Công tác xây dựng
 
Thực tiễn phòng, chống dịch Covid-19 của Việt Nam trong thời gian qua cho thấy một số bất cập trong việc thực hiện quyền bảo vệ đời tư của bệnh nhân, quyền tiếp cận thông tin và giám sát trực tiếp của người dân. Bài viết tập trung phân tích những bất cập trong việc thực hiện các quyền này và kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của việc phòng, chống dịch bệnh, giảm thiểu tối đa các thiệt hại về kinh tế và các tác động tiêu cực ảnh hưởng đến đời sống của người dân.
 
​        Ngày 01 tháng 6 năm 2020, Chính phủ ban hành Nghị định 62/2020/NĐ-CPvề vị trí việc làm và biên chế công chức. Nghị định này quy định về nguyên tắc, căn cứ, trình tự, trách nhiệm, thẩm quyền quyết định và điều chỉnh vị trí việc làm, cơ cấu ngạch công chức, biên chế công chức và áp dụng đối với Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, ...
        Ngày 03 tháng 4 năm 2020 tỉnh Bình Dương ban hành Quyết định sửa đổi, bổ sung Điều 1 Quyết định số 20/2011/QĐ-UBND ngày 09 tháng 8 năm 2011 về việc hỗ trợ đối với sinh viên y, dược đào tạo theo địa chỉ sử dụng, theo đó, việc chấp thuận hỗ trợ sinh viên y, dược đào tạo theo địa chỉ sử dụng được sửa đổi, bổ sung một số điểm, cụ thể như sau:      ...
       Ngày 05 tháng 5 năm 2020, tỉnh Bình Dương ban hành Quyết Định số 11/2020/QĐ-UBND sửa đổi Khoản 1 Điều 4 Quy định đối tượng, tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục xét công nhận danh hiệu "Nghệ nhân tỉnh Bình Dương", "Thợ giỏi tỉnh Bình Dương", "Người có công đưa nghề mới về địa phương" trên địa bàn tỉnh Bình Dương ban hành kèm theo Quyết định ...
          Ngày 20/5/2020, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương đã ban hành Quyết định số 13/2020/QĐ-UBND Quy định bảng giá tính lệ phí trước bạ đối với nhà trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Quy định này áp dụng cho đối tượng chịu lệ phí trước bạ nhà, gồm: nhà ở, nhà làm việc, nhà sử dụng cho các mục đích khác.Theo đó, một số trường hợp cụ thể áp dụng giá tính lệ phí trước ...
 
Ngày 25/5/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 81/NQ-CP phê duyệt kết quả pháp điển các chủ đề: Bổ trợ tư pháp; Hình sự; Kế toán, kiểm toán; Thống kê và 24 đề mục.
 
Thời gian qua, công tác kiểm tra, xử lý văn bản tại các địa phương khu vực phía Nam có nhiều chuyển biến tích cực góp phần hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (văn bản QPPL) tại địa phương, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội và tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các nhà đầu tư, doanh nghiệp. Về cơ bản, hoạt động tự kiểm tra và kiểm tra theo thẩm quyền, xử lý văn bản chưa phù hợp đã được thực hiện thường xuyên, kịp thời, đúng nguyên tắc; các phương thức kiểm tra văn bản được triển khai toàn diện. Việc xử lý văn bản chưa phù hợp được quan tâm thực hiện theo quy định, cơ bản khắc phục được tình trạng văn bản chưa phù hợp tồn tại kéo dài không được xử lý…
 
Trách nhiệm giải trình là một trong những phương thức để kiểm soát quyền lực nhà nước. Bài viết phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện trách nhiệm giải trình của cơ quan hành chính nhà nước trong hoạt động xây dựng luật, pháp lệnh tại Việt Nam thời gian qua và đề xuất kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật nhằm tăng cường trách nhiệm giải trình của cơ quan hành chính nhà nước trong hoạt động xây dựng luật, pháp lệnh.
 
​Sáng ngày 22/5, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu, Quốc hội đã cho ý kiến về dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2021, điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2020. Theo Chương trình, ông Hoàng Thanh Tùng - Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật đã trình bày tóm tắt Tờ trình về dự kiến Chương trình xây ...
 
​​ Theo Chương trình kỳ họp thứ 9 của Quốc hội, hôm nay (22/5), Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ sẽ trình bày Tờ trình về dự án Luật Thỏa thuận quốc tế. Báo cáo thẩm tra dự án Luật Thỏa thuận quốc tế do Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội Nguyễn Văn Giàu trình bày trước khi Tổng Thư ký Quốc hội - Chủ nhiệm Văn phòng ...
 
 
  
Phân loại
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Nội dung
  
  
Đã có văn bản quy định nội dung và mức chi hỗ trợ hoạt động khuyến nông trên địa bàn tỉnh Bình DươngThông tin; Văn bản QPPLTinĐã có văn bản quy định nội dung và mức chi hỗ trợ hoạt động khuyến nông trên địa bàn tỉnh Bình Dương/CMSImageNew/2020-08/368242f4cb2837766e39_Key_04082020084627.jpg
8/4/2020 9:00 AMNoĐã ban hành

