Công chứng - Thông tin
Tóm tắt: Trong bài viết này, tác giả nêu giá trị pháp lý của giấy chứng tử trong hoạt động công chứng, việc áp dụng một số giấy tờ thay thế trong thực tế và từ đó, đề xuất ý kiến đối với vấn đề này. Abstract: In this article, the author stated the legal validity of the death certificate in the notary operation, the application of some replacement documents in practice and ...
 
​Thực hiện Công văn số 654/BTP-BTTP ngày 28/02/2020 của Bộ Tư pháp về việc tổ chức kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ tư, ngày 11/3/2020, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương đã ​có Công văn số ​403/STP-BTTP về việc tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham dự kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ tư. Theo đó:​​1. Thời gian tổ chức kỳ kiểm tra: ...
​Ngày 03/02/2020, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Chỉ thị số 02/CT-UBND về tăng cường kiểm tra, xử lý việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất không đúng quy định tại các dự án nhà ở trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Theo đó, Ủy ban nhân dân tỉnh giao Sở Tư pháp "Chỉ đạo, quán triệt các Phòng công chứng, Văn phòng công chứng chỉ được công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tài sản gắn ...
Cơ sở dữ liệu công chứng bao gồm các thông tin đương sự, tài sản, hợp đồng, giao dịch và ngăn ngặn, giải tỏa ngăn chặn được chia sẻ giữa các tổ chức hành nghề công chứng, sẽ giúp công chứng viên tìm kiếm dữ liệu nhanh chóng, chính xác và thuận tiện, thông tin cập nhật được bảo mật tối đa, đã góp phần bảo đảm an toàn pháp lý các hợp đồng, giao dịch.  Vừa qua, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành ...
Hiện nay, Cơ sở dữ liệu công chứng được lưu trữ tập trung tại Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông tỉnh Bình Dương, được chia sẻ đến tất cả các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh truy cập nhằm phục vụ cho quá trình tra cứu thông tin ngăn chặn, giải tỏa: tài sản, đương sự được kịp t​hời đã ngăn chặn hiệu quả đối tượng lừa đảo và các giao dịch bất hợp pháp, góp phần ...
Vừa qua, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 29/2019/QĐ-UBND ngày 03/12/2019 về việc ban hành Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương, theo đó, Quyết định số 29/2019/QĐ-UBND có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2020. Nội dung chủ yếu của Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương quy ...
 
Thực hiện ​Công văn số 4639/BTP-HĐKT ngày 22/11/2019 của Hội đồng kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ ba - Bộ Tư pháp, ngày 11/12/2019, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương đã ban hành Công văn số 2223/STP-BTTP về việc thông báo kết quả phúc tra kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ ba. Theo đó, tỉnh Bình Dương có 06 thí sinh đề nghị phúc tra và kết ...
Ngày 03/12/2019, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương (kèm theo Quyết định số 29/2019/QĐ-UBND). Quy chế được bố cục 05 Chương, 25 Điều. Nội dung chủ yếu của Quy chế gồm những quy định chung như: nguyên tắc cung cấp thông tin, phương thức cập nhật, chỉnh sửa, khai thác và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng; ...
 
Luật Công chứng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 20/6/2014 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2015. Xuất phát từ nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của hoạt động công chứng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, trong 05 năm qua, các cấp, các ngành trên địa bàn tỉnh đã quan tâm, chỉ đạo triển khai thực hiện Luật ...
 
Ngày 14/11/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 87/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 116/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng, chống rửa tiền. Nghị định có hiệu lực cùng ngày ký.
 
 
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Nội dung
Phân loại
  
  
  
Thực trạng áp dụng một số giấy tờ thay thế giấy chứng tử trong việc công chứng văn bản thừa kếTinThực trạng áp dụng một số giấy tờ thay thế giấy chứng tử trong việc công chứng văn bản thừa kếQ
3/20/2020 10:00 AMNoĐã ban hành

Tóm tắt: Trong bài viết này, tác giả nêu giá trị pháp lý của giấy chứng tử trong hoạt động công chứng, việc áp dụng một số giấy tờ thay thế trong thực tế và từ đó, đề xuất ý kiến đối với vấn đề này.

 Abstract: In this article, the author stated the legal validity of the death certificate in the notary operation, the application of some replacement documents in practice and from there, suggesting opinions on this issue.

 1. Giá trị pháp lý và ý nghĩa của giấy chứng tử trong hoạt động công chứng

Giấy chứng tử là một loại giấy tờ hộ tịch của cá nhân được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho gia đình, người thân, người đại diện hoặc cá nhân, tổ chức có liên quan để xác định một người là đã chết, trong đó xác định các thông tin về người chết như thời gian chết, địa điểm chết và nguyên nhân chết… Cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký khai tử là Ủy ban nhân dân cấp xã[1] đối với người Việt Nam, còn đối với người nước ngoài hoặc công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài chết tại Việt Nam thì thẩm quyền đăng ký khai tử thuộc về Ủy ban nhân dân cấp huyện[2].

Giấy chứng tử được dùng trong hồ sơ yêu cầu công chứng để chứng minh một người đã chết và dựa vào thông tin liên quan đến người chết để xác định thời điểm mở thừa kế, xác định người thừa kế, thời điểm chấm dứt hiệu lực của giao dịch… Giấy chứng tử là một loại giấy tờ rất cần thiết khi thực hiện công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản hoặc khai nhận di sản thừa kế. Trong trường hợp người để lại di sản chết, giấy chứng tử là căn cứ chứng minh sự kiện tử của người để lại di sản, chứng minh những người có quyền hưởng di sản và xác định những di sản để lại của người chết. Trong trường hợp người được quyền hưởng di sản chết, giấy chứng tử là căn cứ giúp những người thừa kế còn lại chứng minh không còn người thừa kế nào khác (nếu người này đang không có quan hệ hôn nhân với ai và không có con), hoặc là căn cứ để xác định thừa kế thế vị (nếu người này đã có con và chết trước người để lại di sản) hay những người được hưởng thừa kế thay người này (nếu có vợ chồng, con và chết sau người để lại di sản).

Tuy nhiên, hiện nay nhiều người dân vẫn chưa nhận thức được tầm quan trọng của các giấy tờ hộ tịch dẫn đến xem nhẹ việc đăng ký khai tử cho người chết, còn tâm lý e ngại làm việc với cán bộ tư pháp - hộ tịch, chỉ khi nào có công việc liên quan cần đến thì họ mới đi đăng ký khai tử. Mặt khác, pháp luật hộ tịch cho phép người dân được đăng ký khai tử quá hạn dẫn đến tình trạng người dân chủ quan, thiếu tự giác. Nếu trong trường hợp người thân của họ chết quá lâu không còn căn cứ chứng minh sự kiện chết thì việc cấp giấy chứng tử sẽ khá khó khăn, phức tạp.

2. Những vấn đề khi sử dụng một số giấy tờ để thay thế giấy chứng tử

Theo quy định tại khoản 1 Điều 34 Luật Hộ tịch năm 2014: "Người có trách nhiệm đi đăng ký khai tử nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy báo tử hoặc giấy tờ khác thay giấy báo tử cho cơ quan đăng ký hộ tịch". Đối với những trường hợp chết tại nhà, chết đã quá lâu, chết trong thời kỳ chiến tranh loạn lạc hoặc thiên tai, lũ lụt, hay không rõ chết nơi nào… người thân của người chết không thực hiện đăng ký khai tử cũng như không còn lưu giữ được bất cứ giấy tờ nào để chứng minh sự kiện chết, dẫn đến cơ quan có thẩm quyền rất khó để đăng ký khai tử do không có đủ căn cứ chứng minh sự kiện chết. Trong trường hợp này thì người yêu cầu công chứng có thể cung cấp cho công chứng viên các giấy tờ thay thế nào khác để chứng minh người đó đã chết, thời điểm chết của người đó. Sau đây là một số giấy tờ được áp dụng trong thực tế:

- Lý lịch đảng viên có xác nhận của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền: Có thể nói, đây là giấy tờ có tính an toàn pháp lý cao bởi lẽ thủ tục xem xét kết nạp Đảng rất chặt chẽ, việc khai phải đầy đủ, rõ ràng, trung thực. Ở đây không chỉ yêu cầu kê khai lý lịch về bản thân của người xin vào Đảng mà còn cả của những người thân thích như ông bà nội ngoại, cha mẹ, vợ chồng, anh chị em ruột của người đó. Vì vậy, người xin kết nạp Đảng phải kê khai kỹ về người thân mình, cả việc chết và mất tích của người thân, thông tin về thời gian, địa điểm chết của người đó. Lý lịch phải được thẩm tra, kết luận trước khi ghi nội dung chứng nhận, ký tên, đóng dấu. Do những tình tiết trong lý lịch đã được các cơ quan, tổ chức điều tra xác minh và xác nhận, công chứng viên có thể căn cứ vào giấy tờ này để xác định một người là đã chết.

- Đơn xác nhận việc tử được Ủy ban nhân dân có thẩm quyền xác nhận, trong đó có nội dung người thân của người chết trình bày các thông tin về địa điểm, thời gian chết và cam đoan lời khai của mình, nếu Ủy ban nhân dân có thẩm quyền biết thông tin về việc tử trong đơn là đúng thì sẽ xác nhận nội dung là đúng sự thật. Tuy nhiên, thực tế không ít trường hợp yêu cầu đăng ký khai tử cho người chết đã quá lâu nên cơ quan hộ tịch không có cơ sở để giải quyết, cũng không có cơ sở để từ chối và né tránh bằng cách chứng thực chữ ký hoặc xác nhận những nội dung không liên quan đến sự kiện tử trong đơn yêu cầu xác nhận việc tử. Việc chứng thực chữ ký trong văn bản có nội dung trình bày, đề nghị xác nhận một người là đã chết thì không có giá trị xác nhận một người là đã chết. Một vấn đề rủi ro nữa là nếu người viết đơn xác nhận việc tử có quan hệ thân thiết với Ủy ban nhân dân có thẩm quyền, thì việc xác nhận đơn đó có thể không chính xác vì có khả năng Ủy ban nhân dân vì tin tưởng người đó, không kiểm tra kỹ thông tin mà vẫn ký và đóng dấu xác nhận việc tử.

- Bản khai lý lịch quan hệ nhân thân trong giải quyết giao dịch dân sự về thừa kế, trong đó người thân của người chết khai các thông tin về họ tên, năm sinh, thời điểm, địa điểm chết của người để lại di sản, thông tin về cha mẹ, vợ chồng, con… của người để lại di sản. Bản khai lý lịch có thể được xác nhận nội dung nếu Ủy ban nhân dân có thẩm quyền biết rõ và yên tâm, tin tưởng vào nội dung đã khai trong lý lịch. Ở một số địa phương, công chứng viên thường căn cứ vào bản khai lý lịch đã được xác nhận nội dung để xác định một người đã chết mà không yêu cầu người thân người đó phải chứng minh sự kiện tử. Thực tế thì rất ít Ủy ban nhân dân có thẩm quyền xác nhận được nội dung mà hầu hết là chứng thực chữ ký người khai vì bản khai lý lịch được phép chứng thực chữ ký theo Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch. Tuy nhiên, người khai bản khai lý lịch phải chịu trách nhiệm về nội dung, Ủy ban nhân dân chỉ chịu trách nhiệm xác nhận chữ ký trong giấy tờ, văn bản là chữ ký của người khai, dẫn đến nếu người khai cố tình giấu giếm, lừa dối thông tin như năm mất của người được hưởng di sản thừa kế (ví dụ ghi cha mẹ người để lại di sản chết trước) thì Ủy ban nhân dân nơi chứng thực cũng không chịu trách nhiệm, do đó, công chứng viên rất khó xác định được có đúng là người được hưởng di sản thừa kế đã chết hay không và chết trước hay chết sau người để lại di sản. Do vậy, việc chứng thực chữ ký trong bản khai lý lịch không phải là căn cứ để chứng minh một người đã chết.

- Giấy cam kết việc tử của người thân người chết trong trường hợp không có cơ quan nào xác nhận được việc tử: Để thực hiện việc đăng ký khai tử đối với những trường hợp chết đã lâu là rất khó khăn, do sự kiện chết đã lâu, tình hình lúc đó có nhiều biến động, nên khó xác định được thời điểm, địa điểm, nguyên nhân chết, do đó, để có hướng giải quyết đối với những trường hợp người thân người chết không thể cung cấp được các tài liệu, chứng cứ như Bộ Tư pháp hướng dẫn (ảnh chụp bia mộ nơi an táng người đã chết, có xác nhận của Ban Quản lý nghĩa trang và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có nghĩa trang về người chết, thời điểm chết; văn bản xác nhận của người làm chứng) dù đã làm hết khả năng, có ý kiến sẽ thực hiện theo hướng linh động cho phép người dân được tự cam kết và chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với những trường hợp sự việc chết xảy ra đã quá lâu.

Qua phân tích các loại giấy tờ trên, có thể thấy lý lịch đảng viên là có tính xác thực rõ ràng nhất, đơn xác nhận việc tử cũng là một loại giấy tờ thường xuyên được áp dụng trong thực tế, bản khai lý lịch có tính rủi ro cao và giấy cam kết việc tử của người thân là giấy tờ có mức độ xác thực thấp nhất.

