Công tác xây dựng
 
​       "Tài liệu hướng dẫn về nghiệp vụ đánh giá tác động của chính sách" được xây dựng với mục tiêu hướng dẫn phương pháp thực hiện nội dung đánh giá tác động của chính sách theo các quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban ...
 
​Đặt vấn đềĐể tăng cường đổi mới công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, ngày 24/5/2005, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 48-NQ/TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 (Nghị quyết số 48-NQ/TW). Nghị quyết là văn kiện đầu tiên của Đảng chuyên sâu về công tác pháp luật, với mục ...
​     Ngày 25 tháng 11 năm 2019, Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 và Luật Viên chức số 58/2010/QH12. Theo đó, từ ngày 01/7/2020 một số điểm mới của Luật Cán bộ, công chức được sửa đổi, bổ sung, cụ thể như sau:     1. Thu hẹp đối tượng là công chức     Theo quy định của ...
 
1. Nghị định 49/2020/NĐ-CP ngày 17/4/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thi hành án hình sự về tái hòa nhập cộng đồng.2. Nghị định 50/2020/NĐ-CP ngày 20/4/2020 của Chính phủ quy định về tiếp nhận, quản lý và sử dụng viện trợ quốc tế khẩn cấp để cứu trợ và khắc phục hậu quả thiên tai.3. Nghị định 52/2020/NĐ-CP ngày 27/4/2020 của Chính phủ về đầu tư xây dựng và kinh doanh sân gôn.4. ...
 
Tại phiên họp chiều 10/6, với 94% đại biểu tán thành, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2021, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2020.
​Ngày 04 tháng 6 năm 2020, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Quyết định quy định Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương. Quyết định này thay thế Quyết định số 40/2016/QĐ-UBND ngày 13/10/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc ban hành Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức ...
 
​Ngày 10/06/2020, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương ban hành Báo cáo số 69/BC-STP về Kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 05 năm 2016 – 2020 và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 05 năm 2021 - 2025​BC_69_STP_XDVB.signed.pdf
 
TTĐT - Sáng 08-6, tại Trung tâm Hành chính tỉnh Bình Dương, ông Trần Thanh Liêm – Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì Phiên họp UBND tỉnh thông qua các báo cáo, Tờ trình và dự thảo Nghị quyết trình kỳ họp HĐND tỉnh vào giữa năm 2020.
 
​Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, nghị định có một vị trí, vai trò khá đặc biệt. Cùng với các loại văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) khác (như luật, pháp lệnh, thông tư…), nghị định đã cung cấp các quy định điều chỉnh trên hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội. Với phương châm xây dựng Chính phủ kiến tạo, phát triển, Chính phủ và từng thành viên Chính phủ đã dành nhiều thời gian cho công ...
 
      Theo đó, điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh quy định tại khoản 1 Điều 19 của Luật Thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 26/2012/QH13 như sau:      1. Mức giảm trừ đối với đối tượng nộp thuế là 11 triệu đồng/tháng (132 triệu đồng/năm);      2. Mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 4,4 triệu ...
 
 
  
Phân loại
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Nội dung
  
  
Quy định mức thu, nộp phí trong lĩnh vực y tếNewThông tinTinQuy định mức thu, nộp phí trong lĩnh vực y tế/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
7/14/2020 11:00 AMNoĐã ban hành

​     Ngày 08/7/2020, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 64/2020/TT-BTC về việc quy định mức thu, nộp phí trong lĩnh vực y tế. Theo đó, tổ chức, cá nhân phải nộp Phí thẩm định cấp tiếp nhận, nhập khẩu, xuất khẩu, xác nhận trong lĩnh vực chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn trong gia dụng và y tế; Phí thẩm định hoạt động, tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề thuộc lĩnh vực y tế bằng 70% mức thu phí quy định tại Điều 1 Thông tư số 11/2020/TT-BTC ngày 20 tháng 02 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 278/2016/TT-BTC ngày 14 tháng 11 năm 2016 quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí trong lĩnh vực y tế. Bên cạnh đó nộp phí bằng 70% mức thu phí quy định tại Phần II; Phần III; các Mục 2, 3, 5, 6, 7, 8 và 9 Phần IV; Phần V Biểu mức thu phí trong lĩnh vực y tế ban hành kèm theo Thông tư số 278/2016/TT-BTC ngày 14 tháng 11 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí trong lĩnh vực y tế.

     Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2021 trở đi, nộp phí trong lĩnh vực y tế theo quy định tại Điều 1 Thông tư số 11/2020/TT-BTC và Biểu mức thu phí trong lĩnh vực y tế ban hành kèm theo Thông tư số 278/2016/TT-BTC.

     Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 08/7/2020 đến hết ngày 31/12/2020./.​

Thongtu64.2020.pdf

FalseHuỳnh Hữu Tốt
Tập huấn về đánh giá tác động và phản biện chính sách, đánh giá tác động của chính sách về xã hội, về giớiThông tinTinTập huấn về đánh giá tác động và phản biện chính sách, đánh giá tác động của chính sách về xã hội, về giới/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Trong 02 ngày (02-03/7/2020), tại Hà Nội, được sự hỗ trợ của Dự án GIZ Mục tiêu Xã hội trong Tăng trưởng xanh bền vững tại Việt Nam, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tổ chức Hội nghị tập huấn về một số nghiệp vụ pháp chế với chủ đề “Đánh giá tác động và phản biện chính sách, đánh giá tác động của chính sách về xã hội, về giới” cho đại diện một số tổ chức pháp chế Bộ, ngành, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp ở Trung ương. Ông Michael Krakowski, Giám đốc Chương trình Cải cách kinh tế vĩ mô/Tăng trưởng xanh GIZ; ông Nguyễn Hồng Tuyến, Vụ trưởng Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật (Bộ Tư pháp) và ông Ngô Hoàng, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đồng chủ trì Hội nghị.
7/7/2020 4:00 PMNoĐã ban hành

​​Phát biểu khai mạc Hội nghị, ông Nguyễn Hồng Tuyến, Vụ trưởng Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật (Bộ Tư pháp) cho biết, thực hiện quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, thời gian qua công tác tham gia, góp ý của các Bộ, ngành, đặc biệt là các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp đối với các chính sách trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật còn nhiều bất cập, khó khăn, vướng mắc. Thấy được tồn tại đó, Bộ Chính trị đã chỉ đạo tại Thông báo số 160-TB/TW về việc xem xét bổ sung quy định về công tác phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vào dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị, nội dung phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã được thể chế hóa đầy đủ tại Điều 6 về tham gia góp ý kiến xây dựng văn bản và thực hiện phản biện xã hội đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây cũng là lần đầu tiên phản biện xã hội được coi là một quy trình trong quá trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đảm bảo thống nhất với Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Luật sửa đổi, bổ sung Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã  được Quốc hội thông qua vào ngày 18/6/2020 vừa qua tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV.


Tại Hội nghị tập huấn, các đại biểu đã được nghe các chuyên gia trình bày về một số vấn đề pháp lý liên quan đến việc tham gia góp ý của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp vào quá trình xây dựng chính sách pháp luật và đánh giá tác động chính sách trên khía cạnh kinh tế, xã hội, hệ thống pháp luật, giới và thủ tục hành chính. Bên cạnh đó, các đại biểu cũng tập trung thảo luận theo Tổ về các ví dụ thực hành và chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn của việc tham gia góp ý vào quá trình xây dựng chính sách pháp luật và đánh giá tác động chính sách trên khía cạnh này tại cơ quan, đơn vị mình.
 
Hội nghị tập huấn về đánh giá tác động và phản biện chính sách, đánh giá tác động của chính sách về xã hội, về giới này chính là bước chuẩn bị căn bản, chuyên sâu, là cơ hội tốt để góp phần nâng cao năng lực cho người làm công tác pháp chế tại tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp về các nghiệp vụ đánh giá tác động chính sách và phản biện chính sách, đặc biệt là phản biện xã hội để các đại biểu có thể vận dụng, triển khai việc góp ý, phản biện thật tốt các văn bản quy phạm pháp luật ngay sau khi Luật sửa đổi, bổ sung Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2021./.
Nguồn: Bộ Tư pháp​
FalseLê Thị Phương
Không cải chính nội dung trên giấy tờ hộ tịch đã được cấp hợp lệ nhằm hợp thức hóa thông tin trên hồ sơ, giấy tờ cá nhân khácThông tinTinKhông cải chính nội dung trên giấy tờ hộ tịch đã được cấp hợp lệ nhằm hợp thức hóa thông tin trên hồ sơ, giấy tờ cá nhân khác/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
7/6/2020 2:00 PMNoĐã ban hành

      Đó là một trong những nội dung mới được quy định tại Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch.

Theo đó, việc cải chính hộ tịch chỉ được giải quyết sau khi xác định có sai sót khi đăng ký hộ tịch; không cải chính nội dung trên giấy tờ hộ tịch đã được cấp hợp lệ nhằm hợp thức hóa thông tin trên hồ sơ, giấy tờ cá nhân khác. Sai sót trong đăng ký hộ tịch là sai sót của người đi đăng ký hộ tịch hoặc sai sót của cơ quan đăng ký hộ tịch (Điều 17 Thông tư số 04/2020/TT-BTP).

      Ngoài ra, Thông tư số 04/2020/TT-BTP còn quy định chi tiết một số điều của Luật hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP về việc ủy quyền đăng ký hộ tịch; việc tiếp nhận hồ sơ, trả kết quả đăng ký hộ tịch; trình tự, thủ tục đăng ký khai sinh, kết hôn, khai tử, nhận cha, mẹ, con và một số việc hộ tịch khác; việc đăng ký khai sinh, kết hôn, khai tử lưu động; ban hành, hướng dẫn sử dụng, quản lý Sổ hộ tịch, giấy tờ hộ tịch.

      Hồ sơ yêu cầu đăng ký hộ tịch do cơ quan đăng ký hộ tịch tiếp nhận trước ngày Thông tư này có hiệu lực mà chưa giải quyết xong thì tiếp tục được giải quyết theo quy định của Thông tư số 15/2015/TT-BTP. Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn, Sổ hộ tịch theo mẫu ban hành kèm theo Thông tư số 15/2015/TT-BTP đang sử dụng tại các cơ quan đăng ký hộ tịch được tiếp tục sử dụng đến hết ngày 31/12/2020.  Các trường hợp yêu cầu đăng ký hộ tịch khác tiếp nhận kể từ thời điểm Thông tư có hiệu lực thi hành được cấp giấy tờ hộ tịch theo mẫu ban hành kèm theo Thông tư này.

      Thông tư này có hiệu lực từ ngày 16/7/2020 và thay thế Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch./.

     file đính kèm: Thongtu04.pdf

FalseHuỳnh Hữu Tốt
Một số nội dung nổi bật tại Nghị định số 45/2020/NĐ-CP ngày 08/4/2020 của Chính phủ về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tửThông tinMột số nội dung nổi bật tại Nghị định số 45/2020/NĐ-CP ngày 08/4/2020 của Chính phủ về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/25/2020 3:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 08/4/2020, Chính phủ ban hành Nghị định số 45/2020/NĐ-CP về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 22/5/2020.
       Nghị định này quy định về trình tự thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử.Cụ thể, công dân, tổ chức có thể đăng ký tài khoản thực hiện thủ tục hành chính và hồ sơ điện tử thực hiện thủ tục hành chính, yêu cầu cấp bản sao điện tử có giá trị pháp lý, thanh toán trực tuyến nghĩa vụ tài chính trong giải quyết thủ tục hành chính và nhận kết quả giải quyết thủ tục hành chính theo quy định tại văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành, đồng thời nhận kết quả giải quyết thủ tục hành chính bản điện tử.

Kết quả giải quyết thủ tục hành chính bản điện tử của cơ quan có thẩm quyền có giá trị pháp lý như kết quả giải quyết thủ tục hành chính bằng văn bản giấy. Nghị định còn quy định quyền, nghĩa vụ và các hành vi không được làm của tổ chức, cá nhân có yêu cầu thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử;  trách nhiệm và hành vi không được làm của cán bộ, công công chức, viên chức tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường điện tử./.

                                                                                    Huỳnh Hữu Tốt

45.signed.pdf

FalseHuỳnh Hữu Tốt
Sửa đổi, bổ sung Nghị định về quản lý, phát triển cụm công nghiệpThông tinTinSửa đổi, bổ sung Nghị định về quản lý, phát triển cụm công nghiệp/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/24/2020 5:00 PMNoĐã ban hành

Chính phủ vừa mới ban hành Nghị định số 66/2020/NĐ-CP ngày 11 tháng 6 năm 2020 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2017/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2017 của Chính phủ về quản lý, phát triển cụm công nghiệp. Theo đó, về phạm vi điều chỉnh, Nghị định này quy định về phương án phát triển cụm công nghiệp; thành lập, mở rộng cụm công nghiệp; đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật và sản xuất kinh doanh trong cụm công nghiệp; chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển cụm công nghiệp và quản lý nhà nước đối với cụm công nghiệp.

Ngoài ra, Nghị định số 66/2020/NĐ-CP còn sửa đổi, bổ sung một số nội dung về: Phương án phát triển cụm công nghiệp; Xây dựng, tích hợp phương án phát triển cụm công nghiệp vào quy hoạch tỉnh; Cơ sở điều chỉnh phương án phát triển cụm công nghiệp; Nội dung báo cáo điều chỉnh phương án phát triển cụm công nghiệp; Xây dựng, tích hợp điều chỉnh phương án phát triển cụm công nghiệp vào điều chỉnh quy hoạch tỉnh; Điều kiện thành lập, mở rộng cụm công nghiệp; Chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp; Quyền hạn, trách nhiệm của Bộ Công Thương; Quyền hạn, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Đồng thời, thay đổi cụm từ "quy hoạch" bằng cụm từ "phương án phát triển", "xây dựng phương án phát triển" và "phương án phát triển cụm công nghiệp" tại một số khoản, Điều và Chương của Nghị định số 68/2017/NĐ-CP cho phù hợp với quy định của Luật Quy hoạch và Nghị quyết số 751/2019/UBTVQH14 ngày 16/8/2019 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội giải thích một số điều của Luật Quy hoạch.

Quy hoạch phát triển cụm công nghiệp trên địa bàn cấp tỉnh đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt trước ngày 01 tháng 01 năm 2019, trong quá trình thực hiện được tiếp tục điều chỉnh, bổ sung theo quy định về quản lý quy hoạch phát triển cụm công nghiệp tại Nghị định số 68/2017/NĐ-CP cho đến khi quy hoạch tỉnh được phê duyệt theo quy định của pháp luật quy hoạch.

Nghị định số 66/2020/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/8/2020./.


Nghidinh66-2020.pdf    

                                                                                 Huỳnh Hữu Tốt

FalseHuỳnh Hữu Tốt
Từ 1-7- 2020, nhiều chính sách mới liên quan đến cán bộ, công chức, viên chức có hiệu lựcThông tinTinTừ 1-7- 2020, nhiều chính sách mới liên quan đến cán bộ, công chức, viên chức có hiệu lực/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
NLĐO) - Từ ngày 1-7-2020, có nhiều thay đổi lớn liên quan đến tiền lương, việc làm của cán bộ, công chức, viên chức
6/24/2020 9:00 AMNoĐã ban hành

1. Chỉ còn 3 trường hợp viên chức có biên chế suốt đời

Từ 1-7-2020, hợp đồng làm việc không xác định thời hạn chỉ còn được áp dụng với 03 trường hợp sau:

- Viên chức được tuyển dụng trước ngày 1-7-2020.

- Cán bộ, công chức chuyển thành viên chức.

- Người được tuyển dụng làm viên chức làm việc tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Trước đây, theo quy định của Luật viên chức 2010 thì sau khi viên chức đã thực hiện xong hợp đồng xác định thời hạn và tiếp tục ký hợp đồng sẽ được ký hợp đồng không xác định thời hạn (thường gọi là biên chế suốt đời).

2. Kéo dài thời hạn tối đa của hợp đồng làm việc xác định thời hạn với viên chức lên 60 tháng

- Hiện hành: Theo quy định tại Luật viên chức 2010 thì Hợp đồng làm việc xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng.

3. Tốt nghiệp đại học loại xuất sắc có thể được xét tuyển vào công chức

Theo Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức sửa đổi 2019, việc tuyển dụng công chức thông qua xét tuyển được thực hiện theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng công chức đối với từng nhóm đối tượng sau đây:

- Cam kết tình nguyện làm việc từ 05 năm trở lên ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

- Người học theo chế độ cử tuyển theo quy định của Luật giáo dục, sau khi tốt nghiệp về công tác tại địa phương nơi cử đi học.

- Sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, nhà khoa học trẻ tài năng.

Hiện hành, chỉ người có đủ điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 36 Luật Cán bộ, công chức 2008 cam kết tình nguyện làm việc từ 05 năm trở lên ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì mới được tuyển dụng thông qua xét tuyển.- Từ 01/7/2020: Hợp đồng làm việc xác định thời hạn có là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 60 tháng.

4. Sẽ có thêm ngạch công chức mới do Chính phủ quy định

Bổ sung thêm 1 loại ngạch công chức, ngạch này do Chính phủ quy định bên cạnh các ngạch Chuyên viên chính và tương đương, Chuyên viên và tương đương,Cán sự và tương đương, Nhân viên.

5. Luật hóa quy định về tiếp nhận công chức không qua thi tuyển, xét tuyển

- Hiện hành: Luật quy định 2 hình thức là thi tuyển, xét tuyển, Thông tư 03/2019/TT-BNV quy định về tiếp nhận đối với các trường hợp đặc biệt trong tuyển dụng công chức.

- Từ 1-7-2020: Luật quy định hình thức tiếp nhận không thông qua thi tuyển, xét tuyển, cụ thể đối với:

+ Viên chức công tác tại đơn vị sự nghiệp công lập.

+ Cán bộ, công chức cấp xã;

+ Người hưởng lương trong lực lượng vũ trang nhân dân, người làm việc trong tổ chức cơ yếu nhưng không phải là công chức;

+ Tiếp nhận để bổ nhiệm làm công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý đối với 1 số chức vụ được quy định chi tiết tại Điều 37 Luật Cán bộ, công chức 2008 (Đã được sửa đổi, bổ sung).

+ Người đã từng là cán bộ, công chức sau đó được cấp có thẩm quyền điều động, luân chuyển giữ các vị trí công tác không phải là cán bộ, công chức tại các cơ quan, tổ chức khác.

6. Nới lỏng điều kiện xem xét viên chức nghỉ hưu

Về việc xem xét nghỉ hưu của viên chức:

- Hiện hành, Luật viên chức 2010 quy định sẽ không giải quyết nghỉ hưu cho viên chức đang trong thời hạn xử lý kỷ luật, đang bị điều tra, truy tố, xét xử thì từ 1-7-2020, Luật mới đã loại bỏ nội dung "không giải quyết nghỉ hưu" ra khỏi điều luật.

- Khi viên chức bị khiển trách hoặc cảnh cáo vẫn có thể được bổ nhiệm lại nhưng không được bổ nhiệm vào chức vụ cao hơn trong thời hạn 12 tháng. Trong khi, hiện nay đang quy định "không bổ nhiệm trong thời hạn 12 tháng.

Như vậy, khi đang trong thời hạn xử lý kỷ luật, viên chức vẫn được xem xét giải quyết nghỉ hưu và trong thời hạn 12 tháng vẫn có thể được bổ nhiệm lại hoặc bố trí chức vụ thấp hơn.

7. Công khai kết quả đánh giá cán bộ, công chức ở nơi làm việc

Đây là một trong những điểm mới của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức sửa đổi 2019.

Theo đó, kết quả xếp loại chất lượng cán bộ được lưu vào hồ sơ cán bộ, thông báo đến cán bộ được đánh giá và công khai trong cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi cán bộ công tác.

Tong khi theo quy định hiện hành, kết quả chỉ được lưu vào hồ sơ và thông báo đến cán bộ, công chức được đánh giá.

9. Đánh giá viên chức thông qua công việc, sản phẩm cụ thể

Hiện hành,  Điều 41 Luật Viên chức nêu rõ, việc đánh giá viên chức chỉ được xem xét ở kết quả thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ theo hợp đồng làm việc đã ký kết; thái độ phục vụ nhân dân…

Từ 1-7-2020, một trong những nội dung đánh giá công chức đó là đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phải gắn với vị trí việc làm, thể hiện thông qua công việc, sản phẩm cụ thể.

10. Lương cơ sở vẫn giữ mức 1.490.000 đồng/tháng 

Tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV vừa bế mạc, Quốc hội đã quyết định chưa tăng lương cơ sở từ 1.7.2020.

Đồng thời, giao Chính phủ, căn cứ tình hình thực tế để chủ động báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thời điểm điều chỉnh mức lương cơ sở.

Như vậy, từ 1-7-2020, lương cơ sở giữ mức 1.490.000 đồng/tháng theo quy định tại Điều 3 Nghị định 38/2019/NĐ-CP ngày 09/5/2019; với việc mức lương cơ sở giữ nguyên thì các khoản khác tính theo lương cơ sở cũng sẽ giữ nguyên.

11. Sẽ không còn công chức là lãnh đạo đơn vị sự nghiệp công lập nói chung

Theo Luật Cán bộ, công chức 2008 , người làm việc trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập được xem là công chức.

Tuy nhiên, theo Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức sửa đổi 2019 (có hiệu lực từ 1-7-2020) thì khái niệm công chức không còn đối tượng công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội.

T.Ngôn ẢNH: HOÀNG TRIỀU

Nguồn: https://nld.com.vn/cong-doan/tu-1-7-2020-nhieu-chinh-sach-moi-lien-quan-den-can-bo-cong-chuc-vien-chuc-co-hieu-luc-20200623085745459.htm

FalseHuỳnh Hữu Tốt
Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật Thông tin; Tin ngành tư phápTinQuốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật /CMSImageNew/2020-06/18062020quochoithongqualuat_Key_23062020090636.jpg
Tiếp tục Kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XIV, sáng ngày 18/6, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu, Quốc hội biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
6/22/2020 6:00 PMYesĐã ban hành

Kết quả cho thấy, 92,96% đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành với việc thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu nêu rõ: Với đa số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành, Quốc hội chính thức thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Trước đó, Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật do Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội Hoàng Thanh Tùng trình bày nêu rõ: Ngày 22/5/2020, Quốc hội đã thảo luận trực tuyến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Luật BHVBQPPL). Về cơ bản, các vị đại biểu Quốc hội (ĐBQH) tán thành với Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý và nhiều nội dung của dự thảo Luật; đồng thời đóng góp thêm ý kiến về một số điều, khoản cụ thể. Trên cơ sở ý kiến của các vị ĐBQH, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo các cơ quan hữu quan nghiên cứu, tiếp thu để chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo Luật.

Về phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL): Có ý kiến đề nghị quy định rõ hơn về thời gian cơ quan chủ trì soạn thảo gửi văn bản tới Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN) và phạm vi, chủ thể, thời hạn thực hiện phản biện xã hội của MTTQVN để bảo đảm tính khả thi.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội báo cáo như sau: hiện nay, việc phản biện xã hội đối với dự thảo VBQPPL đang được thực hiện theo quy định của Luật MTTQVN. Dự thảo Luật đã tiếp thu, bổ sung quy định về hoạt động phản biện xã hội của MTTQVN và các tổ chức thành viên trong quy trình xây dựng, ban hành VBQPPL tại Điều 6. Các vấn đề về thời gian gửi văn bản, phạm vi, chủ thể, thời hạn phản biện xã hội thuộc trình tự, thủ tục thực hiện phản biện xã hội, hiện đang được quy định tại Nghị quyết liên tịch số 403/2017/NQLT-UBTVQH14-CP-ĐCTUBTWMTTQVN. Do đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin tiếp thu ý kiến của các ĐBQH để chỉ đạo các cơ quan liên quan rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung, quy định rõ trong Nghị quyết liên tịch số 403.

Về việc thẩm tra dự án luật, pháp lệnh: Có ý kiến đề nghị Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội chỉ nên có ý kiến mà không nên quy định trách nhiệm thẩm tra đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh và tham gia thẩm tra dự án, dự thảo thuộc lĩnh vực phụ trách.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội báo cáo: Theo quy định của Hiến pháp và Luật Tổ chức Quốc hội, Hội đồng Dân tộc (HĐDT), Ủy ban của Quốc hội có nhiệm vụ thẩm tra các dự án luật thuộc lĩnh vực phụ trách nhằm bảo đảm tất cả các nội dung liên quan của dự án luật đều được xem xét để báo cáo Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tương tự như vậy, trong việc thẩm tra đề nghị xây dựng luật, ngoài trách nhiệm chung của Ủy ban Pháp luật thì rất cần ý kiến thẩm tra chuyên môn sâu của HĐDT, Ủy ban khác của Quốc hội với vai trò là cơ quan phụ trách lĩnh vực. Đây cũng là sự đổi mới hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội trong công tác lập Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh từ đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV nhằm nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật và đã đạt được những kết quả tích cực. Việc quy định như vậy cũng là nhằm đề cao, làm rõ hơn trách nhiệm của các cơ quan tham gia trong quy trình xây dựng, ban hành luật như yêu cầu của Ban Bí thư tại Thông báo số 26-TB/TW ngày 19/4/2017.

Có ý kiến đề nghị bổ sung vào khoản 1 Điều 64 quy định hồ sơ dự án, dự thảo gửi thẩm tra phải bao gồm "Báo cáo việc bảo đảm chính sách dân tộc, nếu trong dự án, dự thảo có quy định liên quan đến vấn đề dân tộc". Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận thấy, đối với các dự án, dự thảo có quy định liên quan đến vấn đề dân tộc thì việc bảo đảm chính sách dân tộc là nội dung quan trọng, phải được xem xét, đánh giá tác động cùng với các chính sách cơ bản khác ngay từ khi lập đề nghị xây dựng văn bản và được lồng ghép thể hiện trong Báo cáo đánh giá tác động của chính sách, nội dung cơ bản của dự án, dự thảo. Do đó, tiếp thu ý kiến ĐBQH, tại khoản 2 Điều 55 dự thảo Luật đã bổ sung quy định Tờ trình phải thể hiện rõ các nội dung cơ bản của dự án, dự thảo, trong đó bao gồm việc bảo đảm chính sách dân tộc mà không quy định phải có báo cáo riêng.