    Trên cơ sở căn cứ "Nghị định số 02/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 01 năm 2010 của Chính phủ về Khuyến nông;  Thông tư liên tịch số 183/2010/TTLT-BTC-BNN ngày 15 tháng 11 năm 2010 của Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thông hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước đối với hoạt động khuyến nông", Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành "Quyết định số 48/2012/QĐ-UBND ngày 31 tháng 10 năm 2012 ban hành Quy định nội dung và mức chi hỗ trợ hoạt động khuyến nông sử dụng ngân sách nhà nước cấp trên địa bàn tỉnh Bình Dương". Tuy nhiên, hiện nay Nghị định số 02/2010/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 183/2010/TTLT-BTC-BNN đã hết hiệu lực thi hành, được thay thế bởi "Nghị định số 83/2018/NĐ-CP ngày 24 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ về khuyến nông" và "Thông tư Thông tư 75/2019/TT-BTC ngày 04 tháng 11 năm 2019 của Bộ Tài chính quy định quản lý, sử dụng kinh phí sự nghiệp từ nguồn ngân sách nhà nước thực hiện hoạt động khuyến nông". Theo đó, tại Điều 10 Mục 2 Chương II Thông tư 75/2019/TT-BTC quy định:"Căn cứ quy định tại Nghị định số 83/2018/NĐ-CP của Chính phủ và nội dung chi, mức chi quy định tại Mục 1 Chương II của Thông tư này, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định nội dung chi, mức hỗ trợ cho các hoạt động khuyến nông địa phương phù hợp với khả năng cân đối ngân sách của địa phương và đạt được mục tiêu của khuyến nông ở địa phương".

       Ngày 20 tháng 7 năm 2020, tỉnh Bình Dương ban hành Nghị quyết 03/2020/NQ-HĐND Quy định nội dung và mức chi hỗ trợ hoạt động khuyến nông trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Nghị quyết áp dụng cho tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động khuyến nông, chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn tỉnh; Cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động khuyến nông. Theo Nghị quyết, một số nội dung và mức chi hoạt động khuyến nông được quy định cụ thể, như: bồi dưỡng, tập huấn, đào tạo; chính sách thông tin tuyên truyền; hỗ trợ xây dựng và nhân rộng mô hình; tư vấn và dịch vụ khuyến nông; hợp tác quốc tế về khuyến nông và một số nội dung chi khác.

       Nghị quyết 03/2020/NQ-HĐND có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 8 năm 2020./.​

2._DTNQ_KHUYEN_NONG.pdf

FalseLê Thị Phương
Bãi bỏ Nghị quyết số 05/2013/NQ-HĐND8 ngày 31 tháng 7 năm 2013 về việc thông qua số lượng và việc thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức dự nguồn cấp xã trên địa bàn tỉnh Bình Dương Thông tin; Văn bản QPPLTinBãi bỏ Nghị quyết số 05/2013/NQ-HĐND8 ngày 31 tháng 7 năm 2013 về việc thông qua số lượng và việc thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức dự nguồn cấp xã trên địa bàn tỉnh Bình Dương /CMSImageNew/2020-08/0001_Key_03082020144401.jpg
8/3/2020 3:00 PMNoĐã ban hành

      Trong thời gian qua, thực hiện Nghị quyết số 05/2013/NQ-HĐND8 ngày 31 tháng 7 năm 2013 của Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Dương cơ bản đã đáp ứng yêu cầu bổ sung nguồn nhân lực cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở và là nguồn kế nhiệm và thay thế đối với cán bộ cấp huyện trong giai đoạn tiếp theo trên địa bàn tỉnh. Toàn tỉnh hiện có 163 người là đối tượng cán bộ, công chức dự nguồn cấp xã hiện đang công tác tại Ủy ban nhân dân cấp xã. Đến nay, các đối tượng này đã được các địa phương thực hiện tuyển dụng và tính vào số lượng cán bộ, công chức cấp xã theo quy định tại Nghị định số 34/2019/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố; đồng thời, thực hiện các chế độ, chính sách theo quy định hiện hành của Trung ương và của tỉnh.

      Thực hiện Nghị quyết số 39-NQ-TW ngày 17 tháng 4 năm 2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại độ ngũ cán bộ, công chức; Công văn số 178/VPCP-TCCV ngày 16 tháng 01 năm 2018 của Văn phòng Chính phủ về việc báo cáo thực hiện các Kết luận, Nghị quyết của Hội nghị Trung ương, Bộ Chính trị, trong đó chỉ đạo các địa phương chấm dứt việc tự phê duyệt và giao biên chế vượt quá số lượng được cơ quan có thẩm quyền giao hoặc thẩm định. Tỉnh Bình Dương đẩy mạnh sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế theo lộ trình, kế hoạch để đảm bảo chỉ tiêu biên chế được Chính phủ, Bộ Nội vụ phê duyệt hàng năm. Như vậy, căn cứ Nghị định quy định mới của Trung ương và tình hình thực tế ở địa phương, nhận thấy Nghị quyết số 05/2008/NQ-HĐND7 của Hội đồng nhân dân tỉnh không còn phù hợp với quy định pháp luật hiện hành và tình hình thực tế tại địa phương.

       Do đó, ngày 20 tháng 7 năm 2020, Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Dương đã ban hành Nghị quyết 01/2020/NQ-HĐND về việc bãi bỏ Nghị quyết số 05/2013/NQ-HĐND8 ngày 31 tháng 7 năm 2013 về việc thông qua số lượng và việc thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức dự nguồn cấp xã trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

      Nghị quyết này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 8 năm 2020./.​

0001.jpg

FalseLê Thị Phương
Tỉnh Bình Dương ban hành Bảng giá tính thuế tài nguyên năm 2020Thông tinTinTỉnh Bình Dương ban hành Bảng giá tính thuế tài nguyên năm 2020/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
7/31/2020 4:00 PMNoĐã ban hành

