Công tác thanh tra
 
          Ngày 06/12/2021, Chính phủ ban hành Nghị định số 107/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23/4/2018 của Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính.            Nghị định này sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày ...
 
​         Vừa qua, Chính phủ ban hành Nghị định số 97/2021/NĐ-CP ngày 08/11/2021 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 23/2018/NĐ-CP ngày 23/02/2018 của Chính phủ Quy định về bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc. Theo đó, Nghị định này thay thế, bãi bỏ một số quy định của Nghị định số 23/2018/NĐ-CP ngày 23 tháng 02 năm 2018 của Chính phủ quy định về bảo hiểm cháy, nổ bắt ...
 
​          Ngày 30/9/2021, Thanh tra Chính phủ ban hành Thông tư số 03/2021/TT-TTCP Quy định chi tiết danh mục và thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác tại Thanh tra Chính phủ và vị trí công tác trong lĩnh vực thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng tại chính quyền địa phương.Thông tư áp dụng đối với: Thanh tra Chính phủ ...
 
​          Thực hiện Quyết định số 106/QĐ-STP ngày 11/10/2021 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực công chứng, chứng thực đối với Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Thanh Vân. Ngày 21/10/2021, tại trụ sở làm việc của Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Thanh Vân, địa chỉ: Ấp Định Thọ, xã Định Hiệp, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương, ...
 
​              Căn cứ Luật Thanh tra năm 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành, theo Công văn số 292/CV-TTr ngày 13/10/2021 của Thanh tra tỉnh Bình Dương về việc rà soát, điều chỉnh triển khai thực hiện Kế hoạch thanh tra năm 2021 và tình hình dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn tỉnh Bình Dương vẫn diễn biến phức tạp. Ngày 20/10/2021, Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình ...
 
​           Nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập về thể chế, tạo cơ sở pháp lý cho bước phát triển mới của hoạt động công chứng theo chủ trương xã hội hóa, nâng cao chất lượng và tính bền vững của hoạt động công chứng, từng bước phát triển nghề công chứng Việt Nam phù hợp với thông lệ quốc tế, ngày 20/6/2014, Quốc hội thông qua Luật Công chứng số 53/2014/QH13. Qua ...
 
​          Luật Đấu giá tài sản số 01/2016/QH14 được Quốc hội thông qua ngày 17/11/2016 đã đánh dấu mốc quan trọng trong việc hoàn thiện, thống nhất khung pháp lý điều chỉnh hoạt động đấu giá tài sản. Một trong những điểm mới của Luật Đấu giá tài sản năm 2016 so với Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản là về trình tự, thủ tục ...
 
          Ngày 11/10/2021, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác Cổng dịch vụ công Quốc gia. Quyết định này có hiệu lực từ ngày 09/12/2021. Theo đó, Quy chế quy định nguyên tắc, quyền hạn, trách nhiệm, phương thức quản lý, vận hành, khai thác Cổng Dịch vụ công quốc gia.           1. Nguyên tắc quản lý, vận hành, ...
 
         ​Vừa qua, Chính phủ ban hành Nghị định số 116/2020/NĐ-CP ngày 25/9/2020 Quy định về chính sách hỗ trợ tiền đóng học phí, chi phí sinh hoạt đối với sinh viên sư phạm. Nghị định này quy định về chính sách hỗ trợ tiền đóng học phí, chi phí sinh hoạt đối với sinh viên học các ngành đào tạo giáo viên tại các đại học, học viện, trường đại học, trường cao đẳng được phép ...
 
​          Vừa qua, Thanh tra Chính phủ ban hành Thông tư số 04/2021/TT-TTCP ngày 01/10/2021 Quy định quy trình tiếp công dân. Thông tư quy định quy trình tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh tại nơi tiếp công dân của cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm tiếp công dân theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 4 của Luật Tiếp công dân và ...
 
 
  
Phân loại
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Nội dung
  
  
Kết quả thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực công chứng, chứng thực đối với Văn phòng công chứng Võ Văn NhânKết luận thanh traTinKết quả thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực công chứng, chứng thực đối với Văn phòng công chứng Võ Văn Nhân/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
9/6/2023 1:00 PMNoĐã ban hành

     Thực hiện Quyết định số 58/QĐ-STP ngày 03/4/2023 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực công chứng, chứng thực đối với Văn phòng công chứng Võ Văn Nhân, Đoàn Thanh tra đã tiến hành thanh tra đối với Văn phòng công chứng Võ Văn Nhân .  Ngày 05/9/2023 , Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương ban hành Kết luận thanh tra số 1652 /KL-STP.

      Tại Kết luận thanh tra, Giám đốc Sở Tư pháp ghi nhận những ưu điểm, kết quả Văn phòng công chứng Võ Văn Nhân đã đạt được, Văn phòng cơ bản chấp hành quy định của Luật Công chứng năm 2014, các văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động công chứng, chứng thực và các văn bản pháp luật khác, góp phần phục vụ tốt yêu cầu công chứng, chứng thực của cá nhân, tổ chức có nhu cầu.  Tuy nhiên, bên cạnh đó Văn phòng công chứng Võ Văn Nhân còn một số hạn chế, sai sót trong hoạt động công chứng, chứng thực như:

     1. Đăng báo nội dung đăng ký hoạt động của Văn phòng

     Cho đến thời kỳ thanh tra, Văn phòng vẫn chưa thực hiện đăng báo về việc thay đổi nội dung đăng ký hoạt động theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Luật Công chứng năm 2014.

     2. Về công chứng hợp đồng, giao dịch

     a) Về thu phí, thù lao công chứng hợp đồng, giao dịch:

     - Có trường hợp thu phí công chứng cao hơn mức quy định tại Thông tư số 257/2016/TT-BTC ngày 11/11/2016 của Bộ Tài chính. Mặt khác, có trường hợp thu phí công chứng thấp hơn mức quy định tại Thông tư số 257/2016/TT-BTC.

     - Thu thù lao công chứng hợp đồng, giao dịch cao hơn mức trần quy định tại Quyết định số 04/2015/QĐ-UBND ngày 26/02/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương.

     b) Về thành phần hồ sơ

     Một số hồ sơ công chứng, phiếu yêu cầu công chứng không đầy đủ nội dung theo quy định và thành phần hồ sơ không đảm bảo về thủ tục theo quy định tại Điều 40 và 41 Luật Công chứng năm 2014.

     c) Về nội dung hợp đồng, giao dịch

     - Văn bản cử người đại diện số 3433 ngày 02/8/2022 mẹ là người đại diện cho con chưa thành niên nhưng ký văn bản thỏa thuận cử đại diện với các con chưa thành niên là chưa phù hợp theo quy định tại khoản 3 Điều 141 Bộ luật Dân sự năm 2015.

     - Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số công chứng 4898 ngày 02/12/2022, quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng. Nội dung hợp đồng ghi nhận chồng tặng cho một phần quyền sử dụng đất cho vợ để quyền sử dụng đất đó là tài sản riêng của vợ là chưa phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 210 và khoản 1 Điều 213 Bộ luật Dân sự năm 2015.

     - Văn bản thỏa thuận cử người đại diện số công chứng 761 ngày 04/3/2022. Tuy nhiên nội dung văn bản thể hiện là ủy quyền. Do vậy, tên gọi và nội dung của Văn bản chưa có sự thống nhất và đảm bảo phù hợp theo quy định pháp luật dân sự, pháp luật đất đai.

     - Hợp đồng ủy quyền số công chứng 768 ngày 04/3/2022 có nội dung ủy quyền lại chưa phù hợp theo quy định tại Điều 564 Bộ luật Dân sự năm 2015.

     - Hợp đồng ủy quyền số công chứng 4655 ngày 10/11/2022 ghi nhận việc ủy quyền lại vượt quá thời hạn ủy quyền ban đầu là chưa phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 564 Bộ luật Dân sự năm 2015.

     - Văn bản thỏa thuận về quyền sử dụng đất cấp cho hộ số công chứng 2010 ngày 09/5/2022. Quyền sử dụng đất được cấp trong thời kỳ hôn nhân giữa bà Nhợ và ông Sơn. Tuy nhiên, sau khi ông Sơn chết, những người thừa kế của ông Sơn chưa thực hiện thủ tục khai nhận/thỏa thuận phân chia di sản mà đã tiến hành thỏa thuận phân chia quyền sử dụng đất là chưa phù hợp theo quy định của pháp luật về dân sự, hôn nhân và gia đình, đất đai.

     - Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế và thỏa thuận về quyền sử dụng đất số công chứng 45 ngày 05/01/2022 có nội dung mẹ đại diện theo pháp luật cho con chưa thành niên nhưng thỏa thuận tặng cho phần di sản thừa kế mà con được hưởng cho người khác là chưa phù hợp theo quy định khoản 1 Điều 134 Bộ luật Dân sự năm 2015. Tương tự: Văn bản thỏa thuận về quyền sử dụng đất số công chứng 689 ngày 28/02/2022.

        d) Công chứng văn bản khai nhận di sản, văn bản thỏa thuận phân chia di sản

     - Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế số công chứng 3439 ngày 02/8/2022, hồ sơ công chứng không có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất của người chết để lại. Sau khi thanh tra, Văn phòng đã bổ sung giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất của người chết để lại.

     - Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế quyền sử dụng đất số công chứng 4894 ngày 02/12/2022. Di sản là phần quyền sử dụng đất do người chồng chết để lại trong khối tài sản chung với người vợ. Tuy nhiên, văn bản có nội dung người vợ đồng ý nhập phần quyền sử dụng đất chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân vào khối di sản thừa kế để chia cho những người thừa kế là chưa phù hợp theo Điều 66 Luật Hôn nhân và Gia đình. Sau khi thanh tra, Văn phòng khắc phục sai sót bằng việc mời các bên ký lại Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế quyền sử dụng đất số công chứng 4894 ngày 02/12/2022 là chưa phù hợp theo quy định của Luật Công chứng.

      - Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế quyền sử dụng đất số công chứng 3130 ngày 14/7/2022 hồ sơ không có giấy tờ chứng minh bà Nguyệt là người thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo pháp luật của người để lại di sản. Sau khi thanh tra, Văn phòng đã bổ sung giấy tờ chứng minh mối quan hệ.

     - Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế và chia quyền sử dụng đất chung hộ gia đình số công chứng 2643 ngày 11/6/2022, hồ sơ không lưu giấy tờ chứng minh mối quan hệ của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo pháp luật. Văn phòng chưa thực hiện niêm yết việc thụ lý văn bản công chứng Văn bản thỏa thuận phân chia di sản tại Ủy ban nhân dân nơi có di sản. Thông báo niêm yết số 0236/TBNY-VPCC ngày 19/4/2022 của Văn phòng công chứng không có nội dung về người để lại di sản (ông Phùng). Sau khi thanh tra, Văn phòng đã bổ sung giấy tờ chứng minh mối quan hệ của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo pháp luật, các văn bản liên quan đến việc niêm yết tại Ủy ban nhân dân xã Minh Tân vào hồ sơ công chứng.

     e) Lời chứng của công chứng viên

     - Văn bản thỏa thuận cử người đại diện đứng tên số công chứng 3133 ngày 14/7/2022 lời chứng ghi không chính xác về tên của giao dịch.

     - Có nhiều trường hợp lời chứng của công chứng viên trong các văn bản công chứng chưa đầy đủ nội dung theo quy định, cụ thể: lời chứng của công chứng viên không thể hiện người yêu cầu công chứng ngoài trụ sở là ai và thời điểm người đó ký vào hợp đồng, giao dịch; hồ sơ có người làm chứng nhưng lời chứng của công chứng viên chưa ghi nhận.

     g) Về sửa lỗi kỹ thuật trong văn bản công chứng

     Có trường hợp thông báo sửa lỗi kỹ thuật nhưng công chứng viên không sửa lỗi kỹ thuật trên văn bản lưu, công chứng viên sửa lỗi kỹ thuật bằng cách ghi bổ sung nội dung là chưa đúng theo quy định tại Điều 50 Luật Công chứng.

     h) Về lưu trữ hồ sơ công chứng

     - Nhiều hồ sơ công chứng không lưu giấy tờ thể hiện kết quả tra cứu thông tin ngăn chặn, giải tỏa ngăn chặn và thông tin về hợp đồng, giao dịch đã công chứng trên Cơ sở dữ liệu công chứng là chưa đảm bảo theo quy định tại Điều 14 Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương ban hành kèm theo Quyết định số 29/2019/QĐ-UBND ngày 03/12/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương.

     - Một số hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bên chuyển nhượng là Công ty TNHH Đầu tư và Phát triển Nam Sài Gòn, hồ sơ công chứng không có Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của Công ty TNHH Đầu tư và Phát triển Nam Sài Gòn, không có giấy tờ chứng minh Công ty đủ điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Sau khi thanh tra, Văn phòng đã bổ sung đầy đủ thành phần hồ sơ theo quy định.

     i) Về Sổ công chứng hợp đồng, giao dịch

     Văn phòng lập Sổ công chứng hợp đồng, giao dịch điện tử, định kỳ 3 tháng in và đóng thành sổ, khi hết năm chưa thực hiện việc khóa sổ và thống kê tổng số việc công chứng đã thực hiện trong năm; Trưởng Văn phòng chưa xác nhận, ký, ghi rõ họ tên và đóng dấu vào Sổ là chưa phù hơp theo quy định tại Điều 25 Thông tư số 01/2021/TT-BTP. Ngoài ra, Sổ công chứng hợp đồng, giao dịch quyển số 02/2022 TP/CC-SCC (mở sổ ngày 01/4/2022, khóa sổ ngày 30/6/2022) không có các số công chứng theo số thứ tự từ số 1859 đến số 2055.

     k) Về chia sẻ thông tin lên Cơ sở dữ liệu công chứng

     Một số trường hợp, Văn phòng công chứng Võ Văn Nhân cập nhật thông tin về hợp đồng, giao dịch đã công chứng vào Cơ sở dữ liệu công chứng chưa đảm bảo tính kịp thời, có trường hợp đến thời điểm thanh tra chưa cập nhật thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương ban hành kèm theo Quyết định số 29/2019/QĐ-UBND ngày 03/12/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương.

     3. Về chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký/điểm chỉ

     a) Sổ chứng thực bản sao từ bản chính, Sổ chứng thực chữ ký/chứng thực điểm chỉ

     - Văn phòng lập Sổ chứng thực bản sao từ bản chính, Sổ chứng thực chữ ký/chứng thực điểm chỉ chưa đúng mẫu theo quy định của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP.

    - Văn phòng chưa thực hiện khóa Sổ và thống kê tổng số việc chứng thực đã thực hiện trong năm; người ký chứng thực chưa xác nhận, ký, ghi rõ họ tên và đóng dấu của Văn phòng công chứng theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP.

     b) Về hồ sơ chứng thực chữ ký

     - Có nhiều trường hợp chứng thực chữ ký trong Sơ yếu lý lịch không thực hiện gạch chéo những mục không ghi nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 15 Thông tư số 01/2020/TT-BTP. Văn phòng lưu văn bản chứng thực chữ ký chưa đảm bảo theo thủ tục chứng thực chữ ký được quy định tại Điều 24 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP.

    - Có trường hợp văn bản được chứng thực không ghi ngày, tháng, năm; lời chứng của công chứng viên chưa đúng theo mẫu quy định của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP

     c) Về thu phí chứng thực

     Văn phòng công chứng thu phí chứng thực chữ ký trong Giấy ủy quyền cao hơn mức quy định.

     Giám đốc Sở Tư pháp yêu cầu Văn phòng công chứng Võ Văn Nhân tổ chức rút kinh nghiệm, chấn chỉnh, tiến hành các biện pháp cần thiết để khắc phục kịp thời những thiếu sót, vi phạm mà Kết luận thanh tra đã chỉ ra, và báo cáo kết quả thực hiện Kết luận thanh tra bằng văn bản về Sở Tư pháp trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được Kết luận thanh tra. Cần tăng cường nghiên cứu quy định pháp luật có liên quan và kiểm tra kỹ hồ sơ công chứng và nội dung hợp đồng, giao dịch trước khi thực hiện, đảm bảo hồ sơ công chứng và nội dung của hợp đồng, giao dịch nhằm hạn chế tranh chấp có thể phát sinh; khi thực hiện công chứng ngoài trụ sở cần lưu ý về trình tự, thủ tục thực hiện; thu phí công chứng, thù lao công chứng đúng theo quy định; việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch và việc sửa lỗi kỹ thuật trong văn bản công chứng theo đúng theo quy định; lưu trữ hồ sơ công chứng đảm bảo đầy đủ thành phần hồ sơ theo quy định pháp luật;…

     Kiến nghị Hội Công chứng viên tỉnh Bình Dương tăng cường công tác tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng, giám sát đối với hoạt động hành nghề công chứng theo quy định; Cục Thuế tỉnh kiểm tra, xử phạt đối với hành vi thu phí, lệ phí không đúng mức phí, lệ phí theo quy định tại Điều 25 Nghị định số 109/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 49/2016/NĐ-CP ngày 27/5/2016).

