Công tác xây dựng
 
      Ngày 21/12/2020, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 108/2020/TT-BTC về sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 45/2017/TT-BTC ngày 12/5/2017 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định khung thù lao dịch vụ đấu giá tài sản theo quy định tại Luật đấu giá tài sản. Thông tư số 108/2020/TT-BTC đã sửa đổi, bổ sung Điều 3, Khoản 3 Điều 4 và thay thế các Phụ lục số 1, Phụ ...
 
​     Ngày 31/12/2020, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư 11/2020/TT-BTP quy định về mẫu thẻ, trình tự, thủ tục cấp mới, cấp lại thẻ giám định viên tư pháp. Thông tư này áp dụng đối với giám định viên tư pháp; các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến ...
 
​Ngày 20/01/2021, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 05/2021/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 223/2016/TT-BTC ngày 10/11/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thẩm định tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề thừa phát lại; phí thẩm định điều kiện thành lập, hoạt động Văn phòng Thừa phát lại.Theo đó, Thừa phát lại khi nộp ...
​Ngày 03 tháng 03 năm 2021, Chính phủ ban hành Nghị định số 16/2021/NĐ-CP quy định định mức thu, trình tự, thủ tục thu, nộp, việc quản lý, sử dụng chi phí hòa giải, đối thoại tại Tòa án và thù lao Hòa giải viên tại Tòa án​, theo đó tại ​Điều 4 và Điều 9 Nghị định quy định như sau:- Đối với Mức thu chi phí hòa giải, đối thoại tại Tòa án:​1. Mức thu cho việc chi thù lao của ...
 
​Việc giới thiệu người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân có ý nghĩa quan trọng và là cơ sở để lập sách những người ứng cử để đưa vào bầu đại biểu HĐND các cấp. Việc giới thiệu người ứng cử Đại biễu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 được quy định tại Nghị quyết liên tịch số 09/2021/NQLT-UBTVQH14-CP-ĐCTUBTWMTTQVN ngày 15/01/2021 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ và Đoàn Chủ tịch ...
      Quyền bầu cử là một quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp. Hiến pháp năm 2013 quy định các nội dung cơ bản nhất liên quan đến công tác bầu cử như sau:​      Thứ nhất, về nguyên tắc bầu cử, khoản 1 Điều 7 Hiến pháp 2013 quy định: "Việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến ...
​Ngày 22 tháng 02 năm 2021, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Bình Dương đã ban hành Quyết định số 500/QĐ-UBND Ban hành Danh mục Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh quy định chi tiết các nội dung được giao trong các luật được Quốc hội khóa XIV  thông qua tại kỳ họp thứ 10. Theo đó, ban hành 01 danh mục về Quy định bảo vệ môi trường tỉnh Bình Dương. Trong đó quy định chi ...
​Ngày 27 tháng 01 năm 2021, Chính phủ ban hành Nghị định số 07/2021/NĐ-CP về chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 - 2025​. Theo đó: Từ ngày 01 tháng 01 năm 2021 tiếp tục thực hiện chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 - 2020 theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg  ngày 19 tháng 11 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ. Chuẩn nghèo theo Quyết định số ...
 
​Ngày 31/12/2020, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư 11/2020/TT-BTP quy định về mẫu thẻ, trình tự, thủ tục cấp mới, cấp lại thẻ giám định viên tư pháp. Thông tư này áp dụng đối với giám định viên tư pháp; các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc cấp và quản lý ...
 
​     Theo quy định Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, thì những quy định chung về bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, bao gồm:     Về nguyên tắc bầu cử: Việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.    ...
 
 
  
Phân loại
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Nội dung
  
  
Quy định về việc thực hiện chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 từ quỹ bảo hiểm thất nghiệpThông tinTinQuy định về việc thực hiện chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 từ quỹ bảo hiểm thất nghiệp/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/4/2021 11:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 01 tháng 10 năm 2021, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 28/2021/QĐ-TTg Quy định về việc thực hiện chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 từ quỹ bảo hiểm thất nghiệp.

Ảnh chụp Màn hình 2021-10-04 lúc 21.41.53.png

1. Hỗ trợ bằng tiền cho người lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch covid-19 từ kết dư quỹ bảo hiểm thất nghiệp:

- Đối tượng được hỗ trợ:

+ Người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp tại thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2021 (có tên trong danh sách tham gia bảo hiểm thất nghiệp của cơ quan bảo hiểm xã hội), không bao gồm các trường hợp sau: Người lao động đang làm việc tại cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân; Người lao động đang làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường xuyên theo quy định tại Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 6 năm 2021 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập và các quy định pháp luật hiện hành về tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập.

+ Người lao động đã dừng tham gia bảo hiểm thất nghiệp do chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 01 năm 2020 đến hết ngày 30 tháng 9 năm 2021 có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp được bảo lưu theo quy định của pháp luật về việc làm, không bao gồm người đã có quyết định hưởng lương hưu hàng tháng.

+ Không áp dụng đối với đối tượng tự nguyện không nhận hỗ trợ.

-  Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp làm căn cứ tính và mức hỗ trợ:

+ Căn cứ tính mức hỗ trợ: Trên cơ sở thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp của người lao động tại thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2021 nhưng chưa được tính hưởng trợ cấp thất nghiệp.

+ Trường hợp người lao động đã nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp nhưng đến ngày 30 tháng 9 năm 2021 chưa có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp thì tổng thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp chưa hưởng làm căn cứ để xác định mức hỗ trợ của người lao động là tổng thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp chưa hưởng tại thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2021.

- Mức hỗ trợ (hỗ trợ một lần bằng tiền):

+ Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp dưới 12 tháng: Hỗ trợ 1.800.000 đồng/người.

+ Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng đến dưới 60 tháng: Hỗ trợ 2.100.000 đồng/người.

+ Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 60 tháng đến dưới 84 tháng: Hỗ trợ 2.400.000 đồng/người.

+ Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 84 tháng đến dưới 108 tháng: Hỗ trợ 2.650.000 đồng/người.

+Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 108 tháng đến dưới 132 tháng: Hỗ trợ 2.900.000 đồng/người.

+ Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 132 tháng trở lên: Hỗ trợ 3.300.000 đồng/người.

2. Giảm mức đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19

- Đối tượng được hỗ trợ:

Người sử dụng lao động quy định tại Điều 43 của Luật Việc làm đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp trước ngày 01 tháng 10 năm 2021, không bao gồm các trường hợp sau: 

+ Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân. 

+ Đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường xuyên theo quy định tại Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 6 năm 2021 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập và các quy định pháp luật hiện hành về tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập. Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc đối tượng được giảm đóng thì gửi cơ quan bảo hiểm xã hội nơi đơn vị đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp 01 bản sao văn bản của cơ quan có thẩm quyền về việc đơn vị sự nghiệp công được phân loại tự chủ tài chính theo quy định tại Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 6 năm 2021 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập và các quy định pháp luật hiện hành về tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập.

+ Không áp dụng đối với đối tượng tự nguyện không nhận hỗ trợ.

- Giảm mức đóng và thời gian thực hiện:

+ Giảm mức đóng từ 1% xuống bằng 0% quỹ tiền lương tháng của những người lao động thuộc đối tượng đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

+ Thời gian thực hiện giảm mức đóng: 12 tháng, kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2021 đến hết ngày 30 tháng 9 năm 2022.

+ Hằng tháng, trong thời gian từ ngày 01 tháng 10 năm 2021 đến hết ngày 30 tháng 9 năm 2022, cơ quan bảo hiểm xã hội thực hiện giảm mức đóng bằng 0% quỹ tiền lương tháng của những người lao động thuộc đối tượng đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động./.

28_2021_QD-TTg.pdf

 

FalseTrần Thị Kim Yến
Giảm tiền thuê đất của năm 2021 đối với các đối tượng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19Thông tinTinGiảm tiền thuê đất của năm 2021 đối với các đối tượng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
9/30/2021 10:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 25/9/2021, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 27/2021/QĐ-TTg về việc giảm tiền thuê đất của năm 2021 đối với các đối tượng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19. 

Ảnh chụp Màn hình 2021-10-04 lúc 21.32.16.png

Theo đó:

- Đối tượng được giảm tiền thuê đất và mức giảm: Tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân đang được Nhà nước cho thuê đất trực tiếp theo Quyết định hoặc Hợp đồng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền dưới hình thức trả tiền thuê đất hàng năm (áp dụng cho cả trường hợp người thuê đất không thuộc đối tượng miễn, giảm tiền thuê đất và trường hợp người thuê đất đang được giảm tiền thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật khác có liên quan) sẽ được giảm 30% tiền thuê đất phải nộp của năm 2021; mức giảm tiền thuê đất quy định tại khoản 1 Điều này được tính trên số tiền thuê đất phải nộp của năm 2021 theo quy định của pháp luật, trường hợp người thuê đất đang được giảm tiền thuê đất theo quy định thì mức giảm 30% tiền thuê đất được tính trên số tiền thuê đất phải nộp sau khi đã được giảm theo quy định của pháp luật

- Hồ sơ giảm tiền thuê đất gồm: Giấy đề nghị giảm tiền thuê đất năm 2021 của người thuê đất và Quyết định cho thuê đất hoặc Hợp đồng thuê đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (bản sao).

- Trình tự, thủ tục giảm tiền thuê đất:

+ Người thuê đất nộp 01 bộ hồ sơ đề nghị giảm tiền thuê đất (bằng phương thức điện tử hoặc phương thức khác) cho cơ quan thuế, Ban Quản lý Khu kinh tế, Ban Quản lý Khu công nghệ cao, cơ quan khác theo quy định của pháp luật kể từ ngày 25/9/2021 đến hết ngày 31/12/2021 (trường hợp nộp hồ sơ từ ngày 01/01/2022 trở về sau thì không được giảm tiền thuê đất theo quy định này Quyết định này).

+ Căn cứ hồ sơ giảm tiền thuê đất do người thuê đất nộp; không quá 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định, cơ quan có thẩm quyền xác định số tiền thuê đất được giảm và ban hành Quyết định giảm tiền thuê đất theo quy định tại pháp luật về thu tiền thuê đất.

*Lưu ý:

(1) Trường hợp người thuê đất đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định giảm tiền thuê đất theo quy định của Quyết định này nhưng sau đó cơ quan quản lý nhà nước phát hiện qua thanh tra, kiểm tra việc người thuê đất không thuộc trường hợp được giảm tiền thuê đất theo quy định tại Quyết định này thì người thuê đất phải hoàn trả ngân sách nhà nước số tiền thuê đất đã được giảm và tiền chậm nộp tính trên số tiền được giảm theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

(2) Trường hợp người thuê đất đã nộp tiền thuê đất của năm 2021 mà sau khi cơ quan có thẩm quyền xác định và quyết định giảm tiền thuê đất có phát sinh thừa tiền thuê đất thì được trừ số tiền đã nộp thừa vào tiền thuê đất của kỳ sau hoặc năm tiếp theo quy định của pháp luật về quản lý thuế và pháp luật khác có liên quan; trường hợp không còn kỳ phải nộp tiền thuê đất tiếp theo thì thực hiện bù trừ hoặc hoàn trả số tiền nộp thừa theo quy định của pháp luật về quản lý thuế và pháp luật khác có liên quan.

27_2021_QD-TTg.pdf

 

 

 

​ 

FalseTrần Thị Kim Yến
Chính phủ ban hành chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19 từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệpThông tinTinChính phủ ban hành chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19 từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
9/25/2021 10:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 24/9/2021, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 116/NQ-CP về chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19 từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp. 

Ảnh chụp Màn hình 2021-09-25 lúc 21.19.26.png

Chính sách gồm 02 nội dung hỗ trợ: 

1. Hỗ trợ bằng tiền cho người lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19 từ kết dư Quỹ bảo hiểm thất nghiệp

a) Đối tượng áp dụng

- Người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp tại thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2021 (không bao gồm người lao động đang làm việc tại cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường xuyên).

- Người lao động đã dừng tham gia bảo hiểm thất nghiệp do chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 01 năm 2020 đến hết ngày 30 tháng 9 năm 2021 có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp được bảo lưu theo quy định của pháp luật về việc làm, không bao gồm người hưởng lương hưu hàng tháng.

b) Mức hỗ trợ

Mức hỗ trợ trên cơ sở thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp của người lao động, cụ thể như sau:

- Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp dưới 12 tháng: hỗ trợ 1.800.000 đồng/người.

- Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng đến dưới 60 tháng: hỗ trợ 2.100.000 đồng/người.

- Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 60 tháng đến dưới 84 tháng: hỗ trợ 2.400.000 đồng/người.

- Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 84 tháng đến dưới 108 tháng: hỗ trợ 2.650.000 đồng/người.

- Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 108 tháng đến dưới 132 tháng: hỗ trợ 2.900.000 đồng/người.

- Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 132 tháng trở lên: hỗ trợ 3.300.000 đồng/người.

c) Nguồn kinh phí: khoảng 30.000 tỷ đồng từ kết dư Quỹ bảo hiểm thất nghiệp đến hết năm 2020.

d) Thời gian thực hiện: việc hỗ trợ người lao động từ ngày 01 tháng 10 năm 2021 và hoàn thành chậm nhất vào ngày 31 tháng 12 năm 2021.

2. Giảm mức đóng vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp cho người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19

a) Đối tượng áp dụng: Người sử dụng lao động quy định tại Điều 43 của Luật Việc làm (không bao gồm các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường xuyên) đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp trước ngày 01 tháng 10 năm 2021.

b) Mức giảm đóng: Người sử dụng lao động được giảm mức đóng từ 1% xuống bằng 0% quỹ tiền lương tháng của những người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

c) Thời gian thực hiện giảm mức đóng: 12 tháng, kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2021 đến hết ngày 30 tháng 9 năm 2022.

Các chính sách nêu trên thể hiện sự quan tâm, chia sẻ của Đảng, Nhà nước đối với người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19; góp phần hỗ trợ người lao động khắc phục khó khăn, ổn định cuộc sống, chống đứt gãy chuỗi cung ứng lao động và thiếu hụt lao động; hỗ trợ người sử dụng lao động giảm chi phí, nỗ lực thích ứng với trạng thái bình thường mới, duy trì sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm cho người lao động; đồng thời, phát huy vai trò của chính sách bảo hiểm thất nghiệp là chỗ dựa cho người lao động và người sử dụng lao động./.

Nghi quyet 116.pdf

FalseTrần Thị Kim Yến
Chế độ hỗ trợ công tác Dân số - Kế hoạch hoá gia đình trên địa bàn tỉnh Bình DươngThông tinTinChế độ hỗ trợ công tác Dân số - Kế hoạch hoá gia đình trên địa bàn tỉnh Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
9/17/2021 10:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 14/9/2021, Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Nghị quyết số 08/2021/NQ-HĐND về chế độ hỗ trợ công tác Dân số - Kế hoạch hoá gia đình trên địa bàn tỉnh Bình Dương. 

Ảnh chụp Màn hình 2021-09-25 lúc 21.11.44.png

Theo đó:

1. Nguồn ngân sách cấp tỉnh (kinh phí sự nghiệp dân số) chi cho các hoạt động Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, bao gồm:

a) Hỗ trợ người tự nguyện triệt sản: 300.000 đồng/trường hợp.

b) Hỗ trợ cộng tác viên Dân số - Kế hoạch hóa gia đình:

- Khu vực thành phố: Thủ Dầu Một, Thuận An, Dĩ An; thị xã: Bến Cát, Tân Uyên: 0,25 lần mức lương cơ sở/cộng tác viên/tháng (01 cộng tác viên phụ trách quản lý từ 250 hộ - 350 hộ).

- Khu vực huyện: Bắc Tân Uyên, Bàu Bàng, Phú Giáo, Dầu Tiếng: 0,3 lần mức lương cơ sở/cộng tác viên/tháng (01 cộng tác viên phụ trách quản lý từ 150 hộ - 250 hộ; đối với những ấp có địa bàn rộng, dân cư thưa thớt thì bố trí 01 cộng tác viên/ấp).

c) Hỗ trợ đưa đón đối tượng đi thực hiện triệt sản và cấy thuốc tránh thai: 0,2 lít xăng/km/trường hợp tính theo khoảng cách địa giới hành chính và giá xăng tại thời điểm sử dụng (đối với các đợt triển khai chiến dịch tăng cường tuyên truyền vận động, lồng ghép chăm sóc sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình, nâng cao chất lượng dân số). 

d) Hỗ trợ phương tiện tránh thai và các chi phí dịch vụ đi kèm đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo theo tiêu chuẩn của tỉnh và đối tượng bảo trợ xã hội.

2. Nguồn ngân sách huyện, thị xã, thành phố: hỗ trợ 100% mức đóng bảo hiểm y tế cho cộng tác viên, trừ số cộng tác viên đã được ngân sách nhà nước hỗ trợ thẻ bảo hiểm y tế.

Nghị quyết có hiệu lực kể từ ngày 01/10/2021 và thay thế Nghị quyết số 20/2014/NQ-HĐND8 ngày 24/7/2014 của Hội đồng nhân dân tỉnh về chế độ hỗ trợ đối với công tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đình trên địa bàn tỉnh Bình Dương, Nghị quyết số 14/2015/NQ-HĐND8 ngày 21/7/2015 của Hội đồng nhân dân tỉnh về việc hỗ trợ mua bảo hiểm y tế cho cộng tác viên Dân số - Kế hoạch hóa gia đình giai đoạn 2016 - 2020 trên địa bàn tỉnh Bình Dương./.