     Căn cứ nội dung được giao tại Điều 5 Thông tư số 44/2017/TT-BTC ngày 12/5/2017 của Bộ Tài chính quy định về khung giá tính thuế tài nguyên đối với nhóm, loại tài nguyên có tính chất lý, hóa giống nhau; ngày 20/7/2020, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương đã ban hành Quyết định số 16/2020/QĐ-UBND ban hành Bảng giá tính thuế tài nguyên năm 2020 trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

16.2020.PNG

​     ​Nội dung quyết định quy định giá tính thuế đối với khoáng sản không kim loại (bao gồm các loại đất khai thác để san lấp, xây dựng công trình; đá, sỏi; cát, đất làm gạch; đá Granite; sét chịu lửa; cao lanh và giá tính thuế đối với nước thiên nhiên (bao gồm nước khoáng thiên nhiên, nước nóng thiên nhiên, nước thiên nhiên tinh lọc đóng chai, đóng hộp; nước thiên nhiên dùng cho sản xuất kinh doanh nước sạch; nước thiên nhiên dùng cho mục đích khác).

​     Quyết định 16/2020/QĐ-UBND có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/8/2020 và thay thế Quyết định số 01/2018/QĐ-UBND ngày 19/01/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc ban hành Bảng giá tính thuế tài nguyên trên địa bàn tỉnh Bình Dương./.

16.2020.QD.UBND.pdf

FalseTrần Thị Kim Yến
Quy định mức chi và việc sử dụng kinh phí thực hiện công tác thăm dò, khai quật khảo cổ từ nguồn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Bình DươngVăn bản QPPLQuy định mức chi và việc sử dụng kinh phí thực hiện công tác thăm dò, khai quật khảo cổ từ nguồn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Bình Dương/CMSImageNew/2020-08/nq 04_Key_04082020152444.PNG
7/29/2020 4:00 PMNoĐã ban hành

​Ngày 20 tháng 7 năm 2020 Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Dương đã ban hành Nghị quyết số 04/2020/NQ-HĐND quy định mức chi và việc sử dụng kinh phí thực hiện công tác thăm dò, khai quật khảo cổ từ nguồn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Theo đó, 

Mức chi thực hiện công tác thăm dò, khai quật khảo cổ áp dụng bằng mức chi quy định tại Điều 4 Thông tư số 67/2019/TT- BTC ngày 23 tháng 9 năm 2019 của Bộ Tài chính quy định nội dung và mức chi thực hiện công tác thăm dò, khai quật khảo cổ từ nguồn ngân sách nhà nước.

Riêng đối với mức chi quy định tại khoản 4 Điều 4 Thông tư số 67/2019/TT- BTC ngày 23 tháng 9 năm 2019 của Bộ Tài chính, cụ thể như sau:

- Mức chi thuê khoán bảo vệ công trường và kho tạm 24/24 giờ: 250.000 đồng/ngày/người.

- Mức chi thuê khoán nhân công phục vụ công tác điều tra, đào thăm dò, khai quật khảo cổ, phân loại chỉnh lý di vật: tối đa không quá 350.000 đồng/ngày/người.

  Các khoản chi hội thảo; chi công tác phí, tiền thuê phòng nghỉ tại nơi đến công tác, tiền tàu, xe (nếu có) cho chuyên gia tư vấn, cán bộ khoa học, kỹ thuật áp dụng mức chi theo quy định hiện hành của Trung ương và của Tỉnh.​

Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 8 năm 2020./.

Nghi_quyet__muc_chi_khao_co.pdf

FalseĐào Thị Quyên
Quy định phí thăm quan di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh và Bảo tàng trên địa bàn tỉnh Bình DươngVăn bản QPPLQuy định phí thăm quan di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh và Bảo tàng trên địa bàn tỉnh Bình Dương/CMSImageNew/2020-08/nq 05_Key_04082020154719.PNG
7/29/2020 4:00 PMNoĐã ban hành

​Ngày 20 tháng 7 năm 2020 Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Nghị quyết số 05/2020/NQ-HĐND Quy định phí thăm quan di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh và Bảo tàng trên địa bàn tỉnh Bình Dương. 

 Về cơ chế thu phí: 

- Không thu phí tham quan đối với di tích lịch sử và Bảo tàng trên địa bàn tỉnh Bình Dương;

-Thu phí tham quan đối với di tích danh lam thắng cảnh Núi Cậu - Lòng hồ Dầu Tiếng. Mức thu phí là: 10.000 đồng/lượt/khách (áp dụng thống nhất cho khách tham quan Việt Nam và Quốc tế, chiều cao từ 1,3 m trở lên).

Về Chính sách miễn, giảm phí tham quan

1. Miễn phí tham quan

a) Các ngày được miễn phí tham quan:

Ngày Giải phóng miền Nam (30/4) ngày Quốc tế lao động (01/5) và ngày Quốc khánh (02/9). Áp dụng cho mọi đối tượng là công dân Việt Nam.

b) Đối tượng được miễn phí tham quan:

- Người dân địa phương tỉnh Bình Dương (có Chứng minh nhân dân hoặc Căn cước công dân);

- Khách tham quan có chiều cao dưới 1,3 m;

- Người khuyết tật đặc biệt nặng theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người khuyết tật;

- Các đoàn khảo sát, nghiên cứu, trao đổi, học tập kinh nghiệm trên lĩnh vực di sản văn hóa, báo chí truyền thông đến tác nghiệp, quảng bá di sản văn hóa và du lịch tỉnh Bình Dương;

- Học sinh các trường Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

2. Giảm 50% phí tham quan các đối tượng sau:     

a) Người được hưởng chính sách ưu đãi hưởng thụ văn hóa quy định tại Điều 2 Quyết định số 170/2003/QĐ-TTg ngày 14 tháng 8 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ về Chính sách ưu đãi hưởng thụ văn hóa;

b) Người khuyết tật nặng theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Nghị định số 28/2012/NĐ- CP ngày 10 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người khuyết tật;

c) Người cao tuổi theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 06/2011/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người cao tuổi;

d) Hộ nghèo, người có công với cách mạng, đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo Khoản 1 Điều 10 Luật Phí và lệ phí năm 2015 quy định về các đối tượng miễn, giảm phí, lệ phí;      

đ) Học sinh, học viên, sinh viên các trường Trung cấp, Cao đẳng, Đại học trên địa bàn tỉnh Bình Dương.  ​

Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 8 năm 2020./.

