làm công tác khác nhưng chưa làm thủ tục miễn nhiệm giám định viên tư pháp), hiện số lượng giám định viên đang làm việc tại các tổ chức giám định và các sở, ngành là 88, trong đó: đối với lĩnh vực pháp y có 37 giám định viên; đối với lĩnh vực kỹ thuật hình sự có 08 giám định viên; các lĩnh vực khác có 43 giám định viên.
So với năm 2010, số lượng giám định viên tư pháp trên địa bàn tỉnh tăng lên 21 người, tuy nhiên từ khi Luật Giám định tư pháp có hiệu lực đến nay chỉ có 02 giám định viên thuộc lĩnh vực kỹ thuật hình sự được bổ nhiệm; độ tuổi trung bình của các giám định viên là 48,5 tuổi. Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh hiện có 04 người giám định tư pháp theo vụ việc thuộc lĩnh vực tài liệu (trước năm 2010 không có).
Danh sách giám định viên tư pháp và người giám định tư pháp theo vụ việc trên địa bàn tỉnh Bình Dương được công bố theo đúng quy định.
Thứ năm, về chế độ, chính sách để thu hút chuyên gia, tổ chức có năng lực tham gia hoạt động giám định tư pháp
Nhằm để thu hút chuyên gia, tổ chức có năng lực tham gia hoạt động giám định tư pháp, Sở Tư pháp đã tham mưu UBND tỉnh trình HĐND tỉnh thông qua kỳ họp cuối năm Nghị quyết về chế độ hỗ trợ cho đội ngũ giám định viên tư pháp và người làm công tác giám giám định trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Vừa qua, tại kỳ họp lần thứ 13-HĐND tỉnh khóa VIII đã thông qua Nghị quyết số 35/2014/NQ-HĐDN ngày 10/12/2014 về chế độ hỗ trợ công tác giám định pháp y, tâm thần, kỹ thuật hình sự trên địa bàn tỉnh Bình Dương và Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 65/2014/QĐ-UBND ngày 22/12/2014 quy định về chế độ hỗ trợ công tác giám định pháp y, tâm thần, kỹ thuật hình sự trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Chế độ này sẽ được thực hiện vào ngày 01/7/2015.
Thứ sáu, về hoạt động giám định tư pháp
Trong năm 2014, các tổ chức giám định tư pháp và các giám định viên tư pháp đã thực hiện 1.825 vụ giám định, trong đó: theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng là 1.781 vụ (gồm: Pháp y: 803 vụ (592 tử thi); Kỹ thuật hình sự: 969 vụ; khác 09 vụ) và theo yêu cầu của đương sự là 44 vụ.
Nhìn chung, công tác phổ biến, triển khai Đề án “Đổi mới và nâng cao hiệu quả giám định tư pháp” và Luật Giám định tư pháp đã được Sở Tư pháp và các sở, ngành chuyên môn quan tâm và tích cực tuyên truyền, phổ biến sâu, rộng đến các cơ quan, tổ chức, cá nhân bằng nhiều hình thức. Đến nay, nhiều sở, ngành đã có Giám định viên tư pháp, tạo một bước chuyển biến trong nhận thức của các ngành, các cấp, các tổ chức, cá nhân về vị trí vi trò và nội dung giám định tư pháp; Hầu hết lãnh đạo các ngành, các cấp và đặc biệt là các cơ quan tiến hành tố tụng ở địa phương đều rất quan tâm và xem trọng công tác giám định, mối quan hệ tốt giữa các cơ quan tiến hành tố tụng ở địa phương đã góp phần vào việc xác định nguyên nhân và thủ phạm gây án, chứng cứ buộc tội, gỡ tội trong các vụ án. Ban chỉ đạo thực hiện Đề án được tổ chức họp định kỳ qua đó đã kịp thời chỉ đạo thực hiện các nội dung theo kế hoạch đề ra và giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong việc triển khai thực hiện tại địa phương.
Các công tác như: rà soát, thống kê số lượng giám định viên tư pháp trên địa bàn tỉnh; lựa chọn người bổ nhiệm làm giám định viên hoặc lập danh sách những người giám định theo vụ việc; công bố danh sách giám định viên tư pháp trên địa bàn tỉnh được các sở, ngành có liên quan tích cực thực hiện.
Hoạt động giám định tư pháp luôn nhận được sự quan tâm một số lãnh đạo Sở chuyên môn quản lý về lĩnh vực giám định tư pháp như: Sở Y tế, Công an tỉnh, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch, Sở Giao thông-Vận tải, qua đó, giúp công tác triển khai Luật Giám định tư pháp, quy định của pháp luật về giám định tư pháp và Đề án “Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp” trên địa bàn tỉnh được hiệu quả hơn./.
Tin ngành tư pháp
Luật giám định tư pháp đang dần dần đi vào cuộc sống1;#TinLuật giám định tư pháp đang dần dần đi vào cuộc sống/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
1/20/2015 2:04 AMNoĐã ban hành
Luật Giám định tư pháp đang dần dần đi vào cuộc sống
Luật Giám định tư pháp được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2012 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2013 (Luật) với nhiều quy định mới so với Pháp lệnh Giám định tư pháp trước đây. Để các quy định của Luật được thực hiện có hiệu quả trên thực tế, trong thời gian qua, cùng với việc phổ biến, tuyên truyền các nội dung của Luật, Chính phủ, các bộ, ngành đã đẩy mạnh việc xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành đã được giao trong Luật.
Đến nay, đã có nhiều văn bản hướng dẫn Luật Giám định tư pháp ở các lĩnh vực khác nhau được ban hành, cụ thể là: Chính phủ đã ban hành Nghị định số 85/2013/NĐ-CP ngày 29/7/2013 quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Giám định tư pháp (Nghị định số 85/2013/NĐ-CP); Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 01/2014/QĐ-TTg ngày 01/01/2014 về chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp. Các bộ, ngành đã ban hành được 14 quyết định, thông tư, trong số đó, đáng chú ý là việc Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 20/TT-BYT ngày 12/6/2014 về Bảng tỷ lệ tổn hại cơ thể trong giám định pháp y. Việc ban hành Thông tư số 20/TT-BYT với quy định khá đầy đủ các loại hình tổn thương cơ thể dành riêng cho giám định pháp y sẽ góp phần giải quyết cơ bản khó khăn, vướng mắc của hoạt động giám định pháp y đã tồn tại trong thời gian dài. Nhiều văn bản hướng dẫn Luật Giám định tư pháp được ban hành trong thời gian qua đã tạo điều kiện thuận lợi cho người giám định tư pháp khi thực hiện giám định, cũng như cơ quan tiến hành tố tụng trong việc xem xét, đánh giá kết luận giám định tư pháp và các cơ quan có liên quan trong quản lý nhà nước về giám định tư pháp.