      Đối với Thanh tra Sở, Phòng chuyên môn của Sở Tư pháp , Giám đốc Sở yêu cầu Phòng Bổ trợ tư pháp tiếp tục theo dõi sát tình hình hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng, kịp thời tham mưu, đề xuất các giải pháp chấn chỉnh nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này. Thanh tra Sở theo dõi việc thực hiện Kết luận thanh tra của Văn phòng công chứng Võ Văn Nhân./. 

     Nội dung chi tiết xem tại file đính kèm KL_1652_TTR.signed.pdf

 

FalseThanh Tra Sở
Kết quả thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực hộ tịch có yếu tố nước ngoài đối với UBND thị xã Bến CátKết luận thanh traTinKết quả thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực hộ tịch có yếu tố nước ngoài đối với UBND thị xã Bến Cát/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
8/15/2023 9:00 AMNoĐã ban hành

     Thực hiện Quyết định thanh tra số 83/QĐ-STP ngày 16/5/2023 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực hộ tịch có yếu tố nước ngoài đối với Ủy ban nhân dân thị xã Bến Cát, ngày 23/5/2023 Đoàn thanh tra đã công bố quyết định thanh tra và tiến hành thanh tra tại Ủy ban nhân dân thị xã Bến Cát.​​ Ngày 14/8/2023, Giám đốc Sở Tư pháp đã ban hành Kết luận thanh tra số 1522/KL-STP.

     Tại Kết luận thanh tra, Giám đốc Sở ghi nhận những ưu điểm, kết quả Ủy ban nhân dân thị xã Bến Cát đã đạt được. Ủy ban nhân dân thị xã Bến Cát​ đã tuân thủ quy định pháp luật về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Đơn vị đã có nhiều cố gắng trong công tác hộ tịch có yếu tố nước ngoài, giải quyết kịp thời yêu cầu của cá nhân tại địa phương. Lãnh đạo địa phương có sự quan tâm, đầu tư về nhân lực cũng như cơ sở vật chất để thực hiện công tác hộ tịch theo thẩm quyền.​ Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn có một số tồn tại, sai sót, lưu ý trong việc bố trí công chức thực hiện tham mưu công tác tổ chức trao Giấy chứng nhận kết hôn có yếu tố nước ngoài; đăng ký khai sinh, đăng ký khai tử, đăng ký kết hôn, đăng ký nhận cha, mẹ, con; ghi vào Sổ hộ tịch sự kiện kết hôn, ly hôn, khai tử của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, theo đó:

     1. Việc bố trí công chức thực hiện tham mưu công tác tổ chức trao Giấy chứng nhận kết hôn có yếu tố nước ngoài chưa phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 38 Luật Hộ tịch.

     2. Về việc ghi chép, khóa Sổ hộ tịch:

     - Sổ đăng ký kết hôn: Có 03 trường hợp ngày, tháng, năm đăng ký là 03/01/2023 nhưng không ghi số đăng ký bắt đầu từ số 01 của năm 2023 mà lấy số tiếp theo của năm 2022; 01 trường hợp ghi ngày, tháng, năm đăng ký kết hôn và ngày, tháng, năm xác lập quan hệ hôn nhân không trùng khớp nhau; có trường hợp ghi Sổ không theo thứ tự đăng ký là chưa đúng theo quy định tại Điều 29 Thông tư số 04/2020/TT-BTP. Bên cạnh đó, việc khóa Sổ đăng ký kết hôn năm 2022 chưa đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 36 Thông tư số 04/2020/TT-BTP.

     - Sổ đăng ký khai tử có 01 trường hợp không ghi nguyên nhân chết.

     - Sổ cấp bản sao trích lục hộ tịch ghi bằng nhiều màu mực khác nhau là chưa phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Thông tư số 04/2020/TT-BTP.

     3. Về hồ sơ đăng ký hộ tịch:

     - Hồ sơ đăng ký khai sinh: có 01 hồ sơ thiếu văn bản thừa nhận là con chung đối với trường hợp con do người vợ sinh ra trước thời điểm đăng ký kết hôn là chưa đảm bảo theo quy định tại khoản 3 Điều 16 Thông tư số 04/2020/TT-BTP.

     - Hồ sơ đăng ký kết hôn: có 01 trường hợp trong hồ sơ có lưu Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân chưa rõ thông tin về tình trạng hôn nhân của người đăng ký kết hôn là chưa đảm bảo theo quy định tại khoản 2 Điều 2 và khoản 3 Điều 22 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP.       Tại buổi làm việc với Đoàn thanh tra, Phòng Tư pháp đã cung cấp bổ sung giấy tờ thể hiện rõ tình trạng hôn nhân của người đăng ký kết hôn.

     4. Việc thu lệ phí hộ tịch

     Tại báo cáo của Ủy ban nhân dân thị xã không thống kê về thu lệ phí hộ tịch đối với từng loại vụ việc đăng ký theo nội dung yêu cầu báo cáo, tại buổi làm việc và báo cáo giải trình sau thanh tra, Phòng Tư pháp không cung cấp được các giấy tờ tài liệu chứng minh nên Đoàn thanh tra không có cơ sở để kiểm tra, đối chiếu việc thu lệ phí hộ tịch đối với các trường hợp đã đăng ký.

Giám đốc Sở Tư pháp yêu cầu Ủy ban nhân dân thị xã Bến Cát tổ chức rút kinh nghiệm, chấn chỉnh, khắc phục ngay các hạn chế, sai sót mà Kết luận thanh tra đã nêu. Báo cáo kết quả thực hiện Kết luận thanh tra bằng văn bản về Sở Tư pháp trong thời hạn 30 (ba mươi) ngày kể từ ngày nhn được Kết luận thanh tra. Tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân về hộ tịch nói chung và hộ tịch có yếu tố nước ngoài nói riêng. Kịp thời phản ánh những khó khăn, vướng mắc, bất cập của pháp luật trong lĩnh vực hộ tịch có yếu tố nước ngoài về Sở Tư pháp để được hướng dẫn, giải quyết, góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực hộ tịch có yếu tố nước ngoài. Phòng Tư pháp thị xã Bến Cát cần lưu ý về việc phân công công chức thực hiện tham mưu công tác tổ chức trao Giấy chứng nhận kết hôn có yếu tố nước ngoài; ghi chép thông tin trong Sổ hộ tịch, khóa Sổ hộ tịch; khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký hộ tịch thì các giấy tờ có trong hồ sơ phải đảm bảo theo đúng quy định pháp luật. Việc thu lệ phí hộ tịch phải lập biên lai theo đúng quy định. Trường hợp có khó khăn cần kịp thời báo cáo để được xem xét, hướng dẫn thực hiện.

     Đối với Thanh tra Sở, các Phòng chuyên môn và đơn vị sự nghiệp trực thuộc của Sở Tư pháp, Giám đốc Sở yêu cầu Phòng Hành chính tư pháp và Quản lý xử lý vi phạm hành chính tiếp tục tăng cường công tác hướng dẫn nghiệp vụ trong lĩnh vực hộ tịch có yếu tố nước ngoài; tăng cường kiểm tra công tác đăng ký và quản lý hộ tịch trên địa bàn tỉnh. Thanh tra Sở chủ trì, phối hợp với Phòng Hành chính tư pháp và Quản lý xử lý vi phạm hành chính tiếp tục tổ chức các cuộc thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực hộ tịch có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân cấp huyện. Thanh tra Sở theo dõi việc thực hiện Kết luận thanh tra của đơn vị được thanh tra./.

     Nội dung chi tiết xem tại file đính kèm KL_1522_TTR.signed.pdf

FalseThanh Tra Sở
Một số chủ tịch các cấp chưa gương mẫu trong chấp hành bản án hành chínhThông tinMột số chủ tịch các cấp chưa gương mẫu trong chấp hành bản án hành chính/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
8/10/2023 3:00 PMNoĐã ban hành

(Thanh tra) - Theo báo cáo của Chính phủ, một số chủ tịch các cấp chưa gương mẫu trong chấp hành bản án hành chính; còn trường hợp không giải quyết hoặc không thông báo kết quả giải quyết đối với kiến nghị về thi hành án của các cơ quan có thẩm quyền.

Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long thừa ủy quyền của Thủ tướng ký cáo báo của Chính phủ về kết quả thực hiện nghị quyết của Quốc hội thuộc lĩnh vực tư pháp. Ảnh: P.Thắng

Chính phủ vừa có báo cáo về kết quả thực hiện nghị quyết của Quốc hội từ đầu nhiệm kỳ khóa XV đến kỳ họp 4 thuộc lĩnh vực tư pháp.

Báo cáo này do Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long thừa ủy quyền của Thủ tướng ký gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Thi hành án năm sau luôn cao hơn năm trước

Tại báo cáo, Bộ trưởng Lê Thành Long cho hay, công tác thi hành án dân sự, nhất là trong xử lý các vụ việc phức tạp, kéo dài; thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế và án tín dụng, ngân hàng tiếp tục được lãnh đạo các cấp, ngành liên quan quan tâm và tập trung chỉ đạo quyết liệt.

Chính phủ đã kịp thời chỉ đạo Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, UBND cấp tỉnh chủ động phối hợp chặt chẽ với TAND Tối cao, Viện KSND Tối cao, Ban Nội chính Trung ương để có biện pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc liên quan đến thi hành án dân sự.

Với sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, nhiều bản án, quyết định có hiệu lực lâu năm đã được thi hành dứt điểm.

Theo Bộ trưởng Bộ Tư pháp, hiệu quả thi hành án tín dụng ngân hàng và thu hồi tài sản cho Nhà nước trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế được nâng cao hiệu quả.

Công tác theo dõi thi hành án hành chính của hệ thống thi hành án dân sự đã đi vào nề nếp, thực hiện đúng, đầy đủ trách nhiệm theo quy định; khắc phục tình trạng nể nang, né tránh việc kiến nghị xử lý trách nhiệm. “Kết quả thi hành án năm sau luôn cao hơn năm trước”, báo cáo Chính phủ nêu rõ.

Thi hành các vụ án tín dụng ngân hàng đạt thấp

Dù vậy, Chính phủ cho hay, trong thi hành án, số vụ việc phải tiến hành cưỡng chế còn nhiều; vẫn còn một số thiếu sót, vi phạm về chuyên môn, nghiệp vụ, nhất là công tác ra quyết định thi hành án.

Đáng lưu ý, qua sơ kết công tác thi hành án dân sự 6 tháng đầu năm 2023 cho thấy, kết quả thi hành các vụ việc tín dụng ngân hàng đạt thấp so với cùng kỳ (giảm 2,35% về việc; giảm 2,61 %) về tiền), trong khi các việc loại này chiếm đến 41,45% về tiền so với tổng số tiền phải thi hành của toàn quốc.

Một số chủ tịch UBND các cấp chưa đề cao trách nhiệm, chưa gương mẫu trong chấp hành bản án hành chính; chưa quyết liệt đôn đốc, kiểm tra, xử lý trách nhiệm người phải thi hành án thuộc thẩm quyền quản lý

Thậm chí, còn trường hợp không giải quyết hoặc không thông báo kết quả giải quyết đối với kiến nghị về thi hành án của các cơ quan có thẩm quyền.

Báo cáo dẫn chứng, trường hợp dù viện KSND đã có 7 kiến nghị với chủ tịch UBND một số quận, huyện của TP Hà Nội đề nghị chỉ đạo các phòng, ban thực hiện bản án hành chính đã có hiệu lực pháp luật nhưng đều không nhận được công văn phúc đáp hoặc văn bản thông báo tình hình, kết quả thực hiện.

Thanh tra địa phương có nhiều bản án hành chính phải thi hành

Đề cập đến nhiệm vụ, giải pháp, Bộ trưởng Lê Thành Long cho biết, Chính phủ yêu cầu phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ thi hành án dân sự được giao hàng năm.

Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xử lý dứt điểm các việc có điều kiện thi hành án, nhất là các vụ việc trọng điểm, các vụ việc phức tạp, kéo dài, các vụ việc liên quan đến tín dụng, ngân hàng; các vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo dõi, chỉ đạo.

Đi cùng với đó là tăng cường thanh tra, kiểm tra, thành lập các đoàn kiểm tra liên ngành về việc việc chấp hành pháp luật tố tụng hành chính và thi hành án hành chính, đặc biệt là tại các địa phương có số lượng lớn các bản án hành chính phải thi hành.

Thực hiện nghiêm việc kiến nghị xử lý trách nhiệm người phải thi hành án chậm thi hành, không chấp hành hoặc chấp hành không đầy đủ, không đúng bản án, quyết định của tòa án cũng là nhiệm vụ, giải pháp Chính phủ đặt ra.

Chính phủ cũng yêu cầu tập trung xây dựng, kiện toàn đội ngũ chấp hành viên, công chức làm công tác thi hành án dân sự, có phẩm chất đạo đức, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm.

“Thực hiện nghiêm các quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu; bảo đảm kỷ luật, kỷ cương hành chính”, báo cáo nêu.

Thi hành án dân sự: năm 2021, đã thi hành án xong 494.505 việc, đạt tỷ lệ 75,82% (tương ứng đã thi hành xong hơn 46.328 tỷ đồng, đạt 31,21%).  

Năm 2022, đã thi hành xong 539.290 việc, đạt tỷ lệ 82,50%, tăng 6,67% so với năm 2021 (tương ứng đã thi hành xong hơn 75.240 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 45,42%)

8 tháng năm 2023 (tính từ tháng 10/2022 đến hết tháng 6/2023) đã thi hành xong 324.518 việc, đạt tỷ lệ 61,12%, tăng 12,18% so với cùng kỳ năm 2022 (tương ứng đã thi hành xong hơn 62.123 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 29,42%).

Thi hành án hành chính: năm 2021, đã thi hành xong 455/944 bản án, quyết định. Năm 2022 đã thi hành xong 429/992 bản án, quyết định (năm trước chuyển sang 489 bản án, quyết định).

Riêng 32 bản án, quyết định người phải thi hành án là UBND, chủ tịch UBND được Ủy ban Tư pháp của Quốc hội giám sát năm 2018, đã thi hành xong 26/32 việc.

6 tháng năm 2023 (theo quy định về kỳ báo cáo), đã thi hành xong 216/897 bản án, quyết định (năm trước chuyển sang 563 bản án, quyết định), tăng trên 140% so với cùng kỳ năm 2022; đang tiếp tục thi hành 681 việc. 

                                                                                                                                        Hương Giang              
Nguồn: https://thanhtra.com.vn/chinh-tri/doi-noi/mot-so-chu-tich-cac-cap-chua-guong-mau-trong-chap-hanh-ban-an-hanh-chinh-213551.html

FalseThanh Tra Sở
Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long: “Sứ mệnh” của công chứng là con mắt thứ 3 được xã hội công nhậnThông tinBộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long: “Sứ mệnh” của công chứng là con mắt thứ 3 được xã hội công nhận/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
8/10/2023 3:00 PMNoĐã ban hành

​(PLVN) - Ngày 7/8, tại Đà Nẵng, Ủy ban Pháp luật của Quốc hội đã tổ chức Phiên giải trình " Việc thực hiện một số quy định của pháp luật về hoạt động công chứng". Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long, Thứ trưởng Mai Lương Khôi tham dự phiên giải trình.  Về phía Ủy ban Pháp luật có Chủ nhiệm Hoàng Thanh Tùng và Phó Chủ nhiệm Nguyễn Trường Giang.


Có 3.220 công chứng viên hành nghề trên cả nước

Theo Bộ trưởng Bộ Tư pháp, tính đến hết ngày 31/12/2022, cả nước có 3.220 công chứng viên hành nghề tại các Phòng công chứng (PCC) và Văn phòng công chứng (VPCC). So với thời điểm triển khai thực hiện Luật Công chứng năm 2014, số công chứng viên đã tăng lên hơn 2 lần.

Về hoạt động hành nghề của công chứng viên, có 3 hình thức hành nghề gồm công chứng viên của PCC, công chứng viên hợp danh của VPCC và công chứng viên làm việc theo chế độ hợp đồng lao động tại VPCC. Trong số 3.220 công chứng viên hiện có, có 2.830 công chứng viên đang hành nghề tại các VPCC (chiếm 88%) và 390 công chứng viên của PCC (chiếm 12%).

Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long: “Sứ mệnh” của công chứng là con mắt thứ 3 được xã hội công nhận  ảnh 1
Ủy ban Pháp luật của Quốc hội tổ chức Phiên giải trình " Việc thực hiện một số quy định của pháp luật về hoạt động công chứng"

Việc thành lập các VPCC do UBND cấp tỉnh quyết định trên cơ sở quy định của Luật Công chứng và Tiêu chí xét duyệt hồ sơ đề nghị thành lập VPCC đã được ban hành. Trong 3 năm (2020 - 2022), số lượng VPCC tại một số địa phương tăng đáng kể so với giai đoạn còn quy hoạch. Tính đến hết ngày 31/12/2022, cả nước đã thành lập được 1.248 VPCC trong tổng số 1.368 tổ chức hành nghề công chứng. Tất cả các VPCC đều được tổ chức và hoạt động theo loại hình công ty hợp danh.

