Công tác thanh tra - Kết luận thanh tra
 
​           Thực hiện Quyết định số 77/QĐ-STP ngày 26/6/2018 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực công chứng tại Văn phòng công chứng Nguyễn Văn Nhiều, từ ngày 06/7/2018 đến ngày 02/8/2018, Đoàn thanh tra đã tiến hành thanh tra tại Văn phòng công chứng Nguyễn Văn Nhiều. Ngày 31/8/2018, Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình ...
 
​Kết quả thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực công chứng tại Văn phòng công chứng Mỹ Phước​Thực hiện Quyết định số 28/QĐ-STP ngày 08/3/2018 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực công chứng tại Văn phòng công chứng Mỹ Phước, từ ngày 16/3/2018 đến ngày 30/3/2018, Đoàn thanh tra đã tiến hành thanh tra tại Văn phòng công chứng Mỹ Phước. Ngày 27/4/2018, ...
 
​Kết quả kiểm tra việc thực hiện Kết luận thanh tra tại Văn phòng công chứng Thành Phố Mới và Văn phòng công chứng Rồng ViệtThực hiện Quyết định số 144/QĐ-STP ngày 28/12/2017 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về kiểm tra việc thực hiện Kết luận thanh tra tại Văn phòng công chứng Thành Phố Mới và Văn phòng công chứng Rồng Việt, từ ngày 04/01/2018 đến ngày 05/01/2018 Đoàn kiểm tra đã tiến ...
 
​Kết quả kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật trong lĩnh vực công chứng tại Văn phòng công chứng Tân Uyên​Thực hiện Quyết định số 51/QĐ-STP ngày 18/5/2018 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật đối với Văn phòng công chứng Tân Uyên trong việc công chứng Hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá số công chứng 9559 và số 9560 ngày 22/9/2016, ...
 
​Kết quả kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật trong lĩnh vực bán đấu giá tài sản tại Công ty TNHH dịch vụ bán đấu giá tài sản Công Lập​Thực hiện Quyết định số 64/QĐ-STP ngày 06/4/2018 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật trong lĩnh vực bán đấu giá tài sản tại Công ty TNHH dịch vụ bán đấu giá tài sản Công Lập (Công ty Công Lập), Đoàn ...
 
​Kết quả thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng và việc chấp hành, điều hành của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Dương​Thực hiện Quyết định số 11/QĐ-STP ngày 16/01/2018 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng và việc chấp hành, điều hành của Trung tâm Trợ ...
 
​Kết quả thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực bán đấu giá tài sản tại Công ty TNHH đấu giá Bình DươngThực hiện Quyết định thanh tra số 137/QĐ-STP ngày 07/12/2017 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực bán đấu giá tài sản tại Công ty TNHH đấu giá Bình Dương (Công ty), từ ngày 15/12/2017 đến ngày 11/01/2018, Đoàn thanh tra đã tiến hành thanh tra tại ...
 
​Kết quả thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực bán đấu giá tài sản tại Công ty cổ phần đấu giá Đồng TâmThực hiện Quyết định số 35/QĐ-STP ngày 04/4/2018 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực bán đấu giá tài sản tại Công ty cổ phần đấu giá Đồng Tâm và Quyết định số 49/QĐ-STP ngày 11/5/2018 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc gia hạn thời ...
Kết quả thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực luật sư tạiVăn phòng luật sư và Chi nhánh Văn phòng, Chi nhánh Công ty luậtThực hiện Quyết định thanh tra số 125/QĐ-STP ngày 16/11/2017 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực luật sư tại Văn phòng luật sư và Chi nhánh Văn phòng, Chi nhánh Công ty luật, từ ngày 23/11/2017 đến ngày 30/11/2017, Đoàn thanh tra Sở ...
​ Thực hiện Quyết định thanh tra số 80/QĐ-STP ngày 18/8/2017 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực công chứng tại Văn phòng công chứng Tân Uyên, từ ngày 29/8/2017 đến ngày 22/9/2017, Đoàn thanh tra đã tiến hành thanh tra tại Văn phòng công chứng Tân Uyên. Ngày 20/10/2017, Giám đốc Sở đã ban hành Kết luận thanh tra số 1475/KL-STP.Tại Kết luận thanh ...
 
 
  
Phân loại
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Nội dung
  
  
QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT PHÒNG, CHỐNG THIÊN TAIThông tinTinQUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT PHÒNG, CHỐNG THIÊN TAI/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/7/2018 4:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 29/11/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 160/2018/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai. Nghị định này quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật phòng, chống thiên tai, bao gồm: Trách nhiệm truyền tin, tần suất, thời lượng phát tin, mạng lưới, thiết bị thông tin phục vụ hoạt động chỉ đạo, chỉ huy ứng phó thiên tai; phân công, phân cấp trách nhiệm và phối hợp trong ứng phó thiên tai; huy động, quyên góp và phân bổ nguồn lực cứu trợ, hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế tham gia hoạt động ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai tại Việt Nam; cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ của cơ quan chỉ đạo, chỉ huy về phòng, chống thiên tai và cơ chế phối hợp giữa Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai và Ủy ban Quốc gia Ứng phó sự cố, thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn.

Nghị định áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế đang sinh sống, hoạt động hoặc tham gia phòng, chống thiên tai tại Việt Nam.

Theo đó, Nghị định quy định cơ quan có trách nhiệm truyền tin là:  Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, hệ thống đài thông tin duyên hải, đài phát thanh, truyền hình các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các cơ quan thông tấn, báo chí có trách nhiệm phát các văn bản chỉ đạo ứng phó thiên tai của Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai và Ủy ban Quốc gia ứng phó sự cố, thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn. Ủy ban nhân dân các cấp chịu trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức phổ biến kịp thời và chính xác các bản tin dự báo, cảnh báo thiên tai, văn bản chỉ đạo, chỉ huy ứng phó thiên tai của Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai, Ủy ban Quốc gia Ứng phó sự cố, thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn, Ban Chỉ huy phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn cấp trên và cùng cấp trên địa bàn được cảnh báo. Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm chỉ đạo hệ thống thông tin chuyên ngành để phát thông tin có liên quan đến phòng, chống thiên tai trong lĩnh vực quản lý. Bộ Thông tin và Truyền thông hướng dẫn hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản hướng dẫn việc tổ chức nhắn tin dự báo, cảnh báo thiên tai.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2019, thay thế Nghị định số 66/2014/NĐ-CP ngày 04 tháng 7 năm 2014 quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật phòng, chống thiên tai./.

 

                                                                             ​      Thanh tra Sở

FalseThanh Tra Sở
QUY ĐỊNH VỀ PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆPThông tinTinQUY ĐỊNH VỀ PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/7/2018 1:00 PMNoĐã ban hành

               Ngày 04 tháng 12 năm 2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 163/2018/NĐ-CP quy định về phát hành trái phiếu doanh nghiệp. Nghị định này quy định việc phát hành trái phiếu của doanh nghiệp theo hình thức riêng lẻ trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế; không điều chỉnh việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp ra công chúng theo quy định của Luật chứng khoán và các văn bản hướng dẫn.

              Nghị định áp dụng đối với doanh nghiệp phát hành trái phiếu là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn được thành lập, hoạt động theo pháp luật Việt Nam và tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp. Khi phát hành và sử dụng vốn trái phiếu doanh nghiệp phải đảm bảo nguyên tắc sau:

             -  Doanh nghiệp phát hành trái phiếu theo nguyên tắc tự vay, tự trả, tự chịu trách nhiệm về hiệu quả sử dụng vốn và đảm bảo khả năng trả nợ.

            - Doanh nghiệp phát hành trái phiếu để thực hiện các chương trình, dự án đầu tư, để tăng quy mô vốn hoạt động hoặc để cơ cấu lại các khoản nợ của chính doanh nghiệp. Mục đích phát hành phải được doanh nghiệp nêu cụ thể tại phương án phát hành trái phiếu và công bố thông tin cho nhà đầu tư đăng ký mua trái phiếu theo quy định tại Nghị định này.

             - Việc sử dụng vốn huy động được từ phát hành trái phiếu phải đảm bảo đúng mục đích theo phương án phát hành và nội dung công bố thông tin cho nhà đầu tư.

             - Đối với phát hành trái phiếu xanh, ngoài việc tuân thủ quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều này, nguồn vốn từ phát hành trái phiếu được hạch toán, quản lý theo dõi riêng và giải ngân cho các dự án bảo vệ môi trường theo phương án phát hành đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

           Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 02 năm 2019, thay thế Nghị định số 90/2011/NĐ-CP ngày 14 tháng 10 năm 2011 của Chính phủ về phát hành trái phiếu doanh nghiệp.​

FalseThanh tra Sở
QUY ĐỊNH MỘT SỐ CHẾ ĐỘ ĐỐI VỚI HUẤN LUYỆN VIÊN,  VẬN ĐỘNG VIÊN THỂ THAO TRONG THỜI GIAN  TẬP TRUNG TẬP HUẤN, THI ĐẤUThông tinTinQUY ĐỊNH MỘT SỐ CHẾ ĐỘ ĐỐI VỚI HUẤN LUYỆN VIÊN,  VẬN ĐỘNG VIÊN THỂ THAO TRONG THỜI GIAN  TẬP TRUNG TẬP HUẤN, THI ĐẤU/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/3/2018 2:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 07 tháng 11 năm 2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 152/2018/NĐ-CP quy định một số chế độ đối với huấn luyện viện, vận động viên thể thao trong thời gian tập trung tập huấn, thi đấu. Nghị định này quy định tiền lương; tiền hỗ trợ tập huấn, thi đấu; bảo hiểm xã hội; bảo hiểm y tế; bảo hiểm thất nghiệp; bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; bảo hiểm khi tập huấn, thi đấu ở nước ngoài và tiền thưởng theo thành tích thi đấu đối với huấn luyện viên, vận động viên thể thao trong thời gian tập trung tập huấn, thi đấu.

Nghị định quy định chế độ đối với huấn luyện viên, vận động viên khi ốm đau, thai sản trong thời gian tập huấn, thi đấu như sau:

1. Đối tượng quy định tại các điểm a, b, c khoản 1 Điều 2 Nghị định này thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội khi ốm đau, thai sản trong thời gian tập trung tập huấn, thi đấu được hưởng các chế độ sau:

a) Hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật đối với huấn luyện viên, vận động viên đang tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế;

b) Được cơ quan sử dụng huấn luyện viên, vận động viên chi trả chi phí khám, chữa bệnh ngoài phạm vi được hưởng và mức hưởng bảo hiểm y tế;

c) Được cơ quan sử dụng huấn luyện viên, vận động viên hỗ trợ bằng mức chênh lệch (nếu có) khi mức trợ cấp cho ngày nghỉ khám, chữa bệnh do cơ quan bảo hiểm xã hội chi trả thấp hơn mức tiền trả theo ngày quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 3 Nghị định này đối với huấn luyện viên, vận động viên đang tham gia bảo hiểm xã hội.

2. Đối tượng quy định tại các điểm a, b, c khoản 1 Điều 2 Nghị định này chưa tham gia bảo hiểm xã hội hoặc không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội khi ốm đau, thai sản trong thời gian tập trung tập huấn, thi đấu được hưởng các chế độ sau:

a) Được hưởng chế độ bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật;

b) Được cơ quan sử dụng huấn luyện viên, vận động viên chi trả chi phí khám, chữa bệnh ngoài phạm vi được hưởng và mức hưởng bảo hiểm y tế;

c) Được cơ quan sử dụng huấn luyện viên, vận động viên hỗ trợ bằng 50% mức tiền trả theo ngày quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 3 Nghị định này cho những ngày nghỉ khám, chữa bệnh.

3. Đối tượng quy định tại điểm d khoản 1 Điều 2 Nghị định này khi ốm đau, thai sản trong thời gian tập trung tập huấn, thi đấu được hưởng các chế độ sau:

a) Được hưởng chế độ bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật;

b) Được cơ quan sử dụng vận động viên chi trả chi phí khám, chữa bệnh ngoài phạm vi được hưởng và mức hưởng bảo hiểm y tế;

c) Được hưởng nguyên mức tiền hỗ trợ quy định tại khoản 4 Điều 3 Nghị định này cho những ngày nghỉ khám, chữa bệnh.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 24 tháng 12 năm 2018. Quyết định số 32/2011/QĐ-TTg ngày 06 tháng 6 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ; Thông tư liên tịch số 149/2012/TTLT-BTC-BLĐTBXH-BVHTTDL ngày 12 tháng 9 năm 2012 của các Bộ: Tài chính, Lao động - Thương binh và Xã hội, Văn hóa, Thể thao và Du lịch hướng dẫn thực hiện Quyết định số 32/2011/QĐ-TTg ngày 06 tháng 6 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành./.

                                                                                             

                                                                               ​    Thanh tra Sở

FalseThanh tra Sở
QUY ĐỊNH CHÍNH SÁCH ĐIỀU CHỈNH LƯƠNG HƯU ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ BẮT ĐẦU HƯỞNG LƯƠNG HƯU TRONG GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2018  ĐẾN NĂM 2021 CÓ THỜI GIAN ĐÓNG BẢO HIỂM XÃ HỘI  TỪ ĐỦ 20 NĂM ĐẾN 29 NĂM 6 THÁNGThông tinTinQUY ĐỊNH CHÍNH SÁCH ĐIỀU CHỈNH LƯƠNG HƯU ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ BẮT ĐẦU HƯỞNG LƯƠNG HƯU TRONG GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2018  ĐẾN NĂM 2021 CÓ THỜI GIAN ĐÓNG BẢO HIỂM XÃ HỘI  TỪ ĐỦ 20 NĂM ĐẾN 29 NĂM 6 THÁNG/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/3/2018 2:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 07 tháng 11 năm 2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 153/2018/NĐ-CP quy định chính sách điều chỉnh lương hưu đối với lao động nữ bắt đầu hưởng lương hưu trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2021 có thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 20 năm đến 29 năm 6 tháng. Nghị định này quy định chính sách điều chỉnh lương hưu đối với lao động nữ bắt đầu hưởng lương hưu từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 đến ngày 31 tháng 12 năm 2021, có thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 20 năm đến 29 năm 6 tháng, bị tác động bất lợi hơn so với lao động nam do thay đổi cách tính lương hưu theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 so với Luật bảo hiểm xã hội năm 2006.

Theo đó, Nghị định này áp dụng đối với lao động nữ bắt đầu hưởng lương hưu từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 đến ngày 31 tháng 12 năm 2021, có thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 20 năm đến 29 năm 6 tháng.

 Thời điểm thực hiện điều chỉnh theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định này được tính từ tháng lao động nữ bắt đầu hưởng lương hưu. Đối với lao động nữ bắt đầu hưởng lương hưu trong giai đoạn từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 đến trước ngày được nhận lương hưu mới theo quy định tại Nghị định này, được truy lĩnh phần lương hưu chênh lệch tăng thêm giữa mức lương hưu trước và sau khi thực hiện điều chỉnh theo quy định tại Nghị định này.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 24 tháng 12 năm 2018./.    

                                                                          ​Thanh tra Sở

FalseThanh tra Sở
NGHỊ ĐỊNH QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH  MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT LÂM NGHIỆPThông tinTinNGHỊ ĐỊNH QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH  MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT LÂM NGHIỆP/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/3/2018 2:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 16/11/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 156/2018/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm Nghiệp. Nghị định này quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp, bao gồm: Tiêu chí xác định rừng, phân loại rừng và Quy chế quản lý rừng. Giao rừng, cho thuê rừng sản xuất, chuyển loại rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác, thu hồi rừng. Phòng cháy và chữa cháy rừng. Đối tượng, hình thức chi trả, mức chi trả dịch vụ môi trường rừng và điều chỉnh, miễn, giảm mức chi trả dịch vụ môi trường rừng; quản lý sử dụng tiền dịch vụ môi trường rừng. Chính sách đầu tư bảo vệ và phát triển rừng. Nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, sử dụng tài chính của Quỹ bảo vệ và phát triển rừng.