Sau 02 năm kể từ ngày được ban hành, với sự quan tâm của các bộ, ngành và địa phương, các tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc triển khai thực hiện, các quy định của Luật Giám định tư pháp đang dần đi vào cuộc sống, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động giám định tư pháp, phục vụ tốt hơn cho công tác điều tra, truy tố và xét xử của cơ quan tiến hành tố tụng, kết quả cụ thể là:   
Thứ nhất, về đội ngũ giám định viên tư pháp
Triển khai thi hành Luật Giám định tư pháp, với trách nhiệm được giao, các bộ, ngành địa phương đã quan tâm hơn đến việc phát triển cả về số lượng và chất lượng giám định viên tư pháp. Kể từ thời điểm Luật Giám định tư pháp có hiệu lực đến nay, số lượng giám định viên tư pháp đã tăng lên đáng kể (578 người), nâng tổng số giám định viên tư pháp trong toàn quốc hiện có lên 4.673 người. Ngoài việc quan tâm tăng cường số lượng, các bộ, ngành và địa phương cũng thường xuyên quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật và chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ giám định viên. Tất cả các giám định viên được bổ nhiệm đều đạt tiêu chuẩn tốt nghiệp đại học trở lên, có phẩm chất đạo đức, kinh nghiệm công tác, được trang bị kiến thức pháp luật cần thiết.
Thứ hai, về tổ chức giám định tư pháp 
Luật Giám định tư pháp quy định mô hình tổ chức giám định tư pháp công lập theo hướng tập trung để tăng cường đầu tư về con người, cơ sở vật chất, nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức này.
Đối với tổ chức giám định tư pháp công lập về pháp y, Luật quy định tổ chức giám định pháp y công lập ở địa phương chỉ có một hình thức tổ chức duy nhất là Trung tâm pháp y, thay vì Trung tâm pháp y hoặc Phòng giám định pháp y thuộc Bệnh viện đa khoa tỉnh. Đến nay, cả nước đã có 51/63 Trung tâm pháp y được thành lập theo quy định của Luật, tăng thêm 13 Trung tâm so với trước khi có Luật Giám định tư pháp, chỉ còn một số địa phương do có khó khăn về con người cũng như cơ sở vật chất, nên chưa thành lập được Trung tâm. Cùng với việc kiện toàn về mặt tổ chức, các địa phương cũng quan tâm đến việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phương tiện làm việc cho các Trung tâm pháp y cấp tỉnh, nên hoạt động giám định tư pháp ngày càng được nâng cao. Các Trung tâm pháp y ở một số địa phương như Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hải Phòng, Thái Bình, Bình Thuận, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Bình Định, Nghệ An, Kiên Giang…, tiếp tục được quan tâm, đầu tư về con người, cơ sở vật chất, phương tiện làm việc.
Về tổ chức giám định tư pháp công lập trong lĩnh vực pháp y tâm thần, Luật quy định theo hướng đổi mới căn bản, theo đó, Nhà nước thành lập Trung tâm pháp y tâm thần khu vực thay cho Trung tâm pháp y tâm thần tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Quy định này để thu gọn đầu mối, tập trung nguồn lực và phù hợp với thực tế về nhu cầu giám định pháp y tâm thần. Đến nay, Bộ Y tế đã tổ chức khảo sát ở các địa phương dự kiến đặt Trung tâm và đang hoàn thiện Đề án thành lập Trung tâm pháp y tâm thần khu vực để các Trung tâm này sớm đi vào hoạt động theo quy định của Luật và Nghị định số 85/2013/NĐ-CP.
Bên cạnh đó, Phòng kỹ thuật hình sự thuộc Công an tỉnh tiếp tục được Bộ Công an quan tâm kiện toàn cơ cấu tổ chức, điều kiện cơ sở vật chất cơ bản đảm bảo hoạt động ổn định. Hầu hết các Phòng kỹ thuật hình sự được giao diện tích làm trụ sở và phòng làm việc riêng; phương tiện, thiết bị phục vụ hoạt động giám định cơ bản đảm bảo để thực hiện giám định theo từng chuyên ngành được Bộ Công an phân cấp. Phòng kỹ thuật hình sự thuộc Công an các địa phương như: Thái Bình, Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Thanh Hoá, Nghệ An, Khánh Hoà, Quảng Ngãi, Quảng Ninh... đã được Bộ Công an đầu tư xây dựng các phòng thí nghiệm chuyên sâu phục vụ giám định hoá pháp lý, giám định gen bằng công nghệ bán tự động.
Thứ ba, về chủ trương xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp
Để đáp ứng nhu cầu giám định tư pháp trên tất cả các lĩnh vực, nhất là các lĩnh vực chưa có tổ chức giám định tư pháp chuyên trách, Luật Giám định tư pháp quy định cụ thể về tiêu chuẩn, việc công nhận người giám định tư pháp theo vụ việc và tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc, cũng như trách nhiệm của các bộ, ngành và địa phương trong việc rà soát, lựa chọn, lập và công bố danh sách đối tượng này trong các lĩnh vực như tài chính, xây dựng, giao thông vận tải, ngân hàng để đáp ứng nhu cầu giám định tư pháp. Qua gần 02 năm triển khai thực hiện, các bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương đã công bố được 136 tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc và 736 cá nhân giám định tư pháp theo vụ việc trong các lĩnh vực xây dựng, tài chính, ngân hàng, giao thông vận tải, văn hóa v.v... Việc công bố danh sách tổ chức, cá nhân thực hiện giám định trên Trang thông tin điện tử của bộ, ngành và địa phương tạo điều kiện thuận lợi để cơ quan tiến hành tố tụng chủ động hơn trong việc trưng cầu các tổ chức, cá nhân phù hợp với yêu cầu của vụ việc giám định.