Về văn bản quy định chi tiết luật, pháp lệnh: Một số ý kiến đề nghị không quy định hồ sơ dự án luật, pháp lệnh phải có dự thảo văn bản quy định chi tiết. Các ý kiến khác đề nghị giữ quy định của Luật hiện hành để bảo đảm việc ban hành văn bản quy định chi tiết được kịp thời, tránh nợ đọng văn bản, bảo đảm luật có hiệu lực là thi hành ngay.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội báo cáo: Luật BHVBQPPL năm 1996 được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2002 đã quy định hồ sơ dự án luật trình Quốc hội phải có dự thảo văn bản quy định chi tiết. Luật BHVBQPPL năm 2008 đã bỏ quy định này. Tuy nhiên, năm 2013, qua giám sát tối cao việc ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành luật, Quốc hội thấy rằng tình trạng nợ đọng, chậm ban hành văn bản quy định chi tiết có xu hướng gia tăng, dẫn đến luật chậm được triển khai thực hiện. Do đó, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 67/2013/QH13 yêu cầu trong hồ sơ dự án luật phải trình kèm theo dự thảo văn bản quy định chi tiết. Quy định này tiếp tục được thể hiện trong Luật BHVBQPPL năm 2015 (khoản 2 Điều 11) và kết quả thực hiện thời gian qua cho thấy hiệu quả rõ rệt. Việc yêu cầu phải có dự thảo văn bản quy định chi tiết kèm theo hồ sơ dự án luật giúp cơ quan soạn thảo, cơ quan trình dự án cũng như các cơ quan của Quốc hội, ĐBQH có cơ sở để xem xét, đánh giá toàn diện các vấn đề được dự kiến điều chỉnh và áp dụng khi luật được ban hành để quyết định việc thông qua, nhất là bảo đảm để các chính sách quy định trong luật được cụ thể hóa một cách nhất quán. Mặt khác, qua xem xét, nghiên cứu dự thảo văn bản quy định chi tiết, Quốc hội đã đưa một số nội dung của văn bản quy định chi tiết thành quy định của luật, bảo đảm luật hóa tối đa để thi hành được ngay khi luật có hiệu lực. Vì vậy, đề nghị Quốc hội cho giữ quy định về vấn đề này như Luật hiện hành. Đồng thời, tiếp thu ý kiến của các vị ĐBQH, đề nghị cơ quan trình, cơ quan soạn thảo thời gian tới cần quan tâm hơn nữa việc chuẩn bị dự thảo văn bản quy định chi tiết nhằm bảo đảm chất lượng văn bản, tránh hình thức, lãng phí.

Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định trường hợp luật giao chính quyền địa phương ban hành văn bản quy định chi tiết thì thời điểm luật có hiệu lực sau khi được ban hành cần dài hơn để chính quyền địa phương có đủ thời gian xây dựng, ban hành văn bản. Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận thấy, các dự thảo luật khi trình Quốc hội đều dự kiến thời gian có hiệu lực, trong đó cơ quan trình đã cân nhắc, tính toán đến việc xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết. Về vấn đề đại biểu nêu, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin được tiếp thu để chỉ đạo các cơ quan trong quá trình soạn thảo, chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo luật cần lưu ý, dự liệu thời điểm có hiệu lực của luật phù hợp hơn, bảo đảm đủ thời gian cho các cơ quan, địa phương thực hiện.

Về quy định thủ tục hành chính trong VBQPPL: Có ý kiến đề nghị quy định Hội đồng Nhân dân (HĐND) cấp tỉnh có thể giao Ủy ban Nhân dân (UBND) cấp tỉnh quy định thủ tục hành chính để tổ chức thực hiện nghị quyết của HĐND trong trường hợp cần thiết.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận thấy, các quy định thủ tục hành chính có tác động trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, do đó về nguyên tắc phải được quy định cụ thể trong luật, trường hợp cần thiết mới quy định trong nghị định của Chính phủ; riêng đối với nghị quyết của HĐND, quyết định của UBND thì chỉ được quy định thủ tục hành chính trong trường hợp được luật giao. Trong sửa đổi Luật lần này, để khắc phục một số vướng mắc đã được nhận diện qua tổng kết thực tiễn, dự thảo Luật đã cho phép HĐND cấp tỉnh được quy định thủ tục hành chính khi ban hành nghị quyết để quy định biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Nếu cho phép HĐND cấp tỉnh tiếp tục "ủy quyền" cho UBND cấp tỉnh quy định thủ tục hành chính để thực hiện nghị quyết của HĐND sẽ mở rộng thêm chủ thể, thêm hình thức văn bản quy định về thủ tục hành chính. Vì vậy, đề nghị Quốc hội cho giữ quy định về vấn đề này như dự thảo Luật.

Về thẩm quyền ban hành VBQPPL của HĐND và UBND cấp huyện, cấp xã (Điều 30): Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định HĐND và UBND cấp huyện, cấp xã được ban hành VBQPPL để quyết định những vấn đề được phân quyền, để thực hiện phân cấp hoặc quy định những biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, đặc điểm riêng của địa phương. Như đã giải trình với Quốc hội tại Báo cáo số 533/BC-UBTVQH14 ngày 20/5/2020, việc chính quyền địa phương cấp huyện, cấp xã ban hành VBQPPL để quyết định những vấn đề đặc thù ở địa phương không phải là phổ biến, chỉ phát sinh ở một số ít địa phương và thực tế đã có giải pháp để xử lý.

Đối với trường hợp luật phân quyền cho chính quyền địa phương cấp huyện, cấp xã, nếu cần thiết ban hành VBQPPL để thực hiện thì luật phải giao cụ thể, do đó đây không phải là vấn đề mới. Riêng trường hợp HĐND, UBND cấp huyện ban hành VBQPPL để phân cấp cho chính quyền địa phương, cơ quan nhà nước cấp dưới theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương thì chưa được quy định trong Luật BHVBQPPL. Vì vậy, tiếp thu ý kiến ĐBQH, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã cho bổ sung quy định chính quyền địa phương cấp huyện được ban hành VBQPPL để phân cấp cho cấp dưới như thể hiện tại Điều 30 của dự thảo Luật.

Về trình tự xem xét, thông qua dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự thảo pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Có ý kiến đề nghị trong trình tự xem xét, thông qua dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết tại một kỳ họp của Quốc hội, một phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần bổ sung quy định về đánh giá tác động đối với chính sách mới do ĐBQH đề nghị bổ sung vào dự án, dự thảo (tương tự như quy trình tại hai kỳ họp).

Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận thấy, thời gian một kỳ họp Quốc hội, một phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thường rất ngắn. Các dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết được trình xem xét, thông qua theo quy trình tại một kỳ họp Quốc hội, một phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ bản đã có sự thống nhất cao về nội dung giữa cơ quan thẩm tra, cơ quan trình và sự đồng thuận của các vị ĐBQH. Trường hợp có chính sách mới quan trọng, được ĐBQH đề xuất, cần đánh giá tác động thì phải có thời gian để thực hiện. Do đó, trong trường hợp này, tiếp thu ý kiến ĐBQH, Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ báo cáo Quốc hội xem xét, cho lùi thời gian thông qua dự án, dự thảo sang kỳ họp sau theo quy trình hai kỳ họp Quốc hội, hoặc quyết định sang phiên họp khác của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Về xây dựng, ban hành thông tư liên tịch (Điều 110): Có ý kiến đề nghị quy định việc đăng tải dự thảo thông tư liên tịch trên cổng thông tin điện tử của các cơ quan cùng tham gia soạn thảo và ban hành văn bản này. Ủy ban Thường vụ Quốc hội báo cáo: đối với văn bản liên tịch, Luật BHVBQPPL quy định giao cho một cơ quan chịu trách nhiệm làm đầu mối, chủ trì soạn thảo và thực hiện các thủ tục cần thiết bao gồm cả việc đăng tải dự thảo trên cổng thông tin điện tử của cơ quan để xin ý kiến. Việc quy định như vậy là để bảo đảm đơn giản về thủ tục, thuận tiện trong tổ chức công việc, tránh một việc do nhiều cơ quan thực hiện, đồng thời rõ ràng về trách nhiệm. Vì vậy, đề nghị Quốc hội cho tiếp tục thực hiện nội dung này như Luật hiện hành.

Về việc đánh giá tác động của chính sách đối với dự thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh (Điều 119): Có ý kiến đề nghị chỉ thực hiện việc đánh giá tác động của chính sách đối với dự thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh có quy định chính sách; bổ sung từ "nếu có" vào cuối khoản 1a Điều 119 và tại một số điều, khoản khác của dự thảo Luật.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận thấy, việc đánh giá tác động của chính sách đối với dự thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh theo quy định của Luật hiện hành được thực hiện từ giai đoạn lập đề nghị xây dựng nghị quyết. Tuy nhiên, qua tổng kết 03 năm thi hành Luật, Chính phủ nhận thấy, quy trình này làm kéo dài thời gian ban hành văn bản, hạn chế khả năng phản ứng nhanh của chính quyền địa phương trong quản lý, điều hành kinh tế - xã hội. Do đó, để phù hợp hơn với điều kiện thực tế, tạo thuận lợi cho địa phương nhưng vẫn bảo đảm chất lượng xây dựng văn bản, dự thảo Luật đã sửa đổi theo hướng chuyển quy trình đánh giá tác động của chính sách từ giai đoạn lập đề nghị sang giai đoạn soạn thảo nghị quyết nhằm xem xét, đánh giá toàn diện các vấn đề trước khi trình cơ quan có thẩm quyền quyết định. Vì vậy, đề nghị Quốc hội cho giữ quy định về vấn đề này trong dự thảo Luật.

Về thẩm định dự thảo nghị quyết do UBND cấp tỉnh trình (Điều 121): Có ý kiến đề nghị nâng thời hạn thẩm định của Sở Tư pháp từ 10 ngày lên thành 15 ngày hoặc quy định kéo dài thời hạn thẩm định trong trường hợp cần thiết. Tiếp thu ý kiến của ĐBQH, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã cho chỉnh lý tăng thời hạn thẩm định của Sở Tư pháp lên 15 ngày, đồng thời tăng thời hạn gửi hồ sơ từ 20 ngày lên 25 ngày trước ngày UBND cấp tỉnh họp như quy định tại Điều 121 của dự thảo Luật. Bên cạnh đó, tại Điều 134 và Điều 139 của dự thảo Luật cũng được điều chỉnh tăng thời hạn thẩm định của Phòng Tư pháp thuộc UBND cấp huyện, thời hạn gửi hồ sơ thẩm định tương ứng để bảo đảm tính thống nhất trong dự thảo Luật.

Về thẩm định dự thảo quyết định của UBND cấp tỉnh (Điều 130): Có ý kiến đề nghị không quy định thành lập hội đồng thẩm định đối với dự thảo quyết định do Sở Tư pháp chủ trì soạn thảo có nội dung đơn giản; đề nghị quy định cụ thể trường hợp có thể không phải thành lập hội đồng thẩm định để thẩm định dự thảo quyết định của UBND cấp tỉnh.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận thấy, theo quy định hiện hành, thẩm định là một khâu bắt buộc trong quy trình xây dựng VBQPPL. Mục đích của hoạt động thẩm định là xem xét, phản biện một cách độc lập đối với dự thảo văn bản để báo cáo cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định việc ban hành. Trách nhiệm thẩm định hiện nay đang được giao cho cơ quan tư pháp, pháp chế ở địa phương. Đối với văn bản do Sở Tư pháp chủ trì soạn thảo, để bảo đảm tính khách quan thì việc thành lập hội đồng thẩm định để tiến hành thẩm định trước khi báo cáo UBND cấp tỉnh là cần thiết. Vì vậy, đề nghị Quốc hội cho phép không sửa đổi quy định này.

Về ngưng hiệu lực của VBQPPL (Điều 153): Có ý kiến đề nghị trong trường hợp không thể triệu tập họp HĐND thì có thể giao Thường trực HĐND ban hành văn bản hành chính để ngưng hiệu lực nghị quyết của HĐND cùng cấp và báo cáo HĐND tại kỳ họp gần nhất.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội báo cáo: việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền tuyên bố một VBQPPL hết hiệu lực thi hành, ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần về nguyên tắc phải do chính cơ quan đã ban hành VBQPPL đó hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp trên thực hiện. Do đó, việc giao Thường trực HĐND ban hành văn bản hành chính để ngưng hiệu lực nghị quyết của HĐND cùng cấp là không phù hợp.

Về xử lý mâu thuẫn, xung đột pháp luật: Có ý kiến đề nghị dự thảo Luật cần cụ thể hóa cơ chế bảo hiến trong Hiến pháp hoặc bổ sung quy định về trách nhiệm của Tòa án nhân dân tối cao trong việc xử lý xung đột, mâu thuẫn trong áp dụng nguyên tắc tại Điều 12 và Điều 156 của Luật BHVBQPPL. Có ý kiến đề nghị tại Điều 156 bổ sung quy định "trường hợp văn bản quy phạm pháp luật ban hành trước có quy định ưu tiên áp dụng pháp luật đối với vấn đề đó thì áp dụng quy định của văn bản ban hành trước".

Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận thấy, nguyên nhân chủ yếu của tình trạng còn xảy ra một số mâu thuẫn, chồng chéo trong quy định giữa các luật là do ngay từ giai đoạn tổng kết, đánh giá, xây dựng dự thảo văn bản mới, các cơ quan liên quan chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm trong việc rà soát, phát hiện và xử lý kịp thời các nội dung có quy định khác nhau trong các văn bản luật ban hành trước. Trong hệ thống pháp luật của chúng ta, nguyên tắc xử lý xung đột đã được thống nhất và áp dụng nhất quán từ Luật BHVBQPPL năm 1996 đến nay là trong trường hợp các VBQPPL do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản ban hành sau. Nếu nay bổ sung nguyên tắc "ưu tiên áp dụng pháp luật" thì sẽ mâu thuẫn với nguyên tắc nêu trên, đồng thời khi có xung đột xảy ra giữa các luật thì không có cơ sở để xác định luật nào được áp dụng. Do đó, để hạn chế và khắc phục tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo ngay từ khâu xây dựng văn bản, tiếp thu ý kiến ĐBQH, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo bổ sung vào dự thảo Luật quy định hồ sơ dự án gửi thẩm định, thẩm tra, trình Quốc hội phải có báo cáo về rà soát các VBQPPL có liên quan đến dự án, dự thảo; đồng thời bổ sung vào khoản 2 Điều 12 quy định "trường hợp VBQPPL đã ban hành có quy định khác với văn bản mới nhưng cần tiếp tục được áp dụng thì phải được chỉ rõ trong văn bản mới đó".

Về đề nghị cụ thể hóa cơ chế bảo hiến và quy định trách nhiệm của Tòa án nhân dân tối cao trong việc xử lý xung đột, mâu thuẫn pháp luật, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận thấy đây là vấn đề hệ trọng, liên quan đến cơ chế phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong thực hiện quyền lực nhà nước, cần được tiếp tục nghiên cứu thận trọng, thấu đáo cả về cơ sở lý luận và thực tiễn trước khi cụ thể hóa thành luật.

Về điều khoản thi hành: Có ý kiến đề nghị không cần thiết phải quy định chuyển tiếp trong dự thảo Luật, vì thời gian chuyển tiếp là rất ngắn và chủ yếu là tăng thêm trách nhiệm cho các cơ quan, về nguyên tắc không được áp dụng trước ngày Luật có hiệu lực. Tiếp thu ý kiến của ĐBQH, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã cho bỏ quy định chuyển tiếp trong dự thảo Luật, bảo đảm thống nhất thực hiện các quy định mới từ ngày Luật có hiệu lực.

Ngoài những vấn đề nêu trên, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo các cơ quan nghiên cứu các ý kiến của ĐBQH để tiếp thu, chỉnh lý nhiều điều, khoản cụ thể trong dự thảo Luật cả về nội dung và kỹ thuật văn bản, bảo đảm phù hợp với yêu cầu thực tế và thống nhất trong dự thảo Luật. Với Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Ủy ban Thường vụ Quốc hội trình Quốc hội xem xét, quyết định./.​

Bích Lan-Hoàng Quỳnh

Nguồn: http://quochoi.vn/tintuc/Pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.aspx?ItemID=46402

FalseĐào Thị Quyên
Bảo đảm tính công khai, minh bạch trong quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật tại Việt NamThông tinBảo đảm tính công khai, minh bạch trong quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/18/2020 3:00 PMNoĐã ban hành

Trong bối cảnh thực hiện chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền và quá trình hội nhập quốc tế, việc bảo đảm công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật ở Việt Nam luôn được coi là một yêu cầu không thể thiếu nhằm đảm bảo nguyên tắc dân chủ trong hoạt động của nhà nước và là yêu cầu bắt buộc đối với Việt Nam theo nhiều điều ước mà Việt Nam là thành viên. Đảm bảo tính công khai, minh bạch có ý nghĩa quan trọng đối với hệ thống pháp luật nói chung và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật nói riêng.
 Với mục tiêu xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, minh bạch, khả thi, dễ tiếp cận, hiệu lực và hiệu quả thì một trong những điều kiện, giải pháp cần thiết và quan trọng là phải bảo đảm tính công khai, minh bạch ngay trong quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Theo đó, bên cạnh việc quy định trình tự, thủ tục chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước với nhau thì cần bảo đảm sự tham gia của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật và quyền tiếp cận của người dân sau khi văn bản được ban hành.

Nhằm tạo khuôn khổ pháp lý thống nhất cho việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam, từ cấp trung ương đến địa phương, ngày 22/6/2015, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016. Luật năm 2015 có nhiều quy định mới mang tính đột phá so với Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004, trong đó có nhiều quy định nhằm bảo đảm tốt hơn yêu cầu công khai, minh bạch trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

1. Bảo đảm tính công khai - quyền được biết và tham gia vào quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Luật năm 2015 đã dành 09 chương (Chương III, IV, V, VI, VII, VIII, IX, X và XI) để quy định trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền từ Quốc hội, Chính phủ đến chính quyền địa phương. Căn cứ vào tính chất quan trọng và phức tạp của mỗi loại văn bản quy phạm pháp luật mà trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành mỗi loại văn bản có những điểm đặc thù riêng. Tuy nhiên, đều được quy định rõ ràng, cụ thể về quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan có liên quan, thời hạn, hồ sơ, cách thức tiến hành xây dựng, xem xét, thông qua văn bản. Theo đó, bảo đảm tính công khai được coi là một trong những yêu cầu xuyên suốt trong quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, bảo đảm sự tham gia các chuyên gia, nhà khoa học trong quá trình lập đề nghị, soạn thảo, thẩm định, thẩm tra dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật

Theo quy định tại Điều 11 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 thì trong quá trình lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan, tổ chức lập đề nghị có thể huy động sự tham gia của các viện nghiên cứu, trường đại học, hội, hiệp hội, tổ chức khác có liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học vào các hoạt động như: (1) Tổng kết, đánh giá tình hình thi hành pháp luật; rà soát đánh giá các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành; (2) Khảo sát, điều tra xã hội học; đánh giá thực trạng quan hệ xã hội có liên quan đến các chính sách trong đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; (3) Tập hợp, nghiên cứu, so sánh tài liệu, điều ước quốc tế có liên quanđến các chính sách trong đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; (4) Đánh giá tác động của chính sách trong đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

Trong giai đoạn soạn thảo, các chuyên gia, nhà khoa học được quy định là thành phần bắt buộc trong Ban soạn thảo, trong Hội đồng thẩm định, Hội đồng tư vấn thẩm định các dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Để bảo đảm tính khả thi của cơ chế huy động chuyên gia, nhà khoa học, Nghị định số 34 đã dành 1 điều (Điều 175) để quy định về điều kiện bảo đảm cho việc sử dụng chuyên gia trong quá trình lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, soạn thảo, thẩm định, thẩm tra dự án, dự thảo văn bản.
Thứ hai, bảo đảm sự tham gia của các cơ quan, tổ chức, cá nhân thông qua việc cho ý kiến đối với dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật

Trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, các cơ quan nhà nước cần phải lấy ý kiến, lắng nghe ý kiến của người dân để bàn bạc, nghiên cứu tiếp thu nhằm làm cho các chính sách được đề xuất sau khi được luật hóa sẽ phù hợp và đáp ứng được yêu cầu của cuộc sống. Sự tham gia này là một trong những điều kiện quan trọng và không thể thiếu giúp bảo đảm tính khả thi của văn bản trong thực tiễn thi hành, bảo đảm pháp luật sát dân, gần dân, phản ánh được ý chí, nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân góp phần bảo đảm hài hòa các quyền, lợi ích trong xã hội.

Luật năm 2015 đã bổ sung những quy định hợp lý hơn về việc lấy ý kiến và tạo điều kiện để nhân dân tham gia xây dựng pháp luật một cách thực chất, hiệu quả hơn như:

-  Quy định việc lấy ý kiến là thủ tục bắt buộc trong cả giai đoạn xây dựng chính sách và giai đoạn soạn thảo đối với tất cả các luật, pháp lệnh, một số loại nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh. Đối với các loại văn bản pháp luật còn lại thì việc lấy ý kiến được thực hiện khi đã có dự thảo văn bản.
- Việc lấy ý kiến được thực hiện với nhiều hình thức đa dạng và trong các giai đoạn khác nhau giúp có cái nhìn toàn diện, khách quan và chính xác nhất về những chính sách trong đề nghị và dự thảo văn bản. Chẳng hạn: dự thảo Luật quy định cần phải đăng tải hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh trên Trang thông tin về xây dựng pháp luật của Chính phủ trong thời gian ít nhất là 30 ngày. Đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, trong trường hợp cần thiết thì tổ chức họp báo thông tin về những chính sách cơ bản trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh để thu hút hơn nữa sự quan tâm của các đối tượng chịu sự tác động. Đối với đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, trong trường hợp cần thiết, cơ quan chủ trì soạn thảo tổ chức đối thoại trực tiếp về chính sách với các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của nghị quyết.

- Quy định trách nhiệm bắt buộc lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp các chính sách trong đề nghị và dự thảo văn bản. (Theo Luật năm 2015 thì đối tượng này là cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm chịu ảnh hưởng trực tiếp từ việc áp dụng văn bản đó sau khi được ban hành).

- Quy định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức được yêu cầu góp ý kiến như quy định trách nhiệm góp ý kiến bằng văn bản về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị định trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị góp ý kiến và trách nhiệm góp ý kiến bằng văn bản về nguồn tài chính, nguồn nhân lực, tác động đối với môi trường, sự tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Với những quy định nêu trên, có thể thấy rằng, việc lấy ý kiến trong Luật năm 2015 đã được sửa đổi khá toàn diện, với nhiều quy định mới, tiến bộ, hợp lý nhằm tăng cường tính dân chủ, phát huy trách nhiệm của công dân cũng như bảo đảm tốt hơn sự tham gia của người dân, doanh nghiệp, tổ chức xã hội trong xây dựng, ban hành văn bản pháp luật. Trong đó, đặc biệt là quy định tổ chức lấy ý kiến những vấn đề lớn về chính sách ngay từ giai đoạn đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trong thời gian ít nhất là 30 ngày và quy định đăng tải báo cáo tiếp thu, giải trình trên trang thông tin điện tử về xây dựng pháp luật của Chính phủ, Cổng thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức lập đề nghị xây dựng văn bản.

Thứ ba, bảo đảm quyền tiếp cận văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân sau khi văn bản được ban hành
Sau khi văn bản quy phạm pháp luật được thông qua hoặc ký ban hành, cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền có trách nhiệm thực hiện một số hoạt động như: công bố văn bản quy phạm pháp luật; đăng Công báo; đăng tải văn bản quy phạm pháp luật trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật và đưa tin trên phương tiện thông tin đại chúng. Các hoạt động nêu trên là hết sức quan trọng, để bảo đảm công khai văn bản với người dân, giúp mọi người biết được quyền, nghĩa vụ của mình để thực hiện cho đúng pháp luật. Cụ thể như sau:

- Luật, pháp lệnh sau khi được Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua phải được Chủ tịch nước công bố (chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày luật, pháp lệnh được thông qua). Đối với nghị quyết của Quốc hội, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, để bảo đảm tính công khai, minh bạch, Luật năm 2015 bổ sung quy định: Tổng thư ký Quốc hội có trách nhiệm công bố chậm nhất là 15 ngày, kể từ ngày nghị quyết được thông qua, trừ nghị quyết được xây dựng, ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn;
- Đăng Công báo văn bản quy phạm pháp luật (trừ văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền cấp huyện, cấp xã). Theo đó, Điều 150 Luật năm 2015 quy định các văn bản quy phạm pháp luật ở trung ương phải được đăng Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền cấp tỉnh và ở đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt phải được đăng Công báo cấp tỉnh. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành, cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải gửi văn bản đến cơ quan Công báo để đăng Công báo.

- Đăng tải văn bản quy phạm pháp luật trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật và đưa tin trên phương tiện thông tin đại chúng. Với mục tiêu tăng cường tính công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật, bảo đảm quyền được thông tin và tiếp cận thông tin của công dân, trong đó có thông tin pháp luật theo quy định của Hiến pháp, ngoài việc công bố và đăng Công báo, Luật năm 2015 còn quy định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc đăng tải văn bản quy phạm pháp luật trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật và đưa tin trên các phương tin thông tin đại chúng.

2. Bảo đảm tính minh bạch - trách nhiệm giải trình, phản hồi của cơ quan chủ trì soạn thảo

Trong thời gian qua, về cơ bản, các cơ quan chủ trì soạn thảo đã bảo đảm sự công khai trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật như việc thực hiện nghiêm túc thủ tục đăng tải dự án, dự thảo để lấy lý kiến; bảo đảm sự tham gia của chuyên gia, nhà khoa học trong quá trình soạn thảo; công bố, đăng công báo văn bản quy phạm pháp luật… Tuy nhiên, nhiều hoạt động còn chưa sát thực tế, mang tính hình thức, chẳng hạn như đăng tải toàn văn dự án, dự thảo văn bản đồ sộ, nhiều thuật ngữ chuyên ngành để lấy ý kiến người dân; cơ quan soạn thảo chưa công khai việc tiếp thu, phản hồi ý kiến góp ý… Để khắc phục những tồn tại, hạn chế nêu trên, góp phần tăng cường hơn nữa tính minh bạch trong quy trình xây dựng văn bản, Luật năm 2015 bổ sung một số quy định như sau:

Thứ nhất, bên cạnh việc đăng tải toàn văn dự thảo văn bản, cơ quan lấy ý kiến cần xác định nội dung lấy ý kiến phù hợp với từng đối tượng lấy ý kiến và xác định cụ thể địa chỉ tiếp nhận ý kiến kiến; tập trung vào những chính sách lớn, quan trọng, trực tiếp ảnh hưởng đến doanh nghiệp, người dân.

Thứ hai, quy định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức lấy ý kiến trong việc phản hồi đối với các ý kiến góp ý, phản biện. Theo đó, cơ quan lấy ý kiến có trách nhiệm tổng hợp, nghiên cứu, tiếp thu, giải trình các ý kiến góp ý và phải đăng tải báo cáo tiếp thu, giải trình trên trên Trang thông tin điện tử của Quốc hội đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh do Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội trình, Trang thông tin điện tử về xây dựng pháp luật đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh do Chính phủ trình, Cổng thông tin điện tử của các cơ quan, tổ chức lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh. Thời gian đăng tải ít nhất là ba mươi ngày để các cơ quan, tổ chức, cá nhân góp ý kiến.

Thứ ba, bảo đảm việc cập nhật dự thảo văn bản mới trong trường hợp dự thảo đã đăng tải để lấy ý kiến có thay đổi về nội dung. Một thời gian dài trước đây, cơ quan chủ trì soạn thảo chỉ đăng một lần dự thảo văn bản để lấy ý kiến. Tiếp thu ý kiến góp ý của cộng đồng doanh nghiệp và nhiều chuyên gia pháp lý, Luật năm 2015 đã có quy định mới trong lĩnh vực này. Cụ thể: trong thời gian dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết đang được lấy ý kiến nếu cơ quan chủ trì soạn thảo chỉnh lý lại dự thảo văn bản mà khác với dự thảo đã đăng tải trước đó thì phải đăng lại dự thảo văn bản đã được chỉnh lý./.