Nghị định này áp dụng đối với cơ quan nhà nước, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư trong nước; tổ chức, cá nhân nước ngoài có liên quan đến các hoạt động lâm nghiệp tại Việt Nam.

Theo đó, Nghị định quy định về trình tự, thủ tục giao rừng, cho thuê rừng thống nhất, đồng bộ với giao đất, cho thuê đất thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai và các quy định sau:

1. Mẫu đề nghị giao đất, giao rừng, cho thuê đất, cho thuê rừng áp dụng theo Mẫu số 02 đối với tổ chức, Mẫu số 03 đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, Phụ lục II kèm theo Nghị định này.

2. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ khi tiếp nhận hồ sơ hợp lệ, cơ quan tiếp nhận và trả hồ sơ có trách nhiệm chuyển hồ sơ đến cơ quan quản lý chuyên ngành về lâm nghiệp có ý kiến về nội dung đề nghị giao rừng, cho thuê rừng. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, cơ quan quản lý chuyên ngành về lâm nghiệp có ý kiến bằng văn bản gửi cơ quan Tài nguyên và Môi trường cùng cấp.

3. Quyết định về giao đất, giao rừng, cho thuê đất, cho thuê rừng áp dụng theo mẫu quy định tại Nghị định này:

a) Quyết định về giao đất, giao rừng cho tổ chức theo Mẫu số 04 Phụ lục II kèm theo Nghị định này;

b) Quyết định về việc cho thuê đất, cho thuê rừng đối với tổ chức theo Mẫu số 05 Phụ lục II kèm theo Nghị định này;

c) Quyết định về giao đất, giao rừng cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư theo Mẫu số 06 Phụ lục II kèm theo Nghị định này;

d) Quyết định về cho thuê đất, cho thuê rừng cho hộ gia đình, cá nhân theo Mẫu số 07 Phụ lục II kèm theo Nghị định này.

4. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày quyết định cho thuê đất, thuê rừng được ban hành, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ký Hợp đồng cho thuê rừng đối với trường hợp cho tổ chức thuê rừng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ký Hợp đồng cho thuê rừng đối với trường hợp cho hộ gia đình, cá nhân thuê rừng theo Mẫu số 08 Phụ lục II kèm theo Nghị định này.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2019; bãi bỏ các văn bản quy phạm pháp luật tại Phụ lục I kèm theo Nghị định này./.

                                                                           ​  Thanh tra Sở

FalseThanh tra Sở
QUY ĐỊNH MỨC LƯƠNG TỐI THIỂU VÙNG ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG LÀM VIỆC THEO HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNGThông tinTinQUY ĐỊNH MỨC LƯƠNG TỐI THIỂU VÙNG ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG LÀM VIỆC THEO HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/3/2018 2:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 16/11/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 157/2018/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động. Nghị định này được áp dụng đối với người lao động làm việc theo chế độ hợp đồng lao động theo quy định của Bộ luật lao động; Doanh nghiệp thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật doanh nghiệp; Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động theo hợp đồng lao động; Cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam có thuê mướn lao động theo hợp đồng lao động (trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Nghị định này). Các doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cơ quan, tổ chức và cá nhân quy định tại các khoản 2, 3 và khoản 4 Điều này sau đây gọi chung là doanh nghiệp.

Theo đó, Nghị định quy định mức lương tối thiểu vùng như sau:

1. Quy định mức lương tối thiểu vùng áp dụng đối với người lao động làm việc ở doanh nghiệp như sau:

a) Mức 4.180.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng I;

b) Mức 3.710.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng II;

c) Mức 3.250.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng III;

d) Mức 2.920.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng IV.

2. Địa bàn áp dụng mức lương tối thiểu vùng được quy định theo đơn vị hành chính cấp quận, huyện, thị xã và thành phố trực thuộc tỉnh. Danh mục địa bàn áp dụng mức lương tối thiểu thuộc vùng I, vùng II, vùng III và vùng IV được quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này.

Việc áp dụng mức lương tối thiểu vùng theo địa bàn được thực hiện theo nguyên tắc:

- Doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn nào thì áp dụng mức lương tối thiểu vùng quy định đối với địa bàn đó. Trường hợp doanh nghiệp có đơn vị, chi nhánh hoạt động trên các địa bàn có mức lương tối thiểu vùng khác nhau thì đơn vị, chi nhánh hoạt động ở địa bàn nào, áp dụng mức lương tối thiểu vùng quy định đối với địa bàn đó.

- Doanh nghiệp hoạt động trong khu công nghiệp, khu chế xuất nằm trên các địa bàn có mức lương tối thiểu vùng khác nhau thì áp dụng theo địa bàn có mức lương tối thiểu vùng cao nhất.

- Doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn có sự thay đổi tên hoặc chia tách thì tạm thời áp dụng mức lương tối thiểu vùng quy định đối với địa bàn trước khi thay đổi tên hoặc chia tách cho đến khi Chính phủ có quy định mới.

- Doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn được thành lập mới từ một địa bàn hoặc nhiều địa bàn có mức lương tối thiểu vùng khác nhau thì áp dụng mức lương tối thiểu vùng theo địa bàn có mức lương tối thiểu vùng cao nhất. Trường hợp doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn là thành phố trực thuộc tỉnh được thành lập mới từ một địa bàn hoặc nhiều địa bàn thuộc vùng IV thì áp dụng mức lương tối thiểu vùng quy định đối với địa bàn thành phố trực thuộc tỉnh còn lại tại Mục 3 Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2019. Nghị định số 141/2017/NĐ-CP ngày 07 tháng 12 năm 2017 của chính phủ quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành./.

                                                                                ​   Thanh tra Sở

FalseThanh tra Sở
QUY ĐỊNH CHI TIẾT KHOẢN 3, ĐIỀU 63 CỦA BỘ LUẬT LAO ĐỘNG VỀ THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TẠI NƠI LÀM VIỆCThông tinTinQUY ĐỊNH CHI TIẾT KHOẢN 3, ĐIỀU 63 CỦA BỘ LUẬT LAO ĐỘNG VỀ THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TẠI NƠI LÀM VIỆC/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/3/2018 1:00 PMNoĐã ban hành

             Ngày 07/11/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 149/2018/NĐ-CP quy định chi tiết Khoản 3, Điều 63 của Bộ luật lao động về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc. Đối tượng áp dụng của Nghị định gồm: Người lao động theo quy định tại Khoản 1, Điều 3 của Bộ luật lao động; doanh nghiệp, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động; tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở theo quy định tại Khoản 4 Điều 3 của Bộ luật lao động và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác liên quan đến việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc theo quy định tại Nghị định này. Nghị định này không áp dụng đối với cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động.

              Theo đó, Nghị định quy định những nội dung người sử dụng lao động phải công khai là:

             - Tình hình thực hiện nhiệm vụ, sản xuất, kinh doanh;

             - Nội quy, quy chế và các văn bản quy định khác của doanh nghiệp liên quan đến nghĩa vụ, quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động;

             - Thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp, thỏa ước lao động tập thể ngành, thỏa ước lao động tập thể khác mà doanh nghiệp tham gia;

             -  Nghị quyết Hội nghị người lao động;

             - Việc trích lập, sử dụng quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi và các quỹ do người lao động đóng góp (nếu có);

             - Việc trích nộp kinh phí công đoàn, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp;

             - Tình hình thực hiện thi đua, khen thưởng, kỷ luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động.

            Bên cạnh đó, Nghị định cũng quy định trách nhiệm ban hành Quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc. Theo đó, người sử dụng lao động có trách nhiệm ban hành Quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc. Quy chế này phải có sự tham gia ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở và được phổ biến công khai đến người lao động trước khi thực hiện.

              Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2019. Nghị định số 60/2013/NĐ-CP ngày 19/6/2013 của Chính phủ quy định chi tiết Khoản 3, Điều 63 của Bộ luật lao động về thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành./.​

FalseThanh tra Sở
MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA LUẬT ĐO ĐẠC VÀ BẢN ĐỒ NĂM 2018Thông tinTinMỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA LUẬT ĐO ĐẠC VÀ BẢN ĐỒ NĂM 2018/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/18/2018 5:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 14/6/2018, Quốc hội ban hành Luật Đo đạc và bản đồ số 27/2018/QH14. Luật này quy định về hoạt động đo đạc và bản đồ cơ bản; hoạt động đo đạc và bản đồ chuyên ngành; chất lượng sản phẩm đo đạc và bản đồ; công trình hạ tầng đo đạc; thông tin, dữ liệu, sản phẩm đo đạc và bản đồ; hạ tầng dữ liệu không gian địa lý quốc gia; điều kiện kinh doanh dịch vụ đo đạc và bản đồ; quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân hoạt động đo đạc và bản đồ; quản lý nhà nước về đo đạc và bản đồ. Luật này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động đo đạc và bản đồ; khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu, sản phẩm đo đạc và bản đồ hoặc hoạt động khác có liên quan đến đo đạc và bản đồ trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Theo đó, Nghị định quy định nguyên tắc cơ bản trong họat động đo đạc và bản đồ: Bảo đảm chủ quyền quốc gia, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội; đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế; phù hợp với điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; kịp thời ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ. Thông tin, dữ liệu, sản phẩm đo đạc và bản đồ phải được cập nhật, cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý tài nguyên và môi trường, phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, ứng phó với biến đổi khí hậu, nâng cao dân trí. Công trình hạ tầng đo đạc, thông tin, dữ liệu, sản phẩm đo đạc và bản đồ được quản lý và bảo vệ theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; công trình hạ tầng đo đạc, thông tin, dữ liệu, sản phẩm đo đạc và bản đồ được xây dựng bằng ngân sách nhà nước là tài sản công, phải được kế thừa, sử dụng chung. Hoạt động đo đạc và bản đồ chuyên ngành phải sử dụng thông tin, dữ liệu, sản phẩm từ hoạt động đo đạc và bản đồ cơ bản. Cơ sở dữ liệu đo đạc và bản đồ cơ bản phải được sử dụng làm nền tảng của dữ liệu không gian địa lý quốc gia.

Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động đo đạc và bản đồ gồm:

- Giả mạo, làm sai lệch số liệu, kết quả đo đạc và bản đồ.

- Phá hủy, làm hư hỏng công trình hạ tầng đo đạc; vi phạm hành lang bảo vệ công trình hạ tầng đo đạc.

- Hoạt động đo đạc và bản đồ khi không đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.

- Xuất bản, lưu hành sản phẩm đo đạc và bản đồ, xuất bản phẩm bản đồ liên quan đến chủ quyền lãnh thổ quốc gia mà không thể hiện hoặc thể hiện không đúng chủ quyền, biên giới quốc gia.

- Cản trở hoạt động đo đạc và bản đồ hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

- Lợi dụng hoạt động đo đạc và bản đồ để xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

- Phát tán, làm lộ thông tin, dữ liệu, sản phẩm đo đạc và bản đồ thuộc danh mục bí mật nhà nước.

Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2019./.

 

                                                                                ​   Thanh tra Sở

FalseThanh tra Sở
MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA LUẬT AN NINH MẠNGThông tinTinMỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA LUẬT AN NINH MẠNG/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/18/2018 4:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 12/6/2018, Quốc hội ban hành Luật An ninh mạng số 24/2018/QH14. Luật này quy định về hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Theo đó, Luật này quy định các biện pháp bảo vệ an ninh mạng bao gồm:

- Thẩm định an ninh mạng;

- Đánh giá điều kiện an ninh mạng;

- Kiểm tra an ninh mạng;

- Giám sát an ninh mạng;

- Ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng;

- Đấu tranh bảo vệ an ninh mạng;

- Sử dụng mật mã để bảo vệ thông tin mạng;

- Ngăn chặn, yêu cầu tạm ngừng, ngừng cung cấp thông tin mạng; đình chỉ, tạm đình chỉ các hoạt động thiết lập, cung cấp và sử dụng mạng viễn thông, mạng Internet, sản xuất và sử dụng thiết bị phát, thu phát sóng vô tuyến theo quy định của pháp luật;

- Yêu cầu xóa bỏ, truy cập xóa bỏ thông tin trái pháp luật hoặc thông tin sai sự thật trên không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

- Thu thập dữ liệu điện tử liên quan đến hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên không gian mạng;

- Phong tỏa, hạn chế hoạt động của hệ thống thông tin; đình chỉ, tạm đình chỉ hoặc yêu cầu ngừng hoạt động của hệ thống thông tin, thu hồi tên miền theo quy định của pháp luật;

- Khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Biện pháp khác theo quy định của pháp luật về an ninh quốc gia, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

Bên cạnh đó, Luật cũng quy định các hành vi bị nghiêm cấm về an ninh mạng:

1. Sử dụng không gian mạng để thực hiện hành vi sau đây: Hành vi quy định tại khoản 1 Điều 18 của Luật này. Tổ chức, hoạt động, câu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo, huấn luyện người chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc. Thông tin sai sự thật gây hoang mang trong Nhân dân, gây thiệt hại cho hoạt động kinh tế - xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác. Hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội, mua bán người; đăng tải thông tin dâm ô, đồi trụy, tội ác; phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội.

2. Thực hiện tấn công mạng, khủng bố mạng, gián điệp mạng, tội phạm mạng; gây sự cố, tấn công, xâm nhập, chiếm quyền điều khiển, làm sai lệch, gián đoạn, ngưng trệ, tê liệt hoặc phá hoại hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.

3. Sản xuất, đưa vào sử dụng công cụ, phương tiện, phần mềm hoặc có hành vi cản trở, gây rối loạn hoạt động của mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, phương tiện điện tử; phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, phương tiện điện tử; xâm nhập trái phép vào mạng viễn thông, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu, phương tiện điện tử của người khác.

4. Chống lại hoặc cản trở hoạt động của lực lượng bảo vệ an ninh mạng; tấn công, vô hiệu hóa trái pháp luật làm mất tác dụng biện pháp bảo vệ an ninh mạng.

5. Lợi dụng hoặc lạm dụng hoạt động bảo vệ an ninh mạng để xâm phạm chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc để trục lợi.

6. Hành vi khác vi phạm quy định của Luật này.

Người nào có hành vi vi phạm quy định của Luật này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

 Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2019./.

                                                                                 ​  Thanh tra Sở

FalseThanh Tra Sở
QUY ĐỊNH VỀ KINH DOANH DỊCH VỤ KIỂM ĐỊNH XE CƠ GIỚIThông tinTinQUY ĐỊNH VỀ KINH DOANH DỊCH VỤ KIỂM ĐỊNH XE CƠ GIỚI/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/18/2018 3:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 08/10/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2018/NĐ-CP quy định về kinh doanh dịch vụ kiểm định xe cơ giới. Nghị định này quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm định đối với ô tô, rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi ô tô và các loại xe tương tự (sau đây gọi chung là xe cơ giới); quản lý, hoạt động và cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm định xe cơ giới. Nghị định này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến quản lý, hoạt động, kinh doanh dịch vụ kiểm định xe cơ giới, không áp dụng đối với cơ quan, tổ chức và cá nhân thực hiện kiểm định xe cơ giới của quân đội, công an sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh.

Hoạt động dịch vụ kiểm định xe cơ giới đảm bảo nguyên tắc:

1. Chỉ những tổ chức được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động kiểm định xe cơ giới mới được phép hoạt động kiểm định xe cơ giới.

2. Tổ chức kinh doanh dịch vụ kiểm định xe cơ giới phải độc lập về pháp lý và độc lập về tài chính với các tổ chức, cá nhân kinh doanh vận tải bằng xe ô tô, bảo dưỡng, sửa chữa xe cơ giới. Tính độc lập về pháp lý và độc lập về tài chính được hiểu như sau:

a) Không cùng thuộc một cơ quan hoặc tổ chức trực tiếp quản lý;

b) Tổ chức, cá nhân kinh doanh vận tải bằng xe ô tô, bảo dưỡng, sửa chữa xe cơ giới không nắm giữ cổ phần hoặc góp vốn trên 10% của tổ chức kinh doanh dịch vụ kiểm định xe cơ giới.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2019 và thay thế Nghị định số 63/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm định xe cơ giới.