Đối với việc chuyển đổi PCC thành VPCC, theo quy định của Luật Công chứng, PCC được chuyển đổi thành VPCC trong trường hợp không cần thiết duy trì; trường hợp không chuyển đổi thì giải thể PCC. Đến nay cả nước có 11 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã ra quyết định chuyển đổi 16 PCC thành VPCC. Bên cạnh phương án chuyển đổi, đã có 11 tỉnh thành phố trực thuộc trung ương ra quyết định giải thể 12 PCC do không chuyển đổi được sang VPCC hoặc theo chủ trương sắp xếp, tinh gọn các đầu mối đơn vị sự nghiệp công lập. Sau quá trình chuyển đổi, giải thể nêu trên, hiện nay trong cả nước có 10 địa phương không còn PCC.

Đối với 120 PCC hiện có tại 53 tỉnh, thành phố, Bộ trưởng nhìn nhận, về cơ bản các PCC này đã tự bảo đảm một phần hoặc toàn bộ chi thường xuyên. Trong 3 năm từ 2020 - 2022, các tổ chức hành nghề công chứng trong cả nước đã thực hiện hơn 22 triệu việc công chứng (trong đó có gần 21 triệu việc công chứng hợp đồng, giao dịch và hơn 1 triệu việc công chứng bản dịch); tổng số phí công chứng thu được là hơn 9.100 tỷ đồng; tổng số thù lao công chứng thu được hơn 1.200 tỷ đồng; số tiền nộp vào ngân sách nhà nước và nộp thuế là gần 1.200 tỷ đồng.

Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long: “Sứ mệnh” của công chứng là con mắt thứ 3 được xã hội công nhận  ảnh 2
Với 120 PCC hiện có tại 53 tỉnh, thành phố, Bộ trưởng nhìn nhận, về cơ bản các PCC này đã tự bảo đảm một phần hoặc toàn bộ chi thường xuyên

Hạn chế các tranh chấp phát sinh về đất đai, nhà ở, bất động sản

Tại phiên giải trình, các đại biểu đặt câu hỏi liên quan việc thực hiện các quy định về công chứng hợp đồng, giao dịch theo quy định của pháp luật về đất đai, nhà ở và kinh doanh bất động sản.

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Mai Lương Khôi cho biết, theo quy định của Bộ luật Dân sự (Điều 455, 459), Luật Đất đai (Điều 167), Luật Nhà ở (Điều 122), Luật Kinh doanh bất động sản (Điều 17), các hợp đồng, giao dịch có tính chuyển dịch quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (mua bán, tặng cho, chuyển nhượng, góp vốn…) phải công chứng hoặc chứng thực. Tuy nhiên, đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản, việc công chứng thực hiện theo yêu cầu của các bên (điểm b khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai).

Hiện nay, việc công chứng hợp đồng, giao dịch về đất đai, nhà ở và tài sản gắn liền với đất chiếm tỷ lệ hơn 70% số việc công chứng và giá trị phí, thù lao công chứng. Việc công chứng các hợp đồng, giao dịch về đất đai, nhà ở không chỉ nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp, đảm bảo an toàn pháp lý cho các giao dịch mà còn góp phần quan trọng trong công tác quản lý nhà nước đối với quá trình chuyển quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất, qua đó tạo môi trường kinh doanh an toàn, lành mạnh, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long: “Sứ mệnh” của công chứng là con mắt thứ 3 được xã hội công nhận  ảnh 3
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Mai Lương Khôi tham gia trả lời các ý kiến của đại biểu tại Phiên giải trình

Đồng thời, việc công chứng các hợp đồng, giao dịch còn góp phần quan trọng phòng ngừa, giảm thiểu tranh chấp phát sinh.

Số liệu tổng kết 5 năm thi hành Luật Công chứng (2015 - 2020) của các địa phương thể hiện, chỉ có khoảng 0,01% các vụ án tranh chấp liên quan đến hợp đồng, giao dịch đã được công chứng; số vụ việc có bản án yêu cầu bồi thường thiệt hại là rất ít, với tổng số tiền khoảng hơn 12 tỷ đồng, nhiều địa phương không có trường hợp nào phải bồi thường thiệt hại cho người yêu cầu công chứng. Thực tế cho thấy, việc công chứng, chứng thực đối với hợp đồng mua bán, thuê mua nhà, công trình xây dựng, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà các bên là hộ gia đình, cá nhân đã góp phần đáng kể trong việc hạn chế các tranh chấp phát sinh. Đối với các hợp đồng, giao dịch trong kinh doanh bất động sản mà một bên là tổ chức kinh doanh bất động sản, hiện chưa có cơ chế để người mua bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp khi thoả thuận, ký kết hợp đồng, giao dịch với các chủ đầu tư.

Nhiều vụ án hình sự mà chủ đầu tư bán nhà, huy động vốn qua hình thức đặt cọc, giữ chỗ… khi dự án chưa đủ điều kiện theo quy định pháp luật. Điển hình như vụ án công ty Alibaba với bị hại là hơn 4500 người, vụ án Châu Thị Thu Nga với bị hại gần 500 người, vụ việc gần 400 người mua đất dự án ở Bình Dương đã được TAND Bình Dương đưa ra xét xử trong tháng 7/2023…

Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về công chứng

Trả lời về trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp trong quản lý nhà nước về công chứng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp cho biết, được quy định tại khoản 2 Điều 69 và các điều luật có liên quan trong Luật Công chứng.

Trong công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật về công chứng và chính sách phát triển nghề công chứng, Bộ Tư pháp đã tham mưu ban hành, ban hành theo thẩm quyền hoặc có ý kiến đối với việc ban hành 1 Luật, 3 Nghị định, 1 Nghị quyết, 5 Thông tư, 2 Quyết định, đồng thời chủ động phối hợp với các cơ quan liên quan trong việc ban hành, rà soát sửa đổi các quy định của pháp luật về đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản… nhằm đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật.

Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long: “Sứ mệnh” của công chứng là con mắt thứ 3 được xã hội công nhận  ảnh 4
Bộ trưởng Bộ Tư pháp nhấn mạnh, hệ thống pháp luật về công chứng tiếp tục được hoàn thiện, cơ bản đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về công chứng và tạo môi trường hành nghề công chứng minh bạch, hiệu quả

Từ năm 2015 đến nay, Bộ Tư pháp đã tổ chức 4 kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng cho tổng số 2.724 thí sinh, cấp Giấy chứng nhận cho 1.281 thí sinh đạt yêu cầu và phần lớn trong số này đã được bổ nhiệm công chứng viên.

Về công tác thanh kiểm tra, hàng năm Bộ Tư pháp và các Sở Tư pháp đều tiến hành thanh tra theo kế hoạch và đột xuất tại các tổ chức hành nghề công chứng. Về việc xây dựng cơ sở dữ liệu công chứng, Bộ Tư pháp đã chủ trì phối hợp với các bộ, ngành có liên quan chỉ đạo, hướng dẫn việc xây dựng và quản lý, khai thác cơ sở dữ liệu công chứng tại các địa phương, đến nay đã có 55/63 địa phương xây dựng được cơ sở dữ liệu công chứng. Bộ Tư pháp đã xây dựng và đưa vào vận hành phần mềm quản lý tổ chức hành nghề công chứng từ tháng 5/2020 đến nay.

Đối với hoạt động hợp tác quốc tế về công chứng, với vai trò tích cực của Bộ Tư pháp, công chứng Việt Nam đã trở thành thành viên của Liên minh công chứng quốc tế từ tháng 10/2013 và thực hiện tích cực các trách nhiệm của thành viên Liên minh.

Với những gì đã nêu, Bộ trưởng Bộ Tư pháp nhấn mạnh, hệ thống pháp luật về công chứng tiếp tục được hoàn thiện, cơ bản đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về công chứng và tạo môi trường hành nghề công chứng minh bạch, hiệu quả. Hoạt động công chứng ngày càng được chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa, góp phần tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội…. "Sứ mệnh" của công chứng là con mắt thứ 3 được xã hội công nhận.

Tuy nhiên, người đứng đầu Bộ Tư pháp cũng chỉ ra, sau thời gian thực hiện, một số quy định pháp luật về công chứng đã có những điểm hạn chế, không còn phù hợp với thực tiễn. Chất lượng đội ngũ công chứng viên chưa đồng đều. Việc thành lập và phân bổ Văn phòng công chứng tại một số địa bàn chưa phù hợp với nhu cầu công chứng. Công tác quản lý nhà nước về công chứng có lúc có nơi chưa thực sự hiệu quả, kịp thời; công tác thanh tra, kiểm tra tuy đã được quan tâm, tăng cường nhưng chưa theo kịp với sự phát triển của hoạt động công chứng…

Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long: “Sứ mệnh” của công chứng là con mắt thứ 3 được xã hội công nhận  ảnh 5
Bộ Tư pháp đã Đề nghị Quốc hội xem xét, cho ý kiến đối với dự án Luật Công chứng (sửa đổi) vào Kỳ họp thứ 7 (tháng 5/2024)

Vì thế, tại Phiên giải trình, Bộ trưởng Bộ Tư pháp thông tin, Bộ Tư pháp đã Đề nghị Quốc hội xem xét, cho ý kiến đối với dự án Luật Công chứng (sửa đổi) vào Kỳ họp thứ 7 (tháng 5/2024). Đối với các dự án Luật đang được sửa đổi, bổ sung liên quan đến Luật Công chứng (Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản), đề nghị Quốc hội tiếp tục quan tâm, bảo đảm phù hợp với quy định của Luật Công chứng hiện hành và định hướng sửa đổi Luật Công chứng đã trình Quốc hội về giá trị pháp lý của văn bản công chứng, thời điểm có hiệu lực của văn bản công chứng, phạm vi các hợp đồng, giao dịch phải công chứng... nhằm bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật, bảo đảm an toàn, pháp lý cho các giao dịch quan trọng và có ảnh hưởng lớn đến sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội.

Đối với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, cần chỉ đạo các Bộ, ngành có liên quan, UBND các tỉnh, thành phố trong phạm vi thẩm quyền phối hợp chặt chẽ với Bộ Tư pháp trong việc tiếp tục triển khai có hiệu quả việc thi hành Luật Công chứng, thống nhất quan điểm xác định đúng vị trí, vai trò của hoạt động công chứng và có chính sách phát triển nghề công chứng bền vững.

Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Xây dựng, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công an tăng cường phối hợp với Bộ Tư pháp trong rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật nhằm bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ giữa pháp luật về công chứng với pháp luật có liên quan; triển khai, hướng dẫn việc kết nối, chia sẻ dữ liệu về đất đai, nhà ở, doanh nghiệp, dân cư với cơ sở dữ liệu công chứng; Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc hướng dẫn thống nhất các quy định liên quan đến cơ chế tài chính của Phòng công chứng, việc xác định giá chuyển đổi Phòng công chứng thành Văn phòng công chứng.

                                                                                                                                            Vũ Vân Anh

Nguồn: https://baophapluat.vn/bo-truong-bo-tu-phap-le-thanh-long-su-menh-cua-cong-chung-la-con-mat-thu-3-duoc-xa-hoi-cong-nhan-post483800.html​

FalseThanh Tra Sở
Công bố Kết luận thanh tra việc chấp hành các quy định pháp luật trong lĩnh vực công chứng đối với Văn phòng công chứng Nguyễn Thị GáiThông tinTinCông bố Kết luận thanh tra việc chấp hành các quy định pháp luật trong lĩnh vực công chứng đối với Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Gái/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
7/6/2023 6:00 PMNoĐã ban hành

​     Thực hiện Quyết định số 89/QĐ-STP ngày 05/6/2023 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc thanh tra việc chấp hành các quy định pháp luật trong lĩnh vực công chứng đối với Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Gái trong việc công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 11731, quyển số 08/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 23/8/2022 và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 11878, quyển số 08/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 26/8/2022, Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương đã ban hành Kết luận thanh tra số 1177 /KL-STP ngày 26/6/2023 .

     Chiều ngày 05/7/2023, tại Hội trường Sở Tư pháp, bà Nguyễn Anh Hoa - Giám đốc Sở Tư pháp - Người ban hành Quyết định thanh tra đã tiến hành công bố Kết luận thanh tra. Theo sự phân công của Người ban hành Quyết định thanh tra, bà Ngô Thùy Trang - Chánh Thanh tra Sở Tư pháp, thành viên Đoàn thanh tra thông qua toàn văn nội dung Kết luận thanh tra số 1177/KL-STP ngày 26/6/2023 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc thanh tra việc chấp hành các quy định pháp luật trong lĩnh vực công chứng đối với Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Gái.

     Ông Đặng Lương Giao - đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Gái - Trưởng Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Gái thống nhất với nội dung Kết luận thanh tra số 1177/KL-STP. Văn phòng rút kinh nghiệm, khắc phục những thiếu sót mà Kết luận thanh tra đã chỉ ra và báo cáo kết quả thực hiện bằng văn bản về Sở Tư pháp theo quy định.

     Phát biểu tại buổi công bố Kết luận thanh tra, bà Nguyễn Anh Hoa đánh giá Đoàn thanh tra đã hoàn thành nhiệm vụ, thực hiện đầy đủ các thủ tục thanh tra đúng theo quy định pháp luật. Giám đốc Sở yêu cầu Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Gái tổ chức rút kinh nghiệm, chấn chỉnh, có giải pháp cụ thể để khắc phục kịp thời các thiếu sót; quán triệt công chứng viên, chuyên viên của Văn phòng tăng cường nghiên cứu quy định pháp luật có liên quan và kiểm tra kỹ hồ sơ công chứng và nội dung hợp đồng, giao dịch trước khi thực hiện, đảm bảo hồ sơ công chứng và nội dung của hợp đồng, giao dịch nhằm hạn chế tranh chấp có thể phát sinh. Giao Thanh tra Sở tiếp tục theo dõi việc thực hiện Kết luận thanh tra đối với Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Gái, phối hợp nắm bắt thông tin và báo cáo Giám đốc Sở về kết quả giải quyết vụ việc từ các cơ quan có liên quan./.

FalseThanh Tra Sở
Nghị định số 43/2023/NĐ-CP ngày 30/6/2023 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thanh traVăn bản QPPLTinNghị định số 43/2023/NĐ-CP ngày 30/6/2023 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thanh tra/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
7/5/2023 12:00 PMNoĐã ban hànhFalseThanh Tra Sở
Kết quả thanh tra việc chấp hành các quy định pháp luật trong lĩnh vực công chứng đối với Văn phòng công chứng Nguyễn Thị GáiKết luận thanh traTinKết quả thanh tra việc chấp hành các quy định pháp luật trong lĩnh vực công chứng đối với Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Gái/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
7/4/2023 6:00 PMNoĐã ban hành

​     Thực hiện Quyết định số 89/QĐ-STP ngày 05/6/2023 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc thanh tra việc chấp hành các quy định pháp luật trong lĩnh vực công chứng đối với Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Gái trong việc công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 11731, quyển số 08/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 23/8/2022 và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 11878, quyển số 08/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 26/8/2022, Đoàn thanh tra đã công bố quyết định thanh tra và tiến hành thanh tra tại Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Gái.  Ngày 26/6/2023 , Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương ban hành Kết luận thanh tra số 1177 /KL-STP.

     Theo Kết luận thanh tra, trong quá trình công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 11731 và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 11878, công chứng viên Hồ Văn Ngọc của Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Gái đã thiếu trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ của công chứng viên để xảy ra vi phạm nghiêm trọng. Hồ sơ công chứng các Hợp đồng nêu trên có lưu kết quả tra cứu hồ sơ cho thấy tại thời điểm công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 11731 và số 11878 đối với quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 1055, tờ bản đồ số 13, địa chỉ xã Tân Hưng, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương thì trên Cơ sở dữ liệu công chứng tỉnh Bình Dương thể hiện đang tồn tại Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 5658, quyển số 01/2021 TP/CC-SCC/HĐGD do công chứng viên Văn phòng công chứng Bàu Bàng chứng nhận ngày 23/4/2021. Tuy nhiên, công chứng viên Hồ Văn Ngọc chưa kiểm tra kỹ hồ sơ, kiểm tra thông tin về giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất trên Cơ sở dữ liệu công chứng, dẫn đến việc quyền sử dụng đất đã được giao dịch chuyển nhượng tại Văn phòng công chứng Bàu Bàng mà công chứng viên Hồ Văn Ngọc vẫn tiếp tục thực hiện công chứng chuyển nhượng cho người khác là trái với quy định tại Điều 41 Luật Công chứng năm 2014 và Điều 14 Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương và có hành vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 15 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP. Đối với Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 11878,  ngày tạo Hợp đồng trước khi công chứng viên tiếp nhận hồ sơ nhiều ngày (ngày tạo: ngày 18/8/2022 lúc 11 giờ 07 phút 55 giây, người tạo là Võ Nguyễn Mai Thy; Ngày ký: ngày 26/8/2022 lúc 11 giờ 07 phút 55 giây; Phiếu yêu cầu công chứng thể hiện ngày công chứng viên tiếp nhận là ngày 26/8/2022). Ngoài ra, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 11731 và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 11878 được ghi vào Sổ công chứng hợp đồng, giao dịch số 08 ngày mở sổ 01/8/2022, ngày khóa sổ 31/8/2022. Tuy nhiên, Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Gái lập, quản lý và sử dụng Sổ công chứng hợp đồng, giao dịch chưa đúng theo quy định tại Điều 25 Thông tư số 01/2021/TT-BTP và có hành vi phạm hành chính theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 16 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP.