Về việc thành lập Văn phòng giám định tư pháp: Đây là một nội dung mới, mang tính cải cách đột phá trong hoạt động giám định tư pháp nhằm huy động nguồn lực xã hội vào hoạt động giám định, góp phần tháo gỡ “điểm nghẽn” về thiếu người giám định, thiếu tổ chức để trưng cầu, yêu cầu giám định trong việc giám định xây dựng, tài chính, kế toán, ngân hàng, văn hóa. Thời gian qua, đã có 01 Văn phòng giám định tư pháp được thành lập tại thành phố Hồ Chí Minh (Văn phòng giám định tư pháp Sài Gòn thực hiện giám định tư pháp trong lĩnh vực tài chính - kế toán). Văn phòng giám định tư pháp đã tiếp nhận và thực hiện các vụ việc giám định về tài chính kế toán theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng một số tỉnh, thành phố ở khu vực phía Nam.
Thứ tư, về hoạt động giám định tư pháp
Nhìn chung, việc trưng cầu, yêu cầu, tiếp nhận và thực hiện giám định tư pháp được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục được quy định trong Luật Giám định tư pháp và các văn bản pháp luật có liên quan. Các kết luận giám định tư pháp về cơ bản đáp ứng được yêu cầu về mặt thời gian, chính xác, khách quan, góp phần rất lớn giúp cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án.
Đối với loại hình giám định pháp y - là một trong hai loại hình giám định tư pháp chiếm đa số trong các vụ việc giám định, để phù hợp với điều kiện thực tiễn cũng như khoa học về pháp y, Luật quy định giám định viên pháp y thuộc Phòng kỹ thuật hình sự thuộc Công an cấp tỉnh chỉ thực hiện giám định pháp y tử thi, không thực hiện giám định pháp y về thương tích. Thực hiện quy định này, đến nay, hoạt động giám định pháp y về thương tích đã hoàn toàn do pháp y của Ngành Y tế thực hiện.
Thứ năm, về chi phí giám định tư pháp
Vấn đề phí, chi phí cần thiết cho việc trưng cầu, thực hiện giám định tư pháp đang là một trong những bất cập, làm ách tắc nhiều hoạt động giám định tư pháp, do quy định hiện hành về phí, chi phí giám định tư pháp chưa rõ ràng, dẫn đến việc chi trả các chi phí giám định không kịp thời, không tương xứng với công sức lao động bỏ ra, cũng như không bảo đảm việc khấu hao máy móc, trang thiết bị phục vụ công tác giám định tư pháp. Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân khiến nhiều tổ chức chuyên môn, doanh nghiệp từ chối thực hiện giám định tư pháp theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng. Để giải quyết vấn đề này, Luật Giám định tư pháp, Pháp lệnh Chi phí giám định, định giá; chi phí cho người làm chứng, người phiên dịch trong tố tụng và Nghị định số 81/2014/NĐ-CP ngày 14/8/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Chi phí giám định, định giá; chi phí cho người làm chứng, người phiên dịch trong tố tụng. Triển khai quy định này, hoạt động giám định tư pháp trong lĩnh vực xây dựng, giao thông vận tải đã áp dụng cách tính chi phí mới và cách tính này bước đầu được các tổ chức thực hiện giám định đánh giá là tương đối phù hợp với thực tiễn.
Thứ sáu, về chế độ, chính sách đối với hoạt động giám định tư pháp
Luật Giám định tư pháp quy định mang tính nguyên tắc những chính sách, chế độ đãi ngộ, đào tạo, bồi dưỡng và tôn vinh người làm giám định tư pháp để thu hút các chuyên gia giỏi, cán bộ có năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp tham gia hoạt động giám định tư pháp và giao cho Chính phủ quy định cụ thể. Triển khai thực hiện Luật Giám định tư pháp, Bộ Tư pháp đã tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 01/2014/QĐ-TTg ngày 01/01/2014 về chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp thay thế Quyết định số 74/2009/QĐ-TTg ngày 07/5/2009 của Thủ tướng Chính phủ, theo hướng tăng mức bồi dưỡng cho người giám định tư pháp. Đến nay, về cơ bản các bộ, ngành và địa phương đã tổ chức triển khai có hiệu quả Quyết định số 01/2014/QĐ-TTg ngày 01/01/2014 về chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp, góp phần động viên, khuyến khích rất lớn đối với người giám định tư pháp cũng như thu hút các chuyên gia giỏi tham gia vào hoạt động giám định tư pháp.
Để khuyến khích Văn phòng giám định tư pháp phát triển, Chính phủ đã quy định một số chính sách ưu đãi về thuế, đất đai, tín dụng cho Văn phòng giám định tư pháp tại Nghị định số 59/2014/NĐ-CP ngày 16/6/2014 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường. Hy vọng, với chính sách ưu đãi nêu trên, Văn phòng giám định tư pháp trong thời gian tới sẽ được phát triển hơn nữa.
Thứ bảy, về quản lý nhà nước đối với công tác giám định tư pháp
Để khắc phục tình trạng không rõ ràng và thiếu hiệu quả trong quản lý nhà nước về giám định tư pháp hiện nay, Luật quy định  theo hướng đề cao và làm rõ trách nhiệm của các bộ, ngành chủ quản, các cơ chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc thực hiện quản lý nhà nước về giám định tư pháp. Theo đó, các bộ, ngành chịu trách nhiệm trước Chính phủ về tổ chức, hoạt động giám định tư pháp thuộc lĩnh vực quản lý; đồng thời, Luật bổ sung quy định về trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng đối với hoạt động giám định tư pháp, tạo ra cơ chế cộng đồng trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước với các cơ quan tiến hành tố tụng trong hoạt động giám định tư pháp.