Nghi quyet 08.2021.NQ.HĐND.pdf

FalseTrần Thị Kim Yến
Quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng  phí bình tuyển, công nhận cây đầu dòng; giống, vườn giống cây lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình DươngThông tinTinQuy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng  phí bình tuyển, công nhận cây đầu dòng; giống, vườn giống cây lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
9/17/2021 9:00 PMNoĐã ban hành

Để thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý về phí bình tuyển, công nhận cây mẹ, cây đầu dòng, vườn giống cây lâm nghiệp, rừng giống theo quy định tại Điều 4 Luật Phí và lệ phí năm 2015 và đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân xin cấp phép hoạt động trong lĩnh vực giống cây nông nghiệp, lâm nghiệp; ngày 14/9/2021, Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Dương đã b​an hành Nghị quyết số 07/2021/NQ-HĐND quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí bình tuyển, công nhận cây đầu dòng; giống, vườn giống cây lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

IMG_5125.jpg

Theo đó, mức thu phí được quy định như sau:

SttNội dungĐơn vị tínhMức thu (đồng)
ILĩnh vực trồng trọt  
  Phí bình tuyển, công nhận cây đầu dòng01 lần2.000.000
IILĩnh vực lâm nghiệp  
1 Phí Hội đồng công nhận giống cây lâm nghiệp mới01 lần4.500.000
2 Phí công nhận lâm phần tuyển chọn01 giống600.000
3 Phí công nhận vườn giống01 vườn giống2.400.000
4 Phí công nhận nguồn gốc lô giống, lô con giống01 lô giống600.000​

Đối với người thuộc hộ nghèo theo chuẩn nghèo của tỉnh Bình Dương; người có công với cách mạng; người khuyết tật sẽ được giảm 50% mức thu phí.

Nghị quyết số 07/2021/NQ-HĐND có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2021./.

Nghi quyet 07.2021.NQ.HĐND.pdf


FalseTrần Thị Kim Yến
Sửa đổi, bổ sung quy định về việc thu tiền bảo vệ, phát triển đất trồng lúa trên địa bàn tỉnh Bình DươngThông tinTinSửa đổi, bổ sung quy định về việc thu tiền bảo vệ, phát triển đất trồng lúa trên địa bàn tỉnh Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
9/17/2021 1:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 14/9/2021, Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Dương đã ban hành Nghị quyết số 06/2021/NQ-HĐND Sửa đổi, bổ sung Điều 1 Nghị quyết số 53/2016/NQ-HĐND9 ngày 16/12/2016 của Hội đồng nhân dân tỉnh về việc thu tiền bảo vệ, phát triển đất trồng lúa trên địa bàn tỉnh Bình Dương. 

Ảnh chụp Màn hình 2021-09-19 lúc 12.40.05.png

Theo đó:

Phê chuẩn mức thu tiền bảo vệ, phát triển đất trồng lúa khi chuyển mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước sang sử dụng vào mục đích đất phi nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương, cụ thể như sau:

Mức thu tiền bảo vệ, phát triển đất trồng lúa (đồng)
=  

Diện tích

    (m2


x

 Giá của loại 

  đất trồng lúa

    (đồng/m2


x 70%

          Trong đó:

         - Diện tích (m2) là phần diện tích đất chuyên trồng lúa nước chuyển sang đất phi nông nghiệp ghi cụ thể trong quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất từ đất chuyên trồng lúa nước sang đất phi nông nghiệp của cơ quan có thẩm quyền;

         - Giá của loại đất trồng lúa (đồng/m2) tính theo Bảng giá đất đang được áp dụng tại thời điểm chuyển mục đích sử dụng đất do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành.

Nội dung nêu trên chủ yếu sửa đổi một số cụm từ, nội dung quy định tại Điều 1 Nghị quyết 53/2016/NQ-HĐND9 cho phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành, cụ thể:  Sửa đổi cụm từ "đất trồng lúa nước" thành "đất chuyên trồng lúa nước" tại phần tiêu đề của Điều 1 Nghị quyết số 53/2016/NQ-HĐND9; Sửa đổi "Mức thu tiền bảo vệ, phát triển đất trồng lúa nước" thành "Mức thu tiền bảo vệ, phát triển đất trồng lúa" tại phần công thức tính của Điều 1 Nghị quyết số 53/2016/NQ-HĐND9; Bỏ cụm từ "giao đất, cho thuê đất" trong phần chú thích công thức tính mức thu tiền bảo vệ, phát triển đất trồng lúa. 

Nghị quyết số 06/2021/NQ-HĐND có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2021./.

Nghi quyet 06.2021.NQ.HĐND.pdf

FalseTrần Thị Kim Yến
Bãi bỏ toàn bộ Quyết định số 60/2010/QĐ-UBND ngày 22 tháng 12 năm 2010 của Ủy ban nhân dân tỉnhThông tin; Văn bản QPPLTinBãi bỏ toàn bộ Quyết định số 60/2010/QĐ-UBND ngày 22 tháng 12 năm 2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh/CMSImageNew/2021-09/ảnh 1_Key_28092021145901.jpg
9/15/2021 3:00 PMNoĐã ban hành

        Trên cơ sở căn cứ "Nghị quyết số 41/2010/NQ-HĐND7 ngày 10 tháng 12 năm 2010 của Hội đồng nhân dân tỉnh về mức trợ cấp ngày công lao động đối với lực lượng dân quân tự vệ khi làm nhiệm vụ; hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện và bảo hiểm y tế tự nguyện đối với cán bộ Chỉ huy phó quân sự cấp xã và phụ cấp hàng tháng đối với cán bộ khu, ấp đội trưởng trên địa bàn tỉnh Bình Dương", Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành  "Quyết định số 60/2010/QĐ-UBND ngày 22 tháng 12 năm 2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc quy định mức trợ cấp ngày công lao động đối với lực lượng dân quân tự vệ khi làm nhiệm vụ; hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện và bảo hiểm y tế tự nguyện đối với cán bộ chỉ huy phó quân sự cấp xã và phụ cấp hàng tháng đối với cán bộ khu, ấp đội trưởng trên địa bàn tỉnh Bình Dương". Tuy nhiên, hiện nay Nghị quyết số 41/2010/NQ-HĐND7 đã hết hiệu lực pháp luật, bị bãi bỏ bởi "Nghị quyết số 19/2020/NQ-HĐND ngày 10 tháng 12 năm 2020 của Hội đồng nhân dân tỉnh quy định số lượng Phó Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự ở xã, phường, thị trấn loại 1; mức phụ cấp đối với Ấp đội trưởng, Khu đội trưởng; mức trợ cấp ngày công lao động đối với lực lượng Dân quân tự vệ trên địa bàn tỉnh Bình Dương", dẫn đến Quyết định số 60/2010/QĐ-UBND không còn phù hợp với quy định pháp luật hiện hành và tình hình thực tế tại địa phương.

       Ngày 05  tháng 7 năm 2021, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 08/2021/QĐ-UBND Bãi bỏ toàn bộ Quyết định số 60/2010/QĐ-UBND ngày 22 tháng 12 năm 2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc Quy định mức trợ cấp ngày công lao động đối với lực lượng Dân quân tự vệ khi làm nhiệm vụ, hỗ trợ mức đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế tự nguyện đối với cán bộ Chỉ huy phó quân sự cấp xã và phụ cấp hàng tháng đối với cán bộ khu, ấp đội trưởng trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

       Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 7 năm 2021./.

08-2021-QD.signed.pdf

ảnh 1.jpg


FalseLê Thị Phương
Khung giá để bán, cho thuê nhà ở xã hội do hộ gia đình,  cá nhân đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh Bình Dương  có hiệu lực kể từ ngày 10/6/2021              Văn bản QPPL; Thông tinTinKhung giá để bán, cho thuê nhà ở xã hội do hộ gia đình,  cá nhân đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh Bình Dương  có hiệu lực kể từ ngày 10/6/2021              /Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
9/15/2021 2:00 PMNoĐã ban hành

Căn cứ quy định tại Khoản 5 Điều 21 Nghị định 100/2015/NĐ-CP ngày 20 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 06/2021/QĐ-UBND ngày 31 tháng 5 năm 2021 quy định khung giá để bán, cho thuê nhà ở xã hội do hộ gia đình, cá nhân đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Quy định này áp dụng cho hộ gia đình, cá nhân đầu tư xây dựng nhà ở xã hội để bán, cho thuê; đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội theo quy định tại Điều 49 Luật Nhà ở năm 2014; các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức, cá nhân có liên quan đến lĩnh vực phát triển và quản lý nhà ở xã hội trên địa bàn tỉnh Bình Dương, theo đó:

Khung giá để bán, cho thuê nhà ở xã hội do hộ gia đình, cá nhân đầu tư xây dựng được xác định, cụ thể:

1. Khung giá để bán:

Đơn vị tính: đồng/m2

Loại nhàMức giá tối đa
 Nhà ở riêng lẻ 1 tầng3.898.000
 Nhà ở riêng lẻ 2 tầng6.360.000

  2. Khung giá để cho thuê:

Đơn vị tính: đồng/m2/tháng

Loại nhàMức giá tối đa
 Nhà ở riêng lẻ 1 tầng23.000
 Nhà ở riêng lẻ 2 tầng38.000

 

Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng 6 năm 2021./.

anh1.jpg 

anh2.jpg

anh3.jpg

anh4.jpg

FalseLê Thị Phương
Bình Dương hỗ trợ lương thực, thực phẩm cho người nghèo, cận nghèo và người dân đang ở trọ trong khu vực thực hiện tăng cường giãn cách thuộc 15 phường trên địa bàn thành phố Thuận An, Dĩ An và thị xã Tân Uyên để thực hiện phòng chống dịch Covid - 19Thông tin; Tin ngành tư phápTinBình Dương hỗ trợ lương thực, thực phẩm cho người nghèo, cận nghèo và người dân đang ở trọ trong khu vực thực hiện tăng cường giãn cách thuộc 15 phường trên địa bàn thành phố Thuận An, Dĩ An và thị xã Tân Uyên để thực hiện phòng chống dịch Covid - 19/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
9/7/2021 9:00 AMYesĐã ban hành

Trước ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh Covid-19 đã và đang tác động, ảnh hưởng đến tình hình sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số Công điện số 1102/CĐ-TTg ngày 23/8/2021 và Công điện số 1108/CĐ-TTg ngày 31/8/2021 về việc tăng cường thực hiện phòng chống dịch Covid - 19 trong kỳ nghỉ lễ quốc khánh 2/9; Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Công văn số 4343/UBND-VX ngày 31/8/2021 về việc tiếp tục thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16/CT-TTg của Thủ tương Chính phủ và thực hiện "xanh hóa" địa bàn.

Thực  hiện Nghị quyết số 268/NQ-UBTVQH15 ngày 06 tháng 8 năm 2021 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về việc cho phép Chính phủ ban hành Nghị quyết có một số nội dung khác với quy định của luật để đáp ứng yêu cầu phòng, chống dịch COVID-19; Thông báo kết luận số 179-TB/TU ngày 20/8/2021 của  Thường trực Tỉnh ủy về tình hình phòng, chống dịch bệnh Covid -19 trên địa bàn thành phố Thuận An và thị xã Tân Uyên; Thông báo kết luận số 200-TB/TU ngày 03/9/2021 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về công tác phòng, chống dịch bệnh Covid -19 trên địa bàn tỉnh; Văn bản số 55/HĐND-PC ngày 06 tháng 9 năm 2021 của Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh về việc thống nhất chủ trương hỗ trợ lương thực, thực phẩm cho người nghèo, cận nghèo và người dân đang ở trọ thuộc 15 phường trên địa bàn thành phố Thuận An, Dĩ An và thị xã Tân Uyên để thực hiện phòng chống dịch Covid – 19.

Nhằm bảo đảm cung cấp lương thực, thực phẩm cho người nghèo, cận nghèo và người dân đang ở trọ tại 15 phường của thành phố Thuận An, Dĩ An và  thị xã Tân Uyên trong thời gian kéo dài thực hiện "khóa chặt, đông cứng" để thực hiện các quy định về phòng, chống dịch, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi, tiến tới kiểm soát tốt dịch bệnh.

Ngày 06/9/2021, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương đã ban hành "Quyết định số 14/2021/QĐ-UBND về việc hỗ trợ lương thực, thực phẩm cho người nghèo, cận nghèo và người dân đang ở trọ trong khu vực thực hiện tăng cường giãn cách thuộc 15 phường trên địa bàn thành phố Thuận An, Dĩ An và thị xã Tân Uyên để thực hiện phòng chống dịch Covid - 19". Theo đó, hỗ trợ lương thực, thực phẩm cho người nghèo, cận nghèo và người dân đang ở trọ thuộc 15 phường trên địa bàn thành phố Thuận An, Dĩ An và Thị xã Tân Uyên để thực hiện phòng chống dịch Covid - 19, cụ thể như sau:

1. Phạm vi, đối tượng áp dụng: hỗ trợ người nghèo, cận nghèo và người dân đang ở trọ thuộc 15 phường trên địa bàn thành phố Thuận An, Dĩ An và thị xã Tân Uyên.

- Thành phố Thuận An (4 phường): Bình Chuẩn, Thuận Giao, An Phú, Bình Hòa;

- Thành phố Dĩ An (4 phường): Tân Đông Hiệp, An Bình (3 khu phố gồm Bình Đường 1, Bình Đường 3, Bình Đường 4), Dĩ An (6 khu phố gồm Nhị Đồng 1, Thống Nhất 1, Thống Nhất 2, Thắng Lợi 2, tổ 1, 2,3 khu phố Đông Tân, tổ 26, 27, 28 khu phố Nhị Đồng 2); Đông Hòa (4 khu phố gồm tổ 8A, 12A, 13A, khu tái định cư khu phố Tây A; tổ 4, 11,12, 18 khu phố Tây B; tổ 2, 6A, 8, 11, 12, 13, 14, 16 khu phố Tân Hòa; tổ 11 khu phố Tân Lập).

- Thị xã Tân Uyên (7 phường): Uyên Hưng, Hội Nghĩa, Tân Phước Khánh, Thái Hòa, Khánh Bình, Tân Vĩnh Hiệp, Tân Hiệp;

2. Mức hỗ trợ:  50.000 đồng/người/ngày.

3. Hình thức hỗ trợ: Bằng lương thực, thực phẩm hoặc bằng tiền.

(Tùy theo điều kiện thực tế, địa phương sẽ triển khai cung cấp lương thực hoặc hỗ trợ tiền cho người dân và tổ chức mua hàng hộ)

4.Thời gian áp dụng: tối đa 10 ngày (theo thực tế thời gian thực hiện tăng cường giãn cách tại địa phương), bắt đầu từ ngày 06/9/2021.

5. Kinh phí thực hiện:  do Ngân sách nhà nước đảm bảo theo phân cấp  ngân sách hiện hành.

 

 Quyết định này có hiệu lực kề từ ngày 06/9/2021./.

14-2021-QD.signed.pdf

FalseHuỳnh Hữu Tốt
Một số chính sách xã hội hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động trên địa bàn tỉnh Bình Dương gặp khó khăn do đại dịch COVID-19 được ban hànhThông tin; Văn bản QPPL; Văn bản nghiệp vụTinMột số chính sách xã hội hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động trên địa bàn tỉnh Bình Dương gặp khó khăn do đại dịch COVID-19 được ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
9/6/2021 9:00 AMNoĐã ban hành

​      Trước tình hình diễn biến phức tạp của đại dịch COVID-19 đã và đang tác động, ảnh hưởng lớn đến tình hình sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân, tỉnh Bình Dương đã bàn hành một số chính sách xã hội hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch COVID-19. Cụ thể, tỉnh đã ban hành 07 văn bản quy phạm pháp luật, bao gồm:​

      1. Nghị quyết số 03/2021/NQ-HĐND ngày 06 tháng 8 năm 2021 của Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Dương về chế độ hỗ trợ đối với Tổ Covid cộng đồng trên địa bàn tỉnh Bình Dương. (Xem tại đây NQ03-2021-HDND-21_1.signed.pdf).

       2. Nghị quyết số 04/2021/NQ-HĐND ngày 06 tháng 8 năm 2021 của Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Dương về việc hỗ trợ tiền thuê nhà đối với người lao động đang ở trọ trên địa bàn tỉnh Bình Dương. (Xem tại đây NQ04-2021-HDND-21_1.signed.pdf).

      3. Nghị quyết số 05/2021/NQ-HĐND ngày 06 tháng 8 năm 2021 của Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Dương về việc hỗ trợ thêm tiền ăn đối với người phải điều trị nhiễm Covid-19 (F0) và cán bộ y tế thường trực 24/24 giờ tại cơ sở điều trị cách ly y tế do Covid-19 trên địa bàn tỉnh Bình Dương. (Xem tại đây NQ05-2021-HDND-21_1.signed.pdf).

      4. Quyết định số 09/2021/QĐ-UBND ngày 16 tháng 7 năm 2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương về việc hỗ trợ người lao động không có giao kết hợp đồng lao động và một số đối tượng khác bị tác động bởi dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh Bình Dương (Xem tại đây VanBanGoc_09-2021-QD.signed.pdf).