     Nhận thấy, liên quan đến việc công chứng các Hợp đồng nêu trên có dấu hiệu tội phạm, Sở Tư pháp đã có Công văn số 1117/STP-TTr ngày 15/6/2023 chuyển hồ sơ vụ việc về hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm sang Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dương để xem xét, giải quyết và thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh theo quy định của pháp luật.

     Đối với Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Gái, Giám đốc Sở Tư pháp yêu cầu tổ chức rút kinh nghiệm, chấn chỉnh, tiến hành các biện pháp cần thiết để khắc phục kịp thời những thiếu sót mà Kết luận thanh tra đã chỉ ra, và báo cáo kết quả thực hiện Kết luận thanh tra bằng văn bản về Sở Tư pháp trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được Kết luận thanh tra; tăng cường nghiên cứu quy định pháp luật có liên quan và kiểm tra kỹ hồ sơ công chứng và nội dung hợp đồng, giao dịch trước khi thực hiện, đảm bảo hồ sơ công chứng và nội dung của hợp đồng, giao dịch nhằm hạn chế tranh chấp có thể phát sinh; lập và sử dụng Sổ công chứng hợp đồng, giao dịch theo đúng quy định pháp luật. Hội Công chứng viên tỉnh Bình Dương tăng cường công tác tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng, giám sát đối với hoạt động hành nghề công chứng theo quy định./. 

     Nội dung chi tiết xem tại file đính kèm KL 1177 TTR.signed.pdf

FalseThanh Tra Sở
Kết quả thanh tra trách nhiệm việc thực hiện các quy định pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng của Phòng Công chứng số 1Kết luận thanh traTinKết quả thanh tra trách nhiệm việc thực hiện các quy định pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng của Phòng Công chứng số 1/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/26/2023 10:00 AMNoĐã ban hành

     Thực hiện Quyết định số 53/QĐ-STP ngày 27/3/2023 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc thanh tra trách nhiệm việc thực hiện các quy định pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng của Phòng Công chứng số 1, Đoàn thanh tra đã công bố quyết định thanh tra và tiến hành thanh tra tại Phòng Công chứng số 1​. Ngày 21/6/2023, Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương ban hành Kết luận thanh tra số 1149/KL-STP.​

     Tại Kết luận thanh tra, Giám đốc Sở Tư pháp ghi nhận những ưu điểm, kết quả Phòng Công chứng số 1 đã đạt được, Phòng Công chứng số 1 cơ bản thực hiện đúng quy định của pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng và các văn bản pháp luật liên quan khác. Tuy nhiên, bên cạnh đó, Phòng Công chứng số 1 c​òn một số tồn tại, hạn chế như: chưa bố trí địa điểm tiếp công dân riêng là chưa đảm bảo theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định số 64/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiếp công dân; Quy tắc ứng xử, đạo đức nghề nghiệp của công chứng viên, viên chức, người lao động của đơn vị được thực hiện theo Quyết định số 114/QĐ-PCC1 ngày 20/9/2019 của Trưởng Phòng Công chứng số 1 nhưng một số văn bản làm căn cứ để ban hành Quyết định đã hết hiệu lực thi hành hoặc được sửa đổi, bổ sung.

     Giám đốc Sở Tư pháp yêu cầu Phòng Công chứng số 1 nghiêm túc tổ chức rút kinh nghiệm về các tồn tại, hạn chế nêu trên. Bố trí địa điểm tiếp công dân riêng để đảm bảo theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định số 64/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiếp công dânRà soát, sửa đổi, bổ sung Quyết định số 114/QĐ-PCC1 ngày 20/9/2019 của Trưởng Phòng Công chứng số 1; kịp thời triển khai thực hiện quy tắc ứng xử, đạo đức nghề nghiệp của công chứng viên, viên chức, người lao động của Phòng theo các văn bản mới được ban hành. Ngoài ra, Giám đốc Sở cũng yêu cầu Văn phòng Sở theo dõi sát về việc xây dựng ban hành quy chế chi tiêu nội bộ, quản lý và sử dụng tài sản công của Phòng Công chứng số 1 để kịp thời nhắc nhở, chấn chỉnh những thiếu sót, tồn tại; Thanh tra Sở theo dõi việc thực hiện Kết luận thanh tra và việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng của Phòng Công chứng số 1./.

Nội dung chi tiết xem tại file đính kèm KL_1149_TTR.signed.pdf

​​

FalseThanh Tra Sở
Công bố Quyết định thanh tra việc chấp hành các quy định pháp luật trong lĩnh vực công chứng đối với Văn phòng công chứng Nguyễn Thị GáiThông tinTinCông bố Quyết định thanh tra việc chấp hành các quy định pháp luật trong lĩnh vực công chứng đối với Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Gái/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/12/2023 5:00 PMNoĐã ban hành

     Sáng ngày 09/6/2023, tại trụ sở Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Gái, địa chỉ: 604 Lê Hồng Phong, phường Phú Hòa, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, Đoàn Thanh tra theo Quyết định số 59/QĐ-STP ngày 05/6/2023 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương tiến hành công bố Quyết định thanh tra việc chấp hành các quy định pháp luật trong lĩnh vực công chứng đối với Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Gái. 

      Tham dự buổi công bố có sự tham gia của đại diện Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Gái và các thành viên Đoàn Thanh tra. Sở Tư pháp có mời đại diện Ban chấp hành Hội công chứng viên tỉnh tham gia Đoàn Thanh tra. 

      Ông Lý Thanh Thoại - Trưởng Phòng Bổ trợ tư pháp, Sở Tư pháp, Trưởng Đoàn Thanh tra công bố toàn văn Quyết định thanh tra số 89/QĐ-STP ngày 05/6/2023 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương và phổ biến tóm tắt mục đích, yêu cầu, nội dung kế hoạch thanh tra; nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng Đoàn Thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra, quyền và nghĩa vụ của Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Gái; thống nhất lịch làm việc với Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Gái. Đại diện Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Gái báo cáo thủ tục công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 11731, quyển số 08/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 23/8/2022 và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 11878, quyển số 08/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 26/8/2022 theo yêu cầu của Đoàn Thanh tra. 

      Sau khi kết thúc việc công bố Quyết định thanh tra, Đoàn Thanh tra tiến hành thanh tra trực tiếp tại Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Gái  theo kế hoạch./.

FalseThanh Tra Sở
Tìm hiểu một số quy định mới của Luật Thanh tra năm 2022 về kết luận thanh traThông tinTinTìm hiểu một số quy định mới của Luật Thanh tra năm 2022 về kết luận thanh tra/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/1/2023 6:00 PMNoĐã ban hành

    Ngày 14/11/2022, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khoá XV đã thông qua Luật Thanh tra năm 2022 thay thế Luật Thanh tra năm 2010. Liên quan đến kết luận thanh tra, Luật Thanh tra năm 2022 có một số q​uy định mới như sau:

     1. Về việc xây dựng dự thảo kết luận thanh tra

     Theo khoản 1 Điều 75 Luật Thanh tra năm 2022, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả thanh tra, người ra quyết định thanh tra giao Trưởng đoàn thanh tra xây dựng dự thảo kết luận thanh tra. Thời gian xây dựng dự thảo kết luận thanh tra được tính từ ngày người ra quyết định thanh tra giao xây dựng dự thảo kết luận thanh tra và được quy định như sau:

     a) Đối với cuộc thanh tra do Thanh tra Chính phủ tiến hành, thời gian xây dựng dự thảo kết luận thanh tra không quá 30 ngày, trường hợp phức tạp thì có thể kéo dài nhưng không quá 45 ngày;

      b) Đối với cuộc thanh tra do Thanh tra Bộ, Thanh tra Tổng cục, Cục, Thanh tra tỉnh tiến hành, thời gian xây dựng dự thảo kết luận thanh tra không quá 20 ngày, trường hợp phức tạp thì có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày;

     c) Đối với cuộc thanh tra do Thanh tra sở, Thanh tra huyện tiến hành, thời gian xây dựng dự thảo kết luận thanh tra không quá 15 ngày, trường hợp phức tạp thì có thể kéo dài nhưng không quá 20 ngày.

      So với trước đây thì Luật Thanh tra năm 2022 đã quy định cụ thể thời hạn xây dựng dự thảo kết luận thanh tra.

       2. Về thẩm định dự thảo kết luận thanh tra

      Theo Thông tư số 06/2021/TT-TTCP, khi nhận được dự thảo kết luận thanh tra, Người ra quyết định thanh tra tổ chức việc thẩm định dự thảo kết luận thanh tra để bảo đảm việc ban hành Kết luận thanh tra chính xác, khách quan. Việc thẩm định dự thảo kết luận thanh tra của Đoàn thanh tra do thanh tra huyện, thanh tra sở tiến hành được thực hiện khi cần thiết.

     Đến Luật Thanh tra năm 2022, tại Điều 77 quy định dự thảo kết luận thanh tra của Thanh tra Chính phủ, dự thảo kết luận thanh tra hành chính của Thanh tra Bộ và Thanh tra tỉnh phải được thẩm định trước khi ký ban hành. Việc thẩm định dự thảo kết luận thanh tra chuyên ngành của Thanh tra Bộ và Thanh tra tỉnh, dự thảo kết luận thanh tra của các cơ quan thanh tra khác được thực hiện khi cần thiết.

     3. Về ban hành kết luận thanh tra

     Theo quy định tại Điều 78 Luật Thanh tra năm 2022, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được dự thảo kết luận thanh tra, người ra quyết định thanh tra ký ban hành kết luận thanh tra và chịu trách nhiệm về kết luận, kiến nghị của mình. Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp có trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra để bảo đảm việc ban hành kết luận thanh tra đúng thời hạn theo quy định.

     Đối với dự thảo kết luận thanh tra về vụ việc liên quan đến an ninh, quốc phòng, vụ việc quan trọng, phức tạp thuộc diện chỉ đạo, theo dõi của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh hoặc có yêu cầu của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp thì người ra quyết định thanh tra phải có văn bản báo cáo Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp.

     Chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày nhận được văn bản báo cáo, Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp có ý kiến bằng văn bản về nội dung được báo cáo; trường hợp Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước không trả lời hoặc không có ý kiến khác với dự thảo kết luận thanh tra thì người ra quyết định thanh tra ban hành ngay kết luận thanh tra. Trường hợp Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp có ý kiến bằng văn bản yêu cầu bổ sung, làm rõ về nội dung dự thảo kết luận thanh tra thì chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đó, người ra quyết định thanh tra phải hoàn thiện, ban hành kết luận thanh tra.

     4. Về công khai kết luận thanh tra

     Điều 79 Luật Thanh tra năm 2022 quy định rõ kết luận thanh tra phải được công khai toàn văn, trừ nội dung thuộc bí mật nhà nước hoặc bí mật khác theo quy định của luật. Về các hình thức công khai kết luận thanh tra cũng có điểm mới so với trước đây.

    Theo Điều 39 Luật Thanh tra năm 2010, có 05 hình thức công khai bao gồm: a) Công bố tại cuộc họp với thành phần bao gồm người ra quyết định thanh tra, Đoàn thanh tra, đối tượng thanh tra, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan hoặc tổ chức họp báo; b) Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng; c) Đưa lên trang thông tin điện tử của cơ quan thanh tra nhà nước, cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành hoặc cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp; d) Niêm yết tại trụ sở làm việc của cơ quan, tổ chức là đối tượng thanh tra; đ) Cung cấp theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Người ra quyết định thanh tra có trách nhiệm thực hiện việc công khai kết luận thanh tra theo hình thức công bố tại cuộc họp và lựa chọn ít nhất một trong các hình thức công khai còn lại.

     Luật Thanh tra năm 2022 quy định chỉ còn 04 hình thức công khai: a) Đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của cơ quan thanh tra hoặc cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp; b) Tổ chức cuộc họp công bố kết luận thanh tra với thành phần bao gồm người ra quyết định thanh tra, Đoàn thanh tra, đối tượng thanh tra, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan hoặc tổ chức họp báo; c) Thông báo trên ít nhất một phương tiện thông tin đại chúng. Đối với cuộc thanh tra do Thanh tra Chính phủ, Thanh tra Bộ, Thanh tra Tổng cục, Cục tiến hành thì thông báo trên một phương tiện thông tin đại chúng ở trung ương; đối với cuộc thanh tra do Thanh tra tỉnh, Thanh tra sở, Thanh tra huyện tiến hành thì thông báo trên một phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương; d) Niêm yết tại trụ sở làm việc của cơ quan, tổ chức là đối tượng thanh tra.

     Người ra quyết định thanh tra có trách nhiệm thực hiện việc công khai kết luận thanh tra theo hình thức đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của cơ quan thanh tra hoặc cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp và một trong các hình thức công khai còn lại.

     Như vậy, Luật Thanh tra năm 2022 cơ bản kế thừa các quy định của Luật Thanh tra năm 2010, Thông tư số 06/2021/TT-TTCP ngày 01/10/2021 của Thanh tra Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động của Đoàn thanh tra và trình tự, thủ tục tiến hành một cuộc thanh tra và có sửa đổi, bổ sung một số quy định mới, cụ thể hơn, chặt chẽ hơn nhằm nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức có liên quan, qua đó khắc phục tình trạng chậm ban hành kết luận thanh tra./.

FalseTăng Thị Hà Chi
Kể từ ngày 01/7/2023, Trưởng Đoàn thanh tra phải là thanh tra viênThông tinTinKể từ ngày 01/7/2023, Trưởng Đoàn thanh tra phải là thanh tra viên/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/1/2023 4:00 PMNoĐã ban hành

     Đây là một trong những điểm mới nổi bật của Luật Thanh tra được Quốc hội thông qua ngày 14/11/2022. Theo đó, tại Điều 60 Luật Thanh tra năm 2022 quy định "Đoàn thanh tra có Trưởng đoàn thanh tra và thành viên khác. Thành viên khác của Đoàn thanh tra bao gồm Thanh tra viên và người khác tham gia Đoàn thanh tra nhưng không phải là Thanh tra viên.

Trường hợp cần thiết, Đoàn thanh tra có Phó Trưởng đoàn thanh tra để giúp Trưởng đoàn thanh tra thực hiện nhiệm vụ được giao, phụ trách một số hoạt động của Đoàn thanh tra khi được Trưởng đoàn thanh tra giao.

Trưởng đoàn thanh tra, Phó Trưởng đoàn thanh tra (nếu có) phải là người đã được bổ nhiệm vào ngạch thanh tra viên".

      Để bổ nhiệm vào ngạch thanh tra viên thì phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau:

     1. Là công chức, sĩ quan Quân đội nhân dân, sĩ quan Công an nhân dân, người làm công tác cơ yếu, trừ trường hợp Chính phủ quy định khác đối với Thanh tra viên của cơ quan thanh tra được thành lập theo quy định của luật hoặc điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo quy định tại khoản 3 Điều 9 của Luật này.

     2. Trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; có phẩm chất đạo đức tốt; có ý thức trách nhiệm, liêm khiết, trung thực, công minh, khách quan.

     3. Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên, có kiến thức quản lý nhà nước và am hiểu pháp luật; đối với Thanh tra viên trong lĩnh vực chuyên ngành còn phải có kiến thức chuyên môn về chuyên ngành đó.

      4. Có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra viên và chứng chỉ khác theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức.

     5. Có ít nhất 02 năm làm công tác thanh tra không kể thời gian tập sự hoặc có ít nhất 05 năm công tác trở lên đối với cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan Quân đội nhân dân, sĩ quan Công an nhân dân, người làm công tác cơ yếu công tác ở cơ quan, tổ chức, đơn vị khác chuyển sang cơ quan thanh tra.

     Luật Thanh tra năm 2022 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2023 và thay thế Luật Thanh tra năm 2010./.

FalseTăng Thị Hà Chi
Công bố Quyết định thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực hộ tịch có yếu tố nước ngoài đối với Ủy ban nhân dân thị xã Bến CátThông tinTinCông bố Quyết định thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực hộ tịch có yếu tố nước ngoài đối với Ủy ban nhân dân thị xã Bến Cát/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
5/24/2023 10:00 AMNoĐã ban hành

     ​Vào hồi 08 giờ 00 phút ngày 23/5/2023, tại trụ sở Ủy ban nhân dân thị xã Bến Cát, Đoàn thanh tra theo Quyết định số 83/QĐ-STP ngày 16/5/2023 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương tiến hành công bố Quyết định thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực hộ tịch có yếu tố nước ngoài đối với Ủy ban nhân dân thị xã Bến Cát. Đoàn thanh tra do Chánh Thanh tra Sở Tư pháp - bà Ngô Thùy Trang làm Trưởng đoàn.

     Tham dự buổi công bố có sự tham gia của đại diện Phòng Tư pháp thị xã Bến Cát (theo ủy quyền của UBND thị xã Bến Cát) và thành viên Đoàn thanh tra. 