Nghi_quyet__phi_tham_quan_di_tich_lich_su.pdf



FalseĐào Thị Quyên
Quy định chế độ thu, nộp và quản lý phí thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường và phương án cải tạo, phục hồi môi trường trên địa bàn tỉnh Bình DươngVăn bản QPPLQuy định chế độ thu, nộp và quản lý phí thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường và phương án cải tạo, phục hồi môi trường trên địa bàn tỉnh Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
7/28/2020 3:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 20 tháng 7 năm 2020, Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Dương đã ban hành Nghị quyết số 02/2020/NQ-HĐND quy định chế độ thu, nộp và quản lý phí thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường và phương án cải tạo, phục hồi môi trường trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Theo đó, đối tượng thu phí là tổ chức, cá nhân khi nộp hồ sơ yêu cầu thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường và phương án cải tạo, phục hồi môi trường trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

Mức thu phí thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường

                                                                                    Đơn vị tính: Triệu đồng

Tổng vốn đầu tư
(Tỷ đồng)

Nhóm dự án

≤ 50      

Từ

> 50

đến
 ≤ 100 

Từ

> 100 đến
≤ 200

Từ

> 200 đến
≤ 500

> 500
Nhóm 1. Dự án xử lý chất thải và cải thiện môi trường5,06,512,014,017,0
Nhóm 2. Dự án công trình dân dụng6,98,515,016,025,0
Nhóm 3. Dự án hạ tầng kỹ thuật7,59,517,018,025,0
Nhóm 4. Dự án nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản5,09,517,018,024,0
Nhóm 5. Dự án Giao thông8,110,018,020,025,0
Nhóm 6. Dự án Công nghiệp8,410,519,020,026,0
Nhóm 7. Dự án về khai khác, chế biến khoáng sản.10,012,020,021,027,0
Nhóm 8. Dự án khác (không thuộc nhóm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7)5,06,010,812,015,6

Mức thu phí thẩm định phương án cải tạo phục hồi môi trường

                                                                                      Đơn vị tính: Triệu đồng

Tổng vốn đầu tư
(Tỷ đồng)

Nhóm dự án

≤ 50      

Từ

> 50

đến
 ≤ 100 

Từ

> 100 đến
≤ 200

Từ

 > 200 đến
≤ 500

> 500
Dự án về khai khác, chế biến khoáng sản10,012,020,021,027,0

Trường hợp thẩm định lại (từ lần 2) nếu họp thẩm định lần 1 không đạt yêu cầu: mức thu phí bằng 60% mức thu quy định tại mục 1 và 2 nêu trên. Trường hợp thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường thông qua lấy ý kiến cơ quan, tổ chức, chuyên gia có liên quan: mức phí thu bằng 40% mức thu quy định tại mục 1 nêu trên. Trường hợp dự án có từ 02 nhóm trở lên: mức thu phí theo nhóm dự án có mức thu phí cao nhất

Nghị quyết này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 8 năm 2020 và thay thế Nghị quyết số 70/2016/NQ-HĐND9 ngày 16 tháng 12 năm 2016 của Hội đồng nhân dân tỉnh về chế độ thu, nộp và quản lý phí thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, đề án bảo vệ môi trường chi tiết; phí thẩm định phương án cải tạo phục hồi môi trường, phương án cải tạo phục hồi môi trường bổ sung trên địa bàn tỉnh Bình Dương./.

  1._DTNQ_PHI_THAM_DINH_DTM.pdf

phuluc.pdf



FalseHuỳnh Hữu Tốt
Họp tư vấn thẩm định Tờ trình đề nghị xây dựng Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh quy định trợ cấp, trợ giúp xã hội Thông tinTinHọp tư vấn thẩm định Tờ trình đề nghị xây dựng Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh quy định trợ cấp, trợ giúp xã hội /Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
7/24/2020 5:00 PMNoĐã ban hành

     Thực hiện quy định tại Điều 115 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, chiều ngày ngày 24/7/2020, Sở Tư pháp tổ chức cuộc họp "tư vấn thẩm định Tờ trình đề nghị xây dựng Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh quy định trợ cấp, trợ giúp xã hội tại cộng đồng; trong các cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội; hỗ trợ kinh phí chăm sóc, nuôi dưỡng và chính sách trợ giúp xã hội khác đối với đối tượng bảo trợ xã hội", cuộc họp do ông Nguyễn Quốc Trí – Phó Giám đốc Sở Tư pháp chủ trì, cùng với sự tham gia của đại diện các cơ quan, đơn vị gồm: Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Sở Tài chính, Sở Nội vụ và Đoàn Luật sư tỉnh.

c0b66bce3217ce499706.jpg

​(Toàn cảnh cuộc họp tư vấn thẩm định)

​     Tại cuộc họp, sau khi nghe đại diện Sở Lao động – Thương binh và Xã hội báo cáo tóm tắt sự cần thiết ban hành và các nội dung cơ bản của chính sách trong dự thảo Tờ trình đề nghị xây dựng Nghị quyết; các thành viên dự họp đều thống nhất việc tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh trình Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh xem xét quy định trợ cấp, trợ giúp xã hội tại cộng đồng; trong các cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội; hỗ trợ kinh phí chăm sóc, nuôi dưỡng và chính sách trợ giúp xã hội khác đối với đối tượng bảo trợ xã hội theo hướng nâng mức trợ cấp từ 340.000 đồng như hiện hành, lên mức 400.000 đồng là cần thiết, đúng thẩm quyền theo quy định pháp luật.