      5. Quyết định số 12/2021/QĐ-UBND ngày 14 tháng 8 năm 2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương về việc hỗ trợ lương thực, thực phẩm cho người lao động có hoàn cảnh khó khăn đang ở trọ trên địa bàn tỉnh Bình Dương bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19. (Xem tại đây Quyết định số 12-2021-QĐ.signed.pdf).

     6. Quyết định số 13/2021/QĐ-UBND ngày 22 tháng 8 năm 2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương về việc hỗ trợ lương thực, thực phẩm cho người dân thuộc 11 phường trên địa bàn thành phố Thuận An và thị xã Tân Uyên để thực hiện phòng chống dịch Covid – 19 (Xem tại đây 13-2021-QD.signed.pdf).

     7. Quyết định số 14/2021/QĐ-UBND ngày 06 tháng 9 năm 2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương về việc hỗ trợ lương thực, thực phẩm cho người nghèo, cận nghèo và người dân đang ở trọ trong khu vực thực hiện tăng cường giãn cách thuộc 15 phường trên địa bàn thành phố Thuận An, Dĩ An và thị xã Tân Uyên để thực hiện phòng chống dịch Covid - 19 (Xem tại đây 14-2021-QD.signed.pdf)./.

FalseLê Thị Phương
Bình Dương hỗ trợ lương thực, thực phẩm cho người dân thuộc 11 phường trên địa bàn thành phố Thuận An và thị xã Tân Uyên để thực hiện phòng chống dịch Covid - 19Thông tin; Tin ngành tư phápTinBình Dương hỗ trợ lương thực, thực phẩm cho người dân thuộc 11 phường trên địa bàn thành phố Thuận An và thị xã Tân Uyên để thực hiện phòng chống dịch Covid - 19/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
8/22/2021 8:00 PMNoĐã ban hành

Trước ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh Covid-19 đã và đang tác động, ảnh hưởng đến tình hình sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số 1063/CĐ-TTg ngày 31/7/2021 về phòng chống dịch Covid – 19, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Công văn số 3636/UBND-VX ngày 01/8/2021 về tiếp tục thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16/CT-TTg  của Thủ tướng chính phủ và các biện pháp cấp bách phòng chống dịch bệnh Covid - 19 trên địa bàn tỉnh, theo đó người dân không được di chuyển khỏi nơi cư trú (địa bàn tỉnh).

Thực hiện Nghị quyết số 268/NQ-UBTVQH15 ngày 06/8/2021 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội  về việc cho phép Chính phủ ban hành Nghị quyết có một số nội dung khác với quy định của luật để đáp ứng yêu cầu phòng chống dịch Covid-19 và Thông báo số 179-TB/TU ngày 20/8/2021 về kết luận của Thường trực Tỉnh ủy về tình hình phòng, chống dịch Covid-19 trên địa bàn thành phố Thuận An và thị xã Tân Uyên; Văn bản số 44/HĐND-PC ngày 22 tháng 8 năm 2021 của Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh về việc thống nhất chủ trương hỗ trợ lương thực, thực phẩm cho người dân thuộc 11 phường trên địa bàn thành phố Thuận An và thị xã Tân Uyên để thực hiện phòng chống dịch Covid-19.

Trước tình hình dịch bệnh Covid-19 đang diễn biến ngày càng phức tạp trên địa bàn thành phố Thuận An, thị xã Tân Uyên, để tập trung ngăn chặn, đẩy lùi, tiến tới kiểm soát tốt dịch bệnh và thực hiện Thông báo số: 179-TB/TU ngày 20/8/2021 của Tỉnh ủy Kết luận của Thường trực Tỉnh ủy về tình hình phòng, chống dịch bệnh Covid -19 trên địa bàn thành phố Thuận An và thị xã Tân Uyên trong đó giao Đảng bộ, Chính quyền thành phố Thuận An, thị xã Tân Uyên triển khai "khóa chặt, đông cứng"ngay các khu dân cư ở 11 phường đậm đặc  (Thành phố Thuận An 4 phường: Bình Chuẩn, Thuận Giao, An Phú, Bình Hòa; Thị xã Tân Uyên 7 phường: Uyên Hưng, Hội Nghĩa, Tân Phước Khánh, Thái Hòa, Khánh Bình, Tân Vĩnh Hiệp, Tân Hiệp) trong vòng 15 ngày để thực hiện xét nghiệm sàng lọc nhanh bóc tách F0 ra khỏi cộng đồng; thời gian triển khai thực hiện bắt đầu từ ngày 22/8/2021 theo nguyên tắc khóa chặt 24/24 giờ không cho người dân ra khỏi nhà "ai ở đâu ở yên đó", cách ly tuyệt đối "người cách ly người, nhà cách ly nhà,…";

Nhằm bảo đảm cung cấp đầy đủ lương thực, thực phẩm cho người dân tại 11 phường của thành phố Thuận An, thị xã Tân Uyên trong thời gian bị khóa chặt để thực hiện các quy định về phòng, chống dịch, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi, tiến tới kiểm soát tốt dịch bệnh trong thời gian ngắn nhất.Ngày 22/8/2021, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương đã ban hành "Quyết định số 13/2021/QĐ-UBNDvề việc hỗ trợ lương thực, thực phẩm cho người dân thuộc 11 phường trên địa bàn thành phố Thuận An và thị xã Tân Uyên để thực hiện phòng chống dịch Covid - 19 ". Theo đó, hỗ trợ lương thực, thực phẩm cho người dân thuộc 11 phường trên địa bàn thành phố Thuận An và thị xã Tân Uyên để thực hiện phòng chống dịch Covid - 19, cụ thể như sau:

1. Phạm vi, đối tượng áp dụng: hỗ trợ người dân thuộc 11 phường trên địa bàn thành phố Thuận An và Thị xã Tân Uyên (thành phố Thuận An gồm  04 phường: Bình Chuẩn, Thuận Giao, An Phú, Bình Hòa; thị xã Tân Uyên gồm 07 phường: Uyên Hưng, Hội Nghĩa, Tân Phước Khánh, Thái Hòa, Khánh Bình, Tân Vĩnh Hiệp, Tân Hiệp).

2. Mức hỗ trợ:  50.000 đồng/người/ngày.

3. Hình thức hỗ trợ: Bằng lương thực, thực phẩm

4.Thời gian áp dụng: 15 ngày, bắt đầu từ ngày 22/8/2021.

5. Kinh phí thực hiện:  do Ngân sách nhà nước đảm bảo theo phân cấp  ngân sách hiện hành.

Quyết định này có hiệu lực kề từ ngày 22/8/2021./.​

Quyết định số 13-2021-QD.signed.pdf

FalseHuỳnh Hữu Tốt
Bình Dương hỗ trợ lương thực, thực phẩm cho người lao động có  hoàn cảnh khó khăn đang ở trọ trên địa bàn tỉnh bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19Thông tin; Tin ngành tư phápBình Dương hỗ trợ lương thực, thực phẩm cho người lao động có  hoàn cảnh khó khăn đang ở trọ trên địa bàn tỉnh bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
8/15/2021 12:00 PMNoĐã ban hành

Trước ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh Covid-19 đã và đang tác động, ảnh hưởng đến tình hình sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số 1063/CĐ-TTg ngày 31/7/2021 về phòng ch​ống dịch Covid – 19, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Công văn số 3636/UBND-VX ngày 01/8/2021 về tiếp tục thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16/CT-TTg  của Thủ tướng chính phủ và các biện pháp cấp bách phòng chống dịch bệnh Covid - 19 trên địa bàn tỉnh, theo đó người dân không được di chuyển khỏi nơi cư trú (địa bàn tỉnh). 

Thực hiện Nghị quyết số 268/NQ-UBTVQH15 ngày 06/8/2021 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội  về việc cho phép Chính phủ ban hành Nghị quyết có một số nội dung khác với quy định của luật để đáp ứng yêu cầu phòng chống dịch Covid-19 và Thông báo số 151-TB/TU ngày 03/8/2021 về kết luận của Thường trực Tỉnh ủy tại cuộc họp giao ban về tình hình phòng, chống dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh Bình Dương; Văn bản số 41/HĐND-PC ngày 12 tháng 8 năm 2021 của Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh về việc thống nhất việc Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết ban hành Quyết định hỗ trợ lương thực, thực phẩm cho người lao động có hoàn cảnh khó khăn đang ở trọ trên địa bàn tỉnh Bình Dương bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19.

Nhằm động viên tinh thần cho người lao động trong thời gian xảy ra dịch Covid-19 bị mất việc làm, bị ngừng việc, không đi khỏi nơi cư trú, an tâm "Ai ở đâu ở đấy" và đảm bảo không thiếu ăn, thiếu mặc trong thời gian tiếp tục thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Để góp phần thực hiện tốt việc phòng chống dịch Covid-19, ngày 14/8/2021, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương đã ban hành "Quyết định số 12/2021/QĐ-UBND về việc hỗ trợ lương thực, thực phẩm cho người lao động có hoàn cảnh khó khăn đang ở trọ trên địa bàn tỉnh Bình Dương bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19". Theo đó, hỗ trợ lương thực, thực phẩm cho người lao động có hoàn cảnh khó khăn đang ở trọ trên địa bàn tỉnh Bình Dương bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, cụ thể như sau:

1. Đối tượng áp dụng: người lao động có hoàn cảnh khó khăn đang ở trọ trên địa bàn tỉnh Bình Dương bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 (trừ công nhân lao động đang thực hiện " 3 tại chỗ", " 1 cung đường, 2 điểm đến"). Việc xác định đối tượng do Ban điều hành khu, ấp xét và UBND cấp xã xác nhận.

2. Mức hỗ trợ:  hỗ trợ một lần, trị giá 500.000 đồng/người.

3. Hình thức hỗ trợ: Lương thực, thực phẩm hoặc bằng tiền

4. Thời gian áp dụng: Trong tháng 8/2021.

5. Kinh phí thực hiện:  do Ngân sách nhà nước đảm bảo theo phân cấp  ngân sách hiện hành và nguồn thu hợp pháp khác.

Quyết định này có hiệu lực kề từ ngày 14/8/2021./.​

Quyết định số 12-2021-QĐ.signed.pdf

FalseHuỳnh Hữu Tốt
Chính phủ được ban hành Nghị quyết có nội dung khác luật để phòng, chống dịchVăn bản nghiệp vụ; Văn bản QPPL; Thông tinTinChính phủ được ban hành Nghị quyết có nội dung khác luật để phòng, chống dịch/CMSImageNew/2021-08/anh1111_Key_24082021150252.jpg
8/8/2021 4:00 PMNoĐã ban hành

​      Ngày 06/8/2021, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết 268/NQ-UBTVQH15 về cho phép Chính phủ ban hành Nghị quyết có nội dung khác với quy định của luật để đáp ứng yêu cầu phòng, chống dịch COVID-19. Theo đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhất trí với đề nghị của Chính phủ về việc ban hành Nghị quyết của Chính phủ để thực hiện các giải pháp cấp bách phòng, chống dịch COVID-19 theo Nghị quyết 30/2021/QH15, trong đó có các nội dung sau đây:

      - Quyết định thành lập cơ sở thu dung, điều trị người nhiễm COVID-19 đồng thời là giấy phép hoạt động;

     - Giao Bộ Y tế được quy định các thủ tục hành chính trong thông tư theo thủ tục rút gọn để đáp ứng yêu cầu cấp bách của công tác phòng, chống dịch;

     - Giao Thường trực Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng nhân dân và báo cáo Hội đồng nhân dân tại kỳ họp gần nhất.

     Bên cạnh đó, đối với đề nghị quy định việc thanh toán chi phí khám chữa bệnh cho bệnh nhân COVID-19 tại các cơ sở thu dung, điều trị COVID-19 (bao gồm cả chi phí điều trị các bệnh khác trong quá trình điều trị COVID-19) do ngân sách nhà nước bảo đảm theo chi phí thực tế:

      Chính phủ tiếp tục chỉ đạo thực hiện theo hướng ngân sách nhà nước có trách nhiệm chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh liên quan trực tiếp đến điều trị COVID-19; đối với bệnh nhân mắc COVID-19 có các bệnh khác thì việc thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với các bệnh này phải thực hiện theo quy định của Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễmLuật Bảo hiểm y tế và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

      Nghị quyết 268/NQ-UBTVQH15 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 06/8/2021./. 

nghi-quyet-268-nq-ubtvqh15-uy-ban-thuong-vu-quoc-hoi_6i39izP3rU2Fi2vb.pdf

anh1111.jpg 

anh222.jpg


FalseLê Thị Phương
Chế độ hỗ trợ đối với Tổ Covid cộng đồng  trên địa bàn tỉnh Bình DươngTin ngành tư pháp; Thông tinTinChế độ hỗ trợ đối với Tổ Covid cộng đồng  trên địa bàn tỉnh Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
8/6/2021 7:00 PMNoĐã ban hành

Thời gian qua, trước diễn biến rất phức tạp của dịch Covid-19, tỉnh Bình Dương đã quyết liệt, nỗ lực thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ trong phòng, chống dịch. Một trong những giải pháp quan trọng được triển khai thực hiện ngay từ cơ sở là thành lập các Tổ Covid cộng đồng tại các khu dân cư, khu nhà trọ trên địa bàn, làm cầu nối chủ động về công tác phòng chống dịch của chính quyền và ngành y tế đến với nhân dân, giúp cho người dân yên tâm, tin tưởng và thực hiện tốt các biện pháp phòng chống dịch.

Tính từ tháng 2 năm 2021 đến nay, trên địa bàn tỉnh đã thành lập 6.097 Tổ Covid cộng đồng với 17.720 thành viên. Tổ Covid cộng đồng đã góp phần tích cực trong công tác phòng, chống dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh, với phương châm "đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng đối tượng", các thành viên trong Tổ Covid cộng đồng luôn tiên phong phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương, hỗ trợ lực lượng chức năng trong việc theo dõi các trường hợp người dân đi, đến tại các tỉnh, thành phố về địa bàn, nhất là các trường hợp đi về từ vùng dịch. Mỗi thành viên trong Tổ cũng là một tuyên truyền viên tích cực thông tin về tình hình dịch bệnh, nhắc nhở người dân thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch cho bản thân, gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, từ khi được thành lập cho đến nay, hoạt động của các Tổ Covid cộng đồng hoàn toàn là theo tinh thần tự nguyện, trong các quy định pháp luật hiện hành chưa có chế độ hỗ trợ để động viên tinh thần, bù đắp công sức cho các thành viên Tổ Covid cộng đồng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

Để kịp thời động viên, khuyến khích, nâng cao trách nhiệm Tổ Covid cộng đồng trong quá trình tham gia công tác phòng chống dịch Covid-19, góp phần chiến thắng đại dịch Covid-19. Ngày 06/8/2021, Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Dương đã ban hành Nghị quyết số 03/2021/NQ-HĐND về chế độ hỗ trợ đối với Tổ Covid cộng đồng trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Theo đó, quy định chế độ hỗ trợ  đối với Tổ Covid cộng đồng trên địa bàn tỉnh Bình Dương, cụ thể như sau:

1. Mức hỗ trợ:

          a) Thành viên Tổ Covid cộng đồng: 80.000 đồng/người/ngày, tối đa không quá 800.000 đồng/người/tháng.

           b) Ngoài mức hỗ trợ quy định nêu trên, thành viên Tổ Covid cộng đồng làm nhiệm vụ trong vùng cách ly được hỗ trợ thêm 400.000 đồng/người/tháng. 

2. Thời gian áp dụng: từ khi Nghị quyết có hiệu lực đến khi cơ quan có thẩm quyền công bố hết dịch.

3. Nghị quyết này có hiệu lực kề từ ngày 06/8/2021./.

Huỳnh Hữu Tốt​

NQ03-2021-HDND-21_1.signed.pdf

FalseHuỳnh Hữu Tốt
Bình Dương hỗ trợ tiền thuê nhà đối với  người lao động đang ở trọThông tin; Tin ngành tư phápTinBình Dương hỗ trợ tiền thuê nhà đối với  người lao động đang ở trọ/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
8/6/2021 7:00 PMNoĐã ban hành

Trước tình hình diễn biến phức tạp của đại dịch Covid-19 đã và đang tác động, ảnh hưởng đến tình hình sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

Thực hiện chỉ đạo của Trung ương, Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số 1063/CĐ-TTg ngày 31/7/2021 về phòng chống dịch Covid – 19, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành công văn số 3636/UBND-VX ngày 01/8/2021 về tiếp tục thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16/CT-TTg  của Thủ tướng chính phủ và các biện pháp cấp bách phòng chống dịch bệnh Covid - 19 trên địa bàn tỉnh, theo đó người dân không được di chuyển khỏi nơi cư trú (địa bàn tỉnh) 

Để bảo đảm thực hiện tốt chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, đồng thời góp phần hỗ trợ người dân nhất là người lao động ở trọ trên địa bàn tỉnh ở lại nơi cư trú không di chuyển ra khỏi tỉnh trong điều kiện bị mất việc làm, không có thu nhập do ảnh hưởng của dịch Covid-19.