Thực tiễn triển khai Luật Giám định tư pháp thời gian qua cho thấy, khác với trước đây, hiện nay nhiều bộ, ngành đã quan tâm hơn đến việc ban hành các văn bản hướng dẫn Luật Giám định tư pháp; củng cố, kiện toàn tổ chức giám định tư pháp thuộc lĩnh vực quản lý; nâng cao số lượng, chất lượng đội ngũ người giám định tư pháp (Bộ Y tế, Bộ Thông tin và Truyền thông); thực hiện việc thống kê về giám định tư pháp (Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao), cá biệt, một số bộ, ngành (Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Giao thông vận tải) trước đây hầu như không quan tâm đến công tác giám định tư pháp, nhưng nay đã triển khai thực hiện các nhiệm vụ được giao trong Luật Giám định tư pháp và Nghị định số 85/2013/NĐ-CP.
Nhìn chung, qua 02 năm triển khai thực hiện Luật Giám định tư pháp, Chính phủ, các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã có nhiều nỗ lực để tổ chức thực hiện và đã đạt được những kết quả đáng kể trong công tác xây dựng thể chế, nâng cao năng lực cho các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động giám định tư pháp. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, công tác giám định tư pháp còn có một số tồn tại, hạn chế nhất định. Vì vậy, để Luật Giám định tư pháp thực sự đi vào cuộc sống, trong thời gian tới, các bộ, ngành và địa phương cần tiếp tục quan tâm đến công tác phổ biến giáo dục pháp luật về giám định tư pháp, nâng cao nhận thức về vai trò của công tác giám định tư pháp, tạo điều kiện để công tác giám định được tiến hành thuận lợi, đúng luật./.
(Nguồn tin từ Tạp chí dân chủ & pháp luật
http://www.moj.gov.vn/tcdcpl/tintuc/Lists/ThiHanhPhapLuat/View_detail.aspx?ItemID=477)
.
Tin ngành tư pháp
Một số văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực giám định tư pháp1;#TinMột số văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực giám định tư pháp/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
1/19/2015 9:31 AMNoĐã ban hành
MỘT SỐ VĂN BẢN PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN LĨNH VỰC GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP
 2. Nghị định 85/2013/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Giám định tư pháp (có hiệu lực từ ngày 15/9/2013);
3. Thông tư 04/2013/TT-BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc quy định tiêu chuẩn, hồ sơ, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên tư pháp, lập và công bố danh sách giám định viên tư pháp, người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc, thủ tục cử người tham gia giám định tư pháp và thành lập hội đồng giám định tư pháp trong lĩnh vực văn hóa (có hiệu lực từ ngày 01/7/2013);
4. Thông tư 138/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn một số nội dung của Luật Giám định tư pháp và Nghị định 85/2013/NĐ-CP ngày 29/07/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Giám định tư pháp (có hiệu lực từ ngày 01/12/2013);
5. Thông tư 24/2013/TT-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực thông tin và truyền thông (có hiệu lực từ ngày 15/02/2014);
6. Thông tư 02/2014/TT-BYT của Bộ Y tế về việc quy định tiêu chuẩn, hồ sơ, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên pháp y và giám định viên pháp y tâm thần (có hiệu lực từ ngày 01/3/2014);
7. Thông tư 04/2014/TT-BXD của Bộ Xây dựng về việc hướng dẫn một số nội dung về giám định tư pháp trong hoạt động đầu tư xây dựng (có hiệu lực từ ngày 15/6/2014);
8. Thông tư 44/2014/TT-BTTMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường (có hiệu lực từ ngày 16/9/2014);
9. Thông tư 33/2014/TT-BGTVT của Bộ Giao thông Vận tải quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực giao thông vận tải (có hiệu lực từ ngày 30/9/2014);
10. Thông tư 07/2014/TT-BKHĐT của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc hướng dẫn một số nội dung về giám định tư pháp trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư (có hiệu lực từ ngàu 15/01/2015);
11. Thông tư 35/2014/TT-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ quy định về giám định tư pháp trong hoạt động khoa học và công nghệ (có hiệu lực từ ngày 26/01/2015);
12. Thông tư 49/2014/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn (có hiệu lực từ ngày 09/02/2015);
13. Thông tư 44/2014/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc hướng dẫn một số nội dung về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng (có hiệu lực từ ngày 12/02/2015);
14. Thông tư 33/2014/TT-BCA của Bộ Công an quy định chi tiết tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên kỹ thuật hình sự;
15. Quyết định 01/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp (có hiệu lực từ ngày 15/3/2014)./.
Tin ngành tư pháp
Họp Ban Chỉ đạo thực hiện Đề án “Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp” trên địa bàn tỉnh và Ban Chỉ đạo “Thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại” tại tỉnh Bình Dương.1;#TinHọp Ban Chỉ đạo thực hiện Đề án “Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp” trên địa bàn tỉnh và Ban Chỉ đạo “Thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại” tại tỉnh Bình Dương./DataOld2//PublishingImages/CMS/2015_01/1.jpg
1/7/2015 3:34 AMNoĐã ban hành
Họp Ban Chỉ đạo thực hiện Đề án “Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp” trên địa bàn tỉnh và Ban Chỉ đạo “Thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại” tại tỉnh Bình Dương.
 