         

                                                                                   ​Thanh tra Sở

FalseThanh tra Sở
MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA LUẬT TỐ CÁO NĂM 2018Thông tinTinMỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA LUẬT TỐ CÁO NĂM 2018/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/18/2018 3:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 12/6/2018, Quốc hội ban hành Luật Tô cáo số 25/2018/QH14. Luật này quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ và hành vi vi phạm pháp luật khác về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực; bảo vệ người tố cáo; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong việc quản lý công tác giải quyết tố cáo.

Việc giải quyết tố cáo phải đảm bảo nguyên tắc: Việc giải quyết tố cáo phải kịp thời, chính xác, khách quan, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục và thời hạn theo quy định của pháp luật; phải bảo đảm an toàn cho người tố cáo; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố cáo trong quá trình giải quyết tố cáo.

Luật Tố cáo quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc tiếp nhận, giải quyết tố cáo như sau:

1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm sau đây:

a) Tổ chức việc tiếp nhận và giải quyết tố cáo theo đúng quy định của pháp luật; áp dụng biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra; bảo đảm an toàn cho người tố cáo; xử lý nghiêm minh người có hành vi vi phạm pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình;

b) Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố cáo khi chưa có kết luận nội dung tố cáo của người giải quyết tố cáo.

2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc tiếp nhận, giải quyết tố cáo mà không tiếp nhận, không giải quyết tố cáo theo đúng quy định của pháp luật, thiếu trách nhiệm trong việc tiếp nhận, giải quyết tố cáo hoặc giải quyết tố cáo trái pháp luật thì phải bị xử lý nghiêm minh; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường, bồi hoàn theo quy định của pháp luật.

Theo đó, Luật quy định các hành vi bị nghiêm cấm trong tố cáo và giải quyết tố cáo:

- Cản trở, gây khó khăn, phiền hà cho người tố cáo.

- Thiếu trách nhiệm, phân biệt đối xử trong việc giải quyết tố cáo.

- Tiết lộ họ tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo và thông tin khác làm lộ danh tính của người tố cáo.

- Làm mất, làm sai lệch hồ sơ, tài liệu vụ việc tố cáo trong quá trình giải quyết tố cáo.

- Không giải quyết hoặc cố ý giải quyết tố cáo trái pháp luật; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong việc giải quyết tố cáo để thực hiện hành vi trái pháp luật, sách nhiễu, gây phiền hà cho người tố cáo, người bị tố cáo.

- Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm bảo vệ người tố cáo.

- Can thiệp trái pháp luật, cản trở việc giải quyết tố cáo.

- Đe dọa, mua chuộc, trả thù, trù dập, xúc phạm người tố cáo.

- Bao che người bị tố cáo.

- Cố ý tố cáo sai sự thật; cưỡng ép, lôi kéo, kích động, dụ dỗ, mua chuộc người khác tố cáo sai sự thật; sử dụng họ tên của người khác để tố cáo.

- Mua chuộc, hối lộ, đe dọa, trả thù, xúc phạm người giải quyết tố cáo.

- Lợi dụng quyền tố cáo để tuyên truyền chống Nhà nước, xâm phạm lợi ích của Nhà nước; gây rối an ninh, trật tự công cộng; xuyên tạc, vu khống, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác.

- Đưa tin sai sự thật về việc tố cáo và giải quyết tố cáo.

Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2019. Luật Tố cáo số 03/2011/QH13 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành. Trường hợp tố cáo đã được thụ lý, đang xem xét và chưa có kết luận trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì được tiếp tục giải quyết theo quy định của Luật Tố cáo số 03/2011/QH13./.

Thanh tra Sở

FalseThanh tra Sở
MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA LUẬT QUỐC PHÒNG NĂM 2018Thông tinTinMỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA LUẬT QUỐC PHÒNG NĂM 2018/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/18/2018 3:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 08/6/2018, Quốc hội ban hành Luật Quốc phòng số 22/2018/QH14. Luật này quy định nguyên tắc, chính sách, hoạt động cơ bản về quốc phòng; tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, thiết quân luật, giới nghiêm; lực lượng vũ trang nhân dân; bảo đảm quốc phòng; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức; quyền và nghĩa vụ của công dân về quốc phòng.

Luật quy định quyền và nghĩa vụ của công dân về quốc phòng bao gồm: Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân. Công dân có nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc; phải thực hiện nghĩa vụ quân sự; có nghĩa vụ tham gia Dân quân tự vệ, xây dựng nền quốc phòng toàn dân; chấp hành biện pháp của Nhà nước và người có thẩm quyền trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan. Công dân được tuyên truyền, phổ biến đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng; giáo dục quốc phòng và an ninh; trang bị kiến thức, kỹ năng về phòng thủ dân sự theo quy định của pháp luật. Công dân phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân hoặc được huy động làm nhiệm vụ quốc phòng thì bản thân và thân nhân được hưởng chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật. Công dân bình đẳng trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng.

 Các hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực quốc phòng bao gồm:

- Chống lại độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, Nhân dân, Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

- Thành lập, tham gia, tài trợ tổ chức vũ trang trái pháp luật.

- Điều động, sử dụng người, vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, trang bị, thiết bị, phương tiện để tiến hành hoạt động vũ trang khi chưa có lệnh hoặc quyết định của cấp có thẩm quyền hoặc không có trong kế hoạch huấn luyện, diễn tập, sẵn sàng chiến đấu đã được phê duyệt.

- Chống lại hoặc cản trở cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ quốc phòng.

- Lợi dụng, lạm dụng việc thực hiện nhiệm vụ quốc phòng để xâm phạm lợi ích quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

- Phân biệt đối xử về giới trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng.

Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2019. Luật Quốc phòng số 39/2005/QH11 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành./.

 

                                                                                     Thanh tra Sở​

FalseThanh Tra Sở
Kết quả thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực công chứng tại Văn phòng công chứng Nguyễn Văn NhiềuKết luận thanh traTinKết quả thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực công chứng tại Văn phòng công chứng Nguyễn Văn Nhiều/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/18/2018 2:00 PMNoĐã ban hành

           Thực hiện Quyết định số 77/QĐ-STP ngày 26/6/2018 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực công chứng tại Văn phòng công chứng Nguyễn Văn Nhiều, từ ngày 06/7/2018 đến ngày 02/8/2018, Đoàn thanh tra đã tiến hành thanh tra tại Văn phòng công chứng Nguyễn Văn Nhiều. Ngày 31/8/2018, Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương ban hành Kết luận thanh tra số 1395/KL-STP.

            Tại Kết luận thanh tra, Giám đốc Sở Tư pháp ghi nhận những ưu điểm, kết quả Văn phòng công chứng Nguyễn Văn Nhiều đạt được, cụ thể: Sau khi được cấp Giấy đăng ký hoạt động, Văn phòng công chứng Nguyễn Văn Nhiều đã tiến hành đăng ký mẫu dấu, đăng ký thuế tại các cơ quan có thẩm quyền; đăng báo nội dung đăng ký hoạt động trên Báo Bình Dương theo đúng quy định tại Điều 26 Luật Công chứng năm 2014. Văn phòng có trụ sở tại địa chỉ nhà riêng của Trưởng Văn phòng, cơ sở vật chất và trang thiết bị đáp ứng yêu cầu hoạt động công chứng của cá nhân, tổ chức; có kho lưu trữ, giá kệ đầy đủ, ngăn nắp. Văn phòng đã tạo điều kiện cho các công chứng viên của Văn phòng tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng; các công chứng viên đều được Văn phòng mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp và nhân viên làm việc tại Văn phòng đều có hợp đồng lao động, thực hiện chế độ làm việc, chế độ về bảo hiểm xã hội và các quyền lợi cho người lao động theo quy định của pháp luật; thực hiện đầy đủ báo cáo định kỳ, đột xuất theo yêu cầu của Sở Tư pháp. Việc lập, quản lý, sử dụng Sổ công chứng hợp đồng, giao dịch, Sổ theo dõi việc sử dụng lao động được thực hiện theo quy định. Văn phòng thực hiện niêm yết tại trụ sở lịch làm việc, nội quy làm việc; quy định về hoạt động công chứng, chứng thực; quy trình tiếp nhận và giải quyết hồ sơ công chứng; mức thu phí công chứng, mức trần thù lao công chứng và thủ tục hành chính về lĩnh vực công chứng, nội dung hướng dẫn thực hiện phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về hoạt động công chứng. Kiểm tra một số trường hợp thu phí công chứng, thù lao công chứng hợp đồng, giao dịch thì Văn phòng đã thực hiện việc thu phí công chứng, thù lao công chứng hợp đồng, giao dịch đúng quy định pháp luật; ghi hóa đơn cụ thể các nội dung thu đối với từng hợp đồng, giao dịch.

              Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, kết quả đạt được, Văn phòng công chứng Nguyễn Văn Nhiều có một số hạn chế, thiếu sót như sau:

- Văn phòng chưa thực hiện niêm yết nguyên tắc tính chi phí khác theo quy định của Điều 68 Luật Công chứng năm 2014.

- Một số hồ sơ công chứng thiếu giấy tờ liên quan đến hợp đồng, giao dịch như Sổ hộ khẩu, giấy tờ chứng minh thành viên hộ gia đình sử dụng đất tại thời điểm được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chưa phù hợp theo quy định tại Điều 40, Điều 41 Luật Công chứng năm 2014 và Quyết định số 298/QĐ-UBND ngày 09/02/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương về việc công bố thủ tục hành chính sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực hành chính Tư pháp, hộ tịch, bổ trợ tư pháp thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã.

- Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, bên được tặng cho trong đó có thành viên chưa đủ 18 tuổi. Tuy nhiên, nội dung hợp đồng không thể hiện người đại diện theo pháp luật của người này là chưa phù hợp theo quy định tại Điều 21, Điều 136 Bộ luật dân sự năm 2015.

- Trường hợp thế chấp bất động sản là quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình sử dụng đất, trong đó có thành viên từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, tuy nhiên, Công chứng viên xác định thành viên này chưa đủ tuổi thành niên nên không tham gia ký hợp đồng thế chấp này là chưa phù hợp theo quy định tại Khoản 4, Điều 21 Bộ luật dân sự năm 2015 và Khoản 2, Điều 77 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

- Quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình sử dụng đất, tuy nhiên Văn bản cam kết về tài sản thể hiện nội dung thành viên hộ không có bất cứ sự đóng góp công sức, tiền bạc đối với việc tạo lập quyền sử dụng đất này là chưa phù hợp theo quy định tại Khoản 29, Điều 3 Luật Đất đai năm 2013.

- Có trường hợp thỏa thuận phân chia di sản, văn bản thỏa thuận chưa đề cập đến bố, mẹ của người để lại di sản là chưa phù hợp theo quy định tại Điểm a, Khoản 1, Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015.

           Giám đốc Sở Tư pháp yêu cầu Văn phòng công chứng Nguyễn Văn Nhiều tổ chức rút kinh nghiệm, chấn chỉnh, tiến hành các biện pháp cần thiết để khắc phục kịp thời những thiếu sót mà Kết luận thanh tra đã chỉ ra. Báo cáo kết quả thực hiện Kết luận thanh tra bằng văn bản về Sở Tư pháp trong vòng 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Kết luận thanh tra. Cần tăng cường công tác tự kiểm tra, kiểm tra kỹ hồ sơ công chứng trước khi thực hiện, đảm bảo tính hợp pháp, chính xác của thành phần hồ sơ; xác định chủ thể tham gia hợp đồng, giao dịch và nội dung hợp đồng, giao dịch phải đảm bảo quy định của pháp luật; ghi nhận đầy đủ hàng thừa kế thứ nhất của người để lại di sản theo quy định pháp luật. Thực hiện niêm yết nguyên tắc tính chi phí khác theo quy định của Điều 68 Luật Công chứng năm 2014. Nghiêm túc thực hiện chỉ đạo của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương tại Công văn số 538/STP-BTTP ngày 07/6/2013 và các quy định pháp luật liên quan. Công chứng viên phải đầu tư hơn nữa nghiên cứu quy định của Luật Công chứng, Bộ luật dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Đất đai và các văn bản pháp luật có liên quan, nâng cao kỹ năng nghiệp vụ. Kịp thời phản ánh những khó khăn, vướng mắc, bất cập của pháp luật trong lĩnh vực công chứng về Hội Công chứng viên và Sở Tư pháp để được xem xét, tháo gỡ, góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

 

                                                            ​    Thanh tra Sở Tư pháp

FalseThanh tra Sở
SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 123/2013NĐ-CP NGÀY 14/10/2013 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH CHI TIẾT MỘT SỐ  ĐIỀU VÀ BIỆN PHÁP THI HÀNH LUẬT LUẬT SƯThông tinTinSỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 123/2013NĐ-CP NGÀY 14/10/2013 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH CHI TIẾT MỘT SỐ  ĐIỀU VÀ BIỆN PHÁP THI HÀNH LUẬT LUẬT SƯ/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/18/2018 1:00 PMNoĐã ban hành

           Ngày 08/10/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 137/2018/NĐ-CP ngày 08/10/2018 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 123/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Luật sư.

          Một trong các nội dung được bổ sung tại Nghị định là quy định miễn đào tạo nghề luật sư và miễn, giảm thời gian tập sự hành nghề luật sư, cụ thể: Người thuộc trường hợp quy định tại Điều 13 và Điều 16 của Luật Luật sư được miễn đào tạo nghề luật sư và miễn, giảm thời gian tập sự hành nghề luật sư.

           Người đã bị xử lý hình sự hoặc xử lý kỷ luật đến mức bị cách chức chức danh thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên, kiểm tra viên, thẩm tra viên; tước danh hiệu công an nhân dân, tước quân hàm sĩ quan quân đội nhân dân; tước học hàm, học vị giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật, tiến sỹ luật hoặc đã bị thu hồi quyết định bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên cao cấp, nghiên cứu viên cao cấp, giảng viên cao cấp, chuyên viên chính, nghiên cứu viên chính, giảng viên chính trong lĩnh vực pháp luật thì không được miễn đào tạo nghề luật sư, miễn, giảm thời gian tập sự hành nghề luật sư theo quy định tại Điều 13 và Điều 16 của Luật Luật sư.

           Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 25 tháng 11 năm 2018./.​

FalseThanh Tra Sở
Kết quả thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực công chứng tại Văn phòng công chứng Mỹ PhướcKết luận thanh traTinKết quả thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực công chứng tại Văn phòng công chứng Mỹ Phước/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
9/25/2018 8:00 AMNoĐã ban hành

Kết quả thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực công chứng tại Văn phòng công chứng Mỹ Phước​


Thực hiện Quyết định số 28/QĐ-STP ngày 08/3/2018 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực công chứng tại Văn phòng công chứng Mỹ Phước, từ ngày 16/3/2018 đến ngày 30/3/2018, Đoàn thanh tra đã tiến hành thanh tra tại Văn phòng công chứng Mỹ Phước. Ngày 27/4/2018, Giám đốc Sở Tư pháp ban hành Kết luận thanh tra số 574/KL-STP.

Tại Kết luận thanh tra tra, Giám đốc Sở ghi nhận những ưu điểm, kết quả Văn phòng công chứng Mỹ Phước đạt được, cụ thể: Văn phòng đã tạo điều kiện cho các công chứng viên tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng; các công chứng viên đều được Văn phòng mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp và nhân viên làm việc tại Văn phòng đều có hợp đồng lao động. Văn phòng thực hiện chế độ làm việc, chế độ về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và các quyền lợi cho người lao động theo quy định của pháp luật; thực hiện đầy đủ báo cáo định kỳ, đột xuất theo yêu cầu của Sở Tư phá; thực hiện niêm yết tại trụ sở lịch làm việc, nội quy giao dịch, quy trình công chứng, thủ tục hành chính về lĩnh vực công chứng, nội dung hướng dẫn thực hiện phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về hoạt động công chứng và mức thu phí công chứng, thù lao công chứng. Việc lập, quản lý, sử dụng Sổ theo dõi việc sử dụng lao động, Sổ công chứng hợp đồng, giao dịch được thực hiện theo quy định. Văn phòng có 02 công chứng viên, công chứng viên Huỳnh Tấn Bình được Bộ trưởng Bộ Tư pháp cấp Thẻ công chứng viên số 812/TP-CC ngày 18/01/2012 và công chứng viên Nguyễn Duy Linh được Bộ trưởng Bộ Tư pháp cấp Thẻ công chứng viên số 882/TP-CC ngày 01/11/2013; 02 công chứng viên sử dụng Thẻ công chứng viên đến thời điểm hiện nay và có đeo Thẻ công chứng viên khi hành nghề công chứng.