Nhằm động viên tinh thần cho người lao động trong thời gian xảy ra dịch Covid-19 bị mất việc làm, bị ngừng việc, không đi khỏi nơi cư trú ... Để góp phần thực hiện tốt việc phòng chống dịch Covid-19, ngày 06/8/2021, Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Dương đã ban hành Nghị quyết số 04/2021/NQ-HĐND về việc hỗ trợ tiền thuê nhà đối với người lao động đang ở trọ trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Theo đó, hỗ trợ tiền thuê nhà đối với người lao động đang ở trọ trên địa bàn tỉnh Bình Dương, cụ thể như sau:

1. Đối tượng áp dụng: người lao động đang ở trọ trong tình hình dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

2. Mức hỗ trợ: hỗ trợ một lần tiền thuê nhà trọ cho người lao động là 300.000 đồng/người.

3. Thời gian áp dụng: trong tháng 8 năm 2021.

4. Nguồn kinh phí thực hiện: do ngân sách Nhà nước đảm bảo theo phân cấp ngân sách hiện hành và nguồn thu hợp pháp khác.

Nghị quyết này có hiệu lực kề từ ngày 06/8/2021./.

Huỳnh Hữu Tốt

NQ04-2021-HDND-21_1.signed.pdf

FalseHuỳnh Hữu Tốt
Bình Dương hỗ trợ thêm tiền ăn đối với người phải điều trị nhiễm Covid-19 (F0) và cán bộ y tế thường trực 24/24 giờ tại cơ sở điều trị cách ly y tế do Covid-19 Thông tin; Tin ngành tư phápTinBình Dương hỗ trợ thêm tiền ăn đối với người phải điều trị nhiễm Covid-19 (F0) và cán bộ y tế thường trực 24/24 giờ tại cơ sở điều trị cách ly y tế do Covid-19 /Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
8/6/2021 7:00 PMNoĐã ban hành

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh, tình hình dịch bệnh Covid-19 đang diễn biến rất phức tạp, ảnh hưởng đời sống nhân dân và gây áp lực lớn cho công tác chăm sóc, điều trị người nhiễm Covid-19. Theo Nghị quyết 16/NQ-CP ngày 08 tháng 02 năm 2021 của Chính phủ về chi phí cách ly y tế, khám, chữa bệnh và một số chế độ đặc thù trong phòng, chống dịch Covid-19 và Nghị quyết 68/NQ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2021 của Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19, người phải điều trị nhiễm Covid-19 (F0) và cán bộ y tế thường trực 24/24 giờ tại cơ sở điều trị cách ly y tế để chăm sóc, điều trị người mắc, nghi mắc Covid-19 được hỗ trợ tiền ăn 80.000 đồng/người/ngày. Thực tế, số tiền hỗ trợ theo mức như trên chưa đảm bảo được chất lượng bữa ăn để bồi dưỡng sức khỏe cho người bệnh mau khỏi bệnh, hạn chế việc chuyển biến nặng, cũng như chưa đủ bồi dưỡng sức khỏe cho lực lượng y tế trước áp lực lớn, vất vả và nguy cơ phơi nhiễm trong công tác chăm sóc, điều trị bệnh.

Nhằm nâng cao sức khỏe cho đối tượng người phải điều trị nhiễm Covid-19 (F0) nhanh chống khỏi bệnh và cán bộ y tế được tăng cường bồi dưỡng đủ dưỡng chất, nâng cao sức khỏe đảm bảo phục vụ tốt công tác điều trị cho bệnh nhân bị nhiễm Covid-19, ngày 06/8/2021, Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Dương đã ban hành Nghị quyết số 05/2021/NQ-HĐND về việc hỗ trợ thêm tiền ăn đối với người phải điều trị nhiễm Covid-19 (F0) và cán bộ y tế thường trực 24/24 giờ tại cơ sở điều trị cách ly y tế do Covid-19 trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Theo đó, hỗ trợ thêm tiền ăn (ngoài mức tiền ăn được quy định tại Nghị quyết số 16/NQ-CP ngày 08 tháng 02 năm 2021 và Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2021 của Chính phủ) đối với người phải điều trị nhiễm Covid-19 (F0) và cán bộ y tế thường trực 24/24 giờ tại cơ sở điều trị cách ly y tế do Covid-19, tương ứng với từng Tầng trong mô hình "Tháp 03 tầng điều trị Covid-19" trên địa bàn tỉnh Bình Dương, cụ thể như sau:

1. Người phải điều trị nhiễm Covid-19 (F0):

a) Bệnh nhân ở Tầng 1, Tầng 2: 20.000 đồng/người/ngày.

b) Bệnh nhân ở Tầng 3: 40.000 đồng/người/ngày.

Thời gian hỗ trợ theo thời gian điều trị thực tế, nhưng tối đa không quá 45 ngày.

2. Cán bộ y tế thường trực 24/24 giờ tại cơ sở điều trị cách ly y tế do Covid-19:

a) Cán bộ y tế chăm sóc, điều trị bệnh nhân ở Tầng 1, Tầng 2: 40.000 đồng/người/ngày.

b) Cán bộ y tế chăm sóc, điều trị bệnh nhân ở Tầng 3: 70.000 đồng/người/ngày.

3. Nguồn kinh phí thực hiện: do ngân sách Nhà nước đảm bảo theo phân cấp ngân sách hiện hành và nguồn thu hợp pháp khác.

Nghị quyết này có hiệu lực kề từ ngày 06/8/2021./.

 (Đính kèm theo file Nghị quyết số 05/2021/NQ-HĐND)

Huỳnh Hữu Tốt

NQ05-2021-HDND-21_1.signed.pdf

FalseHuỳnh Hữu Tốt
02 Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương liên quan đến lĩnh vực môi trường bị bãi bỏThông tin; Văn bản QPPLTin02 Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương liên quan đến lĩnh vực môi trường bị bãi bỏ/CMSImageNew/2021-08/e3f91c26ff034214b5800967708a65e0-0001_Key_17082021075608.jpg
8/5/2021 8:00 AMNoĐã ban hành

      ​Ngày 04 tháng 8 năm 2021, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định 11/2021/QĐ-UBND bãi bỏ các Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương liên quan đến lĩnh vực môi trường, theo đó, bãi bỏ toàn bộ các Quyết định sau đây:

     1. Quyết định số 23/2016/QĐ-UBND ngày 05 tháng 8 năm 2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương Ban hành Quy định về quản lý chất thải rắn trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

     2. Quyết định số 29/2017/QĐ-UBND ngày 13 tháng 12 năm 2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về quản lý chất thải rắn trên địa bàn tỉnh Bình Dương ban hành kèm theo Quyết định số 23/2016/QĐ-UBND ngày 05 tháng 8 năm 2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương.

     Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 04 tháng 8 năm 2021./.

FalseLê Thị Phương
12 chính sách được Chính phủ quyết nghị để hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch COVID-19Văn bản QPPL; Thông tinTin12 chính sách được Chính phủ quyết nghị để hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch COVID-19/CMSImageNew/2021-08/ảnh 1_Key_16082021153906.jpg
7/16/2021 4:00 PMNoĐã ban hành

       Trước tình hình diễn biến phức tạp của đại dịch COVID-19 đã và đang tác động, ảnh hưởng lớn đến tình hình sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân. Ngày 01/7/202, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết sô 68/NQ-CP về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch COVID-19, theo đó, Chính phủ quyết nghị thực hiện một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch COVID-19, như sau:

        - Về mục tiêu: Hỗ trợ cho người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, góp phần phục hồi sản xuất, kinh doanh, giảm thiểu những tác động tiêu cực của đại dịch, ổn định sản xuất, kinh doanh, đảm bảo đời sống và an toàn cho người lao động.

        - Về nguyên tắc: Bảo đảm hỗ trợ kịp thời, đúng đối tượng, công khai, minh bạch, không để lợi dụng, trục lợi chính sách; Xây dựng các tiêu chí, điều kiện thuận lợi để người lao động và người sử dụng lao động dễ dàng tiếp cận chính sách; Bảo đảm tính khả thi, hiệu quả của các chính sách và nguồn lực để thực hiện. Mỗi đối tượng chỉ được hưởng một lần trong một chính sách hỗ trợ. Người lao động được hỗ trợ một lần bằng tiền (trừ các đối tượng hưởng chính sách bổ sung quy định tại điểm 7, điểm 8 mục II Nghị quyết này) chỉ được hưởng một chế độ hỗ trợ; không hỗ trợ đối tượng tự nguyện không tham gia; Phát huy tính chủ động của các cấp, các ngành, địa phương, căn cứ vào điều kiện cụ thể để linh hoạt triển khai, đảm bảo mục tiêu, nguyên tắc và kịp thời các chính sách hỗ trợ; Đảm bảo việc hỗ trợ ngân sách nhà nước (Các tỉnh, thành phố có tỷ lệ điều tiết các khoản thu phân chia về ngân sách trung ương trên 60% tự bảo đảm kinh phí thực hiện, Ngân sách trung ương hỗ trợ các địa phương còn lại theo nguyên tắc,…).

       - Về nội dung hỗ trợ: bao gồm 12 chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch COVID-19 như: Chính sách giảm mức đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; Chính sách tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất; Chính sách hỗ trợ đào tạo duy trì việc làm cho người lao động; Chính sách hỗ trợ người lao động tạm hoãn hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương; Chính sách hỗ trợ người lao động ngừng việc; Chính sách hỗ trợ người lao động chấm dứt hợp đồng lao động; Chính sách hỗ trợ bổ sung và trẻ em; Hỗ trợ tiền ăn đối với người phải điều trị nhiễm COVID-19 (F0); Hỗ trợ một lần đối với đạo diễn nghệ thuật, diễn viên, họa sĩ giữ chức danh nghề nghiệp hạng IV trong các đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động nghệ thuật biểu diễn (không bao gồm các đơn vị nghệ thuật lực lượng vũ trang) phải dừng hoạt động và đối với hướng dẫn viên du lịch được cấp thẻ hành nghề hướng dẫn du lịch bị ảnh hưởng của đại dịch COVID-19; Chính sách hỗ trợ hộ kinh doanh; Chính sách cho vay trả lương ngừng việc, trả lương phục hồi sản xuất; Chính sách đối với lao động không có giao kết hợp đồng lao động (lao động tự do) và một số đối tượng đặc thù khác./.

68_NQ-CP_479816.pdf

ảnh 1.jpg


FalsePhòng XD&KTVB
danh mục Bí mật nhà nước thuộc lĩnh vực Xây dựng pháp luật, Bổ trợ tư pháp, Hành chính tư pháp, Bồi thường nhà nước, Giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tếThông tindanh mục Bí mật nhà nước thuộc lĩnh vực Xây dựng pháp luật, Bổ trợ tư pháp, Hành chính tư pháp, Bồi thường nhà nước, Giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế/CMSImageNew/2021-06/qđ 741_Key_25062021092952.PNG
6/25/2021 10:00 AMNoĐã ban hành

Ngày 20/05/2021, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quyết định số 741/QĐ-TTg ban hành Danh mục bí mật nhà nước thuộc lĩnh vực xây dựng pháp luật, bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, bồi thường nhà nước, giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế với các nội dung sau:

- Bí mt nhà nước độ Tối mt gồm:

1. Báo cáo, văn bản, đề án xác lập luận cứ khoa học do Bộ Tư pháp chuẩn bị để tham mưu, hoạch định chủ trương, chính sách vĩ mô của Đảng, Nhà nước về pháp luật có liên quan đến chính trị, quốc phòng, đối ngoại, an ninh quốc gia, phòng thủ đất nước.

2. Chiến lược, kế hoạch, phương án giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế quy định tại khoản 1 Điều 2 Quyết định số 14/2020/QĐ-TTg ngày 08 tháng 4 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế phối hợp giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế.

-  Bí mt nhà nước đ Mt gồm:

1. Chương trình, kế hoạch, báo cáo trong một số lĩnh vực bổ trợ tư pháp có ảnh hưởng đến chính trị, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.

2. Báo cáo, văn bản có nội dung phản ánh, đánh giá về tình hình tư tưởng có dấu hiệu lệch lạc, sai trái của một số chức danh tư pháp do Bộ Tư pháp quản lý ảnh hưởng tới an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.

3. Chương trình, đề án, báo cáo, văn bản về hộ tịch, quốc tịch, chứng thực đối với các đối tượng xâm phạm đến chính trị, đối ngoại, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.

4. Phương án, tài liệu trao đổi liên ngành trong quá trình tổ chức thực hiện bồi thường nhà nước đối với các vụ việc phức tạp hoặc có yếu tố nước ngoài ảnh hưởng tới uy tín của cơ quan nhà nước, trật tự an toàn xã hội.

5. Báo cáo, tài liệu trao đổi liên ngành trong giải quyết các tranh chấp đầu tư quốc tế quy định tại khoản 1 Điều 2 Quyết định số 14/2020/QĐ-TTg ngày 08 tháng 4 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế phối hợp giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế có ảnh hưởng đến an ninh, chính trị, đối ngoại và môi trường đầu tư của đất nước.

Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành.​

FalseĐào Thị Quyên
Ngành Tư pháp có số người trúng cử Đại biểu Quốc hội khóa XV cao nhất từ trước đến nayVăn bản QPPL; Văn bản nghiệp vụ; Thông tinTinNgành Tư pháp có số người trúng cử Đại biểu Quốc hội khóa XV cao nhất từ trước đến nay/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Theo danh sách Hội đồng bầu cử Quốc gia vừa công bố chiều 10/6, nhiệm kỳ 2021-2026, Quốc hội Khóa XV, ngành Tư pháp có 16 người trúng cử đại biểu Quốc hội. Đây là lần đầu tiên ngành Tư pháp có số lượng Đại biểu tham gia một nhiệm kỳ Quốc hội cao như vậy
6/15/2021 4:00 PMNoĐã ban hành

​​Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long, trúng cử tại Kiên Giang:

Với tư cách đại biểu Quốc hội Khóa XIV (nhiệm kỳ 2016-2021) đơn vị tỉnh Kiên Giang, với sự hỗ trợ của cử tri, lãnh đạo các cấp của tỉnh Kiên Giang cùng với sự cố gắng của bản thân, Bộ trưởng Tư pháp Lê Thành Long đã hoàn thành tốt vai trò, nhiệm vụ của người đại biểu Quốc hội trong công tác xây dựng pháp luật, đặc biệt là các dự án luật liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội, quyền và lợi ích của người dân, doanh nghiệp, nhất là vùng đồng bào khó khăn, vùng sâu, vùng xa.

Đối với những lĩnh vực thuộc quản lý của Bộ, ngành Tư pháp, với vai trò người đứng đầu, Bộ trưởng đã kịp thời xem xét, giải quyết. Trong nhiệm kỳ, Bộ trưởng cũng tham gia vận động kinh phí thực hiện một số hoạt động xã hội, góp phần chăm lo đời sống nhân dân, đồng bào cử tri tại các địa phương thuộc các đơn vị bầu cử.

Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV, Bộ trưởng cho biết sẽ tiếp tục đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, thay mặt nhân dân thực hiện quyền nhà nước trong các hoạt động cụ thể thuộc thẩm quyền của Quốc hội về lập hiến, lập pháp, giám sát tối cao các hoạt động của cơ quan nhà nước và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước. Riêng những vấn đề thuộc lĩnh vực tư pháp, với vai trò là người đứng đầu ngành tư pháp, Bộ trưởng sẽ trực tiếp lãnh đạo xem xét, xử lý.

Đối với tỉnh Kiên Giang và các địa phương thuộc đơn vị bầu cử, Bộ trưởng mong muốn được tiếp tục tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của cử tri , từ đó kịp thời phản ánh đến các cơ quan có thẩm quyền của Trung ương, địa phương; tiếp tục nghiên cứu những thế mạnh, ưu tiên của khu vực đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh Kiên Giang nói riêng, từ đó tham mưu những quyết sách đúng đắn đối với từng khu vực, trong đó có tỉnh Kiên Giang.

Ông Đỗ Đức Hiển - Vụ trưởng Vụ Pháp luật hình sự hành chính, Bộ Tư pháp, trúng cử tại TP. Hồ Chí Minh:

Lần đầu tham gia nhiệm kỳ Quốc hội, ông Đỗ Đức Hiển cho biết, bản thân ông nhận thức được rằng, là đại biểu Quốc hội trên địa bàn thành phố HCM là cơ hội để được gắn bó với thành phố mang tên Bác, do đó ông tiếp tục trau dồi bản lĩnh chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nỗ lực tận tâm hết mình để có những đóng góp cho đất nước, cho TP.HCM, xây dựng và phát triển thành phố với mục tiêu đến năm 2025 là đô thị thông minh, thành phố dịch vụ công nghiệp theo hướng hiện đại, đi đầu trong đổi mới sáng tạo, có chất lượng sống tốt, văn minh, hiện đại và nghĩa tình.

Để làm tốt nhiệm vụ cư tri gửi gắm, tín nhiệm, với vai trò ĐBQH ông sẽ tham mưu cho Quốc hội xây dựng và ban hành kịp thời các đạo luật bảo đảm khả thi, phù hợp với thực tế, với mong muốn của cử tri và ổn định hơn, ít phải sửa đổi, bổ sung. Việc này sẽ tạo cơ chế thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có tính đến đặc thù của các đô thị lớn như TP.HCM. Ông cũng chú trọng việc đề nghị TPHCM nâng cao kỷ luật, kỷ cương, thu hút sự tham gia của cử tri, doanh nghiệp vào quá trình xây dựng luật, đề cao vai trò phản biện xã hội.