                                                                                                   Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật

Nguồn: https://xdpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/Nghien-cuu-trao-%C4%91oi.aspx?ItemID=17

FalseĐào Thị Quyên
Vướng mắc trong áp dụng văn bản theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015Thông tinVướng mắc trong áp dụng văn bản theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/18/2020 3:00 PMNoĐã ban hành

Áp dụng văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) là một trong những hoạt động quan trọng trong quá trình thực thi pháp luật. Việc áp dụng văn bản QPPL đúng nguyên tắc, phù hợp sẽ dẫn đến kết quả xử lý công việc được chính xác và ngược lại, nếu áp dụng văn bản QPPL sai nguyên tắc thì sẽ dẫn đến sai sót, làm ảnh hưởng đến đối tượng bị áp dụng văn bản QPPL. Do vậy, việc nghiên cứu kỹ các nguyên tắc áp dụng văn bản QPPL là một điều cần thiết đối với các chủ thể áp dụng văn bản QPPL.

Điều 156 Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 quy định việc áp dụng văn bản QPPL như sau:

"1. Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực.

Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trong trường hợp quy định của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó.

2. Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.

3. Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau.

4. Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra, trước ngày văn bản có hiệu lực thì áp dụng văn bản mới.

5. Việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật trong nước không được cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật trong nước và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó, trừ Hiến pháp."

Từ quy định này, có thể hiểu việc áp dụng văn bản QPPL theo nguyên tắc như sau:

Thứ nhất, văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực. Thời điểm có hiệu lực của văn bản được quy định tại Điều 151 của Luật Ban hành văn bản QPPL 2015, cụ thể: thời điểm có hiệu lực của văn bản sẽ được quy định tại văn bản đó nhưng không sớm hơn 45 ngày kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành đối với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước trung ương; không sớm hơn 10 ngày kể từ ngày ký ban hành đối với văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; không sớm hơn 07 ngày kể từ ngày ký ban hành đối với văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã. Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn thì có thể có hiệu lực kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành.

Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trong trường hợp quy định của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó.

Thứ hai, các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn. Việc xác định thứ bậc văn bản QPPL căn cứ vào Điều 4 Luật Ban hành văn bản QPPL, theo đó, thứ tự văn bản từ cao xuống thấp là: Hiến pháp; Bộ luật, luật, nghị quyết của Quốc hội; Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;…Ví dụ: giữa Luật và Pháp lệnh cùng quy định về một vấn đề nhưng có sự khác nhau thì ưu tiên áp dụng Luật.

Trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau.

Thứ ba, trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra, trước ngày văn bản có hiệu lực thì áp dụng văn bản mới.

Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật trong nước và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó, trừ Hiến pháp.
Quá trình thực hiện áp dụng văn bản QPPL cho thấy, Luật Ban hành văn bản QPPL 2015 mới quy định về nguyên tắc áp dụng văn bản trong trường hợp: các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề và các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề. Thực tiễn có trường hợp văn bản QPPL có hiệu lực pháp lý ngang hàng nhau nhưng do hai đơn vị ban hành có sự khác nhau thì ưu tiên áp dụng văn bản QPPL nào lại chưa được quy định. Ví dụ:

Điểm e Khoản 8 Điều 2 Thông tư liên tịch số 06/2015/TTLT-BKHĐT-BNV ngày 03 tháng 09 năm 2015 của Liên bộ Kế hoạch và Đầu tư, Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ban Quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu kinh tế cửa khẩu quy định trách nhiệm của Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh trong việc: Tiếp nhận khai trình việc sử dụng lao động, báo cáo tình hình thay đổi về lao động; nhận thông báo về việc tổ chức làm thêm từ 200 giờ đến 300 giờ trong một năm của doanh nghiệp trong khu công nghiệp, khu kinh tế theo ủy quyền của Sở Lao động Thương binh và Xã hội.
Tuy nhiên, tại Điểm e Khoản 2 Điều 7 Thông tư số 32/2014/TT-BLĐTBXH ngày 01 tháng 12 năm 2014 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn ủy quyền thực hiện một số nhiệm vụ quản lý nhà nước về lao động trong khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế và khu công nghệ cao lại quy định Sở Lao động - Thương binh và Xã hội ủy quyền cho Ban Quản lý khu công nghiệp thực hiện: Nhận thông báo của doanh nghiệp trong khu công nghiệp việc tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm.

Như vậy, hai thông tư cùng quy định về cùng một vấn đề nhưng do hai đơn vị khác nhau ban hành. Trường hợp này chưa có quy định về nguyên tắc áp dụng pháp luật, do đó, thiết nghĩ cần phải có quy định cụ thể hơn để tạo thuận lợi trong quá trình áp dụng các văn bản QPPL./.

 Kim Lân

Nguồn: https://xdpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/Nghien-cuu-trao-%C4%91oi.aspx?ItemID=20

FalseĐào Thị Quyên
Hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luậtThông tinHiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/17/2020 5:00 PMNoĐã ban hành

1. Khái niệm hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật

Hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật là kết quả của sự tác động của văn bản quy phạm pháp luật đến các quan hệ xã hội so với các yêu cầu, mục tiêu khi ban hành văn bản đó. Nếu như hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật thể hiện thuộc tính của các quy phạm pháp luật, thì hiệu quả của một văn bản quy phạm pháp luật lại là những gì mà văn bản đó có thể đem lại trong cuộc sống, là kết quả của sự tương tác giữa pháp luật và xã hội, bởi chức năng chính của pháp luật là điều chỉnh các quan hệ xã hội. Pháp luật hướng cho các chủ thể sống và làm việc một cách hợp tác với nhau, để cùng nhau đạt được những gì họ muốn, vì lợi ích của tất cả thành viên trong xã hội.

Từ một vài năm trở lại đây, việc xem xét, đánh giá một văn bản quy phạm pháp luật không còn dừng lại ở việc đánh giá nó theo các tiêu chí nội tại nữa. Ý nghĩa của sự tồn tại một văn bản quy phạm pháp luật giờ đây còn được xem xét ở một góc độ khác, đó là tính hiệu quả, là kết quả của sự tác động của các quy phạm pháp luật đến các quan hệ xã hội được điều chỉnh, đến các đối tượng được áp dụng. Xu hướng trên xuất phát từ học thuyết về tính kinh tế của pháp luật được các học giả Hoa Kỳ phát triển trong những năm 70 của thế kỷ XX. Thuyết này đề cao vai trò của kinh tế học trong lĩnh vực pháp luật. Những lý thuyết về kinh tế áp dụng trong lĩnh vực pháp luật đã tạo nên xu hướng đánh giá hiệu quả của pháp luật dựa trên các chi phí giao dịch, từ đó hình thành nên lý thuyết về kinh tế học pháp luật. Theo học thuyết này, hiệu quả của quy phạm pháp luật, hay nói rộng ra là của một văn bản quy phạm pháp luật sẽ được đánh giá dưới góc độ các chi phí bỏ ra. Hiệu quả đó tỷ lệ nghịch với chi phí thực hiện. Quy chế càng nặng nề thì càng khó đem lại hiệu quả, bởi nó thường đi liền với hệ thống cơ quan thực thi cồng kềnh, quy trình ra quyết định chậm chạp, thủ tục hành chính phức tạp, tốn kém.

Ở trên thế giới, hiệu quả của một luật được đánh giá căn cứ vào mục tiêu mà các nhà làm luật đặt ra cho luật. Cụ thể, một luật có hiệu quả khi luật đó đạt được các mục tiêu đặt ra. Ở Việt Nam, một khái niệm tương đồng có thể được tìm thấy trong Từ điển Luật học, đó là "hiệu quả của pháp luật". Theo Từ điển Luật học, hiệu quả của pháp luật được hiểu là kết quả cụ thể của sự tác động pháp luật đến các quan hệ xã hội so với mục tiêu, yêu cầu đặt ra khi ban hành pháp luật. Hiệu quả của pháp luật có thể được đánh giá theo từng cấp độ khác nhau: hiệu quả của quy phạm pháp luật, của chế định pháp luật, của ngành luật, của toàn bộ hệ thống pháp luật hoặc nếu phân chia theo hình thức, chúng ta xét đến hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật. Đây cũng là khái niệm mà chúng tôi muốn hướng đến trong phạm vi nghiên cứu này.

Hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật đề cập đến mối quan hệ giữa pháp luật và xã hội. Đây không đơn thuần là vấn đề pháp lý, mà bao trùm cả vấn đề xã hội có liên quan. Pháp luật thuộc phạm trù lý thuyết và xã hội thuộc phạm trù thực tiễn. Pháp luật được hình thành từ nhu cầu thực tiễn, nhưng không phải lúc nào cũng phản ánh đúng thực tiễn. Giữa lý thuyết và thực tiễn luôn tồn tại khoảng cách. Khoảng cách này sẽ ngày càng rộng nếu pháp luật không xuất phát từ nhu cầu của xã hội, không phản ánh đúng các giá trị của cuộc sống. Pháp luật cần phải được đánh giá trong mối quan hệ với hành vi, xử sự của các chủ thể, cũng như trong sự chuyển động và phát triển của xã hội. Sự hình thành, phát triển của pháp luật phải được đánh giá trong một xã hội nhất định, xã hội này quyết định sự tồn tại trong không gian cũng như về thời gian của pháp luật. Chính vì vậy, hiện nay ở các nước có các môn xã hội học pháp luật, kinh tế học pháp luật. Những môn này có mục đích là đề cao các yếu tố kinh tế, xã hội trong việc thực hiện pháp luật, đánh giá sự hình thành và phát triển của pháp luật trong sự phát triển của các hiện tượng xã hội, đặc biệt là của các quan hệ kinh tế, dân sự, chính trị. Do vậy, có thể nói, thực tế chính là thước đo kiểm nghiệm hiệu quả của pháp luật.

Hiệu quả của một văn bản quy phạm pháp luật thể hiện sự phản ánh của dư luận xã hội về văn bản đó. Thực tế, tác động của dư luận xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến ý thức pháp luật, đến tâm lý pháp luật của người dân, từ đó tác động đến hiệu quả của quy phạm pháp luật (1). Văn bản quy phạm pháp luật không hiệu quả sẽ tạo ra khoảng cách giữa pháp luật và người dân. Nếu khoảng cách này càng lớn, thì nguy cơ không tôn trọng pháp luật càng cao, bởi vì một phần họ mất lòng tin vào pháp luật, một phần khác là vì pháp luật không phù hợp với tâm lý pháp lý trực cảm của đa phần dân chúng (2). Như một tác giả đã viết: "Nếu muốn người dân cần đến pháp luật, tức là có nhu cầu đối với pháp luật thì trong tâm thức người dân, pháp luật phải là cách giải quyết được ưu tiên, phải đáp ứng những yêu cầu nhất định, tiếp đến phải làm sao để người dân biết đến pháp luật đó, ở đâu lúc nào, luật nào dùng cho mục đích gì và sẽ được sử dụng như thế nào trên thực tế tại Tòa án ở nước ta'' (3).

Một văn bản quy phạm pháp luật không hiệu quả có thể biểu hiện ở những khía cạnh sau: thứ nhất, văn bản quy phạm pháp luật không thực hiện được mục tiêu mà các nhà làm luật đặt ra khi soạn thảo và ban hành. Ví dụ như mục tiêu của Luật Bảo vệ môi trường là nhằm giảm bớt ô nhiễm môi trường, khắc phục ô nhiễm, suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường. Tuy nhiên, Luật này có thể được xem là chưa hiệu quả khi hiện nay ở Việt Nam, tình trạng ô nhiễm môi trường diễn ra ngày càng nhiều, với mức độ ngày càng nghiêm trọng. Thứ hai, văn bản quy phạm pháp luật tạo ra những tác động không mong muốn đối với xã hội. Thực tế cho thấy, có những văn bản quy phạm pháp luật được ban hành không đạt được mục tiêu được các nhà làm luật đề ra, mà lại dẫn đến một kết quả không mong đợi khác. Ví dụ về quy định cấm họp chợ ở vỉa hè, lòng đường, cấm họp chợ cóc (Nghị định 34/NĐ-CP ngày 2/4/2010 của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ). Quy định này có thể được coi là không hiệu quả khi vẫn xuất hiện tình trạng bán hàng rong. Đấy là những kết quả không mong muốn. Hay trong thời gian gần đây, hiệu quả của pháp luật được quan tâm hơn lúc nào hết qua vụ việc một lái xe tải cố ý cán chết người. Sự việc xảy ra khi lái xe đâm bị thương một cô gái. Sau đó, lái xe đó đã quyết định cán chết cô gái đó. Bởi căn cứ vào quy định của pháp luật, cụ thể là của Bộ luật Dân sự, lái xe gây tai nạn sẽ phải chịu các chi phí bồi thường rất lớn cho nạn nhận bị thương. Do vậy, người lái xe đã cán chết người bị thương để có thể giảm thiểu chi phí đền bù cho gia đình nạn nhân (xem Điều 609, 610 Bộ luật Dân sự). Như vậy, có thể thấy rằng, chính các quy định của pháp luật đã khiến cho người lái xe thay đổi cách xử sự, từ một vụ vô ý gây thương tích dẫn đến cố ý giết người, bởi trách nhiệm dân sự do gây tai nạn chết người lại nhỏ hơn nhiều so với trách nhiệm dân sự do gây thương tích. Trong trường hợp này, hiệu quả của pháp luật dường như đã không được bảo đảm.

Như vậy, hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật chính là tiêu chí cần thiết để đánh giá ý nghĩa của sự tồn tại hay giá trị của văn bản đó. Giá trị của một văn bản quy phạm pháp luật được đánh giá qua những tác động cụ thể của nó vào thực tiễn các quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh và những tác động này được xem xét trong mối tương quan với các mục tiêu đặt ra cho văn bản. Đây là một xu hướng mới trong việc đánh giá và cải cách hệ thống pháp luật.

2. Các yếu tố tạo nên hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật

Để có thể đánh giá được hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật, trước tiên chúng ta cần phải xác định rõ các căn cứ để đánh giá.

Một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu quả khi đạt được những mục tiêu mà các nhà làm luật mong đợi, yêu cầu. Nhưng để có thể đạt được những mục tiêu này, văn bản quy phạm pháp luật đó phải có hiệu lực, có giá trị bắt buộc đối với các chủ thể thuộc đối tượng áp dụng của nó.

a. Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật

Để một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu quả, trước hết nó phải có hiệu lực. Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật là cơ sở nền tảng tạo nên hiệu quả của văn bản. Ngược lại, hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật phản ánh hiệu lực của văn bản đó. Một văn bản quy phạm pháp luật chỉ có hiệu quả khi nó được tuân thủ nghiêm túc.

Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật được hiểu là tính bắt buộc thi hành của văn bản quy phạm pháp luật ở một giai đoạn nhất định, trong một không gian nhất định và đối với những chủ thể pháp luật nhất định (cá nhân, cơ quan, tổ chức). Như vậy, hiệu lực là thuộc tính của văn bản quy phạm pháp luật. Đã là văn bản quy phạm pháp luật thì phải có tính bắt buộc thi hành. Nếu không, văn bản quy phạm pháp luật đó sẽ không còn giá trị tồn tại. Tuy nhiên, trên thực tế, xảy ra tình trạng có những văn bản quy phạm pháp luật, nhưng lại không được các chủ thể tuân thủ. Tình trạng trên xảy ra do nhiều nguyên nhân. Theo chúng tôi, các nguyên nhân này có thể được chia thành hai nhóm sau:

Nhóm thứ nhất xuất phát từ chính các yếu tố nội tại của văn bản quy phạm pháp luật. Đó là các yếu tố liên quan đến chất lượng của các quy phạm pháp luật. Để văn bản quy phạm pháp luật phát huy được hiệu lực, các quy phạm pháp luật phải đáp ứng các yêu cầu về mặt hình thức cũng như nội dung. Tuy nhiên, cũng cần phải khẳng định rằng việc phân biệt giữa mặt nội dung và mặt hình thức chỉ là tương đối, mang giá trị học thuật. Về mặt hình thức, một quy phạm pháp luật dù được soạn thảo đúng quy trình, thủ tục, nhưng không bảo đảm kỹ thuật soạn thảo, (ví dụ không đảm bảo đúng cấu trúc của quy phạm pháp luật, hoặc không rõ ràng về mặt ngữ nghĩa), sẽ khó có thể đem lại hiệu lực mong muốn. Ngược lại, những quy phạm được soạn thảo tốt về mặt kỹ thuật nhưng không được cơ quan có thẩm quyền ban hành thì cũng sẽ không có hiệu lực. Do vậy, văn bản quy phạm pháp luật phải đáp ứng được tính hợp pháp.

Những yêu cầu về mặt nội dung cần phải được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ là những yêu cầu thuần túy về mặt câu từ, ngữ nghĩa, mà cần phải hiểu ở việc tiếp nhận văn bản này từ đối tượng mà nó hướng tới, cũng như tác động của nó đến xã hội. Văn bản quy phạm pháp luật đó cần phải đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước; phải hợp lòng dân, thể hiện ý chí, lợi ích chung của người dân. Đó là tính hợp lý của văn bản quy phạm pháp luật (4). Tính hợp lý của một văn bản quy phạm pháp luật thể hiện ở mức độ phù hợp với thực tiễn hoặc ở mức độ phát sinh các chi phí bất hợp lý cho các đối tượng áp dụng của văn bản đó. Nếu như tính hợp pháp của văn bản quy phạm pháp luật là điều kiện quyết định sự tồn tại của văn bản quy phạm pháp luật, thì tính hợp lý mang lại cho văn bản khả năng thực thi cao. Một văn bản quy phạm pháp luật có tính hợp lý sẽ giúp cho các chủ thể tuân thủ một cách nghiêm túc và tự nguyện, bởi nó không chỉ mang lại lợi ích cho chủ thể mà còn mang lại lợi ích chung cho cả xã hội. Tính hợp lý của văn bản quy phạm pháp luật tuy không phải là yếu tố quyết định việc tuân thủ pháp luật của các chủ thể, nhưng không phải vì thế mà mất đi ý nghĩa quan trọng của nó trong việc đảm bảo tính pháp chế của pháp luật. Trong một đất nước mà nền pháp chế ngày càng được đề cao, thì tính hợp lý của luật ngày càng được coi trọng (5). 

Văn bản quy phạm pháp luật có tính hợp lý khi nó đáp ứng được các yêu cầu sau: Thứ nhất, nó phải xuất phát từ lợi ích thiết thực của xã hội, mà cụ thể là của người dân. Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành là nhằm để giải quyết các vấn đề mà xã hội đặt ra. Do đó, việc ban hành một văn bản quy phạm pháp luật cần phải phù hợp với tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, và lấy lợi ích của người dân, của xã hội, của nhà nước làm nền tảng. Một văn bản quy phạm pháp luật không hợp lý có thể do nhiều nguyên nhân. Một trong những nguyên nhân thường gặp là do kỹ thuật lập pháp còn yếu kém làm cho luật pháp không còn phù hợp với các quan hệ xã hội, với thực tiễn sinh động. Hậu quả là các quy phạm pháp luật đó khó có thể thực hiện trong cuộc sống. Thứ hai, văn bản quy phạm pháp luật phải phù hợp với đối tượng, phải điều chỉnh đúng đối tượng. Nếu văn bản đó luật đó không điều chỉnh đúng đối tượng, sẽ không làm cho đối tượng đó tuân thủ luật một cách tự nguyện. Điều đó gây ảnh hưởng đến hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật. Về mặt lý thuyết, một văn bản quy phạm pháp luật sẽ vẫn luôn tồn tại dù nó không được tuân thủ. Về mặt pháp lý, việc không tuân thủ một quy phạm không thể đưa đến việc hủy bỏ một quy phạm pháp luật. Các quy phạm pháp luật này sau một thời gian dài không được áp dụng trong thực tiễn, vẫn có thể được các chủ thể nhận biết. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, văn bản quy phạm pháp luật đó sẽ không phát huy hiệu lực. Một văn bản quy phạm không có hiệu lực trong một thời gian dài sẽ bị coi như không có giá trị (6). Chỉ khi đối tượng của nó chấp nhận và áp dụng nó trong thực tế, văn bản quy phạm pháp luật mới thực sự phát huy hiệu lực và có giá trị. Tính hợp lý chính là yếu tố tác động trực tiếp đến hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật. Một văn bản quy phạm pháp luật hợp lý sẽ được người dân tuân thủ nghiêm túc và có hiệu lực lâu dài. Có thể lấy ví dụ về Thông tư 33/2012/TT-BNNPTNT ngày 20/7/2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định điều kiện vệ sinh, đảm bảo an toàn thực phẩm đối với cơ sở kinh doanh thịt và phụ phẩm ăn được của động vật ở dạng tươi sống dùng làm thực phẩm. Thông tư này chưa kịp có hiệu lực đã bị thu hồi lại do không đạt được tính hợp lý. Theo quy định của Thông tư 33, thịt tươi sống chỉ được bày bán trong vòng 8 giờ đồng hồ kể từ khi giết mổ nếu được bảo quản ở nhiệt độ thường. Thông tư này bị chỉ trích vì thiếu thực tế, chưa sát với điều kiện thực tế, cũng như chưa chặt chẽ (không nêu rõ được đơn vị nào sẽ chịu trách nhiệm kiểm tra, chế tài xử phạt ra sao,...).

Ngoài ra, hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật sẽ được nâng cao nếu như có nội dung thống nhất với các văn bản quy phạm pháp luật khác trong hệ thống pháp luật. Thực tế cho thấy, có nhiều văn bản quy phạm pháp luật dù đảm bảo tính hợp pháp trong mối quan hệ dọc với Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao hơn nhưng lại có những quy định mâu thuẫn với các văn bản quy phạm pháp luật khác trong mối quan hệ ngang. Những mâu thuẫn thậm chí những quy định trái ngược nhau giữa các văn bản quy phạm pháp luật sẽ tạo nên những xung đột pháp luật gây cản trở cho việc thực thi văn bản luật. Những xung đột pháp luật này sẽ làm ảnh hưởng đến hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật. Do vậy, việc bảo đảm tính thống nhất giữa các văn bản quy phạm pháp luật sẽ giúp cho các văn bản này đạt được hiệu lực cao.

Nhóm nguyên nhân thứ hai xuất phát từ các yếu tố bên ngoài của văn bản quy phạm pháp luật: khả năng tổ chức thực thi của các cơ quan thi hành pháp luật, khả năng tiếp cận pháp luật của các chủ thể, tình trạng tuân thủ pháp luật của các chủ thể, khả năng được xã hội chấp nhận…. Có thể thấy rằng, nghiên cứu mặt bên ngoài của một văn bản quy phạm pháp luật là nghiên cứu ảnh hưởng của văn bản đó đến thái độ của các chủ thể. Một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực khi văn bản đó có giá trị bắt buộc thi hành đối với chủ thể. Sự tuân thủ các quy định của văn bản quy phạm pháp luật được coi là biểu hiện của một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực. Yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự tuân thủ pháp luật của các chủ thể là khả năng tiếp cận thông tin pháp luật của các chủ thể (7). Đó là khả năng nhận thức để có thể viện dẫn các quy phạm pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể. Đó còn là khả năng thực hiện các hành vi đúng pháp luật của các chủ thể. Một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực phải là một văn bản có thể tiếp cận được. Như vậy, khả năng tiếp cận pháp luật của các chủ thể sẽ là một trong những yếu tố quyết định hiệu lực của pháp luật, bởi nó quyết định thái độ của các chủ thể đối với văn bản quy phạm pháp luật, từ đó quyết định hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật.

Việc một văn bản quy phạm pháp luật không tiếp cận được có thể được phân tích dưới hai góc độ: Thứ nhất, văn bản đó khó hoặc ít có khả năng tiếp cận. Nói một cách khác, các chủ thể khó có thể thực hiện các quy định pháp luật bởi họ không hiểu, không thấy hợp lý hoặc cho rằng các quy định này đi ngược lại những quy tắc xử sự được thừa nhận rộng rãi trong xã hội; Thứ hai, có thể do những điều kiện khách quan bên ngoài cản trở khả năng tiếp cận của các chủ thể. hay nói một cách khác cản trở công dân thực hiện quyền tiếp cận pháp luật. Quyền tiếp cận pháp luật, hay nói rộng ra là quyền tiếp cận thông tin là một trong những quyền cơ bản của con người. Quyền này được hiểu theo hai khía cạnh: Thứ nhất, đó là quyền mà công dân được chủ động tiếp cận, thu thập thông tin; Thứ hai, đó là quyền được cung cấp thông tin từ các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quyền này đi liền với trách nhiệm của cơ quan nhà nước phải cung cấp thông tin cho công dân (8). 

Ngoài ra, nói đến yếu tố ảnh hưởng đến hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật không thể không kể đến những cơ quan thực thi pháp luật. Một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực hay không, không chỉ phụ thuộc vào chính văn bản quy phạm pháp luật đó mà còn phụ thuộc vào việc tổ chức thi hành, giám sát việc thực hiện của các cơ quan thực thi. Vì vậy, vai trò của các cơ quan thực thi pháp luật là rất quan trọng. văn bản quy phạm pháp luật sẽ có hiệu lực cao khi được các cơ quan thực thi thực hiện một cách nghiêm túc và triệt để. Việc xử lý vi phạm pháp luật được thực hiện theo ba bước: Phát hiện vi phạm; xem xét, đánh giá; đưa ra phương hướng xử lý. Mỗi bước trên đều có khả năng làm ảnh hưởng đến hiệu lực văn bản quy phạm pháp luật. Những hạn chế, trở ngại trong việc thực hiện pháp luật thường có nguồn gốc, hoặc ít nhất chịu tác động từ phía cơ quan thực thi pháp luật. Nếu như các cơ quan này không hành động, không triển khai việc áp dụng; không giám sát việc thi hành, tuân thủ pháp luật thì hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật sẽ không được bảo đảm. Bên cạnh đó, những quy định không rõ ràng, chồng chéo về thẩm quyền giữa các cơ quan thực thi cũng làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện pháp luật. Ví dụ, liên quan đến việc kinh doanh thực phẩm trong Luật An toàn thực phẩm, có tới ba Bộ có trách nhiệm chính trong việc tổ chức thực hiện các quy định của Luật. Đó là Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công thương. Thực trạng việc quản lý các thực phẩm trên thị trường hiện nay cho thấy, việc quy định thẩm quyền cho nhiều cơ quan cùng lúc và không nêu rõ cơ chế phối hợp giữa các cơ quan này sẽ dẫn đến khó có thể đưa đến sự thống nhất giữa các quy định được ban hành, cũng như cơ chế thực thi chúng.

b. Mục tiêu của văn bản quy phạm pháp luật

Hiệu quả của một văn bản quy phạm pháp luật chỉ có thể được đánh giá khi so sánh với mục tiêu mà văn bản đó đề ra. Văn bản quy phạm pháp luật sẽ có hiệu quả khi thực hiện được các mục tiêu của mình. Mục tiêu là một loạt các hoạt động, kết quả cụ thể cần phải thực hiện được theo kế hoạch đã đặt ra trong nghiên cứu. Mục tiêu có thể đo lường hay định lượng được. Mục tiêu là nền tảng hoạt động của nghiên cứu, là cơ sở cho việc đánh giá kế hoạch nghiên cứu đã đưa ra.