Sáng 26/12/2014, tại UBND tỉnh, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Trần Văn Nam chủ trì họp Ban chỉ đạo thực hiện Đề án “Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp” và Ban Chỉ đạo “Thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại” tại tỉnh Bình Dương.
Thực hiện Đề án “Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp” trên địa bàn tỉnh, công tác phổ biến, triển khai Đề án và Luật Giám định tư pháp đã được Sở Tư pháp và các sở, ngành chức năng quan tâm và tích cực tuyên truyền, phổ biến sâu rộng đến các cơ quan, tổ chức, cá nhân bằng nhiều hình thức. Đến nay, nhiều sở, ngành đã có giám định viên tư pháp, tạo một bước chuyển biến trong nhận thức của các ngành, các cấp, các tổ chức, cá nhân về vị trí, vai trò và nội dung giám định tư pháp. Trang thiết bị phương tiện phục vụ cho công tác giám định được các ngành quan tâm đầu tư, cơ bản đáp ứng kịp thời các trưng cầu giám định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và yêu cầu của cá nhân, tổ chức.
 
http://www.binhduong.gov.vn/data/upload_file/giam_dinh_tu_phap_revised.jpg
 
Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 107 giám định viên tư pháp
 
Tính đến thời điểm hiện nay, số lượng giám định viên tư pháp trên địa bàn tỉnh là 107 người, tăng 21 người so với năm 2010. Trong năm 2014, các tổ chức giám định tư pháp và các giám định viên tư pháp đã thực hiện 1.825 vụ giám định, trong đó theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng là 1.781 vụ, theo yêu cầu của đương sự là 44 vụ.
 
Đối với việc thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh, công tác tuyên truyền, phổ biến thí điểm Thừa phát lại được các ngành, các cấp chú trọng thực hiện, do đó người dân đã có sự hiểu biết về Thừa phát lại và yêu cầu Thừa phát lại thực hiện một số công việc theo quy định của pháp luật. Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 04 Văn phòng Thừa phát lại (thành phố Thủ Dầu Một, thị xã Thuận An, Dĩ An, Tân Uyên). Thời gian qua, các Văn phòng đã lập vi bằng 519 vụ việc, tống đạt 3.943 vụ việc, xác minh điều kiện thi hành án 57 vụ việc, nhận 06 vụ việc thi hành án. Tổng chi phí thu được của các Văn phòng Thừa phát lại khoảng hơn 1 tỷ đồng.
 
Kết luận cuộc họp, ông Trần Văn Nam - Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh đề nghị Sở Nội vụ khẩn trương tham mưu UBND tỉnh thành lập Trung tâm Giám định pháp y tỉnh; Sở Tư pháp rà soát lại nhu cầu mua sắm trang thiết bị phục vụ công tác giám định, chế độ hỗ trợ cho công tác giám định, đồng thời, phối hợp với các sở, ngành chọn người có đủ tiêu chuẩn theo quy định pháp luật đề nghị UBND tỉnh bổ nhiệm giám định viên tư pháp, sắp xếp cử cán bộ đi đào tạo để tạo nguồn bổ nhiệm giám định viên trong lĩnh vực pháp y.
 
Đối với việc thực hiện chế định Thừa phát lại, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến về việc thí điểm Thừa phát lại trong các tầng lớp nhân dân; tiếp tục kiện toàn Ban chỉ đạo thực hiện thí điểm Thừa phát lại tại Bình Dương, chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết để khi có quyết định của Bộ Tư pháp sẽ tiến hành thành lập các Văn phòng Thừa phát lại ở các địa phương còn lại.
 
Nguồn tin: http://www.binhduong.gov.vn
 
Tin ngành tư pháp
Báo cáo tình hình thực hiện chế độ bồi dưỡng cho đội ngũ giám định viên tư phápBáo cáo tình hình thực hiện chế độ bồi dưỡng cho đội ngũ giám định viên tư pháp/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/3/2014 10:09 AMNoĐã ban hành
Báo cáo tình hình
thực hiện chế độ bồi dưỡng cho đội ngũ giám định viên tư pháp
 
Thực hiện Đề án “Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp” (ban hành kèm theo Quyết định số 258/QĐ-TTg ngày 11/02/2010 của Thủ tướng Chính phủ), Kế hoạch triển khai thi hành Luật Giám định tư pháp trên địa bàn tỉnh Bình Dương (ban hành kèm theo Quyết định số 239/QĐ-UBND ngày 28/01/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh) và Quyết định số 06/QĐ-BCĐ ngày 05/3/2014 của Ban chỉ đạo về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án “Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp” trên địa bàn tỉnh năm 2014; đồng thời, căn cứ Khoản 3, Điều 38 Luật Giám định tư pháp, Sở Tư pháp có Công văn số 983/STP-XD&THPL ngày 24/9/2014 về việc đăng ký nội dung thông qua UBND tỉnh trình tại kỳ họp HĐND cuối năm 2014 và chương trình xây dựng Nghị quyết của HĐND tỉnh năm 2015, theo đó Sở Tư pháp đăng ký nội dung dự kiến thông qua UBND tỉnh trình tại kỳ họp HĐND cuối năm 2014: “Nghị quyết về chế độ hỗ trợ cho đội ngũ giám định viên tư pháp trên địa bàn tỉnh Bình Dương”.
Để có cơ sở tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh thông qua Nghị quyết về chế độ hỗ trợ cho đội ngũ giám định viên tư pháp trên địa bàn tỉnh, Sở Tư pháp có Văn bản số 1006/STP-BTTP ngày 26/9/2014 đề nghị các sở, ngành có liên quan, Phòng Kỹ thuật hình sự-Công an tỉnh và Trung tâm giám định Y khoa-Pháp y tỉnh báo cáo đánh giá tình hình thực hiện chế độ bồi dưỡng cho đội ngũ giám định viên tư pháp và đề xuất nội dung dự thảo Nghị quyết, Quyết định về chế độ hỗ trợ cho đội ngũ giám định viên tư pháp theo Đề cương hướng dẫn đính kèm Văn bản này.
Báo cáo gửi về Sở Tư pháp trước ngày 10/10/2014, đồng thời gửi kèm 01 bản điện tử theo địa chỉ email: trangnt.tp@binhduong.gov.vn
(Đính kèm Đề cương báo)

 