Ông Đồng Ngọc Ba - Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp, trúng cử tại Bình Định:

Cục trưởng Đồng Ngọc Ba từng có 26 năm công tác trong lĩnh vực pháp luật, trong đó 13 năm công tác tại Bộ Tư pháp (gần 6 năm làm Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật). Trúng cử ĐBQH khóa mới, ông Ba cho biết sẽ nỗ lực trong việc làm cầu nối giữa địa phương và Quốc hội, Chính phủ, các ban, bộ, ngành ở Trung ương để tranh thủ sự ủng hộ, hỗ trợ của Trung ương, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho địa phương, thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, góp phần xây dựng Bình Định phát triển nhanh và bền vững; thành tỉnh phát triển thuộc nhóm dẫn đầu của khu vực miền Trung, vì mục tiêu cao nhất là làm cho đời sống cả về vật chất và tinh thần của bà con ngày càng tốt hơn.

Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật cam kết là ĐBQH ông sẽ luôn rèn luyện, phấn đấu, không ngừng học hỏi nâng cao trình độ, năng lực, kinh nghiệm công tác để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Ông Lã Thanh Tân - Giám đốc Sở Tư pháp TP Hải Phòng, trúng cử tại TP Hải Phòng:

Là Đại biểu QH khóa XIV và trúng cử Đại biểu QH khóa XV tại TP Hải Phòng, ông cam kết sẽ tích cực nghiên cứu, lắng nghe những ý kiến, quan điểm khác nhau, lựa chọn thông tin; từ kinh nghiệm công tác thực tiễn của mình để cân nhắc, đánh giá và tham gia ý kiến có chất lượng, phù hợp với thực tế, có dự kiến, dự báo sát hợp với tình hình đất nước và TP Hải Phòng vào các dự án luật được trình trong các kỳ họp của QH; quan tâm, lắng nghe, thấu hiểu nguyện vọng của Nhân dân trong quá trình xây dựng luật, góp phần đưa pháp luật hiện hữu trong cuộc sống, đáp ứng nhu cầu chính đáng, thiết thực của xã hội và Nhân dân.

Ông cũng sẽ nghiên cứu đề xuất QH tập trung giám sát có hiệu quả những lĩnh vực, vấn đề mà Nhân dân quan tâm để đảm bảo cho các chủ trương, chính sách hợp lòng dân đi vào cuộc sống, đảm bảo cho luật pháp được thực hiện nghiêm minh, quan tâm đến những vấn đề gắn bó mật thiết đến đời sống Nhân dân. Đồng thời, cùng Đoàn đại biểu QH TP Hải Phòng phối hợp chặt chẽ với các cơ quan có trách nhiệm của TP để báo cáo, thông tin với các cơ quan có trách nhiệm của QH trong việc xem xét, thẩm tra để trình cấp có thẩm quyền cho phép Hải Phòng thực hiện thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù, có tính đột phá, khả thi cao...

Bà Hồ Thị Kim Ngân - Giám đốc Sở Tư pháp Bắc Kạn, trúng cử tại Bắc Kạn:

Đã từng tham gia ĐBQH khóa XIV, tái cử khóa XV, bà Kim Ngân cho biết, với những kinh nghiệm được tích lũy sau một nhiệm kỳ là ĐBQH, bà sẽ không ngừng học tập nâng cao trình độ, năng lực; thường xuyên trau dồi kiến thức, rèn luyện bản thân nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người đại biểu nhân dân; là thành viên tích cực của đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Kạn góp phần vào mỗi quyết sách của Quốc hội đều đảm bảo tính khả thi, phù hợp thực tiễn.

Trong hoạt động xây dựng pháp luật, bà sẽ tập trung nghiên cứu đề xuất sửa đổi, bổ sung những văn bản luật còn mâu thuẫn chồng chéo, không phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn nhằm tạo dựng môi trường pháp luật hoàn chỉnh hướng tới bảo vệ quyền công dân, quyền con người, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức trong xã hội; sẽ kiến nghị với Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan liên quan xem xét, cân nhắc trong quyết định các chính sách về các vấn đề quan trọng của đất nước; đề nghị Quốc hội tập trung thực hiện giám sát việc xây dựng, hoàn thiện và tổ chức triển khai các chính sách an sinh xã hội, đặc biệt đề xuất những chính sách phục vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Bắc Kạn nói chung.

Bà Phạm Thị Minh Huệ - Phó Giám đốc Sở Tư pháp Sóc Trăng, trúng cử tại Sóc Trăng:

Là người gắn bó nhiều năm với công tác tư pháp, đặc biệt lĩnh vực tuyên truyền phổ biến pháp luật, bà Huệ cho biết sẽ nỗ lực để thực hiện tốt vai trò là cầu nối giữa cử tri với Quốc hội, phổ biến và vận động nhân dân thực hiện Hiến pháp và pháp luật.

Với kinh nghiệm và thực tiễn công tác trong ngành Tư pháp, trong thời gian tới, bà tích cực tham gia công tác xây dựng pháp luật của Quốc hội, đặc biệt là pháp luật bảo vệ quyền con người, quyền công dân... Đặc biệt, sẽ đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật bằng nhiều hình thức, đưa pháp luật thật sự đi vào đời sống nhân dân, góp phần nâng cao hơn nữa trình độ dân trí, ý thức sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật cho mọi người dân. Tiếp tục tham mưu phát triển đội ngũ luật sư bảo đảm về chất lượng, vững vàng về bản lĩnh chính trị, trong sáng về đạo đức nghề nghiệp nhằm góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và nhu cầu của xã hội.

Bà Đỗ Thị Việt Hà - Giám đốc Sở Tư pháp Bắc Giang, trúng cử tại Bắc Giang:

Trên cương vị người đứng đầu ngành Tư pháp ở địa phương, trong nhiệm kỳ Quốc hội XV, Giám đốc Sở Tư pháp Bắc Giang cho biết sẽ không ngừng nỗ lực thực hiện tốt trách nhiệm của người ĐBQH với cử tri; luôn hành động vì quyền, lợi ích chính đáng của cử tri, Nhân dân; luôn lắng nghe, liên hệ mật thiết với cử tri để có những đề xuất, kiến nghị các giải pháp hữu hiệu cho địa phương, giải quyết kịp thời những nguyện vọng chính đáng của Nhân dân.

Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của ngành Tư pháp, bà Hà sẽ tiếp tục tích cực đồng hành cùng cấp ủy, chính quyền và Nhân dân đề ra những giải pháp để đưa công tác tư pháp của địa phương có sự chuyển biến mạnh mẽ, đạt được chất lượng, hiệu quả tốt hơn; đẩy mạnh công tác tuyên truyền PBGDPL để trang bị, nâng cao hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân; thực hiện có hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở để góp phần hạn chế đơn thư, khiếu kiện, tranh chấp; thực hiện công tác đăng ký, quản lý hộ tịch, chứng thực nhanh gọn, chính xác, linh hoạt để tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho người dân. Là đại biểu nữ nên Giám đốc Sở Tư pháp Bắc Giang sẽ tập trung nhiều hơn nữa vào việc thực hiện các hoạt động trợ giúp pháp lý cho phụ nữ, trẻ em, người yếu thế theo quy định để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của mọi người.

Ông Bùi Sỹ Hoàn - Giám đốc Sở Tư pháp Hải Dương, trúng cử tại Hải Dương:

Trao đổi với PV Báo PLVN ngay sau khi danh sách ĐBQH được công bố, Giám đốc Bùi Sỹ Hoàn cho biết, được bầu làm ĐBQH khóa XV là một niềm vinh dự lớn. Để hoàn thành tốt nhiệm vụ trong nhiệm kỳ mới, ông Hoàn sẽ gắn bó chặt chẽ, thường xuyên với cử tri để phản ánh trung thực, kịp thời với Quốc hội, giúp Quốc hội ban hành những chủ trương, quyết sách sát hợp với tình hình kinh tế - xã hội, góp phần xây dựng tỉnh Hải Dương phát triển bền vững.

Bên cạnh đó, theo Giám đốc Hoàn, ông sẽ tích cực tham gia xây dựng và giám sát thi hành pháp luật, đề xuất tập trung sửa đổi, xây dựng mới các đạo luật có liên quan chặt chẽ đến đời sống của nhân dân bảo đảm minh bạch, toàn diện, dễ tiếp cận, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp trong sinh sống, phát triển sản xuất, kinh doanh. Cùng với đó, sẽ tích cực đề nghị Quốc hội tập trung giám sát có hiệu quả việc thi hành pháp luật ở những lĩnh vực mà nhân dân quan tâm như nước sạch nông thôn, an toàn thực phẩm; hàng giả, hàng nhái; rác thải sinh hoạt, ô nhiễm môi trường; việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; việc phòng chống tham nhũng; giám sát thực hiện pháp luật về đất đai để bảo đảm quyền lợi cho người có đất bị thu hồi…

Ông Phạm Đình Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Kon Tum, trúng cử tại tỉnh Kon Tum:

Được trúng cử ĐBQH khóa XV, ông sẽ tích cực tham gia thảo luận, hiến kế trong quá trình QH bàn và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, nhất là về đảm bảo quốc phòng, an ninh; về phát triển kinh tế xã hội; về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp.

Với vai trò cá nhân là một Tỉnh ủy viên - Thành viên UBND tỉnh, ông sẽ cùng Đoàn ĐBQH tỉnh nghiên cứu sâu để đề xuất, hiến kế với QH, với Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh về những vấn đề liên quan mật thiết đến địa phương tỉnh Kon Tum, như: Việc thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo; bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa tốt đẹp của đồng bào dân tộc thiểu số; Thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, công tác giảm nghèo bền vững, nâng cao thu nhập, nâng cao mức sống của người dân, nâng cao sự hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật của người dân, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số; Việc bàn và quyết định về các chủ trương, giải pháp cụ thể để phát huy tiềm năng, lợi thế của địa phương (tỉnh Kon Tum) như bảo vệ, phát triển rừng, phát triển dược liệu, phát triển nông nghiệp công nghệ cao, gắn với công nghiệp chế biến; Nâng cao chất lượng xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương… để góp phần cùng với các cấp, các ngành thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp và các mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội XVI Đảng bộ tỉnh đã đề ra.

Ông Bùi Mạnh Khoa - Cục trưởng Cục THADS Thanh Hóa, trúng cử tại Thanh Hóa:

Được tín nhiệm bầu là ĐBQH, ông Khoa cho biết sẽ tham gia tích cực vào hoạt động lập pháp của Quốc hội với trọng tâm là tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao chất lượng và tính khả thi của các đạo luật; nghiên cứu, kiến nghị với Quốc hội sửa đổi kịp thời các quy định của pháp luật hiện hành không còn phù hợp, đặc biệt là sửa đổi Luật đất đai, ưu tiên ban hành các luật để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo bền vững; gắn công tác xây dựng pháp luật với việc tổ chức triển khai thi hành, nhằm tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, sẽ tham gia cùng Quốc hội quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước; thực hiện nghiêm túc chức năng giám sát của ĐBQH đối với công tác chấp hành pháp luật, nhất là về các vấn đề bức xúc mà cử tri và Nhân dân quan tâm.

Ông Khoa cho biết, sẽ cùng Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa là cầu nối giữa địa phương với Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ban, ngành ở trung ương trong việc trao đổi, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc của địa phương nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đề ra. Đặc biệt trong công tác chuyên môn sẽ cùng tập thể lãnh đạo Cục chỉ đạo các cơ quan Thi hành án dân sự trong tỉnh bám sát chương trình, kế hoạch công tác hàng năm của Bộ Tư pháp, Tổng cục Thi hành án dân sự; Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh hoàn thành tốt các chỉ tiêu nhiệm vụ về công tác thi hành án dân sự, theo dõi thi hành án hành chính.

Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh - Phó Giám đốc Sở Tư pháp TP HCM, trúng cử tại TP. Hồ Chí Minh:

Được cử tri tín nhiệm lựa chọn làm đại biểu Quốc hội, bà Hạnh cam kết luôn tìm hiểu, lắng nghe tâm tư nguyện vọng của cử tri, nhất là những vấn đề liên quan đến thể chế gắn với quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, những vấn đề bức xúc đang là điểm nghẽn của TP hiện nay về ô nhiễm môi trường, hạ tầng giao thông, an toàn thực phẩm,... phản ánh kịp thời, trung thực đến QH và các cơ quan chức năng, đồng thời tích cực giám sát các cơ quan trong việc thực hiện các kiến nghị này.

Với kinh nghiệm và hiểu biết trong xây dựng thể chế, chủ động nghiên cứu và nắm bắt thực tiễn tại TP HCM, bà sẽ tích cực đóng góp ý kiến tham gia xây dựng chính sách, pháp luật; góp phần tạo cơ chế, hành lang pháp lý cho sự phát triển chung của đất nước và cơ chế đặc thù cho sự phát triển TP HCM; đề xuất các giải pháp góp phần đổi mới và nâng cao chất lượng ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày càng minh bạch, khả thi, hiệu quả.

Là đại biểu nữ, bà cũng sẽ luôn quan tâm việc xây dựng thể chế để tạo điều kiện cho phụ nữ có cơ hội và điều kiện học tập, lao động một cách bình đẳng thực chất; tham gia tích cực các họat động, chương trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ, trẻ em.

Bà Phan Thị Mỹ Dung - Giám đốc Sở Tư pháp Long An, trúng cử tại Long An:

Là đại biểu QH khóa XIV, nay được cử tri tín nhiệm bầu làm đại biểu QH khóa XV, bà Mỹ Dung sẽ quyết tâm thực hiện tốt vai trò là "chiếc cầu nối" giữa Nhân dân với QH; thường xuyên sâu sát cơ sở để gặp gỡ, chân thành lắng nghe dân nói để hiểu tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân, những khó khăn vướng mắc trong thực thi pháp luật của Nhân dân, từ đó tham gia đề xuất cấp thẩm quyền kịp thời giải quyết. Với kinh nghiệm và thực tiễn của 23 năm công tác trong ngành Tư pháp, bà sẽ thuận lợi hơn trong việc trực tiếp tham gia xây dựng văn bản pháp quy của QH, góp phần đạt được mục đích là các chính sách, quy định của luật phải điều chỉnh kịp thời, hiệu quả cho phát triển kinh tế xã hội; mà còn phải khả thi, sát với thực tiễn, thực sự đi vào đời sống, mang lại ấm no hạnh phúc cho Nhân dân.

Bà còn cam kết sẽ quan tâm đóng góp tích cực vào việc xây dựng chính sách, pháp luật về đầu tư, quản lý đầu tư, tạo hành lang pháp lý an toàn cho nhà đầu tư với những quy định ổn định, bền vững, tạo môi trường đầu tư thông thoáng, thuận lợi cho nhà đầu tư, góp phần định hướng phát triển các huyện trọng điểm của tỉnh Long An thành huyện công nghiệp trong thời gian tới.

Ông Nguyễn Hữu Thông – Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận, trúng cử tại Bình Thuận:

Được cử tri tín nhiệm bầu làm đại biểu QH, Giám đốc Nguyễn Hữu Thông cho biết sẽ giữ vững chế độ tiếp xúc cử tri trước và sau mỗi kỳ họp của QH; sẵn sàng gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri cả ngoài kỳ họp để lắng nghe, tiếp thu và phản ánh một cách đầy đủ, trung thực tâm tư, nguyện vọng của cử tri đến các cơ quan có thẩm quyền. Đồng thời, theo dõi, giám sát việc giải quyết của các cơ quan bảo đảm mọi ý kiến của cử tri phải được tôn trọng và giải quyết có lý, có tình, đúng theo quy định của pháp luật.

Với vai trò Giám đốc Sở Tư pháp, ông sẽ nghiên cứu sâu, tích cực trong tham gia quá trình xây dựng pháp luật, nhất là tập trung sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế là những quy định pháp luật còn bất cập trong thực tiễn, tham gia giám sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước theo chức năng của QH đã được luật định. Bên cạnh đó, ông sẽ kết hợp nghiên cứu, kiến nghị với QH, Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương và các cấp có thẩm quyền những vấn đề có liên quan trực tiếp đến sự phát triển của tỉnh, đặc biệt là chính sách cụ thể để tháo gỡ những khó khăn trong thực tế để thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển. Đồng thời, kiến nghị quan tâm đúng mức đến thủy lợi, giao thông, nông nghiệp công nghệ cao, khai thác có hiệu quả kinh tế biển gắn với phát triển công nghiệp, trước hết là công nghiệp chế biến và các loại hình dịch vụ - du lịch, vấn đề biến đổi khí hậu và nước biển dâng…

Ông Lê Văn Thìn – Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên, trúng cử tại Phú Yên:

Được cử tri tín nhiệm bầu làm ĐBQH khóa XV, người đứng đầu ngành Tư pháp Phú Yên nguyện sẽ tập trung nghiên cứu, nắm chắc diễn biến xã hội và đời sống của nhân dân để đề xuất với QH tăng cường nâng cao chất lượng và đổi mới quy trình xây dựng pháp luật; sửa đổi, bổ sung những luật còn thiếu, chưa đồng bộ, không còn phù hợp nhằm tạo dựng môi trường pháp luật hoàn chỉnh và hành lang pháp lý thông thoáng. Đồng thời kiến nghị với QH, Chính phủ và các cơ quan hữu quan xem xét thận trọng, có chính sách và biện pháp hợp lý, kiên quyết giữ vững chủ quyền quốc gia, biển đảo, bảo đảm việc quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực kinh tế, tài nguyên của đất nước…

Ông cũng sẽ nghiên cứu, đề xuất với QH, Đoàn đại biểu QH của tỉnh về chương trình giám sát của QH và của Đoàn đại biểu QH tỉnh. Trong đó, tập trung giám sát việc thực hiện những chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước hiện nay mà Nhân dân đang quan tâm như cải cách hành chính, chống quan liêu, nhũng nhiễu trong thi hành công vụ, chương trình xây dựng nông thôn mới, các chính sách lớn về y tế, văn hóa, giáo dục, việc làm, phòng chống oan sai trong hoạt động tư pháp, đấu tranh phòng chống tội phạm, phòng chống tham nhũng lãng phí.