     Đại diện Đoàn Thanh tra, Trưởng Đoàn Thanh tra công bố toàn văn Quyết định thanh tra số 83/QĐ-STP ngày 16/5/2023 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương và phổ biến tóm tắt mục đích, yêu cầu, nội dung kế hoạch thanh tra; nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng Đoàn Thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra, quyền và nghĩa vụ của đơn vị được thanh tra; thống nhất lịch làm việc với đơn vị được thanh tra. Đại diện Phòng Tư pháp huyện Phú Giáo báo cáo về công tác hộ tịch có yếu tố nước ngoài theo yêu cầu của Đoàn Thanh tra. 

    Việc công bố Quyết định thanh tra kết thúc hồi 09 giờ ngày 23/5/2023. Sau khi kết thúc việc công bố Quyết định thanh tra, Đoàn Thanh tra tiến hành thanh tra trực tiếp tại đơn vị được thanh tra theo kế hoạch./.

FalseThanh Tra Sở
Kết quả thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực công chứng, chứng thực đối với Văn phòng công chứng Nguyễn Thị ĐiểnKết luận thanh traTinKết quả thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực công chứng, chứng thực đối với Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Điển/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
5/11/2023 4:00 PMNoĐã ban hành

      Thực hiện Quyết định số 44/QĐ-STP ngày 27/02/2023 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực công chứng, chứng thực đối với Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Điển, Đoàn Thanh tra đã tiến hành thanh tra đối với Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Điển​. ​​Ngày 10/5/2023​, Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương ban hành Kết luận thanh tra số 841​/KL-STP.​

      Tại Kết luận thanh tra, Giám đốc Sở Tư pháp ghi nhận những ưu điểm, kết quả Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Điển đã đạt được, Văn phòng cơ bản chấp hành tốt quy định của Luật Công chứng năm 2014, các văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động công chứng, chứng thực và các văn bản pháp luật khác, góp phần phục vụ tốt yêu cầu công chứng, chứng thực của cá nhân, tổ chức có nhu cầu.​ Tuy nhiên, bên cạnh đó Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Điển còn một số hạn chế, sai sót trong hoạt động công chứng như:

      - Một số trường hợp thu phí công chứng chưa đúng theo quy định. Có trường hợp thu thù lao công chứng thấp hơn mức thù lao đã niêm yết tại trụ sở Văn phòng.

      - Công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản có nội dung tặng cho qua nhiều lần đối với di sản thừa kế là tài sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng là chưa phù hợp theo của Luật Công chứng, Luật Đất đai.

      - Một số trường hợp công chứng ngoài trụ sở với lý do người yêu cầu công chứng bị bệnh, đi lại khó khăn nhưng hồ sơ công chứng không lưu giấy tờ chứng minh thuộc trường hợp công chứng ngoài trụ sở.

      - Lời chứng của công chứng viên không chính xác về chủ thể hợp đồng, giao dịch; thời gian công chứng.

      - Có trường hợp công chứng khi thiếu chữ ký của người yêu cầu công chứng vào từng trang của hợp đồng, giao dịch.​​​

     Giám đốc Sở Tư pháp yêu cầu Văn phòng công chứng Nguyễn​ Thị Điển tổ chức rút kinh nghiệm, chấn chỉnh, tiến hành các biện pháp cần thiết để khắc phục kịp thời những thiếu sót, vi phạm mà Kết luận thanh tra đã chỉ ra, và báo cáo kết quả thực hiện Kết luận thanh tra bằng văn bản về Sở Tư pháp trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được Kết luận thanh tra. Cần tăng cường nghiên cứu quy định pháp luật có liên quan, kiểm tra kỹ hồ sơ công chứng và nội dung hợp đồng, giao dịch trước khi thực hiện, đảm bảo hồ sơ công chứng và nội dung của hợp đồng, giao dịch nhằm hạn chế tranh chấp có thể phát sinh. Thu phí công chứng theo đúng quy định tại Thông tư số 257/2016/TT-BTC ngày 11/11/2016 của Bộ Tài chính. Thu đúng, thu đủ thù lao công chứng đã được niêm yết theo quy định. Công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản theo đúng quy định pháp luật, chấm dứt việc công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản có nội dung tặng cho qua nhiều lần đối với di sản thừa kế là tài sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng. Khi thực hiện công chứng ngoài trụ sở cần lưu ý về trình tự thủ tục thực hiện. Lời chứng đảm bảo chính xác về chủ thể hợp đồng, giao dịch; thời gian công chứng; khi công chứng phải đảm bảo đầy đủ chữ ký của người yêu cầu công chứng vào từng trang của hợp đồng, giao dịch.

      Đối với Thanh tra Sở, Phòng chuyên môn của Sở Tư pháp​, Giám đốc Sở yêu cầu Phòng Bổ trợ tư pháp ​tiếp tục theo dõi sát tình hình hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng, kịp thời tham mưu, đề xuất các giải pháp chấn chỉnh nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này. Thanh tra Sở theo dõi việc thực hiện Kết luận thanh tra của Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Điển.

       Ngoài ra, để tháo gỡ vướng mắc trong việc xem xét xử phạt đối với hành vi công chứng ngoài trụ sở và đảm bảo sự thống nhất trong việc áp dụng quy định pháp luật, tại Kết luận thanh tra số 841​/KL-STP, Giám đốc Sở Tư pháp cũng kiến nghị Cục Bổ trợ tư pháp, Bộ Tư pháp trong quá trình nghiên cứu, sửa đổi Luật Công chứng cần bổ sung quy định hướng dẫn cụ thể đối với trường hợp người yêu cầu công chứng có lý do chính đáng khác không thể đến trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng./. 

Nội dung chi tiết xem tại file đính kèm KL_841_TTr.signed.pdf


Công bố Quyết định thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực công chứng, chứng thực đối với Văn phòng công chứng Võ Văn NhânThông tinTinCông bố Quyết định thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực công chứng, chứng thực đối với Văn phòng công chứng Võ Văn Nhân/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
4/12/2023 1:00 PMNoĐã ban hành

     Sáng ngày 12/4/2023, tại trụ sở Văn phòng công chứng Võ Văn Nhân, địa chỉ: ấp 3, xã Tân Bình (nay là khu phố 3, thị trấn Tân Bình), huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, Đoàn Thanh tra theo Quyết định số 58/QĐ-STP ngày 03/4/2023 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương tiến hành công bố Quyết định thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực công chứng, chứng thực đối với Văn phòng công chứng Võ Văn Nhân

      Tham dự buổi công bố có sự tham gia của đại diện Văn phòng công chứng Võ Văn Nhân và các thành viên Đoàn Thanh tra. Sở Tư pháp có mời đại diện Ban chấp hành Hội công chứng viên tỉnh tham gia Đoàn Thanh tra. 

      Bà Ngô Thùy Trang​ - Chánh Thanh tra Sở Tư pháp, Trưởng Đoàn Thanh tra công bố toàn văn Quyết định thanh tra số 58/QĐ-STP ngày 03/4/2023 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương và phổ biến tóm tắt mục đích, yêu cầu, nội dung kế hoạch thanh tra; nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng Đoàn Thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra, quyền và nghĩa vụ của Văn phòng công chứng Võ Văn Nhân; thống nhất lịch làm việc với Văn phòng công chứng Võ Văn Nhân. Đại diện Văn phòng công chứng Võ Văn Nhân báo cáo về tình hình tổ chức và hoạt động của Văn phòng theo yêu cầu của Đoàn Thanh tra. 

      Sau khi kết thúc việc công bố Quyết định thanh tra, Đoàn Thanh tra tiến hành thanh tra trực tiếp tại Văn phòng công chứng Võ Văn Nhân​ theo kế hoạch./.

FalseThanh Tra Sở
Kết quả thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực hộ tịch có yếu tố nước ngoài đối với Ủy ban nhân dân huyện Phú GiáoKết luận thanh traTinKết quả thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực hộ tịch có yếu tố nước ngoài đối với Ủy ban nhân dân huyện Phú Giáo/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
4/11/2023 11:00 PMNoĐã ban hành

Thực hiện Quyết định thanh tra số 151/QĐ-STP ngày 18/11/2022 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực hộ tịch có yếu tố nước ngoài đối với Ủy ban nhân dân huyện Phú Giáo, ngày 24/11/2022, Đoàn Thanh tra đã công bố quyết định thanh tra và tiến hành thanh tra tại Ủy ban nhân dân huyện Phú Giáo. Ngày 10/4/2023, Giám đốc Sở Tư pháp đã ban hành Kết luận thanh tra số 641/KL-STP.

Tại Kết luận thanh tra, Giám đốc Sở ghi nhận những ưu điểm, kết quả Ủy ban nhân dân huyện Phú Giáo đã đạt được. Ủy ban nhân dân huyện Phú Giáo đã tuân thủ quy định pháp luật về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Đơn vị đã có nhiều cố gắng trong công tác hộ tịch có yếu tố nước ngoài, giải quyết kịp thời yêu cầu của cá nhân tại địa phương. Lãnh đạo địa phương có sự quan tâm, đầu tư về nhân lực cũng như cơ sở vật chất để thực hiện công tác hộ tịch theo thẩm quyền. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn có một số tồn tại, sai sót, lưu ý trong đăng ký khai sinh, đăng ký kết hôn, ghi chú ly hôn, đăng ký nhận cha, mẹ, con; đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch như:

1. Về việc ghi chép Sổ hộ tịch

- Sổ đăng ký khai sinh: một số trường hợp ghi không đầy đủ thông tin về dân tộc của người được đăng ký khai sinh, dân tộc của người cha theo quy định tại Điều 14 Luật Hộ tịch; thông tin tại Mục ngày tháng năm sinh của người được khai sinh ghi chưa chính xác với giấy tờ kèm theo.

- Sổ đăng ký nhận cha, mẹ, con: có trường hợp ghi chưa chính xác theo hồ sơ tại mục Quan hệ với người nhận cha, mẹ, con (người đi đăng ký nhận cha, mẹ, con là bản thân người cha, tuy nhiên, sổ ghi "cha").

- Sổ đăng ký kết hôn: viết bằng nhiều màu mực là chưa phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020; đánh dấu vào ô ghi chú chưa đúng theo hướng dẫn và hồ sơ đăng ký kết hôn; có trường hợp ghi sai thông tin ngày sinh của người chồng.

- Một số trường hợp ghi thông tin trong Sổ đăng ký kết hôn và Giấy chứng nhận kết hôn chưa phù hợp với giấy tờ kèm theo và ghi chưa đầy đủ các thông tin như: ghi thông tin họ, chữ đệm, tên của người chồng trong Sổ đăng ký kết hôn và Giấy chứng nhận kết hôn chưa thống nhất với Hộ chiếu, Thẻ xanh; không ghi thông tin nội dung về dân tộc của người nước ngoài (người chồng); người chồng ký tên nhưng chưa ghi rõ họ, chữ đệm, tên.

- Sổ đăng ký thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch, xác định lại dân tộc: có người đi đăng ký cải chính hộ tịch chưa ký, ghi rõ họ, chữ đệm, tên.

2. Về hồ sơ đăng ký hộ tịch

- Hồ sơ đăng ký khai sinh: Một số hồ sơ đăng ký khai sinh thời gian hẹn trả kết quả chưa đảm bảo theo quy định tại khoản 4 Điều 29 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP.

- Có 02 trường hợp đăng ký khai sinh và 01 trường hợp ghi chú ly hôn, giấy tờ bằng tiếng nước ngoài nhưng chưa được dịch ra tiếng Việt là chưa đảm bảo theo quy định tại khoản 3 Điều 2 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP.

Giám đốc Sở Tư pháp yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện Phú Giáo tổ chức rút kinh nghiệm, chấn chỉnh, khắc phục ngay các hạn chế, sai sót mà Kết luận thanh tra đã nêu. Báo cáo kết quả thực hiện Kết luận thanh tra bằng văn bản về Sở Tư pháp trong thời hạn 30 (ba mươi) ngày kể từ ngày nhn được Kết luận thanh tra. Tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân về hộ tịch nói chung và hộ tịch có yếu tố nước ngoài nói riêng. Kịp thời phản ánh những khó khăn, vướng mắc, bất cập của pháp luật trong lĩnh vực hộ tịch có yếu tố nước ngoài về Sở Tư pháp để được hướng dẫn, giải quyết, góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực hộ tịch có yếu tố nước ngoài. Phòng Tư huyện Phú Giáo cần lưu ý về việc tiếp nhận hồ sơ, ghi thông tin trong Sổ hộ tịch và các giấy tờ hộ tịch đảm bảo theo đúng quy định pháp luật.Tăng cường nghiên cứu, trao đổi về chuyên môn, nghiệp vụ; trường hợp, có khó khăn cần kịp thời báo cáo để được xem xét, hướng dẫn thực hiện.

Đối với Thanh tra Sở, các Phòng chuyên môn và đơn vị sự nghiệp trực thuộc của Sở Tư pháp, Giám đốc Sở yêu cầu Phòng Hành chính tư pháp và Quản lý xử lý vi phạm hành chính tiếp tục tăng cường công tác hướng dẫn nghiệp vụ trong lĩnh vực hộ tịch có yếu tố nước ngoài; phối hợp Phòng Văn bản - Tuyên truyền, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tiếp tục tổ chức tuyên truyền phổ biến sâu rộng các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động hộ tịch nói chung và hộ tịch có yếu tố nước ngoài nói riêng để người dân hiểu rõ, thực hiện. Thanh tra Sở chủ trì, phối hợp với Phòng Hành chính tư pháp và Quản lý xử lý vi phạm hành chính tiếp tục tổ chức các cuộc thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực hộ tịch có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân cấp huyện. Thanh tra Sở theo dõi việc thực hiện Kết luận thanh tra của đơn vị được thanh tra./.

Nội dung chi tiết xem tại file đính kèm KL_641_TTR.signed.pdf

FalseThanh Tra Sở
Kết quả thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực hộ tịch, chứng thực đối với Ủy ban nhân dân phường Phú Cường thuộc thành phố Thủ Dầu MộtKết luận thanh traTinKết quả thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực hộ tịch, chứng thực đối với Ủy ban nhân dân phường Phú Cường thuộc thành phố Thủ Dầu Một/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
4/7/2023 3:00 PMNoĐã ban hành

​Thực hiện Quyết định số 167/QĐ-STP ngày 09/12/2022 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực hộ tịch, chứng thực đối với Ủy ban nhân dân phường Phú Cường thuộc thành phố Thủ Dầu Một, ngày 21/12/2022 Đoàn Thanh tra đã công bố quyết định thanh tra và tiến hành thanh tra tại Ủy ban nhân dân phường Phú Cường. Ngày 06/4/2023, Giám đốc Sở Tư pháp đã ban hành Kết luận thanh tra số 612/KL-STP.

Tại Kết luận thanh tra, Giám đốc Sở ghi nhận những ưu điểm, kết quả Ủy ban nhân dân phường Phú Cường đã đạt được. Ủy ban nhân dân phường đã có nhiều cố gắng trong công tác hộ tịch, chứng thực, giải quyết kịp thời yêu cầu của cá nhân, tổ chức tại địa phương. Lãnh đạo địa phương có sự quan tâm, bố trí công chức để thực hiện các công tác tư pháp theo thẩm quyền. Về cơ bản, đơn vị đã có ý thức tuân thủ quy định pháp luật về hộ tịch, chứng thực và các quy định khác của pháp luật có liên quan đến hoạt động hộ tịch, chứng thực. Tuy nhiên, bên cạnh đó, Ủy ban nhân dân phường Phú Cường còn một số hạn chế, sai sót trong công tác hộ tịch, chứng thực:

1. Hoạt động hộ tịch

- Về việc ghi chép Sổ hộ tịch: Hầu hết các loại Sổ hộ tịch, mục Họ, chữ đệm, tên, chức vụ người thực hiện chưa có thông tin.

+ Sổ đăng ký khai sinh có trường hợp chưa ghi thông tin đăng ký trong Sổ; ghi thiếu thông tin về nơi cư trú của người cha, họ tên chữ đệm giấy tờ tùy thân của người đi đăng ký khai sinh, họ tên chức vụ của người ký giấy khai sinh là chưa phù hợp theo quy định tại Điều 14 Luật Hộ tịch.

+ Sổ đăng ký thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch có trường hợp chưa ghi thông tin của người được bổ sung hộ tịch là chưa phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 29 Luật Hộ tịch.

+ Sổ đăng ký kết hôn ghi không đầy đủ thông tin về vợ, chồng; có trường hợp ghi ngày xác lập quan hệ hôn nhân chưa đúng theo quy định tại khoản 4 Điều 27 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP.

+ Sổ đăng ký khai tử hầu hết các trường hợp có giấy báo tử ghi rõ nguyên nhân chết, tuy nhiên, nội dung tại mục Nguyên nhân chết của các trường hợp này đều để trống là chưa phù hợp theo quy định tại khoản 3 Điều 34 Thông tư số 04/2020/TT-BTP.