Phòng  BTTP
Văn bản Quy phạm Pháp luậtFalse
DANH SÁCH TỔ CHỨC GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP CÔNG LẬP,GIÁM ĐỊNH VIÊN TƯ PHÁP VÀ NGƯỜI GIÁM ĐỊNH THEO VỤ VIỆC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG1;#TinDANH SÁCH TỔ CHỨC GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP CÔNG LẬP,GIÁM ĐỊNH VIÊN TƯ PHÁP VÀ NGƯỜI GIÁM ĐỊNH THEO VỤ VIỆC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG/DataOld2//PublishingImages/CMS/file:///C:/Users/trien/AppData/Local/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image002.gif
12/2/2014 9:35 AMNoĐã ban hành
   DANH SÁCH
                     TỔ CHỨC GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP CÔNG LẬP,GIÁM ĐỊNH VIÊN TƯ PHÁP VÀ
                        NGƯỜI GIÁM ĐỊNH THEO VỤ VIỆC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG
 

 
 

STT Tên tổ chức Địa chỉ Điện thoại Website Khen thưởng, thành tích
(nếu có)
Ghi chú
01 Trung tâm Giám định Y khoa - Pháp y tỉnh Bình Dương Số 5 đường Phạm Ngọc Thạch, phường Hiệp Thành, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương 0650 3822045      
02 Phòng Kỹ thuật hình sự-Công an tỉnh Bình Dương CMT8, phường Chánh Nghĩa, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương 0650 3869219      
 

Phụ lục II
DANH SÁCH GIÁM ĐỊNH VIÊN TƯ PHÁP
(Ban hành kèm theo Báo cáo số          /BC-UBND ngày    tháng    năm 2014 của UBND tỉnh Bình Dương)
 