3. Một số đề xuất, kiến nghị

Điều 59 Luật Công chứng năm 2014 quy định, người thừa kế khi yêu cầu công chứng văn bản từ chối nhận di sản có thể cung cấp giấy chứng tử hoặc giấy tờ khác chứng minh người để lại di sản đã chết. Như vậy, không phải trường hợp nào công chứng viên cũng yêu cầu người yêu cầu công chứng phải xuất trình giấy chứng tử mà có thể thay thế bằng giấy tờ khác nếu chứng minh được sự kiện tử của người để lại di sản. Tuy nhiên, pháp luật công chứng quy định như vậy trong trường hợp công chứng văn bản từ chối di sản, còn trong trường hợp công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản và khai nhận di sản thừa kế, công chứng viên cần phải xem xét thận trọng hồ sơ vì trường hợp này hồ sơ rất phức tạp, dễ xảy ra tranh chấp, dễ bỏ sót người thừa kế. Ngoài ra, văn bản thỏa thuận phân chia hoặc khai nhận di sản là căn cứ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký việc chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản cho người được hưởng di sản. Để đảm bảo tính an toàn pháp lý của văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, tác giả có một số ý kiến trong những trường hợp này như sau:

- Đối với người để lại di sản thì giấy chứng tử bắt buộc phải có trong hồ sơ yêu cầu công chứng. Bởi lẽ, khi công chứng viên thực hiện bất kỳ thủ tục công chứng nào về thừa kế thì việc đầu tiên công chứng viên cần xác định đó là phải có sự kiện chết của người để lại di sản mà chỉ có giấy chứng tử mới xác định chính xác nhất sự kiện tử của một người; tiếp đến, công chứng viên cần xác định thời điểm chết của người để lại di sản, việc xác định thời điểm chết có ý nghĩa hết sức quan trọng vì đó là mốc thời điểm để xác định những người được hưởng di sản thừa kế, có phát sinh người được hưởng di sản thừa kế thay hoặc thừa kế thế vị hay không. Ngoài ra, thời điểm chết còn xác định được di sản để lại là tài sản riêng hay phần tài sản trong tài sản chung với người khác.

- Đối với những người được quyền hưởng di sản thừa kế, nếu xét độ tuổi đến hiện tại quá cao (trên 100 tuổi) hoặc xét thấy không có khả năng nào mà những người đó còn sống thì công chứng viên có thể linh động tùy trường hợp mà yêu cầu xuất trình giấy tờ chứng minh sự kiện tử, nên ưu tiên các loại giấy tờ được cơ quan có thẩm quyền xác nhận để có căn cứ pháp lý chặt chẽ nhất.

Qua những phân tích trên, có thể thấy, từ các quan điểm khác nhau dẫn tới yêu cầu giấy tờ mỗi nơi một khác, việc hướng dẫn giấy tờ thiếu thống nhất dẫn đến việc áp dụng pháp luật tùy tiện sẽ làm giá trị pháp lý của văn bản thừa kế thiếu chặt chẽ. Ngoài ra, tình trạng khai tử cho người còn sống ngày càng phổ biến, nhiều trường hợp người còn sống nhưng bị người nhà khai là đã chết để chiếm đoạt di sản thừa kế, thậm chí vợ khai tử chồng để bán rẫy là vụ việc mới nhất xảy ra tại xã Ea Kênh, huyện Krông Păk, tỉnh Đăk Lăk như Báo Tiền Phong đã đưa tin ngày 20/9/2019[3]. Vì vậy, việc nghiên cứu bổ sung quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục đăng ký khai tử là một vấn đề cấp thiết cần sớm được quy định hướng dẫn cụ thể, nhằm hạn chế ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan. Cần nhanh chóng có văn bản hướng dẫn các địa phương để thực hiện thống nhất vấn đề về giấy tờ chứng minh việc tử để những người thân của người chết có thể thực hiện một cách nhanh chóng và hạn chế được những khó khăn, phiền hà. Trong đó, cơ quan thực hiện đăng ký hộ tịch cần kiểm tra, xác minh chặt chẽ, bảo đảm thông tin, xác nhận sự kiện tử là đúng sự thật để hạn chế sai sót hay tạo điều kiện cho kẻ xấu lợi dụng kẽ hở quản lý để hợp thức hóa giấy tờ.

                                                                                                Nguyễn Thị Xuân Nhi

                                                                                      Phòng Công chứng số 1 tỉnh Gia Lai

 

​[1]. Điều 32 Luật Hộ tịch năm 2014.

[2]. Điều 51 Luật Hộ tịch năm 2014.

[3]. Hy hữu vợ 'quyết' khai tử cho chồng dù đang vô cùng khỏe mạnh (https://www.tienphong.vn/xa-hoi/hy-huu-vo-quyet-khai-tu-cho-chong-du-dang-vo-cung-khoe-manh-1466335.tpo).


​(Nguồn: Tap chí Dân chủ và Pháp luật)


Thông tinFalseTăng Thị Hà Chi
Tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham dự kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ baTinTiếp nhận hồ sơ đăng ký tham dự kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ ba/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
3/11/2020 4:00 PMNoĐã ban hành

​Thực hiện Công văn số 654/BTP-BTTP ngày 28/02/2020 của Bộ Tư pháp về việc tổ chức kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ tư, ngày 11/3/2020, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương đã ​có Công văn số ​403/STP-BTTP về việc tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham dự kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ tư. Theo đó:​​

1. Thời gian tổ chức kỳ kiểm tra: dự kiến cuối Quý II hoặc đầu Quý III năm 2020.

2. Đối tượng được đăng ký tham dự kiểm tra:

a) Người đã hoàn thành tập sự theo quy định của Luật công chứng và Thông tư số 04/2015/TT-BTP và người sẽ hoàn thành tập sự chậm nhất là ngày 30/5/2020;

b) Người không đạt yêu cầu trong kỳ kiểm tra kết quả tập sự trước, trừ trường hợp không đạt yêu cầu trong cả ba kỳ kiểm tra đã được tổ chức.

3. Hồ sơ đăng ký tham dự kiểm tra:

a) Giấy đăng ký tham dự kiểm tra theo mẫu ban hành kèm theo Thông tư số 04/2015/TT-BTP (trường hợp đã từng tham dự kiểm tra hoặc được hoãn tham dự kỳ kiểm tra trước thì ghi rõ trong Giấy đăng ký tham dự kiểm tra);

b) Báo cáo kết quả tập sự hành nghề công chứng quy định tại Điều 8 của Thông tư số 04/2015/TT-BTP;

c) Bản sao giấy tờ chứng minh đã nộp phí thẩm định tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề công chứng theo quy định, với các thông tin như sau:

Tên tài khoản: Cục Bổ trợ tư pháp.

Số tài khoản: 3511.0.1118188, tại Kho bạc nhà nước Ba Đình, Hà Nội.

Số tiền: 3.500.000 đồng/trường hợp.

Nội dung: Nộp phí thẩm định tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề công chứng lần thứ 4 năm 2020 cho Ông/Bà...., đăng ký tập sự tại tỉnh/thành phố...... (Người nộp phí tự chịu trách nhiệm nếu trên giấy tờ không đủ thông tin để có thể xác định được người đăng ký tham dự kiểm tra).

4. Thời gian tiếp nhận hồ sơ: từ ngày 11/3/2020 đến ngày 03/6/2020.

5. Lưu ý:

- Các trường hợp Báo cáo kết quả tập sự sơ sài, không đầy đủ nội dung theo quy định, Báo cáo không thể hiện được kết quả của quá trình tập sự hoặc sao chép Báo cáo của người khác, xác nhận sai về thời gian, kết quả tập sự hoặc có các hành vi không trung thực, gian dối khác… trong hồ sơ đăng ký tham dự kiểm tra thì sẽ không được tham dự kỳ kiểm tra và tùy theo tính chất, mức độ sẽ bị xem xét, xử lý theo quy định.

- Đối với những người tập sự đã nộp hồ sơ đăng ký tham dự kiểm tra về Sở Tư pháp mà chưa nộp phí, đề nghị gửi bổ sung bản sao giấy tờ chứng minh đã nộp phí để hoàn thiện hồ sơ.

Sở Tư pháp đề nghị các tổ chức hành nghề công chứng thông báo cho những người tập sự tại tổ chức mình được biết và thực hiện./.

Nội dung chi tiết xem tại file đính kèm

CV 654-BTP-BTTP.pdf

CV_403_STP-BTTP.signed.pdf

Thông tinFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Danh sách tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 06/3/2020)Danh sách tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 06/3/2020)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
3/6/2020 9:00 AMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Triển khai thực hiện Chỉ thị số 02/CT-UBND ngày 03/02/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh về tăng cường kiểm tra, xử lý việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất không đúng quy định tại các dự án nhà ở trên địa bàn tỉnh Bình DươngTinTriển khai thực hiện Chỉ thị số 02/CT-UBND ngày 03/02/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh về tăng cường kiểm tra, xử lý việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất không đúng quy định tại các dự án nhà ở trên địa bàn tỉnh Bình Dương/bo-tro-tu-phap/PublishingImages/2020-03/bttp_2020_CNQSDD_Key_03032020105641.jpg
3/3/2020 11:00 AMNoĐã ban hành

​Ngày 03/02/2020, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Chỉ thị số 02/CT-UBND về tăng cường kiểm tra, xử lý việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất không đúng quy định tại các dự án nhà ở trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Theo đó, Ủy ban nhân dân tỉnh giao Sở Tư pháp "Chỉ đạo, quán triệt các Phòng công chứng, Văn phòng công chứng chỉ được công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất khi Chủ đầu tư đảm bảo các điều kiện theo quy định tại Điều 41, Điều 72 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai".

Thực hiện chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh, ngày 19/02/2020, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương đã có Công văn số 226/STP-BTTP triển khai Chỉ thị số 02/CT-UBND, theo đó Sở Tư pháp yêu cầu:

1. Các Trưởng tổ chức hành nghề công chứng nghiên cứu, phổ biến, quán triệt nội dung của Chỉ thị số 02/CT-UBND đến toàn thể công chứng viên, nhân viên, người lao động tại tổ chức mình; thực hiện công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại các dự án nhà ở phải đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật về đất đai, nhà ở và các quy định pháp luật khác có liên quan.

2. Hội Công chứng viên tỉnh Bình Dương theo dõi, nắm bắt thông tin về việc công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại các dự án nhà ở trên địa bàn tỉnh, kịp thời phản ánh, báo cáo Sở Tư pháp khi phát hiện những trường hợp công chứng hợp đồng nêu trên không đúng  quy định của pháp luật./.

Nội dung chi tiết xem tại file đính kèm

02-CT-UBND.signed.pdf

CV_226_STP-BTTP.signed.pdf

Thông tin; Tin ngành tư phápFalseTăng Thị Hà Chi
Danh sách tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 07/02/2020)Danh sách tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 07/02/2020)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
2/7/2020 11:00 AMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Danh sách tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 31/01/2020)Danh sách tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 31/01/2020)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
1/31/2020 10:00 AMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Thực hiện Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứngTinThực hiện Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng/bo-tro-tu-phap/PublishingImages/2020-01/bttp-CSDLCC-2020_Key_31012020171126.jpg
1/30/2020 6:00 PMNoĐã ban hành

Cơ sở dữ liệu công chứng bao gồm các thông tin đương sự, tài sản, hợp đồng, giao dịch và ngăn ngặn, giải tỏa ngăn chặn được chia sẻ giữa các tổ chức hành nghề công chứng, sẽ giúp công chứng viên tìm kiếm dữ liệu nhanh chóng, chính xác và thuận tiện, thông tin cập nhật được bảo mật tối đa, đã góp phần bảo đảm an toàn pháp lý các hợp đồng, giao dịch.  

Vừa qua, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 29/2019/QĐ-UBND ngày 03/12/2019 về việc quy định Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Sở Tư pháp đã chỉ đạo Hội công chứng viên tỉnh triển khai, quán triệt Quyết định số 29/2019/QĐ-UBND đến các TCHNCC trên địa bàn tỉnh.   

Để tiếp tục triển khai thực hiện Quy chế được đồng bộ, thống nhất và có hiệu quả, ngày 22/01/2020​, Sở Tư pháp đã có Công văn số 99/STP-BTTP , theo đó đề nghị Hội Công chứng viên tỉnh Bình Dương quán triệt công chứng viên là thành viên của Hội và các tổ chức hành nghề công chứng thực hiện nghiêm Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng; theo dõi, nắm bắt thông tin về những khó khăn, vướng mắc và hành vi vi phạm liên quan đến Cơ sở dữ liệu công chứng, kịp thời phản ánh, báo cáo Sở Tư pháp. Các tổ chức hành nghề công chứng phổ biến, giới thiệu nội dung, triển khai và thực hiện đầy đủ, nghiêm túc Quyết định số 29/2019/QĐ-UBND đến toàn thể công chứng viên, chuyên viên, người lao động tại tổ chức mình, đặc biệt là trách nhiệm và nghĩa vụ của Trưởng TCHNCC, công chứng viên và người sử dụng cơ sở dữ liệu công chứng. Đồng thời, Sở Tư pháp hướng dẫn quy trình tra cứu thông tin ngăn chặn, giải tỏa ngăn chặn và thông tin hợp đồng, giao dịch đã công chứng trên Cơ sở dữ liệu công chứng và có một số lưu ý về cấp, quản lý, sử dụng tài khoản.

Nội dung chi tiết xem tại file đính kèm CV_99_STP-BTTP.signed.pdf

Thông tin; Tin ngành tư phápFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Thực hiện phối hợp cung cấp thông tin ngăn chặn, giải tỏa ngăn chặn cho Cơ sở dữ liệu công chứng TinThực hiện phối hợp cung cấp thông tin ngăn chặn, giải tỏa ngăn chặn cho Cơ sở dữ liệu công chứng /bo-tro-tu-phap/PublishingImages/2020-01/bttp-cungcapthongtin-2020_Key_31012020171914.jpg
1/30/2020 2:00 PMNoĐã ban hành

Hiện nay, Cơ sở dữ liệu công chứng được lưu trữ tập trung tại Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông tỉnh Bình Dương, được chia sẻ đến tất cả các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh truy cập nhằm phục vụ cho quá trình tra cứu thông tin ngăn chặn, giải tỏa: tài sản, đương sự được kịp t​hời đã ngăn chặn hiệu quả đối tượng lừa đảo và các giao dịch bất hợp pháp, góp phần bảo đảm lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân cũng như lợi ích của các tổ chức hành nghề công chứng.