Văn bản quy phạm pháp luật được soạn thảo và ban hành ra luôn nhằm để thực hiện một hoặc những mục tiêu nhất định. Ví dụ, Luật Cạnh tranh của các quốc gia trên thế giới đều có những mục tiêu riêng của mình, nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của quốc gia đó. Luật Chống độc quyền của Mỹ có mục tiêu là bảo vệ tự do cạnh tranh. Mục tiêu của Luật Cạnh tranh Thụy Điển năm 1993 (Điều 1) là nhằm loại bỏ và vô hiệu hóa những trở ngại đối với một sự cạnh tranh hiệu quả trong sản xuất và thương mại hàng hóa, dịch vụ, và các sản phẩm khác. Mục tiêu của Luật Cạnh tranh Ấn Độ năm 2002 là ngăn chặn các hành vi gây thiệt hại đến cạnh tranh, xúc tiến và bảo trì cạnh tranh trên thị trường, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và bảo đảm tự do thực hiện thương mại cũng như tất cả các hoạt động có liên quan hoặc gắn liền với, của tất cả các chủ thể trên thị trường ở Ấn Độ (Điều 1). Các mục tiêu này chính là kim chỉ nam cho việc soạn thảo các quy phạm pháp luật trong luật. Các quy phạm pháp luật chính là sự cụ thể hóa các mục tiêu được đề ra. Các quy phạm pháp luật chính là công cụ để thực hiện mục tiêu đặt ra. Mục tiêu càng rõ ràng thì các quy phạm pháp luật càng đảm bảo được tính thống nhất, chặt chẽ về mặt nội dung. Từ đó văn bản quy phạm pháp luật càng dễ được thực hiện, đi vào cuộc sống. Việc nêu rõ mục tiêu lại càng cần thiết đối với các văn bản quy phạm pháp luật có hình thức là luật. Đây là loại văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất. Tuy nhiên, có thể thấy rằng, rất ít các văn bản luật hiện nay nêu rõ mục tiêu của mình. Ở một số văn bản luật, mục tiêu được ghi ở phần đầu, trước phần các quy định, ví dụ như Bộ luật Hình sự, Bộ luật Lao động. Ở một số văn bản khác, mục tiêu của luật được ngầm hiểu trong phần về nhiệm vụ của luật, ví dụ như Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự,… Còn đa số các văn bản luật khác, mục tiêu của luật không được nêu rõ, và thường được ngầm hiểu qua các quy định trong văn bản luật. Nếu mục tiêu của văn bản quy phạm pháp luật không được nêu rõ sẽ gây ra tình trạng văn bản quy phạm pháp luật bị phản ánh sai lệch trong quá trình thực hiện. Để có thể đánh giá xem văn bản quy phạm pháp luật có được thực hiện đúng với ý muốn của các nhà làm luật hay không, chúng ta lại phải làm công việc ngược lại là xác định mục tiêu của văn bản luật đó căn cứ vào việc xem xét tổng thể các quy phạm pháp luật được thể hiện trong đó. Tình trạng có thể xảy đến là việc hiểu và giải thích các quy định của luật sẽ trở nên khó khăn. Thậm chí, có thể xảy ra tình trạng mâu thuẫn giữa mục tiêu và các quy định trong luật, làm ảnh hưởng đến hiệu quả của luật. Thực tế hoạt động lập pháp ở Việt Nam cho thấy, rất nhiều văn bản luật không nêu rõ mục tiêu của mình gây nên tình trạng các văn bản này bị khúc xạ bởi những văn bản hướng dẫn thuộc quyền lập quy (9). Tình trạng này xảy ra khi các văn bản lập quy không phản ánh đúng tinh thần, nội dung của luật, hoặc trái luật. Cụ thể, đó là khi các văn bản pháp quy vượt quá hoặc thu hẹp phạm vi điều chỉnh của luật, pháp lệnh. Hậu quả là ý chí chung của nhân dân, lợi ích chung của xã hội không được đảm bảo.

Ý muốn của các nhà làm luật, mục tiêu mà văn bản quy phạm pháp luật phải thực hiện, không chỉ cần được nêu rõ, mà còn cần phải thống nhất. Một văn bản quy phạm pháp luật có thể được soạn thảo và ban hành nhằm thực hiện nhiều mục tiêu nhưng các mục tiêu này cần phải thống nhất với nhau. Thực tế cho thấy, một luật đa mục tiêu thường có thể dẫn đến tình trạng xung đột giữa các mục tiêu. Lấy ví dụ về pháp luật cạnh tranh. Pháp luật cạnh tranh là một ngành luật có mục đích cụ thể, được xây dựng để bảo vệ và phát triển nền kinh tế thị trường. Mỗi quốc gia sẽ xây dựng hệ thống pháp luật cạnh tranh phù hợp với những nhu cầu riêng của nước mình, tùy thuộc vào sự phát triển, hoàn cảnh kinh tế xã hội, nền văn hóa pháp lý và các ưu tiên của các quốc gia đó. Các quốc gia phát triển trên thế giới cho rằng, pháp luật cạnh tranh đa mục tiêu có thể dẫn tới xung đột giữa các mục tiêu. Việc dung hoà các mục tiêu có thể tác động tiêu cực đến nguyên tắc cạnh tranh và tính độc lập của cơ quan cạnh tranh. Do vậy, các nước này thường giảm mạnh việc sử dụng pháp luật cạnh tranh để đạt các mục tiêu chung về xã hội, trong khi điều này vẫn phổ biến ở các nước đang phát triển và chuyển đổi. Quay trở lại Luật Cạnh tranh của Việt Nam. Trong toàn bộ các quy định của Luật, không có quy định nào nêu lên mục tiêu cụ thể mà các nhà làm luật đặt ra cho Luật. Thông qua các quy định của Luật, có thể hiểu mục tiêu chính của Luật là tạo lập và duy trì cạnh tranh bình đẳng giữa các chủ thể trên thị trường bằng việc kiểm soát các hành vi gây hạn chế cạnh tranh hoặc có thể gây hạn chế cạnh tranh, chống lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Tuy nhiên, thông qua các quy định của Luật Cạnh tranh, mà cụ thể là các điều khoản liên quan quyền miễn trừ đối với các trường hợp tập trung kinh tế bị cấm, có thể thấy rằng, Luật Cạnh tranh còn hướng tới mục tiêu là mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, hoặc nhằm duy trì việc làm cho người lao động (Điều 19 của Luật Cạnh tranh). Như vậy, một Luật Cạnh tranh đa mục tiêu có thể dẫn đến sự mâu thuẫn giữa các mục tiêu này nếu không có sự sắp xếp thứ tự ưu tiên áp dụng giữa các mục tiêu được đặt ra.

3. Một số đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam hiện nay

Để văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam đạt được hiệu quả mong muốn, cần phải coi trọng thực hiện một số vấn đề sau:

Thứ nhất, cần phải chú ý đến là tính hợp pháp, tính thống nhất, tính hợp lý của các văn bản quy phạm pháp luật. Tính hợp pháp, hợp lý và thống nhất của các văn bản quy phạm pháp luật chỉ có thể được đảm bảo khi công tác xây dựng, soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật ngày càng được hoàn thiện. Việt Nam cần phải có một cơ quan lập pháp làm việc chuyên nghiệp hơn để có thể cho ra những văn bản luật có hiệu quả. Bên cạnh đó, hệ thống các văn bản lập quy cũng cần được nâng cao về mặt chất lượng. Để làm được việc này, bên cạnh việc chú trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực, bộ phận pháp chế của các Bộ, ngành cần phải chủ động phối hợp với nhau và có sự tham khảo ý kiến của đa số quần chúng nhân dân trước khi ban hành một văn bản dưới luật cụ thể.

Thứ hai, văn bản quy phạm pháp luật cần phải đảm bảo được khả năng tiếp cận của quần chúng nhân dân. Để đảm bảo cho công dân được chủ động tiếp cận thông tin, cơ quan nhà nước phải chủ động công bố công khai những trình tự thủ tục rõ ràng thuận tiện để người dân có thể dễ dàng tiếp cận được thông tin khi có nhu cầu. Ngoài ra, người dân có thể tiếp cận được thông tin ngay cả khi không có nhu cầu bằng việc cơ quan nhà nước chủ động công khai thông tin trên các trang thông tin điện tử của cơ quan hoặc thông qua các kênh phổ biến kiến thức khác để đông đảo quần chúng được biết mà không cần phải yêu cầu.

Thứ ba, liên quan đến các cơ quan thực thi pháp luật. Văn bản quy phạm pháp luật sẽ có hiệu lực cao khi được các cơ quan thực thi thực hiện một cách nghiêm túc và triệt để việc áp dụng luật. Các cơ quan này cần phải được trang bị không chỉ về cơ sở pháp lý, mà còn cả cơ sở vật chất cũng như nguồn nhân sự để đảm bảo việc thực hiện pháp luật ở mọi cấp độ. Các văn bản quy phạm pháp luật cần phải nêu rõ thẩm quyền của các cơ quan có liên quan cũng như nêu rõ các cơ quan đầu mối cùng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan đó. Cơ chế phối hợp này nên được thiết lập theo hướng sắp xếp về mặt cơ cấu, thủ tục sao cho công tác kiểm tra, giám sát, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh được thực hiện một cách thống nhất. Có thể áp dụng cơ chế theo dõi chung và theo dõi riêng giữa các cơ quan này. Theo đó, cơ quan đầu mối sẽ được phân thẩm quyền theo dõi chung việc thi hành các quy định của văn bản quy phạm pháp luật đó. Các Bộ, ngành được Chính phủ phân công chủ trì soạn thảo văn bản pháp luật chuyên ngành có trách nhiệm theo dõi văn bản đó trong đời sống xã hội. Các cơ quan này có điều kiện và đủ kiến thức chuyên sâu về ngành, lĩnh vực quản lý của mình và hiểu rõ nội dung văn bản do mình soạn thảo, do đó dễ phát hiện được những khiếm khuyết của văn bản khi được triển khai thực hiện trong cuộc sống. Đó là cơ chế theo dõi riêng. Giữa cơ quan thực hiện nhiệm vụ theo dõi chung và cơ quan thực hiện nhiệm vụ theo dõi riêng cần phải có cơ chế phối hợp trong việc cung cấp thông tin. Cần quy định trách nhiệm của các bộ, ngành quản lý chuyên ngành về việc theo dõi thi hành các văn bản này, định kỳ thông báo cho các cơ quan đầu mối để tập hợp, phân tích và làm báo cáo tổng hợp về tình hình thi hành văn bản quy phạm pháp luật đó.

Thứ tư, văn bản quy phạm pháp luật cần phải nêu rõ mục tiêu và có sự thống nhất giữa các mục tiêu được nêu. Ý muốn của các nhà làm luật cần phải được thể hiện rõ qua các mục tiêu cụ thể. Đối với trường hợp một văn bản quy phạm pháp luật được ban hành nhằm thực hiện nhiều mục tiêu cùng một lúc thì các mục tiêu này cần phải được thống nhất với nhau về nội dung. Không thể đặt ra những mục tiêu mâu thuẫn nhau, gây ra tình trạng việc thực hiện mục tiêu này gây khó khăn, cản trở cho việc thực hiện mục tiêu kia. Chính vì vậy, khi soạn thảo luật, các nhà làm luật cần cân nhắc để thống nhất các mục tiêu của luật. Ngoài ra, các mục tiêu có thể được xác định theo thứ tự ưu tiên và tầm quan trọng gắn với từng mục tiêu cụ thể nhằm giảm thiểu sự không rõ ràng, có thể dẫn đến xung đột giữa các mục tiêu trong quá trình thực thi. Ví dụ, đối với Luật Cạnh tranh của Việt Nam, cần phải xác định rõ rằng mục tiêu mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, hoặc nhằm duy trì việc làm cho người lao động chỉ có thể được thực hiện khi mục tiêu chính của Luật Cạnh tranh vẫn được bảo đảm. Nói một cách khác, các tác động tiêu cực đến cạnh tranh, mà việc cho phép các hành vi nhằm thực hiện mục tiêu này gây ra, phải được khắc phục.

Kết luận

Khái niệm hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật được xem xét dưới một góc độ rộng hơn, toàn diện hơn. Văn bản quy phạm pháp luật được đánh giá theo các mục tiêu xã hội được đặt ra. Việc phân tích các yếu tố có tác động trực tiếp đến hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật sẽ làm cơ sở để chúng ta đi vào phân tích thực trạng và các nguyên nhân tác động đến hiệu quả của các văn bản quy phạm pháp luật, từ đó đi tìm các giải pháp tương ứng nhằm nâng cao hiệu quả của các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam hiện nay.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

(1) B. Deffain (dir.), L'analyse économique du droit dans les pays de droit civil, Éd. Cujas, 2000, B. Oppetit, « Droit et économie », APD, 1992, 37, p. 17-26,

(2) TS. Nguyễn Văn Tuyến, "Tính hiệu quả của Luật Chứng khoán - Sự tiếp cận từ góc độ kinh tế học pháp luật", Luật học số 8/2006.

(3) Fédéric Rouvillois, "L'efficacité des normes. Réflections sur l'émergence d'un nouvel impératif juridique", Working papers: Fondation pour l'innovation politique, 11/2006, 35 tr.

(4) Nguyễn Minh Đoan, "Vấn đề hiệu quả của pháp luật", Nhà nước và Pháp luật số 3/2001, tr. 3

(5) Nguyễn Đức Lam,  "Tính cạnh tranh của nền pháp luật", trích dẫn từ http://chungta.com/ Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Luat-Phap/Tinh_canh_tranh_cua_nen_phap_luat/, 2005

(6) Ngọ Văn Nhân, "Tác động của dư luận xã hội đối với ý thức pháp luật", Tạp chí Triết học, 2006.

(7) Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Báo cáo Đánh giá chất lượng hoạt động xây dựng và thi hành pháp luật của các Bộ có liên quan đến doanh nghiệp (LDEA)- Giai đoạn từ 2005 đến 2009, NXB Lao động 6/2010

(8) Th.S Bùi Ngọc Sơn, Nguyễn Thị Phượng, "Sự khúc xạ luật bởi quyền lập quy", Tạp chí Dân chủ & Pháp luật, Số 7/2006.

(9) PGS. TS. Hoàng Thị Kim Quế, "Chế độ pháp chế thống nhất, hợp lý và áp dụng chung", Tạp chí Dân chủ & Pháp luật, Số 9 (162) 2005, trang 11-12.

Xem thêm:

1. Ngọ Văn Nhân, "Tác động của dư luận xã hội đối với ý thức pháp luật", Tạp chí Triết học, 8/2006.

2. Nguyễn Đức Lam, "Vì sao người dân thờ ơ với pháp luật", Tạp chí Tia sáng, 7/2006.

3. Như trên.

4. Tính hợp lý này cũng có thể được gọi theo một thuật ngữ khác là tính phù hợp của văn bản quy phạm pháp luật. Xem thêm: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Báo cáo Đánh giá chất lượng hoạt động xây dựng và thi hành pháp luật của các Bộ có liên quan đến doanh nghiệp (LDEA)- Giai đoạn từ 2005 đến 2009, NXB Lao động 6/2010.

5. PGS. TS. Hoàng Thị Kim Quế, "Chế độ pháp chế thống nhất, hợp lý và áp dụng chung", Tạp chí Dân chủ & Pháp luật, Số 9 (162) 2005, trang 11-12. Pháp chế được thể hiện trên hai phương diện, hai nghĩa căn bản- nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, pháp chế là yêu cầu đối với tất cả các cá nhân tuân thủ triệt để pháp luật, đối lập với tình trạng vô pháp luật. Theo nghĩa hẹp, pháp chế là nguyên tắc hoạt động của bộ máy nhà nước, các cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước phải tuân thủ pháp luật trong tổ chức và hoạt động; đảm bảo thực hiện các quyền công dân. Cũng trên nghĩa rộng - nghĩa chính trị - xã hội pháp chế chính là chế độ của đời sống chính trị - xã hội, là môi trường chính trị - đạo đức, trong đó có sự hiện diện của tư tưởng nhân đạo, công bằng, tuân thủ pháp luật, bảo đảm quyền con người.

6. H. Kelsen, Théorie pure du droit, 2e éd., trad. C. Eisenmann, Dalloz, 1962, p. 15.

7. Xem: TS. Nguyễn Thị Thu Vân, "Cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin", trên trang web:duthaoonline; Th.S Vũ Công Giao, "Cơ chế và việc hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của các cơ quan nhà nước ở Việt Nam", trên trang web: http://www.hids.hochiminhcity. gov.vn/Hoithao/VNHOC/TB7/giao.pdf.

8. Như trên.

9. Th.S Bùi Ngọc Sơn, Nguyễn Thị Phượng, "Sự khúc xạ luật bởi quyền lập quy", Tạp chí Dân chủ & Pháp luật, Số 7/2006.

                                                                                                TS. Trần Thị Thu Phương

Nguồn: https://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=15

FalseĐào Thị Quyên
Tài liệu hướng dẫn về nghiệp vụ đánh giá tác động của chính sáchThông tinTinTài liệu hướng dẫn về nghiệp vụ đánh giá tác động của chính sách/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/17/2020 3:00 PMNoĐã ban hành

​       "Tài liệu hướng dẫn về nghiệp vụ đánh giá tác động của chính sách" được xây dựng với mục tiêu hướng dẫn phương pháp thực hiện nội dung đánh giá tác động của chính sách theo các quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Đây là tài liệu do Dự án Quản trị Nhà nước nhằm Tăng trưởng Toàn diện của Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID GIG) phối hợp với Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật của Bộ Tư pháp Việt Nam xây dựng.

       Nội dung của tài liệu tập trung vào quá trình đánh giá tác động của chính sách, bao gồm đánh giá tác động về kinh tế, về xã hội, về giới, về thủ tục hành chính và đánh giá tác động đối với hệ thống pháp luật. Tài liệu còn cung cấp các hướng dẫn kỹ thuật đánh giá tác động của chính sách và việc sử dụng kết quả đánh giá tác động của chính sách cho quá trình xây dựng chính sách ở giai đoạn lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Các hướng dẫn kỹ thuật này cũng có thể áp dụng cho việc đánh giá tác động của chính sách trong giai đoạn soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật.

       Với mục đích chính là hướng dẫn kỹ thuật, tài liệu này tập trung vào quy trình, các bước, kỹ năng, phương pháp, công cụ có thể được sử dụng cho quá trình đánh giá tác động của chính sách. Tài liệu được xây dựng theo hướng sát thực tiễn để tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện sau này. Các nội dung và phương pháp được nêu là những nguyên tắc cơ bản, công cụ tham khảo nên việc linh hoạt và sáng tạo trong quá trình áp dụng là điều hết sức cần thiết do tính chất đa dạng của vấn đề thực tiễn, nội dung của các chính sách. Tài liệu cũng đưa ra các chỉ dẫn cơ bản để thực hiện việc lấy ý kiến trong quá trình đánh giá tác động của chính sách và lấy ý kiến đối với dự thảo báo cáo đánh giá tác động của chính sách.

       Tài liệu này có thể sử dụng cho các đơn vị chịu trách nhiệm đánh giá tác động của chính sách thuộc các bộ, ngành và địa phương theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, cho các chuyên gia, cơ quan nghiên cứu, đơn vị tư vấn và cá nhân khác sử dụng tham khảo khi tiến hành đánh giá tác động của chính sách, khi tham gia góp ý, phản biện đối với chính sách hoặc báo cáo đánh giá tác động của chính sách. Ngoài ra, cuốn tài liệu cũng có thể sử dụng cho các các cơ sở đào tạo.​/.

Sach danh gia tac dong.doc

FalseLê Thị Phương
Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật theo tinh thần của Nghị quyết số 48-NQ/TW và định hướng trong thời gian tớiThông tinXây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật theo tinh thần của Nghị quyết số 48-NQ/TW và định hướng trong thời gian tới/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/15/2020 5:00 PMNoĐã ban hành

  1. Đặt vấn đề

Để tăng cường đổi mới công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, ngày 24/5/2005, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 48-NQ/TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 (Nghị quyết số 48-NQ/TW). Nghị quyết là văn kiện đầu tiên của Đảng chuyên sâu về công tác pháp luật, với mục tiêu xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; đổi mới căn bản công tác xây dựng và thực hiện pháp luật; phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật để góp phần quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, góp phần đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.
Nghị quyết số 48-NQ/TW xác định nội dung quan trọng, chủ yếu trong Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, theo đó đặt ra 06 nội dung định hướng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam[1] và đề ra 02 nhóm giải pháp trọng tâm với nhiều giải pháp cụ thể để thực hiện.
2. Kết quả xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật theo tinh thần của Nghị Quyết số 48-NQ/TW
Sau 15 năm thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW, gắn với những nội dung, mục tiêu và các giải pháp về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam được đề ra trong Nghị quyết cơ bản đã hoàn thành, có thể khái quát kết quả đạt được trên những nội dung sau đây:

Thứ nhất, hệ thống pháp luật của nước ta không ngừng hoàn thiện và phát triển cơ bản cân đối trên mọi lĩnh vực. Trước năm 2005, hệ thống pháp luật chủ yếu được chú trọng xây dựng trong lĩnh vực kinh tế, nhưng đến nay, hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội đều có văn bản quy phạm pháp luật ở tầm luật điều chỉnh, cơ bản thể chế hóa đầy đủ, đúng đắn đường lối, chủ trương của Đảng, không chỉ góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, mà còn bảo đảm xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tôn trọng, bảo vệ quyền con người, chủ động hội nhập quốc tế của đất nước.

Pháp luật về tổ chức và hoạt động của các thiết chế trong hệ thống chính trị nói chung, của Chính phủ và hệ thống cơ quan hành chính nhà nước nói riêng được xây dựng đầy đủ và không ngừng hoàn thiện, đặc biệt sau khi Quốc hội ban hành Hiến pháp năm 2013. Thể chế về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được bổ sung, hoàn thiện. Nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước được quy định đầy đủ hơn trong Hiến pháp năm 2013. Nguyên tắc kiểm soát quyền lực đã được thể chế hóa, là cơ sở cho việc tiếp tục tăng cường cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của tổ chức bộ máy nhà nước được xác định rõ hơn và có những bước tiến mới trong hoạt động. Cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước được xác định rõ hơn. Vai trò của pháp luật trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước, trong quản lý xã hội ngày càng được đề cao.

Hiến pháp năm 2013 tiếp tục ghi nhận, đề cao việc thể chế hóa quan điểm của Đảng và Nhà nước, phù hợp với yêu cầu bảo đảm quyền con người, quyền cơ bản của công dân trong tình hình mới, tạo bước chuyển quan trọng trong nhận thức về tư duy lập hiến, lập pháp theo hướng công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân là trách nhiệm của Nhà nước. Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung, ghi nhận nhiều quyền mới[2] và quy định rõ ràng, đầy đủ hơn nội hàm của các quyền mà Hiến pháp năm 1992 đã quy định; đồng thời bổ sung nguyên tắc quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.

Pháp luật về dân sự, kinh tế với trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển và phù hợp hơn với luật pháp, thông lệ quốc tế. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước được hình thành, đáp ứng yêu cầu hội nhập. Chế độ sở hữu ngày càng hoàn thiện, các thành phần kinh tế và loại hình doanh nghiệp phát triển đa dạng. Các quyền, nghĩa vụ về tài sản được thể chế hóa tương đối đầy đủ. Hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế được nâng lên, tạo lập môi trường pháp lý cho cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, phù hợp với nguyên tắc của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và các cam kết quốc tế khác. Các yếu tố thị trường và các loại thị trường được hình thành đồng bộ hơn, gắn kết với thị trường khu vực và thế giới. Môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện và thông thoáng hơn; quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế được bảo đảm hơn.

Trên cơ sở định hướng đề ra theo tinh thần Nghị quyết số 48-NQ/TW, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 05/02/2007 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới, Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, thì khung pháp luật về hội nhập quốc tế đã được hình thành, phát triển khá đồng bộ, tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho việc ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế, cũng như cơ chế bảo đảm thực thi các cam kết quốc tế của Việt Nam. Luật Điều ước quốc tế năm 2016 đã thể chế hóa các quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về đối ngoại, đặc biệt là chủ trương chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; tạo khung pháp lý vừa chặt chẽ, vừa linh hoạt, đáp ứng nhu cầu ký kết và thực hiện điều ước quốc tế phù hợp với lợi ích của đất nước[3].
Thứ hai, chất lượng của hệ thống pháp luật có nhiều chuyển biến tích cực, cơ bản bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ[4]. Các văn bản đều được đánh giá về tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ trước khi ban hành. Tính công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật từng bước được nâng lên. Công tác xây dựng pháp luật đã được đổi mới. Quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật thống nhất cho cả Trung ương và địa phương. Quy trình xây dựng chính sách tách bạch với quy trình soạn thảo luật, pháp lệnh, bảo đảm sự phù hợp của văn bản quy phạm pháp luật với đường lối, chủ trương của Đảng, từng bước nâng cao tính công khai, minh bạch trong xây dựng chính sách, pháp luật; vai trò tham gia của xã hội vào quy trình xây dựng chính sách, pháp luật của Nhà nước được quy định cụ thể; pháp luật về hợp nhất, pháp điển văn bản quy phạm pháp luật góp phần bảo đảm cho hệ thống pháp luật đơn giản, rõ ràng, dễ tra cứu, tiếp cận, dễ sử dụng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật.

Thứ ba, nhận thức của các cơ quan nhà nước, cán bộ, Nhân dân về pháp luật và công tác xây dựng pháp luật đã được nâng lên. Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan, ban, ngành đều chú trọng, quan tâm hơn đến công tác xây dựng, hoàn thiện và thực thi pháp luật. Chính phủ xác định xây dựng và hoàn thiện thể chế là nhiệm vụ trọng tâm, giành nhiều thời gian hơn cho công tác xây dựng pháp luật. Ý thức pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân được nâng lên rõ rệt, hoạt động giám sát của các cơ quan quyền lực nhà nước, tổ chức xã hội, Nhân dân thay đổi về hình thức và nội dung, hiệu quả, thực chất.

Kết quả sau 15 năm thực hiện Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật theo Nghị quyết số 48-NQ/TW là rất lớn. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật nước ta vẫn còn một số hạn chế, bất cập:
Một là, hệ thống pháp luật chưa thực sự đồng bộ, tính thống nhất chưa cao, còn cồng kềnh với nhiều hình thức văn bản quy phạm pháp luật, do nhiều cơ quan có thẩm quyền ban hành, một số nội dung còn chồng chéo, mâu thuẫn[5].

Hai là, tính dự báo, khả thi của hệ thống pháp luật chưa thực sự đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, chi phí tuân thủ pháp luật còn cao. Nhiều dự án luật có vòng đời ngắn[6]. Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về pháp luật chưa theo kịp yêu cầu của thực tiễn và nhiệm vụ quản lý nhà nước. Việc nghiên cứu, đề xuất chính sách chưa có khảo sát, đánh giá kỹ lưỡng, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu về tính chiến lược và tầm nhìn dài hạn. Bên cạnh đó, trong một số trường hợp, việc xem xét các điều kiện, nguồn lực thực hiện vẫn còn chung chung, không rõ ràng.