Ông Nguyễn Văn Quân – Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Hậu Giang, trúng cử tại Hậu Giang:

Được cử tri tín nhiệm bầu làm đại biểu QH khóa XV, ông sẽ tiếp tục phấn đấu góp sức thực hiện công cuộc đổi mới của đất nước, của tỉnh nhà, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, gương mẫu trong công tác, sinh hoạt. Thường xuyên tiếp xúc, lắng nghe, tiếp thu ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, của cử tri để phản ánh đầy đủ, trung thực với QH, thực hiện tốt vai trò cầu nối giữa cử tri với QH. Ông nguyện sẽ luôn giữ mối liên hệ chặt chẽ, mật thiết với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri nhằm thu thập và phản ánh trung thực những tâm tư, nguyện vọng, tình cảm của cử tri với Đảng, QH, Chính phủ và các cơ quan có trách nhiệm của Trung ương; cương quyết bảo vệ quyền lợi chính đáng và hợp pháp của người dân.

Với cương vị Giám đốc Sở Tư pháp, Giám đốc Sở Tư pháp Hậu Giang cho biết sẽ giải quyết các thủ tục liên quan đến ngành một cách công khai, minh bạch, hiệu quả, đảm bảo thời gian cho các tổ chức, cá nhân. Với trách nhiệm được giao, những kiến thức, kỹ năng đã được đào tạo và những kinh nghiệm tích lũy được trong quá trình công tác, ông sẽ có điều kiện thuận lợi hơn để làm tốt nhiệm vụ của Giám đốc Sở Tư pháp cũng như nhiệm vụ của người đại biểu QH.

Ông Trịnh Minh Bình, Trưởng Phòng Hành chính và Bổ trợ tư pháp, Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long, trúng cử tại tỉnh Vĩnh Long:

Được trúng cử ĐBQH, ông sẽ tích cực làm việc, cống hiến hết khả năng của mình trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao, xem đây là trách nhiệm của một công chức nhà nước, nghĩa vụ của một công dân phục vụ cho quê hương, đất nước mình.

Ngoài thực hiện nhiệm vụ chung của một ĐBQH theo quy định, ông hứa sẽ dùng trí lực, thể lực của bản thân để tập trung thực hiện một số nội dung như thường xuyên theo dõi, giám sát việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các Nghị quyết của QH kết hợp với việc tìm hiểu, nắm bắt thực tế địa phương, từ đó kiến nghị, đề xuất với QH, Chính phủ những vấn đề còn chồng chéo, mâu thuẫn, gây bức xúc trong dư luận nhân dân. Ở cương vị Trưởng phòng, ông sẽ tham mưu cho Ban Giám đốc Sở thực hiện hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao trong lĩnh vực quản lý của Phòng như hộ tịch, chứng thực, nuôi con nuôi, lý lịch tư pháp…

Ông cam kết học tập kinh nghiệm của các ĐBQH khóa trước, tích cực nghiên cứu, tham gia thảo luận các vấn đề quan trọng của đất nước, các chính sách liên quan đến đầu tư, chính sách người có công, chính sách dân tộc – tôn giáo. Ông tâm niệm, ĐBQH là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của cử tri, nhân dân nên sẽ không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh./.

(Nguồn: https://baophapluat.vn)

FalseHuỳnh Hữu Tốt
Bỏ yêu cầu về chứng chỉ ngoại ngữ, tin học đối với công chức ngành hành chính và văn thư kể từ ngày 01/8/2021Thông tin; Văn bản nghiệp vụ; Văn bản QPPLTinBỏ yêu cầu về chứng chỉ ngoại ngữ, tin học đối với công chức ngành hành chính và văn thư kể từ ngày 01/8/2021/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/15/2021 3:00 PMNoĐã ban hành

​Ngày 11/6/2021, Bộ trưởng Bộ Nội vụ vừa ban hành Thông tư số 02/2021/TT-BNV quy định mã số, tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ và xếp lương đối với các ngạch công chức chuyên ngành hành chính và công chức chuyên ngành văn thư. Theo đó, kể từ ngày 01/8/2021 không còn quy định yêu cầu về chứng chỉ ngoại ngữ, tin học trong tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức hành chính, văn thư.

Cụ thể yêu cầu về trình độ đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức hành chính ngạch chuyên viên cao cấp là:

- Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên với ngành hoặc chuyên ngành đào tạo phù hợp với ngành, lĩnh vực công tác;

- Có bằng tốt nghiệp cao cấp lý luận chính trị hoặc bằng cao cấp lý luận chính trị - hành chính hoặc có giấy xác nhận trình độ lý luận chính trị tương đương cao cấp lý luận chính trị của cơ quan có thẩm quyền;

- Có chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước theo tiêu chuẩn ngạch chuyên viên cao cấp hoặc có bằng cao cấp lý luận chính trị - hành chính.

Yêu cầu về trình độ đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức hành chính ngạch chuyên viên chính là:

- Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên với ngành hoặc chuyên ngành đào tạo phù hợp với ngành, lĩnh vực công tác;

- Có chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước theo tiêu chuẩn ngạch chuyên viên chính hoặc có bằng cao cấp lý luận chính trị - hành chính.

Yêu cầu về trình độ đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức hành chính ngạch chuyên viên là:

 - Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên với ngành hoặc chuyên ngành đào tạo phù hợp với ngành, lĩnh vực công tác;

- Có chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước theo tiêu chuẩn ngạch chuyên viên.

Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 8 năm 2021 và bãi bỏ toàn bộ các văn bản quy phạm pháp luật sau:

- Thông tư số 11/2014/TT-BNV ngày 09 tháng 10 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định chức danh, mã số ngạch và tiêu chuẩn nghiệp vụ chuyên môn các ngạch công chức chuyên ngành hành chính;

- Thông tư số 14/2014/TT-BNV ngày 31 tháng 10 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định chức danh, mã số ngạch, chức trách, nhiệm vụ và tiêu chuẩn nghiệp vụ chuyên môn các ngạch công chức chuyên ngành văn thư;

- Thông tư số 10/2019/TT-BNV ngày 02 tháng 8 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ hướng dẫn việc xếp lương đối với các ngạch công chức chuyên ngành văn thư.

- Bãi bỏ Điều 1 Thông tư số 05/2017/TT-BNV ngày 15 tháng 8 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2014/TT-BNV ngày 09 tháng 10 năm 2014 và Thông tư số 13/2010/TT-BNV ngày 30 tháng 12 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về tiêu chuẩn nghiệp vụ chuyên môn, bổ nhiệm ngạch và xếp lương đối với các ngạch công chức chuyên ngành hành chính và việc tổ chức thi nâng ngạch công chức./.

Thông tư số 02 2021 TT-BNV.pdf

​ 

FalseHuỳnh Hữu Tốt
Tình hình triển khai thực hiện Nghị định số 113/2014/NĐ-CP  ngày 26/11/2014 của Chính phủ về quản lý hợp tác quốc tế về pháp luậtThông tinTinTình hình triển khai thực hiện Nghị định số 113/2014/NĐ-CP  ngày 26/11/2014 của Chính phủ về quản lý hợp tác quốc tế về pháp luật/CMSImageNew/2021-06/57d2981aa1bb4340aacf1c4dc99dabae-0001_Key_25062021082718.jpg
6/15/2021 9:00 AMNoĐã ban hành

     Ngày 22/6/2021, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Báo cáo số 141/BC-UBND báo cáo tình hình triển khai thực hiện Nghị định số 113/2014/NĐ-CP ngày 26/11/2014 của Chính phủ về quản lý hợp tác quốc tế về pháp luật. Theo đó, kết quả đạt được, cụ thể:

     Thực hiện "Nghị định số 113/2014/NĐ-CP ngày 26/11/2014 của Chính phủ về quản lý hợp tác quốc tế về pháp luật; Thông tư 07/2015/TT-BTP ngày 15/6/2015 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết và biện pháp thi hành một số quy định của Nghị định 113/2014/NĐ-CP về quản lý hợp tác quốc tế về pháp luật;  Chỉ thị số 02/CT-BTP ngày ngày 08/4/2016 về việc tăng cường công tác quản lý hoạt động hợp tác quốc tế về pháp luật của ngành tư pháp,…". Theo đó, hằng năm, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương đã chỉ đạo Sở Tư pháp triển khai đồng bộ, toàn diện, bám sát chương trình, kế hoạch công tác, chỉ đạo của ngành (Bộ Tư pháp) và kịp thời ban hành các văn bản chỉ đạo, điều hành, trong đó, nội dung quản lý hợp tác quốc tế về pháp luật luôn được ưu tiên, lồng ghép triển khai thực hiện. Ngoài ra, việc triển khai thực hiện hợp tác quốc tế theo "Chỉ thị số 39-CT/TW ngày 09/12/2009 của Ban Bí thư (khóa X) về hợp tác với nước ngoài về pháp luật, cải cách hành chính, cải cách tư pháp; Kết luận số 73-KL/TW ngày 20/5/2020 của Ban Bí thư về việc tiếp tục triển khai thực hiện Chỉ thị số 39-CT/TW của Ban Bí thư (khóa X) về hợp tác với nước ngoài về pháp luật, cải cách hành chính, cải cách tư pháp" đã được triển khai thực hiện tại "Công văn số 3012-CV/TU ngày 14/7/2020 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc triển khai Kết luận số 73-KL/TW ngày 20/5/2020 của Ban Bí thư (Mật)" và tổ chức triển khai Kết luận số 73-KL/TW cũng được yêu cầu triển khai thực hiện trong "Chương trình số 11-CTr/TU ngày 31/12/2020 của Tỉnh ủy Bình Dương về thực hiện công tác cải cách tư pháp giai đoạn 2021-2025". Bên cạnh đó, chế độ báo cáo đều được Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện đầy đủ, đúng theo quy định tại Điều 16 Nghị định số 113/2014/NĐ-CP.

     Công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, cải cách hành chính, cải cách tư pháp luôn được cấp ủy, chính quyền tỉnh Bình Dương quan tâm thực hiện và đạt được nhiều kết quả tích cực, khá toàn diện; góp phần quan trọng vào ổn định và phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Tính từ ngày 26/11/2014 đến ngày 31/5/2021, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương không chủ trì thực hiện các chương trình, dự án hợp tác nước ngoài trong công tác xây dựng pháp luật; đào tạo, bồi dưỡng về pháp luật; tổ chức hội nghị, hội thảo, tọa đàm về pháp luật trong khuôn khổ chương trình, dự án hoặc viện trợ phi dự án hoặc trong cải cách hành chính và cải cách tư pháp. Việc hợp tác với nước ngoài về pháp luật chủ yếu trong các hoạt động thực thi pháp luật hoặc để thực hiện chức năng quản lý nhà nước của các cơ quan, đơn vị ở địa phương dưới hình thức triển khai những quy định có liên quan đến hợp tác, hội nhập quốc tế,

     Trong thời gian qua, Bình Dương có thực hiện nhiều chương trình, dự án hợp tác quốc tế nhưng chủ yếu tập trung ở các lĩnh vực kinh tế - thương mại, khoa học - kỹ thuật, văn hóa, xã hội; ở địa phương chưa thực hiện các chương trình, dự án hợp tác quốc tế trong công tác xây dựng pháp luật; đào tạo, bồi dưỡng về pháp luật; tổ chức hội nghị, hội thảo, tọa đàm về pháp luật trong khuôn khổ chương trình, dự án hoặc viện trợ phi dự án hoặc trong công tác cải cách hành chính, cải cách tư pháp. Đối với các lĩnh vực này, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các đơn vị, địa phương thực hiện đúng chủ trương, chính sách của Đảng và chỉ đạo của Bộ, Ngành cấp trên. Các ngành, các cấp trên địa bàn tỉnh cũng đã triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp để nâng cao hơn nữa trong việc quản lý, hợp tác quốc tế về pháp luật.

     Trên cơ sở quy định của Nghị định số 113/2014/NĐ-CP, có thể thấy đây là thể chế quan trọng cho hoạt động hợp tác quốc tế về pháp luật tạo nên sự thống nhất trong quản lý nhà nước đối với hoạt động hợp tác quốc tế về pháp luật trong phạm vi cả nước phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước hiện nay đối với các hoạt động hợp tác quốc tế về pháp luật, cải cách tư pháp theo Chỉ thị 39-CT/TW và Kết luận 73-KL/TW của Ban Bí thư. Hoạt động hợp tác quốc tế về pháp luật của địa phương đã cơ bản được triển khai thực hiện phù hợp với định hướng, chính sách, quy định của Đảng và Nhà nước về quản lý công tác đối ngoại và hợp tác với nước ngoài về pháp luật, phát huy nhiều kết quả đạt được từ các hoạt động hợp tác quốc tế về pháp luật trước đây, nhờ đó đã hỗ trợ hiệu quả cho việc thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của tỉnh đặc biệt là trong công tác xây dựng pháp luật; đào tạo, bồi dưỡng về pháp luật; tổ chức hội nghị, hội thảo, tọa đàm về pháp luật trong khuôn khổ chương trình, dự án hoặc viện trợ phi dự án, cải cách pháp luật, cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam./.

57d2981aa1bb4340aacf1c4dc99dabae-0001.jpg 

FalsePhòng XD&KTVB
Tình hình triển khai thực hiện Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định của pháp luật trong 06 tháng đầu năm 2021Thông tinTinTình hình triển khai thực hiện Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định của pháp luật trong 06 tháng đầu năm 2021/CMSImageNew/2021-06/3d2089cdb82f4bed97446a473acb4b19-0001_Key_25062021084352.jpg
6/15/2021 9:00 AMNoĐã ban hành

     Ngày 08/6/2021, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Báo cáo số 127/BC-UBND về tình hình triển khai thực hiện Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định của pháp luật trong 06 tháng đầu năm 2021, kết quả như sau:

     - Kết quả công tác lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Việc lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi bổ sung bằng Nghị định số 154/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020). Theo đó, hầu hết các Nghị quyết quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Quyết định quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh đều lập đề nghị xây dựng trước khi soạn thảo. Kết quả từ đầu năm đến nay, Sở Tư pháp đã phối hợp với Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh tham mưu Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh cho ý kiến đối với 09 đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (gồm 02 Nghị quyết của Hội đồng nhân dân và 07 Quyết định của Ủy ban nhân dân).

     - Kết quả công tác thẩm định đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Đối với các đề nghị xây dựng Nghị quyết quy định "biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương" (theo Khoản 4 Điều 27 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015) thì trước khi trình Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, cơ quan đề nghị xây dựng văn bản luôn tổng kết thực tiễn đã xảy ra trên địa bàn tỉnh, xây dựng và đánh giá tác động của từng chính sách, đánh giá thực trạng các vấn đề liên quan đến chính sách và gửi lấy ý kiến các đối tượng có liên quan, mà nhất là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của chính sách, đảm bảo được sự tham gia rộng rãi của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong đề nghị xây dựng văn bản, sau đó gửi Sở Tư pháp thẩm định đề nghị xây dựng Nghị quyết. Tính từ đầu năm 2021 đến nay, Ủy ban nhân dân tỉnh chưa tham mưu Hội đồng nhân dân tỉnh đề nghị xây dựng Nghị quyết có biện pháp tính chất đặc thù; do đó, không có văn bản thẩm định đề nghị xây dựng Nghị quyết.

     - Kết quả công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Trong 06 tháng đầu năm 2021, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành 06 văn bản quy phạm pháp luật (trong đó: 02 Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh; 04 Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh). Công tác xây dựng văn bản được thực hiện nghiêm túc, đảm bảo trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Các ý kiến góp ý đều được các sở, ngành tiếp thu; việc thẩm định Nghị quyết trước các kỳ họp Hội đồng nhân dân đảm bảo chất lượng, các văn bản được ban hành đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp.

     - Kết quả công tác thẩm định văn bản quy phạm pháp luật

Trong 06 tháng đầu năm 2021, Sở Tư pháp đã thực hiện 12 lượt thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật (giảm 11 văn bản so với cùng kỳ năm 2020), góp ý 24 dự thảo văn bản quy phạm pháp luật (giảm 06 văn bản so với cùng kỳ năm 2020) và 14 dự thảo văn bản cá biệt, đạt 100% văn bản gửi đến Sở Tư pháp.