STT Họ và tên Sinh năm Chế độ làm việc Lĩnh vực chuyên môn
(1)
Ngày bổ nhiệm giám định viên tư pháp Khen thưởng, thành tích (nếu có) Đơn vị công tác hoặc nơi cư trú (đối với trường hợp nghỉ hưu, nghỉ việc)
Chuyên trách Kiêm nhiệm
Sở Y tế
01 Ngô Dũng Nghĩa 1962   x Pháp y 10/7/2006 Bằng khen UBND tỉnh Sở Y tế
02 Văn Quang Tân 1961   x Pháp y 28/8/2009 HCLĐ hạng ba Bệnh viện Đa khoa tỉnh
03 Hàn Khởi Quang 1955   x Pháp y 10/7/2006 HCLĐ hạng ba Bệnh viện Đa khoa tỉnh
04 Phan Thị Thu Lan 1961 x   Pháp y 28/8/2009 Bằng khen UBND tỉnh Trung tâm GĐYK-PY
05 Nguyễn Thị Tám 1961 x   Pháp y 09/5/2012 Bằng khen UBND tỉnh Trung tâm GĐYK-PY
06 Nguyễn Công Sự 1969 x   Pháp y 10/7/2006   Trung tâm GĐYK-PY
07 Thái Minh Cảnh 1969 x   Pháp y 09/5/2012   Trung tâm GĐYK-PY
08 Nguyễn Văn Chích 1966   x Pháp y 10/7/2006   Bệnh viện Đa khoa tỉnh
09 Lê Văn Cư 1963   x Pháp y 10/7/2006   Nghỉ việc
(Phú Cường, Thủ Dầu Một, Bình Dương)
10 Đặng Kim Cương 1964   x Pháp y 10/7/2006   Bệnh viện Đa khoa tỉnh
11 Phạm Đăng Cửu 1967   x Pháp y 10/7/2006   Bệnh viện Đa khoa tỉnh
12 Nguyễn Thành Đô 1975   x Pháp y 10/7/2006   Bệnh viện Đa khoa tỉnh
13 Nguyễn Văn Đông 1972   x Pháp y 09/5/2012   Bệnh viện Đa khoa tỉnh
14 Huỳnh Trần Dương Giang 1970   x Pháp y 10/7/2006   Bệnh viện Đa khoa tỉnh
15 Nguyễn Văn Giáp 1955   x Pháp y 10/7/2006   Bệnh viện Đa khoa tỉnh
16 Dương Thanh Hiền 1968   x Pháp y 09/5/2012   Bệnh viện Đa khoa tỉnh
17 Hà Quang Hiến 1962   x Pháp y 10/7/2006   Bệnh viện Đa khoa tỉnh
18 Phan Thị Hòa 1961   x Pháp y 10/7/2006   Trường Cao đẳng Y tế Bình Dương
19 Đặng Thị Thu Hương 1966   x Pháp y 10/7/2006   Bệnh viện Đa khoa tỉnh
20 Nguyễn Minh Khôi 1967   x Pháp y 10/7/2006   Bệnh viện Đa khoa tỉnh
21 Phạm Văn Long 1960   x Pháp y 10/7/2006   Bệnh viện Đa khoa tỉnh
22 Nguyễn Hùng Lực 1966   x Pháp y 10/7/2006   Bệnh viện Đa khoa tỉnh
23 Trần Thanh Nam 1967   x Pháp y 10/7/2006   Bệnh viện Đa khoa tỉnh
24 Ngô Minh Nhựt 1962   x Pháp y 10/7/2006   Bệnh viện Đa khoa tỉnh
25 Lê Duy Phong 1970   x Pháp y 10/7/2006   Bệnh viện Đa khoa tỉnh
26 Nguyễn Văn Sơn 1959   x Pháp y 10/7/2006   Bệnh viện Đa khoa tỉnh
27 Phan Thanh Thiện 1963   x Pháp y 10/7/2006   Bệnh viện Đa khoa tỉnh
28 Nguyễn Thị Bích Thu 1964   x Pháp y 10/7/2006   Bệnh viện Đa khoa tỉnh
29 Phạm Anh Tuấn 1963   x Pháp y 10/7/2006   Bệnh viện Đa khoa tỉnh
30 Huỳnh Thị Vân 1966   x Pháp y 10/7/2006   Bệnh viện Đa khoa tỉnh
31 Phạm Tân Hoàng Việt 1972   x Pháp y 10/7/2006   Bệnh viện Đa khoa tỉnh
32 Phạm Anh Vũ 1974   x Pháp y 10/7/2006   Bệnh viện Đa khoa tỉnh
33 Vũ Thanh Xuân 1958   x Pháp y 10/7/2006   Bệnh viện Đa khoa tỉnh
34 Võ Thị Gọi 1955   x Pháp y 10/7/2006   Nghỉ hưu
Phú Thứ, Phú An, Bến Cát, Bình Dương
35 Nguyễn Văn Lục 1953   x Pháp y 10/7/2006   Nghỉ hưu
(Hiệp Thành, Thủ Dầu Một, Bình Dương)
36 Trần Thị Ngọc 1956   x Pháp y 10/7/2006   Nghỉ hưu
(Phú Hòa, Thủ Dầu Một, Bình Dương)
37 Lại Ngọc Dũng 1971   x Pháp y 10/7/2006   Nghỉ việc
(Phú Cường, Thủ Dầu Một, Bình Dương)
38 Phạm Ngọc Đan 1972   x Pháp y 10/7/2006   Bệnh viện Đa khoa tỉnh
39 Nguyễn Thị Mỹ Phương 1967   x Pháp y 10/7/2006   Bệnh viện Đa khoa tỉnh
40 Dương Tấn Tài 1967   x Pháp y 28/8/2009   Bệnh viện Đa khoa tỉnh
41 Trần Thụy Vân Ngọc 1974   x Pháp y 10/7/2006   Bệnh viện Đa khoa tỉnh
42 Lê Thị Thanh Nguyên 1958   x Pháp y 10/7/2006   Nghỉ hưu
(Phú Cường, Thủ Dầu Một, Bình Dương)
43 Đào Thị Thanh Hải 1962   x Pháp y 28/8/2009   Bệnh viện Đa khoa tỉnh
44 Đinh Văn Khai 1947   x Pháp y 10/7/2006   Nghỉ hưu
(Phú Cường, Thủ Dầu Một, Bình Dương)
45 Văn Thành Hoàng Phượng 1972   x Pháp y 10/7/2006   Nghỉ việc
(Bệnh viện Hoàn Hảo 4-tỉnh Bình Dương)
46 Lê Văn Hà 1953   x Pháp y 10/7/2006   Nghỉ hưu
(Phú Lợi, Thủ Dầu Một, Bình Dương)
47 Nguyễn Văn Tiên 1966   x Pháp y 10/7/2006   Nghỉ việc
(Bệnh viện Á Châu-tỉnh Bình Dương)
48 Huỳnh Kim Thanh 1964   x Pháp y 10/7/2006   Nghỉ việc
(Bệnh viện Á Châu-tỉnh Bình Dương)
49 Từ Văn Cường 1961 x   Pháp y Chuyển công tác về Bình Dương năm 2010   Trung tâm GĐYK-PY
Công an tỉnh
50 Nguyễn Văn Nghiệp 1957 x   Kỹ thuật hình sự 28/11/2005   PC54-Công an tỉnh
51 Nguyễn Văn Quang 1960 x   Kỹ thuật hình sự 28/11/2005   PC54-Công an tỉnh
52 Lê Văn Lợi 1962 x   Pháp y 28/11/2005   PC54-Công an tỉnh
53 Trần Thanh Hoàng Hai 1975 x   Kỹ thuật hình sự 10/7/2006   PC54-Công an tỉnh
54 Trần Minh Triệu 1966 x   Kỹ thuật hình sự 28/11/2005   PC54-Công an tỉnh
55 Trương Minh Hùng 1966 x   Kỹ thuật hình sự 28/11/2005   PC54-Công an tỉnh
56 Nguyễn Bá Tòng 1970   x Kỹ thuật hình sự 28/11/2005   Chuyển công tác về Sở Cảnh sát PCCC
57 Lê Anh Tuấn 1977   x Kỹ thuật hình sự 10/7/2006   Chuyển công tác về CA thành phố Thủ Dầu Một
58 Lê Hồng Sương 1956 x   Kỹ thuật hình sự 28/11/2005   Nghỉ hưu
(Phú Mỹ, Thủ Dầu Một, Bình Dương)
59 Nguyễn Hoàng Nam 1976 x   Kỹ thuật hình sự 22/9/2014   PC54-Công an tỉnh
60 Lê Thành Vinh 1984 x   Kỹ thuật hình sự 22/7/2014   PC54-Công an tỉnh
Sở Tài chính
61 Nguyễn Khắc Hiệp 1958   x Tài chính 28/11/2005   Phòng Tài chính Đầu tư xây dựng cơ bản
62 Nguyễn Huỳnh Thành 1963   x Tài chính 28/11/2005   Phòng Giá-Công sản
63 Vương Văn Năm 1959   x Tài chính 28/11/2005   Văn phòng
64 Lê Hồng Thanh 1956   x Tài chính 28/11/2005   Thanh tra tài chính
65 Lương Thị Ánh Nghĩa 1962     Tài chính 28/11/2005   Nghỉ việc
(Phú Cường, Thủ Dầu Một, Bình Dương)
Sở Công thương
66 Nguyễn Văn Quang 1961   x Cơ khí 28/11/2005   Phòng Quản lý công nghiệp
67 Trương Thanh Nhàn 1971   x Thương mại 28/8/2009   Phòng Quản lý thương mại
68 Trần Trung Hiếu 1973   x Điện 28/11/2005   Phòng Quản lý điện năng
69 Phan Hồng Việt 1979   x Mỏ-Địa chất 28/11/2005   Phòng Kỹ thuật an toàn và Môi trường
70 Trịnh Hữu Thuận 1983   x Hóa chất 25/10/2012   Phòng Kỹ thuật an toàn và Môi trường
71 Trần Văn Tùng 1961   x Thương mại 25/10/2012   Chi cục Quản lý thị trường
72 Nguyễn Thành Danh 1961   x Thương mại 25/10/2012   Chi cục Quản lý thị trường
Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn
73 Nguyễn Thị Kim Anh 1958   x Nông lâm nghiệp 28/11/2005   Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
74 Trần Văn Nguyên 1961   x Nông lâm nghiệp 28/11/2005   Chi cục Kiểm lâm
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
75 Phạm Đắc Hiến 1956   x Văn hóa 28/11/2005   Đoàn Ca múa nhạc dân tộc
76
 