Ba là, trong việc thực hiện định hướng xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật theo 06 nội dung định hướng của Nghị quyết số 48-NQ/TW vẫn còn nội dung, định hướng chưa được thể chế hóa kịp thời, đầy đủ. Cụ thể:

(i) Việc đổi mới mô hình, nhiệm vụ và thẩm quyền của các cơ quan trong bộ máy nhà nước chưa thực sự đáp ứng yêu cầu mới về xây dựng và thi hành pháp luật; nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước chủ yếu mới chỉ được ghi nhận theo Hiến pháp năm 2013, việc luật hóa cụ thể còn lúng túng, đặc biệt là việc thiết lập và vận hành cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước.
(ii) Việc phân định chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan chưa thực sự rõ ràng, hợp lý; phân cấp giữa Trung ương và địa phương trong một số lĩnh vực còn chưa phù hợp (phân cấp nhưng chưa tính đến các điều kiện bảo đảm, thiếu quản lý, giám sát của Trung ương). Việc xác định cơ quan nào là bộ, cơ quan nào là cơ quan ngang bộ chưa có tiêu chí cụ thể[7]. Tính dân chủ, công khai, minh bạch trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước và cơ chế giám sát, phản biện xã hội chưa đáp ứng được đòi hỏi của phát triển kinh tế - xã hội; bộ máy nhà nước vẫn còn cồng kềnh, hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa thực sự cao.

(iii) Trong lĩnh vực quyền con người, quyền cơ bản của công dân, so với yêu cầu đặt ra, còn một số quyền của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 nhưng chưa được cụ thể hóa thành luật; chưa có cơ chế hiệu quả để công dân thực hiện quyền yêu cầu xem xét tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản quy phạm pháp luật mà việc áp dụng văn bản đó gây ra những thiệt hại về quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức; quy định về một số hình thức dân chủ trực tiếp (lấy ý kiến và phản biện xã hội...) còn chưa hoàn thiện.

(iv) Đối với lĩnh vực xây dựng và hoàn thiện pháp luật về dân sự, kinh tế, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sở hữu toàn dân còn nhiều điểm chưa rõ ràng về mặt pháp lý, đặc biệt là đối với các tài sản thuộc sở hữu toàn dân được đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước, nhất là các tập đoàn; pháp luật về hình thành và hoạt động của các thị trường còn có điểm chưa đồng bộ, còn thiếu các cơ chế hiệu quả để kiểm soát, quản lý, xử lý vi phạm. Chiến lược cạnh tranh quốc gia và thực thi các chính sách công nghiệp chưa rõ nét; những vướng mắc về thủ tục hành chính, cả trong pháp luật lẫn trong thực tiễn thi hành vẫn đang còn là rào cản đối với quá trình gia nhập thị trường, vận hành hoạt động sản xuất, kinh doanh của các chủ thể, làm giảm đáng kể sức cạnh tranh và sự hấp dẫn, thu hút đầu tư trong và ngoài nước của Việt Nam.

(v) Thể chế pháp luật về hội nhập quốc tế chưa thực sự thích ứng nhanh với bối cảnh hội nhập sâu rộng, dẫn đến chưa chủ động tận dụng các cơ hội; đồng thời, chưa thấy rõ thách thức để chủ động ứng phó; chưa lường trước các tác động tiêu cực từ bên ngoài để có những biện pháp hạn chế hữu hiệu.
Những tồn tại, hạn chế nêu trên của hệ thống pháp luật và công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật ở nước ta xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, trong đó, những nguyên nhân chủ yếu có thể kể đến như:

- Quy trình xây dựng pháp luật còn thiếu tính liên kết, kiểm soát chặt chẽ giữa các giai đoạn dẫn đến phản ứng chính sách chưa bảo đảm tính linh hoạt khi phải đối phó với những vấn đề phát sinh cần có sự phản ứng nhanh nhạy.

- Nguồn lực tài chính dành cho công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực pháp luật, mặc dù tranh thủ được nguồn lực hỗ trợ của các tổ chức quốc tế trong công tác xây dựng pháp luật và nâng cao năng lực cán bộ của ngành, tuy nhiên, kinh phí hỗ trợ cũng chỉ đủ chi phí một phần, còn lại phải dựa vào nguồn ngân sách nhà nước hạn hẹp. Công tác đào tạo cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật chưa thực sự khoa học, chưa gắn với thực tiễn nhu cầu của xã hội,

- Cơ chế phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật chưa hiệu quả, thực chất, nhất là giữa cơ quan hành pháp với cơ quan lập pháp và tư pháp; thủ tục hành chính vẫn còn rườm rà, chưa hợp lý, thiếu linh hoạt.

- Tư duy đổi mới về xây dựng pháp luật, gắn xây dựng với tổ chức thi hành pháp luật chưa được triệt để, chưa phù hợp với từ bối cảnh mới. Một số cơ quan chưa coi trọng đúng mức việc lấy ý kiến, tổng hợp, xử lý và giải trình đầy đủ ý kiến của Nhân dân, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của chính sách, văn bản hoặc chưa có phương pháp thực hiện phù hợp. Từ phía xã hội, nhiều cá nhân, tổ chức cũng chưa nhận thức đầy đủ trách nhiệm về tham gia xây dựng pháp luật, giám sát và phản biện xã hội đối với việc thực thi các chính sách, pháp luật của Nhà nước.

- Công tác nghiên cứu lý luận trong lĩnh vực pháp luật và đổi mới tư duy lập pháp chưa thực sự đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, chưa gắn việc xây dựng pháp luật với phục vụ nhiệm vụ quản lý nhà nước.
3. Định hướng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trong thời gian tới

Sau hơn 30 năm đổi mới, thế và lực của ta đã lớn mạnh hơn nhiều. Kinh tế vĩ mô ổn định, vững chắc hơn, niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp và xã hội tăng lên. Chất lượng tăng trưởng kinh tế được cải thiện, mô hình tăng trưởng từng bước dịch chuyển sang chiều sâu. Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, khả năng chống chịu, thích ứng với tác động bên ngoài còn hạn chế, năng lực tiếp cận nền kinh tế số còn bất cập. Những thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, môi trường, biến đổi khí hậu… ngày càng nặng nề, yêu cầu đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng phát triển con người, bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, bảo đảm quốc phòng, an ninh rất lớn trong khi nguồn lực còn hạn hẹp. Phấn đấu đến năm 2030 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; có thể chế quản lý hiện đại, cạnh tranh, hiệu lực, hiệu quả; một nền kinh tế năng động, phát triển nhanh và bền vững, độc lập, tự chủ, gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế… 
Bối cảnh và mục tiêu nêu trên đặt ra những cơ hội và thách thức trong công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đòi hỏi định hướng của công tác này vừa đảm bảo tính dự báo của hệ thống pháp luật, vừa bảo đảm tính phù hợp, khả thi với điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước, theo đó cần tập trung vào một số định hướng sau:


Thứ nhất, trong giai đoạn 2021 - 2030, tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện pháp luật gắn với nâng cao hiệu lực, hiệu quả thi hành pháp luật, xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận, với chi phí tuân thủ thấp, có sức cạnh tranh trong khu vực và quốc tế, lấy quyền và lợi ích hợp pháp của người dân là trung tâm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển bền vững kinh tế - xã hội và quốc phòng, an ninh.

Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện, nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tiếp tục phát triển, hoàn thiện các loại thị trường để huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch; hình thành hệ thống thể chế có năng lực cạnh tranh cao trong khu vực và thế giới.

Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện thể chế, tạo điều kiện phát triển mạnh mẽ khoa học - công nghệ; xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội, cạnh tranh để tăng cường ứng dụng công nghệ, nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển; xây dựng thể chế để phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, lấy doanh nghiệp là trung tâm nghiên cứu phát triển, ứng dụng và chuyển giao công nghệ, đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4.
Thứ tư, bên cạnh các cải cách trình tự, thủ tục tổ chức thi hành pháp luật theo hướng công khai, minh bạch, thì cần bảo đảm cơ chế phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan trong thi hành pháp luật; bảo đảm cơ chế giám sát của cơ quan nhà nước và xã hội đối với công tác thi hành pháp luật; xây dựng đội ngũ công chức có chuyên môn, chuyên nghiệp, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu của đất nước trong giai đoạn 2021 - 2030, nhất là yêu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng.

Thứ năm, trong một số lĩnh vực pháp luật cụ thể, công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật cần linh hoạt, giải quyết các vấn đề phát sinh trong đời sống kinh tế - xã hội, đồng thời phải bảo đảm phù hợp với thực tiễn, điều kiện của nước ta, cụ thể:

- Tiếp tục nghiên cứu, rà soát xây dựng thể chế về tổ chức bộ máy nhà nước; kiện toàn tổ chức bộ máy hành chính nhà nước bảo đảm các cơ quan trong hệ thống chính trị hoạt động hiệu lực, hiệu quả, tinh gọn, khắc phục tình trạng trùng lặp, chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ hoặc tổ chức không phù hợp; bảo đảm tính đồng bộ, hệ thống, kế thừa những thành quả, kinh nghiệm đã đạt được, phù hợp với đặc điểm của hệ thống chính trị nước ta vận hành theo cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ" đáp ứng yêu cầu của tiến trình đổi mới đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.
- Tiếp tục thể chế hóa các quyền con người, quyền công dân đã được đề ra trong các chủ trương, nghị quyết của Đảng và Hiến pháp năm 2013, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và có tính đến các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, tạo điều kiện để người dân thực hiện quyền dân chủ trực tiếp và các quyền tự do, dân chủ khác, tạo thêm động lực cho cải cách, đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, các thiết chế trong hệ thống chính trị.

- Tập trung hoàn thiện, nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giải quyết tốt hơn quan hệ giữa Nhà nước và thị trường. Tiếp tục hoàn thiện thể chế về sở hữu toàn dân theo hướng tách bạch vai trò của Nhà nước với tư cách là bộ máy công quyền quản lý toàn bộ nền kinh tế - xã hội và vai trò đại diện chủ sở hữu, tạo điều kiện cho sự tham gia một cách thực chất của người dân trong việc thực thi quyền sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân.
- Đẩy mạnh việc rà soát, ưu tiên xây dựng các văn bản pháp luật và các thiết chế bảo vệ nền kinh tế độc lập tự chủ trong quá trình hội nhập quốc tế. Chú trọng việc nội luật hóa những điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, nhất là các điều ước quốc tế về tự do hóa thương mại thế hệ mới như Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)... Chủ động và tích cực đóng góp xây dựng, định hình các thể chế đa phương (nhất là các diễn đàn đa phương về pháp luật) và khu vực (nhất là cộng đồng ASEAN) trên cơ sở các chủ trương về hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước./.

 

[1] Pháp luật về: Tổ chức và hoạt động của các thiết chế trong hệ thống chính trị; bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân; dân sự, kinh tế, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, y tế, văn hóa - thông tin, thể thao, dân tộc, tôn giáo, dân số, gia đình, trẻ em và chính sách xã hội; quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; hội nhập quốc tế;

[2] Hiến pháp năm 2013 bổ sung, ghi nhận nhiều quyền mới như quyền sống (Điều 19); quyền được sống trong môi trường trong lành (Điều 43); quyền không bị trục xuất, giao nộp cho nước khác (khoản 2 Điều 17); quyền có nơi ở hợp pháp (Điều 22); quyền được bảo đảm an sinh xã hội (Điều 34); quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa (Điều 41); quyền xác định dân tộc, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp (Điều 42)… Hiến pháp năm 2013 cũng quy định rõ ràng, đầy đủ hơn nội hàm của các quyền mà Hiến pháp năm 1992 đã quy định, đó là các quyền bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trước pháp luật (Điều 16); không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm (khoản 1 Điều 20); quyền bảo vệ đời tư (Điều 21); quyền tiếp cận thông tin (Điều 25); quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội (Điều 28); quyền bình đẳng giới (Điều 26); quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân (Điều 29)...

[3] Giai đoạn 2005 - 2019, Việt Nam đã ký, gia nhập, phê chuẩn, phê duyệt rất nhiều điều ước quốc tế, góp phần đảm bảo công tác hội nhập kinh tế quốc tế đạt được những thành tựu lớn. Những cam kết mở cửa thị trường không chỉ giới hạn trong phạm vi thương mại hàng hóa mà còn bao gồm thương mại dịch vụ, đầu tư, dịch vụ tài chính, sở hữu trí tuệ… Việt Nam đã tiến hành nhiều cải cách chính sách thương mại theo hướng minh bạch và tự do hóa hơn. Đồng thời hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp đã được đẩy mạnh thông qua việc ký kết các điều ước quốc tế song phương, từng bước tham gia các thiết chế đa phương, khu vực về tương trợ tư pháp, giải quyết tranh chấp thương mại, đầu tư... Xem Phụ lục số 5, Báo cáo số 1182-BC/BCSĐCP ngày 13/11/2019 của Ban Cán sự Đảng Chính phủ tổng kết Nghị quyết số 48-NQ/TW;

[4] Mặc dù tình trạng mâu thuẫn giữa các văn bản quy phạm pháp luật cụ thể vẫn còn, xem nội dung về tồn tại, hạn chế bên dưới.

[5] Xem Báo cáo số 1182-BC/BCSĐCP ngày 13/11/2019 của Ban Cán sự Đảng Chính phủ tổng kết Nghị quyết số 48-NQ/TW, tr. 28, 29. Mâu thuẫn giữa Luật Điện lực, Luật Đầu tư với Luật Xây dựng; mâu thuẫn giữa Luật Dầu khí với Luật Xây dựng, Luật Đầu tư, Luật Đầu tư công, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp trong lĩnh vực điện lực, lĩnh vực dầu khí; mâu thuẫn giữa Luật Di sản văn hóa với Luật Đầu tư công, Luật Bảo vệ môi trường; mâu thuẫn giữa Bộ luật Lao động với Luật Doanh nghiệp…

[6] Luật Đầu tư công năm 2014 và Luật Đầu tư công năm 2019; Luật Tố tụng hành chính năm 2010 và Luật Tố tụng hành chính năm 2015; Luật Vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ được Quốc hội khóa XIV thông qua năm 2017, tuy nhiên đến nay, Chính phủ đã trình Quốc hội khóa XIV xem xét thông qua đối với dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ (trong 03 năm từ năm 2017 đến năm 2019)...

[7] Ngân hàng Nhà nước có chức năng quản lý nhà nước đối với các tổ chức tín dụng, ngân hàng thương mại, vừa làm chức năng của Ngân hàng Trung ương; Thanh tra Chính phủ có chức năng quản lý nhà nước về hoạt động thanh tra, vừa trực tiếp tổ chức hoạt động thanh tra các đối tượng, vụ việc theo thẩm quyền.

Nguyễn Hồng Tuyến

Vụ trưởng Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật

Nguồn: https://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=601

 

FalseĐào Thị Quyên
Từ ngày 01/7/2020, một số điểm mới của Luật Cán bộ, công chức  được thi hành Thông tinTinTừ ngày 01/7/2020, một số điểm mới của Luật Cán bộ, công chức  được thi hành /CMSImageNew/2020-06/Capture_Key_12062020150648.PNG
6/12/2020 4:00 PMNoĐã ban hành

​     Ngày 25 tháng 11 năm 2019, Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 và Luật Viên chức số 58/2010/QH12. Theo đó, từ ngày 01/7/2020 một số điểm mới của Luật Cán bộ, công chức được sửa đổi, bổ sung, cụ thể như sau:

     1. Thu hẹp đối tượng là công chức

     Theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức thì Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Như vậy, khái niệm mới không còn đối tượng công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội.

     2. Bổ sung thêm 01 loại công chức theo ngạch

     Căn cứ vào lĩnh vực ngành, nghề, chuyên môn, nghiệp vụ, công chức được phân loại theo 4 ngạch công chức tương ứng (gồm: Loại A gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên cao cấp hoặc tương đương; Loại B gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên chính hoặc tương đương; Loại C gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên hoặc tương đương; Loại D gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch cán sự hoặc tương đương và ngạch nhân viên).

     Tuy nhiên, theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức thì bổ sung thêm 01 loại công chức theo ngạch, đó là ngạch khác theo quy định Chính phủ.

     3. Bổ sung quy định về phương thức tuyển dụng công chức

     Ngoài hình thức tuyển dụng thông qua thi tuyển và xét tuyển theo Luật Cán bộ, công chức thì Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức có quy định thêm về việc tiếp nhận công chức không qua thi tuyển, xét tuyển. Theo đó, người đứng đầu cơ quan quản lý công chức quyết định tiếp nhận người đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện của vị trí việc làm vào làm công chức đối với trường hợp sau đây:

- Viên chức công tác tại đơn vị sự nghiệp công lập;

- Cán bộ, công chức cấp xã;

- Người hưởng lương trong lực lượng vũ trang nhân dân, người làm việc trong tổ chức cơ yếu nhưng không phải là công chức;

- Tiếp nhận để bổ nhiệm làm công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý đối với người đang là Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch công ty, Thành viên Hội đồng thành viên, Thành viên Hội đồng quản trị, Kiểm soát viên, Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc, Giám đốc, Phó Giám đốc, Kế toán trưởng và người đang giữ chức vụ, chức danh quản lý khác theo quy định của Chính phủ trong doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ; người được tiếp nhận phải được quy hoạch vào chức vụ bổ nhiệm hoặc chức vụ tương đương;

- Người đã từng là cán bộ, công chức sau đó được cấp có thẩm quyền điều động, luân chuyển giữ các vị trí công tác không phải là cán bộ, công chức tại các cơ quan, tổ chức khác./.

 

​ 

FalseLê Thị Phương
Một số văn bản quy phạm pháp luật do Trung ương ban hành có hiệu lực thi hành từ ngày 15/6/2020Thông tinTinMột số văn bản quy phạm pháp luật do Trung ương ban hành có hiệu lực thi hành từ ngày 15/6/2020/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/12/2020 10:00 AMNoĐã ban hành

1. Nghị định 49/2020/NĐ-CP ngày 17/4/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thi hành án hình sự về tái hòa nhập cộng đồng.

2. Nghị định 50/2020/NĐ-CP ngày 20/4/2020 của Chính phủ quy định về tiếp nhận, quản lý và sử dụng viện trợ quốc tế khẩn cấp để cứu trợ và khắc phục hậu quả thiên tai.

3. Nghị định 52/2020/NĐ-CP ngày 27/4/2020 của Chính phủ về đầu tư xây dựng và kinh doanh sân gôn.

4. Thông tư số 01/2020/TT-BTNMT ngày 29/4/2020 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về kỹ thuật đánh giá chất lượng tài liệu hải văn, môi trường không khí và nước.

5. Thông tư 02/2020/TT-BTNMT ngày 29/4/2020 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về Danh mục địa danh dân cư, sơn văn, thủy văn, kinh tế - xã hội phục vụ công tác thành lập bản đồ tỉnh Đắk Nông.

6. Thông tư 03/2020/TT-BTP ngày 28/4/2020 của Bộ Tư pháp về Quy tắc nghề nghiệp trợ giúp pháp lý.

7. Thông tư 09/2020/TT-BGTVT ngày 23/4/2020 của Bộ Giao thông vận tải sửa đổi Thông tư 19/2017/TT-BGTVT quy định về quản lý và bảo đảm hoạt động bay.

​8. Thông tư 01/2020/TT-BNV ngày 05/6/2020 của Bộ Nội vụ bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật (Bãi bỏ toàn bộ các văn bản: Thông tư số 01/2011/TT-BNV ngày 19/01/2011 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính; Thông tư số 07/2012/TT-BNV ngày 22/11/2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn quản lý văn bản, lập hồ sơ và nộp lưu hồ sơ, tài liệu vào Lưu trữ cơ quan; Thông tư số 01/2019/TT-BNV ngày 24/01/2019 của Bộ Nội vụ quy định quy trình trao đổi, lưu trữ, xử lý tài liệu điện tử trong công tác văn thư, các chức năng cơ bản của Hệ thống quản lý tài liệu điện tử trong quá trình xử lý công việc của các cơ quan, tổ chức).

FalseTrần Thị Kim Yến
Thực hiện nghiêm Chương trình xây dựng luật, pháp lệnhThông tinThực hiện nghiêm Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Tại phiên họp chiều 10/6, với 94% đại biểu tán thành, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2021, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2020.
6/11/2020 4:00 PMNoĐã ban hành

​         Nghị quyết nêu rõ, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền đề cao trách nhiệm, thực hiện nghiêm Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh đã được Quốc hội quyết định, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, bảo đảm tuân thủ đầy đủ quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) trong công tác xây dựng pháp luật; không trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội dự án, dự thảo không bảo đảm đầy đủ hồ sơ, tài liệu, không bảo đảm chất lượng và tiến độ; kiểm điểm, xác định rõ nguyên nhân, trách nhiệm trong việc không hoàn thành nhiệm vụ soạn thảo được giao, phải lùi, rút dự án, dự thảo ra khỏi Chương trình để báo cáo Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; đồng thời có giải pháp kiên quyết xử lý để tiến tới chấm dứt tình trạng này.

        Cơ quan soạn thảo, cơ quan trình khi xây dựng dự thảo VBQPPL cần thực hiện nghiêm quy định tại khoản 2 Điều 12 Luật Ban hành VBQPPL; rà soát kỹ các văn bản đã ban hành để phát hiện, xử lý những vấn đề khác nhau giữa quy định của văn bản đang có hiệu lực và văn bản dự kiến ban hành, bảo đảm không để xảy ra mâu thuẫn, chồng chéo giữa các văn bản.

         Thực hiện nghiêm túc, đúng quy định của Luật Ban hành VBQPPL trong công tác tổ chức lấy ý kiến, tham gia ý kiến và tiếp thu ý kiến về dự án, dự thảo, huy động sự tham gia của đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học một cách thực chất, tránh hình thức...

          Cũng tại phiên họp, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp với tỉ lệ 94,41% đại biểu tán thành. Nghị quyết nêu rõ kéo dài thời hạn miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp được quy định tại Nghị quyết số 55/2010/QH12 ngày 24/11/2010 của Quốc hội về miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 28/2016/QH14 đến hết ngày 31/12/2025. Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2021. 

Thanh Tâm​

Nguồn: https://baophapluat.vn/trong-nuoc/thuc-hien-nghiem-chuong-trinh-xay-dung-luat-phap-lenh-522857.html

FalseĐào Thị Quyên
Quyết định số 14/2020/QĐ-UBND ngày 04 tháng 6 năm 2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình DươngVăn bản QPPLTinQuyết định số 14/2020/QĐ-UBND ngày 04 tháng 6 năm 2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương/CMSImageNew/2020-06/qd 14_Key_11062020143548.PNG
6/11/2020 3:00 PMNoĐã ban hành

​Ngày 04 tháng 6 năm 2020, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Quyết định quy định Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương. Quyết định này thay thế Quyết định số 40/2016/QĐ-UBND ngày 13/10/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc ban hành Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương nhằm đảm bảo thực hiện đúng số lượng các phòng chuyên môn và đơn vị sự nghiệp thuộc Sở sau khi sáp nhập, tinh gọn bộ máy và thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ theo quy định.​

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2020.

14-2020-QD.signed.pdf

FalseĐào Thị Quyên
Báo cáo Kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 05 năm 2016 – 2020 và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 05 năm 2021 - 2025Thông tinTinBáo cáo Kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 05 năm 2016 – 2020 và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 05 năm 2021 - 2025/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/10/2020 4:00 PMNoĐã ban hành

​Ngày 10/06/2020, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương ban hành Báo cáo số 69/BC-STP về Kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 05 năm 2016 – 2020 và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 05 năm 2021 - 2025​

BC_69_STP_XDVB.signed.pdf


FalseLê Thị Phương
UBND tỉnh thông qua các báo cáo, Tờ trình và dự thảo Nghị quyếtThông tinUBND tỉnh thông qua các báo cáo, Tờ trình và dự thảo Nghị quyết/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
TTĐT - Sáng 08-6, tại Trung tâm Hành chính tỉnh Bình Dương, ông Trần Thanh Liêm – Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì Phiên họp UBND tỉnh thông qua các báo cáo, Tờ trình và dự thảo Nghị quyết trình kỳ họp HĐND tỉnh vào giữa năm 2020.
6/10/2020 3:00 PMNoĐã ban hành

Tham dự có bà Nguyễn Thị Kim Oanh - Phó Chủ tịch HĐND tỉnh, các Phó Chủ tịch UBND tỉnh cùng đại diện các sở, ban, ngành. Phiên họp được trực tuyến đến 09 điểm cầu huyện, thị, thành phố.
Phiên họp đã thông qua 4 Tờ trình và dự thảo Nghị quyết về các vấn đề: Quy định mức thu, chế độ thu nộp, quản lý và sử dụng phí tham quan di tích lịch sử - văn hóa và danh thắng, Bảo tàng trên địa bàn tỉnh; quy định mức chi và sử dụng kinh phí thực hiện công tác thăm dò, khai quật khảo cổ từ nguồn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh; bãi bỏ Nghị quyết số 05/2013/NQ-HĐND8 ngày 31/7/2013 của HĐND tỉnh thông qua số lượng và việc thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức dự nguồn cấp xã trên địa bàn tỉnh; đề án sáp nhập khu phố 1 và khu phố 2 để thành lập khu phố mới thuộc phường Uyên Hưng, thị xã Tân Uyên.
Ngoài ra, còn có 3 dự thảo báo cáo được thông qua tại Phiên họp gồm: Tình hình và kết quả công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí 6 tháng đầu năm và phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2020; Kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân 6 tháng đầu năm 2020; Công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật 6 tháng đầu năm 2020.
Tại Phiên họp, các đại biểu cơ bản thống nhất với các nội dung báo cáo, Tờ trình và dự thảo Nghị quyết, đồng thời đóng góp một số nội dung cụ thể đối với các dự thảo nhằm hoàn chỉnh về thể thức, chính xác về nội dung và phù hợp với quy định.
Kết luận Phiên họp, Chủ tịch UBND tỉnh Trần Thanh Liêm đề nghị các sở, ngành có liên quan chịu trách nhiệm soạn thảo các nội dung Tờ trình, dự thảo Nghị quyết, báo cáo, khẩn trương chỉnh sửa, bổ sung hoàn chỉnh theo ý kiến đóng góp của đại biểu để trình HĐND tỉnh trong kỳ họp sắp tới.
Yến Nhi

FalseĐào Thị Quyên
Quy trình, thực trạng xây dựng Nghị định ở Việt Nam và một số đề xuất, kiến nghịThông tinTinQuy trình, thực trạng xây dựng Nghị định ở Việt Nam và một số đề xuất, kiến nghị/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/9/2020 10:00 AMNoĐã ban hành

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, nghị định có một vị trí, vai trò khá đặc biệt. Cùng với các loại văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) khác (như luật, pháp lệnh, thông tư…), nghị định đã cung cấp các quy định điều chỉnh trên hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội. Với phương châm xây dựng Chính phủ kiến tạo, phát triển, Chính phủ và từng thành viên Chính phủ đã dành nhiều thời gian cho công tác xây dựng pháp luật, trong đó có công tác xây dựng, ban hành các nghị định. Những năm gần đây, trung bình mỗi năm Chính phủ ban hành được trên 150 nghị định[1]. Kết quả này cho thấy nỗ lực rất lớn của Chính phủ và các Bộ, ngành trong việc soạn thảo, ban hành các nghị định, với quy trình khá chặt chẽ; tuy nhiên, một số hạn chế trong xây dựng các nghị định vẫn còn khá phổ biến. Bài viết này tập trung phân tích thực trạng về công tác xây dựng nghị định của Chính phủ, trong đó chú trọng vào quy trình xây dựng các loại nghị định, các bất cập, hạn chế và nêu một số đề xuất, kiến nghị trong thời gian tới.