+ Sổ cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân viết tắt cụm từ "đăng ký kết hôn" và có trường hợp tẩy xóa nội dung ghi trong Sổ là chưa đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Thông tư số 04/2020/TT-BTP.

- Về hồ sơ đăng ký hộ tịch:

+ Hồ sơ đăng ký lại khai sinh: không có giấy tờ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con nhưng Ủy ban nhân dân phường chưa thực hiện xác minh các thông tin về cha, mẹ của người đăng ký lại tại cơ quan công an mà căn cứ vào bản cam đoan của người đăng ký lại khai sinh chưa có chữ ký của người đăng ký lại để cấp Giấy khai sinh theo cam đoan là chưa phù hợp theo quy định tại khoản 4 Điều 9 Thông tư số 04/2020/TT-BTP.

+ Hồ sơ đăng ký thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch: có 02 trường hợp đăng ký thay đổi hộ tịch nhưng Ủy ban nhân dân phường thực hiện thủ tục cải chính hộ tịch.

+ Hồ sơ cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có lưu Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, tuy nhiên mục tình trạng hôn nhân ghi chưa đúng theo hướng dẫn tại Điều 33 Thông tư số 04/2020/TT-BTP.

- Về thu lệ phí hộ tịch:

Tại buổi làm việc và báo cáo giải trình sau thanh tra, Ủy ban nhân dân phường Phú Cường chưa cung cấp cho Đoàn Thanh tra các chứng từ, tài liệu về việc thu lệ phí hộ tịch nên chưa có cơ sở để kiểm tra, đối chiếu.

2. Hoạt động chứng thực

- Việc ghi chép Sổ chứng thực:

+ Bìa sổ chưa ghi tên cơ quan thực hiện chứng thực.

+ Sổ chưa ghi chức danh của người ký chứng thực.

Sau khi được thanh tra, Ủy ban nhân dân phường đã bổ sung đầy đủ thông tin vào Sổ.

+ Số chứng thực bản sao từ bản chính: Cùng một loại giấy tờ chứng thực thành nhiều bản sao nhưng lấy nhiều số chứng thực là chưa phù hợp theo quy định tại khoản 3 Điều 20 của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP.

+ Sổ chứng thực chữ ký/Chứng thực điểm chỉ:

Một số trường hợp ghi số lượng giấy tờ văn bản đã được chứng thực chữ ký/điểm chỉ chưa thống nhất với phí chứng thực.

- Chứng thực chữ ký:

+ Hồ sơ chứng thực chữ ký lưu bản sao Chứng minh nhân dân của người yêu cầu chứng thực và một số giấy tờ khác có liên quan đến nội dung văn bản được yêu cầu chứng thực chữ ký hoặc có trường hợp hồ sơ không lưu văn bản được chứng thực chữ ký là chưa phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP.

+ Lời chứng chứng thực chữ ký ghi không đầy đủ nội dung, có trường hợp ghi không chính xác với các thông tin có trong hồ sơ như: ghi ngày, tháng, năm bằng số và bằng chữ ghi không thống nhất; không ghi ngày, tháng, năm thực hiện chứng thực; chỉ ghi ngày, tháng, năm bằng số mà không ghi ngày, tháng, năm bằng chữ; ghi ngày, tháng mà không ghi năm.

+ Có trường hợp chứng thực chữ ký mà ngày, tháng, năm người yêu cầu chứng thực ký vào văn bản không trùng khớp với ngày chứng thực chữ ký; văn bản được chứng thực không ghi ngày, tháng, năm.

+ Chứng thực chữ ký trong Sơ yếu lý lịch không thực hiện gạch chéo những mục không ghi nội dung là chưa phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 15 Thông tư số 01/2020/TT-BTP.

+ Một số trường hợp chứng thực chữ ký trong Giấy ủy quyền làm thủ tục hưởng, nhận thay chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. Giấy ủy quyền có bên ủy quyền và bên được ủy quyền cùng ký tên, tuy nhiên UBND phường Phú Cường chỉ chứng thực chữ ký của 01 người (bên ủy quyền) là chưa phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 13 Thông tư số 01/2020/TT-BTP.

- Việc thu phí chứng thực:

Qua kiểm tra Sổ chứng thực bản sao từ bản chính có thông tin về số tiền thu, Đoàn Thanh tra thấy rằng một số trường hợp số tiền thu chưa đúng theo quy định (phí chứng thực bản sao từ bản chính chứng minh nhân dân/căn cước công dân: có trường hợp thu 2.000 đồng/bản sao trong khi theo quy định tại Thông tư 226/2016/TT-BTC thì thu 2.000 đồng/trang).

Tại buổi làm việc và báo cáo giải trình sau thanh tra, Ủy ban nhân dân phường Phú Cường chưa cung cấp đầy đủ cho Đoàn Thanh tra các chứng từ, tài liệu về việc thu phí chứng thực nên chưa có cơ sở để kiểm tra, đối chiếu.

Một số hạn chế, sai sót đã được Ủy ban nhân dân phường khắc phục theo Báo cáo giải trình số 315/BC-UBND ngày 31/12/2022.

Giám đốc Sở Tư pháp yêu cầu Ủy ban nhân dân phường Phú Cường tổ chức rút kinh nghiệm, chấn chỉnh, tiến hành các biện pháp cần thiết để khắc phục kịp thời những thiếu sót, vi phạm mà Kết luận thanh tra đã chỉ ra, và báo cáo kết quả thực hiện Kết luận thanh tra bằng văn bản về Sở Tư pháp trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được Kết luận thanh tra. Bồi dưỡng chuyên môn của cán bộ tư pháp trực tiếp làm công tác đăng ký và quản lý hộ tịch. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân về hộ tịch, chứng thực. Kịp thời phản ánh những khó khăn, vướng mắc, bất cập của pháp luật trong lĩnh vực hộ tịch, chứng thực về Phòng Tư pháp thành phố Thủ Dầu Một để được hướng dẫn, giải quyết, góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực hộ tịch, chứng thực. Ủy ban nhân dân phường Phú Cường chưa cung cấp đầy đủ cho Đoàn Thanh tra các chứng từ, tài liệu về việc thu lệ phí hộ tịch và thu phí chứng thực nên chưa có cơ sở để kiểm tra, đối chiếu. Do đó, đề nghị Ủy ban nhân dân phường Phú Cường tự kiểm tra, rà soát và chịu trách nhiệm về việc thu đúng, thu đủ theo quy định.

Đối với Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, trong lĩnh vực hộ tịch, chứng thực; kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm thuộc thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý; tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho công chức làm công tác tư pháp, hộ tịch. Ngoài ra, chú trọng kiểm tra việc thu phí, lệ phí hộ tịch và thu phí chứng thực đối với Ủy ban nhân dân phường Phú Cường đảm bảo thu đúng, thu đủ theo quy định pháp luật.

Đối với Thanh tra Sở và các Phòng chuyên môn, đơn vị thuộc Sở, Giám đốc Sở yêu cầu Phòng Hành chính tư pháp và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Phòng Bổ trợ tư pháp tăng cường công tác hướng dẫn nghiệp vụ trong lĩnh vực hộ tịch, chứng thực. Phòng Hành chính tư pháp và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Phòng Bổ trợ tư pháp phối hợp Phòng Văn bản - Tuyên truyền, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tiếp tục tổ chức tuyên truyền phổ biến sâu rộng các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động hộ tịch, chứng thực để người dân hiểu rõ, thực hiện. Thanh tra Sở theo dõi việc thực hiện Kết luận thanh tra của đơn vị được thanh tra./.

Nội dung chi tiết xem tại file đính kèm KL_612_TTR.signed.pdf

FalseThanh Tra Sở
Kể từ ngày 05/5/2023, áp dụng quy định mới về thủ tục thu, nộp tiền phạt vi phạm hành chínhThông tinTinKể từ ngày 05/5/2023, áp dụng quy định mới về thủ tục thu, nộp tiền phạt vi phạm hành chính/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
4/6/2023 6:00 PMNoĐã ban hành

​Ngày 21/3/2023, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 18/2023/TT-BTC quy định về thủ tục thu, nộp tiền phạt, bù trừ số tiền nộp phạt chênh lệch, biên lai thu tiền phạt và kinh phí từ ngân sách nhà nước bảo đảm hoạt động của các lực lượng xử phạt vi phạm hành chính. Thông tư 18/2023/TT-BTC có hiệu lực thi hành kể từ ngày 05/5/2023, thay thế Thông tư số 153/2013/TT-BTC ngày 31/10/2013 quy định thủ tục thu, nộp tiền phạt, biên lai thu tiền phạt và kinh phí từ ngân sách nhà nước bảo đảm hoạt động của lực lượng xử phạt vi phạm hành chính và Thông tư số 105/2014/TT-BTC ngày 07/8/2014 sửa đổi, bổ sung Thông tư số 153/2013/TT-BTC.

So với trước đây, Thông tư số 18/2023/TT-BTC có một số điểm mới đáng chú ý như sau:

Thứ nhất, thay đổi về thời điểm xác định người nộp tiền phạt đã thực hiện nghĩa vụ nộp tiền phạt

Điều 3 Thông tư số 18/2023/TT-BTC quy định về xác định thời điểm người vi phạm đã thực hiện nghĩa vụ nộp tiền phạt tương ứng với 02 hình thức nộp tiền phạt (tiền mặt và chuyển khoản) như sau:

- Trường hợp nộp tiền phạt bằng tiền mặt trực tiếp là ngày Kho bạc Nhà nước hoặc ngân hàng thương mại nơi Kho bạc Nhà nước mở tài khoản hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ bưu chính công ích hoặc người có thẩm quyền thu tiền phạt xác nhận trên chứng từ thu, nộp tiền phạt;

- Trường hợp nộp tiền phạt bằng hình thức chuyển khoản là ngày người nộp tiền phạt nhận được thông báo giao dịch tiếp nhận khoản tiền nộp phạt thành công.

Thứ hai, bổ sung trường hợp không tính chậm nộp phạt vi phạm hành chính.

Trước đây, theo quy định cũ thì chỉ có 01 trường hợp không tính tiền chậm nộp phạt vi phạm hành chính đó là trong thời hạn được hoãn thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Theo Điều 5 Thông tư số 18/2023/TT-BTC, có 02 trường hợp không tính tiền chậm nộp phạt vi phạm hành chính: 1) trong thời hạn được hoãn thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính; 2) trong thời gian xem xét, quyết định giảm, miễn phần còn lại hoặc cho phép nộp tiền phạt nhiều lần.

Thứ ba, bổ sung quy định về cách tính và thực hiện bù trừ số tiền nộp phạt chênh lệch (nếu có) trong trường hợp có quyết định đính chính, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hoặc ban hành quyết định mới trong xử phạt vi phạm hành chính.

Khoản 1 Điều 6 Thông tư số 18/2023/TT-BTC quy định cụ thể cách tính và thực hiện bù trừ số tiền nộp phạt chênh lệch (nếu có) trong trường hợp có quyết định đính chính, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hoặc ban hành quyết định mới trong xử phạt vi phạm hành chính.

Theo đó, việc tính số tiền nộp phạt chênh lệch trên cơ sở so sánh số tiền nộp phạt giữa các quyết định xử phạt vi phạm hành chính của cơ quan có thẩm quyền (quyết định xử phạt cũ và quyết định sửa đổi, bổ sung, đính chính).

Số tiền nộp phạt chênh lệch = A - B

Trong đó:

- A là số tiền nộp phạt mà cá nhân, tổ chức vi phạm đã nộp vào ngân sách nhà nước theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính của cấp có thẩm quyền.

- B là số tiền nộp phạt mà cá nhân, tổ chức vi phạm phải nộp theo quyết định đính chính, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hoặc quyết định mới của cấp có thẩm quyền.

Trường hợp B<A thì cá nhân, tổ chức vi phạm được hoàn trả số tiền phạt nộp thừa; trường hợp B>A thì cá nhân, tổ chức vi phạm phải nộp bổ sung số tiền phạt còn thiếu.

Thứ tư, bổ sung quy định về bãi bỏ các khoản chi ngoài lương

Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 21/5/2018 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp yêu cầu phải bãi bỏ các khoản chi ngoài lương của cán bộ, công chức, viên chức có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, hiện nay, Nghị quyết số 27-NQ/TW đã được lùi thời hạn thực hiện. Vì vậy, tại khoản 3 Điều 16 Thông tư bổ sung quy định các khoản chi ngoài lương của cán bộ, công chức, viên chức có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước được quy định tại Thông tư này và tại các văn bản viện dẫn để áp dụng chỉ được thực hiện cho đến khi triển khai cải cách tiền lương theo Nghị quyết số 27-NQ/TW./.

FalseTăng Thị Hà Chi
Thông tư số 18/2023/TT-BTC ngày 21/3/2023 của Bộ trưởng Bộ Tài chínhVăn bản QPPLThông tư số 18/2023/TT-BTC ngày 21/3/2023 của Bộ trưởng Bộ Tài chính/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
4/6/2023 6:00 PMNoĐã ban hànhFalseTăng Thị Hà Chi
Công bố Quyết định thanh tra trách nhiệm về việc thực hiện các quy định pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng của Phòng Công chứng số 1Thông tinTinCông bố Quyết định thanh tra trách nhiệm về việc thực hiện các quy định pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng của Phòng Công chứng số 1/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
4/5/2023 5:00 PMNoĐã ban hành

    Sáng ngày 04/4/2023, tại trụ sở Phòng công chứng số 1, địa chỉ: 469 Đại Lộ Bình Dương, phường Phú Cường, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, Đoàn Thanh tra theo Quyết định số 53/QĐ-STP ngày 27/3/2023 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương tiến hành công bố Quyết định thanh tra trách nhiệm về việc thực hiện các quy định pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng của Phòng Công chứng số 1

      Tham dự buổi công bố có sự tham gia của đại diện Phòng Công chứng số 1 và các thành viên Đoàn Thanh tra.  

      Bà Ngô Thùy Trang​ - Chánh Thanh tra Sở Tư pháp, Trưởng Đoàn Thanh tra công bố toàn văn Quyết định thanh tra số 53/QĐ-STP ngày 27/3/2023 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương và phổ biến tóm tắt mục đích, yêu cầu, nội dung kế hoạch thanh tra; nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng Đoàn Thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra, quyền và nghĩa vụ của Phòng Công chứng số 1; thống nhất lịch làm việc với Phòng Công chứng số 1. Bà Nguyễn Thị Phương Ngọc - đại diện Phòng Công chứng số 1 báo cáo về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng của Phòng​ theo yêu cầu của Đoàn Thanh tra. 

      Sau khi kết thúc việc công bố Quyết định thanh tra, Đoàn Thanh tra tiến hành thanh tra trực tiếp tại Phòng Công chứng số 1theo kế hoạch./.

FalseThanh Tra Sở
Kết quả thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực luật sư tại Văn phòng luật sư Thanh và Cộng sựKết luận thanh traTinKết quả thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực luật sư tại Văn phòng luật sư Thanh và Cộng sự/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
3/28/2023 5:00 PMNoĐã ban hành

Thực hiện Quyết định số 154/QĐ-STP ngày 18/11/2022 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực luật sư tại tổ chức hành nghề luật sư, Chi nhánh tổ chức hành nghề luật sư, ngày 29/11/2022 Đoàn Thanh tra Sở Tư pháp đã công bố Quyết định thanh tra và tiến hành thanh tra tại Văn phòng luật sư Thanh và Cộng sự. Ngày 27/3/2023, Giám đốc Sở Tư pháp đã ban hành Kết luận thanh tra số 518/KL-STP.

Tại Kết luận thanh tra, Giám đốc Sở ghi nhận những ưu điểm, kết quả Văn phòng luật sư Thanh và Cộng sự đã đạt được, Văn phòng cơ bản chấp hành quy định của Luật Luật sư năm 2006, được sửa đổi, bổ sung năm 2012 (sau đây viết tắt là Luật Luật sư), Nghị định số 123/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Luật sư và các văn bản pháp luật liên quan trong quá trình thành lập và hoạt động. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, Văn phòng luật sư Thanh và Cộng sự vẫn còn một số sai sót như sau:

- Văn phòng luật sư Thanh và Cộng sự thay đổi nội dung đăng ký hoạt động và được Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương cấp lại Giấy đăng ký hoạt động số 46.01.0092/TP/ĐKHĐ ngày 13/6/2022. Tuy nhiên, Văn phòng luật sư Thanh và Cộng sự chưa thực hiện công bố thay đổi nội dung đăng ký hoạt động là chưa phù hợp theo quy định tại Điều 38 Luật Luật sư.

- Có 01 hợp đồng dịch vụ pháp lý: Nội dung hợp đồng chưa nêu cụ thể giá ngạch vụ kiện hoặc giá trị hợp đồng, giá trị dự án để tính thù lao. Sau khi được thanh tra, Văn phòng có Văn bản giải trình ngày 01/12/2022, theo đó Văn phòng cung cấp Phụ lục hợp đồng dịch vụ pháp lý số 05/2022.HĐ/HS ngày 30/11/2022 thể hiện thù lao luật sư là 30% giá ngạch vụ kiện (theo đơn khởi kiện là 600.000.000 đồng).