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, kết quả đạt được, Văn phòng công chứng Mỹ Phước có một số hạn chế, thiếu sót như sau:

- Văn phòng chưa thực hiện niêm yết nguyên tắc tính chi phí khác theo quy định của Điều 68 Luật Công chứng năm 2014.

- Văn phòng chưa ghi rõ mức thu cụ thể đối với phí công chứng, thù lao công chứng và chi phí khác mà ghi chung tổng số tiền thu phí công chứng, thù lao công chứng và chi phí khác vào trong hóa đơn. Văn phòng không thu thù lao công chứng, tuy nhiên hồ sơ lưu không thể hiện hợp đồng do người yêu cầu công chứng soạn thảo sẵn.

 - Một số trường hợp, lời chứng của công chứng viên chưa đảm bảo ghi đầy đủ nội dung theo quy định của Luật Công chứng và Thông tư số 06/2015/TT-BTP ngày 15/6/2015.

- Người được ủy quyền lại tham gia giao dịch. Tuy nhiên, trong hợp đồng công chứng, công chứng viên chưa thể hiện rõ việc chủ thể tham gia giao dịch là người được ủy quyền lại.

- Có trường hợp người được ủy quyền cũng đồng thời là thành viên hộ gia đình sử dụng đất nhưng nội dung về chủ thể tham gia giao dịch trong hợp đồng chỉ ghi nhận tư cách chủ thể là người được ủy quyền.

- Một số hồ sơ công chứng thiếu giấy tờ liên quan đến hợp đồng, giao dịch như: Giấy tờ chứng minh tình trạng bất động sản đủ điều kiện tham gia giao dịch theo quy định tại Điểm b, Khoản 1, Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 (đất không có tranh chấp); Giấy tờ chứng minh điều kiện của bên nhận chuyển nhượng theo quy định tại Khoản 2, Điều 189 Luật Đất đai năm 2013; Giấy tờ chứng minh thành viên hộ gia đình sử dụng đất tại thời điểm được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

- Hợp đồng Chuyển nhượng quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình, trong đó có thành viên từ đủ 09 tuổi đến dưới 15 tuổi. Tuy nhiên, hồ sơ công chứng không có thông tin thể hiện nguyện vọng của người này.

- Quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình sử dụng đất, tuy nhiên Văn bản cam kết tài sản riêng thể hiện nội dung thành viên hộ không có bất cứ sự đóng góp công sức nào đối với việc tạo lập quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình là chưa phù hợp theo quy định tại Khoản 29, Điều 3 Luật Đất đai năm 2013.

- Người để lại di sản thừa kế là thành viên hộ gia đình sử dụng đất, tuy nhiên nội dung văn bản thỏa thuận phân chia di sản thể hiện di sản là phần quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

- Thành viên hộ gia đình sử dụng đất chết, trong văn bản thừa kế thể hiện anh, chị, em ruột là những người thừa kế theo pháp luật là chưa phù hợp theo quy định tại Khoản 1, Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015.

- Con của người để lại di sản chết trước người để lại di sản, tuy nhiên, hàng thừa kế không xác định cháu được hưởng phần di sản mà cha của cháu được hưởng nếu còn sống theo quy định tại  Điều 652 Bộ luật dân sự năm 2015.

- Thực hiện việc niêm yết và kết thúc niêm yết văn bản thỏa thuận phân chia di sản cùng một thời điểm, lời chứng của công chứng viên ghi nhận thời gian niêm yết chưa phù hợp hồ sơ công chứng.

- Có trường hợp công chứng ngoài trụ sở, tuy nhiên hồ sơ không lưu Phiếu yêu cầu công chứng ngoài trụ sở.

Giám đốc Sở Tư pháp yêu cầu Văn phòng công chứng Mỹ Phước tổ chức rút kinh nghiệm, chấn chỉnh, tiến hành các biện pháp cần thiết để khắc phục kịp thời những thiếu sót mà Kết luận thanh tra đã chỉ ra. Báo cáo kết quả thực hiện Kết luận thanh tra bằng văn bản về Sở Tư pháp trong vòng 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Kết luận thanh tra. Cần tăng cường kiểm tra kỹ hồ sơ công chứng trước khi thực hiện, đảm bảo tính hợp pháp, chính xác của thành phần hồ sơ nhằm hạn chế tranh chấp có thể phát sinh. Thực hiện niêm yết nguyên tắc tính chi phí khác theo quy định của Điều 68 Luật Công chứng năm 2014. Hồ sơ công chứng phải thể hiện hợp đồng đã được soạn thảo sẵn hay công chứng viên soạn thảo theo đề nghị của người yêu cầu công chứng; ghi cụ thể, rõ ràng mức thu phí công chứng, thù lao công chứng và chi phí khác, không ghi chung tổng số tiền thu vào hóa đơn. Lời chứng của công chứng viên phải ghi nhận đầy đủ nội dung theo quy định của Luật Công chứng và Thông tư số 06/2015/TT-BTP ngày 15/6/2015. Xác định tư cách chủ thể tham gia hợp đồng, giao dịch và nội dung hợp đồng, giao dịch phải đảm bảo quy định của pháp luật. Công chứng viên cần phải tích cực nghiên cứu quy định của Luật Công chứng, Bộ luật dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Đất đai và các văn bản pháp luật có liên quan, nâng cao kỹ năng nghiệp vụ trong việc soạn thảo và công chứng hợp đồng, giao dịch,  không lặp lại các sai sót mà Đoàn thanh tra đã chỉ ra. Kịp thời phản ánh những khó khăn, vướng mắc, bất cập của pháp luật trong lĩnh vực công chứng về Hội Công chứng viên và Sở Tư pháp để được hướng dẫn, tháo gỡ góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Đối với 04 văn bản công chứng đang có tranh chấp tại tòa án với tư cách là người có quyền và nghĩa vụ liên quan, đề nghị Văn phòng công chứng Mỹ Phước báo cáo Giám đốc Sở Tư pháp bằng văn bản khi có kết quả giải quyết của cơ quan có thẩm quyền.

 ​Thanh tra Sở Tư pháp


FalseThanh Tra Sở
Kết quả kiểm tra việc thực hiện Kết luận thanh tra tại Văn phòng công chứng Thành Phố Mới và Văn phòng công chứng Rồng ViệtKết luận thanh traTinKết quả kiểm tra việc thực hiện Kết luận thanh tra tại Văn phòng công chứng Thành Phố Mới và Văn phòng công chứng Rồng Việt/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
9/25/2018 8:00 AMNoĐã ban hành

Kết quả kiểm tra việc thực hiện Kết luận thanh tra tại Văn phòng công chứng Thành Phố Mới và Văn phòng công chứng Rồng Việt


Thực hiện Quyết định số 144/QĐ-STP ngày 28/12/2017 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về kiểm tra việc thực hiện Kết luận thanh tra tại Văn phòng công chứng Thành Phố Mới và Văn phòng công chứng Rồng Việt, từ ngày 04/01/2018 đến ngày 05/01/2018 Đoàn kiểm tra đã tiến hành kiểm tra tại Văn phòng công chứng Thành Phố Mới và Văn phòng công chứng Rồng Việt. Ngày 12/01/2018, Giám đốc Sở Tư pháp ban hành Thông báo kết quả kiểm tra số 63/TB-STP.

Tại Thông báo kết quả kiểm tra, Giám đốc Sở Tư pháp ghi nhận Văn phòng công chứng Rồng Việt và Văn phòng công chứng Thành Phố Mới nhìn chung đã nghiêm túc tổ chức thực hiện Kết luận thanh tra của Giám đốc Sở Tư pháp, của Chánh Thanh tra Sở Tư pháp. Các tồn tại, thiếu sót được chỉ ra tại Kết luận thanh tra đã được các Văn phòng công chứng quán triệt đến công chứng viên, nhân viên Văn phòng, tổ chức rút kinh nghiệm và tiến hành các biện pháp cần thiết để khắc phục cơ bản. Tuy nhiên, vẫn còn một số sai sót Văn phòng công chứng Rồng Việt và Văn phòng công chứng Thành Phố Mới chưa thực hiện khắc phục được do chưa liên hệ được với người yêu cầu công chứng.

Qua kiểm tra một số hồ sơ công chứng hợp đồng, giao dịch năm 2016, năm 2017, Văn phòng công chứng Rồng Việt và Văn phòng công chứng Thành Phố Mới cơ bản chấp hành các quy định của Luật Công chứng năm 2014, Nghị định số 29/2015/NĐ-CP ngày 15/3/2015 của Chính phủ, Thông tư số 06/2015/TT-BTP ngày 15/6/2015 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng và các văn bản pháp luật có liên quan. Tuy nhiên, còn có một số sai sót về chuyên môn nghiệp vụ, cụ thể:

- Văn phòng công chứng Rồng Việt:

+ Thực hiện công chứng Văn bản khai nhận di sản thừa kế theo di chúc khi người để lại di sản không có Giấy chứng tử.

+ Công chứng viên chưa làm rõ tình trạng bất động sản đủ điều kiện tham gia giao dịch (đất không có tranh chấp).

+ Nội dung văn bản cam kết về tài sản chưa đảm bảo theo quy định của pháp luật; có trường hợp công chứng viên căn cứ vào nội dung cam kết được chứng thực chữ ký để xác định tình trạng hôn nhân của bên chuyển nhượng.

+ Hồ sơ không có giấy tờ thể hiện bên chuyển nhượng là vợ chồng.

+ Thể thức văn bản chưa đảm bảo theo quy định.

- Văn phòng công chứng Thành Phố Mới:

+ Lời chứng của công chứng viên trong hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá chưa đảm bảo đầy đủ nội dung theo quy định của Thông tư số 06/2015/TT-BTP.

 + Văn bản chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai có thỏa thuận về giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở là chưa phù hợp quy định tại Khoản 2, Điều 1 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 và quy định tại Khoản 1, Điều 188 Luật Đất đai năm 2013.

+ Nội dung văn bản cam kết về tài sản đối với trường hợp quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình sử dụng đất chưa đảm bảo theo quy định tại Khoản 29, Điều 3 Luật Đất đai năm 2013.

+ Người giám hộ đương nhiên tham gia thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, tuy nhiên, hồ sơ chưa có giấy tờ thể hiện việc đăng ký giám hộ đương nhiên theo quy định tại Điều 21 Luật Hộ tịch.

+ Quyền sử dụng đất được cấp trong thời kỳ hôn nhân, tuy nhiên, nội dung hợp đồng tặng cho xác định cụ thể diện tích quyền sử dụng đất mà người chồng tặng cho người vợ là chưa phù hợp theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

+ Di sản thừa kế là tài sản chung của vợ chồng nhưng nội dung văn bản thỏa thuận phân chia di sản lại xác định di sản thừa kế là toàn bộ diện tích quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng là chưa phù hợp quy định tại Khoản 2, Điều 66 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Giám đốc Sở Tư pháp yêu cầu Văn phòng công chứng Rồng Việt và Văn phòng công chứng Thành Phố Mới nghiêm túc rút kinh nghiệm, tiếp tục khắc phục và chấm dứt ngay các sai sót đã được chỉ ra tại Kết luận thanh tra số 03/KL-TTr ngày 31/7/2015 của Chánh Thanh tra Sở tư pháp, Kết luận thanh tra số 911/KL-STP ngày 03/8/2016 của Giám đốc Sở Tư pháp và tại Thông báo kết quả kiểm tra này, trong đó đặc biệt chú ý các hợp đồng  giao dịch lưu thiếu thành phần hồ sơ và có nội dung thỏa thuận chưa đảm bảo theo quy định pháp luật. Riêng, đối với 02 văn bản công chứng của Văn phòng công chứng Rồng Việt đang có tranh chấp tại Tòa án, đề nghị Văn phòng công chứng Rồng Việt báo cáo Giám đốc Sở Tư pháp bằng văn bản khi có kết quả giải quyết của cơ quan có thẩm quyền. Trưởng Văn phòng và công chứng viên của Văn phòng công chứng Rồng Việt và Văn phòng công chứng Thành Phố Mới cần phải tích cực cập nhật, nghiên cứu, thường xuyên trau dồi trình độ chuyên môn nghiệp vụ, rèn luyện phẩm chất, đạo đức, ngày càng nâng cao chất lượng phục vụ và tính chuyên nghiệp của tổ chức hành nghề công chứng./.

 

                  Thanh tra Sở Tư pháp

​ 

FalseThanh tra Sở
Kết quả kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật trong lĩnh vực công chứng tại Văn phòng công chứng Tân UyênKết luận thanh traTinKết quả kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật trong lĩnh vực công chứng tại Văn phòng công chứng Tân Uyên/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
9/24/2018 4:00 PMNoĐã ban hành

Kết quả kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật trong lĩnh vực công chứng tại Văn phòng công chứng Tân Uyên​


Thực hiện Quyết định số 51/QĐ-STP ngày 18/5/2018 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật đối với Văn phòng công chứng Tân Uyên trong việc công chứng Hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá số công chứng 9559 và số 9560 ngày 22/9/2016, Hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá số công chứng 1859 và số 1860 ngày 02/3/2017 để làm rõ trách nhiệm cá nhân công chứng viên trong quá trình thực hiện công chứng. Đoàn kiểm tra đã tiến hành kiểm tra tại Văn phòng công chứng Tân Uyên. Ngày 16/8/2018, Giám đốc Sở Tư pháp đã ban hành Thông báo kết quả kiểm tra số 1302/TB-STP.

Quá trình thực hiện công chứng các hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá, Công chứng viên, Văn phòng công chứng Tân Uyên đã có những sai sót, vi phạm sau:

- Hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá số 177 và 178, được công chứng số 9559, số 9560 cùng ngày 22/9/2016 không được hủy theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005, Luật Công chứng năm 2014 nhưng công chứng viên Văn phòng công chứng Tân Uyên tiếp tục thực hiện công chứng Hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá số 43 và số 44, được công chứng số 1859, 1860 cùng ngày 02/3/2017. Từ đó dẫn đến việc: cùng tài sản bán đấu giá (thửa 1878 và 1880) nhưng tồn tại hai hợp đồng mua bán cho hai chủ thể khác nhau lại cùng được Công chứng viên Văn phòng công chứng Tân Uyên công chứng.

Ngày 26/5/2017, Công ty Công Lập và người mua được tài sản bán đấu giá (ông Nguyễn Văn Khoan, ông Phạm Duy) đã có thỏa thuận hủy bỏ Hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá số 43 và 44, được công chứng số 1859 và 1860 cùng ngày 02/3/2017 theo quy định pháp luật.

- Lời chứng của công chứng viên chưa phù hợp theo quy định tại Điều 46 Luật Công chứng năm 2014 và Thông tư số 06/2015/TT-BTP ngày 15/6/2015 của Bộ Tư pháp.

Giám đốc Sở Tư pháp yêu cầu Văn phòng công chứng Tân Uyên tổ chức rút kinh nghiệm, nghiêm túc chấn chỉnh các thiếu sót, vi phạm mà Thông báo kết quả kiểm tra đã chỉ ra. Trưởng Văn phòng công chứng Tân Uyên cần tăng cường việc hướng dẫn các Công chứng viên trong quá trình hoạt động công chứng. Công chứng viên nghiên cứu kỹ các quy định pháp luật có liên quan trong việc thực hiện công chứng, tránh lập lại sai sót tương tự; tăng cường kiểm tra kỹ hồ sơ công chứng trước khi thực hiện nhằm hạn chế tranh chấp, rủi ro có thể phát sinh. Trường hợp tiếp tục vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật. Lời chứng của Công chứng viên phải ghi nhận đầy đủ nội dung theo quy định của Luật Công chứng năm 2014 và Thông tư số 06/2015/TT-BTP ngày 15/6/2015 của Bộ Tư pháp. Đối với trường hợp công chứng ngoài trụ sở, phải có giấy tờ, tài liệu thể hiện việc cử Công chứng viên tham gia./.