1. Vị trí, vai trò của nghị định

Theo quy định tại Luật Ban hành VBQPPL năm 2015, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta bao gồm nhiều hình thức văn bản khác nhau, từ hiến pháp, luật, pháp lệnh, nghị định, thông tư, thông tư liên tịch, quyết định…, do các chủ thể có thẩm quyền ở Trung ương và địa phương ban hành, trong đó nghị định là hình thức VBQPPL do và chỉ do Chính phủ ban hành.

Theo nguyên tắc về hiệu lực VBQPPL, nghị định có vị trí về hiệu lực pháp lý khá cao trong hệ thống các VBQPPL. Cụ thể, nghị định có giá trị hiệu lực chỉ sau hiến pháp, luật (bộ luật), nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; lệnh, quyết định của Chủ tịch nước. So với các hình thức VBQPPL còn lại khác, nghị định có hiệu lực pháp lý cao hơn.

Có bao nhiêu loại nghị định?

Căn cứ vào các quy định pháp luật (Điều 19 của Luật Ban hành VBQPPL năm 2015); xét về mặt khoa học và cả thực tiễn, có thể phân nghị định thành 03 loại (nhóm) như sau:

  1. Loại nghị định quy định chi tiết các VBQPPL có hiệu lực pháp lý cao hơn;
  2. Loại nghị định quy định biện pháp tổ chức thi hành pháp luật; thực hiện chính sách kinh tế - xã hội;
  3. Loại nghị định quy định các vấn đề cần thiết thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh.
    Đối với 02 loại (nhóm) nghị định đầu tiên, còn gọi là nghị định "có đầu", tức đã có các VBQPPL có hiệu lực pháp lý cao hơn quy định về vấn đề mà nghị định đề cập đến, tuy nhiên do các văn bản có hiệu lực cao hơn này chưa quy định cụ thể, chi tiết hoặc chưa quy định rõ biện pháp để tổ chức thi hành nên giao cho Chính phủ hoặc Chính phủ chủ động quy định, hướng dẫn thêm. Riêng loại (nhóm) nghị định thứ 3 điều chỉnh những vấn đề mới, vấn đề chưa có văn bản pháp lý cao hơn nghị định điều chỉnh, nên còn gọi là nghị định "không đầu". Tương ứng với mỗi loại nghị định thì trình tự, thủ tục xây dựng và ban hành có sự khác nhau.

    2. Quy định hiện nay về quy trình xây dựng nghị định
     Như đã nêu ở trên, tùy thuộc vào từng loại nghị định mà quy trình (trình tự, thủ tục) xây dựng, ban hành có sự khác nhau. Phần này, tác giả đề cập đến quy định của pháp luật hiện hành đối với việc xây dựng từng loại nghị định.
    2.1. Quy trình xây dựng nghị định quy định chi tiết các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn
    - Bước 1: Lập danh mục nghị định quy định chi tiết và phân công cơ quan chủ trì soạn thảo.
    Sau khi luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước được ban hành, Bộ Tư pháp phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ xác định những điều, khoản, nội dung cụ thể trong các văn bản đó giao cho Chính phủ quy định chi tiết. Trên cơ sở đó, Bộ Tư pháp lập danh mục các nghị định quy định chi tiết trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định. Trong Quyết định này, Thủ tướng phân công cụ thể cơ quan (Bộ, cơ quan ngang Bộ) chủ trì soạn thảo và thời hạn thực hiện.  
    - Bước 2: Cơ quan được giao chủ trì soạn thảo tiến hành soạn thảo nghị định.
    Theo quy định tại Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 thì việc soạn thảo các nghị định quy định chi tiết đã được chuẩn bị trong quá trình xây dựng các văn bản có hiệu lực cao hơn mà nghị định quy định chi tiết, cụ thể tại Khoản 2 Điều 11 của Luật này quy định "Dự thảo văn bản quy định chi tiết phải được chuẩn bị và trình đồng thời với dự án luật, pháp lệnh và phải được ban hành để có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của văn bản hoặc điều, khoản, điểm được quy định chi tiết".
    Có thể nhận thấy, đang có sự lẫn lộn giữa bước 1 và bước 2 trong quy trình xây dựng các nghị định quy định chi tiết. Xét về lý thuyết, nếu hoàn toàn thực hiện theo Khoản 2 Điều 11 nêu trên thì việc soạn thảo nghị định quy định chi tiết đã được thực hiện trước khi lập danh mục các nghị định cần ban hành để quy định chi tiết luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước. Tuy nhiên, vẫn có những trường hợp khi rà soát để lập danh mục nghị định quy định chi tiết thì mới phát sinh những nghị định mới chưa được chuẩn bị trong quá trình xây dựng luật, pháp lệnh… dẫn đến việc soạn thảo nghị định chỉ bắt đầu tiến hành sau khi đã xác định rõ danh mục nghị định quy định chi tiết.
    Để tổ chức soạn thảo, cơ quan chủ trì (bộ, cơ quan ngang bộ) có thể thành lập Ban Soạn thảo. Ban soạn thảo gồm Trưởng ban là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì soạn thảo và các thành viên khác là đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo, cơ quan, tổ chức có liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học am hiểu các vấn đề chuyên môn thuộc nội dung của dự thảo nghị định.
    - Bước 3: Tổ chức lấy ý kiến đối với dự thảo nghị định quy định chi tiết.
    Theo quy định tại Điều 91 Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 thì trong quá trình soạn thảo nghị định, cơ quan chủ trì soạn thảo phải lấy ý kiến các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản và bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ. Theo đó, bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì soạn thảo nghị định phải đăng tải dự thảo trong thời gian tối thiểu 60 ngày trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ và cổng thông tin điện tử của cơ quan chủ trì soạn thảo. Ngoài đăng tải để lấy ý kiến, việc lấy ý kiến có thể thông qua hình thức lấy ý kiến trực tiếp, gửi dự thảo đề nghị góp ý kiến, tổ chức hội thảo, tọa đàm, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng. Bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì soạn thảo nghị định có trách nhiệm tổng hợp, nghiên cứu, tiếp thu các ý kiến góp ý và đăng tải nội dung giải trình, tiếp thu trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ và cổng thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức mình để Nhân dân biết.
    - Bước 4: Bộ Tư pháp thực hiện thẩm định dự thảo nghị định quy định chi tiết.
    Trên cơ sở kết quả lấy ý kiến đối với dự thảo nghị định, bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì soạn thảo hoàn thiện dự thảo và gửi Bộ Tư pháp thẩm định. Đối với dự thảo nghị định có nội dung phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực hoặc do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo thì Bộ trưởng Bộ Tư pháp thành lập hội đồng thẩm định, bao gồm đại diện các cơ quan, tổ chức có liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học.
    Báo cáo thẩm định của Bộ Tư pháp phải thể hiện rõ ý kiến của cơ quan thẩm định về nội dung theo quy định như tính hợp hiến, hợp pháp, sự phù hợp của nội dung dự thảo nghị định với văn bản được quy định chi tiết, tính khả thi và ý kiến về việc dự thảo đủ điều kiện hoặc chưa đủ điều kiện trình Chính phủ. Báo cáo thẩm định của Bộ Tư pháp phải được gửi đến cơ quan chủ trì soạn thảo trong thời hạn chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày cơ quan thẩm định nhận đủ hồ sơ gửi thẩm định. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu, giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định để chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo nghị định và đồng thời gửi báo cáo giải trình, tiếp thu kèm theo dự thảo văn bản đã được chỉnh lý đến cơ quan thẩm định khi trình Chính phủ dự thảo nghị định.
    - Bước 5: Trình Chính phủ dự thảo nghị định quy định chi tiết.
    Nếu nội dung dự thảo nghị định còn có ý kiến khác nhau giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ về những vấn đề lớn thì Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ tổ chức cuộc họp gồm đại diện lãnh đạo của cơ quan chủ trì soạn thảo, Bộ Tư pháp, bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có liên quan để thảo luận trước khi trình Chính phủ xem xét, quyết định. Căn cứ vào ý kiến tại cuộc họp này, cơ quan chủ trì soạn thảo phối hợp với các cơ quan có liên quan tiếp tục chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo để trình Chính phủ.
    - Bước 6: Chính phủ xem xét, thông qua và Thủ tướng Chính phủ ký ban hành nghị định.
    Việc xem xét, thông qua nghị định được Chính phủ thực hiện tại cuộc họp của Chính phủ (có thể họp riêng về công tác xây dựng pháp luật hoặc tại các cuộc họp thường kỳ của Chính phủ) hoặc thể hiện thông qua việc lấy phiếu xin ý kiến thành viên Chính phủ (do Văn phòng Chính phủ tổ chức lấy phiếu).
    Cơ quan chủ trì soạn thảo phối hợp với Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ và các cơ quan có liên quan chỉnh lý dự thảo nghị định theo ý kiến của Chính phủ (nếu có) trước khi Chính phủ biểu quyết thông qua dự thảo nghị định. Trong trường hợp dự thảo nghị định chưa được thông qua thì Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo những vấn đề cần phải chỉnh lý và ấn định thời gian trình lại dự thảo, đồng thời giao cơ quan chủ trì soạn thảo hoàn thiện dự thảo để trình Chính phủ xem xét, thông qua.
    Thủ tướng Chính phủ ký nghị định sau khi dự thảo nghị định đã được Chính phủ biểu quyết thông qua.
    2.2. Quy trình xây dựng nghị định quy định biện pháp tổ chức thi hành pháp luật; thực hiện chính sách kinh tế - xã hội
    Theo quy định của Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 (Điều 84) thì việc xây dựng loại nghị định quy định biện pháp tổ chức thi hành pháp luật, thực hiện chính sách kinh tế - xã hội cần phải thực hiện lập đề nghị xây dựng trước khi soạn thảo. Do vậy, quy trình xây dựng loại nghị định này được chia thành 02 giai đoạn khá rõ ràng: (i) Giai đoạn lập, thông qua đề nghị xây dựng nghị định; và (ii) Giai xây dựng dự thảo nghị định, cụ thể như sau:
    * Giai đoạn lập, thông qua đề nghị xây dựng nghị định:
    - Bước 1: Lập đề nghị xây dựng nghị định.
    Bộ, cơ quan ngang bộ thực hiện tổng kết việc thi hành pháp luật, đánh giá các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan đến đề nghị xây dựng nghị định; khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến đề nghị xây dựng nghị định. Trong trường hợp cần thiết, đề nghị cơ quan, tổ chức có liên quan tổng kết, đánh giá việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực do cơ quan, tổ chức đó phụ trách có liên quan đến đề nghị xây dựng nghị định. Trên cơ sở đó, xây dựng nội dung của chính sách trong đề nghị xây dựng nghị định; đánh giá tác động của chính sách; dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc thi hành nghị định.
    - Bước 2: Lấy ý kiến đối với đề nghị xây dựng nghị định.
    Bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì lập lập đề nghị xây dựng nghị định tổ chức lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của chính sách trong đề nghị xây dựng nghị định và cơ quan, tổ chức có liên quan; đăng tải toàn văn hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ và của cơ quan đề nghị xây dựng nghị định trong thời hạn ít nhất là 30 ngày để các cơ quan, tổ chức, cá nhân góp ý kiến. Cơ quan lập đề nghị xây dựng nghị định có thể tổ chức lấy ý kiến trực tiếp, tổ chức hội thảo, tọa đàm để lấy ý kiến về các chính sách dự kiến trong đề nghị xây dựng nghị định.
    Bộ Tài chính có trách nhiệm góp ý kiến về nguồn tài chính, Bộ Nội vụ có trách nhiệm góp ý kiến về nguồn nhân lực, Bộ Ngoại giao có trách nhiệm góp ý kiến về tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, Bộ Tư pháp có trách nhiệm góp ý kiến về tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của đề nghị xây dựng nghị định với hệ thống pháp luật.
    Cơ quan lập đề nghị xây dựng nghị định tổng hợp, nghiên cứu, giải trình, tiếp thu các ý kiến góp ý; đăng tải báo cáo giải trình, tiếp thu trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ và của cơ quan đề nghị xây dựng nghị định.
    - Bước 3: Bộ Tư pháp thực hiện thẩm định đề nghị xây dựng nghị định.
    Trên cơ sở kết quả lấy ý kiến đối với đề nghị xây dựng nghị định, bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì lập đề nghị có trách nhiệm hoàn thiện đề nghị và gửi Bộ Tư pháp thẩm định. Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao và các cơ quan, tổ chức có liên quan để thẩm định đề nghị xây dựng nghị định trong vòng 20 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ. Báo cáo thẩm định phải được gửi đến cơ quan lập đề nghị xây dựng nghị định chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày kết thúc thẩm định, trong đó kết luận rõ về việc hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định đủ điều kiện trình Chính phủ, hồ sơ cần tiếp tục hoàn thiện, hồ sơ không đủ điều kiện trình Chính phủ. Cơ quan lập đề nghị xây dựng nghị định có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu ý kiến thẩm định để chỉnh lý, hoàn thiện hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định trình Chính phủ.
    - Bước 4: Trình Chính phủ xem xét, thông qua đề nghị xây dựng nghị định.
    Trên cơ sở ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp, Bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì lập đề nghị xây dựng nghị định hoàn thiện hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định và trình chính phủ xem xét, thông qua tại phiên họp của Chính phủ.
    Trên cơ sở thảo luận, thông qua đề nghị xây dựng nghị định của Chính phủ, Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, cơ quan đề nghị xây dựng nghị định soạn thảo nghị quyết về đề nghị xây dựng nghị định của Chính phủ trình Thủ tướng Chính phủ xem xét và ký ban hành.
    * Giai đoạn xây dựng dự thảo nghị định
    Bộ, cơ quan ngang bộ tổ chức xây dựng dự thảo nghị định trên cơ sở các chính sách đã được Chính phủ thông qua. Các bước xây dựng dự thảo nghị định quy định biện pháp tổ chức thi hành được thực hiện giống 06 bước tại quy trình xây dựng nghị định quy định chi tiết như đã nêu tại mục 2.1 ở trên.
    Như vậy, tính cả 02 giai đoạn thì quy trình xây dựng nghị định quy định biện pháp tổ chức thi hành pháp luật, thực hiện chính sách kinh tế - xã hội trải qua tổng cộng 10 bước.
    2.3. Quy trình xây dựng nghị định quy định các vấn đề cần thiết thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh
    Về cơ bản, quy trình xây dựng nghị định quy định các vấn đề cần thiết thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh tương tự như quy trình xây dựng loại nghị định quy định biện pháp tổ chức thi hành pháp luật, thực hiện chính sách kinh tế - xã hội như ở mục 2.2 nêu trên. Theo đó, việc xây dựng loại nghị định này cũng được tiến hành theo 02 giai đoạn (giai đoạn lập đề nghị xây dựng nghị định và giai đoạn xây dựng dự thảo nghị định).
    Điểm khác nhau trong quy trình xây dựng loại nghị định này so với quy trình xây dựng nghị định quy định biện pháp tổ chức thi hành là tại giai đoạn 2 (xây dựng dự thảo nghị định) sẽ có thêm 01 bước xin ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Cụ thể, sau khi kết thúc bước 5 của giai đoạn 2 (trình Chính phủ dự thảo nghị định), trước khi xem xét, thông qua, Chính phủ phải trình Ủy ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến. Dự thảo nghị định được Hội đồng dân tộc hoặc Ủy ban của Quốc hội thẩm tra trước khi Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến. Tiếp đó, Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến và quyết định việc cho phép ban hành nghị định. Sau khi được Ủy ban thường vụ Quốc hội cho phép, Chính phủ có trách nhiệm tiếp thu ý kiến của Ủy ban thường vụ Quốc hội (nếu có) để hoàn thiện và xem xét, thông qua nghị định và Thủ tướng Chính phủ ký ban hành nghị định (tương tự bước 6 ở trên).
    Như vậy, quy trình xây dựng nghị định quy định các vấn đề cần thiết thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh bao gồm 02 giai đoạn, với tổng số 11 bước.
    3. Thực trạng xây dựng nghị định ở nước ta hiện nay
    3.1. Một số kết quả nổi bật
    - Tính riêng từ đầu nhiệm kỳ (năm 2016) đến nay, Chính phủ đã ban hành  được tổng số 673 nghị định, cụ thể: Năm 2016 ban hành 175 nghị định; năm 2017 ban hành 168 nghị định; năm 2018 ban hành 169 nghị định; năm 2019 ban hành 100 nghị định; năm tháng đầu năm 2020 ban hành 61 nghị định[2].
    - Chất lượng các nghị định do Chính phủ ban hành nhìn chung được bảo đảm. Các nghị định được Chính phủ ban hành tương đối kịp thời để điều chỉnh các lĩnh vực của đời sống xã hội trong công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, để quy định chi tiết các VBQPPL có hiệu lực cao hơn (có điều, khoản, điểm giao cho Chính phủ quy định chi tiết), hay để điều chỉnh những quan hệ phát sinh mà lẽ ra phải thuộc thẩm quyền ban hành VBQPPL của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội để điều chỉnh.
    - Quy trình xây dựng từng loại nghị định đã được Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ tuân thủ tương đối đầy đủ, chặt chẽ theo đúng quy định của Luật ban hành VBQPPL năm 2015, Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật ban hành VBQPPL. Trong từng bước, từng công đoạn đều có những quy trình chi tiết hơn, từ việc lập đề nghị xây dựng nghị định; tổ chức soạn thảo, lấy ý kiến, thẩm định dự thảo nghị định; trình Chính phủ xem xét, thông qua nghị định… Sản phẩm, kết quả của từng bước, từng giai đoạn được thể hiện rõ ràng.
    Những kết quả nổi bật đó đã góp phần quan trọng trong việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật ở nước ta, đồng thời cũng là thực hiện sự kết hợp giữa cải cách lập pháp và cải cách hành chính[3], qua đó đóng góp chung vào thành tự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
    3.2. Những bất cập, hạn chế
    Bên cạnh những kết quả đạt được, thực trạng công tác xây dựng, ban hành nghị định ở nước ta hiện nay còn có một số bất cập, hạn chế cả trong quy định và trong tổ chức thực hiện, cụ thể như sau:
    - Thứ nhất, tình trạng "nợ đọng" nghị định quy định chi tiết còn nhiều. Mặc dù đã có nhiều cố gắng, và có năm (năm 2017) đã không để nợ nghị định quy định chi tiết[4], nhưng nhìn chung tình trạng nợ đọng này vẫn là một trong những hạn chế lớn nhất trong công tác xây dựng các nghị định của Chính phủ và đang có xu hướng tăng nhiều hơn số nợ đọng. Chẳng hạn đến cuối năm 2018, Chính phủ nợ 04 nghị định[5]; cuối năm 2019 nợ 09 nghị định[6]; đến cuối tháng 5/2020, Chính phủ còn nợ tổng số 10 nghị định quy định chi tiết[7].
    - Thứ hai, có hiện tượng "lạm dụng" việc kết hợp ban hành loại nghị định quy định chi tiết với loại nghị định quy định biện pháp tổ chức thi hành pháp luật; thực hiện chính sách kinh tế - xã hội nhằm "lách" quy trình xây dựng.
    Như đã phân tích ở trên, đối với loại nghị định quy định chi tiết thì cơ quan chủ trì soạn thảo (bộ, cơ quan ngang bộ) thực hiện ngay giai đoạn soạn thảo nghị định; trong khi đó loại nghị định quy định biện pháp thi hành thì phải thực hiện giai đoạn lập đề nghị xây dựng nghị định; sau khi được Chính phủ thông qua đề nghị thì mới thực hiện giai đoạn soạn thảo nghị định. Tuy nhiên, thực tế rất nhiều cơ quan soạn thảo đã kết hợp hai loại nghị định này chung trong một nghị định và "ăn theo" quy trình xây dựng nghị định quy định chi tiết để không phải tiến hành giai đoạn lập, thông qua đề nghị xây dựng nghị định. Đó là chưa nói đến thực tế nhiều nghị định quy định chi tiết được Thủ tướng Chính phủ cho phép xây dựng theo quy trình rút gọn. Do vậy, một số nội dung trong các Nghị định quy định chi tiết và biện pháp thi hành… có các chính sách, quy định quan trọng lẽ ra cần phải tổ chức đánh giá kỹ qua giai đoạn lập đề nghị xây dựng nghị định, nhưng đã không được thực hiện.
    Bên cạnh đó, loại nghị định quy định chi tiết chưa được sử dụng thống nhất tên gọi. Có nghị định tên là "quy định chi tiết một số điều của Luật…"; có nghị định là "quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật…"; cũng có nghị định tên là "hướng dẫn chi tiết Luật…"[8], mặc dù về bản chất thì đây đều là loại nghị định quy định chi tiết.
    - Thứ ba, việc đánh giá tác động của chính sách và thông qua đề nghị xây dựng nghị định chưa được quan tâm đúng mức.
    Việc quy định giai đoạn lập, thông qua đề nghị xây dựng nghị định đối với loại nghị định quy định biện pháp thi hành và loại "nghị định không đầu" đã phát huy khá tốt trách nhiệm của cơ quan lập đề nghị trong việc tổng kết thực tiễn; nghiên cứu, đánh giá tác động của chính sách dự kiến được đưa vào nghị định, làm cho nghị định (nếu được ban hành) sẽ sát thực tế, bảo đảm tính khả thi. Tuy nhiên, không ít cơ quan thực hiện hoạt động này còn sơ sài, mang tính hình thức để đủ hồ sơ, quy trình theo yêu cầu mà chưa chú trọng đúng mức chất lượng của các hoạt động ở giai đoạn này, nhất là việc đánh giá tác động của chính sách.
    Bên cạnh đó, dù Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 đã quy định rất rõ là "Trên cơ sở thảo luận, thông qua đề nghị xây dựng nghị định của Chính phủ, Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, cơ quan đề nghị xây dựng nghị định soạn thảo nghị quyết về đề nghị xây dựng nghị định của Chính phủ trình Thủ tướng Chính phủ xem xét và ký ban hành", nhưng thực tế rất hiếm khi Chính phủ ban hành nghị quyết riêng về đề nghị xây dựng nghị định, mà chủ yếu là lồng ghép trong nghị quyết của Chính phủ về phiên họp thường kỳ hàng tháng, vốn có rất nhiều nội dung quan trọng khác. Tất nhiên, cách làm này là vẫn bảo đảm phù hợp với quy định nhưng phần nào lại chưa thể hiện sự ưu tiên, tập trung của Chính phủ cho công tác xây dựng thể chế nói chung, xây dựng nghị định nói riêng.
    - Thứ tư, quy định việc trình dự thảo nghị định quy định chi tiết cùng với việc trình luật, pháp lệnh đã và đang bộc lộ nhiều điểm không phù hợp.
    Thực tế cho thấy, bên cạnh các nội dung trong luật, pháp lệnh… nên ủy quyền cho Chính phủ quy định chi tiết để bảo đảm sự linh hoạt, thì có không ít nội dung là những vấn đề lớn, vấn đề khó mà khi xây dựng luật, pháp lệnh vẫn chưa "dự liệu" hết nên đã giao cho Chính phủ nghiên cứu để tiếp tục quy định chi tiết. Trong khi đó, Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 (tại Điều 11) lại yêu cầu nghị định quy định chi tiết luật, pháp lệnh phải trình đồng thời khi trình luật, pháp lệnh. Mặc dù, xét về mặt quy định thuần túy, thì đây là yêu cầu khá tốt để Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội có thể "kiểm soát" được bước đầu những nội dung mà Chính phủ sẽ quy định chi tiết. Tuy nhiên, chưa có quy định nào xác định "giá trị" của các dự thảo nghị định quy định chi tiết được trình kèm theo này, nên thực tế cơ quan chủ trì soạn thảo hầu như mới chỉ chuẩn bị các nghị định quy định chi tiết để trình kèm theo cho đủ hồ sơ, chứ chưa thể bảo đảm được nội dung tương đối của các dự thảo nghị định này. Thậm chí, có không ít ý kiến cho rằng, nếu quy định được chi tiết kèm theo thì tại sao lại không quy định chi tiết luôn trong dự thảo luật, pháp lệnh?. Đó là chưa nói, về mặt số lượng, số nghị định quy định chi tiết thực tế sau này còn có sự khác biệt so với số nghị định được chuẩn bị để trình kèm theo.
    - Thứ năm, quy định về trình tự, thủ tục Chinh phủ xem xét, thông qua nghị định còn thiếu tính khả thi.
    Điều 96 của Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 quy định trình tự, thủ tục Chính phủ xem xét, thông qua nghị định rất chặt chẽ, "không khác gì Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thảo luận, thông qua luật, pháp lệnh"[9], với tuần tự: (1) Đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo thuyết trình về dự thảo nghị định; (2) Đại diện Bộ Tư pháp phát biểu về việc giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định; (3) Đại diện Văn phòng Chính phủ nêu những vấn đề cần thảo luận; (4) Đại diện cơ quan, tổ chức tham dự phiên họp phát biểu ý kiến; (5) Chính phủ thảo luận; Cơ quan chủ trì soạn thảo phối hợp với Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ và các cơ quan có liên quan chỉnh lý dự thảo nghị định theo ý kiến của Chính phủ; (6) Chính phủ biểu quyết thông qua dự thảo nghị định; trong trường hợp dự thảo nghị định chưa được thông qua thì Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo những vấn đề cần phải chỉnh lý và ấn định thời gian trình lại dự thảo, đồng thời giao cơ quan chủ trì soạn thảo hoàn thiện dự thảo để trình Chính phủ xem xét, thông qua; (7) Thủ tướng Chính phủ ký nghị định.
    Tuy nhiên, thực tế có rất ít nghị định được Chính phủ xem xét, thông qua với trình tự nêu trên, mà chủ yếu là các dự thảo nghị định được gửi Phiếu lấy ý kiến thành viên Chính phủ để thông qua, sau đó được tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, ký ban hành nghị định. Nói cách khác, đây là quy định không bảo đảm tính khả thi, không phù hợp với thực tiễn quản lý, điều hành của Chính phủ[10].
    4. Một số kiến nghị
    Để tiếp tục hoàn thiện quy trình xây dựng nghị định ở nước ta hiện nay, nhất là trong lúc đang tiến hành sửa đổi Luật Ban hành VBQPPL năm 2015; nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả ban hành các nghị định của Chính phủ, tác giả kiến nghị một số nội dung như sau:
    - Một là, trong quá trình xây dựng các luật, pháp lệnh, cần nghiên cứu để quy định chi tiết, cụ thể các nội dung, hạn chế đến mức thấp nhất việc "ủy quyền" cho Chính phủ ban hành nghị định quy định chi tiết. Trường hợp, với những vấn đề mới, khó, cần thêm thời gian nghiên cứu để quy định chi tiết thì trong luật, pháp lệnh phải dự liệu lộ trình, thời hạn cụ thể và đủ thời gian cho việc ban hành nghị định quy định chi tiết; thời hạn có hiệu lực của các nội dung đó có thể sau thời hạn có hiệu lực của luật, pháp lệnh.
    - Hai là, có quy định tách bạch hoàn toàn loại nghị định quy định chi tiết (không cần lập và thông qua đề nghị xây dựng nghị định) và loại nghị định quy định biện pháp thi hành (phải lập và thông qua đề nghị xây dựng nghị định, trong đó chú trọng đánh giá tác động của chính sách); không cho phép ban hành một nghị định vừa quy định chi tiết, vừa quy định biện pháp thi hành mà không thông qua giai đoạn lập đề nghị.
    Cùng với đó, cần quy định thống nhất tên gọi cho loại nghị định quy định chi tiết là "Nghị định quy định chi tiết Luật/Pháp lệnh/Nghị quyết….", tránh tình trạng tồn tại nhiều tên gọi như thực tế hiện nay. Quy định "giá trị" của dự thảo nghị định được chuẩn bị để trình kèm theo luật, pháp lệnh và cơ chế để Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội "kiểm soát" việc ban hành nghị định quy định chi tiết của Chính phủ (như yêu cầu thành phần Ban soạn thảo/Tổ biên tập nghị định phải có đại diện của Hội đồng Dân tộc hoặc các Ủy ban liên quan của Quốc hội tham gia; dự thảo nghị định quy định chi tiết bắt buộc phải lấy ý kiến, tiếp thu, giải trình ý kiến của các cơ quan liên quan của Quốc hội…).
    - Ba là, các bộ, cơ quan ngang bộ quan tâm hơn đến việc xây dựng nghị định nói chung và lập đề nghị xây dựng nghị định nói riêng, trong đó đặc biệt ưu tiên nguồn lực thực hiện hoạt động đánh giá tác động của chính sách.
    Chính phủ nên ưu tiên ban hành các nghị quyết riêng để thông qua đề nghị xây dựng nghị định do các bộ, ngành đề xuất.
    - Bốn là, quy định linh hoạt việc xem xét, thông qua nghị định của Chính phủ tại tại phiên họp Chính phủ hoặc thông qua việc gửi Phiếu lấy ý kiến thành viên Chính phủ để bảo đảm cho công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ.
    - Năm là, cùng với hoàn thiện quy trình xây dựng nghị định thì cũng cần tránh việc đề cao quá mức về nội dung này, thậm chí "không cần phải quy định thủ tục soạn thảo quá chi tiết, chặt chẽ"[11]. Thay vào đó, Chính phủ và các bộ, ngành cần chú trọng hơn đến nguồn lực bảo đảm, bao gồm nhân lực, kinh phí, cơ sở vật chất…, cho công tác xây dựng pháp luật nói chung, công tác xây dựng nghị định nói riêng. Đây mới là mấu chốt để nâng cao hiệu lực, hiệu quả việc xây dựng nghị định trong thời gian tới./.