Thời gian qua, Sở Tư pháp đã nhận được sự phối hợp của các cơ quan về việc cung cấp thông tin ngăn chặn, giải tỏa: đương sự, tài sản, tuy nhiên một số trường hợp văn bản thông tin ngăn chặn, giải tỏa chưa đầy đủ như: đương sự thì chỉ cung cấp họ và tên, chưa cung cấp số chứng minh nhân dân/căn cước công dân; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất chưa cung cấp số phát hành, số vào sổ, cơ quan cấp, ngày cấp; Giấy chứng nhận đăng ký xe: thiếu số, cơ quan cấp, ngày cấp, … đã gây khó khăn cho công tác nhận dữ liệu để chia sẻ cho các tổ chức hành nghề công chứng.

Thực hiện Quyết định số 29/2019/QĐ-UBND ngày 03/12/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc ban hành Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương, để việc cung cấp thông tin ngăn chặn, giải tỏa ngăn chặn cho Cơ sở dữ liệu công chứng được kịp thời, đầy đủ và chính xác, Sở Tư pháp đã ban hành Công văn số 98/STP-BTTP ngày ​22/01/2020. Theo đó, Sở Tư pháp đề nghị các cơ quan: Tòa án nhân dân tỉnh, Công an tỉnh, Cục Thi hành án dân sự tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh Bình Dương, Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã và thành phố​​ lưu ý một số nội dung khi ​thực hiện phối hợp cung cấp thông tin ngăn chặn, giải tỏa ngăn chặn cho Cơ sở dữ liệu công chứng.

Nội dung chi tiết xem tại file đính kèm CV_98_STP-BTTP.signed.pdf

Thông tin; Tin ngành tư phápFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Danh sách tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 07/01/2020)Danh sách tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 07/01/2020)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
1/7/2020 10:00 AMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Triển khai thực hiện Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng tại các sở, ngành và Ủy ban nhân dân cấp huyệnTinTriển khai thực hiện Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng tại các sở, ngành và Ủy ban nhân dân cấp huyện/bo-tro-tu-phap/PublishingImages/2020-01/bttp-trienkhaiQD29-2020_Key_10012020100244.jpg
1/2/2020 10:00 AMNoĐã ban hành

Vừa qua, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 29/2019/QĐ-UBND ngày 03/12/2019 về việc ban hành Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương, theo đó, Quyết định số 29/2019/QĐ-UBND có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2020. Nội dung chủ yếu của Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương quy định về cung cấp thông tin, khai thác, sử dụng và chia sẻ thông tin về hợp đồng, giao dịch trong Cơ sở dữ liệu công chứng; quy trình vận hành và sử dụng Cơ sở dữ liệu công chứng tại Sở Tư pháp và các tổ chức hành nghề công chứng; trách nhiệm của Sở Tư pháp, các tổ chức hành nghề công chứng và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc thực hiện Quy chế,…

Để việc triển khai thực hiện Quy chế được đồng bộ, thống nhất và có hiệu quả, ngày 27/12/2019, Sở Tư pháp đã ban hành Công văn số 2306/STP-BTTP triển khai thực hiện Quy chế tại các sở, ngành và Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh./.

Nội dung chi tiết xem tại file đính kèm Cong_van_2306_STP-BTTP.signed.pdf​ 

Thông tinFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Danh sách tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 25/12/2019)Danh sách tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 25/12/2019)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/25/2019 2:00 PMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Quyết định số 29/2019/QĐ-UBND ban hành Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh Bình DươngQuyết định số 29/2019/QĐ-UBND ban hành Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/12/2019 6:00 PMNoĐã ban hànhVăn bản Quy phạm Pháp luậtFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Danh sách các tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 11/12/2019)Danh sách các tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 11/12/2019)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/11/2019 10:00 PMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Thông báo kết quả phúc tra kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề  công chứng lần thứ baTinThông báo kết quả phúc tra kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề  công chứng lần thứ ba/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/11/2019 4:00 PMNoĐã ban hành

Thực hiện ​Công văn số 4639/BTP-HĐKT ngày 22/11/2019 của Hội đồng kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ ba - Bộ Tư pháp, ngày 11/12/2019, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương đã ban hành Công văn số 2223/STP-BTTP về việc thông báo kết quả phúc tra kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ ba. Theo đó, tỉnh Bình Dương có 06 thí sinh đề nghị phúc tra và kết quả như sau:​

SttHọ và tênNơi tập sựKết quả phúc tra
1Nguyễn Thị Thúy HồngVPCC Mỹ Phước (nay đổi tên thành VPCC Nguyễn Duy Linh)Không đạt
2Nguyễn Tấn LộcVPCC Thanh TuyềnKhông đạt
3Trần Trọng NghĩaVPCC Phạm Văn CảnhKhông đạt
4Nguyễn Thị OanhVPCC Rồng ViệtKhông đạt
5Nguyễn Văn Sơn

VPCC Rồng Việt

 

Không đạt
6Mai Đức ThanhVPCC Mỹ Phước (nay đổi tên thành VPCC Nguyễn Duy Linh)Không đạt​

Xem chi tiết điểm phúc tra tại file đính kèm CV 4639-BTP.pdf

Thông tinFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Quyết định số 28/2019/QĐ-UBND sửa đổi, bổ sung một số Điều tại Quyết định số 25/2017/QĐ-UBND ngày 27/9/2017 của UBND tỉnh quy định diện tích tối thiểu được phép tách thửa đối với các loại đất trên địa bàn tỉnh Bình DươngQuyết định số 28/2019/QĐ-UBND sửa đổi, bổ sung một số Điều tại Quyết định số 25/2017/QĐ-UBND ngày 27/9/2017 của UBND tỉnh quy định diện tích tối thiểu được phép tách thửa đối với các loại đất trên địa bàn tỉnh Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/11/2019 2:00 PMNoĐã ban hànhVăn bản Quy phạm Pháp luậtFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Bình Dương ban hành Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứngTinBình Dương ban hành Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng/bo-tro-tu-phap/PublishingImages/2020-01/bttp-quyche-CSDLCC_Key_10012020084449.jpg
12/11/2019 9:00 AMNoĐã ban hành

Ngày 03/12/2019, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương (kèm theo Quyết định số 29/2019/QĐ-UBND). Quy chế được bố cục 05 Chương, 25 Điều. Nội dung chủ yếu của Quy chế gồm những quy định chung như: nguyên tắc cung cấp thông tin, phương thức cập nhật, chỉnh sửa, khai thác và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng; những hành vi bị nghiêm cấm,…. Theo đó, việc nhập thông tin ngăn chặn, thông tin giải tỏa ngăn chặn, thông tin về hợp đồng, giao dịch đã công chứng vào Cơ sở dữ liệu công chứng phải bảo đảm tính chính xác, đầy đủ, kịp thời, bảo đảm an toàn, an ninh thông tin và lưu trữ lâu dài; tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức hành nghề công chứng tra cứu thông tin. Tổ chức hành nghề công chứng có trách nhiệm cập nhật tất cả các hợp đồng, giao dịch đã công chứng vào Cơ sở dữ liệu công chứng. Cá nhân, tổ chức khai thác, sử dụng, quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng phải đúng mục đích, không sử dụng Cơ sở dữ liệu công chứng vào những mục đích trái pháp luật hay mục đích khác không phải phục vụ cho hoạt động công chứng của tổ chức mình hay hoạt động quản lý nhà nước về công chứng.

bttp-Quyet dinh29.jpg

Quy chế cũng quy định về cung cấp thông tin, khai thác, sử dụng và chia sẻ thông tin về hợp đồng, giao dịch trong Cơ sở dữ liệu công chứng; quy trình vận hành và sử dụng Cơ sở dữ liệu công chứng tại Sở Tư pháp và các tổ chức hành nghề công chứng; trách nhiệm của Sở Tư pháp, các tổ chức hành nghề công chứng và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc thực hiện Quy chế.

Cơ sở dữ liệu công chứng là hệ thống cơ sở dữ liệu bao gồm thông tin ngăn chặn và Phần mềm quản lý hồ sơ công chứng. Kết quả tra cứu từ Cơ sở dữ liệu công chứng là nguồn thông tin để công chứng viên kiểm tra, xem xét trước khi quyết định công chứng hoặc tạm dừng thực hiện việc công chứng hợp đồng, giao dịch.

Việc ban hành Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương nhằm tạo khung pháp lý rõ ràng, thống nhất cho việc khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh, qua đó góp phần đảm bảo tính an toàn pháp lý trong hoạt động công chứng.

Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2020.

Thông tin; Tin ngành tư phápFalseTăng Thị Hà Chi
Nhìn lại 05 năm triển khai thi hành Luật Công chứng năm 2014Bài viếtNhìn lại 05 năm triển khai thi hành Luật Công chứng năm 2014/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/6/2019 2:00 PMNoĐã ban hành

Luật Công chứng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 20/6/2014 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2015. Xuất phát từ nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của hoạt động công chứng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, trong 05 năm qua, các cấp, các ngành trên địa bàn tỉnh đã quan tâm, chỉ đạo triển khai thực hiện Luật Công chứng và đạt được nhiều kết quả tích cực.

Công tác lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thi hành Luật Công chứng

Để triển khai thi hành Luật Công chứng được đồng bộ, thống nhất và có hiệu quả, Sở Tư pháp đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 4477/KH-UBND ngày 19/12/2014 về việc triển khai thi hành Luật Công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Trên cơ sở đó, Ủy ban nhân dân các cấp địa phương tích cực chỉ đạo triển khai thi hành Luật thông qua việc tuyên truyền, phổ biến Luật Công chứng, cũng như tạo điều kiện cho cán bộ, công chức, viên chức tại các cơ quan, đơn vị có liên quan và công chức tư pháp hộ tịch xã, phường, thị trấn tham gia đầy đủ các lớp tập huấn nghiệp vụ về lĩnh vực công chứng, chứng thực do Sở Tư pháp, Hội Công chứng viên tỉnh tổ chức. Sở Tư pháp đã chỉ đạo các Phòng Tư pháp giao ban tư pháp mời tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn cấp huyện tham dự theo định kỳ tháng, quý để nắm bắt tình hình hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng, đồng thời tháo gỡ những khó khăn trong thực tiễn thi hành Luật Công chứng.

Công tác tổ chức triển khai thi hành Luật Công chứng

Việc tuyên truyền, phổ biến Luật Công chứng được các cấp, các ngành, các địa phương và tổ chức hành nghề công chứng chú trọng và thực hiện thường xuyên. Đối với cấp tỉnh, Sở Tư pháp tổ chức Hội nghị triển khai Luật cho khoảng hơn 500 đại biểu là lãnh đạo Ủy ban nhân dân các cấp cùng đại diện các cơ quan, sở, ban, ngành, đoàn thể và công chứng viên của các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh; chủ động phối hợp với Đài phát thanh - Truyền hình tỉnh, Báo Bình Dương thực hiện các chương trình giới thiệu, phỏng vấn, phóng sự, tọa đàm…về đề tài công chứng, trung bình mỗi năm phát hành 20.000 tờ gấp pháp luật về công chứng; phổ biến quy định pháp luật về công chứng qua việc trợ giúp pháp lý,... Các sở, ban, ngành, đoàn thể đã lồng ghép việc tuyên truyền Luật Công chứng trong sinh hoạt "Ngày pháp luật" hàng tháng đến toàn thể công chức, viên chức, người lao động tại đơn vị mình; tuyên truyền, hướng dẫn người dân biết và thực hiện pháp luật về công chứng khi giải quyết thủ tục hành chính có liên quan đến hoạt động công chứng (Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trường, Cục Thi hành án dân sự tỉnh, Ban Quản lý các khu nghiệp công nghiệp tỉnh,...).

Đối với cấp huyện, Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã và thành phố Thủ Dầu Một đã chỉ đạo Phòng Tư pháp tổ chức Hội nghị triển khai thi hành Luật, phối hợp với Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn tổ chức phổ biến rộng rãi quy định pháp luật về công chứng qua hệ thống loa, đài truyền thanh.

Tại các tổ chức hành nghề công chứng, việc tuyên truyền, phổ biến Luật Công chứng đến người dân được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: niêm yết bộ thủ tục hành chính về công chứng, mức trần thù lao công chứng, thù lao dịch thuật tại trụ sở, nội quy, quy trình công chứng; trong quá trình hành nghề, các công chứng viên tuyên truyền về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên, giải thích cho người dân hiểu rõ quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp, ý nghĩa và hậu quả pháp lý của việc công chứng. Ngoài ra, một số tổ chức hành nghề công chứng còn tích cực tham gia các hoạt động tuyên truyền, phổ biến Luật công chứng trong Ngày hội pháp luật do Sở Tư pháp tổ chức, tham gia chương trình tư vấn pháp luật trực tiếp trên sóng phát thanh 92,5 MHz nhằm kịp thời đáp ứng nhu cầu tìm hiểu pháp luật và giải đáp các khó khăn, vướng mắc của người dân liên quan đến công chứng (Phòng công chứng số 1, Phòng công chứng số 2, Văn phòng công chứng Tân Uyên,…).

Thông qua các hình thức tuyên truyền, phổ biến Luật công chứng đa đạng nêu trên, nhận thức của các cơ quan, tổ chức, cá nhân về ý nghĩa, vai trò và tầm quan trọng của hoạt động công chứng được nâng lên rõ rệt, tạo tiền đề cho việc triển khai có hiệu quả Luật Công chứng trên địa bàn tỉnh.