 

                                                                                                                                                                                                                         Thanh tra Sở Tư pháp


FalseThanh tra Sở
Kết quả kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật trong lĩnh vực  bán đấu giá tài sản tại Công ty TNHH dịch vụ bán đấu giá tài sản Công LậpKết luận thanh traTinKết quả kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật trong lĩnh vực  bán đấu giá tài sản tại Công ty TNHH dịch vụ bán đấu giá tài sản Công Lập/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
9/24/2018 3:00 PMNoĐã ban hành

Kết quả kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật trong lĩnh vực bán đấu giá tài sản tại Công ty TNHH dịch vụ bán đấu giá tài sản Công Lập​


Thực hiện Quyết định số 64/QĐ-STP ngày 06/4/2018 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật trong lĩnh vực bán đấu giá tài sản tại Công ty TNHH dịch vụ bán đấu giá tài sản Công Lập (Công ty Công Lập), Đoàn kiểm tra đã tiến hành kiểm tra tại Công ty TNHH dịch vụ bán đấu giá tài sản Công Lập. Ngày 31/8/2018, Giám đốc Sở Tư pháp đã ban hành Thông báo kết quả kiểm tra số 1404/TB-STP.

Tại Thông báo kết quả kiểm tra, Sở Tư pháp ghi nhận những ưu điểm, kết quả Công ty TNHH dịch vụ bán đấu giá tài sản Công Lập đạt được, cụ thể: Công ty Công Lập ký hợp đồng thuê trụ sở làm việc tại địa chỉ số 17, đường Hoàng Văn Thụ, phường Chánh Nghĩa, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương; Công ty có trụ sở, cơ sở vật chất, trang thiết bị cần thiết bảo đảm cho hoạt động bán đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật. Các đấu giá viên đều được Công ty Công Lập mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp; Công ty ký hợp đồng lao động với các đấu giá viên và nhân viên, thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và các quyền lợi cho người lao động. Công ty đã ban hành Quy chế cuộc đấu giá; Việc giao tài sản đấu giá, cung cấp giấy tờ liên quan đến tài sản đấu giá cho người mua được tài sản đấu giá được Công ty Công Lập và các cá nhân, tổ chức có tài sản đấu giá thỏa thuận chi tiết, cụ thể trong từng hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản. Thực hiện niêm yết công khai mức thu thù lao dịch vụ đấu giá tài sản tại trụ sở Công ty Công Lập; Thu thù lao dịch vụ đấu giá, chi phí đấu giá tài sản, tiền bán hồ sơ tham gia đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật; Lập, quản lý, sử dụng Sổ đăng ký đấu giá tài sản, Sổ theo dõi tài sản đấu giá. Chấp hành đầy đủ việc báo cáo định kỳ và đột xuất theo yêu cầu của Sở Tư pháp. Hồ sơ bán đấu giá được Công ty Công Lập lưu trữ ngăn nắp, rõ ràng, có đánh bút lục hồ sơ.

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, kết quả đạt được, Công ty TNHH dịch vụ bán đấu giá tài sản Công Lập có một số hạn chế, thiếu sót như sau:

- Có trường hợp, Công ty Công Lập và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Dương ký Hợp đồng kinh tế, giao Công ty Công Lập điều hành phiên đấu giá quyền khai thác khoáng sản. Tuy nhiên, trong Hợp đồng thỏa thuận Sở Tài nguyên và Môi trường được truất quyền tham gia phiên đấu giá đối với người tham gia đấu giá có hành vi gây rối trật tự nơi tổ chức đấu giá hoặc có hành vi thông đồng, thỏa hiệp để dìm giá hoặc có các hành vi khác làm ảnh hưởng đến tính khách quan, trung thực của phiên đấu giá là chưa phù hợp theo quy định tại Điều 13 Nghị định số 22/2012/NĐ-CP ngày 26/3/2012 của Chính phủ.

- Kiểm tra chưa kỹ thông tin về quyền được bán tài sản do người có tài sản đấu giá cung cấp, để kịp thời yêu cầu người có tài sản đấu giá cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin, giấy tờ có liên quan đến tài sản đấu giá theo quy định.

- Một số Hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản, Công ty Công Lập và người có tài sản đấu giá thỏa thuận cấn trừ thù lao dịch vụ đấu giá, chi phí đấu giá tài sản từ tiền đặt trước của người tham gia đấu giá là chưa phù hợp quy định của Khoản 2, Điều 39 Luật Đấu giá tài sản.

- Một số trường hợp, việc ban hành và niêm yết Quy chế cuộc đấu giá của Công ty Công Lập chưa phù hợp theo quy định tại Điều 34 và Điều 41 Luật Đấu giá tài sản như:

+ Ban hành Quy chế cuộc đấu giá và niêm yết việc đấu giá tài sản thực hiện cùng một ngày; hồ sơ bán đấu giá không có giấy tờ, tài liệu thể hiện Công ty Công Lập đã thông báo công khai Quy chế cuộc đấu giá.

+ Quy chế cuộc đấu giá quy định tại vòng đấu giá đầu tiên người đấu giá phải tham gia trả giá và giá trả tại vòng này ít nhất phải bằng giá khởi điểm; Quy chế cuộc đấu giá không thể hiện nội dung về chất lượng của tài sản đấu giá theo quy định tại Điểm a, Khoản 2, Điều 34 Luật Đấu giá tài sản.

- Về niêm yết việc đấu giá tài sản chưa phù hợp theo quy định, như:

+ Giấy xác nhận niêm yết việc thể hiện Công ty Công Lập thực hiện việc niêm yết đấu giá tài sản tại một nơi, trong khi Hợp đồng bán đấu giá tài sản và các biên bản đấu giá tài sản thể hiện tài sản được trưng bày tại nơi khác. Tuy nhiên, Hồ sơ đấu giá không lưu giấy tờ, tài liệu chứng minh tài sản đấu giá đang được trưng bày nơi mà Công ty Công Lập thực  hiện việc niêm yết là chưa phù hợp theo quy định tại Khoản 1, Điều 35 Luật Đấu giá tài sản.

+ Niêm yết việc đấu giá tài sản không có nội dung về chất lượng của tài sản đấu giá theo quy định tại Khoản 2, Điều 35 Luật Đấu giá tài sản.

- Đấu giá viên điều hành cuộc đấu giá hướng dẫn những người tham gia cuộc đấu giá phải tham gia trả giá ít nhất một lần tại vòng đấu đầu tiên và giá trả thấp nhất phải bằng giá khởi điểm là chưa phù hợp theo quy định của Khoản 2, Điều 41 Luật Đấu giá tài sản.

- Biên bản đấu giá không ghi nhận đầy đủ chi tiết diễn biến cuộc đấu giá.

Qua kết quả kiểm tra, Giám đốc Sở Tư pháp đã yêu cầu Công ty TNHH dịch vụ bán đấu giá tài sản Công Lập tổ chức rút kinh nghiêm, nghiêm túc chấn chỉnh các thiếu sót, vi phạm mà Thông báo kết quả kiểm tra đã chỉ ra. Kiểm tra kỹ thông tin về quyền được bán tài sản do người có tài sản đấu giá cung cấp, để kịp thời yêu cầu người có tài sản đấu giá cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin, giấy tờ có liên quan đến tài sản đấu giá theo quy định. Công ty Công Lập, Đấu giá viên thực hiện việc đấu giá tài sản phải đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Diễn biến của cuộc đấu giá phải được ghi nhận đầy đủ chi tiết. Lưu đầy đủ các giấy tờ hồ sơ đấu giá theo quy định. Đấu giá viên tích cực nghiên cứu quy định của Luật Đấu giá tài sản, Nghị định số 62/2017/NĐ-CP ngày 16/5/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Đấu giá tài sản, Thông tư số 06/2017/TT-BTP ngày 16/5/2017 của Bộ Tư pháp quy định về chương trình khung của khóa đào tạo nghề đấu giá, cơ sở đào tạo nghề đấu giá, việc tập sự và kiểm tra kết quả tập sự hành nghề đấu giá và biểu mẫu trong lĩnh vực đấu giá tài sản và các văn bản pháp luật khác có liên quan, không lập lại các sai sót mà Thông báo kết quả kiểm tra đã chỉ ra./.

                                                                                                                                                                        ​Thanh tra Sở Tư pháp


FalseThanh Tra Sở
CHÍNH SÁCH THU HÚT, TẠO NGUỒN CÁN BỘ TỪ SINH VIÊN TỐT NGHIỆP XUẤT SẮC, CÁN BỘ KHOA HỌC TRẺThông tinTinCHÍNH SÁCH THU HÚT, TẠO NGUỒN CÁN BỘ TỪ SINH VIÊN TỐT NGHIỆP XUẤT SẮC, CÁN BỘ KHOA HỌC TRẺ/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
9/24/2018 3:00 PMNoĐã ban hành

CHÍNH SÁCH THU HÚT, TẠO NGUỒN CÁN BỘ TỪ SINH VIÊN TỐT NGHIỆP XUẤT SẮC, CÁN BỘ KHOA HỌC TRẺ


Ngày 05/12/2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 140/2017/NĐ-CP ngày 05/12/2017 về chính sách thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ. Nghị định này quy định về chính sách thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ làm việc tại các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội từ trung ương đến cấp huyện; các đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng, Nhà nước và lực lượng vũ trang gồm:

- Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng.

- Kiểm toán nhà nước.

- Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội.

- Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các tổ chức do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thành lập mà không phải là đơn vị sự nghiệp công lập.

- Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp.

- Cơ quan trung ương của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội.

- Cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức chính trị - xã hội ở cấp tỉnh, cấp huyện.

- Đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh và cấp huyện.

- Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh ngoài việc thực hiện các chính sách quy định tại Nghị định này còn được áp dụng cơ chế đặc thù theo quy định của pháp luật.

Việc thực hiện chính sách thu hút, tạo nguồn cán bộ phải đảm bảo nguyên tắc: Thống nhất, đồng bộ giữa các khâu phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch, sử dụng và đãi ngộ. Bảo đảm phù hợp với quy định của pháp luật, công khai, minh bạch, khách quan và cạnh tranh. Ưu tiên bố trí số biên chế nhà nước chưa sử dụng để thu hút sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ vào làm việc nhưng phải phù hợp với ngành nghề đào tạo và vị trí việc làm của cơ quan, tổ chức, đơn vị.

Nghị định cũng quy định cụ thể nội dung về phát hiện, tạo nguồn sinh viên xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ; tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ và chính sách đối với sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ sau khi được tuyển dụng.

Nghị định số 140/2017/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 20/01/2018./.

                                                                                                                                                       ​Thanh tra Sở Tư pháp


FalseThanh tra Sở
TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG VỤ VIỆC TRỢ GIÚP PHÁP LÝThông tinTinTIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG VỤ VIỆC TRỢ GIÚP PHÁP LÝ/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
9/24/2018 2:00 PMNoĐã ban hành

TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG VỤ VIỆC TRỢ GIÚP PHÁP LÝ


Ngày 28/8/2018, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 12/2018/TT-BTP hướng dẫn một số hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý và quản lý chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý. Theo đó, việc đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý được dựa trên các tiêu chí và cơ cấu điểm như sau:

1. Tiêu chí về trách nhiệm nghề nghiệp của người thực hiện trợ giúp pháp lý (30 điểm):

- Tuân thủ pháp luật, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan (10 điểm);

- Giải thích, hướng dẫn, cung cấp thông tin kịp thời về vụ việc cho người được trợ giúp pháp lý (10 điểm);

- Bảo đảm thời gian, tiến độ thực hiện vụ việc (10 điểm).

2. Tiêu chí về thực hiện trợ giúp pháp lý (60 điểm):

- Thực hiện trợ giúp pháp lý phù hợp với yêu cầu trợ giúp pháp lý và phạm vi được phân công (05 điểm);

- Thu thập các thông tin, tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ việc (10 điểm);

- Nghiên cứu và áp dụng đầy đủ các quy định pháp luật có liên quan để bảo đảm nội dung trợ giúp pháp lý đúng và phù hợp với pháp luật (20 điểm);

- Tham gia các hoạt động tố tụng hoặc tham gia các hoạt động đại diện ngoài tố tụng để kịp thời có giải pháp bảo vệ bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý (20 điểm);

- Quá trình thực hiện trợ giúp pháp lý được thể hiện đầy đủ trong hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý (05 điểm).

3. Tiêu chí về sự hài lòng của người được trợ giúp pháp lý trên cơ sở ý kiến phản hồi của người được trợ giúp pháp lý hoặc người thân thích (10 điểm).

Bên cạnh đó, Thông tư cũng quy định việc xếp loại chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý, cụ thể: Vụ việc có tổng số điểm đạt từ 90 điểm trở lên là chất lượng tốt, vụ việc có tổng số điểm đạt từ 70 đến dưới 90 điểm là chất lượng khá, vụ việc có tổng số điểm đạt từ 50 đến dưới 70 điểm là đạt chất lượng và vụ việc có tổng số điểm đạt dưới 50 điểm hoặc vụ việc mà người thực hiện trợ giúp pháp lý hoặc tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý vi phạm điều cấm quy định tại khoản 1 Điều 6 của Luật Trợ giúp pháp lý là không đạt chất lượng.

Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 12/10/2018, thay thế Thông tư số 05/2008/TT-BTP ngày 23/9/2008 của Bộ Tư pháp hướng dẫn về nghiệp vụ và quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý; Thông tư số 02/2013/TT-BTP ngày 05/01/2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Bộ Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý; bãi bỏ Điều 1 Thông tư số 19/2011/TT-BTP ngày 31/10/2011 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp sửa đổi, bổ sung một số quy định về thủ tục hành chính của Thông tư số 05/2008/TT-BTP ngày 23/9/2008, Thông tư số 03/2008/TT-BTP ngày 25/8/2008 và Thông tư số 01/2010/TT-BTP ngày 09/02/2010 của Bộ Tư pháp./.

​Thanh tra Sở 


FalseThanh Tra Sở
MỨC TRỢ CẤP, PHỤ CẤP ƯU ĐÃI  ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNGThông tinTinMỨC TRỢ CẤP, PHỤ CẤP ƯU ĐÃI  ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
9/24/2018 2:00 PMNoĐã ban hành

MỨC TRỢ CẤP, PHỤ CẤP ƯU ĐÃI ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG​


           Ngày 12/7/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 99/2018/NĐ-CP quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng. Các mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi quy định tại Nghị định này được thực hiện kể từ ngày 01/7/2018. Theo đó, mức chuẩn để xác định các mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng là 1.515.000 đồng. Mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng bao gồm:

         - Mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng theo quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này;

         - Mức trợ cấp thương tật đối với thương binh, người hưởng chính sách như thương binh theo quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này;

         - Mức trợ cấp thương tật đối với thương bình loại B theo quy định tại Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định này.

         Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 27/8/2018. Nghị định số 70/2017/NĐ-CP ngày 06/6/2017 của Chính phủ quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng hết hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2018./.


​                                                                                                                                                                                 Thanh tra Sở


FalseThanh tra Sở
ĐIỀU CHỈNH LƯƠNG HƯU, TRỢ CẤP BẢO HIỂM XÃ HỘI  VÀ TRỢ CẤP HÀNG THÁNGThông tinTinĐIỀU CHỈNH LƯƠNG HƯU, TRỢ CẤP BẢO HIỂM XÃ HỘI  VÀ TRỢ CẤP HÀNG THÁNG/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
9/24/2018 2:00 PMNoĐã ban hành

ĐIỀU CHỈNH LƯƠNG HƯU, TRỢ CẤP BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ TRỢ CẤP HÀNG THÁNG​


Ngày 15/6/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 88/2018/NĐ-CP điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng; có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2018. Theo đó, Nghị định quy định các đối tượng được điều chỉnh gồm:

- Cán bộ, công chức, công nhân, viên chức và người lao động (kể cả người có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, người nghỉ hưu từ quỹ bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An chuyển sang theo Quyết định số 41/2009/QĐ-TTg ngày 16 tháng 3 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ); quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu đang hưởng lương hưu hàng tháng.