77a9922862f19eafc7e0.jpg

(Ông Bùi Văn Thuyết – Phó Trưởng Phòng Bảo trợ xã hội – Sở Lao động - Thương binh và Xã hội báo cáo tóm tắt một số nội dung liên quan đến đề nghị xây dựng Nghị quyết​)

​     Bên cạnh đó, các đơn vị dự họp cũng có các ý kiến góp ý nhằm hoàn thiện các nội dung chính sách nêu trong dự thảo Nghị quyết như: đề cơ quan soạn thảo văn bản xác định mức trợ cấp quy định tại Phụ lục I và Phụ lục II kèm theo dự thảo Nghị quyết là mức cố định hay mức thấp nhất để ghi phần trích yếu của các Phụ lục cho phù hợp; xem xét, bỏ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 3 dự thảo Nghị quyết vì Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh chỉ giao cho Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết (như quy định tại Điều 4 dự thảo văn bản), không giao nhiệm vụ tổ chức thực hiện cho cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh và Ủy ban nhân dân cấp huyện; chỉnh sửa Báo cáo đánh giá tác động của chính sách theo đúng Mẫu số 01 Phụ lục V ban hành kèm theo Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật và bổ sung văn bản góp ý của Bộ, ngành liên quan và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh đối với đề nghị xây dựng Nghị quyết để đảm bảo đầy đủ theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP; ...

48645ee81831e46fbd20.jpg

​(Các thành viên dự họp góp ý đối với đề nghị xây dựng Nghị quyết)

​     Sau khi nghe các ý kiến góp ý của đại diện các đơn vị dự họp, đại diện Sở Lao động – Thương binh và Xã hội đã có ý kiến giải trình, làm rõ thêm một số nội dung liên quan đến dự thảo Nghị quyết, đồng thời ghi nhận, tiếp thu các ý kiến góp ý để tiếp tục chỉnh sửa, hoàn thiện Tờ trình đề nghị xây dựng Nghị quyết.

​     Kết thúc cuộc họp, ông Nguyễn Quốc Trí - Phó Giám đốc Sở Tư pháp đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp thu, chỉnh sửa những nội dung đã trao đổi, thống nhất tại cuộc họp; đẩy nhanh tiến độ các bước tiếp theo của quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật để kịp thời tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh theo đún​g kế hoạch đề ra./.

FalseTrần Thị Kim Yến
Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh quy định mức hỗ trợ và số lượng cán bộ theo dõi, quản lý người cai nghiện ma túy tại gia đình, cộng đồng trên địa bàn tỉnh Bình DươngVăn bản QPPLQuyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh quy định mức hỗ trợ và số lượng cán bộ theo dõi, quản lý người cai nghiện ma túy tại gia đình, cộng đồng trên địa bàn tỉnh Bình Dương/CMSImageNew/2020-07/hinh qd 17_Key_24072020101851.PNG
7/24/2020 11:00 AMNoĐã ban hành

Ngày 22/7/2020 Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương đã ban hành Quyết định số 17/2020/QĐ-UBND quy định mức hỗ trợ và và số lượng cán bộ theo dõi, quản lý người cai nghiện ma túy tại gia đình, cộng đồng trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Theo đó, mức chi hỗ trợ cho cán bộ là thành viên Tổ công tác cai nghiện ma túy được phân công theo dõi, quản lý người cai nghiện ma túy tại gia đình, cộng đồng với mức 350.000 đồng/người/tháng, thời gian hỗ trợ được tính theo thời hạn ghi trên quyết định cai nghiện ma túy tại gia đình, cộng đồng. 

 Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2020 .​

17-2020-QD.signed.pdf


FalseĐào Thị Quyên
Công bố Lệnh của Chủ tịch nước về công bố Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luậtThông tinCông bố Lệnh của Chủ tịch nước về công bố Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
7/24/2020 11:00 AMNoĐã ban hành

Ngày 10/7/2020, Văn phòng Chủ tịch nước đã tổ chức họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước về công bố các luật đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV thông qua tại Kỳ họp thứ 9. Họp báo do đồng chí Đào Việt Trung, Ủy vên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước chủ trì, cùng với sự tham gia của đại diện các cơ quan chủ trì soạn thảo dự án luật và các cơ quan báo chí đến ghi hình, đưa tin.

Tại họp báo, 10 luật được công bố bao gồm: Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; Luật Thanh Niên; Luật Đầu tư; Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư; Luật Doanh nghiệp; Luật Xây dựng; Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều; Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội; Luật Hòa giải, đối thoại tại tòa án. Đại diện các cơ quan chủ trì soạn thảo dự án luật lần lượt giới thiệu những nội dung cơ bản của các luật.