 Sau khi Luật Công chứng có hiệu lực thi hành, Sở Tư pháp thường xuyên rà soát các văn bản do địa phương ban hành liên quan đến tổ chức và hoạt động công chứng để kịp thời kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tế tại địa phương. Năm 2015, Sở Tư pháp đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 41/2015/QĐ-UBND ngày 30/9/2015 về sửa đổi, bổ sung Quyết định số 17/2013/QĐ-UBND ngày 20/6/2013 về chuyển giao thẩm quyền chứng thực hợp đồng, giao dịch sang tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương, đã được bổ sung bởi Quyết định số 36/2013/QĐ-UBND ngày 11/11/2013; Quyết định số 2544/QĐ-UBND ngày 05/10/2015 về việc ban hành Quy định tiêu chí xét duyệt hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

         Hàng năm, công tác tổ chức tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng hành nghề và đạo đức nghề nghiệp công chứng luôn được Sở Tư pháp, Hội Công chứng viên tỉnh phối hợp tổ chức thực hiện đúng theo quy định của Thông tư số 06/2015/TT-BTP ngày 15/6/2015 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng. Nội dung bồi dưỡng tập trung vào những vấn đề thiết thực, sát sườn với thực tiễn hành nghề công chứng tại địa phương như: quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 2013, những điểm mới của Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015, kỹ năng tiếp xúc khách hàng, kỹ năng nhận diện giấy tờ giả,...

Công tác phối hợp giữa Sở Tư pháp với các sở, ban, ngành, Uỷ ban nhân dân cấp huyện và các tổ chức, đơn vị có liên quan trong quản lý nhà nước về công chứng được thực hiện nhịp nhàng, chặt chẽ và có hiệu quả. Sở Tư pháp đã tích cực, chủ động xây dựng, ký kết Quy chế phối hợp với các cơ quan có liên quan, cụ thể:

- Quy chế phối hợp trong công tác quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương ký ngày 04/5/2016 giữa Sở Tư pháp và Hội Công chứng viên tỉnh. Sau hơn 03 năm triển khai thực hiện Quy chế, công tác phối hợp giữa Sở Tư pháp và Hội Công chứng viên tỉnh đạt được hiệu quả cao, góp phần tăng cường công tác quản lý nhà nước gắn với việc phát huy vai trò tự quản của Hội Công chứng viên trong tổ chức và hoạt động công chứng trên địa bàn tỉnh.

- Quy chế phối hợp công tác ký kết ngày 10/10/2016 giữa Sở Tư pháp và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương. Theo đó, hai cơ quan có sự phối hợp trong công tác chỉ đạo các đơn vị trực thuộc cung cấp, trao đổi thông tin quyết định kê biên xử lý tài sản; quyết định tạm dừng/chấm dứt tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản và xác minh các thông tin có liên quan nhằm tạm dừng công chứng các hợp đồng, giao dịch theo quy định để kịp thời ngăn chặn việc tẩu tán tài sản thi hành án, đồng thời đảm bảo giá trị pháp lý của các văn bản công chứng.

- Quy chế phối hợp số 427/QCPH/STP-CAT về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về công chứng, chứng thực trên địa bàn tỉnh Bình Dương ký ngày 06/4/2018, Sở Tư pháp và Công an tỉnh Bình Dương. Việc ký kết Quy chế phối hợp tạo ra sự thống nhất, kịp thời trong quy trình tiếp nhận, xử lý thông tin, vụ việc có dấu hiệu tội phạm liên quan đến công chứng, chứng thực. Qua hơn 01 năm triển khai thực hiện, Quy chế đã góp phần tăng cường sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả trong công tác, thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của hai cơ quan trong phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về công chứng, chứng thực, góp phần đảm bảo an ninh, trật tự, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.

- Ngày 21/4/2017, Sở Tư pháp tổ chức Tọa đàm về hoạt động công chứng, chứng thực với sự tham gia của đại diện Ban Pháp chế Hội đồng nhân dân tỉnh, Phòng Nội chính Ủy ban nhân dân tỉnh, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Ngân hàng nhà nước Chi nhánh tỉnh Bình Dương, Sở Tài nguyên và Môi trường, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai cấp huyện và các tổ chức hành nghề công chứng nhằm trao đổi, thảo luận và giải quyết một số khó khăn, vướng mắc trong hoạt động công chứng, chứng thực như: việc cung cấp thông tin đất đai, sửa lỗi kỹ thuật trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, công chứng hợp đồng thế chấp, xác nhận, chứng thực các giấy tờ về hộ tịch,...Thông qua buổi Tọa đàm đã góp phần tháo gỡ một số khó khăn vướng mắc, thống nhất cách giải quyết đảm bảo trong công tác phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, Hội công chứng viên, tạo thuận lợi giải quyêt nhanh hơn cho người dân. Các tổ chức hành nghề công chứng nghiêm túc rà soát, rút kinh nghiệm, chấn chỉnh một số hạn chế trong quá trình hành nghề; Ngân hàng nhà nước Chi nhánh tỉnh Bình Dương, Sở Tài nguyên và Môi trường rà soát, chấn chỉnh và tiếp tục phối hợp chặt chẽ hơn nữa với Sở Tư pháp, tổ chức hành nghề công chứng nhằm tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động công chứng.

Ngoài ra, Sở Tư pháp cũng đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện tốt các nhiệm vụ đã đề ra tại Kế hoạch số 4477/KH-UBND ngày 19/12/2014. Bình Dương là một trong những tỉnh đầu tiên trong cả nước ban hành mức trần thù lao công chứng (Quyết định số 04/2015/QĐ-UBND ngày 26/02/2015 về việc ban hành mức trần thù lao công chứng và thù lao dịch thuật trên địa bàn tỉnh Bình Dương). Quyết định số 04/2015/QĐ-UBND đã được các tổ chức hành nghề công chứng, Phòng Tư pháp và các tổ chức, cá nhân có liên thực hiện nghiêm túc. Việc áp dụng mức trần thù lao công chứng và thù lao dịch thuật góp phần giảm thiểu tình trạng thu thù lao tùy tiện và cạnh tranh không lành mạnh giữa các tổ chức hành nghề công chứng.

Ngày 21/12/2015, Hội Công chứng viên tỉnh Bình Dương được thành lập theo Quyết định số 3341/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh. Đây là tổ chức xã hội - nghề nghiệp của các công chứng viên đang hành nghề tại tỉnh Bình Dương, được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tự quản, công khai, minh bạch, không vì mục đích lợi nhuận, tự chịu trách nhiệm về kinh phí hoạt động, chịu sự quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân tỉnh và hướng dẫn của Hiệp hội công chứng viên Việt Nam. Sự ra đời của Hội Công chứng viên có ý nghĩa quan trọng, đánh dấu sự lớn mạnh trong hoạt động công chứng của tỉnh. Sở Tư pháp đã phối hợp với Sở Nội vụ trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 301/QĐ-UBND ngày 15/02/2016 về việc phê duyệt Điều lệ Hội Công chứng viên tỉnh Bình Dương, làm cơ sở quan trọng cho hoạt động của Hội.

Xây dựng dữ liệu công chứng và ban hành quy chế khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu công chứng. Thời gian qua, Sở Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp với Sở Tài chính, Sở Thông tin và Truyền thông, Công ty TNHH MTV HTTT Giải Pháp Việt (nhà thầu) và chỉ đạo Phòng công chứng số 1 (chủ đầu tư) cùng với các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh tiến hành xây dựng và triển khai Phần mềm quản lý công chứng (Cơ sở dữ liệu công chứng). Phần mềm có chức năng soạn thảo hợp đồng, giao dịch, tra cứu, ngăn chặn và chia sẻ dữ liệu công chứng giữa các tổ chức hành nghề công chứng giúp tổ chức hành nghề công chứng ngăn chặn các đối tượng lừa đảo và hạn chế tối đa những rủi ro trong hoạt động công chứng, bảo đảm lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức cũng như lợi ích các tổ chức hành nghề công chứng. Ngày 03/12/2019, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 29/2019/QĐ-UBND về việc ban hành Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương nhằm tạo khung pháp lý rõ ràng, thống nhất cho việc khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng tại địa phương.

Khó khăn, vướng mắc, bất cập trong quá trình triển khai thực hiện Luật Công chứng

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, việc triển khai thi hành Luật Công chứng vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc.

Về thể chế, hệ thống pháp luật liên quan đến hoạt động công chứng hiện nay vẫn còn một số quy định chồng chéo, mâu thuẫn nhau như Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Hôn nhân và Gia đình. Một số quy định còn chưa rõ ràng, cụ thể, được hiểu chưa thống nhất, việc hướng dẫn, giải thích pháp luật liên quan đến đất đai còn chậm khiến cho việc vận dụng, áp dụng pháp luật trong hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ công chứng có khó khăn, ví dụ như: công chứng giao dịch về tài sản hình thành trong tương lai, quyền tài sản,...

Quy định về việc thay đổi tên gọi của Văn phòng công chứng trong trường hợp thay đổi tên gọi, trụ sở hoặc Trưởng Văn phòng công chứng theo Khoản 3 Điều 22 Luật Công chứng là không hợp lý, bởi tên gọi là tài sản, là thương hiệu của Văn phòng công chứng được nhiều người biết đến. Việc thay đổi tên sẽ phần nào ảnh hưởng thương hiệu đã xây dựng của Văn phòng công chứng, người dân cũng khó khăn trong việc xác định Văn phòng công chứng mà mình đã từng công chứng. Mặt khác, hầu hết trụ sở Văn phòng công chứng đều được thuê khi bên cho thuê chấm dứt hợp đồng cho thuê thì Văn phòng đó sẽ phải thay đổi tên gọi (vấn đề thay đổi tên văn phòng phải thực hiện thủ tục hành chính thay đổi nội dung đăng ký hoạt động theo quy định pháp luật, khi đó, kéo theo thay đổi bảng hiệu, con dấu, in ấn lại hóa đơn,... làm tốn kém kinh phí và thời gian).

Luật Công chứng không có quy định giới hạn độ tuổi của công chứng viên nên thực tế có một số trường hợp công chứng viên tuổi đã cao (trên 65 tuổi) vẫn hành nghề công chứng. Đây là một bất cập bởi vì hoạt động công chứng dòi hỏi nghiệp vụ, kỹ năng và còn đòi hỏi phải có sự nghiên cứu, cập nhật pháp luật thường xuyên, sự nhanh nhạy cập nhập các thông tin về pháp luật cũng như các vấn đề phát sinh trong xã hội liên quan đến công chứng.

Hiện nay, tình hình tội phạm liên quan đến hoạt động công chứng đang diễn biến phức tạp. Trình độ tinh vi công nghệ làm giả ngày càng hiện đại, nhiều giấy tờ, tài liệu giả bằng mắt thường thì khó có thể phân biệt. Trong khi đó chế tài xử phạt đối với các hành vi này chưa cao, chưa đủ sức răn đe. Theo quy định của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 67/2015/NĐ-CP) thì mức phạt tiền cao nhất đối với hành vi "làm giả giấy tờ, văn bản hoặc giả mạo, thuê hoặc nhờ người khác giả mạo người yêu cầu công chứng để được công chứng hợp đồng, giao dịch; làm giả giấy tờ, văn bản để được công chứng bản dịch" chỉ là 10.000.000 đồng.

Về thực tiễn hoạt động công chứng, cơ sở vật chất về công nghệ thông tin có liên quan chưa được đáp ứng kịp thời trong hoạt động hành nghề công chứng. Hiện nay, Cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Duơng đã đi vào hoạt động, tuy nhiên Cơ sở dữ liệu công chứng chưa được liên thông với Cơ sở dữ liệu về hộ tịch, đất đai, đăng ký biện pháp bảo đảm,… Do vậy, để có căn cứ chứng nhận hợp đồng, giao dịch thì công chứng viên đề nghị người yêu cầu công chứng cung cấp thông tin hoặc phải xác minh thông tin dẫn đến mất thời gian, kéo dài thời gian chứng nhận hợp đồng, giao dịch của người dân, làm ảnh hưởng đến hoạt động công chứng.

Kiến nghị, đề xuất

Để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc nêu trên, Sở Tư pháp kiến nghị Ủy ban nhân dân tỉnh đề xuất, kiến nghị Trung ương nghiên cứu sửa đổi, bổ sung một số quy định bất cập trong Luật Công chứng, đồng thời, rà soát hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến hoạt động công chứng còn chồng chéo, mâu thuẫn giữa Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Hôn nhân và Gia đình,...;

Kiến nghị có chế tài xử lý nghiêm khắc hơn nữa đối với các trường hợp người yêu cầu công chứng cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật; sử dụng giấy tờ, văn bản giả mạo hoặc bị tẩy xóa, sửa chữa trái pháp luật để yêu cầu công chứng; thông báo, thông tin rộng rãi kết quả xử lý, thủ đoạn làm giả,... đề người dân biết, phòng ngừa.

Kiến nghị UBND tỉnh chỉ đạo Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh xây dựng cơ sở dữ liệu về bất động sản và liên thông với cơ sở dữ liệu công chứng của Sở Tư pháp nhằm đảm bảo cho công tác quản lý nhà nước về công chứng được hiệu quả, tạo thuận lợi cho việc tra cứu và khai thác thông tin về bất động sản.