- Cán bộ xã, phường, thị trấn quy định tại Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009, Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2003 và Nghị định số 09/1998/NĐ-CPngày 23 tháng 01 năm 1998 của Chính phủ đang hưởng lương hưu và trợ cấp hàng tháng.

- Người đang hưởng trợ cấp mất sức lao động hàng tháng theo quy định của pháp luật; người đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 91/2000/QĐ-TTg ngày 04 tháng 8 năm 2000, Quyết định số 613/QĐ-TTg ngày 06 tháng 5 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ; công nhân cao su đang hưởng trợ cấp hàng tháng.

- Cán bộ xã, phường, thị trấn đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 130/CP ngày 20 tháng 6 năm 1974 của Hội đồng Chính phủ và Quyết định số 111-HĐBT ngày 13 tháng 10 năm 1981 của Hội đồng Bộ trưởng.

- Quân nhân đang hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg ngày 27 tháng 10 năm 2008, Quyết định số 38/2010/QĐ-TTg ngày 06 tháng 5 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ.

- Công an nhân dân đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 53/2010/QĐ-TTg ngày 20 tháng 8 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ.

- Quân nhân, công an nhân dân, người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, công an nhân dân đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg ngày 09 tháng 11 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ.

- Người đang hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hàng tháng.

Từ ngày 01/7/2018, tăng thêm 6,92% trên mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng của tháng 6 năm 2018 cho các đối tượng nêu trên.

                                                                                                                                                                                             ​​Thanh tra Sở


FalseThanh tra Sở
NGHỊ ĐỊNH QUY ĐỊNH CHI TIẾT LUẬT QUẢN LÝ NGOẠI THƯƠNG VỀ XUẤT XỨ HÀNG HÓAThông tinTinNGHỊ ĐỊNH QUY ĐỊNH CHI TIẾT LUẬT QUẢN LÝ NGOẠI THƯƠNG VỀ XUẤT XỨ HÀNG HÓA/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
9/24/2018 2:00 PMNoĐã ban hành

NGHỊ ĐỊNH QUY ĐỊNH CHI TIẾT LUẬT QUẢN LÝ NGOẠI THƯƠNG VỀ XUẤT XỨ HÀNG HÓA


Ngày 08/3/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 31/2018/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Quản lý ngoại thương về xuất xứ hàng hóa. Phạm vi điều chỉnh của Nghị định này quy định về xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, xuất xứ hàng hóa nhập khẩu. Theo đó, Nghị định quy định các biện pháp chống gian lận xuất xứ bao gồm:

Cơ quan, tổ chức cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa áp dụng các biện pháp chống gian lận xuất xứ đối với các trường hợp sau:

a) Tạm dừng cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa trong thời hạn 3 tháng kể từ lần đầu tiên thương nhân đăng tải các thông tin, dữ liệu không liên quan đến việc đề nghị cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa trên Hệ thống quản lý và cấp chứng nhận xuất xứ điện tử của Bộ Công Thương tại địa chỉ www.ecosys.gov.vn hoặc trang điện tử khác của các cơ quan, tổ chức cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa được Bộ Công Thương ủy quyền;

b) Tạm dừng cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày phát hiện việc thương nhân sử dụng chứng từ giả hoặc kê khai gian lận khi đề nghị cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa;

c) Thu hồi Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa đã cấp và tạm dừng cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày thương nhân không hợp tác, không cung cấp đầy đủ hồ sơ, chứng từ hoặc cung cấp sai thông tin chứng minh xuất xứ hàng hóa khi cơ quan, tổ chức cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa tiến hành hậu kiểm.

Ngoài các biện pháp chống gian lận xuất xứ nêu tại điểm b và điểm c nêu trên, cơ quan, tổ chức cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa áp dụng chế độ luồng đỏ trong hệ thống quản lý rủi ro đối với thương nhân và công bố trên cổng thông tin điện tử của Bộ Công Thương tại địa chỉwww.moit.gov.vn.

Trong trường hợp cần thiết, Bộ trưởng Bộ Công Thương báo cáo Thủ tướng Chính phủ các biện pháp cụ thể nhằm ngăn chặn tình trạng chuyển tải bất hợp pháp, chống gian lận xuất xứ, bảo vệ uy tín của hàng hóa xuất khẩu Việt Nam tránh nguy cơ bị các nước nhập khẩu Điều tra và áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại như lập cơ chế giám sát trong quá trình cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa, ngừng cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa cho một số mặt hàng hoặc thương nhân gian lận.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 08/3/2018, thay thế Nghị định số 19/2006/NĐ-CP ngày 20 tháng 02 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về xuất xứ hàng hóa và các Thông tư hướng dẫn Nghị định số 19/2006/NĐ-CP./.

                                                                                                                                 ​Thanh tra Sở


FalseThanh tra Sở
QUY ĐỊNH VỀ KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆPThông tinTinQUY ĐỊNH VỀ KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
9/24/2018 1:00 PMNoĐã ban hành

QUY ĐỊNH VỀ KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP​


Ngày 30/3/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 49/2018/NĐ-CP quy định về kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp. Nghị định này quy định về: Điều kiện, thủ tục, thẩm quyền cấp, cấp lại, thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp; đình chỉ hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp; chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền hạn của tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp. Tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm định viên chất lượng giáo dục nghề nghiệp; cấp, cấp lại, thu hồi thẻ kiểm định viên chất lượng giáo dục nghề nghiệp và Cấp, thu hồi giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp.

Theo đó, điều kiện cấp Giấy chứng nhận đủ Điều kiện hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp đối với tố chức trong nước là đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp là:

- Được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam.

- Có trụ sở ổn định trong thời gian ít nhất 2 năm; có đủ phòng làm việc cho kiểm định viên với diện tích tối thiểu là 8 m2/người; có đủ trang thiết bị phục vụ hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp.

- Người trực tiếp phụ trách hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu theo quy định tại Điều 6 Nghị định này.

- Có ít nhất 10 kiểm định viên làm việc toàn thời gian theo hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc tối thiểu từ 12 tháng trở lên cho tổ chức kiểm định.

- Có trang thông tin điện tử của tổ chức kiểm, định trong đó có nội dung, cơ sở dữ liệu phục vụ hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp.

Đối với tổ chức nước ngoài, điều kiện cấp Giấy chứng nhận đủ Điều kiện hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp, ngoài các điều kiện nêu trên thì tổ chức nước ngoài phải có thời gian hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, giáo dục nghề nghiệp, kiểm định chất lượng giáo dục, kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp ít nhất là 5 năm liên tục tính đến thời điểm đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ Điều kiện hoạt động kiểm định.

Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 15/5/2018./.

                                                                                                                                                                                     ​Thanh tra Sở


FalseThanh tra Sở
Kết quả thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng và việc chấp hành, điều hành của  Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bình DươngKết luận thanh traTinKết quả thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng và việc chấp hành, điều hành của  Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
9/21/2018 3:00 PMNoĐã ban hành

Kết quả thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng

và việc chấp hành, điều hành của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Dương​


Thực hiện Quyết định số 11/QĐ-STP ngày 16/01/2018 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng và việc chấp hành, điều hành của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Dương (gọi tắt là Trung tâm), ngày 23/01/2018, Đoàn thanh tra đã tiến hành thanh tra tại Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước. Ngày 01/3/2018, Giám đốc Sở đã ban hành Kết luận thanh tra số 248/KL-STP.

Tại Kết luận thanh tra, Sở Tư pháp ghi nhận những ưu điểm, kết quả Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Dương đạt được, cụ thể: Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Dương thực hiện tốt các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng, đã quán triệt, phổ biến các văn bản pháp luật về phòng, chống tham nhũng cho viên chức, người lao động. Thực hiện công khai, minh bạch trong hoạt động của Trung tâm; minh bạch tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai; tích cực nghiên cứu cải cách hành chính; ban hành quy chế chi tiêu nội bộ và quy chế làm việc của Trung tâm. Trong năm 2017, chưa phát hiện vi phạm về phòng, chống tham nhũng và việc chấp hành, điều hành của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Dương.

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, kết quả đạt được, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh còn một số thiếu sót như:

- Quy chế chi tiêu nội bộ của Trung tâm (ban hành kèm theo Quyết định số 08/QĐ-TTTGPL ngày 10/01/2017 của Giám đốc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước) chưa thể hiện căn cứ xếp loại A, B, C để tính hệ số tiền lương tăng thêm. Tuy nhiên, sau khi Đoàn thanh tra nhắc nhở, Giám đốc Trung tâm đã ban hành Quy chế chi tiêu nội bộ năm 2018 (ban hành kèm theo Quyết định số 10A/QĐ-TTTGPL ngày 25/01/2018) trong đó nêu rõ điều kiện để tính hệ số tiền lương tăng thêm.

- Quy chế làm việc của Trung tâm (được ban hành kèm theo Quyết định số 78/QĐ-TTTGPL ngày 28/4/2017 của Giám đốc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Dương) không thể hiện nội dung họp cơ quan định kỳ hàng tháng là chưa phù hợp theo quy định tại Khoản 2, Điều 4 Nghị định số 04/2015/NĐ-CP ngày 09/01/2015, Quyết định số 85/QĐ-STP ngày 12/6/2015 của Sở Tư pháp về ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Dương và Quy chế làm việc của Sở Tư pháp được ban hành kèm theo Quyết định số 38/QĐ-STP ngày 30/3/2017 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương.

- Trung tâm chưa bố trí viên chức, người lao động theo các Phòng chuyên môn, nghiệp vụ theo Đề án Kiện toàn tổ chức bộ máy của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Dương giai đoạn năm 2011-2015, định hướng đến năm 2020 (được ban hành kèm theo Quyết định số 1133/QĐ-UBND ngày 09/4/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh), Quyết định số 85/QĐ-STP ngày 12/6/2015 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương và Đề án số 108/ĐA-TTTGPL ngày 15/5/2013 về xác định vị trí việc làm, biên chế và cơ cấu ngạch viên chức của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Dương.

- Hồ sơ giải quyết công việc liên quan đến thủ tục hành chính về cử trợ giúp viên pháp lý tham gia tố tụng còn bị trễ hạn so với quy định.

Qua kết quả thanh tra, Giám đốc Sở Tư pháp yêu cầu Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Dương tổ chức rút kinh nghiệm, chấn chỉnh, tiến hành khắc phục những thiếu sót mà kết luận thanh tra đã chỉ ra. Sửa đổi, bổ sung Quy chế làm việc của Trung tâm về nội dung họp cơ quan định kỳ hàng tháng đảm bảo theo quy định pháp luật về dân chủ cơ sở. Phân công, bố trí viên chức, người lao động theo các Phòng chuyên môn, nghiệp vụ được pháp luật quy định và được cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn đảm bảo hoạt động hiệu quả. Giải quyết công việc liên quan đến thủ tục hành chính về cử trợ giúp viên pháp lý tham gia tố tụng đảm bảo trong thời hạn quy định.

                                                            Thanh tra Sở Tư pháp​


FalseThanh tra Sở
Kết quả thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực bán đấu giá tài sản tại Công ty TNHH đấu giá Bình DươngKết luận thanh traTinKết quả thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực bán đấu giá tài sản tại Công ty TNHH đấu giá Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
9/19/2018 10:00 AMNoĐã ban hành

Kết quả thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực bán đấu giá tài sản tại Công ty TNHH đấu giá Bình Dương

Thực hiện Quyết định thanh tra số 137/QĐ-STP ngày 07/12/2017 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực bán đấu giá tài sản tại Công ty TNHH đấu giá Bình Dương (Công ty), từ ngày 15/12/2017 đến ngày 11/01/2018, Đoàn thanh tra đã tiến hành thanh tra tại Công ty TNHH đấu giá Bình Dương. Ngày 09/02/2018, Giám đốc Sở đã ban hành Kết luận thanh tra số 26/KL-STP.

Tại Kết luận thanh tra, Sở Tư pháp ghi nhận những ưu điểm, kết quả Công ty TNHH đấu giá Bình Dương đạt được, cụ thể: Công ty có ký hợp đồng thuê trụ sở làm việc; người lao động làm việc tại Công ty đều có hợp đồng lao động; Công ty đã ban hành Nội quy bán đấu giá tài sản, Quy chế cuộc đấu giá theo quy định của Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản và Luật Đấu giá tài sản; chấp hành đầy đủ việc báo cáo định kỳ và báo cáo đột xuất theo yêu cầu Sở Tư pháp; hồ sơ bán đấu giá được lưu trữ ngăn nắp, rõ ràng, có đánh bút lục hồ sơ; việc giao tài sản bán đấu giá và cung cấp giấy tờ liên quan đến tài sản bán đấu giá cho người mua được tài sản bán đấu giá đã được Công ty và các cá nhân, tổ chức có tài sản bán đấu giá thỏa thuận chi tiết, cụ thể trong từng hợp đồng bán đấu giá tài sản, hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản; thực hiện thu phí đấu giá tài sản, phí tham gia đấu giá tài sản, thù lao dịch vụ đấu giá tài sản, tiền bán hồ sơ tham gia đấu giá tài sản đảm bảo theo quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, kết quả đạt được, Công ty TNHH đấu giá Bình Dương còn một số sai sót về chuyên môn nghiệp vụ như:

- - Công ty thay đổi người đại diện theo pháp luật, đồng thời là đấu giá viên và địa chỉ trụ sở. Tuy nhiên, Công ty chỉ thông báo nội dung chuyển trụ sở làm việc về cho Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương mà chưa thông báo về thay đổi người đại diện theo pháp luật, đồng thời là đấu giá viên.

- Công ty không cung cấp được hồ sơ thể hiện ông Đào Xuân Thành hiện đang làm việc và là đấu giá viên của Công ty nhưng báo cáo Ông Đào Xuân Thành là đấu giá viên của Công ty với Thẻ đấu giá viên số 01/ĐGV.

- Sổ theo dõi tài sản bán đấu giá, Sổ đăng ký bán đấu giá tài sản, Sổ theo dõi tài sản đấu giá, Sổ đăng ký đấu giá tài sản chưa ghi đầy đủ nội dung theo biểu mẫu kèm theo Thông tư số 23/2010/TT-BTP và Thông tư số 06/2017/TT-BTP ngày 16/5/2017.

- Công ty chưa thực hiện mua bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người lao động theo quy định pháp luật về bảo hiểm.

- Một số trường hợp, tên gọi của Hợp đồng bán đấu giá tài sản chưa phù hợp theo quy định tại Khoản 1, Điều 25 Nghị định số 17/2010/NĐ-CP; nội dung về tài sản bán đấu giá trong Hợp đồng bán đấu giá tài sản không trùng khớp với Quyết định cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản. Tại Khoản 3 Điều 26 Nghị định số 17/NĐ-CP ngày 04/3/2010 quy định: "Tổ chức bán đấu giá tài sản có trách nhiệm kiểm tra tính chính xác của các thông tin về nguồn gốc tài sản, quyền sở hữu, quyền sử dụng của tài sản do người có tài sản bán đấu giá cung cấp." Tuy nhiên, đối với một số vụ việc bán đấu giá, hồ sơ lưu tại Công ty không có tài liệu thể hiện đấu giá viên yêu cầu người có tài sản làm rõ tài sản bán đấu giá.

- Tài sản bán đấu giá gắn liền với đất thuê nhưng hồ sơ bán đấu giá không có giấy tờ chứng minh điều kiện của người mua tài sản bán đấu giá theo quy định tại Khoản 2, Điều 189 Luật Đất đai năm 2013.

- Có trường hợp sử dụng Chứng thư thẩm định giá quá thời hạn 06 tháng; một số trường hợp hồ sơ chưa có giấy tờ chứng minh giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá.

- Một số hợp đồng bán đấu giá tài sản, Công ty và người có tài sản bán đấu giá thỏa thuận tiền đặt trước được nộp vào tài khoản của người có tài sản là chưa phù hợp theo quy định tại Khoản 1, Điều 29 Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010.

- Một số Thông báo bán đấu giá tài sản thể hiện thời gian xem tài sản bán đấu giá chưa đảm bảo theo quy định của Khoản 1, Điều 31 Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010.

- Thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng việc bán đấu giá tài sản chưa phù hợp theo quy định, như: Thời gian xem tài sản, giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá thông báo trên Báo Bình Dương không trùng khớp với nội dung theo Thông báo bán đấu giá tài sản. Có trường hợp thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng không có nội dung giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá.

- Một số vụ việc bán đấu giá, Công ty công bố danh sách khách hàng đăng ký tham gia đấu giá tài sản chưa đảm bảo theo quy định của Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010.

- Biên bản bán đấu giá tài sản không ghi cụ thể, chi tiết diễn biến của cuộc đấu giá theo quy định tại Khoản 2, Điều 34 Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 và Khoản 2, Điều 44 Luật Đấu giá tài sản; có trường hợp người tham gia đấu giá tài sản vi phạm nội quy bán đấu giá tài sản nhưng đấu giá viên vẫn tiếp tục cho tham gia đấu giá tiếp.

- Có 01 vụ bán đấu giá tài sản, Hợp đồng bán đấu giá tài sản đã được ký kết trước ngày Luật Đấu giá tài sản có hiệu lực và đã thực hiện việc niêm yết, thông báo công khai theo Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ. Tuy nhiên, Phụ lục Hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản, nội quy cuộc bán đấu giá, biên bản đấu giá tài sản đều căn cứ Luật Đấu giá tài sản năm 2016; Nghị định 62/2017/NĐ-CP ngày 16/5/2017 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Đấu giá tài sản.

Qua kết quả thanh tra, Giám đốc Sở Tư pháp đã yêu cầu Công ty TNHH đấu giá Bình Dương tổ chức rút kinh nghiệm, chấn chỉnh, tiến hành các biện pháp cần thiết để khắc phục kịp thời những thiếu sót mà kết luận thanh tra đã chỉ ra. Báo cáo kết quả thực hiện kết luận thanh tra bằng văn bản về Sở Tư pháp trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được kết luận thanh tra. Đấu giá viên cần phải tích cực nghiên cứu quy định của Luật Đấu giá tài sản, Nghị định số 62/2017/NĐ-CP ngày 16/5/2017 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Đấu giá tài sản, Thông tư số 06/2017/TT-BTP ngày 16/5/2017 của Bộ Tư pháp quy định về chương trình khung của khóa đào tạo nghề đấu giá, cơ sở đào tạo nghề đấu giá, việc tập sự và kiểm tra kết quả tập sự hành nghề đấu giá và biểu mẫu trong lĩnh vực đấu giá tài sản và các văn bản pháp luật khác có liên quan, không lập lại các sai sót mà kết luận thanh tra đã chỉ ra. Kịp thời phản ánh những khó khăn, vướng mắc, bất cập của pháp luật trong lĩnh vực đấu giá tài sản về Sở Tư pháp để được hướng dẫn, tháo gỡ góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động bán đấu giá tài sản trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

                                                                ​Thanh tra Sở Tư pháp


FalseThanh Tra Sở
Kết quả thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực bán đấu giá tài sản tại Công ty cổ phần đấu giá Đồng TâmKết luận thanh traTinKết quả thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực bán đấu giá tài sản tại Công ty cổ phần đấu giá Đồng Tâm/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
9/19/2018 10:00 AMNoĐã ban hành

Kết quả thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực bán đấu giá tài sản tại Công ty cổ phần đấu giá Đồng Tâm


Thực hiện Quyết định số 35/QĐ-STP ngày 04/4/2018 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực bán đấu giá tài sản tại Công ty cổ phần đấu giá Đồng Tâm và Quyết định số 49/QĐ-STP ngày 11/5/2018 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc gia hạn thời gian thanh tra, từ ngày 13/4/2018 đến ngày 16/5/2018, Đoàn thanh tra đã tiến hành thanh tra tại Công ty cổ phần đấu giá Đồng Tâm (viết tắt là Công ty Đồng Tâm). Ngày 15/6/2018, Giám đốc Sở đã ban hành Kết luận thanh tra số 873/KL-STP.

Tại Kết luận thanh tra, Sở Tư pháp ghi nhận những ưu điểm, kết quả Công ty cổ phần đấu giá Đồng Tâm đạt được, cụ thể: Công ty Đồng Tâm có ký hợp đồng thuê trụ sở làm việc tại địa chỉ số 404, đường Huỳnh Văn Lũy, phường Phú Mỹ, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương; người lao động làm việc tại Công ty đều có hợp đồng lao động; Công ty đã ban hành Nội quy bán đấu giá tài sản, Quy chế cuộc đấu giá; chấp hành đầy đủ việc báo cáo định kỳ và đột xuất theo yêu cầu của Sở Tư pháp; hồ sơ bán đấu giá được lưu trữ ngăn nắp, rõ ràng, có đánh bút lục hồ sơ; việc giao tài sản bán đấu giá và cung cấp giấy tờ liên quan đến tài sản bán đấu giá cho người mua được tài sản bán đấu giá đã được Công ty và các cá nhân, tổ chức có tài sản bán đấu giá thỏa thuận chi tiết, cụ thể trong từng hợp đồng bán đấu giá tài sản, hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản; thực hiện niêm yết công khai thù lao dịch vụ đấu giá tài sản tại trụ sở Công ty; thu phí đấu giá tài sản, phí tham gia đấu giá tài sản, thù lao dịch vụ đấu giá tài sản, tiền bán hồ sơ tham gia đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật; việc lập, quản lý, sử dụng Sổ đăng ký bán đấu giá tài sản, Sổ theo dõi tài sản bán đấu giá, Sổ đăng ký đấu giá tài sản, Sổ theo dõi tài sản đấu giá phù hợp theo quy định của Thông tư số 23/2010/TT-BTP ngày 06/12/2010 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản và Thông tư số 06/2017/TT-BTP ngày 16/5/2017 của Bộ Tư pháp quy định về chương trình khung của khóa đào tạo nghề đấu giá, cơ sở đào tạo nghề đấu giá, việc tập sự và kiểm tra kết quả tập sự hành nghề đấu giá và biểu mẫu trong lĩnh vực đấu giá tài sản.

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, kết quả đạt được, Công ty cổ phần đấu giá Đồng Tâm còn một số sai sót về chuyên môn nghiệp vụ như:

- Một số trường hợp bán đấu giá tài sản theo Nghị định số 17/2010/NĐ-CP, tên gọi của Hợp đồng bán đấu giá tài sản chưa phù hợp theo quy định tại Khoản 1, Điều 25 Nghị định số 17/2010/NĐ-CP.

- Tài sản bán đấu giá có nguồn gốc tịch thu sung quỹ nhà nước không phải là để thi hành án nhưng Chi cục Thi hành án dân sự ký hợp đồng ủy quyền cho Công ty Đồng Tâm tổ chức bán đấu giá tài sản và hồ sơ không có văn bản thể hiện việc tịch thu sung quỹ nhà nước của cơ quan có thẩm quyền.

- Tài sản bán đấu giá gắn liền với đất thuê nhưng hồ sơ bán đấu giá chưa có giấy tờ, tài liệu thể hiện quyền sử dụng đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm hay trả tiền một lần cho cả thời gian thuê. Có trường hợp, hợp đồng ủy quyền bán đấu giá tài sản thể hiện tài sản bán đấu giá bao gồm quyền sử dụng đất trong khi quyết định cưỡng chế kê biên không liệt kê tài sản kê biên là quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, Công ty Đồng Tâm chưa làm rõ vấn đề này là chưa phù hợp theo quy định tại Khoản 3, Điều 26 Nghị định số 17/2010/NĐ-CP.

- Một số trường hợp, việc ban hành và niêm yết Quy chế cuộc đấu giá của Công ty Đồng Tâm chưa phù hợp theo quy định tại Điều 34 và Điều 41 Luật Đấu giá tài sản, như:

+ Ban hành Quy chế cuộc đấu giá và niêm yết việc đấu giá tài sản thực hiện cùng một ngày; hồ sơ bán đấu giá không có giấy tờ, tài liệu thể hiện Công ty Đồng Tâm đã thông báo công khai Quy chế cuộc đấu giá;

+ Tại Quy chế cuộc đấu giá quy định nội dung từng vòng đấu và tại vòng đấu thứ nhất trả giá bằng giá khởi điểm; Biên bản đấu giá ghi nhận đấu giá viên công bố Quy chế cuộc đấu giá (đã được phổ biến đến các khách hàng kể từ khi đăng ký tham gia đấu giá tài sản) mà chưa đọc Quy chế cuộc đấu giá; một số trang của Quy chế có thông tin của người đăng ký tham gia đấu giá (Công ty giải trình do in nhầm nội dung của dự thảo Biên bản bán đấu giá).

- Một số Hợp đồng bán đấu giá tài sản, Công ty Đồng Tâm và người có tài sản bán đấu giá thỏa thuận tiền đặt trước được nộp vào tài khoản của người có tài sản là chưa phù hợp theo quy định của Khoản 1, Điều 39 Luật Đấu giá tài sản và Khoản 1, Điều 29 Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010.

- Thông báo bán đấu giá tài sản thể hiện thời gian xem tài sản bán đấu giá chưa đảm bảo theo quy định của Khoản 1, Điều 31 Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010.

- Về niêm yết và thông báo công khai việc đấu giá tài sản chưa phù hợp theo quy định, như:

+ Niêm yết việc đấu giá tài sản không có nội dung về danh mục tài sản, số lượng, chất lượng của tài sản bán đấu giá theo quy định tại Điểm c, Khoản 3, Điều 28 Nghị định số 17/2017/NĐ-CP ngày 04/3/2010; không thể hiện nội dung phương thức đấu giá, chưa đảm bảo thời gian niêm yết theo quy định của Điều 35 Luật Đấu giá tài sản.

+ Tài sản bán đấu giá là động sản, tuy nhiên Công ty Đồng Tâm chưa thực hiện niêm yết việc bán đấu giá tại nơi trưng bày tài sản. Theo hợp đồng ủy quyến đã ký với người có tài sản thì tài sản được lưu giữ tại nơi này nhưng Công ty Đồng tâm niêm yết việc bán đấu giá tại nơi khác.

+ Thông báo công khai việc đấu giá tài sản chưa đảm bảo thời gian theo quy định của Khoản 2, Điều 28 Nghị định số 17/2010/NĐ-CP và Điều 57 Luật Đấu giá tài sản.

- Một số vụ việc đấu giá, Công ty Đồng Tâm công bố danh sách người đăng ký mua tài sản bán đấu giá, danh sách người tham gia đấu giá là chưa phù hợp theo quy định của Điểm a, Khoản 1, Điều 34 Nghị định số 17/2010/NĐ-CP và Khoản 1, Điều 41 Luật Đấu giá tài sản.

- Trong trường hợp đấu giá theo phương thức trả giá lên nhưng hồ sơ bán đấu giá không thể hiện số thứ tự của người tham gia đấu giá trong quá trình trả giá; có trường hợp người tham gia đấu giá rút khi đến lượt trả giá là chưa phù hợp theo quy định tại Điều 41 Luật Đấu giá tài sản

- Biên bản đấu giá không ghi cụ thể, chi tiết diễn biến của cuộc đấu giá theo quy định tại Khoản 2, Điều 34 Nghị định số 17/2010/NĐ-CP và Khoản 2, Điều 44 Luật Đấu giá tài sản.

- Đấu giá viên điều hành cuộc đấu giá hướng dẫn tất cả những người tham gia đấu giá tại vòng đấu thứ nhất trả giá thấp nhất bằng giá khởi điểm là chưa phù hợp theo quy định tại Điểm b, Khoản 2, Điều 41 Luật Đấu giá tài sản.

- Có 01 vụ bán đấu giá tài sản, Hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá không có sự tham gia của người có tài sản bán đấu giá là chưa phù hợp theo quy định của Khoản 2, Điều 46 Luật Đấu giá tài sản.

- Công ty Đồng Tâm chưa mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho đấu giá viên của tổ chức mình theo quy định của Khoản 2, Điều 20 Luật Đấu giá tài sản.

Qua kết quả thanh tra, Giám đốc Sở Tư pháp đã yêu cầu Công ty cổ phần đấu giá Đồng Tâm tổ chức rút kinh nghiệm, chấn chỉnh, tiến hành các biện pháp cần thiết để khắc phục kịp thời những thiếu sót mà kết luận thanh tra đã chỉ ra. Báo cáo kết quả thực hiện kết luận thanh tra bằng văn bản về Sở Tư pháp trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được kết luận thanh tra. Công ty Đồng Tâm, Đấu giá viên thực hiện việc đấu giá tài sản phải đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Cần tăng cường kiểm tra kỹ hồ sơ đấu giá trước khi tổ chức đấu giá, đảm bảo tính hợp pháp, chính xác của tài sản đấu giá, thành phần hồ sơ. Đấu giá viên cần phải tích cực nghiên cứu quy định của Luật Đấu giá tài sản, Nghị định số 62/2017/NĐ-CP ngày 16/5/2017 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Đấu giá tài sản, Thông tư số 06/2017/TT-BTP ngày 16/5/2017 của Bộ Tư pháp quy định về chương trình khung của khóa đào tạo nghề đấu giá, cơ sở đào tạo nghề đấu giá, việc tập sự và kiểm tra kết quả tập sự hành nghề đấu giá và biểu mẫu trong lĩnh vực đấu giá tài sản và các văn bản pháp luật khác có liên quan, không lập lại các sai sót mà kết luận thanh tra đã chỉ ra. Công ty Đồng Tâm thực hiện mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho đấu giá viên của tổ chức mình theo quy định. Kịp thời phản ánh những khó khăn, vướng mắc, bất cập của pháp luật trong lĩnh vực đấu giá tài sản về Sở Tư pháp để được hướng dẫn, tháo gỡ, góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động đấu giá tài sản trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

                                                  ​ Thanh tra Sở Tư pháp

FalseThanh Tra Sở
Kết quả thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực luật sư tại Văn phòng luật sư và Chi nhánh Văn phòng, Chi nhánh Công ty luậtKết luận thanh tra; Tin ngành tư pháp; Thông tinTinKết quả thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực luật sư tại Văn phòng luật sư và Chi nhánh Văn phòng, Chi nhánh Công ty luật/ThanhTra/PublishingImages/2018-02/a_Key_06022018101947.png
2/7/2018 10:00 AMNoĐã ban hành

Kết quả thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực luật sư tại

Văn phòng luật sư và Chi nhánh Văn phòng, Chi nhánh Công ty luật


Thực hiện Quyết định thanh tra số 125/QĐ-STP ngày 16/11/2017 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực luật sư tại Văn phòng luật sư và Chi nhánh Văn phòng, Chi nhánh Công ty luật, từ ngày 23/11/2017 đến ngày 30/11/2017, Đoàn thanh tra Sở Tư pháp đã tiến hành thanh tra đối với Văn phòng luật sư Phạm Thanh Khương, Chi nhánh Văn phòng luật sư số 1, Chi nhánh Văn phòng luật sư Đại Quốc Việt và Chi nhánh Công ty luật TNHH MTV Sài Gòn Star. Ngày 29/12/2017, Giám đốc Sở Tư pháp đã ban hành Kết luận thanh tra số 1865/KL-STP.

Tại Kết luận thanh tra, Giám đốc Sở ghi nhận kết quả các đơn vị đã đạt được. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số sai sót như sau:

- Nội dung biển hiệu chưa đảm bảo theo quy định tại Khoản 3, Điều 23 Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng ban hành kèm theo Nghị định số 103/2009/NĐ-CP ngày 06/11/2009 của Chính phủ: Văn phòng luật sư Phạm Thanh Khương và Chi nhánh Văn phòng luật sư Đại Quốc Việt. Ngoài ra, tại địa chỉ Chi nhánh Văn phòng luật sư Đại Quốc Việt đăng ký hoạt động thì chưa thấy được trụ sở của Chi nhánh đặt tại vị trí nào vì cùng địa chỉ này hiện có trụ sở của một công ty khác.