 - Về Phiếu thỏa thuận thực hiện dịch vụ pháp lý:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 26 Luật Luật sư: "1. Luật sư thực hiện dịch vụ pháp lý theo hợp đồng dịch vụ pháp lý, trừ trường hợp luật sư tham gia tố tụng theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng và luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức".

Văn phòng có lập 05 Phiếu thỏa thuận thực hiện dịch vụ pháp lý khi thực hiện dịch vụ pháp lý miễn phí theo quy định tại Điều 5 Thông tư số 17/2011/TT-BTP ngày 14/10/2011 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp: "Đối với vụ, việc có mức thù lao dưới 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng), tổ chức hành nghề luật sư hoặc luật sư hành nghề với tư cách cá nhân lập phiếu thỏa thuận thực hiện dịch vụ pháp lý với khách hàng theo mẫu quy định…". Thông tư số 17/2011/TT-BTP đã được thay thế bởi Thông tư số 05/2021/TT-BTP ngày 24/6/2021. Do đó, Đoàn Thanh tra nhắc nhở Văn phòng khi thực hiện dịch vụ pháp lý miễn phí phải tuân thủ quy định tại Điều 26 Luật Luật sư.

Giám đốc Sở Tư pháp yêu cầu Văn phòng luật sư Thanh và Cộng sự nghiêm túc tổ chức rút kinh nghiệm, khắc phục ngay các hạn chế, sai sót mà Kết luận thanh tra đã chỉ ra, đảm bảo chấp hành đúng các quy định của Luật Luật sư, Nghị định số 123/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013 của Chính phủ và các văn bản pháp luật có liên quan để hoạt động luật sư ngày càng tốt hơn. Báo cáo kết quả thực hiện Kết luận thanh tra bằng văn bản về Sở Tư pháp trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được Kết luận thanh tra. Thực hiện việc công bố thay đổi nội dung đăng ký hoạt động đúng theo quy định. Thể hiện rõ giá ngạch vụ kiện hoặc giá trị hợp đồng trong hợp đồng dịch vụ pháp lý khi thu thù lao theo phần trăm giá ngạch vụ kiện hoặc giá trị hợp đồng. Khi thực hiện dịch vụ pháp lý miễn phí phải tuân thủ theo quy định của Luật Luật sư.

Đối với Phòng Bổ trợ tư pháp và Thanh tra Sở, Giám đốc Sở yêu cầu Phòng Bổ trợ tư pháp tiếp tục tăng cường theo dõi tình hình tổ chức, hoạt động của các tổ chức hành nghề luật sư, thường xuyên kiểm tra thông qua báo cáo hoặc kiểm tra đột xuất để kịp thời chấn chỉnh, nhắc nhở và tham mưu, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này; kịp thời tham mưu triển khai các văn bản mới về lĩnh vực luật sư. Thanh tra Sở tiếp tục tăng cường thanh tra đối với các tổ chức hành nghề luật sư, Chi nhánh tổ chức hành nghề luật sư. Qua kết quả thanh tra, tham mưu Giám đốc Sở kiến nghị Bộ Tư pháp xem xét hướng dẫn việc thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 26 Luật Luật sư đối với trường hợp luật sư tư vấn pháp luật miễn phí có phải ký hợp đồng dịch vụ pháp lý hay không; theo dõi việc thực hiện Kết luận thanh tra của Văn phòng luật sư Thanh và Cộng sự, xử phạt vi phạm hành chính theo quy định./.

Nội dung chi tiết xem tại file đính kèm KL_518_TTR.signed.pdf

FalseThanh Tra Sở
Kết quả thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực luật sư tại Công ty Luật TNHH MTV Thành Văn - Chi nhánh Bình DươngKết luận thanh traTinKết quả thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực luật sư tại Công ty Luật TNHH MTV Thành Văn - Chi nhánh Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
3/24/2023 5:00 PMNoĐã ban hành

Thực hiện Quyết định số 154/QĐ-STP ngày 18/11/2022 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực luật sư tại tổ chức hành nghề luật sư, Chi nhánh tổ chức hành nghề luật sư, ngày 28/11/2022, Đoàn Thanh tra Sở Tư pháp đã công bố Quyết định thanh tra và ngày 29/11/2022, tiến hành thanh tra tại Công ty Luật TNHH MTV Thành Văn - Chi nhánh Bình Dương. Ngày 23/3/2023, Giám đốc Sở Tư pháp đã ban hành Kết luận thanh tra số 477/KL-STP.

Tại Kết luận thanh tra, Giám đốc Sở ghi nhận những ưu điểm, kết quả Công ty Luật TNHH MTV Thành Văn - Chi nhánh Bình Dương đã đạt được, Chi nhánh cơ bản chấp hành quy định của Luật Luật sư năm 2006, được sửa đổi, bổ sung năm 2012 (sau đây viết tắt là Luật Luật sư), Nghị định số 123/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Luật sư và các văn bản pháp luật liên quan trong quá trình thành lập và hoạt động. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, Công ty Luật TNHH MTV Thành Văn - Chi nhánh Bình Dương vẫn còn sai sót như sau:

Công ty Luật TNHH Luật Thành Văn chưa thực hiện thông báo bằng văn bản cho Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc thay đổi nội dung đăng ký hoạt động của Công ty Luật TNHH MTV Thành Văn - Chi nhánh Bình Dương là chưa phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 41 Luật Luật sư. Sau khi được thanh tra, Công ty Luật TNHH Luật Thành Văn đã thông báo bằng văn bản cho Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc thay đổi nội dung đăng ký hoạt động của Công ty Luật TNHH MTV Thành Văn - Chi nhánh Bình Dương và được cấp lại Giấy đăng ký hoạt động ngày 12/12/2022.

Giám đốc Sở Tư pháp yêu cầu Công ty Luật TNHH MTV Thành Văn - Chi nhánh Bình Dương nghiêm túc tổ chức rút kinh nghiệm, khắc phục ngay các hạn chế, sai sót mà Kết luận thanh tra đã chỉ ra, đảm bảo chấp hành đúng các quy định của Luật Luật sư, Nghị định số 123/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013 của Chính phủ và các văn bản pháp luật có liên quan để hoạt động luật sư ngày càng tốt hơn. Báo cáo kết quả thực hiện Kết luận thanh tra bằng văn bản về Sở Tư pháp trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được kết luận thanh tra; Công ty Luật TNHH MTV Thành Văn thực hiện nghiêm quy định tại khoản 2 Điều 41 Luật Luật sư. Ngoài ra, theo báo cáo của Công ty Luật TNHH MTV Thành Văn - Chi nhánh Bình Dương thì trong thời kỳ thanh tra Chi nhánh có ký 01 Phiếu thỏa thuận thực hiện dịch vụ pháp lý. Tại khoản 1 Điều 26 Luật Luật sư có quy định về hợp đồng dịch vụ pháp lý, Thông tư số 17/2011/TT-BTP ngày 14/10/2011 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã được thay thế bởi Thông tư số 05/2021/TT-BTP ngày 24/6/2021, do đó, khi thực hiện dịch vụ pháp lý với mức thù lao là không đồng phải tuân thủ theo quy định của Luật Luật sư.

Đối với Phòng Bổ trợ tư pháp và Thanh tra Sở, Giám đốc Sở yêu cầu Phòng Bổ trợ tư pháp tiếp tục tăng cường theo dõi tình hình tổ chức, hoạt động của các tổ chức hành nghề luật sư, thường xuyên kiểm tra thông qua báo cáo hoặc kiểm tra đột xuất để kịp thời chấn chỉnh, nhắc nhở và tham mưu, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này; kịp thời tham mưu triển khai các văn bản mới về lĩnh vực luật sư. Thanh tra Sở tiếp tục tăng cường thanh tra đối với các tổ chức hành nghề luật sư, Chi nhánh tổ chức hành nghề luật sư. Qua kết quả thanh tra, tham mưu Giám đốc Sở kiến nghị Bộ Tư pháp xem xét hướng dẫn việc thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 26 Luật Luật sư đối với trường hợp luật sư tư vấn pháp luật miễn phí có phải ký hợp đồng dịch vụ pháp lý hay không; theo dõi việc thực hiện Kết luận thanh tra của Công ty Luật TNHH MTV Thành Văn - Chi nhánh Bình Dương theo quy định./.

Nội dung chi tiết xem tại file đính kèm KL_477_TTR.signed.pdf

FalseThanh Tra Sở
Kết quả thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực luật sư tại Công ty Luật TNHH MTV Lưu Gia ThịnhKết luận thanh traTinKết quả thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực luật sư tại Công ty Luật TNHH MTV Lưu Gia Thịnh/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
3/24/2023 5:00 PMNoĐã ban hành

Thực hiện Quyết định số 154/QĐ-STP ngày 18/11/2022 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực luật sư tại tổ chức hành nghề luật sư, Chi nhánh tổ chức hành nghề luật sư, ngày 28/11/2022 Đoàn Thanh tra Sở Tư pháp đã công bố Quyết định thanh tra và ngày 30/11/2022 tiến hành thanh tra tại Công ty Luật TNHH MTV Lưu Gia Thịnh. Ngày 23/3/2023, Giám đốc Sở Tư pháp đã ban hành Kết luận thanh tra số 479/KL-STP.

Tại Kết luận thanh tra, Giám đốc Sở ghi nhận những ưu điểm, kết quả Công ty Luật TNHH MTV Lưu Gia Thịnh đã đạt được, Công ty cơ bản chấp hành quy định của Luật Luật sư năm 2006, được sửa đổi, bổ sung năm 2012 (sau đây viết tắt là Luật Luật sư), Nghị định số 123/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Luật sư và các văn bản pháp luật liên quan trong quá trình thành lập và hoạt động. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, Công ty Luật TNHH MTV Lưu Gia Thịnh vẫn còn một số sai sót như sau:

- Công ty Luật TNHH MTV Lưu Gia Thịnh thay đổi địa chỉ trụ sở hoạt động từ ngày 05/5/2020, đến ngày 29/11/2022 Công ty mới nộp đơn thay đổi địa chỉ trụ sở hoạt động là chưa đảm bảo theo quy định tại khoản 1 Điều 36 Luật Luật sư. Sau khi được thanh tra, Công ty đăng ký thay đổi địa chỉ trụ sở hoạt động và được cấp lại Giấy đăng ký hoạt động số 46.02.0122/TP/ĐKHĐ ngày 14/12/2022.

- Trong thời kỳ thanh tra, Công ty Luật TNHH MTV Lưu Gia Thịnh chưa mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho luật sư của tổ chức mình là chưa phù hợp theo quy định tại khoản 6 Điều 40 Luật Luật sư.

- Công ty thực hiện 17 vụ việc tư vấn pháp luật miễn phí nhưng không lập hợp đồng dịch vụ pháp lý theo quy định của Luật Luật sư và hướng dẫn trước đây về lập Phiếu thỏa thuận thực hiện dịch vụ pháp lý.

Giám đốc Sở Tư pháp yêu cầu Công ty Luật TNHH MTV Lưu Gia Thịnh nghiêm túc tổ chức rút kinh nghiệm, khắc phục ngay các hạn chế, sai sót mà Kết luận thanh tra đã chỉ ra, đảm bảo chấp hành đúng các quy định của Luật Luật sư, Nghị định số 123/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013 của Chính phủ và các văn bản pháp luật có liên quan để hoạt động luật sư ngày càng tốt hơn. Báo cáo kết quả thực hiện Kết luận thanh tra bằng văn bản về Sở Tư pháp trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được kết luận thanh tra. Thực hiện nghiêm quy định tại khoản 2 Điều 41 Luật Luật sư; tuân thủ quy định tại khoản 1 Điều 36 Luật Luật sư khi thay đổi địa chỉ trụ sở. Chấp hành nghiêm quy định pháp luật về mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho luật sư; khi thực hiện dịch vụ pháp lý với mức thù lao là không đồng phải thực hiện theo quy định tại Điều 26 Luật Luật sư.

Đối với Phòng Bổ trợ tư pháp và Thanh tra Sở, Giám đốc Sở yêu cầu Phòng Bổ trợ tư pháp tiếp tục tăng cường theo dõi tình hình tổ chức, hoạt động của các tổ chức hành nghề luật sư, thường xuyên kiểm tra thông qua báo cáo hoặc kiểm tra đột xuất để kịp thời chấn chỉnh, nhắc nhở và tham mưu, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này; kịp thời tham mưu triển khai các văn bản mới về lĩnh vực luật sư và hướng dẫn việc thay đổi địa chỉ trụ sở khi nhận được thông báo của các tổ chức hành nghề luật sư. Thanh tra Sở tiếp tục tăng cường thanh tra đối với các tổ chức hành nghề luật sư, Chi nhánh tổ chức hành nghề luật sư. Qua kết quả thanh tra, tham mưu Giám đốc Sở kiến nghị Bộ Tư pháp xem xét hướng dẫn việc thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 26 Luật Luật sư đối với trường hợp luật sư tư vấn pháp luật miễn phí có phải ký hợp đồng dịch vụ pháp lý hay không; theo dõi việc thực hiện Kết luận thanh tra của Công ty Luật TNHH MTV Lưu Gia Thịnh theo quy định./.

Nội dung chi tiết xem tại file đính kèm ​KL_479_TTR.signed.pdf

FalseThanh Tra Sở
Kết quả thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực luật sư tại Văn phòng luật sư Nam Phong Bình DươngKết luận thanh traTinKết quả thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực luật sư tại Văn phòng luật sư Nam Phong Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
3/24/2023 5:00 PMNoĐã ban hành

Thực hiện Quyết định số 154/QĐ-STP ngày 18/11/2022 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực luật sư tại tổ chức hành nghề luật sư, Chi nhánh tổ chức hành nghề luật sư, ngày 28/11/2022 Đoàn Thanh tra Sở Tư pháp đã công bố Quyết định thanh tra và ngày 30/11/2022 tiến hành thanh tra tại Văn phòng luật sư Nam Phong Bình Dương. Ngày 23/3/2023, Giám đốc Sở Tư pháp đã ban hành Kết luận thanh tra số 478/KL-STP.

Tại Kết luận thanh tra, Giám đốc Sở ghi nhận những ưu điểm, kết quả Văn phòng luật sư Nam Phong Bình Dương đã đạt được, Văn phòng cơ bản chấp hành quy định của Luật Luật sư năm 2006, được sửa đổi, bổ sung năm 2012 (sau đây viết tắt là Luật Luật sư), Nghị định số 123/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Luật sư và các văn bản pháp luật liên quan trong quá trình thành lập và hoạt động. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, Văn phòng luật sư Nam Phong Bình Dương vẫn còn một số sai sót như sau:

- Trong thời kỳ từ ngày 01/01/2022 đến ngày 30/10/2022, Văn phòng luật sư Nam Phong Bình Dương chưa mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho luật sư của tổ chức mình là chưa phù hợp theo quy định tại khoản 6 Điều 40 Luật Luật sư.

- Văn phòng luật sư Nam Phong Bình Dương tiến hành công bố nội dung đăng ký hoạt động trên Báo mua và bán (www.muaban.net) ngày 27/6/2016, ngày 28/6/2016 và ngày 29/6/2016. Tuy nhiên, nội dung thông tin về địa chỉ trụ sở không đúng địa chỉ trụ sở theo Giấy đăng ký hoạt động số 46.01.0111/TP/ĐKHĐ được Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương cấp thay đổi lần 1 ngày 08/6/2016. Văn phòng công bố nội dung đăng ký hoạt động trên Báo mua và bán (www.muaban.net). Tuy nhiên, Báo mua và bán chưa thể hiện là báo của Trung ương hay báo địa phương, báo chuyên ngành luật.

Sau khi được thanh tra, Văn phòng luật sư Nam Phong Bình Dương có Báo cáo số 04/2022/BC ngày 05/12/2022 và tài liệu kèm theo thể hiện Văn phòng đã tiến hành đăng báo nội dung đăng ký hoạt động trên Báo Bình Dương 03 kỳ vào ngày 02/12, 03/12 và 05/12/2022.

- Về thực hiện dịch vụ pháp lý: Văn phòng có thực hiện tư vấn pháp luật miễn phí 12 vụ việc. Văn phòng có lập Phiếu yêu cầu tư vấn pháp lý. Văn phòng không lập hợp đồng dịch vụ pháp lý theo quy định của Luật Luật sư và hướng dẫn trước đây về lập Phiếu thỏa thuận thực hiện dịch vụ pháp lý.

Giám đốc Sở Tư pháp yêu cầu Văn phòng luật sư Nam Phong Bình Dương nghiêm túc tổ chức rút kinh nghiệm, khắc phục ngay các hạn chế, sai sót mà Kết luận thanh tra đã chỉ ra, đảm bảo chấp hành đúng các quy định của Luật Luật sư, Nghị định số 123/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013 của Chính phủ và các văn bản pháp luật có liên quan để hoạt động luật sư ngày càng tốt hơn. Báo cáo kết quả thực hiện Kết luận thanh tra bằng văn bản về Sở Tư pháp trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được Kết luận thanh tra. Chấp hành nghiêm quy định pháp luật về mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho luật sư; khi thực hiện dịch vụ pháp lý với mức thù lao là không đồng phải tuân thủ quy định tại Điều 26 Luật Luật sư.