Giới thiệu Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Luật năm 2020), Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tịnh cho biết: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã sửa đổi, bổ sung  54 điều về nội dung và 14 điều về kỹ thuật của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (Luật năm 2015) với những điểm mới cơ bản như:

Thứ nhất, tiếp tục khẳng định và quy định cụ thể hơn cơ chế bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong xây dựng, ban hành VBQPPL. Luật năm 2020 đã sửa 06 điều của Luật năm 2015, trong đó bổ sung nội dung thẩm định, thẩm tra phải bảo đảm "Sự phù hợp của chính sách trong đề nghị xây dựng văn bản và nội dung dự thảo văn bản với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước".

Thứ hai, Luật năm 2020 quy định về phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong quy trình xây dựng, ban hành VBQPPL, theo đó, phản biện xã hội được thực hiện trong giai đoạn lấy ý kiến về dự thảo VBQPPL và trường hợp dự thảo VBQPPL được phản biện xã hội thì hồ sơ dự án, dự thảo gửi thẩm định, thẩm tra, trình cơ quan có thẩm quyền phải bao gồm văn bản phản biện xã hội.

Thứ ba, sửa đổi, bổ sung một số quy định nhằm nâng cao trách nhiệm, hiệu quả phối hợp của các cơ quan trong quá trình thẩm tra, tiếp thu, chỉnh lý dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết. Trong đó:

(1) Tiếp tục tăng cường trách nhiệm của HĐDT và Ủy ban của Quốc hội trong thẩm tra dự án, dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, UBTVQH, Luật năm 2020: (i) Bổ sung trách nhiệm của Hội đồng dân tộc (HĐDT), Ủy ban của Quốc hội gửi văn bản thẩm tra đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, kiến nghị về luật, pháp lệnh đến Ủy ban pháp luật; (ii) Quy định trách nhiệm tham gia thẩm tra dự án, dự thảo do cơ quan khác của Quốc hội chủ trì thẩm tra về những nội dung liên quan đến lĩnh vực do mình phụ trách; (iii) Bổ sung trách nhiệm của HĐDT thẩm tra việc bảo đảm chính sách dân tộc trong dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết.

(2) Nâng cao trách nhiệm và tăng cường sự phối hợp của các cơ quan trong quá trình tiếp thu, chỉnh lý dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết. Luật năm 2020 sửa đổi, bổ sung 04 điều của Luật năm 2015, theo đó: (i) Bổ sung trách nhiệm của cơ quan trình phải có ý kiến bằng văn bản về những nội dung giải trình, tiếp thu, chỉnh lý để báo cáo UBTVQH; (ii) Bổ sung trách nhiệm cơ quan trình đánh giá tác động của chính sách trong trường hợp đại biểu Quốc hội (ĐBQH), Nhân dân đề nghị bổ sung và theo yêu cầu của UBTVQH; (iii) Bổ sung việc tổ chức Hội nghị ĐBQH hoạt động chuyên trách đối với dự án, dự thảo có những vấn đề lớn còn ý kiến khác nhau; (iv) Bổ sung quy định Tổng thư ký Quốc hội tổ chức tổng hợp ý kiến ĐBQH để báo cáo UBTVQH và gửi cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan trình; (v) Bổ sung trách nhiệm phối hợp của Bộ Tư pháp với cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan trình và Ủy ban Pháp luật để nghiên cứu, giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo theo ý kiến của ĐBQH, Đoàn ĐBQH, HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội.
Thứ tư, Luật năm 2020 đã bỏ yêu cầu lập đề nghị theo quy trình chính sách đối với nghị định quy định tại khoản 2 Điều 19 và nghị quyết của HĐND cấp tỉnh quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27.

Thứ năm, để tiếp tục hoàn thiện các quy định về việc xây dựng, ban hành VBQPPL theo trình tự, thủ tục rút gọn, Luật năm 2020 bổ sung 03 trường hợp xây dựng, ban hành VBQPPL theo trình tự, thủ tục rút gọn; bổ sung thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ quyết định áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn đối với thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành để giải quyết những vấn đề cấp bách phát sinh trong thực tiễn ; bổ sung thẩm quyền quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC, Tổng Kiểm toán nhà nước.

Ngoài ra, Luật năm 2020 đã bổ sung một số hình thức VBQPPL như nghị quyết liên tịch giữa UBTVQH, Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương MTTQVN, thông tư liên tịch giữa Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC, Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; Cho phép HĐND cấp huyện ban hành nghị quyết, UBND cấp huyện ban hành quyết định quy phạm pháp luật để thực hiện việc phân cấp cho chính quyền địa phương, cơ quan nhà nước cấp dưới; Bổ sung trường hợp cho phép địa phương được quy định TTHC trong trường hợp cần thiết đối với nghị quyết của HĐND cấp tỉnh quy định tại khoản 4 Điều 27, đồng thời, cho phép sửa đổi, bổ sung các VBQPPL có quy định TTHC ban hành trước ngày 01/7/2016 với điều kiện không làm phát sinh TTHC mới hoặc quy định thêm thành phần hồ sơ, yêu cầu, điều kiện, tăng thời gian giải quyết TTHC đang áp dụng; Sửa đổi, bổ sung một số quy định để nâng cao trách nhiệm của cơ quan lập đề nghị, soạn thảo, cơ quan ban hành VBQPPL.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực từ ngày 01/01/2021.