Nguyễn Văn Thủy 1960   x Văn hóa 28/11/2005   Ban Quản lý Di tích và Thắng cảnh
77 Phạm Tấn Lộc 1958   x Văn hóa 31/3/2009   Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
78 Trần Thị Đẹp 1966   x Văn hóa 02/02/2012   Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
79 Trương Văn Hùng 1960   x Văn hóa 28/11/2005   Nghỉ hưu
(Phú Hòa, Thủ Dầu Một, Bình Dương)
Sở Giao thông vận tải
80 Nguyễn Hữu Trung 1977   x Xây dựng giao thông 28/11/2005   Sở Giao thông vận tải
81 Nguyễn Chí Hiếu 1970   x Cơ khí 28/11/2005   Sở Giao thông vận tải
82 Nguyễn Văn Hữu 1964   x Cơ khí 13/12/2007   Sở Giao thông vận tải
83 Châu Văn Dũng 1980   x Giao thông 28/8/2009   Sở Giao thông vận tải
Sở Khoa học và Công nghệ
84 Trần Quốc Quý 1972   x Khoa học kỹ thuật 28/11/2005   Sở Khoa học và Công nghệ
Sở Tài nguyên và Môi trường
85 Vũ Dương Long 1960   x Tài nguyên môi trường 28/11/2005   Sở Tài nguyên và Môi trường
Sở Xây dựng
86 Trần Quốc Dũng 1961   x Xây dựng 28/11/2005   Sở Xây dựng
87 Nguyễn Thị Thanh Hảo 1965   x Xây dựng 28/11/2005   Sở Xây dựng
88 Trần Sĩ Toán 1951   x Xây dựng 28/11/2005   Nghỉ hưu
(Phú Lợi, Thủ Dầu Một,  Bình Dương)
89 Nguyễn Văn Hữu 1963   x Xây dựng 28/11/2005   Ban quản lý các KCN tỉnh
90 Hồ Trần Minh Mẫn 1974   x Xây dựng 28/11/2005   Nghỉ việc
Cục Hải quan tỉnh Bình Dương
91 Lê Hoàng Hải 1975   x Tài chính-Thuế 19/4/2006   Cục Hải quan tỉnh Bình Dương
Cục Thuế tỉnh Bình Dương
92 Huỳnh Văn Mộc 1966   x Tài chính-Thuế 04/5/2009   Phòng Kiểm tra thuế số 01
93 Phan Thanh Quyền 1961   x Tài chính-Thuế 28/11/2005   Phòng Kiểm tra thuế số 01
94 Nguyễn Ngọc Xuân 1958   x Tài chính-Thuế 06/6/2006   Phòng Kiểm tra thuế số 01
95 Lê Hữu Khương 1957   x Tài chính-Thuế 07/10/2010   Phòng Kiểm tra thuế số 02
96 Nguyễn Hoàng Thạch 1964   x Tài chính-Thuế 25/5/2012   Phòng kiểm tra nội bộ
97 Hồ Trường Duy 1981   x Tài chính-Thuế 25/5/2012    
98 Trần Mạnh Hà 1982   x Tài chính-Thuế 25/5/2012   Phòng TH-NV-DT
99 Trần Hưng Hiệu 1966   x Tài chính-Thuế 25/5/2012    
100 Phạm Thành Tài 1969   x Tài chính-Thuế 25/5/2012    
101 Trần Văn Hoàng 1968   x Tài chính-Thuế 25/5/2012   Chi cụ thuế Thủ Dầu Một
102 Trần Văn Tâm 1959   x Tài chính-Thuế 25/5/2012   Chi cụ thuế Thuận An
103 Nguyễn Anh Khoa 1972   x Tài chính-Thuế 25/5/2012   Chi cụ thuế Dĩ An
104 Trần Văn Mạnh 1967   x Tài chính-Thuế 25/5/2012   Chi cụ thuế Bến Cát
105 Nguyễn Văn Bảo 1971   x Tài chính-Thuế 25/5/2012   Chi cục thuế Dầu Tiếng
106 Sơn Ngọc Thủy 1966   x Tài chính-Thuế 25/5/2012   Chi cục thuế thị xã Tân Uyên
107 Nguyễn Thanh Duyên 1977   x Tài chính-Thuế 25/5/2012   Chi cục thuế huyện Phú Giáo
Ngân hàng nhà nước chi nhánh Bình Dương
108 Nguyễn Phú Cường 1962   x Tín dụng, ngân hàng 28/11/2005   Ngân hàng nhà nước chi nhánh Bình Dương

Phụ lục III
DANH SÁCH NGƯỜI GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP THEO VỤ VIỆC
(Ban hành kèm theo Báo cáo số          /BC-UBND ngày    tháng    năm 2014 của UBND tỉnh Bình Dương)
 
STT Họ và tên Năm sinh Lĩnh vực giám định Đơn vị công tác Ghi chú
01 Lê Thị Mộng Diễm 1970 Tài liệu Trường Chính trị tỉnh Bình Dương  
02 Phan Thanh Nam 1968 Tài liệu Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Bình Dương  
03 Nguyễn Quốc Liêm 1982 Tài liệu Ban tuyên giáo Tỉnh ủy tỉnh Bình Dương  
04 Nguyễn Thị Thảo Nguyên 1982 Tài liệu Phòng Báo chí, Xuất bản-Sở Thông tin và truyền thông tỉnh Bình Dương  
 
 
Tin ngành tư pháp
Hướng dẫn thực hiện một số quy định của Luật giám định Tư phápHướng dẫn thực hiện một số quy định của Luật giám định Tư pháp/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/2/2014 4:39 AMNoĐã ban hànhHướng dẫn nghiệp vụFalse
Ảnh
Video
Audio