Thông tinFalseTăng Thị Hà Chi
Danh sách các tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 03/12/2019)Danh sách các tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 03/12/2019)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/3/2019 10:00 PMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Nghị định số 87/2019/NĐ-CP: Sửa đổi một số quy định về phòng, chống rửa tiềnTinNghị định số 87/2019/NĐ-CP: Sửa đổi một số quy định về phòng, chống rửa tiền/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Ngày 14/11/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 87/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 116/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng, chống rửa tiền. Nghị định có hiệu lực cùng ngày ký.
11/20/2019 2:00 PMNoĐã ban hành
Nghị định số 87/2019/NĐ-CP bổ sung khoản 5 vào Điều 6 quy định về phân loại khách hàng theo mức độ rủi ro như sau: Căn cứ kết quả đánh giá rủi ro rửa tiền và tài trợ khủng bố tại đối tượng báo cáo, đối tượng báo cáo được áp dụng các biện pháp nhận biết khách hàng đơn giản đối với những khách hàng được xác định có mức rủi ro rửa tiền hoặc tài trợ khủng bố thấp gồm một hoặc tất cả các biện pháp sau: Không thu thập thông tin về mục đích, bản chất mối quan hệ kinh doanh nếu có cơ sở nhận biết được mục đích và bản chất từ các loại giao dịch hoặc mối quan hệ kinh doanh đã được thực hiện, thiết lập; xác thực nhận dạng khách hàng và chủ sở hữu hưởng lợi sau khi thiết lập mối quan hệ kinh doanh; giảm tần suất cập nhật nhận dạng khách hàng; giảm mức độ theo dõi và kiểm soát giao dịch.
Đối tượng báo cáo không được áp dụng các biện pháp nhận biết khách hàng đơn giản trong trường hợp nghi ngờ liên quan đến rửa tiền hoặc tài trợ khủng bố.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan hướng dẫn tiêu chí đánh giá rủi ro rửa tiền, tài trợ khủng bố để đối tượng báo cáo thực hiện.
Bên cạnh đó, Nghị định số 87/2019/NĐ-CP cũng sửa đổi điều 5 về chủ sở hữu hưởng lợi quy định tại Nghị định số 116/2013/NĐ-CP như sau: Đối tượng báo cáo phải xác định chủ sở hữu hưởng lợi cuối cùng của khách hàng và áp dụng các biện pháp để nhận biết và cập nhật thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi thông qua các tiêu chí sau: cá nhân sở hữu thực tế đối với một tài khoản hoặc một giao dịch: chủ tài khoản, đồng chủ tài khoản hoặc bất kỳ người nào chi phối hoạt động của tài khoản hoặc thụ hưởng từ giao dịch đó; cá nhân có quyền chi phối pháp nhân: cá nhân nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp từ 25% trở lên vốn điều lệ của pháp nhân đó; chủ doanh nghiệp tư nhân; cá nhân khác thực tế chi phối, kiểm soát pháp nhân đó; cá nhân có quyền chi phối một ủy thác đầu tư, thỏa thuận ủy quyền: cá nhân ủy thác, ủy quyền; cá nhân có quyền chi phối cá nhân, pháp nhân hoặc tổ chức ủy thác, ủy quyền.
Ngoài ra, Nghị định số 87/2019/NĐ-CP cũng bổ sung khoản 5 vào Điều 17 về trách nhiệm báo cáo, cung cấp thông tin quy định tại Nghị định số 116/2013/NĐ-CP như sau: Đối tượng báo cáo có trách nhiệm cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan điều tra các cấp kể từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, kể cả các thông tin thuộc bí mật nhà nước. Cơ quan điều tra khi tiếp nhận các thông tin thuộc bí mật nhà nước có trách nhiệm lưu trữ, bảo quản, sử dụng theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước./.
(Nguồn Cổng Thông tin điện tử Bộ Tư pháp:https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/van-ban-chinh-sach-moi.aspx?ItemID=3027​)

Thông tinFalsePhòng Hành chính Tư pháp
Danh sách tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 20/11/2019)Danh sách tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 20/11/2019)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
11/20/2019 10:00 AMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Kết quả triển khai thực hiện Quyết định số 2104/QĐ-TTg ngày 29/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng đến năm 2020” trên địa bàn tỉnh Bình DươngBài viếtKết quả triển khai thực hiện Quyết định số 2104/QĐ-TTg ngày 29/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng đến năm 2020” trên địa bàn tỉnh Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
11/19/2019 11:00 AMNoĐã ban hành

Ngày 29/12/2013, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt "Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng đến năm 2020". Để triển khai thực hiện Quyết định số 2104/QĐ-TTg, Sở Tư pháp đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 2657/KH-UBND ngày 12/8/2014 triển khai thực hiện "Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng đến năm 2020" trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Theo chỉ đạo, định hướng của Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Tư pháp đã tích cực chủ động phối hợp với các sở, ngành, đơn vị có liên quan tổ chức thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ được giao, như: nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, cán bộ, công chức và các tầng lớp nhân dân về vai trò, vị trí của nghề công chứng và công chứng viên trong xã hội; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về hoạt động công chứng, về thực hiện Quy hoạch thông qua việc củng cố, kiện toàn, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ tham mưu quản lý nhà nước về công chứng; tiếp tục thực hiện việc chuyển giao thẩm quyền chứng thực các hợp đồng, giao dịch về bất động sản từ Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã sang tổ chức hành nghề công chứng phù hợp với tình hình thực tiễn tại địa phương; xây dựng và triển khai Phần mềm quản lý công chứng; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra về công chứng để kịp thời chấn chỉnh các sai phạm; phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ công chứng viên; củng cố, phát triển tổ chức hành nghề công chứng; thành lập Hội Công chứng viên tỉnh Bình Dương,...

Sau 05 năm triển khai thực hiện, kết quả đạt được như sau:

1. Tình hình tổ chức và hoạt động công chứng

a) Về tổ chức hành nghề công chứng

Theo Quyết định số 2104/QĐ-TTg, chỉ tiêu thành lập tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương đến năm 2020 là 31 tổ chức. Tuy nhiên, Bình Dương có tốc độ phát triển kinh tế nhanh, tốc độ đô thị hóa mạnh, tập trung nhiều khu công nghiệp, khu dân cư, khu đô thị, sự phát triển nhanh của thị trường bất động sản, thị trường vốn (tài chính, ngân hàng…), kéo theo nhu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch và chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký của cá nhân, tổ chức tại địa phương ngày càng nhiều. Xuất phát từ tình hình thực tiễn, Sở Tư pháp đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh đề xuất Bộ Tư pháp điều chỉnh Quy hoạch phát triển tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương, theo đó bổ sung thêm 02 tổ chức, nâng tổng số tổ chức được quy hoạch là 33 tổ chức.

Tính đến ngày 30/6/2019, tỉnh Bình Dương đã phát triển 32 tổ chức hành nghề công chứng, gồm 02 Phòng công chứng và 30 Văn phòng công chứng được phân bổ tại 9/9 đơn vị hành chính cấp huyện. So với thời điểm trước khi Luật Công chứng năm 2014 có hiệu lực thi hành, số lượng tổ chức hành nghề công chứng tăng thêm được 12 tổ chức (tăng 1,6 lần). Như vậy, tỉnh Bình Dương đã hoàn thành việc phát triển tổ chức hành nghề công chứng sớm hơn so với thời gian dự kiến tại Quy hoạch.  

NămSố tổ chức hành nghề công chứng/công chứng viên
Tổng số TCHNCC/CCVPhòng công chứngVăn phòng công chứng
201420/25218
201521/45219
201626/61224
201726/59224
201829/69227
6 tháng đầu năm 201932/76230

Các Văn phòng công chứng được thành lập theo chủ trương xã hội hóa đã hoạt động ổn định. Công tác quản trị, điều hành tổ chức, hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng ngày càng được cải tiến theo hướng chuyên nghiệp hóa. Việc phát triển các tổ chức hành nghề công chứng rộng khắp gắn với địa bàn dân cư theo chủ trương xã hội hóa đã tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, tổ chức trong việc thực hiện yêu cầu công chứng.

b) Về đội ngũ công chứng viên

Trước thời điểm Luật Công chứng năm 2014 có hiệu lực thi hành, toàn tỉnh có 42 công chứng viên. Đến nay, tổng số công chứng viên đang hành nghề tại các tổ chức hành nghề công chứng là 76 người (tăng 34 người). Nhìn chung, số lượng các công chứng viên hành nghề tăng dần theo từng năm: năm 2015: 45 người; năm 2016: 61 người; năm 2017: 59 người (giảm do công chứng viên thay đổi nơi hành nghề); năm 2018: 69 người; 6 tháng đầu năm 2019: 76 người.

Sở Tư pháp thực hiện việc tiếp nhận, thẩm tra hồ sơ đề nghị bổ nhiệm 24 công chứng viên, Sự phát triển đội ngũ công chứng viên hiện nay về cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu công chứng, hầu hết công chứng viên được bổ nhiệm sau ngày 01/01/2015 đều đã qua đào tạo nghề công chứng, được bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng hàng năm.

c) Về kết quả hoạt động công chứng

- Số lượng việc công chứng

NămSố lượng việc công chứng
Tổng sốPhòng công chứngVăn phòng công chứng
2014102.21818.03284.186
2015160.62217.206143.416
2016204.10111.353192.748
2017282.69810.337272.361
2018276.3209.650266.670
6 tháng đầu năm 201999.2353.47795.758

- Phí, thù lao công chứng và số tiền nộp ngân sách nhà nước

NămPhí công chứngThù lao công chứngSố tiền nộp ngân sách nhà nước/nộp thuế
PCCVPCCPCCVPCCPCCVPCC
20148.025.223.00025.190.987.520  3.768.126.5003.268.107.721
20159.297.894.00038,568,641,402222.778.0005,056,447,1544.701.345.5004,863,143,473
20167.975.366.00060.214.085.968707.378.01711.847.134.5453.987.683.0006.970.141.743
20178.891.399.00083.420.856.840705.001.67514.810.506.3602.268.851.50010.070.480.526
201810.079.345.00092.102.217.099497.453.66819.190.349.2162.519.836.25010.149.919.778
6 tháng đầu năm 20193.620.767.00040.270.750.149199.394.4285.897.516.000965.817.9143.818.336.825

2. Việc thực hiện Kế hoạch số 2657/KH-UBND ngày 12/8/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh triển khai thực hiện Quyết định số 2104/QĐ-TTg

Trên tinh thần bám sát các nhiệm vụ theo Kế hoạch số 2657/KH-UBND, Sở Tư pháp kịp thời phát triển tổ chức hành nghề công chứng đảm bảo theo Quy hoạch, có các biện pháp hỗ trợ phát triển tổ chức hành nghề công chứng như: đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về công chứng; tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành các quyết định về chuyển giao thẩm quyền chứng thực hợp đồng, giao dịch sang tổ chức hành nghề công chứng (có sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với từng giai đoạn), mức trần thù lao công chứng và thù lao dịch thuật trên địa bàn tỉnh Bình Dương, tiêu chí xét duyệt hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương; phê duyệt Đề án xây dựng và triển khai Phần mềm quản lý công chứng,... Đồng thời, Sở Tư pháp luôn tăng cường công tác thanh, kiểm tra việc tổ chức và hoạt động công chứng theo định kỳ hoặc đột xuất nhằm phát hiện và xử lý kịp thời những vi phạm trong hoạt động công chứng, cụ thể như:

- Sở Tư pháp luôn quan tâm chú trọng thực hiện tốt công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về công chứng, chính sách phát triển nghề công chứng tại địa phương bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú, qua đó, đưa các quy định pháp luật đến gần hơn với các tầng lớp nhân dân. Việc hướng dẫn chỉ đạo tháo gỡ các vướng mắc, khó khăn trong hoạt động hành nghề công chứng được Sở Tư pháp thực hiện thường xuyên thông qua: các cuộc họp giao ban định kỳ với các tổ chức hành nghề công chứng; thông qua việc trả lời các văn bản kiến nghị của các tổ chức hành nghề công chứng; tổ chức họp với một số sở, ngành có liên quan như Sở Tài nguyên và Môi trường, cơ quan Tòa án, cơ quan Viện kiểm sát, cơ quan Công an,...để thống nhất trong việc áp dụng pháp luật trong hoạt động công chứng.

- Việc chuyển giao thẩm quyền chứng thực các hợp đồng, giao dịch từ Ủy ban nhân dân sang các tổ chức hành nghề công chứng

Thực hiện chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 và Luật Công chứng, bên cạnh việc tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt các Đề án phát triển tổ chức hành nghề công chứng tại Bình Dương, Sở Tư pháp còn sớm tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành các quyết định chuyển giao thẩm quyền chứng thực các hợp đồng, giao dịch cho tổ chức hành nghề công chứng trên cơ sở rà soát, đánh giá nguồn nhân lực công chức làm công tác tư pháp - hộ tịch tại cấp xã cũng như kết quả hoạt động chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã, từ đó tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành các quyết định chuyển giao thẩm quyền chứng thực hợp đồng, giao dịch sang tổ chức hành nghề công chứng. Theo đó, chuyển giao việc chứng thực toàn bộ các hợp đồng, giao dịch thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện, gồm 9/9 huyện, thị xã, thành phố và chuyển giao việc chứng thực các hợp đồng, giao dịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã, gồm 78/91 xã, phường, thị trấn sang tổ chức hành nghề công chứng thực hiện (Các xã chưa chuyển giao gồm: xã Hiếu Liêm, Đất Cuốc, Tân Định, Lạc An và Tân Thành của huyện Bắc Tân Uyên; An Long, An Thái và An Linh của huyện Phú Giáo; Minh Hòa, Minh Tân, Minh Thạnh, Long Tân và Long Hòa của huyện Dầu Tiếng).  

Nhằm đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai và tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp khi thực hiện thủ tục hành chính phù hợp với quy định của Luật Đất đai năm 2013, Luật Công chứng năm 2014 và các văn bản hướng dẫn của Trung ương, Sở Tư pháp đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 41/2015/QĐ-UBND ngày 05/10/2015 sửa đổi, bổ sung Quyết định số 17/2013/QĐ-UBND theo hướng giao thêm thẩm quyền chứng thực một số hợp đồng, giao dịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện.