 Đoàn Thị Trang, Vụ VĐCXDPL

​​https://xdpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/tin-hoat-dong.aspx?ItemID=252

FalseĐào Thị Quyên
Sở Tư pháp tổ chức họp tư vấn thẩm định đề nghị xây dựng Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh về chính sách hỗ trợ xây dựng nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu trên địa bàn tỉnh Bình Dương giai đoạn 2021 – 2025Thông tin; Tin ngành tư phápTinSở Tư pháp tổ chức họp tư vấn thẩm định đề nghị xây dựng Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh về chính sách hỗ trợ xây dựng nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu trên địa bàn tỉnh Bình Dương giai đoạn 2021 – 2025/CMSImageNew/2020-07/202088ba4dbbb1e5e8aa_Key_22072020160731.jpg
7/22/2020 4:00 PMYesĐã ban hành

      Chiều ngày 21 tháng 7 năm 2020, Sở Tư pháp tổ chức họp tư vấn thẩm định đề nghị xây dựng Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh về chính sách hỗ trợ xây dựng nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu trên địa bàn tỉnh Bình Dương giai đoạn 2021 – 2025 (do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì soạn thảo) theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

      Thành phần tham dự, gồm có: ông Nguyễn Quốc Trí – Phó Giám đốc Sở Tư pháp – Chủ trì cuộc họp, cùng các đại diện là Hội đồng nhân dân tỉnh, Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Tài chính, Sở Lao động – thương binh và xã hội, Sở Nội vụ, Đoàn Luật sư, Sở Tư pháp.

da40dcd718d6e488bdc7.jpg

(Ông Nguyễn Quốc Trí – Phó Giám đốc Sở Tư pháp chủ trì cuộc họp)

      Tại cuộc họp, sau khi nghe đại diện Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn báo cáo tóm tắt sự cần thiết ban hành và các nội dung cơ bản của chính sách trong dự thảo Tờ trình đề nghị xây dựng Nghị quyết, các thành viên dự họp cơ bản đều thống nhất cao về sự cần thiết tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh trình Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh xem xét đối với chính sách hỗ trợ xây dựng nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu trên địa bàn tỉnh Bình Dương giai đoạn 2021 – 2025.

 

 202088ba4dbbb1e5e8aa.jpg

(Ông Hồ Trúc Thanh - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

báo cáo một số nội dung đề nghị xây dựng Nghị quyết)

      Bên cạnh đó, nhằm hoàn thiện các chính sách được quy định trong dự thảo Nghị quyết, đại diện các cơ quan, đơn vị dự họp cũng có một số ý kiến góp ý như: Tính đến thời điểm hiện tại thì Trung ương chưa có văn bản quy định chính sách hỗ trợ xây dựng nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu giai đoạn 2021- 2025. Tuy nhiên, để tiếp tục giai đoạn mới này, cần thiết phải tính toán, cân đối ngân sách của tỉnh để phù hợp với giai đoạn khi triển khai thực hiện. Theo đó, dự toán ngân sách khi thực hiện Nghị quyết này có tăng so với Nghị quyết cũ (Nghị quyết 12/2015/NQ-HĐND); Bỏ hỗ trợ cho các tổ chức, cá nhân có sản phẩm tham gia Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) trên địa bàn tỉnh Bình Dương nhằm tránh trùng lặp các quy định khác của tỉnh;...

bb858c9e499fb5c1ec8e.jpg 

(Ông Nguyễn Tầm Dương - Trưởng ban Kinh tế - Ngân sách Hội đồng nhân dân tỉnh

có ý kiến  tại cuộc họp)

      Trên cơ sở các ý kiến góp ý của các cơ quan, đơn vị, đại diện Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có ý kiến tiếp thu và làm rõ thêm một số nội dung liên quan đến dự thảo Nghị quyết

      Kết thúc cuộc họp, ông Nguyễn Quốc Trí - Phó Giám đốc Sở Tư pháp đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp thu các ý kiến góp ý tại cuộc họp, hoàn chỉnh lại dự thảo các văn bản, sau đó gửi lại Sở Tư pháp để thẩm định đề nghị xây dựng Nghị quyết theo đúng quy trình luật định./.

 

FalsePhòng XD&KTVB
Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự;  phá sản doanh nghiệp, hợp tác xãThông tinTinQuy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự;  phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
7/20/2020 2:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 15/7/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 82/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.

Theo đó, Nghị định này quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính, thẩm quyền lập biên bản, thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh đối với hành vi vi phạm hành chính trong các lĩnh vực sau đây:

- Bổ trợ tư pháp, bao gồm: luật sư; tư vấn pháp luật; công chứng; giám định tư pháp; đấu giá tài sản; trọng tài thương mại; hòa giải thương mại; thừa phát lại;

- Hành chính tư pháp, bao gồm: hộ tịch; quốc tịch; chứng thực; lý lịch tư pháp; phổ biến, giáo dục pháp luật; hợp tác quốc tế về pháp luật; trợ giúp pháp lý; đăng ký biện pháp bảo đảm; trách nhiệm bồi thường của Nhà nước;

- Hôn nhân và gia đình;

- Thi hành án dân sự;

- Phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.

Tại Điều 4 Nghị định này quy định về mức phạt tiền, thẩm quyền phạt tiền đối với cá nhân, tổ chức như sau:

- Mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân trong các lĩnh vực: hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình là 30.000.000 đồng.

- Mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân trong các lĩnh vực: thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã là 40.000.000 đồng.

- Mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp là 50.000.000 đồng.

- Mức phạt tiền quy định tại các Chương II, III, IV, V, VI và VII Nghị định này được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính của cá nhân, trừ các điều quy định tại khoản 5 Điều này. Trường hợp tổ chức có hành vi vi phạm hành chính như của cá nhân thì mức phạt tiền bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

- Mức phạt tiền quy định tại các Điều 7, 8, 9, 16, 17, 24, 26, 29, 33, 39, 50, 53, 63, 71, 72, 73, 74 và 80 Nghị định này là mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm hành chính của tổ chức.