Đối với Phòng Bổ trợ tư pháp và Thanh tra Sở, Giám đốc Sở yêu cầu Phòng Bổ trợ tư pháp tiếp tục tăng cường theo dõi tình hình tổ chức, hoạt động của các tổ chức hành nghề luật sư, thường xuyên kiểm tra thông qua báo cáo hoặc kiểm tra đột xuất để kịp thời chấn chỉnh, nhắc nhở và tham mưu, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này; kịp thời tham mưu triển khai các văn bản mới về lĩnh vực luật sư. Thanh tra Sở tiếp tục tăng cường thanh tra đối với các tổ chức hành nghề luật sư, Chi nhánh tổ chức hành nghề luật sư. Qua kết quả thanh tra, tham mưu Giám đốc Sở kiến nghị Bộ Tư pháp xem xét hướng dẫn việc thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 26 Luật Luật sư đối với trường hợp luật sư tư vấn pháp luật miễn phí có phải ký hợp đồng dịch vụ pháp lý hay không; theo dõi việc thực hiện Kết luận thanh tra của Văn phòng luật sư Nam Phong Bình Dương theo quy định./.

Nội dung chi tiết xem tại file đính kèm KL_478_TTR.signed.pdf

FalseThanh Tra Sở
Công bố Quyết định thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực công chứng, chứng thực đối với Văn phòng công chứng Nguyễn Thị ĐiểnThông tinTinCông bố Quyết định thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực công chứng, chứng thực đối với Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Điển/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
3/9/2023 10:00 AMNoĐã ban hành

​     Sáng ngày 09/3/2023, tại trụ sở Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Điển, địa chỉ: Thửa 05, lô A, khu dân cư thương mại Uyên Hưng, đường số 13, phường Uyên Hưng, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, Đoàn Thanh tra theo Quyết định số 44/QĐ-STP ngày 27/02/2023 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương tiến hành công bố Quyết định thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực công chứng, chứng thực đối với Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Điển. 

      Tham dự buổi công bố có sự tham gia của đại diện Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Điển​ và các thành viên Đoàn Thanh tra. Sở Tư pháp có mời đại diện Ban chấp hành Hội công chứng viên tỉnh tham gia Đoàn Thanh tra. 

      Bà Ngô Thùy Trang​ - Chánh Thanh tra Sở Tư pháp, Trưởng Đoàn Thanh tra công bố toàn văn Quyết định thanh tra số 44/QĐ-STP ngày 27/02/2023 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương và phổ biến tóm tắt mục đích, yêu cầu, nội dung kế hoạch thanh tra; nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng Đoàn Thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra, quyền và nghĩa vụ của Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Điển; thống nhất lịch làm việc với Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Điển. Đại diện Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Điển báo cáo về tình hình tổ chức và hoạt động của Văn phòng theo yêu cầu của Đoàn Thanh tra. 

      Sau khi kết thúc việc công bố Quyết định thanh tra, Đoàn Thanh tra tiến hành thanh tra trực tiếp tại Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Điển theo kế hoạch./.

FalseThanh Tra Sở
Công bố Kết luận thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực công chứng, chứng thực đối với Văn phòng công chứng Nguyễn Văn LúpThông tinTinCông bố Kết luận thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực công chứng, chứng thực đối với Văn phòng công chứng Nguyễn Văn Lúp/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
2/20/2023 10:00 AMNoĐã ban hành

          Thực hiện Quyết định số 125/QĐ-STP ngày 30/9/2022 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực công chứng, chứng thực đối với Văn phòng công chứng Nguyễn Văn Lúp, Giám đốc Sở Tư pháp đã ban hành Kết luận thanh tra số 224/KL-STP ngày 10/02/2023. Để việc công bố Kết luận thanh tra thực hiện đúng quy định của pháp luật, Giám đốc Sở Tư pháp ủy quyền cho Trưởng Đoàn thanh tra theo Quyết định số 125/QĐ-STP ngày 30/9/2022 tổ chức việc công bố Kết luận thanh tra số 224/KL-STP ngày 10/02/2023.

         Ngày 17/02/2023, tại trụ sở Văn phòng công chứng Nguyễn Văn Lúp, Đoàn Thanh tra đã tiến hành công bố Kết luận thanh tra. Bà Ngô Thùy TrangChánh Thanh tra Sở Tư pháp, Trưởng Đoàn Thanh tra thông qua toàn văn nội dung Kết luận thanh tra số 224/KL-STP ngày 10/02/2023 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực công chứng, chứng thực đối với Văn phòng công chứng Nguyễn Văn Lúp.

          Ông Nguyễn Văn Lúp - Trưởng Văn phòng công chứng Nguyễn Văn Lúp thống nhất với nội dung Kết luận thanh tra số 224/KL-STP. Văn phòng tổ chức rút kinh nghiệm, chấn chỉnh, tiếp tục thực hiện khắc phục những thiếu sót mà Kết luận thanh tra đã chỉ ra và báo cáo kết quả thực hiện bằng văn bản về Sở Tư pháp theo quy định./.

FalseThanh Tra Sở
Kết quả thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực công chứng, chứng thực đối với Văn phòng công chứng Nguyễn Văn LúpKết luận thanh traTinKết quả thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực công chứng, chứng thực đối với Văn phòng công chứng Nguyễn Văn Lúp/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
2/13/2023 9:00 AMNoĐã ban hành

​      Thực hiện Quyết định số 125/QĐ-STP ngày 30/9/2022 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực công chứng, chứng thực đối với Văn phòng công chứng Nguyễn Văn Lúp, Đoàn Thanh tra đã tiến hành thanh tra đối với Văn phòng công chứng Nguyễn Văn Lúp. ​​Ngày 10/02/2023​, Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương ban hành Kết luận thanh tra số 224/KL-STP.

      Tại Kết luận thanh tra, Giám đốc Sở Tư pháp ghi nhận những ưu điểm, kết quả Văn phòng công chứng Nguyễn Văn Lúp đã đạt được, Văn phòng cơ bản chấp hành tốt quy định của Luật Công chứng năm 2014, các văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động công chứng, chứng thực và các văn bản pháp luật khác, góp phần phục vụ tốt yêu cầu công chứng của cá nhân, tổ chức có nhu cầu.​ Tuy nhiên, bên cạnh đó Văn phòng công chứng Nguyễn Văn Lúp còn một số hạn chế, sai sót trong hoạt động công chứng như:

        - Về đăng báo nội dung đăng ký hoạt động của Văn phòng: Theo các giấy tờ, tài liệu về đăng báo do Văn phòng cung cấp thì chưa thể hiện rõ số lần đăng báo và nội dung đăng báo theo quy định tại Điều 26 Luật Công chứng năm 2014, vi phạm quy định về xử phạt vi phạm hành chính quy định tại điểm b khoản 1 Điều 16 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 của Chính phủ.

        - Về thu thù lao công chứng hợp đồng, giao dịch

     + Thu thù lao công chứng thấp hơn mức thù lao đã niêm yết tại trụ sở Văn phòng, vi phạm quy định tại Điều 8 Thông tư số 11/2012/TT-BTP ngày 30/10/2012 của Bộ Tư pháp ban hành Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng.

      + Thu thù lao công chứng cao hơn mức thù lao đã niêm yết tại trụ sở Văn phòng: Sau khi Đoàn thanh tra có biên bản về kết quả thanh tra, Văn phòng đã thực hiện khắc phục, Văn phòng đã chuyển trả số tiền thu cao hơn mức trần cho người yêu cầu công chứng (có chứng từ nộp số tiền thu cao hơn mức trần vào tài khoản của người yêu cầu công chứng).

        - Về thủ tục công chứng hợp đồng, giao dịch

       + Có trường hợp công chứng Văn bản thỏa thuận phân chia di sản, tại thời điểm thanh tra, thành phần hồ sơ công chứng chưa đảm bảo theo quy định tại khoản 2 Điều 57 Luật Công chứng năm 2014. Sau khi được thanh tra, Văn phòng đã khắc phục bằng cách bổ sung hồ sơ theo quy định.

       + Về xác định tài sản riêng: Có trường hợp công chứng Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất cấp cho hộ. Tuy nhiên, căn cứ để công chứng viên xác định di sản thừa kế là tài sản riêng chưa đảm bảo theo quy định pháp luật (căn cứ văn bản cam kết tài sản riêng của thành viên hộ gia đình sử dụng đất để xác định tài sản riêng).

        + Về nội dung hợp đồng, giao dịch:

        * Công chứng viên chứng nhận: Văn bản cam kết về tài sản số công chứng 7007 ngày 14/5/2022, thể hiện thành viên hộ gia đình sử dụng đất cam kết không có công sức đóng góp nào đối với việc tạo lập quyền sử dụng đất cấp cho hộ là chưa phù hợp theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013.

       * Có một trường hợp, công chứng viên của Văn phòng chứng nhận Văn bản chuyển nhượng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở chưa phù hợp theo quy định tại Điều 188 Luật Đất đai năm 2013. Sau khi được thanh tra, Văn phòng đã khắc phục, Văn phòng cung cấp Văn bản sửa đổi, bổ sung theo quy định.

       + Về lời chứng của công chứng viên: Lời chứng của công chứng viên không ghi nhận đầy đủ việc điểm chỉ của người yêu cầu công chứng theo quy định tại Điều 46 Luật Công chứng, vi phạm quy định về xử phạt vi phạm hành chính quy định tại điểm e khoản 3 Điều 15 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 của Chính phủ.

      + Về sửa lỗi kỹ thuật: Có trường hợp công chứng viên sửa lỗi kỹ thuật bằng cách ghi bổ sung thông tin của người yêu cầu công chứng là chưa phù hợp theo quy định pháp luật tại khoản 1 Điều 50 Luật Công chứng năm 2014, vi phạm quy định về xử phạt vi phạm hành chính quy định tại điểm c khoản 2 Điều 15 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 của Chính phủ.

       - Về lưu trữ hồ sơ: Hồ sơ công chứng văn bản khai nhận di sản không lưu Trích lục khai tử của người để lại di sản. Sau khi được thanh tra, Văn phòng mới lưu bổ sung bản photo Trích lục khai tử là chưa đảm bảo về chế độ lưu trữ theo quy định tại Điều 63, 64 Luật Công chứng năm 2014, vi phạm quy định về xử phạt vi phạm hành chính quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 16 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 của Chính phủ.

       Giám đốc Sở Tư pháp yêu cầu Văn phòng công chứng Nguyễn Văn Lúp tổ chức rút kinh nghiệm, chấn chỉnh, tiến hành các biện pháp cần thiết để khắc phục kịp thời những sai sót, vi phạm mà Kết luận thanh tra đã chỉ ra, và báo cáo kết quả thực hiện Kết luận thanh tra bằng văn bản về Sở Tư pháp trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được Kết luận thanh tra; cần tăng cường nghiên cứu quy định pháp luật có liên quan và kiểm tra kỹ hồ sơ công chứng và nội dung hợp đồng, giao dịch trước khi thực hiện, đảm bảo hồ sơ công chứng và nội dung của hợp đồng, giao dịch  nhằm hạn chế tranh chấp có thể phát sinh; thu đúng, thu đủ thù lao công chứng theo Quyết định số 04/2015/QĐ-UBND ngày 26/02/2015 của UBND tỉnh về việc ban hành mức trần thù lao công chứng và thù lao dịch thuật trên địa bàn tỉnh Bình Dương đã được niêm yết; hồ sơ công chứng phải lưu đầy đủ các giấy tờ, tài liệu có liên quan.

        Đối với Thanh tra Sở, Phòng chuyên môn của Sở Tư pháp, Giám đốc Sở yêu cầu Phòng Bổ trợ tư pháp tiếp tục theo dõi sát tình hình hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng, kịp thời tham mưu, đề xuất các giải pháp chấn chỉnh nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác quảnnhà nước đối với lĩnh vực này; Thanh tra Sở theo dõi việc thực hiện Kết luận thanh tra của Văn phòng công chứng Nguyễn Văn Lúp và xử phạt các hành vi vi phạm theo quy định. Qua công tác thanh tra, tham mưu Giám đốc Sở kiến nghị Bộ Tư pháp hướng dẫn việc công chứng hợp đồng, giao dịch liên quan đến hộ gia đình sử dụng đất./.

Nội dung chi tiết xem tại file đính kèm KL_224_TTR.signed.pdf

FalseThanh Tra Sở
Luật Thanh tra năm 2022Văn bản QPPLLuật Thanh tra năm 2022/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
1/31/2023 3:00 PMNoĐã ban hànhFalseThanh Tra Sở
Thông tư số 06/2021/TT-TTCP quy định về tổ chức, hoạt động của Đoàn Thanh tra và trình tự, thủ tục tiến hành một cuộc thanh traVăn bản QPPLThông tư số 06/2021/TT-TTCP quy định về tổ chức, hoạt động của Đoàn Thanh tra và trình tự, thủ tục tiến hành một cuộc thanh tra/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
1/27/2023 10:00 PMNoĐã ban hànhFalseThanh Tra Sở
Thông tư số 07/2021/TT-TTCP quy định về thẩm quyền, nội dung thanh tra trách nhiệm thực hiện pháp luật về thanh tra, tiếp công dân, khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũngVăn bản QPPLThông tư số 07/2021/TT-TTCP quy định về thẩm quyền, nội dung thanh tra trách nhiệm thực hiện pháp luật về thanh tra, tiếp công dân, khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
1/27/2023 10:00 PMNoĐã ban hànhFalseThanh Tra Sở
Kế hoạch thanh tra năm 2023 của Sở Tư phápThông tinTinKế hoạch thanh tra năm 2023 của Sở Tư pháp/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
1/4/2023 3:00 PMNoĐã ban hành

Căn cứ Luật Thanh tra năm 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành, ngày 12/12/2021, Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương ban hành Quyết định số 168/QĐ-STP phê duyệt Kế hoạch thanh tra năm 2023 của Sở Tư pháp. Kế hoạch thanh tra năm 2023 đã nêu rõ mục đích, yêu cầu, cụ thể như sau:

1. Hoạt động thanh tra đảm bảo có trọng tâm, trọng điểm, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và phát triển kinh tế, xã hội của các cấp, các ngành. Đổi mới phương pháp, cách thức xây dựng kế hoạch thanh tra, tiến hành thanh tra, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động thanh tra. Tăng cường thanh tra trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, thanh tra việc chấp hành các quy định pháp luật tập trung vào các lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực, đơn thư; thanh tra đột xuất khi phát hiện dấu hiệu vi phạm pháp luật. Kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện kết luận thanh tra; nâng cao chất lượng kết luận thanh tra, đảm bảo chặt chẽ, khách quan, kịp thời và khả thi; xử lý nghiêm minh, kịp thời, đúng pháp luật đối với tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật, tiêu cực, tham nhũng. Thực hiện nghiêm các Nghị quyết của Chính phủ, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, văn bản chỉ đạo của Bộ Tư pháp, UBND tỉnh liên quan đến hoạt động thanh tra.

2. Nâng cao trách nhiệm trong công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, góp phần ổn định tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, phục vụ nhiệm vụ phục hồi và phát triển kinh tế. Triển khai thực hiện nghiêm túc các chủ trương, pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, giúp Giám đốc Sở Tư pháp nắm rõ tình hình khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý của Sở Tư pháp; giải quyết kịp thời, hiệu quả, đúng pháp luật đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân.

3. Xác định phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là nhiệm vụ trọng tâm trong lãnh đạo, điều hành, thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Triển khai đồng bộ, có hiệu quả các giải pháp phòng ngừa, phát hiện và xử lý tham nhũng, thu hồi tài sản tham nhũng theo quy định pháp luật. Quan tâm triển khai các quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng để nâng cao nhận thức của công chức, viên chức, người lao động của Sở.

4. Nâng cao năng lực và đổi mới cách thức chỉ đạo, điều hành để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, xây dựng đội ngũ cán bộ thanh tra đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.​

Theo Kế hoạch thanh tra năm 2023 được ban hành kèm theo Quyết định số 168/QĐ-STP thì ngoài thanh tra hành chính, thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng đối với đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở, trong năm 2023, Sở tiếp tục tăng cường thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực công chứng, chứng thực, đấu giá tài sản, thừa phát lại, luật sư, hộ tịch, hộ tịch có yếu tố nước ngoài​, nuôi con nuôi; kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra. Bên cạnh đó, Đoàn thanh tra đột xuất của Sở sẽ được tiến hành khi có một trong các căn cứ: Theo yêu cầu của Giám đốc Sở Tư pháp; khi phát hiện cơ quan, tổ chức, cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật; yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng.

Tại Quyết định phê duyệt Kế hoạch thanh tra, Giám đốc Sở đã giao Thanh tra Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với các phòng chuyên môn của Sở và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan triển khai thực hiện Kế hoạch thanh tra năm 2023 theo quy định của pháp luật./.​

Nội dung chi tiết xem tại file đính kèm QD_168_TTR.signed.pdf

 ​

FalseThanh Tra Sở
1 - 30Next
Ảnh
Video
Audio