Công tác thẩm định văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi bổ sung bằng Nghị định số 154/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020), các dự thảo văn bản trước khi trình Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành đều được Sở Tư pháp thẩm định; báo cáo thẩm định cơ bản đạt chất lượng, nhiều ý kiến của cơ quan thẩm định được đánh giá cao, góp phần ngăn chặn ngay từ đầu những vấn đề không khả thi hoặc có dấu hiệu trái pháp luật của văn bản. Các sở, ngành được giao chủ trì soạn thảo văn bản đều chủ động gửi dự thảo văn bản đến Sở Tư pháp để đề nghị thẩm định theo quy định của pháp luật. Công tác thẩm định tại Sở Tư pháp luôn đảm bảo kịp thời, rút ngắn thời gian, có chất lượng, trọng tâm đi vào nội dung chiều sâu, tăng tính phân tích, phản biện chặt chẽ.

     - Kết quả về lập danh mục, phân công soạn thảo văn bản quy định chi tiết và ban hành kế hoạch triển khai thi hành luật, pháp lệnh

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi bổ sung bằng Nghị định số 154/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020), Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo Sở Tư pháp có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh và các cơ quan, tổ chức có liên quan lập và trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh danh mục quyết định của Ủy ban nhân dân quy định chi tiết các Luật được Quốc hội khóa XIV thông qua tại kỳ họp thứ 10. Theo đó, ngày 23/12/2020, Sở Tư pháp có "Công văn số 2182/STP-XDKT về việc đề xuất, lập danh mục Nghị quyết của Hội đồng nhân dân và Quyết định của Ủy ban nhân dân quy định chi tiết các nội dung được Luật giao".

Trên cơ sở kết quả đề nghị của các sở, ngành tỉnh và ý kiến thống nhất của Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh, Sở Tư pháp đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành "Quyết định số 500/QĐ-UBND ngày 22/02/2021 Ban hành Danh mục Quyết định quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh quy định chi tiết các nội dung được giao trong các Luật được Quốc hội khóa XIV thông qua tại kỳ họp thứ 10". Theo đó, Ủy ban nhân dân tỉnh đã giao Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan nghiên cứu, xây dựng các văn bản quy định chi tiết của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020.

     - Kết quả về theo dõi, đôn đốc và kiểm tra tình hình xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết

Trên cơ sở Quyết định số 500/QĐ-UBND ngày 22/02/2021, Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo: "Sở Tư pháp có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, nhắc nhở các cơ quan, đơn vị triển khai thực hiện Quyết định này và thực hiện góp ý, thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật theo đúng quy định của pháp luật". Theo đó, Sở Tư pháp đã thực hiện đầy đủ việc theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, nhắc nhở các cơ quan, đơn vị triển khai thực hiện, qua đó, đã kịp thời phối hợp với các sở, ngành tỉnh tham mưu cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế các văn bản quy phạm pháp luật chưa phù hợp với quy định pháp luật hiện hành hoặc tình hình thực tiễn địa phương.

     - Kết quả về xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết

Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 500/QĐ-UBND ngày 22/02/2021 Ban hành Danh mục Quyết định quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh quy định chi tiết các nội dung được giao trong các Luật được Quốc hội khóa XIV thông qua tại kỳ họp thứ 10.

Hiện nay, đơn vị được phân công chủ trì soạn thảo đang tiến hành xây dựng dự thảo và tổ chức lấy ý kiến góp ý đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, dự kiến trình Ủy ban nhân dân tỉnh vào Quý IV năm 2021.

     - Kết quả về công tác rà soát, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật:

Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành "Quyết định số 545/QĐ-UBND ngày 26/02/2021 Kế hoạch kiểm tra, xử lý, rà soát văn bản quy phạm pháp luật năm 2021 trên địa bàn tỉnh Bình Dương". Trên cơ sở Kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh, các sở, ngành tỉnh và địa phương cũng ban hành kế hoạch triển khai thực hiện công tác kiểm tra, xử lý, rà soát và hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật năm 2021 tại cơ quan, địa phương mình. Trong 06 tháng đầu năm 2021, công tác rà soát, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật đạt kết quả, cụ thể:

     Thực hiện quy định tại Điều 157 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ; Khoản 34 Điều 1 Nghị định số 154/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Theo đó, Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo Sở Tư pháp tiến hành rà soát 525 văn bản quy phạm pháp luật (gồm: 140 Nghị quyết của Hội đồng nhân dân; 375 Quyết định của Ủy ban nhân dân; 10 Chỉ thị của Ủy ban nhân dân và Chủ tịch Ủy ban nhân dân) để rà soát văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực, ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh. Sau khi rà soát, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành "Quyết định số 277/QĐ-UBND ngày 27/01/2021 về việc công bố Danh mục văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực, ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương năm 2020", gồm: 47 văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực toàn bộ (15 Nghị quyết; 31 Quyết định, 01 Chỉ thị); 06 văn bản hết hiệu lực một phần (01 Nghị quyết; 05 Quyết định). Nhìn chung, công tác rà soát văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện thường xuyên, kịp thời và đúng theo quy định, qua đó kịp thời phát hiện văn bản hết hiệu lực thi hành hoặc không còn phù hợp với văn bản mới được ban hành.

     Thực hiện nhiệm vụ giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp về việc kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, Sở Tư pháp đã thực hiện nghiêm túc quy định về tự kiểm tra và kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền. Theo đó, Sở Tư pháp giúp Ủy ban nhân dân tỉnh tự kiểm tra 04/04 Quyết định do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành từ ngày 01/01 đến ngày 30/5/2021; kiểm tra theo thẩm quyền 00 văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành. Kết quả kiểm tra, không phát hiện văn bản có dấu hiệu trái pháp luật.

     Nhìn chung, việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh đã tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Các chủ trương chính sách của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh đã được thể chế hóa bằng Nghị quyết, Quyết định quy phạm pháp luật một cách kịp thời, đồng bộ với chính sách của các bộ, ngành Trung ương, phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương, đáp ứng yêu cầu quản lý, điều hành của chính quyền địa phương bằng pháp luật, tác động tích cực đến kết quả thực hiện các nhiệm vụ trong công tác; đảm bảo tính công khai, minh bạch trong xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Chất lượng ban hành các văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh được nâng lên rõ rệt, đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật, mang tính khả thi cao; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của tỉnh ban hành đã điều chỉnh cơ bản các mặt của đời sống chính trị, kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng của địa phương. Các văn bản ban hành được triển khai thực hiện thống nhất từ tỉnh đến cơ sở; đồng thời, có tác động rất lớn, tạo hành lang pháp lý trong việc bảo đảm hoạt động hiệu quả của bộ máy nhà nước, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của nhà nước và Nhân dân; tăng cường, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước ở địa phương./.

3d2089cdb82f4bed97446a473acb4b19-0001.jpg

FalseLê Thị Phương
Tỉnh đề xuất một số nội dung xây dựng Chiến lược pháp luật Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045Thông tinTinTỉnh đề xuất một số nội dung xây dựng Chiến lược pháp luật Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045/CMSImageNew/2021-06/433d6da17dd140fe8275b0400038e369-0001_Key_25062021085949.jpg
6/15/2021 9:00 AMNoĐã ban hành

Qua thực tiễn triển khai thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương đề xuất những nội dung xây dựng Chiến lược pháp luật Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trên cơ sở tiếp tục kế thừa và phát huy Nghị quyết số 48-NQ/TW, cụ thể như sau:

1. Đề xuất nội dung xây dựng Chiến lược pháp luật

- Tiếp tục hoàn thiện thể chế về tổ chức và hoạt động của Chính quyền địa phương. Trong đó, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện thể chế về tổ chức, bộ máy của các cơ quan tư pháp.

- Ưu tiên, hoàn thiện pháp luật ở các lĩnh vực trọng tâm: xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của các thiết chế trong hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Trong đó, chú trọng các vấn đề như: Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật; hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của các thiết chế trong hệ thống chính trị: Quốc hội, Chính phủ, Tòa án, Viện Kiểm sát, Mặt trận Tổ quốc, chính quyền địa phương...; hoàn thiện pháp luật về công chức, công vụ trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa…); xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân (Trong đó, chú trọng các vấn đề như: Hoàn thiện pháp luật về quyền dân sự, chính trị; pháp luật về quyền con người, quyền công dân trong các lĩnh vực: kinh tế, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo; pháp luật về quyền giám sát của cơ quan dân cử, của công dân và vấn đề bảo đảm sự tham gia của công dân vào quản lý nhà nước và xã hội…);  xây dựng và hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (Trong đó, chú trọng các vấn đề như: hoàn thiện pháp luật về quyền tự do kinh doanh; pháp luật về quyền sở hữu; pháp luật về doanh nghiệp; pháp luật về việc tạo lập đồng bộ cho các thị trường; pháp luật về hệ thống tài chính và thị trường chứng khoán ở nước ta hiện nay).

- Hoàn thiện pháp luật về quyền giám sát của các cơ quan dân cử, quyền trực tiếp giám sát, kiểm tra của nhân dân đối với các hoạt động của cơ quan nhà nước, của cán bộ, công chức; mở rộng các hình thức dân chủ trực tiếp để người dân tham gia vào công việc của Nhà nước.

- Quy định các chế độ chính sách đãi ngộ hợp lý cho đội ngũ làm công tác pháp luật nhằm động viên khuyến khích, duy trì và phát triển đội ngũ cán bộ có năng lực làm công tác pháp luật.

- Hoàn thiện thiết chế về theo dõi tình hình thi hành pháp luật, đặc biệt là về nội dung xử lý kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật, đảm bảo việc theo dõi tình hình thi hành pháp luật phát huy được hiệu lực, hiệu quả.

- Nghiên cứu, bổ sung quy định cụ thể về hoạt động giám sát của Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân nhằm tạo điều kiện Tổ đại biểu thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo luật định, trong đó có hoạt động giám sát việc thi hành pháp luật.

2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả xây dựng pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật

- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự phối hợp của các cơ quan, tổ chức, đoàn thể trong công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, đào tạo bồi dưỡng lực lượng nòng cốt làm công tác tuyên truyền; đổi mới và phát triển tuyên truyền pháp luật dưới nhiều hình thức đa dạng, phù hợp với từng điều kiện, hoàn cảnh và đối tượng, nhằm phát triển hoạt động phổ biến giáo dục pháp luật có hiệu quả, đưa pháp luật đến gần gũi người dân, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, công chức và trong nhân dân. Thực hiện tốt cơ chế giám sát của Mặt trận Tổ quốc và Nhân dân đối với các cơ quan pháp luật, cán bộ công chức và đại biểu dân cử trong việc chấp hành pháp luật tại địa phương.

-  Tăng cường công tác kiểm tra, rà soát các văn bản QPPL để kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới thay thế cho các văn bản QPPL hiện hành đang không còn phù hợp, không thống nhất, đồng bộ; Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực thi pháp luật, tăng cường hoạt động của hệ thống cơ quan thanh tra, hoạt động kiểm tra giám sát của toàn thể Nhân dân, qua đó, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật.

- Chú trọng công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực đảm bảo về số lượng và chất lượng, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có trình độ, năng lực; kiện toàn tổ chức và hoạt động của bộ máy các cơ quan nhà nước góp phần thực hiện tốt công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật.

- Có giải pháp kỹ thuật và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, khoa học - công nghệ trong thực hiện nhiệm vụ, việc đầu tư cần đảm bảo chất lượng, đồng bộ và có sự kết nối từ các cấp, các ngành.

Đó một nội dung trong Báo cáo số 124/BC-UBND ngày 07/6/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương về kết quả rà soát, đề xuất định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật./.​

433d6da17dd140fe8275b0400038e369-0001.jpg

FalseLê Thị Phương
Đã có Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ban Quản lý các Khu công nghiệp Bình DươngThông tin; Văn bản QPPLTinĐã có Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ban Quản lý các Khu công nghiệp Bình Dương/CMSImageNew/2021-08/e3f91c26ff034214b5800967708a65e0-0001_Key_17082021075121.jpg
6/15/2021 8:00 AMNoĐã ban hành

​        Trên cơ sở căn cứ "Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế"; "Thông tư số 12/2020/TT-BKHĐT ngày 28 tháng 12 năm 2020 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn chức năng nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ban Quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế". Đồng thời, thực hiện "Quyết định số 692/QĐ-TTG ngày 22 tháng 5 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ về sáp nhập Ban Quản lý các Khu công nghiệp Việt Nam - Singapore vào Ban Quản lý các Khu công nghiệp Bình Dương"; "Nghị quyết số 18-NQ-TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Ban Chấp Trung ương Khóa XII một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả"; "Kế hoạch số 43-KH/TU ngày 12 tháng 02 năm 2018 của Tỉnh ủy Bình Dương thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Ban Chấp Trung ương Khóa XII một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả"; "Quyết định số 711-QĐ/TU ngày 11 tháng 5 năm 2018 của Tỉnh ủy Bình Dương phê duyệt Đề án sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tỉnh Bình Dương tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương, Khóa XII"; "Quyết định số 924/QĐ-TU ngày 28 tháng 12 năm 2018 của Tỉnh ủy Bình Dương phê duyệt Đề án sắp xếp tổ chức bộ máy của Ban Quan lý các khu công nghiệp Bình Dương tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương (Khóa XII)"; ngày 04 tháng 6 năm 2021, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định 07/2021/QĐ-UBND Ban hành Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ban Quản lý các Khu công nghiệp Bình Dương.

        Quyết định này có hiệu lực thi hành, kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2021 và thay thế "Quyết định số 17/2016/QĐ-UBND ngày 29 tháng 6 năm 2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ban Quản lý các Khu công nghiệp Bình Dương"; bãi bỏ "Quyết định số 46/2016/QĐ-UBND ngày 19 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ban Quản lý Khu công nghiệp Việt Nam – Singapore"./.

VanBanGoc_07-2021-QD.signed.pdf

e3f91c26ff034214b5800967708a65e0-0001.jpg 

e3f91c26ff034214b5800967708a65e0-0002.jpg

FalseLê Thị Phương
Văn bản quy định chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị - nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tỉnh Bình DươngThông tinTinVăn bản quy định chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị - nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tỉnh Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/1/2021 3:00 PMNoĐã ban hành

      ​Ngày 16/5/2021, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương đã ban hành Quyết định số 05/2021/QĐ-UBND bãi bỏ Quyết định số 04/2016/QĐ-UBND ngày 17/02/2016 của UBND tỉnh ban hành Quy định về chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị - nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tỉnh Bình Dương giai đoạn 2016 – 2020.

05.2021.PNG

      Việc bãi bỏ văn bản nêu trên là cần thiết nhằm đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của địa phương vì kể từ ngày 01/01/2021, chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn tỉnh Bình Dương được thực hiện theo Nghị quyết số 09/2020/NQ-HĐND ngày 10 tháng 12 năm 2020 của Hội đồng nhân dân tỉnh./.

FalseTrần Thị Kim Yến
Đính chính Nghị quyết số 10/2020/NQ-HĐND ngày 10/12/2020  của Hội đồng nhân dân tỉnhThông tin; Chương trình, kế hoạch công tác; Văn bản nghiệp vụ; Văn bản QPPLTinĐính chính Nghị quyết số 10/2020/NQ-HĐND ngày 10/12/2020  của Hội đồng nhân dân tỉnh/CMSImageNew/2021-05/CV 80 1_Key_24052021090741.jpg
5/24/2021 10:00 AMNoĐã ban hành

      Ngày 10/12/2020, Hội đồng nhân dân tỉnh khóa IX, nhiệm kỳ 2016 - 2021, kỳ họp thứ 17 thông qua Nghị quyết số 10/2020/NQ-HĐND về Quy định chính sách hỗ trợ xây dựng nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu trên địa bàn tỉnh Bình Dương giai đoạn 2021-2025. Tuy nhiên, do sơ suất trong kỹ thuật soạn thảo văn bản, Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh đã ban hành Công văn số 80/HĐND-KTNS ngày 14/5/2021 về việc đính chính Nghị quyết số 10/2020/NQ-HĐND ngày 10/12/2020 của HĐND tỉnh, cụ thể:

      1. Điều chỉnh, thay thế cụm từ "khoản 3" thành cụm từ "khoản 2" tại khoản 3 Điều 1 của Nghị quyết số 10/2020/NQ-HĐND, như sau:

 " a) Ngân sách cấp tỉnh hỗ trợ kinh phí các nội dung tại điểm a, b, c, d khoản 2 Điều này.

b) Ngân sách huyện, thị xã, thành phố đảm bảo kinh phí theo phân cấp cho các nội dung tại điểm đ, e khoản 2 Điều này.".

      2. Điều chỉnh, thay thế cụm từ "khoản 3" thành cụm từ "khoản 2" tại khoản 4 Điều 1 của Nghị quyết số 10/2020/NQ-HĐND, như sau:

"Đối với trường hợp các huyện được Thủ tướng Chính phủ công nhận huyện đạt chuẩn nông thôn mới sau ngày 01 tháng 01 năm 2021 thì được hưởng mức hỗ trợ bằng một phần hai mức hỗ trợ đối với huyện đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết này".

       Thường trực HĐND tỉnh thông báo đến các cơ quan, đơn vị, cá nhân liên quan biết, thực hiện. Văn bản đính chính này là một phần không tách rời của Nghị quyết số 10/2020/NQ-HĐND ngày 10/12/2020 của Hội đồng nhân dân tỉnh./.