Sự chuyển giao về thẩm quyền chứng thực đối với các giao dịch từ Ủy ban nhân dân sang tổ chức hành nghề công chứng đã tăng cường bảo đảm an toàn pháp lý cho người dân khi thực hiện các giao dịch. Đồng thời, tạo điều kiện cho cán bộ của Ủy ban nhân dân tập trung vào việc thực hiện các công việc chuyên môn khác.

3. Tác động của hoạt động công chứng đến sự phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương

 Công tác xã hội hóa hoạt động công chứng trong những năm qua đã có nhiều đóng góp tích cực, quan trọng vào sự phát triển chung của Tỉnh.

- Tác động về kinh tế - xã hội 

Hiện tại, tỉnh Bình Dương có 32 tổ chức hành nghề công chứng, gồm 2 Phòng công chứng và 30 Văn phòng công chứng được phân bố hợp lý tại 9/9 đơn vị hành chính cấp huyện với tổng số 77 công chứng viên đang hành nghề (tăng 12 Văn phòng công chứng và 39 công chứng viên so với trước năm 2014).

Theo tổng hợp số liệu báo cáo từ ngày 01/01/2014 đến ngày 30/6/2019, các tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện chứng nhận 1.125.194 việc, thu được trên 450 tỷ đồng, đóng góp gần 57 tỷ đồng vào ngân sách nhà nước và giải quyết được việc làm cho 365 lao động. Nhìn chung, số lượng việc do các tổ chức hành nghề công chứng giải quyết tăng đều qua từng năm (chỉ riêng năm 2018, giảm 6.378 việc so với năm 2017).

 - Tác động đối với người dân

Các Văn phòng công chứng đã thực hiện khá tốt chức năng, nhiệm vụ, đáp ứng nhu cầu công chứng, chứng thực của người dân, không để xảy ra tình trạng quá tải, ùn ứ tại các tổ chức hành nghề công chứng. Việc đầu tư cho cơ sở vật chất được các Văn phòng công chứng quan tâm, chất lượng dịch vụ được nâng cao, phục vụ thuận tiện, nhanh chóng cho người có yêu cầu công chứng. Tại trụ sở niêm yết đầy đủ các thủ tục hành chính trong lĩnh vực công chứng, chứng thực; quy định thành phần hồ sơ yêu cầu công chứng, chứng thực; công khai, minh bạch các mức thu phí công chứng, phí chứng thực, thù lao công chứng, thù lao dịch thuật để khách hàng thực hiện hợp đồng, giao dịch.

- Tác động đối với hoạt động tư pháp

Hoạt động công chứng góp phần quan trọng trong tiến trình cải cách hành chính, giúp giảm tải áp lực công tác chứng thực tại Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp, khiếu nại trong giao kết hợp đồng, giao dịch về kinh tế, dân sự, ... đảm bảo tính an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch, tiết kiệm thời gian, chi phí cho xã hội.   

Thông tinFalseTăng Thị Hà Chi
Sơ kết 01 năm thực hiện Quy chế phối hợp giữa Sở Tư pháp và Công an tỉnh về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về công chứng, chứng thực trên địa bàn tỉnh Bình DươngBài viếtSơ kết 01 năm thực hiện Quy chế phối hợp giữa Sở Tư pháp và Công an tỉnh về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về công chứng, chứng thực trên địa bàn tỉnh Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
11/15/2019 10:00 AMNoĐã ban hành
Ngày 06/4/2018, Sở Tư pháp và Công an tỉnh đã ký kết Quy chế phối hợp số 427/QCPH/STP-CAT về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về công chứng, chứng thực trên địa bàn tỉnh Bình Dương (sau đây gọi tắt là Quy chế). Để có cơ sở đánh giá toàn diện hiệu quả của Quy chế sau 01 năm triển khai thực hiện và báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Tư pháp đã chủ động ban hành Công văn 916/STP-BTTP ngày 27/5/2019 (kèm theo biểu mẫu báo cáo thống kê), theo đó, yêu cầu Hội Công chứng viên tỉnh và Phòng Tư pháp các huyện, thị xã, thành phố triển khai thực hiện báo cáo sơ kết 01 năm thực hiện Quy chế; đồng thời ban hành Công văn số 1545/STP-BTTP ngày 21/8/2019 đề nghị Công an tỉnh báo cáo tình hình kết quả một năm thực hiện Quy chế phối hợp của Ngành Công an các cấp trên địa bàn tỉnh.

Báo cáo của các đơn vị đã tập trung làm rõ công tác triển khai thực hiện Quy chế phối hợp, những kết quả đạt được sau 01 năm thực hiện Quy chế phối hợp và những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện, từ đó đề xuất các kiến nghị, giải pháp.

Ngành Tư pháp, Ngành Công an tích cực triển khai thực hiện Quy chế phối hợp

Đối với Ngành Tư pháp, Sở Tư pháp đã ban hành Công văn số 443/STP-BTTP ngày 10/4/2018 để triển khai thực hiện Quy chế đến Phòng Tư pháp cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã, Hội Công chứng viên tỉnh và các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh. Theo đó, Sở Tư pháp đề nghị các cơ quan, đơn vị tổ chức triển khai, quán triệt nội dung Quy chế này tại cơ quan, đơn vị mình; chủ động phối hợp với cơ quan hữu quan khi phát hiện có thông tin, tài liệu hoặc vụ việc, hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực công chứng, chứng thực. Yêu cầu Hội Công chứng viên cụ thể hóa quy trình thực hiện ở cơ sở, đồng thời thường xuyên nắm bắt thông tin, tình hình vi phạm, những khó khăn, vướng mắc trong quá trình các tổ chức hành nghề công chứng thực hiện Quy chế phối hợp để báo cáo, kiến nghị Sở Tư pháp. Ngoài ra, Sở Tư pháp cũng thường xuyên chỉ đạo, quán triệt việc thực hiện Quy chế trong các cuộc giao ban công chứng, giao ban công tác tư pháp định kỳ.

Phòng Tư pháp, Ủy ban nhân các xã, phường, thị trấn đã quán triệt các nội dung của Quy chế đến toàn thể cán bộ công chức, người lao động tại đơn vị mình thông qua các cuộc họp giao ban, sinh hoạt "Ngày pháp luật"; phổ biến rộng rãi cho các tầng lớp nhân dân pháp luật về công chứng, chứng thực, đồng thời lồng ghép tuyên truyền về nội dung, ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực công chứng, chứng thực bằng nhiều hình thức phù hợp với điều kiện, đặc thù của từng địa phương. Kết quả, các địa phương đã tổ chức tuyên truyền được 201 cuộc với 9.147 lượt người tham dự; phát thanh được 526 lần với thời lượng 20 giờ 25 phút. Có 01 địa phương đã ban hành Quy chế phối hợp với cơ quan Công an tại địa phương (Phòng Tư pháp thị xã Bến Cát và Công an thị xã Bến Cát ký kết Quy chế phối hợp số 04/QCPH/CATX-PTP ngày 17/5/2018).

Hội Công chứng viên tỉnh đã thực hiện tốt vai trò, chức năng của Hội trong việc triển khai thực hiện Quy chế, như: ban hành Công văn số 10/CV-HCCV ngày 13/3/2018 về việc tăng cường công tác kiểm tra trong hoạt động công chứng, chứng thực; lập một group Zalo chung tạo môi trường cho các công chứng viên, chuyên viên chia sẻ thông tin lưu ý (giấy tờ giả, đối tượng nghi vấn...) hoặc chia sẻ những thông tin về giấy tờ, văn bản giả mạo đã được cơ quan, tổ chức khác phát hiện để mọi người nhận biết, nhận dạng, rút kinh nghiệm trong thực tiễn hoạt động công chứng, chứng thực; định kỳ hàng năm tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ công chứng viên, chuyên viên của tổ chức hành nghề công chứng, trong đó chú trọng bồi dưỡng kỹ năng phát hiện giấy tờ giả, giả mạo chủ thể.

Thực hiện chỉ đạo của Sở Tư pháp và Hội Công chứng viên, các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh đã phổ biến, quán triệt đến toàn thể công chứng viên, chuyên viên, người lao động tại đơn vị mình cũng như tuyên truyền, phổ biến cho người dân đến thực hiện công chứng, chứng thực biết về nội dung Quy chế phối hợp; niêm yết số điện thoại của cơ quan công an để người dân tiện liên hệ khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực công chứng, chứng thực; tham dự cuộc họp giao ban công tác tư pháp tại địa bàn cấp huyện nơi tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở để thảo luận, chia sẻ kinh nghiệm nhận biết giấy tờ giả. Các công chứng viên nâng cao tinh thần cảnh giác trong quá trình kiểm tra, đối chiếu giấy tờ, tài liệu đồng thời kiên quyết đấu tranh khi phát hiện giấy tờ, tài liệu có dấu hiệu giả mạo, chủ động phối hợp với Cơ quan công an để xử lý các giấy tờ, tài liệu có dấu hiệu giả mạo theo quy định của pháp luật.

Đối với Công an tỉnh và cơ quan Công an các đơn vị, địa phương, sau khi Quy chế được ký kết, Công an tỉnh đã tổ chức triển khai thực hiện và giao Phòng PC03 là cơ quan thường trực tham mưu thực hiện Quy chế, đồng thời chỉ đạo Công an 9 huyện, thị xã, thành phố và các Phòng nghiệp vụ: PC01, PC02, PC03, PC04, PA09 căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được giao để thực hiện các nội dung có liên quan trong Quy chế phối hợp.

Phòng PC03 đã tham mưu Ban Giám đốc triển khai các văn bản chỉ đạo, thống kê báo cáo và theo dõi quá trình thực hiện Quy chế. Công an các đơn vị, địa phương nghiêm túc triển khai thực hiện Quy chế, theo đó đã ban hành 14 Kế hoạch để thực hiện Quy chế và 14 báo cáo về kết quả thực hiện Quy chế. Trong quá trình triển khai thực hiện, tích cực, chủ động trao đổi thông tin với Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp xã và các tổ chức hành nghề công chứng về các phương thức, thủ đoạn phạm tội, các quy định mới về công chứng, chứng thực,... để chủ động trong công tác phòng, chống tội phạm.

Nhìn chung Ngành Tư pháp, Công an các cấp ở địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã, Hội Công chứng viên tỉnh và các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh ngày càng nhận thức rõ hơn vai trò, trách nhiệm trong công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực công chứng, chứng thực, vì vậy đã có sự quan tâm, tích cực triển khai thực hiện Quy chế phối hợp. Lãnh đạo Công an, Tư pháp các đơn vị, địa phương có sự chỉ đạo sâu sát, thể hiện vai trò người đứng đầu trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và trong thực hiện Quy chế phối hợp nói riêng.

Kết quả thực hiện Quy chế phối hợp

Trao đổi, cung cấp các thông tin, tài liệu liên quan đến công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về công chứng, chứng thực, trong quá trình thực hiện công tác công chứng, chứng thực, khi phát hiện có thông tin, tài liệu hoặc vụ việc, hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực công chứng, chứng thực, Phòng Tư pháp cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã, Hội Công chứng viên tỉnh và các tổ chức hành nghề công chứng đã kịp thời trao đổi, cung cấp thông tin cho cơ quan công an.

Các hoạt động phục vụ công tác phát hiện vụ việc, điều tra, xác minh, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về công chứng, chứng thực

Kết quả phối hợp giữa Sở Tư pháp và Công an tỉnh: từ ngày 06/4/2018 đến ngày 30/4/2019, Sở Tư pháp nhận được 06 Công văn của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dương đề nghị thẩm định tính pháp lý của 25 văn bản công chứng do 04 Văn phòng công chứng trên địa bàn tỉnh chứng nhận. Sở Tư pháp đã yêu cầu các Văn phòng công chứng cung cấp hồ sơ, báo cáo giải trình và tiến hành thẩm định hồ sơ, tài liệu. Trên cơ sở đó có văn bản phúc đáp Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh. Bên cạnh đó, Sở Tư pháp cũng yêu cầu 07 Văn phòng công chứng rà soát hồ sơ lưu trữ và báo cáo về Sở Tư pháp để cung cấp hồ sơ kịp thời phục vụ cho công tác điều tra theo đề nghị của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh.    

Kết quả phối hợp giữa Phòng Tư pháp cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã, các tổ chức hành nghề công chứng và cơ quan công an đơn vị, địa phương: Phòng Tư pháp và Ủy ban nhân dân các phường đã phát hiện 146 vụ việc có dấu hiệu nghi ngờ giả mạo, cơ quan thực hiện chứng thực đã từ chối chứng thực theo quy định pháp luật. Ngành Công an phát hiện 17 vụ việc.

Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về công chứng, chứng thực, Sở Tư pháp luôn quan tâm, chú trọng công tác bồi dưỡng kỹ năng công chứng, chứng thực cho đội ngũ công chứng viên, chuyên viên công chứng của các tổ chức hành nghề công chứng, đội ngũ cán bộ tư pháp cấp huyện, cấp xã, đặc biệt là kỹ năng phát hiện giấy tờ giả, giả mạo chủ thể. Vì vậy, Sở Tư pháp định hướng chỉ đạo Hội Công chứng viên tỉnh đưa chuyên đề này vào nội dung bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng hàng năm.