[1] Tác giả tổng hợp số liệu từ Cổng thông tin điện tử Chính phủ, tại <http://vanban.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban>, xem ngày 30/5/2020.

[2] Theo Cổng thông tin điện tử Chính phủ, tại <http://vanban.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban>, xem ngày 02/6/2020.

[3] Nguyễn Phước Thọ, "Một số vướng mắc, bất cập trong quy trình xây dựng, ban hành nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ", Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 10/2018.

[4] Bộ Tư pháp, "Báo cáo số 01/BC-BTP ngày 02/01/2018 tổng kết công tác tư pháp năm 2017 và phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp công tác năm 2018", Hà Nội.

[5] Bộ Tư pháp, "Báo cáo số 313/BC-BTP ngày 26/12/2018 về tình hình thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh và xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết năm 2018, nhiệm vụ năm 2019", Hà Nội.

[6] Bộ Tư pháp, "Báo cáo số 342/BC-BTP ngày 25/12/2019 về tình hình thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh và xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết năm 2019, nhiệm vụ năm 2020", Hà Nội.

[7] Bộ Tư pháp, "Báo cáo số 110/BC-BTP ngày 29/5/2020 về tình hình thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh và xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết trong tháng 5/2020 và nhiệm vụ tháng 6/2020", Hà Nội.

[8] Ví dụ: Nghị định số 25/2020/NĐ-CP ngày 28/02/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà đầu tư; Nghị định 13/2020/NĐ-CP ngày 21/01/2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi.

[9] Nguyễn Phước Thọ, "Một số vướng mắc, bất cập trong quy trình xây dựng, ban hành nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ", Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 10/2018.

[10] Nguyễn Phước Thọ, "Một số vướng mắc, bất cập trong quy trình xây dựng, ban hành nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ", Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 10/2018.

[11] Nguyễn Minh Đoan, "Một số ý kiến về Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật", Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 15 (391) tháng 8/2019.

NCS.Ths.Lê Tuấn Phong

Nguồn: https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2548

FalseĐào Thị Quyên
Ủy ban Thường vụ Quốc hội vừa thông qua Nghị quyết số 954/2020/UBTVQH14 ngày 02/6/2020 về điều chỉnh mức giảm trừ  gia cảnh của thuế thu nhập cá nhânThông tin; Văn bản QPPLTinỦy ban Thường vụ Quốc hội vừa thông qua Nghị quyết số 954/2020/UBTVQH14 ngày 02/6/2020 về điều chỉnh mức giảm trừ  gia cảnh của thuế thu nhập cá nhân/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/8/2020 2:00 PMNoĐã ban hành

      Theo đó, điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh quy định tại khoản 1 Điều 19 của Luật Thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 26/2012/QH13 như sau:

      1. Mức giảm trừ đối với đối tượng nộp thuế là 11 triệu đồng/tháng (132 triệu đồng/năm);

      2. Mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 4,4 triệu đồng/tháng.

      Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2020 và áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2020.

     Các trường hợp đã tạm nộp thuế theo mức giảm trừ gia cảnh quy định tại khoản 1 Điều 19 của Luật Thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 26/2012/QH13 được xác định lại số thuế thu nhập cá nhân phải nộp theo mức giảm trừ gia cảnh quy định tại Nghị quyết này khi quyết toán thuế thu nhập cá nhân năm 2020./.

Đính kèm theo file​:

Nghị quyết số 9542020UBTVQH14.pdf

FalseHuỳnh Hữu Tốt
Áp dụng và đính chính hệ số điều chỉnh giá đất (K) năm 2020  trên địa bàn tỉnh Bình DươngVăn bản QPPL; Thông tinTinÁp dụng và đính chính hệ số điều chỉnh giá đất (K) năm 2020  trên địa bàn tỉnh Bình Dương/CMSImageNew/2020-06/23_Key_05062020135437.PNG
6/5/2020 2:00 PMNoĐã ban hành

​        Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Công văn 2177/UBND-KT ngày 07 tháng 5 năm 2020 về việc áp dụng và đính chính hệ số điều chỉnh giá đất (K) năm 2020 trên địa bàn 02 thành phố và 04 phường được thành lập theo Nghị quyết số 857/NQ-UBTVQH14 ngày 10 tháng 01 năm 2020 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, theo đó, hệ số điều chỉnh giá đất (K) năm 2020 trên địa bàn tỉnh Bình Dương được áp dụng và đính chính, cụ thể như sau:

      1. Hệ số điều chỉnh giá đất (K) năm 2020 trên địa bàn tỉnh Bình Dương quy định đối với các tuyến đường thuộc địa bàn 02 thị xã: Thuận An, Dĩ An và 04 xã: Vĩnh Tân, Hội Nghĩa, Phú Chánh, Tân Vĩnh Hiệp (thị xã Tân Uyên) được áp dụng cho địa bàn 02 thành phố: Thuận An, Dĩ An và 04 phường: Vĩnh Tân, Hội Nghĩa, Phú Chánh, Tân Vĩnh Hiệp (thị xã Tân Uyên).

     2. Đính chính một số tuyến đường bị trùng lặp trong Phụ lục III (ban hành kèm theo Quyết định số 37/2019/QĐ-UBND ngày 20 tháng 12 năm 2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc quy định hệ số điều chỉnh giá đất (K) năm 2020 trên địa bàn tỉnh Bình Dương) trên địa bàn thị xã Tân Uyên như sau:  

a) Đính chính các tuyến đường tại số thứ thự 13, 14 thuộc điểm C (đường loại 3), mục V (thị xã Tân Uyên) như sau:

STTTÊN ĐƯỜNGĐOẠN ĐƯỜNGHỆ SỐ (K)
TỪĐẾNĐất nông nghiệpĐất phi nông nghiệp
V.THỊ XÃ TÂN UYÊN 
C.Đường loại 3 

 

 

 

13

 

 

Trương Thị NởĐT-746 nối dài (Khu phố 3)

ĐT-747

(Khu phố 3 - Phường Uyên Hưng)

1,3

 

 

1,2

Đường Khu phố 3

ĐT-747

(Quán Út Kịch)

Hết khu tập thể Ngân hàng1,3

 

1,2

Đoàn Thị LiênTrương Thị Nở (Khu phố 3)

ĐT-747

(Khu phố 3 - Phường Uyên Hưng)

1,3

 

 

1,2

14Huỳnh Thị ChấuĐT-747 (Trụ sở khối Mặt trận - Đoàn thể phường Uyên Hưng - Khu phố 2)

ĐT-747

(Khu phố 1 - Phường Uyên Hưng)

1,3

 

 

1,2

Đường phốTT Văn hóa Thông tinChợ cũ Uyên Hưng1,3

 

1,2

b) Đính chính tên tuyến đường tại số thứ tự 10 thuộc điểm D (đường loại 4), mục V (thị xã Tân Uyên) như sau:

STTTÊN ĐƯỜNGĐOẠN ĐƯỜNGHỆ SỐ (K)
TỪĐẾNĐất nông nghiệpĐất phi nông nghiệp
V.THỊ XÃ TÂN UYÊN 
D.Đường loại 4 
10Lê Thị CộngTố Hữu (ĐH-412)ĐT-747 (Khu phố 7)1,31,2

c) Bãi bỏ các tuyến đường tại số thứ tự 11, 12, 13, 15 thuộc điểm D (đường loại 4), mục V (thị xã Tân Uyên)./.

 

 

​ 

FalseLê Thị Phương
Một số nội dung Bảng giá các loại đất giai đoạn 2020 - 2024 trên địa bàn tỉnh Bình Dương được điều chỉnh và đính chính lạiThông tin; Văn bản QPPLTinMột số nội dung Bảng giá các loại đất giai đoạn 2020 - 2024 trên địa bàn tỉnh Bình Dương được điều chỉnh và đính chính lại/CMSImageNew/2020-06/13_Key_05062020132539.PNG
6/5/2020 12:00 PMNoĐã ban hành

      Căn cứ Nghị Quyết số 857/NQ-UBTVQH14 ngày 10 tháng 01 năm 2020 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc thành lập thành phố Dĩ An, thành phố Thuận An và 04 phường thuộc thị xã Tân Uyên tỉnh Bình Dương .​

Ngày 29/4/2020 Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Công văn số 66/HĐND-KTNS về việc áp dụng và đính chính một số nội dung ban hành kèm theo          Nghị quyết số 20/2019/NQ-HĐND ngày 12 tháng 12 năm 2019 của Hội đồng nhân dân tỉnh. Qua đó, Công văn điều chỉnh và đính chính một số nội dung Bảng giá các loại đất giai đoạn 2020-2024 trên địa bàn tỉnh Bình Dương ban hành kèm theo Nghị quyết số 20/2019/NQ-HĐND ngày 12/12/2019 của Hội đồng nhân dân tỉnh, cụ thể:  

1. Tiếp tục áp dụng Bảng giá các loại đất giai đoạn 2020-2024 trên địa bàn thị xã Thuận An và thị xã Dĩ An theo Nghị quyết số 20/2019/NQ-HĐND cho thành phố Thuận An và thành phố Dĩ An.

Tiếp tục áp dụng Bảng giá các loại đất giai đoạn 2020-2024 và giữ nguyên cách áp giá đất đối với 04 xã: Vĩnh Tân, Hội Nghĩa, Phú Chánh, Tân Vĩnh Hiệp cho 04 phường: Vĩnh Tân, Hội Nghĩa, Phú Chánh, Tân Vĩnh Hiệp thuộc thị xã Tân Uyên.

2. Đính chính một số tuyến đường trên địa bàn thị xã Tân Uyên bị trùng lặp trong Bảng giá các loại đất giai đoạn 2020-2024 trên địa bàn tỉnh Bình Dương của các Phụ lục VIII, IX, X (ban hành kèm theo Nghị quyết số 20/2019/NQ-HĐND) như sau:  

a) Đính chính các tuyến đường tại số thứ thự 13, 14 thuộc điểm C (đường loại 3), mục V (thị xã Tân Uyên) như sau:

S

T

T

TÊN ĐƯỜNGĐOẠN ĐƯỜNGHỆ SỐ
(Đ)
TỪĐẾN
V.THỊ XÃ TÂN UYÊN
C.Đường loại 3

 

 

 

13

 

 

Trương Thị NởĐT-746 nối dài (Khu phố 3)

ĐT-747

(Khu phố 3 - Phường Uyên Hưng)

0,85
Đường Khu phố 3

ĐT-747

(Quán Út Kịch)

Hết khu tập thể

 Ngân hàng

0,85
Đoàn Thị LiênTrương Thị Nở (Khu phố 3)

ĐT-747

(Khu phố 3 - Phường Uyên Hưng)

0,85
14Huỳnh Thị ChấuĐT-747 (Trụ sở khối Mặt trận - Đoàn thể phường Uyên Hưng - Khu phố 2)

ĐT-747

(Khu phố 1 - Phường Uyên Hưng)

0,9
Đường phốTT Văn hóa - Thông tinChợ cũ Uyên Hưng0,9

Nội dung của cột "đơn giá đất theo vị trí (đã nhân hệ số Đ)" tại số thứ thự 13, 14 nêu trên không thay đổi.

b) Đính chính tên tuyến đường tại số thứ tự 10 thuộc điểm D (đường loại 4), mục V (thị xã Tân Uyên) như sau:  

S

T

T

TÊN ĐƯỜNGĐOẠN ĐƯỜNGHỆ SỐ
(Đ)
TỪĐẾN
V.THỊ XÃ TÂN UYÊN
D.Đường loại 4

 

10

Lê Thị CộngTố Hữu (ĐH-412)ĐT-747 (Khu phố 7)0,9

Nội dung của cột "đơn giá đất theo vị trí (đã nhân hệ số Đ)" tại số thứ thự 10 nêu trên không thay đổi.

c) Bãi bỏ các tuyến đường tại số thứ tự 11, 12, 13, 15 thuộc điểm D (đường loại 4), mục V (thị xã Tân Uyên).

CV66-KTNS-20.signed.pdf

FalseLê Thị Phương
Áp dụng và đính chính Bảng giá các loại đất giai đoạn năm 2020 - 2024 trên địa bàn 02 thành phố và 04 phường thuộc tỉnh Bình DươngThông tin; Văn bản QPPLTinÁp dụng và đính chính Bảng giá các loại đất giai đoạn năm 2020 - 2024 trên địa bàn 02 thành phố và 04 phường thuộc tỉnh Bình Dương/CMSImageNew/2020-06/15_Key_05062020132926.PNG
6/5/2020 12:00 PMNoĐã ban hành

      Căn cứ Văn bản số 66/HĐND-KTNS ngày 29/4/2020 của Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh về việc áp dụng và đính chính một số nội dung ban hành kèm theo Nghị quyết số 20/2019/NQ-HĐND ngày 12 tháng 12 năm 2019 của Hội đồng nhân dân tỉnh; Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Công văn 2163/UBND-KT ngày 07/5/2020 về việc áp dụng và đính chính Bảng giá các loại đất giai đoạn năm 2020 - 2024 trên địa bàn 02 thành phố và 04 phường được thành lập theo Nghị quyết số 857/NQ-UBTVQH14 ngày 10/01/2020 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cụ thể như sau:

      1. Tiếp tục áp dụng Bảng giá các loại đất giai đoạn 2020-2024 trên địa bàn thị xã Thuận An và thị xã Dĩ An theo Quyết định số 36 /2019/QĐ-UBND ngày 20 tháng 12 năm 2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc ban hành quy định Bảng giá các loại đất giai đoạn 2020 - 2024 trên địa bàn tỉnh Bình Dương cho thành phố Thuận An và thành phố Dĩ An.

Tiếp tục áp dụng Bảng giá các loại đất giai đoạn 2020-2024 và giữ nguyên cách áp giá đất đối với 04 xã: Vĩnh Tân, Hội Nghĩa, Phú Chánh, Tân Vĩnh Hiệp cho 04 phường: Vĩnh Tân, Hội Nghĩa, Phú Chánh, Tân Vĩnh Hiệp thuộc thị xã Tân Uyên.

      2. Đính chính một số tuyến đường trên địa bàn thị xã Tân Uyên bị trùng lặp trong Bảng giá các loại đất giai đoạn 2020-2024 trên địa bàn tỉnh Bình Dương của các Phụ lục VIII, IX, X (ban hành kèm theo Quyết định số 36 /2019/QĐ-UBND ngày 20 tháng 12 năm 2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh) như sau:  

a) Đính chính các tuyến đường tại số thứ thự 13, 14 thuộc điểm C (đường loại 3), mục V (thị xã Tân Uyên) như sau:

STTTÊN ĐƯỜNGĐOẠN ĐƯỜNGHỆ SỐ
(Đ)
TỪĐẾN
V.THỊ XÃ TÂN UYÊN
C.Đường loại 3

 

 

 

13

 

 

Trương Thị NởĐT-746 nối dài (Khu phố 3)

ĐT-747

(Khu phố 3 - Phường Uyên Hưng)

0,85
Đường Khu phố 3

ĐT-747

(Quán Út Kịch)

Hết khu tập thể

 Ngân hàng

0,85
Đoàn Thị LiênTrương Thị Nở (Khu phố 3)

ĐT-747

(Khu phố 3 - Phường Uyên Hưng)

0,85
14Huỳnh Thị ChấuĐT-747 (Trụ sở khối Mặt trận - Đoàn thể phường Uyên Hưng - Khu phố 2)

ĐT-747

(Khu phố 1 - Phường Uyên Hưng)

0,9
Đường phốTT Văn hóa - Thông tinChợ cũ Uyên Hưng0,9

Nội dung của cột "đơn giá đất theo vị trí (đã nhân hệ số Đ)" tại số thứ tự 13, 14 nêu trên không thay đổi.

b) Đính chính tên tuyến đường tại số thứ tự 10 thuộc điểm D (đường loại 4), mục V (thị xã Tân Uyên) như sau:  

STTTÊN ĐƯỜNGĐOẠN ĐƯỜNGHỆ SỐ
(Đ)
TỪĐẾN
V.THỊ XÃ TÂN UYÊN
D.Đường loại 4
10Lê Thị CộngTố Hữu (ĐH-412)ĐT-747 (Khu phố 7)0,9

Nội dung của cột "đơn giá đất theo vị trí (đã nhân hệ số Đ)" tại số thứ tự 10 nêu trên không thay đổi.

c) Bãi bỏ các tuyến đường tại số thứ tự 11, 12, 13, 15 thuộc điểm D (đường loại 4), mục V (thị xã Tân Uyên)./.

​ 

FalseLê Thị Phương
Phạm vi bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ các tuyến đường huyện, đường xã đã được thay đổiVăn bản QPPL; Thông tinTinPhạm vi bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ các tuyến đường huyện, đường xã đã được thay đổi/CMSImageNew/2020-06/11_Key_04062020153232.PNG
6/4/2020 4:00 PMNoĐã ban hành

        Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương Ban hành Quyết định 04/2020/QĐ-UBND ngày 20 tháng 2 năm 2020 về sửa đổi, bổ sung Điều 8 Quy định phạm vi bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Bình Dương ban hành kèm theo Quyết định số 14/2019/QĐ-UBND ngày 05 tháng 8 năm 2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương.

      Theo đó, thay vì phạm vi bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ các tuyến đường huyện, đường xã theo Quyết định số 14/2019/QĐ-UBND  ngày 05 tháng 8 năm 2019 quy định Uỷ ban nhân dân tỉnh giao cho Uỷ ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố phối hợp Sở Giao thông vận tải, căn cứ cấp đường quy hoạch của từng tuyến đường (theo Quy hoạch Tổng thể phát triển giao thông vận tải tỉnh Bình Dương đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 và Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội mỗi huyện, thị xã, thành phố, được Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt) tham mưu trình Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành quyết định quy định phạm vi bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ cho từng tuyến đường huyện, đường xã thì Quyết định 04/2020/QĐ-UBND ngày 20 tháng 2 năm 2020 đã sửa đổi phạm vi bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ các tuyến đường huyện, đường xã, cụ thể như sau:

       Thứ nhất: Đối với đường huyện: Các tuyến đường có quy hoạch là đường cấp III, phạm vi bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ quy đổi về tim đường tối thiểu là 21m; Các tuyến đường có quy hoạch là đường cấp IV, cấp V, phạm vi bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ quy đổi về tim đường tối thiểu là 16m; Các tuyến đường có quy hoạch là đường cấp thấp hơn cấp V, phạm vi bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ quy đổi về tim đường tối thiểu là 11m.

       Thứ hai: Đối với đường xã:

+ Các tuyến đường xã đã có quy hoạch được cấp thẩm quyền phê duyệt, căn cứ vào cấp hạng quy hoạch để xác định phạm vi bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ có bề rộng tính từ mép ngoài cùng của nền đường bộ (chân mái đường đắp hoặc mép ngoài của rãnh dọc tại các vị trí không đào không đắp hoặc mép đỉnh mái đường đào) ra mỗi bên là:

- 15 m (mười lăm mét) đối với đường cấp III (bao gồm: 02m là phần đất bảo vệ, bảo trì đường bộ; 13m là hành lang an toàn đường bộ);

- 10 m (mười mét) đối với đường cấp IV, cấp V (bao gồm: 01m là phần đất bảo vệ, bảo trì đường bộ; 09m là hành lang an toàn đường bộ);

- 5 m (năm mét) đối với đường dưới cấp V (bao gồm: 01m là phần đất bảo vệ, bảo trì đường bộ; 04m là hành lang an toàn đường bộ).

+ Các tuyến đường xã chưa được đề cập trong quy hoạch, phạm vi bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ tính từ tim đường bằng phân nửa (½) bề rộng thân đường (bề rộng thân đường bao gồm nền đường tính cả mái taluy và mương dọc) + 5 mét (bao gồm: 01m là phần đất bảo vệ, bảo trì đường bộ; 04m là hành lang an toàn đường bộ).

       Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 02 tháng 3 năm 2020./.​

04-2020-QD.signed.pdf

FalseLê Thị Phương
Quy chế phối hợp quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn tỉnh Bình Dương đã được ban hànhVăn bản QPPL; Thông tinTinQuy chế phối hợp quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn tỉnh Bình Dương đã được ban hành/CMSImageNew/2020-06/6_Key_04062020151622.PNG
6/4/2020 4:00 PMNoĐã ban hành

        Ngày 20 tháng 2 năm 2020, tỉnh Bình Dương ban hành Quyết định 05/2020/QĐ-UBND về Quy chế phối hợp quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

       Quy chế quy định về trách nhiệm, cơ chế, nội dung phối hợp giữa Sở Xây dựng, Ủy ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố (gọi tắt Ủy ban nhân dân cấp huyện), Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (gọi tắt là Ủy ban nhân dân cấp xã), Ban Quản lý các khu công nghiệp Bình Dương, Ban Quản lý khu công nghiệp Việt Nam – Singapore và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong công tác quản lý, phối hợp kiểm tra và xử lý vi phạm trật tự xây dựng trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

      Quy chế áp dụng cho Sở Xây dựng, Thanh tra Sở Xây dựng, Ban Quản lý các khu công nghiệp Bình Dương, Ban Quản lý khu công nghiệp Việt Nam – Singapore, Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã, Thanh tra viên, cán bộ, công chức, nhân viên hợp đồng được phân công nhiệm vụ quản lý trật tự xây dựng và các tổ chức, cá nhân có liên quan.

        Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 03 năm 2020 và thay thế Quyết định số 37/2015/QĐ-UBND ngày 07 tháng 9 năm 2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương về việc ban hành Quy chế phối hợp quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn tỉnh Bình Dương./.​

FalseLê Thị Phương
Nguyên tắc xét công nhận sáng kiến trên địa bàn tỉnh Bình Dương đã được ban hànhVăn bản QPPL; Thông tinNguyên tắc xét công nhận sáng kiến trên địa bàn tỉnh Bình Dương đã được ban hành/CMSImageNew/2020-06/5_Key_04062020142109.PNG
6/4/2020 3:00 PMNoĐã ban hành

        Ngày 06/3/2020 tỉnh Bình Dương ban hành Quyết định số 08/2020/QĐ-UBND Quy định về hoạt động sáng kiến trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Quy định này quy định chi tiết về công nhận sáng kiến; Hội đồng sáng kiến; trách nhiệm quản lý nhà nước và kinh phí hoạt động sáng kiến trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Các nội dung khác không quy định trong Quy định này được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 13/2012/NĐ-CP ngày 02 tháng 3 năm 2012 của Chính phủ ban hành Điều lệ sáng kiến (sau đây gọi tắt là Điều lệ Sáng kiến) và Thông tư số 18/2013/TT-BKHCN ngày 01 tháng 8 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn thi hành một số quy định của Điều lệ Sáng kiến được ban hành theo Nghị định số 13/2012/NĐ-CP ngày 02 tháng 3 năm 2012 của Chính phủ (sau đây gọi tắt là Thông tư 18/2013/TT-BKHCN).

       Quy định áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức; cá nhân trong phạm vi cơ sở có liên quan đến hoạt động sáng kiến trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Qua đó, xác định nguyên tắc xét công nhận sáng kiến, gồm các nguyên tắc sau:

1. Việc xét công nhận sáng kiến được thực hiện thường xuyên, khi có đơn yêu cầu công nhận sáng kiến của tác giả hoặc đồng tác giả sáng kiến (sau đây gọi chung là tác giả sáng kiến) và do người đứng đầu cơ sở xét công nhận sáng kiến (sau đây gọi chung là người đứng đầu cơ sở) quyết định.

2. Người đứng đầu cơ sở thành lập Hội đồng sáng kiến (trong trường hợp cần thiết) để đánh giá giải pháp được yêu cầu công nhận sáng kiến, làm căn cứ quyết định việc công nhận sáng kiến. Tác giả sáng kiến không được là thành viên của Hội đồng sáng kiến đó.

3. Sáng kiến được tạo ra do Nhà nước đầu tư kinh phí, phương tiện vật chất - kỹ thuật và người đứng đầu cơ sở chính là tác giả sáng kiến thì sáng kiến đó phải được đánh giá thông qua Hội đồng sáng kiến. Người đứng đầu cơ sở không được là thành viên của Hội đồng sáng kiến.

4. Việc xét công nhận sáng kiến phải bảo đảm tính chặt chẽ, khách quan, dân chủ, công bằng và đúng thực chất; bảo đảm thuận lợi và tạo điều kiện tối đa cho tác giả sáng kiến.

       Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 04 năm 2020./.​

08-2020-QD.signed.pdf

FalseLê Thị Phương
Hoàn thiện pháp luật về quyền bảo vệ đời tư, quyền tiếp cận thông tin, giám sát trực tiếp của người dân trong bối cảnh đại dịch Covid - 19 ở Việt NamThông tinHoàn thiện pháp luật về quyền bảo vệ đời tư, quyền tiếp cận thông tin, giám sát trực tiếp của người dân trong bối cảnh đại dịch Covid - 19 ở Việt Nam/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Thực tiễn phòng, chống dịch Covid-19 của Việt Nam trong thời gian qua cho thấy một số bất cập trong việc thực hiện quyền bảo vệ đời tư của bệnh nhân, quyền tiếp cận thông tin và giám sát trực tiếp của người dân. Bài viết tập trung phân tích những bất cập trong việc thực hiện các quyền này và kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của việc phòng, chống dịch bệnh, giảm thiểu tối đa các thiệt hại về kinh tế và các tác động tiêu cực ảnh hưởng đến đời sống của người dân.
6/4/2020 10:00 AMNoĐã ban hành

1. Các quy định của pháp luật về quyền bảo vệ đời tư, quyền tiếp cận thông tin, giám sát trực tiếp của người dân và thực tiễn thực hiện

1.1. Các quy định của pháp luật

Quyền bảo vệ đời tư là một trong những quyền cơ bản của con người được quy định trong nhiều văn bản pháp luật quốc tế và quốc gia, cụ thể là:

Tuyên bố quốc tế về nhân quyền của Liên hợp quốc năm 1948 quy định tại Điều 12 "Không ai có thể bị xâm phạm một cách độc đoán về đời tư, gia đình, nhà ở, thư tín, hay bị xúc phạm đến danh dự, thanh danh. Ai cũng có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại những xâm phạm ấy".

Quyền bảo vệ đời tư ở Việt Nam được quy định tại Điều 21 Hiến pháp năm 2013: "Mọi người đều có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình, có quyền bảo vệ uy tín của mình";  khoản 2 Điều 3 Luật Khám, chữa bệnh năm 2011 quy định nguyên tắc khám, chữa bệnh phải: "Tôn trọng quyền của người bệnh, giữ bí mật về thông tin về tình trạng sức khoẻ và đời tư được ghi trong hồ sơ bệnh án, nếu không phải là trường hợp thuộc khoản 2 Điều 8, khoản 1 Điều 11 và khoản 4 Điều 59"; Điều 38, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: "Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ, việc lưu giữ, thu thập, công khai thông tin cá nhân phải được người đó đồng ý, việc thu thập, lưu giữ và sử dụng công khai thông tin liên quan đến bí mật gia đình phải được gia đình đồng ý, trừ trường hợp luật có quy định khác". Là văn bản trực tiếp điều chỉnh trong việc phòng, chống bệnh truyền nhiễm, khoản 5  Điều 8 Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 quy định về hành vi bị cấm "Phân biệt, đối xử và đưa hình ảnh, thông tin tiêu cực về người mắc bệnh truyền nhiễm".

Quyền tiếp cận thông tin được hiểu là một trong những quyền thuộc nhóm quyền chính trị, dân sự quy định trong Tuyên ngôn nhân quyền của Liên hợp quốc năm 1948 và trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966.

Quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam được quy định tại Điều 25 Hiến pháp năm 2013: "Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện quyền này do pháp luật quy định". Quy định của Hiến pháp về quyền tiếp cận thông tin được cụ thể hóa bởi Luật Tiếp cận thông tin năm 2016; theo đó, Điều 3 Luật quy định: "Mọi người đều được bình đẳng trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin; Thông tin cung cấp phải chính xác, đầy đủ và rõ ràng, tức là thông tin đến với người dân phải đảm bảo đầy đủ, không được phép mập mờ dẫn đến hiểu sai bản chất của thông tin; Việc cung cấp thông tin phải kịp thời, minh bạch, thuận lợi cho công dân, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật".

Giám sát trực tiếp của người dânđược hiểu là sự theo dõi, xem xét, đánh giá của người dân với hoạt động của các cá nhân, cơ quan, tổ chức. Tuy chưa được ghi nhận trực tiếp trong văn bản pháp luật quốc tế, nhưng trong Điều 21 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 quy định "mọi người đều có quyền tham gia quản lý đất nước mình một cách trực tiếp hoặc thông qua các đại diện mà họ được tự do lựa chọn"; khoản 2 Điều 25 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị quy định: "Công dân nếu không có sự hạn chế và phân biệt thì có quyền tham gia điều hành công việc của xã hội một cách trực tiếp hoặc thông qua cơ quan đại diện do họ trực tiếp bầu". Như vậy, có thể hiểu hoạt động giám sát trực tiếp của người dân là một phần của quyền tham gia điều hành các công việc của xã hội.

Hoạt động giám sát của người dân nói chung được quy định trong Điều 8 Hiến pháp năm 2013: "Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng nhân dân, tận tuỵ phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân"; Điều 28 Hiến pháp năm 2013 quy định: "Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với các cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước; Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của côngdân".

Khoản 4 Điều 23 Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 quy định: "Cơ quan, tổ chức, cá nhân khi phát hiện bệnh hoặc dấu hiệu bệnh truyền nhiễm có trách nhiệm thông báo cho Uỷ ban nhân dân, cơ quan chuyên môn y tế hoặc cơ sở y tế nơi gần nhất".

Về một số quy định cho phép hạn chế quyền con người: Điều 4 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 quy định "Trong bối cảnh khẩn cấp đe doạ sự sống còn của đất nước, các quốc gia có thể áp dụng những biện pháp hạn chế việc thực hiện các quyền nêu trong Công ước này trong một thời gian nhất định". Trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị cũng chỉ ra quyền bảo vệ đời tư không phải là quyền tuyệt đối, các quốc gia có quyền thu thập thông tin cá nhân nếu vì mục đích xã hội[1].

Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định: "Quyền con người và quyền công dân bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khoẻ cộng đồng".

Điều 3 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 quy định, việc hạn chế quyền tiếp cận thông tin phải do luật định trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khoẻ của cộng đồng.

1.2. Các hạn chế, bất cập trong thực hiện pháp luật

Thực tiễn áp dụng các quy định nêu trên trong phòng, chống dịch Covid-19 ở Việt Nam cho thấy một số những hạn chế, bất cập trong các quy định của pháp luật về quyền bảo vệ đời tư, quyền tiếp cận thông tin, hoạt động giám sát trực tiếp của người dân trong phòng, chống dịch bệnh Covid-19.

Một là, trong bối cảnh đại dịch Covid-19, khi chúng ta thực hiện các quy định của pháp luật về quyền bảo vệ đời tư, sẽ làm hạn chế quyền tiếp cận thông tin của người dân; trong khi đó, quyền tiếp cận thông tin là cơ sở pháp lý để người dân có thể thực hiện giám sát trực tiếp thông qua theo dõi phát hiện kịp thời các vi phạm pháp luật về phòng, chống dịch bệnh.

Bên cạnh đó, việc hạn chế quyền tiếp cận thông tin của người dân còn gây nhiều khó khăn trong công tác phòng, chống dịch bệnh, làm ảnh hưởng đến đời sống xã hội khi mà pháp luật quốc tế quy định chỉ hạn chế các quyền con người nếu điều đó nhằm mang lại lợi ích tốt đẹp hơn cho xã hội.

Ngoài ra, pháp luật chưa quy định cụ thể về hoạt động giám sát trực tiếp của người dân trong phòng, chống dịch bệnh. Các hình thức giám sát của người dân hiện nay chủ yếu mới được thực hiện qua các cơ quan đại diện như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, một số tổ chức xã hội như Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, tổ chức Công đoàn.  Pháp luật đã quy định hình thức giám sát trực tiếp thông qua việc trưng cầu dân ý, thực hiện quy chế dân chủ cấp cơ sở hoặc qua hoạt động khiếu nại, tố cáo, tố giác, báo tin. Tuy nhiên, các quy định này được hiểu là người dân giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, cho nên vẫn thiếu vắng các quy định về giám sát trực tiếp của người dân.

Hai là, Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 bao hàm nhiều quy định chưa bảo đảm sự thống nhất giữa các quyền bảo vệ đời tư, quyền tiếp cận thông tin và giám sát trực tiếp của người dân, có thể chỉ ra trong các nhóm quy định sau đây:

+ Nhóm quy định về quyền bảo vệ đời tư của người bệnh:

Khoản 3 Điều 33 Luật quy định về trách nhiệm của thầy thuốc và nhân viên y tế tại cơ sở khám chữa bệnh "phải giữ bí mật thông tin liên quan đến người bệnh".

Khoản 5 Điều 8 Luật quy định: "Cấm phân biệt, đối xử và đưa hình ảnh, thông tin tiêu cực về người mắc bệnh truyền nhiễm".

Các quy định trên đã dẫn đến cách hiểu việc phòng, chống dịch chỉ là trách nhiệm của riêng các cơ quan có thẩm quyền, đồng nghĩa với việc giảm nhẹ đi vai trò tham gia, sự chủ động phòng và chống dịch của mỗi người dân.

Ngoài ra, trong trường hợp các thông tin liên quan bệnh dịch không thể tiếp cận đầy đủ cũng làm cho người dân không nhận thức đúng về sự nguy hiểm của dịch bệnh; có tâm lý chủ quan, thờ ơ, thậm chí không tuân thủ nghiêm túc các quy tắc trong phòng, chống dịch.

+ Nhóm các quy định liên quan đến quyền tiếp cận thông tin:

Nguyên tắc phòng, chống bệnh truyền nhiễm được quy định tại khoản 3 Điều 4 Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm, đó là: công khai, chính xác, kịp thời thông tin về dịch.

Khoản 4 Điều 9 Luật quy định về nội dung giáo dục truyền thông về phòng, chống bệnh truyền nhiễm: trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng, chống bệnh truyền nhiễm.

Khoản 1 Điều 10 Luật quy định: "Người dân được quyền tiếp cận mọi thông tin liên quan đến dịch bệnh".

Có thể thấy, Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm đã thừa nhận quyền tiếp cận thông tin của người dân, không giới hạn quyền tiếp cận thông tin.

Nhóm quy định liên quan đến hoạt động giám sát của người dân:

Khoản 8 Điều 2 Luật giải thích: "Giám sát bệnh truyền nhiễm là việc thu thập thông tin liên tục, có hệ thống về tình hình, chiều hướng của bệnh truyền nhiễm, phân tích, giải thích nhằm cung cấp thông tin cho việc lập kế hoạch, triển khai và đánh giá hiệu quả các biện pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm".

Điều 20 Luật quy định hoạt động giám sát bệnh truyền nhiễm là: "giám sát các trường hợp mắc bệnh, bị nghi ngờ mắc bệnh và mang mầm bệnh truyền nhiễm, giám sát tác nhân gây bệnh, giám sát trung gian gây bệnh".

Khoản 4 Điều 23 Luật quy định: "Cơ quan, tổ chức, cá nhân khi phát hiện bệnh hoặc dấu hiệu bệnh truyền nhiễm có trách nhiệm thông báo cho Uỷ ban nhân dân, cơ quan chuyên môn y tế hoặc cơ sở y tế nơi gần nhất".

Như vậy, với nhóm quy định về giám sát dịch bệnh của Luật đã cho thấy có sự chưa thống nhất giữa các điều luật. Theo cách quy định giải thích về giám sát dịch bệnh thì chủ thể thực hiện giám sát không phải là người dân; trong khi đó, quy định về trách nhiệm giám sát có đề cập đến "cá nhân", điều này gây khó khăn trong việc áp dụng.

Ba là, các quy định về xử lý vi phạm trong phòng, chống bệnh truyền nhiễm còn thiếu cụ thể gây khó khăn cho việc tiếp cận nội dung nhằm kiểm tra tính đúng đắn của hành vi hay khi xác định chế tài của từng hành vi vi phạm làm hạn chế hiệu lực của luật.

Trong khoảng thời gian từ tháng 1/2020 đến tháng 4/2020, Việt Nam đã rất quyết liệt trong công tác phòng, chống dịch Covid-19.  Đối với những trường hợp xuất hiện bệnh nhân bị nhiễm Covid-19, cơ quan chức năng đưa lên phương tiện thông tin đại chúng dưới dạng đánh số ký hiệu và địa phương nơi bệnh nhân sinh sống để cho người dân cả nước nắm được, đồng thời, chọn phương án khai thác thông tin trực tiếp từ người nhiễm bệnh để khoanh vùng phạm vi và các đối tượng có tiếp xúc để thực hiện việc cách ly y tế nguồn lây bệnh với cộng đồng. Chúng tôi cho rằng, với thực tế 320 ca nhiễm ở Việt Nam[2], để nhớ và phân biệt được bệnh nhân từ số 1 đến 320 sẽ rất khó khăn cho người dân tiếp cận thông tin.

Việc bảo vệ quyền đời tư của bệnh nhân mà các cơ quan chức năng đang thực hiện tuy phù hợp với quy định của pháp luật về phòng, chống dịch Covid-19, nhưng cũng có hạn chế là việc thu thập thông tin để truy tìm dấu vết nguồn lây bệnh nhằm khoanh vùng, cách ly khu vực chứa mầm bệnh, thực chất chỉ mới ràng buộc trách nhiệm của người bệnh phải tự nguyện khai báo, điều này dẫn đến xảy ra các trường hợp sau:

- Người bệnh rất tích cực hợp tác khi khai báo tình trạng bệnh, nhưng vì thời gian ủ bệnh lâu[3], có trường hợp mang mầm bệnh nhưng không bộc lộ triệu chứng mà do đặc thù công việc phải di chuyển nhiều nơi, tiếp xúc nhiều người làm cho khi khai báo thông tin, họ đã vô tình bỏ sót các đối tượng đã tiếp xúc dẫn đến làm gia tăng nguy cơ lây lan dịch bệnh.

- Có những trường hợp do lo ngại ảnh hưởng lợi ích cá nhân nên người bệnh đã không tự nguyện hợp tác, không trung thực khi khai báo làm cản trở cơ quan chức năng lần theo dấu vết dịch bệnh, kiến cho dịch bệnh lây lan trong cộng đồng[4].

1.3. Nguyên nhân của các hạn chế, bất cập

Thực trạng nêu trên xuất phát từ các nguyên nhân sau:

       Một là, việc hạn chế thực hiện quyền tiếp cận thông tin để đảm bảo quyền bảo vệ đời tư của bệnh nhân làm giảm hiệu quả giám sát trực tiếp của người dân trong việc phòng, chống dịch Covid-19.

Hai là, một số quy định trong Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 chưa đáp ứng được công tác phòng, chống dịch bệnh hiện nay ở nước ta.

Ba là, nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động giám sát trực tiếp của người dân trong công tác phòng, chống bệnh truyền nhiễm nói chung, đại dịch Covid-19 nói riêng chưa đầy đủ, vẫn còn một bộ phận có tâm lý thờ ơ, coi thường dịch bệnh và thiếu trách nhiệm với cộng đồng.

2. Một số đề xuất kiến nghị

Các quyền con người vốn là những giá trị cao quý cần được tôn trọng và bảo đảm, nhưng trong bối cảnh đại dịch Covid-19 hiện nay, chúng ta cần đặt quyền con người trong mối quan hệ với lợi ích chung của xã hội; có nghĩa là, các quyền cá nhân phải hài hoà với quyền của nhóm, quyền của số đông.

 Covid-19 xuất hiện như là sự cảnh báo về những đại dịch tiếp theo mà con người có thể phải đối mặt trong tương lai. Vì vậy, chúng ta cần chủ động đón nhận và có các biện pháp ngăn chặn hữu hiệu, làm giảm thiểu tối đa những thiệt hại mà dịch bệnh gây ra cho con người, cho xã hội.  Để khắc phục những hạn chế, bất cập nêu trên, chúng tôi đề xuất một số kiến nghị sau:

Thứ nhất, cần nâng cao nhận thức về vai trò của người dân trong giám sát trực tiếp hoạt động của các cá nhân, cơ quan, tổ chức nhà nước nhằm phát hiện kịp thời các vi phạm pháp luật và áp dụng các biện pháp ngăn chặn. Cụ thể là, cần ban hành Luật Giám sát của Nhân dân, trong đó quy định riêng về hình thức giám sát trực tiếp của người dân trong trường hợp xảy ra dịch bệnh.

Thứ hai, việc hạn chế quyền bảo vệ đời tư của người bệnh cần được quy định rõ trong Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm.

Thứ ba, cần sửa đổi Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 theo hướng sau:

- Quy định trường hợp dịch bệnh như Covid-19 là tình trạng khẩn cấp vì sự tác động tiêu cực của dịch bệnh đến đời sống xã hội. Trong trường hợp này cơ quan chức năng được áp dụng mọi biện pháp cần thiết nhằm kịp thời ngăn chặn bệnh dịch, cho nên mọi thông tin về dịch bệnh trong trường hợp này cần được công khai minh bạch, đầy đủ và chính xác; tức là được phép công khai các thông tin cá nhân như tên, tuổi, hình ảnh, địa chỉ nơi sống của người bệnh sẽ giúp cho những người sống xung quanh dễ theo dõi và chủ động phòng tránh theo đúng quy định.

- Các biện pháp xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến bệnh truyền nhiễm cần được quy định cụ thể. Trong trường hợp cần viện dẫn sang văn bản khác thì nêu rõ tên văn bản để người dân dễ tiếp cận và nắm bắt được nội dung như cách làm của Bộ luật Hình sự hiện nay.

Thứ tư, do diễn biến khó lường của dịch bệnh Covid-19, việc phòng, chống còn kéo dài nên, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền quy định của Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm để nâng cao ý thức của người dân về trách nhiệm của mình với cộng đồng trong việc hợp tác, theo dõi, phát hiện những vi phạm và thông báo cho cơ quan chức năng có biện pháp kịp thời ngăn chặn.

Thứ năm, cần đưa kiến thức về bệnh truyền nhiễm vào giảng dạy ở các bậc học như một môn học giúp học sinh hiểu và nâng cao kỹ năng phòng, chống dịch bệnh./.


[1] Giáo trình lý luận về quyền con người, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.228.

[2] Tính tới ngày 18/5/2020.

[3] Theo tổ chức y tế thế giới-WHO, thời gian ủ bệnh của vi-rút Corona là từ 14-28 ngày. 

[4] Trường hợp bệnh nhân có số kí hiệu 34 ở Bình Thuận đã bay về Việt Nam từ vùng dịch nhưng vẫn di chuyển nhiều nơi, tiếp xúc nhiều người lại khai báo vòng vo, không trung thực, nhỏ giọt về lịch sử di chuyển và số người mà bệnh nhân đã tiếp xúc, kết quả là làm lây bệnh cho 9 người, cách ly nhiều người. Đối với bệnh nhân mang số kí hiệu 178 khi biết mình vào diện F1, được yêu cầu cách ly tập trung đã cố tình trốn tránh bằng cách bỏ trốn về quê, sử dụng xe khách làm phương tiện di chuyển nhiều nơi cho đến khi bị sốt và phải vào bệnh viện khám thì có hành vi khai báo gian dối khiến nhiều người phải cách ly đồng thời, phong toả bệnh viện Đại Từ, Thái Nguyên.

TS. PHAN THỊ LAN PHƯƠNG

Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.

                                                                                 (Nguồn tin: Bài viết được đăng tải trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 08 (408), tháng 4/2020.)

Nguồn: http://lapphap.vn/Pages/TinTuc/210518/Hoan-thien-phap-luat-ve-quyen-bao-ve-doi-tu--quyen-tiep-can-thong-tin--giam-sat-truc-tiep-cua-nguoi-dan-trong-boi-canh-dai-dich-Covid---19-o-Viet-Nam.html

FalseĐào Thị Quyên
Đã có căn cứ mới xác định vị trí việc làm, biên chế công chức  và cơ cấu ngạch công chức Thông tin; Văn bản QPPLTinĐã có căn cứ mới xác định vị trí việc làm, biên chế công chức  và cơ cấu ngạch công chức /Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/3/2020 4:00 PMNoĐã ban hành

​        Ngày 01 tháng 6 năm 2020, Chính phủ ban hành Nghị định 62/2020/NĐ-CPvề vị trí việc làm và biên chế công chức. Nghị định này quy định về nguyên tắc, căn cứ, trình tự, trách nhiệm, thẩm quyền quyết định và điều chỉnh vị trí việc làm, cơ cấu ngạch công chức, biên chế công chức áp dụng đối với Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, tổ chức do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thành lập mà không phải là đơn vị sự nghiệp công lập; Hội đồng nhân dân, Ủy     ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

         Theo đó, căn cứ để xác định vị trí việc làm, biên chế công chức và cơ cấu ngạch công chức được quy định như sau:

         1. Về căn cứ xác định vị trí việc làm:

- Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của cơ quan, tổ chức;

- Mức độ phức tạp, tính chất, đặc điểm, quy mô hoạt động; phạm vi, đối tượng phục vụ; quy trình quản lý chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định của pháp luật chuyên ngành.

         2. Về căn cứ xác định biên chế công chức

- Vị trí việc làm và khối lượng công việc của từng vị trí việc làm;

- Mức độ hiện đại hóa về trang thiết bị, phương tiện làm việc và ứng dụng công nghệ thông tin;

- Thực tế việc sử dụng biên chế công chức được giao;

- Đối với cơ quan, tổ chức ở địa phương, ngoài các căn cứ (vị trí việc làm và khối lượng công việc của từng vị trí việc làm; mức độ hiện đại hóa về trang thiết bị, phương tiện làm việc và ứng dụng công nghệ thông tin; thực tế việc sử dụng biên chế công chức được giao) còn phải căn cứ vào quy mô dân số, diện tích tự nhiên, số lượng đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã và đặc điểm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

        3. Về căn cứ xác định cơ cấu ngạch công chức

- Vị trí việc làm;

- Mức độ phức tạp của công việc đối với từng vị trí việc làm;

- Tiêu chuẩn ngạch công chức tương ứng với vị trí việc làm.

        Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 20 tháng 7 năm 2020. Nghị định này thay thế Nghị định số 36/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 4 năm 2013 của Chính phủ về vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức; Nghị định số 21/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về quản lý biên chế công chức và Nghị định số 110/2015/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 21/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về quản lý biên chế công chức./.​

FalseLê Thị Phương
Một số điểm mới về việc hỗ trợ sinh viên y, dược đào tạo  theo địa chỉ sử dụngVăn bản QPPL; Thông tinTinMột số điểm mới về việc hỗ trợ sinh viên y, dược đào tạo  theo địa chỉ sử dụng/CMSImageNew/2020-06/1_Key_03062020141047.PNG
6/3/2020 3:00 PMNoĐã ban hành

        Ngày 03 tháng 4 năm 2020 tỉnh Bình Dương ban hành Quyết định sửa đổi, bổ sung Điều 1 Quyết định số 20/2011/QĐ-UBND ngày 09 tháng 8 năm 2011 về việc hỗ trợ đối với sinh viên y, dược đào tạo theo địa chỉ sử dụng, theo đó, việc chấp thuận hỗ trợ sinh viên y, dược đào tạo theo địa chỉ sử dụng được sửa đổi, bổ sung một số điểm, cụ thể như sau:

        Thứ nhất, về nghĩa vụ của sinh viên được hưởng chế độ hỗ trợ:

- Sinh viên được hưởng chế độ hỗ trợ phải cam kết khi tốt nghiệp trở về phục vụ tại các cơ sở y tế công lập trong tỉnh theo sự phân công của Sở Y tế với thời gian công tác bằng 2 lần thời gian được hưởng chế độ hỗ trợ đào tạo.

- Trường hợp tự ý bỏ dở không học hết chương trình, bị kỷ luật buộc thôi học; không tốt nghiệp khóa học hoặc tốt nghiệp trễ 02 năm theo chương trình học của trường, phải bồi hoàn kinh phí đã được nhận hỗ trợ và lãi suất phát sinh theo kinh phí đã nhận theo quy định của ngân hành chính sách xã hội. Thời điểm tính lãi xuất từ tháng liền kề sau khi nhận kinh phí đến thời điểm bỏ học, thôi học, không tốt nghiệp đúng thời gian dự kiến.

- Trường hợp đã tốt nghiệp nhưng không về công tác theo cam kết hoặc không chấp hành sự phân công của tỉnh sau khi tốt nghiệp; nhận công tác nhưng thời gian công tác không đủ 2 lần thời gian đã cam kết hoặc kỷ luật buộc thôi việc: Người được nhận chế độ hỗ trợ đào tạo theo địa chỉ sử dụng phải bồi hoàn toàn bộ kinh phí đã được nhận hỗ trợ theo hợp đồng trách nhiệm đã ký kết với Sở Y tế.

        Thứ hai, thay vì giao Sở Y tế quy định cụ thể hình thức chế tài phù hợp và khả thi (quản lý bằng tốt nghiệp,…) trong hợp đồng trách nhiệm đối với từng sinh viên y, dược đào tạo theo địa chỉ sử dụng thì Quyết định số 20/2011/QĐ-UBND giao cho Sở Y tế quy định cụ thể mức bồi hoàn kinh phí trong hợp đồng trách nhiệm với sinh viên, có hình thức chế tài đảm bảo việc thực thi cam kết của sinh viên (quản lý bằng tốt nghiệp…). Căn cứ Quyết định cử sinh viên đào tạo của Ủy ban nhân dân tỉnh, tiến hành ký hợp đồng trách nhiệm với các sinh viên; Ký hợp đồng đào tạo với các Trường Đại học đào tạo theo địa chỉ sử dụng; Trình Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định cử các trường hợp sinh viên tốt nghiệp loại khá, giỏi có nguyện vọng đào tạo Sau đại học hoặc Bác sĩ nội trú. Thành lập Hội đồng xem xét, mức bồi hoàn kinh phí của các sinh viên đào tạo theo địa chỉ sử dụng, nộp vào ngân sách theo đúng quy định".

       Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 4 năm 2020./.​

QD_10_2020_UBND_TINH_BD.pdf


FalseLê Thị Phương
Thay đổi một số hoạt động ngành nghề nông thôn tỉnh Bình DươngThông tin; Văn bản QPPLTinThay đổi một số hoạt động ngành nghề nông thôn tỉnh Bình Dương/CMSImageNew/2020-06/2_Key_03062020145039.PNG
6/3/2020 3:00 PMNoĐã ban hành

       Ngày 05 tháng 5 năm 2020, tỉnh Bình Dương ban hành Quyết Định số 11/2020/QĐ-UBND sửa đổi Khoản 1 Điều 4 Quy định đối tượng, tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục xét công nhận danh hiệu "Nghệ nhân tỉnh Bình Dương", "Thợ giỏi tỉnh Bình Dương", "Người có công đưa nghề mới về địa phương" trên địa bàn tỉnh Bình Dương ban hành kèm theo Quyết định số 42/2015/QĐ-UBND ngày 30 tháng 9 năm 2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương, theo đó, các hoạt động ngành nghề nông thôn có một số thay đổi, cụ thể như sau:

      - Cắt bỏ hoạt động ngành nghề: xây dựng, vận tải trong nội bộ xã, liên xã; tổ chức đào tạo nghề, truyền nghề; tư vấn sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực ngành nghề nông thôn.

      - Thay đổi hoạt động ngành nghề: "sản xuất và kinh doanh sinh vật cảnh" bằng "gây trồng và kinh doanh sinh vật cảnh".

      - Bổ sung hoạt động ngành nghề: sản xuất vật liệu xây dựng.

       Ngoài ra, các hoạt động ngành nghề sau vẫn giữ nguyên: chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản; sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ; xử lý, chế biến nguyên vật liệu phục vụ sản xuất ngành nghề nông thôn; sản xuất đồ gỗ, mây tre đan, gốm sứ, thủy tinh, dệt may, sợi, thêu ren, đan lát, cơ khí nhỏ; các dịch vụ phục vụ sản xuất, đời sống dân cư nông thôn.

      Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 6 năm 2020./.​


FalseLê Thị Phương
1 - 30Next
Ảnh
Video
Audio