CV 80 1.jpg 

CV 80 2.jpg

FalseLê Thị Phương
Nghị định số 52/2021/NĐ-CP quy định gia hạn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất trong năm 2021Thông tinNghị định số 52/2021/NĐ-CP quy định gia hạn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất trong năm 2021/CMSImageNew/2021-05/nđ 52_Key_05052021091600.PNG
5/5/2021 10:00 AMNoĐã ban hành

​Ngày 19 tháng 4 năm 2021, Chính phủ ban hành nghị định số 52/2021/NĐ-CP quy định gia hạn thời gian nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất trong năm 2021. Theo đó tại Điều 3 Nghị định số 52/2021/NĐ-CP quy định:

1. Đối với thuế giá trị gia tăng (trừ thuế giá trị gia tăng khâu nhập khẩu)

a) Gia hạn thời hạn nộp thuế đối với số thuế giá trị gia tăng phát sinh phải nộp (bao gồm cả số thuế phân bổ cho các địa phương cấp tỉnh khác nơi người nộp thuế có trụ sở chính, số thuế nộp theo từng lần phát sinh) của kỳ tính thuế từ tháng 3 đến tháng 8 năm 2021 (đối với trường hợp kê khai thuế giá trị gia tăng theo tháng) và kỳ tính thuế quý 1, quý 2 năm 2021 (đối với trường hợp kê khai thuế giá trị gia tăng theo quý) của các doanh nghiệp, tổ chức nêu tại Điều 2 Nghị định này. Thời gian gia hạn là 05 tháng đối với số thuế giá trị gia tăng từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2021 và quý 1, quý 2 năm 2021, thời gian gia hạn là 04 tháng đối với số thuế giá trị gia tăng của tháng 7 năm 2021, thời gian gia hạn là 03 tháng đối với số thuế giá trị gia tăng của tháng 8 năm 2021. Thời gian gia hạn tại điểm này được tính từ ngày kết thúc thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

Trường hợp người nộp thuế khai bổ sung hồ sơ khai thuế của kỳ tính thuế được gia hạn dẫn đến làm tăng số thuế giá trị gia tăng phải nộp và gửi đến cơ quan thuế trước khi hết thời hạn nộp thuế được gia hạn thì số thuế được gia hạn bao gồm cả số thuế phải nộp tăng thêm do khai bổ sung.

Các doanh nghiệp, tổ chức thuộc đối tượng được gia hạn thực hiện kê khai, nộp Tờ khai thuế giá trị gia tăng tháng, quý theo quy định của pháp luật hiện hành, nhưng chưa phải nộp số thuế giá trị gia tăng phải nộp phát sinh trên Tờ khai thuế giá trị gia tăng đã kê khai. Thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng của tháng, quý được gia hạn như sau:

- Thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng của kỳ tính thuế tháng 3 năm 2021 chậm nhất là ngày 20 tháng 9 năm 2021.

- Thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng của kỳ tính thuế tháng 4 năm 2021 chậm nhất là ngày 20 tháng 10 năm 2021.

- Thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng của kỳ tính thuế tháng 5 năm 2021 chậm nhất là ngày 20 tháng 11 năm 2021.

- Thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng của kỳ tính thuế tháng 6 năm 2021 chậm nhất là ngày 20 tháng 12 năm 2021.

- Thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng của kỳ tính thuế tháng 7 năm 2021 chậm nhất là ngày 20 tháng 12 năm 2021.

- Thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng của kỳ tính thuế tháng 8 năm 2021 chậm nhất là ngày 20 tháng 12 năm 2021.

- Thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng của kỳ tính thuế quý 1 năm 2021 chậm nhất là ngày 30 tháng 9 năm 2021.

- Thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng của kỳ tính thuế quý 2 năm 2021 chậm nhất là ngày 31 tháng 12 năm 2021.

b) Trường hợp doanh nghiệp, tổ chức nêu tại Điều 2 Nghị định này có các chi nhánh, đơn vị trực thuộc thực hiện khai thuế giá trị gia tăng riêng với cơ quan thuế quản lý trực tiếp của chi nhánh, đơn vị trực thuộc thì các chi nhánh, đơn vị trực thuộc cũng thuộc đối tượng được gia hạn nộp thuế giá trị gia tăng. Trường hợp chi nhánh, đơn vị trực thuộc của doanh nghiệp, tổ chức nêu tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 2 Nghị định này không có hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc ngành kinh tế, lĩnh vực được gia hạn thì chi nhánh, đơn vị trực thuộc không thuộc đối tượng được gia hạn nộp thuế giá trị gia tăng.

2. Đối với thuế thu nhập doanh nghiệp

a) Gia hạn thời hạn nộp thuế đối với số thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp của quý 1, quý 2 kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2021 của doanh nghiệp, tổ chức thuộc đối tượng được quy định tại Điều 2 Nghị định này. Thời gian gia hạn là 03 tháng, kể từ ngày kết thúc thời hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

b) Trường hợp doanh nghiệp, tổ chức nêu tại Điều 2 Nghị định này có các chi nhánh, đơn vị trực thuộc thực hiện khai thuế thu nhập doanh nghiệp riêng với cơ quan thuế quản lý trực tiếp của chi nhánh, đơn vị trực thuộc thì các chi nhánh, đơn vị trực thuộc cũng thuộc đối tượng được gia hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Trường hợp chi nhánh, đơn vị trực thuộc của doanh nghiệp, tổ chức nêu tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 2 Nghị định này không có hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc ngành kinh tế, lĩnh vực được gia hạn thì chi nhánh, đơn vị trực thuộc không thuộc đối tượng được gia hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp.

3. Đối với thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh

Gia hạn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân đối với số tiền thuế phát sinh phải nộp năm 2021 của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh hoạt động trong các ngành kinh tế, lĩnh vực nêu tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 2 Nghị định này. Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thực hiện nộp số tiền thuế được gia hạn tại khoản này chậm nhất là ngày 31 tháng 12 năm 2021.

4. Đối với tiền thuê đất

Gia hạn thời hạn nộp tiền thuê đất đối với số tiền thuê đất phải nộp kỳ đầu năm 2021 của doanh nghiệp, tổ chức, hộ kinh doanh, cá nhân thuộc đối tượng quy định tại Điều 2 Nghị định này đang được Nhà nước cho thuê đất trực tiếp theo Quyết định hoặc Hợp đồng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền dưới hình thức trả tiền thuê đất hàng năm. Thời gian gia hạn là 06 tháng kể từ ngày 31 tháng 5 năm 2021.

Quy định này áp dụng cho cả trường hợp doanh nghiệp, tổ chức, hộ kinh doanh, cá nhân có nhiều Quyết định, Hợp đồng thuê đất trực tiếp của nhà nước và có nhiều hoạt động sản xuất, kinh doanh khác nhau trong đó có ngành kinh tế, lĩnh vực quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 3 và khoản 5 Điều 2 Nghị định này.

5. Trường hợp doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh có hoạt động sản xuất, kinh doanh nhiều ngành kinh tế khác nhau trong đó có ngành kinh tế, lĩnh vực quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 3 và khoản 5 Điều 2 Nghị định này thì được gia hạn toàn bộ số thuế giá trị gia tăng, số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp theo hướng dẫn tại Nghị định này.

6. Trường hợp ngày cuối cùng của thời hạn nộp thuế được gia hạn trùng với ngày nghỉ theo quy định thì ngày cuối cùng của thời hạn được tính là ngày làm việc tiếp theo của ngày nghỉ đó. 

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký./.​


FalseĐào Thị Quyên
Bãi bỏ Quyết định số 22/2015/QĐ-UBND ngày 25 tháng 5 năm 2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc ban hành quy định, trình tự thực hiện việc xác định giá đất cụ thể trên địa bàn tỉnh Bình DươngThông tinBãi bỏ Quyết định số 22/2015/QĐ-UBND ngày 25 tháng 5 năm 2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc ban hành quy định, trình tự thực hiện việc xác định giá đất cụ thể trên địa bàn tỉnh Bình Dương/CMSImageNew/2021-06/qđ 04_Key_04062021085315.PNG
5/4/2021 9:00 AMNoĐã ban hành

​Ngày 29 tháng 4 năm 2021, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 04/2021/QĐ-UBND về việc bãi bỏ Quyết định số 22/2015/QĐ-UBND ngày 25 tháng 5 năm 2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc ban hành quy định, trình tự thực hiện việc xác định giá đất cụ thể trên địa bàn tỉnh Bình Dương. ​

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ​10 tháng 5 năm 2021./VanBanGoc_04-2021-QD.signed.pdf

FalseĐào Thị Quyên
Chỉ thị về nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật và tăng cường hiệu quả thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh Bình DươngThông tin; Tin ngành tư pháp; Văn bản nghiệp vụ; Văn bản QPPL; Chương trình, kế hoạch công tácTinChỉ thị về nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật và tăng cường hiệu quả thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh Bình Dương/CMSImageNew/2021-04/CT 1_Key_22042021083353.jpg
4/22/2021 9:00 AMYesĐã ban hành

       Thực hiện Chỉ thị số 43/CT-TTg ngày 11/12/2020 của Thủ tướng Chính phủ về nâng cao chất lượng công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tăng cường hiệu quả thi hành pháp luật; đồng thời, để nâng cao hơn nữa chất lượng công tác xây dựng, hoàn thiện và thi hành pháp luật tại địa phương, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, ngày 16/4/2021, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Chỉ thị số 06/CT-UBND về nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật và tăng cường hiệu quả thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh Bình Dương, trong đó yêu cầu:

       1. Thủ trưởng các sở, ban, ngành tỉnh; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp sau:

       a) Tiếp tục quán triệt, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác xây dựng và thi hành pháp luật; xác định xây dựng pháp luật là nhiệm vụ trọng tâm, ưu tiên hàng đầu trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành; gắn kết việc xây dựng với tăng cường hiệu quả thi hành pháp luật. Tăng cường trách nhiệm người đứng đầu, trực tiếp chỉ đạo công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của các sở, ngành, địa phương mình; nghiêm túc tổ chức rút kinh nghiệm, khắc phục những tồn tại, hạn chế thời gian qua của ngành, địa phương mình.

       b) Thực hiện nghiêm Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định số 154/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020).

Căn cứ chức năng, nhiệm vụ kịp thời tham mưu trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành hoặc trình Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định. Bám sát chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và yêu cầu thực tiễn để chủ động đề xuất các lĩnh vực cần ưu tiên trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật và thi hành pháp luật theo từng lĩnh vực cụ thể. Chú trọng việc sơ kết, tổng kết thi hành pháp luật, đánh giá tác động của chính sách để đề xuất việc hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định.

       c) Tăng cường hoạt động rà soát văn bản quy phạm pháp luật thuộc các lĩnh vực quản lý để đề xuất nội dung hoàn thiện pháp luật, kịp thời đề xuất xử lý những nội dung mâu thuẫn, chồng chéo, bất cập hoặc không phù hợp thực tiễn nhằm phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, bảo đảm an sinh xã hội, quyền con người, quyền công dân, hội nhập quốc tế, trong đó chú trọng rà soát, góp ý cho việc hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức, bộ máy theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

       d) Chú trọng phổ biến, tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và ý thức tự giác học tập, tìm hiểu pháp luật và tuân thủ pháp luật. Tiếp tục đổi mới đa dạng phương pháp cách thức tuyên truyền, tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, coi đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, là khâu đầu vào trong tổ chức thi hành pháp luật.

       đ) Tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật. Khắc phục triệt để tình trạng chậm trễ tiến độ tham mưu ban hành văn bản quy phạm pháp luật; hạn chế việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngoài chương trình. Khai thác, ứng dụng tốt công nghệ thông tin trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật, nhằm bảo đảm tiến độ, nâng cao chất lượng các văn bản quy phạm pháp luật và tăng cường hiệu quả thi hành pháp luật.

       Đẩy mạnh hoạt động theo dõi, đánh giá tình hình thi hành pháp luật của ngành, địa phương mình để kiến nghị các biện pháp xử lý phù hợp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác thi hành pháp luật. Nâng cao hơn nữa năng lực phản ứng chính sách trong quá trình tổ chức thi hành pháp luật, nhất là trong việc tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp. Chú trọng đối thoại với doanh nghiệp, người dân về vướng mắc, bất cập trong thực thi chính sách, pháp luật.

       e) Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc tổ chức thi hành pháp luật; phát hiện và xử lý nghiêm minh, kịp thời các cá nhân, tổ chức có khuyết điểm, vi phạm trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật. Chú trọng kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn và kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi "tham nhũng, trục lợi chính sách" trong công tác xây dựng pháp luật. Đồng thời, khen thưởng kịp thời các tổ chức, cá nhân có thành tích trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật.

       g) Nâng cao trách nhiệm của từng cơ quan trong quá trình xây dựng và thi hành pháp luật. Các sở, ban, ngành phối hợp chặt chẽ, chủ động, trách nhiệm hơn với Sở Tư pháp, Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, các cơ quan của Hội đồng nhân dân tỉnh. Chú trọng việc lấy ý kiến các chuyên gia, nhà khoa học, nhất là ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản. Nghiêm túc tiếp thu, giải trình đầy đủ, thực chất các ý kiến góp ý để bảo đảm tính khả thi.

       h) Quan tâm  bố trí, điều động các cán bộ, công chức có năng lực thực hiện công tác xây dựng pháp luật, pháp chế đáp ứng các yêu cầu công việc. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ cho đội ngũ này. Củng cố kiện toàn tổ chức pháp chế, tổ chức thực hiện công tác xây dựng và thi hành pháp luật. Ưu tiên, tăng cường nguồn lực, nhất là nguồn tài chính đầu tư cho công tác xây dựng và thi hành pháp luật.

       2. Sở Tư pháp

       a) Tiếp tục phát huy vai trò tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân tỉnh trong quản lý nhà nước về công tác xây dựng, hoàn thiện và thi hành pháp luật. Phối hợp chặt chẽ với các sở, ban, ngành, địa phương, nghiên cứu, đề xuất với Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh các giải pháp nhằm tăng cường công tác xây dựng và thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh.

       b) Tăng cường đôn đốc, kiểm tra công tác xây dựng pháp luật của các sở, ban, ngành, địa phương; tham mưu, trình Ủy ban nhân dân tỉnh các kế hoạch rà soát văn bản quy phạm pháp luật theo các chuyên đề, lĩnh vực và tổ chức thực hiện bảo đảm tính bao quát, toàn diện; tăng cường công tác tự kiểm tra, kiểm tra theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là việc xử lý các văn bản trái pháp luật.

       c) Nâng cao hơn nữa chất lượng thẩm định văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền; không tổ chức thẩm định những hồ sơ dự thảo văn bản chưa đủ điều kiện, thủ tục theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); theo dõi sát việc tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định; có ý kiến với Ủy ban nhân dân tỉnh về kết quả tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định của cơ quan chủ trì soạn thảo.

       d) Hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện trong việc thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật tại địa phương; kiến nghị với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về việc xử lý kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật.

       3. Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh

       a) Đẩy nhanh tiến độ trình Ủy ban nhân dân tỉnh các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật theo Quy chế làm việc của Ủy ban nhân dân tỉnh; chủ trì, phối hợp với các Sở, ban, ngành, cơ quan liên quan xử lý các vấn đề, nội dung có ý kiến khác nhau và tiếp thu ý kiến thành viên Ủy ban nhân dân tỉnh, rút ngắn thời gian trình, ban hành văn bản.

Không tiếp nhận, trình Ủy ban nhân dân tỉnh đối với các hồ sơ dự thảo văn bản quy phạm pháp luật chưa đủ điều kiện, thủ tục theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

       b) Tham mưu bố trí các phiên họp Ủy ban nhân dân dành nhiều thời gian thảo luận các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, nghe báo cáo về việc xây dựng văn bản quy định chi tiết văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên ở địa phương.

       4. Sở Nội vụ

       Phối hợp chặt chẽ với Sở Tư pháp tiếp tục nghiên cứu, củng cố kiện toàn, đổi mới về tổ chức, bộ máy, biên chế thực hiện công tác xây dựng và thi hành pháp luật, pháp chế, đáp ứng yêu cầu công việc, nhiệm vụ được giao.

       5. Sở Tài chính

       Căn cứ quy định, phối hợp với Sở Tư pháp và các đơn vị có liên quan bảo đảm nguồn lực tài chính nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật và thi hành pháp luật.

        6.  Ủy ban nhân dân cấp huyện

       a) Tổ chức thực hiện hiệu quả Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và các văn bản có liên quan theo thẩm quyền được giao; tăng cường các giải pháp tổ chức thi hành pháp luật, bảo đảm pháp luật được thực hiện nghiêm và hiệu quả ở địa phương.

       b) Chỉ đạo Phòng Tư pháp thực hiện tốt trách nhiệm đầu mối giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện đối với công tác công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tăng cường hiệu quả thi hành pháp luật; hướng dẫn, kiểm tra chuyên môn nghiệp vụ về công tác tư pháp ở cấp xã. Kiện toàn đội ngũ công chức tư pháp cấp huyện, cấp xã đảm bảo đủ biên chế, năng lực, trình độ thực hiện tốt công tác tham mưu về văn bản.

       c) Tăng cường hiệu quả công tác rà soát văn bản quy phạm pháp luật, thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo, thống kê về công tác xây dựng, kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật theo quy định./.

06-CT.signed.pdf


CT 1.jpg 

CT 2.jpg 

CT 3.jpg

CT 4.jpg

CT 5.jpg

FalsePhòng XD&KTVB
1 - 30Next
Ảnh
Video
Audio