Hàng năm, Sở Tư pháp, Hội Công chứng viên tỉnh đều tổ chức lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng cho đội ngũ công chứng viên trên địa bàn tỉnh, trong đó có mời báo cáo viên là cán bộ Phòng Cảnh sát hình sự và Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh triển khai nội dung bồi dưỡng "Kỹ năng phát hiện giấy tờ giả, giả mạo chủ thể trong hoạt động công chứng và các biện pháp phòng ngừa". Đặc biệt năm 2019 Sở Tư pháp đã tổ chức lớp tập huấn nhận dạng hồ sơ, giấy tờ thật - giả cho đội ngủ cán bộ, công chứng tiếp nhận hồ sơ thủ tục hành chính một cửa của các sở ngành cấp tỉnh, toàn bộ công chức tư pháp cấp huyện và cấp xã trên địa bàn tỉnh.

Công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về công chứng, chứng thực: đang thực hiện theo từng ngành.

Chế độ giao ban, hội họp, theo Quy chế phối hợp, định kỳ hàng năm, Sở Tư pháp và Công an tỉnh luân phiên nhau chủ trì tổ chức giao ban để đánh giá tình hình, kết quả thực hiện Quy chế, đồng thời trao đổi, thống nhất biện pháp tăng cường phối hợp thực hiện Quy chế trong thời gian tiếp theo. Tuy nhiên, căn cứ tình hình cụ thể, việc đánh giá kết quả 01 năm thực hiện Quy chế phối hợp được thực hiện trên cơ sở tổng hợp báo cáo của các đơn vị có liên quan.

Nhìn chung, sau khi Quy chế phối hợp giữa Sở Tư pháp và Công an tỉnh được ban hành, các Phòng Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp xã, tổ chức hành nghề công chứng và cơ quan công an đã nghiêm túc thực hiện Quy chế phối hợp. Công tác phối hợp giữa các cơ quan thực hiện công chứng, chứng thực với cơ quan công an được kịp thời và đạt kết quả tốt trong công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về công chứng, chứng thực trên địa bàn tỉnh. Số lượng vụ việc vi phạm pháp luật về công chứng, chứng thực chuyển sang cơ quan công an khá nhiều, thời gian xử lý vụ việc nhanh hơn; phạm vi, nội dung, phương pháp, lĩnh vực trao đổi ngày càng được mở rộng. Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động công chứng, chứng thực phát hiện nhiều trường hợp sử dụng giấy tờ, tài liệu có dấu hiệu giả mạo, khi thấy cơ quan, đơn vị thực hiện công chứng, chứng thực có dấu hiệu nghi ngờ và thông báo đến cơ quan công an, các đối tượng này lập tức bỏ đi. Vì vậy, số vụ việc phát hiện trên thực tế và số vụ việc được ghi nhận, lập biên bản có sự chênh lệch khá lớn. Bên cạnh đó, số vụ bị khởi tố vụ án hình sự và bị xử phạt vi phạm hành chính ít so với số vụ bị phát hiện.

Khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện Quy chế phối hợp

Về thời gian, quy trình, kết quả phối hợp, theo quy định của Quy chế, khi phát hiện, tiếp nhận thông tin, tài liệu, vụ việc có dấu hiệu tội phạm liên quan đến lĩnh vực công chứng, chứng thực cơ quan công an phải kịp thời phân công lực lượng xác minh giải quyết theo quy định pháp luật. Thực tế, có nơi tiếp nhận, thụ lý vụ việc nhanh, ngay sau khi nhận được tin báo của tổ chức hành nghề công chứng (ví dụ như: Công an phường Phú Cường, Công an thị xã Thuận An,…). Tuy nhiên, vẫn có một số nơi cơ quan công an tiếp nhận, thụ lý vụ việc còn chậm, khi đó người dân gây áp lực cho cán bộ tư pháp, công chứng viên hoặc nếu trường hợp đó là đối tượng làm giả giấy tờ thì đối tượng đã bỏ trốn.

Về quy trình xử lý vụ việc: theo đánh giá của Sở Tư pháp và Công an tỉnh, quy trình xử lý vụ việc hiện nay tương đối tốt. Khi cơ quan tư pháp, tổ chức hành nghề công chứng phát hiện vi phạm thì liên hệ và chuyển hồ sơ cho cơ quan công an kịp thời xử lý theo quy định pháp luật.

Trong một số trường hợp, sau khi tiếp nhận và phối hợp với cơ quan công an lập biên bản xử lý hành vi sử dụng giấy tờ, tài liệu giả mạo thì các tổ chức hành nghề công chứng không nhận được phản hồi bằng văn bản về kết quả giải quyết, xử lý hành vi vi phạm, dẫn đến các tổ chức hành nghề công chứng không nắm bắt được hành vi vi phạm đó có bị xử lý không, xử lý bằng hình thức gì, giấy tờ, văn bản phát hiện có đúng là giả mạo không để từ đó rút kinh nghiệm cho những lần tiếp nhận, giải quyết về sau.

Về tình trạng giả mạo giấy tờ và khó khăn trong việc đối chiếu bản sao từ bản chính, hiện nay tình trạng giả mạo giấy tờ trong hoạt động công chứng ngày càng đa dạng, tinh vi và rất khó phát hiện. Trình độ làm giả giấy tờ của các đối tượng này ngày càng cao, công nghệ làm giả ngày càng hiện đại, nhiều giấy tờ, tài liệu làm giả tinh vi từ dấu giáp lai, dấu nổi cho đến dấu chìm trên giấy đều giống thật nếu nhìn bằng mắt thường thì khó phân biệt thật giả. Nạn làm giả bằng cấp, chứng chỉ đã trở thành một vấn nạn của xã hội khi việc rao bán, làm giả bằng cấp, chứng chỉ được quảng cáo tràn lan trên mạng internet, ví dụ: chỉ cần đánh máy cụm từ "mua bằng đại học" trên Google thì xuất hiện rất nhiều trang quảng cáo về việc mua bán bằng cấp đại học như trang: https://lambangdaihoctoanquoc.com, https://lambangphoithat.com, https://lambangdaihocgiare.org…Nguyên nhân của thực trạng này chủ yếu là do chế tài xử phạt hành vi làm giả, sử dụng giấy tờ giả chưa cao, chưa đủ sức răn đe. Vì vậy, người thực hiện công chứng, chứng thực luôn phải đối mặt với rủi ro vì khó đủ trình độ, máy móc, phương tiện, kỹ thuật hỗ trợ để giám định, không có hệ thống dữ liệu cũng như không có phôi gốc (về chữ ký, con dấu, mẫu giấy…) để kiểm tra, so sánh nhận biết được hết các loại giấy chứng nhận về tài sản, bằng cấp, chứng chỉ,… đa dạng như hiện nay.

Kiến nghị, giải pháp       

Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả Quy chế phối hợp trong thời gian tới và tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc nêu trên, Sở Tư pháp và Công an tỉnh thống nhất một số giải pháp sau:

Đối với Sở Tư pháp, tiếp tục thường xuyên quán triệt các Phòng Tư pháp và tổ chức hành nghề công chứng thực hiện nghiêm các quy định pháp luật về công chứng, chứng thực và các quy định khác của pháp luật; chủ động thông báo cho cơ quan công an khi phát hiện vi phạm hoặc dấu hiệu bất thường trong hoạt động công chứng, chứng thực. Định kỳ thống kê các vụ việc vi phạm pháp luật về công chứng, chứng thực gửi về Công an tỉnh để nắm diễn biến tình hình vi phạm trong lĩnh vực này để từ đó có biện pháp phòng chống, ngăn chặn kịp thời. Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng phát hiện giấy tờ giả, giả mạo chủ thể trong hoạt động công chứng, chứng thực cho đội ngũ công chứng viên, chuyên viên công chứng của các tổ chức hành nghề công chứng, đội ngũ cán bộ tư pháp cấp huyện, cấp xã, cán bộ tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả tại bộ phận một cửa, một cửa liên thông của các sở, ban, ngành.

Đối với Công an tỉnh, tiếp tục thường xuyên quán triệt cán bộ chiến sĩ trong ngành thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các nội dung phối hợp giữa Công an tỉnh và Sở Tư pháp về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về công chứng, chứng thực trên địa bàn tỉnh Bình Dương, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật về công chứng, chứng thực. Quan tâm xác minh làm rõ các vụ việc vi phạm về công chứng, chứng thực do các Phòng Tư pháp, UBND cấp xã và các tổ chức hành nghề công chứng đã phát hiện và chuyển cho cơ quan công an xử lý theo quy định; sau khi kết thúc vụ án, vụ việc thì thông tin lại bằng văn bản về kết quả xử lý cho đơn vị, tổ chức đã phát hiện chuyển vụ việc. Tăng cường công tác phối hợp trao đổi thông tin giữa các đơn vị công an tỉnh và công an cấp huyện với Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, UBND cấp xã và các tổ chức hành nghề công chứng để nắm bắt tình hình vi phạm pháp luật về công chứng, chứng thực để chủ động có biện pháp ngăn chặn kịp thời.

 Sở Tư pháp và Công an tỉnh tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các cơ quan thông tin đại chúng đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, phổ biến để nâng cao nhận thức người dân về việc làm và sử dụng giấy tờ, tài liệu giả là hành vi vi phạm pháp luật, để người dân tự giác, nghiêm túc thực hiện theo quy định pháp luật, đồng thời tố giác đến cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý hành vi sử dụng và làm giả giấy tờ theo quy định của pháp luật./.

Thông tinFalseTăng Thị Hà Chi
Danh sách người tập sự hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương (Tính đến ngày 14/11/2019) Danh sách người tập sự hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương (Tính đến ngày 14/11/2019) /Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
11/14/2019 1:00 PMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Thông tư số 48/2019/TT-BCA sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2016/TT-BCA ngày 04 tháng 3 năm 2016 quy định về trình tự cấp, đổi, cấp lại thẻ Căn cước công dânThông tư số 48/2019/TT-BCA sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2016/TT-BCA ngày 04 tháng 3 năm 2016 quy định về trình tự cấp, đổi, cấp lại thẻ Căn cước công dân/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
11/1/2019 1:00 PMNoĐã ban hànhVăn bản Quy phạm Pháp luậtFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Danh sách người tập sự hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương (Tính đến ngày 25/10/2019) Danh sách người tập sự hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương (Tính đến ngày 25/10/2019) /Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/25/2019 1:00 PMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Danh sách tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 25/10/2019)Danh sách tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 25/10/2019)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/25/2019 11:00 AMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Thông báo kết quả của kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ baTinThông báo kết quả của kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ ba/bo-tro-tu-phap/PublishingImages/2019-10/tb-diem-thi_Key_11102019152606.jpg
10/11/2019 3:00 PMNoĐã ban hành

​Thực hiện Công văn số 3850/BTP-HĐKT ngày 04/10/2019 của Hội đồng kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ ba - Bộ Tư pháp​, ngày 11/10/2019, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương đã ban hành Công văn số 1885/STP-BTTP về việc thông báo kết quả của kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ ba. Theo đó, tỉnh Bình Dương có 34 thí sinh đăng ký tham dự kỳ kiểm tra. Kết quả có 15 thí sinh đạt yêu cầu, 18 thí sinh không đạt yêu cầu và 01 thí sinh hoãn thi (Chi tiết xem tại file đính kèm CV 3850-BTP.pdf).

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 26 Thông tư số 04/2015/TT-BTP, thí sinh có quyền đề nghị phúc tra đối với bài kiểm tra viết. Đơn đề nghị phúc tra gửi về Cục Bổ trợ tư pháp - Bộ Tư pháp, số 58 - 60 Trần Phú, Ba Đình, Hà Nội trước ngày 20/10/2019.​/.​


cv1.png

cv2.png

Thông tin; Tin ngành tư phápFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Danh sách người tập sự hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương (Tính đến ngày 10/10/2019) Danh sách người tập sự hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương (Tính đến ngày 10/10/2019) /Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/10/2019 1:00 PMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Chế định về công chứng và chứng thực theo pháp luật Việt Nam - Bất cập và kiến nghị hoàn thiệnTinChế định về công chứng và chứng thực theo pháp luật Việt Nam - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/1/2019 4:00 PMNoĐã ban hành

1 Khái niệm và phân biệt hoạt động công chứng với chứng thực 

1.1. Khái niệm công chứng

Hoạt động công chứng xuất hiện tại Việt Nam từ khá lâu và được ghi nhận lần đầu tiên vào thời kỳ Pháp thuộc[1]. Sau cách mạng tháng tám năm 1945 và khi đất nước thống nhất thì các chế định về công chứng và hoạt động công chứng đã có nhiều sửa đổi, bổ sung để kịp thời điều chỉnh các quan hệ xã hội. Tuy trải qua nhiều thời kỳ, nhiều văn bản điều chỉnh khác nhau nhưng trong các nội dung chỉ quy định chung về hoạt động công chứng, chứng nhận, chứng thực mà không nêu rõ thế nào là công chứng, là chứng nhận, là chứng thực.

Hiện nay, hoạt động công chứng chịu sự điều chỉnh của Luật Công chứng năm 2014, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015, theo đó, "Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản, tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng"[2]. Có thể thấy, khái niệm công chứng bao gồm các yếu tố sau đây:

Thứ nhất, người có thẩm quyền thực hiện công chứng phải là công chứng viên, bởi họ là những người được Nhà nước trao quyền thực hiện chức năng công chứng thông qua việc bổ nhiệm công chứng viên của Bộ Tư pháp.

Thứ hai, công chứng là việc chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch. Trong đó, tính hợp pháp nghĩa là không trái với các quy định pháp luật. Tính xác thực theo một số nghiên cứu[3] được chia thành ba cấp độ khác nhau, bao gồm:

(i) Xác định đúng người: Nghĩa là xác định đúng người yêu cầu công chứng thông qua giấy tờ tùy thân của họ. Đồng thời, xác định họ phải trong trạng thái tinh thần thoải mái, tự nguyện, không chịu bất kỳ một sức ép nào từ phía bên ngoài và họ hoàn toàn ý thức được hậu quả việc làm của mình.