- Chi nhánh Văn phòng luật sư số 1 có thiếu sót trong việc lưu trữ hợp đồng dịch vụ pháp lý; chưa lập hóa đơn theo quy định tại Khoản 3, Điều 5 Thông tư số 17/2011/TT-BTP ngày 14/10/2011 của Bộ Tư pháp; khi ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý còn thiếu các nội dung về quyền và nghĩa vụ của các bên, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, phương thức giải quyết tranh chấp, chưa ghi rõ phương thức tính là chưa phù hợp theo quy định tại Điều 26 Luật Luật sư năm 2006, được sửa đổi, bổ sung năm 2012; đối với vụ, việc có mức thù lao dưới 200.000 đồng, Chi nhánh chỉ lập Phiếu tư vấn mà chưa lập Phiếu thỏa thuận thực hiện dịch vụ pháp lý với khách hàng theo quy định tại Khoản 3, Điều 5 Nghị định số 17/2011/TT-BTP ngày 14/10/2011 của Bộ Tư pháp.

Ngoài ra, Văn phòng luật sư số 1 đã thay đổi địa chỉ trụ sở nhưng đến thời điểm thanh tra chưa thông báo cho Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương theo quy định tại Khoản 2, Điều 41 Luật Luật sư năm 2006, được sửa đổi, bổ sung năm 2012. Tuy nhiên, sau khi Đoàn thanh tra nhắc nhở, Văn phòng luật sư số 1 đã có thông báo và thực hiện thủ tục thay đổi nội dung hoạt động của Chi nhánh tại Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương và Chi nhánh đã được cấp lại Giấy đăng ký hoạt động ngày 18/12/2017.

- Chi nhánh Công ty luật TNHH MTV Sài Gòn Star: Sau khi được cấp lại Giấy đăng ký hoạt động, Chi nhánh Công ty luật TNHH MTV Sài Gòn Star chưa thực hiện thay đổi mẫu con dấu theo quy định tại Khoản 3, Điều 10 Nghị định số 123/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Luật sư. Bên cạnh đó, Luật sư Nguyễn Thiện Đức-Trưởng Chi nhánh Công ty luật TNHH MTV Sài Gòn Star đang bị Đoàn luật sư Thành Phố Hồ Chí Minh ra Quyết định xử lý kỷ luật với hình thức kỷ luật tạm đình chỉ tư cách thành viên Đoàn luật sư 24 tháng, dẫn đến điều kiện hoạt động của Chi nhánh Công ty luật TNHH MTV Sài Gòn Star không còn đảm bảo theo quy định của Luật Luật sư.

Qua kết quả thanh tra, Giám đốc Sở Tư pháp yêu cầu Văn phòng luật sư Phạm Thanh Khương, Chi nhánh Văn phòng luật sư số 1, Chi nhánh Văn phòng luật sư Đại Quốc Việt và Chi nhánh Công ty luật TNHH MTV Sài Gòn Star tổ chức rút kinh nghiệm, chấn chỉnh, tiến hành các biện pháp cần thiết để khắc phục ngay các sai sót, tồn tại đã nêu, đảm bảo chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết luận thanh tra, các đơn vị có trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện kết luận thanh tra bằng văn bản về Sở Tư pháp.

Văn phòng luật sư Phạm Thanh Khương, Chi nhánh Văn phòng luật sư Đại Quốc Việt thực hiện sửa đổi nội dung biển hiệu cho phù hợp quy định pháp luật; ngoài ra, Chi nhánh Văn phòng luật sư Đại Quốc Việt xác định rõ vị trí trụ sở của Chi nhánh để tránh nhầm lẫn trụ sở của Chi nhánh Văn phòng với công ty khác.

Chi nhánh Văn phòng luật sư số 1 lưu ý trong công tác lưu trữ hồ sơ, tránh tình trạng thất lạc hợp đồng dịch vụ pháp lý; lập hóa đơn, Phiếu thỏa thuận thực hiện dịch vụ pháp lý với khách hàng, nội dung hợp đồng dịch vụ pháp lý phải bảo đảm theo quy định pháp luật.

Đối với Chi nhánh Công ty luật TNHH MTV Sài Gòn Star, trong thời gian Luật sư Nguyễn Thiện Đức-Trưởng Chi nhánh đang thi hành Quyết định kỷ luật của Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh thì Chi nhánh phải tạm ngưng hoạt động và thực hiện các thủ tục liên quan đến điều kiện hoạt động của Chi nhánh theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, Giám đốc Sở đã chỉ đạo phòng Bổ trợ tư pháp rà soát điều kiện hoạt động của Chi nhánh Công ty luật TNHH MTV Sài Gòn Star, trường hợp không còn đủ điều kiện hoạt động thì tham mưu lãnh đạo Sở Tư pháp xử lý theo quy định. Thanh tra Sở tăng cường thanh tra đối với các tổ chức hành nghề luật sư, xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị xử lý các trường hợp vi phạm pháp luật, đặc biệt là các vi phạm đã được nhắc nhở nhưng còn tái phạm; đồng thời, theo dõi việc thực hiện kết luận thanh tra của Văn phòng luật sư Phạm Thanh Khương, Chi nhánh Văn phòng luật sư số 1, Chi nhánh Văn phòng luật sư Đại Quốc Việt và Chi nhánh Công ty luật TNHH MTV Sài Gòn Star./.

Thanh tra Sở Tư pháp


FalseThanh Tra Sở
Kết quả thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực công chứng tại Văn phòng công chứng Tân UyênTin ngành tư pháp; Kết luận thanh traTinKết quả thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực công chứng tại Văn phòng công chứng Tân Uyên/CMSImageNew/2017-06/hinhdaidien_Key_28062017104620.png
10/31/2017 5:00 PMNoĐã ban hành

Thực hiện Quyết định thanh tra số 80/QĐ-STP ngày 18/8/2017 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực công chứng tại Văn phòng công chứng Tân Uyên, từ ngày 29/8/2017 đến ngày 22/9/2017, Đoàn thanh tra đã tiến hành thanh tra tại Văn phòng công chứng Tân Uyên. Ngày 20/10/2017, Giám đốc Sở đã ban hành Kết luận thanh tra số 1475/KL-STP.

Tại Kết luận thanh tra, Sở Tư pháp ghi nhận những ưu điểm, kết quả Văn phòng công chứng Tân Uyên đạt được, cụ thể: Văn phòng đã mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công chứng viên của tổ chức mình; các Công chứng viên đều tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng; toàn bộ nhân viên làm việc tại Văn phòng có hợp đồng lao động; Văn phòng thực hiện chế độ về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và các quyền lợi cho người lao động theo quy định của pháp luật. Văn phòng thực hiện niêm yết tại trụ sở lịch làm việc, nội quy giao dịch, quy trình công chứng, những quy định chung về công chứng, thủ tục hành chính về công chứng, nội dung hướng dẫn thực hiện phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về hoạt động công chứng và mức thu phí công chứng, thù lao công chứng; chấp hành các yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc báo cáo, thanh tra, kiểm tra.

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, kết quả đạt được, Văn phòng công chứng Tân Uyên còn một số sai sót về chuyên môn nghiệp vụ như:

- Văn phòng thực hiện lập Sổ công chứng hợp đồng, giao dịch, Sổ theo dõi việc sử dụng lao động chưa đúng biểu mẫu Sổ; chưa niêm yết nguyên tắc tính chí phí khác tại trụ sở Văn phòng; thu phí công chứng, thù lao công chứng chưa đúng quy định.

- Có trường hợp một trong các bên tham gia hợp đồng, giao dịch không ký, điểm chỉ đầy đủ vào từng trang của hợp đồng.

- Một số văn bản công chứng, nội dung lời chứng chưa đảm bảo theo quy định của Luật Công chứng năm 2014 và Thông tư số 06/2015/TT-BTP; thực hiện sửa lỗi kỹ thuật chưa đúng quy định.

- Một số hồ sơ công chứng thiếu giấy tờ liên quan đến hợp đồng, giao dịch như: giấy tờ nhân thân; giấy tờ chứng minh quyền tài sản; giấy tờ xác nhận thành viên hộ sử dụng đất vào thời điểm được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; giấy tờ chứng minh tình trạng bất động sản đủ điều kiện tham gia giao dịch. Có trường hợp lưu không đúng giấy tờ về tài sản.

- Một số trường hợp nội dung của hợp đồng, giao dịch chưa đảm bảo quy định của pháp luật; ngoài ra, một số văn bản khai nhận di sản, thỏa thuận phân chia di sản nội dung chưa rõ ràng.

- Hồ sơ công chứng lưu trữ chưa đảm bảo theo quy định, có trường hợp lưu không đúng hoặc lưu thiếu giấy tờ có liên quan đến hợp đồng, giao dịch.

Qua kết quả thanh tra, Giám đốc Sở Tư pháp đã yêu cầu Văn phòng công chứng Tân Uyên tổ chức rút kinh nghiệm, chấn chỉnh, tiến hành các biện pháp cần thiết để khắc phục kịp thời những thiếu sót mà Kết luận số 1475 đã chỉ ra và Báo cáo kết quả thực hiện Kết luận thanh tra bằng văn bản về Sở Tư pháp trong vòng 30 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được Kết luận thanh tra. Đồng thời, đề nghị Hội Công chứng viên tỉnh thường xuyên giám sát hội viên trong việc tuân thủ quy định của pháp luật về công chứng, Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng; tăng cường tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng cho hội viên, đặc biệt chú trọng đến các văn bản pháp luật mới có hiệu lực. Ngoài ra, Giám đốc Sở chỉ đạo Phòng Bổ trợ tư pháp tiếp tục có những biện pháp tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong lĩnh vực công chứng theo thẩm quyền; Phòng Bổ trợ tư pháp, Phòng Hành chính tư pháp phối hợp Phòng Phổ biến giáo dục pháp luật, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tiếp tục tổ chức tuyên truyền phổ biến sâu rộng các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động công chứng, hộ tịch (các giấy tờ nhân thân liên quan khi tham gia hợp đồng, giao dịch) để người dân hiểu rõ, thực hiện./.

Thanh tra Sở Tư pháp

FalsePhan Thị Phượng
Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương tiếp tục chấn chỉnh lề lối làm việc, nâng cao trách nhiệm giải quyết thủ tục hành chính về các lĩnh vực thuộc ngành Tư phápTin ngành tư pháp; Thông tinTinSở Tư pháp tỉnh Bình Dương tiếp tục chấn chỉnh lề lối làm việc, nâng cao trách nhiệm giải quyết thủ tục hành chính về các lĩnh vực thuộc ngành Tư pháp/CMSImageNew/2017-02/hinhdaidien_Key_08022017103657.png
9/25/2017 11:00 AMNoĐã ban hành

Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương tiếp tục chấn chỉnh lề lối làm việc, nâng cao trách nhiệm giải quyết thủ tục hành chính về các lĩnh vực thuộc ngành Tư pháp


Nhằm đẩy mạnh thực hiện kỷ luật kỷ cương hành chính, cải tiến lề lối làm việc, tạo sự chuyển biến rõ nét trong nhận thức, hành động, tác phong làm việc của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động của các cơ quan, đơn vị trong ngành Tư pháp tỉnh Bình Dương. Ngày 19/9/2017, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương đã ban hành Công văn số 1284/STP-TTr về việc tiếp tục chấn chỉnh lề lối làm việc, nâng cao trách nhiệm giải quyết thủ tục hành chính về các lĩnh vực thuộc ngành Tư pháp. Giám đốc Sở yêu cầu Thủ trưởng các phòng chuyên môn và đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở, Phòng Tư pháp các huyện, thị xã, thành phố và Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn nghiêm túc thực hiện Chỉ thị số 26/CT-TTg ngày 05/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ, Chỉ thị số  02/CT-BTP ngày 25/3/2013 của Bộ Tư pháp, Chỉ thị số 24/CT-UBND ngày 20/10/2016 và Công văn số 3118/UBND-NC ngày 26/8/2016 của UBND tỉnh về chấn chỉnh việc giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp, trong đó lưu ý:

1. Về lề lối làm việc, kỷ luật, kỷ cương hành chính nhà nước:

- Chấn chỉnh lề lối làm việc, tăng cường thực hiện kỷ luật, kỷ cương hành chính, nâng cao ý thức trách nhiệm trong thực thi công vụ đối với cán bộ, công chức tại cơ quan, đơn vị mình, cụ thể: Chấp hành nghiêm chỉnh giờ giấc hành chính, cán bộ, công chức phải đeo thẻ công chức khi làm việc. Vắng mặt hoặc đi công tác phải báo cáo lãnh đạo theo quy chế.

- Tăng cường các biện pháp quán triệt, giáo dục, quản lý, giám sát chặt chẽ thái độ ứng xử của cán bộ, công chức nhất là những vị trí công tác nhạy cảm như người làm tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả, cán bộ trực tiếp tiếp nhận giải quyết thủ tục hành chính trong các lĩnh vực hộ tịch, công chứng, chứng thực…, không để xảy ra tình trạng tiêu cực, nhũng nhiễu, gây phiền hà tổ chức và công dân của cán bộ, công chức đơn vị mình.

- Kịp thời kiểm điểm, phê bình và báo cáo cấp trên xem xét xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm kỷ luật, kỷ cương hành chính, đạo đức công vụ, đồng thời phát hiện, tuyên dương những cá nhân thực hiện tốt, theo dõi để đưa vào xét thi đua cuối năm.

- Phát huy vai trò hiệu quả hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân, Tổ kiểm tra công vụ, thường xuyên kiểm tra, giám sát việc chấp hành, đưa vào tiêu chí thi đua để xem xét, bình bầu thi đua, đánh giá xếp loại công chức vào cuối năm.

2. Thực hiện Văn bản số 3118/UBND-NC ngày 26/8/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc chấn chỉnh việc giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp; nâng cao tinh thần trách nhiệm, thái độ ứng xử với người dân, doanh nghiệp của bộ phận cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong quá trình thụ lý, giải quyết thủ tục hành chính về các lĩnh vực thuộc ngành tư pháp quản lý. Sở Tư pháp yêu cầu:

- Đối với thủ trưởng các phòng chuyên môn và đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở:

+ Tham mưu thụ lý, giải quyết hoặc giải quyết theo thẩm quyền các thủ tục hành chính đảm bảo về trình tự, thủ tục, thành phần hồ sơ, thời hạn giải quyết và thu phí, lệ phí theo quy định pháp luật.

+ Thường xuyên quán triệt, nhắc nhở công chức, viên chức, người lao động vấn đề tiếp dân, thái độ ứng xử hòa nhã, đúng mực đối với người dân, doanh nghiệp liên hệ công việc. Khi có sự việc bức xúc thì Lãnh đạo Phòng, đơn vị tham gia, hướng dẫn, giải quyết ngay đảm bảo đúng quy trình, quy định pháp luật. Thủ trưởng các đơn vị sự nghiệp tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, lắp camera giám sát.

- Đối với Phòng Tư pháp các huyện, thị xã, thành phố:

+ Tham mưu Ủy ban nhân dân cùng cấp triển khai, thực hiện tốt các nhiệm vụ theo chỉ đạo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh tại Văn bản số 3118/UBND-NC ngày 26/8/2016; thụ lý, giải quyết hoặc giải quyết theo thẩm quyền các thủ tục hành chính đảm bảo về trình tự, thủ tục, thành phần hồ sơ, thời hạn giải quyết và thu phí, lệ phí theo quy định pháp luật.

+ Kịp thời xử lý nghiêm công chức thuộc Phòng thiếu trách nhiệm, có thái độ ứng xử không đúng chuẩn mực, chậm trễ, gây phiền hà trong giải quyết thủ tục hành chính đối với cá nhân, doanh nghiệp.

- Đối với UBND các xã, phường, thị trấn: Ngoài thực hiện các nhiệm vụ theo chỉ đạo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh tại Văn bản số 3118/UBND-NC ngày 26/8/2016, đề nghị Chủ tịch UBND các xã, phường, thị trấn quan tâm bố trí công chức có đủ trình độ năng lực phụ trách tiếp nhận giải quyết các thủ tục hành chính về các lĩnh vực thuộc ngành tư pháp quản lý như hộ tịch, chứng thực…

(Nội dung chi tiết Văn bản số 1284/STP-TTr xem file đính kèm)

CV 1284 STP-TTR.PDF

Thanh tra Sở

FalseThanh tra Sở
1 - 30Next
Ảnh
Video
Audio