(ii) Xác định đúng việc: Người yêu cầu công chứng phải xuất trình đủ các giấy tờ, tài liệu có liên quan đến hợp đồng, giao dịch đó.

(iii) Xác định bản chất thực của các hợp đồng, giao dịch: Công chứng viên phải xác định xem những thoả thuận của các bên đương sự có phản ánh đúng ý chí, nguyện vọng của họ hay không, các thoả thuận này có nhằm che giấu bất kỳ một mục đích nào khác hay không.

Thứ ba, hợp đồng, giao dịch được công chứng phải là các hợp đồng, giao dịch bắt buộc phải công chứng hoặc là các hợp đồng, giao dịch không bắt buộc phải công chứng nhưng do các bên yêu cầu công chứng nên công chứng viên thực hiện công chứng đối với các hợp đồng, giao dịch đó.

Thứ tư, việc công chứng chỉ được thực hiện đối với các hợp đồng, giao dịch, giấy tờ, tài liệu bằng văn bản. Bởi lẽ, theo pháp luật hiện hành, công chứng viên không được công chứng đối với các hợp đồng, giao dịch là lời nói, hành vi cụ thể mà phải được thể hiện ở dạng văn bản.

Thứ năm, hợp đồng, giao dịch được công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch được công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu[4]. Như vậy, khi hợp đồng, giao dịch đã được công chứng thì về nguyên tắc những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng không cần phải chứng minh và đương nhiên có giá trị chứng cứ đối với các bên, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu.

1.2. Khái niệm chứng thực

Bên cạnh hoạt động công chứng, hoạt động chứng thực cũng được pháp luật ghi nhận, điều chỉnh bởi những văn bản chuyên ngành. Tuy trải qua nhiều thời kỳ với các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau nhưng cho đến thời điểm hiện nay chưa có quy định nào chính thức khái niệm, định nghĩa thế nào là chứng thực. Theo Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch (Nghị định 23/2015/NĐ-CP)  thì hoạt động chứng thực gồm có: Chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch. Nội dung quan trọng nhất của Nghị định này là điều chỉnh về hoạt động chứng thực hợp đồng, giao dịch. Theo đó "chứng thực hợp đồng, giao dịch"  là việc cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Nghị định này chứng thực về thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch[5]. Theo quy định của pháp luật về chứng thực hợp đồng, giao dịch thì người yêu cầu chứng thực phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch còn người thực hiện chứng thực chịu trách nhiệm về thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch.

1.3. Phân biệt công chứng với chứng thực

a. Sự giống nhau giữa công chứng và chứng thực

- Công chứng, chứng thực là hoạt động dịch vụ công, được nhà nước uỷ quyền và do những người có thẩm quyền theo quy định pháp luật thực hiện.

- Người yêu cầu công chứng, chứng thực đều phải đóng phí theo khung quy định của pháp luật.

- Hợp đồng, giao dịch được công chứng hoặc được chứng thực đều có giá trị pháp lý và ràng buộc trách nhiệm đối với các bên tham gia hợp đồng, giao dịch.

- Việc công chứng, chứng thực phải tuân theo trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật.

b. Sự khác nhau giữa công chứng và chứng thực

- Về bản chất: Công chứng là chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch; còn chứng thực là chứng thực về thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch.

- Về cơ quan thực hiện: Đối với công chứng thì cơ quan thực hiện là phòng công chứng, văn phòng công chứng; còn đối với chứng thực thì đó là phòng tư pháp cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã.

- Về người có thẩm quyền: Đối với công chứng thì người có thẩm quyền là công chứng viên; đối với chứng thực thì đó là trưởng phòng, phó phòng tư pháp cấp huyện; chủ tịch, phó chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã.

- Về trách nhiệm của người thực hiện: Đối với công chứng thì công chứng viên phải chịu trách nhiệm về tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch; còn đối với chứng thực thì người yêu cầu chứng thực phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch; tính hợp lệ, hợp pháp của các giấy tờ; người thực hiện chứng thực chịu trách nhiệm về thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch.

- Về giá trị pháp lý văn bản được công chứng, chứng thực: Đối với công chứng thì hợp đồng, giao dịch được công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch được công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu. Còn đối với chứng thực thì

hợp đồng, giao dịch được chứng thực có giá trị chứng cứ chứng minh về thời gian, địa điểm các bên đã ký kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch.

- Về trách nhiệm bồi thường: Đối với công chứng thì tổ chức hành nghề công chứng phải bồi thường cho người yêu cầu công chứng; công chứng viên phải hoàn trả lại một khoản tiền cho tổ chức hành nghề công chứng đã chi trả khoản tiền bồi thường. Còn đối với chứng thực thì người thực hiện chứng thực gây thiệt hại thì sẽ bị xử lý kỷ luật, bồi thường theo quy định của pháp luật.

- Về pháp luật điều chỉnh: Đối với công chứng thì pháp luật điều chỉnh là Luật Công chứng năm 2014; còn đối với chứng thực thì đó là Nghị định 23/2015/NĐ-CP.

2. Bất cập trong các quy định về công chứng, chứng thực và kiến nghị hoàn thiện

2.1. Một số bất cập trong các quy định về công chứng, chứng thực

Với những quy định về công chứng và chứng thực đã được phân tích nêu trên, thực trạng áp dụng pháp luật đã dẫn đến những bất cập sau đây:

Thứ nhất, quy định về công chứng và chứng thực hiện hành chưa đảm bảo được nguyên tắc bình đẳng, không được phân biệt đối xử

Hợp đồng, giao dịch khi được công chứng hoặc chứng thực đều có giá trị chứng cứ và phát sinh hiệu lực về quyền, nghĩa vụ đối với các bên. Luật Công chứng quy định công chứng viên phải chịu trách nhiệm về tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch mà mình công chứng, nếu công chứng viên gây ra lỗi thì tổ chức hành nghề công chứng sẽ có trách nhiệm bồi thường theo quy định pháp luật. Quy định này đòi hỏi công chứng viên phải nắm vững các quy định pháp luật khi thực hiện hoạt động công chứng, nếu công chứng có lỗi thì phải có trách nhiệm bồi thường. Tuy nhiên, đối với hoạt động chứng thực thì người chứng thực chỉ chịu trách nhiệm về thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch. Đây là sự bất cập, bất bình đẳng giữa hai chế định về công chứng và chứng thực.

Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định nguyên tắc "Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản"[6]. Tổ chức hành nghề công chứng và các cơ quan có thẩm quyền chứng thực theo Nghị định số 23/2015/NĐ-CP đều là những pháp nhân được Nhà nước trao quyền công chứng, chứng thực các hợp đồng, giao dịch, do đó cần có sự bình đẳng trong hoạt động chuyên môn. Cùng là một hợp đồng, giao dịch nhưng nếu thực hiện công chứng thì công chứng viên phải chịu trách nhiệm về tính xác thực, hợp pháp và phải bồi thường nếu có lỗi. Tuy nhiên, nếu hợp đồng, giao dịch đó được thực hiện chứng thực thì người thực hiện chứng thực lại không có nghĩa vụ phải xem xét tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch và không phải có nghĩa vụ bồi thường.

Như vậy, chế định về công chứng và chứng thực hiện nay đã phát sinh hai trường phái chứng nhận tính pháp lý của các hợp đồng, giao dịch: Chứng nhận nội dung (về tính xác thực, tính hợp pháp) và chứng nhận về hình thức (về thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên). Quy định này không đảm bảo được sự bình đẳng, không được phân biệt đối xử theo nguyên tắc chung của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Thứ hai, quy định về chứng thực không đảm bảo cho các hợp đồng, giao dịch được giao kết đúng theo quy định pháp luật

Nghị định số 23/2015/NĐ-CP quy định, khi thực hiện chứng thực thì người yêu cầu chứng thực phải xuất trình dự thảo hợp đồng, giao dịch, bản sao giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu còn giá trị sử dụng và bản sao giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản (nếu hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản đó)[7]. Đối với những hợp, đồng giao dịch liên quan đến tài sản là quyền sử dụng đất của hộ gia đình theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 hay tài sản chung của vợ chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì Nghị định số 23/2015/NĐ-CP không quy định người thực hiện chứng thực được quyền yêu cầu cung cấp các giấy tờ cần thiết liên quan và người yêu cầu chứng thực cũng không có nghĩa vụ phải cung cấp bởi pháp luật không quy định.

Ví dụ, khi thực hiện các hợp đồng, giao dịch về quyền sử dụng đất của hộ gia đình sử dụng đất thì theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 phải được sự đồng ý của các thành viên trong hộ. Do đó, cần phải có văn bản xác nhận hoặc chứng minh thành viên hộ gia đình sử dụng đất tại thời điểm cấp giấy chứng nhận[8] và phải có đủ những thành viên này tham gia vào trong hợp đồng, giao dịch. Tuy nhiên, nếu chủ hộ gia đình sử dụng đất là người yêu cầu chứng thực hợp đồng, giao dịch thì người thực hiện chứng thực không được quyền yêu cầu chủ hộ gia đình phải cung cấp những giấy tờ chứng minh thành viên hộ gia đình và cũng không được yêu cầu phải có những thành viên trong hộ gia đình sử dụng đất phải cùng tham gia vào trong hợp đồng, giao dịch bởi Nghị định số 23/2015/NĐ-CP không quy định.

Ví dụ tương tự, đối với những tài sản chung được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân được xác định là tài sản chung vợ chồng[9], việc định đoạt tài sản là bất động sản; động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu và tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình thì phải có sự chấp thuận của cả hai vợ chồng[10]. Tuy nhiên, nếu người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng, quyền sở hữu tài sản là người yêu cầu chứng thực thì người thực hiện chứng thực không được quyền yêu cầu chứng minh tình trạng hôn nhân, không có quyền yêu cầu chứng minh tài sản giao dịch là tài sản chung hay riêng và không được yêu cầu phải có sự đồng ý của người chồng/vợ còn lại (nếu là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân) bởi Nghị định số 23/2015/NĐ-CP không quy định.

Tương tự, đối với các trường hợp chứng thực văn bản thừa kế (khai nhận, thỏa thuận phân chia, từ chối nhận di sản thừa kế) thì theo quy định của pháp luật phải bắt buộc có những giấy tờ liên quan như: Di chúc, giấy khai sinh, chứng tử người để lại di sản, xác nhận quan hệ nhân thân… để chứng minh tư cách pháp lý của người nhận thừa kế. Tuy nhiên, Nghị định số 23/2015/NĐ-CP không quy định người thực hiện chứng thực có quyền yêu cầu cung cấp và người yêu cầu chứng thực phải có nghĩa vụ cung cấp nên không thể đảm bảo được nội dung, tính pháp lý của hồ sơ thừa kế.

Như vậy, với quy định của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP không đảm bảo được hợp đồng, giao dịch được giao kết đúng theo quy định pháp luật bởi các bên giao kết hợp đồng chịu trách nhiệm về nội dung, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch. Trong khi đó, người thực hiện chứng thực không có nghĩa vụ phải xác định hợp đồng, giao dịch đó được giao kết hợp pháp, đúng quy định pháp luật hay không mà chỉ chứng nhận thời gian, địa điểm, năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch. Quy định này tạo ra sự rủi ro, tiềm ẩn tranh chấp và không đáp ứng đượcđiều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự[11] khi nội dung của giao dịch hoàn toàn có thể không tuân thủ đúng các quy định pháp luật.

2.2. Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về chứng thực

Trước thực trạng bất cập trong các quy định về chứng thựchợp đồng, giao dịch được phân tích nêu trên, thiết nghĩ cầnnhanh chóng sửa đổi, bổ sung quy định của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP về chứng thực hợp đồng, giao dịch. Để đảm bảo nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa các chế định về công chứng và chứng thực, đồng thời đảm bảo cho công tác chứng thực đáp ứng đúng các quy định pháp luật về điều kiện để cho giao dịch dân sự có hiệu lực, người viết kiến nghị sửa đổi, bổ sungcác quy định sau đây của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP, cụ thể:

- Sửa đổi Điều 35 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP thành:

"Điều 35. Trách nhiệm của người thực hiện chứng thực hợp đồng, giao dịch

Người thực hiện chứng thực chịu trách nhiệm về tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự".

- Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 36 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP thành:

"2. Người thực hiện chứng thực kiểm tra giấy tờ, sự tự nguyện, nhận thức, làm chủ được hành vi của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch, nội dung hợp đồng, giao dịch không vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội thì thực hiện chứng thực".

                                                                                                        ThS. Nguyễn Huy Cường

                                                                                            Văn phòng Công chứng Công Lý Trà Vinh

 

[1] Bộ Tư pháp (2018), Báo cáo chính trị thành lập Hiệp hội Công chứng viên Việt Nam; Học viện Tư pháp (2018), Giáo trình Kỹ năng hành nghề công chứng, tập 1, tr. 22.

[2] Điều 2 Luật Công chứng năm 2014.

[3] Tuấn Đạo Thanh (2009), Về tính xác thực trong hoạt động công chứng, https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2009/07/20/3346/, truy cập ngày 20/7/2019.

[4] Điều 5 Luật Công chứng năm 2014.

[5] Khoản 5 Điều 2 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP.

[6] Khoản 1 Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[7] Khoản 1 Điều 36 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP.

[8] Khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013.

[9] Khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[10] Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[11] Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015.​

Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/dien-dan-cong-tac-tu-phap.aspx?ItemID=305​)

Thông tinFalseTăng Thị Hà Chi
Danh sách người tập sự hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương (Tính đến ngày 01/10/2019) Danh sách người tập sự hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương (Tính đến ngày 01/10/2019) /Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/1/2019 1:00 PMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
1 - 30Next
Ảnh
Video
Audio