- Thẩm quyền phạt tiền của các chức danh được quy định tại Chương VIII Nghị định này là thẩm quyền phạt tiền đối với một hành vi vi phạm hành chính của cá nhân, thẩm quyền phạt tiền tổ chức gấp 02 lần thẩm quyền phạt tiền cá nhân.

 Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 9 năm 2020 và thay thế Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24 tháng 9 năm 2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã và Nghị định số 67/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24 tháng 9 năm 2013 của Chính phủ./.​

ND82.signed.pdf

FalseHuỳnh Hữu Tốt
 Kết quả 10 năm thực hiện Chỉ thị số 48-CT/TW ngày 22/10/2010 của Bộ Chính trị (khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới tại Sở Tư pháp tỉnh Bình DươngThông tinTin Kết quả 10 năm thực hiện Chỉ thị số 48-CT/TW ngày 22/10/2010 của Bộ Chính trị (khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới tại Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
7/20/2020 12:00 PMNoĐã ban hành

     ​Công tác phòng, chống tội phạm luôn được Đảng ủy, Ban Lãnh đạo xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm; thường xuyên quán triệt, nhắc nhở công chức, viên chức, người lao động của Sở về việc thực hiện các nội dung của Chỉ thị số 48-CT/TW ngày 22/10/2010 của Bộ Chính trị (khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới (gọi tắt là Chỉ thị số 48-CT/TW), Kết luận số 05-KL/TW ngày 15/7/2016 của Ban Chấp hành Trung ương về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị số 48-CT/TW (gọi tắt là Kết luận số 05-KL/TW), Quyết định số 282/QĐ-TTg ngày 24/02/2011 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 48-CT/TW, Chương trình hành động số 06-CTr/TU ngày 04/01/2011 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc thực hiện Chị thị số 48-CT/TW, Chương trình hành động số 36-CTr/TU ngày 28/12/2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc thực hiện Kết luận số 05-KL/TW, … Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động của Sở luôn nâng cao ý thức, trách nhiệm của mình về phòng, chống tội phạm, thấy được quyền lợi, nghĩa vụ và tích cực tham gia công tác này. Từ năm 2010 đến nay, Sở Tư pháp không có trường hợp cán bộ, đảng viên bao che, dung túng tội phạm hoặc có biểu hiện tiêu cực trong thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm; cán bộ, đảng viên có vợ hoặc chồng, con bị xử lý hình sự.

     Kết quả thực hiện trong một số lĩnh vực cụ thể:

     *Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về phòng, chống tội phạm:

2baed80c6d9395cdcc82 (2).jpg

     Sở Tư pháp đã chủ trì, phối hợp các đơn vị có liên quan tổ chức thẩm định kịp thời, có chất lượng các dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; thường xuyên kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật của tỉnh nói chung và các văn bản quy phạm pháp pháp luật liên quan đến công tác phòng, chống tội phạm nói riêng phù hợp với nội dung các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành.

Các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật sau khi soạn thảo đều được gửi đến các cơ quan, đơn vị có liên quan và đối tượng chịu sự tác động của văn bản để lấy ý kiến góp ý; ngoài việc gửi lấy ý kiến góp ý, các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật còn được đăng tải trên cổng thông tin điện tử của tỉnh, của sở, ngành để lấy ý kiến rộng rãi trong nhân dân; đồng thời, tổ chức các cuộc họp để trao đổi thảo luận đối với nội dung dự thảo, sau đó gửi Sở Tư pháp thẩm định trước khi trình cơ quan có thẩm quyền xem xét, ban hành. Từ năm 2010 đến nay, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành 15 văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực phòng, chống tội phạm. Nhìn chung, các văn bản liên quan đến lĩnh vực phòng, chống tội phạm của tỉnh ban hành đảm bảo tính kịp thời, thống nhất, phù hợp Hiến pháp, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước và thực tiễn địa phương.

     *Công tác quản lý xử lý vi phạm hành chính về phòng, chống tội phạm:

QD17.2017.PNG

     Nhằm giải quyết những khó khăn, vướng mắc trên thực tế và thực hiện theo chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 98/NQ-CP ngày 26/12/2014 về tăng cường chỉ đạo công tác phòng, chống, kiểm soát và cai nghiện ma túy trong tình hình mới, Sở Tư pháp đã chủ trì, phối hợp các sở ngành có liên quan tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 425/QĐ-UBND ngày 14/02/2015 về Quy chế phối hợp lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và Quyết định số 1915/QĐ-UBND ngày 27/7/2015 ban hành Danh mục các biểu mẫu sử dụng trong quá trình lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Qua đó, tạo cơ sở pháp lý, giúp cho công tác phối hợp giữa các sở, ngành, địa phương trong việc lập hồ sơ, lưu giữ người nghiện, chuyển hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc sang Tòa án nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định thời gian qua được tăng cường và đạt nhiều kết quả tích cực.

     Trong năm 2016, Sở Tư pháp đã chủ động tổ chức nhiều cuộc họp với các ngành liên quan (trong đó nổi bật là cuộc họp ngày 21/01/2016 và cuộc họp ngày 16/9/2016 để trao đổi, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong áp dụng biện pháp đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thông qua buổi họp, Sở đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh có hướng chỉ đạo, khắc phục tại Báo cáo số 16/BC-STP ngày 02/02/2016). Bên cạnh đó, để kịp thời triển khai các quy định mới, Sở Tư pháp đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch (Kế hoạch số 3253/KH-UBND ngày 05/9/2016) và phối hợp các ngành tổ chức Hội nghị tập huấn chuyên sâu về áp dụng biện pháp đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

     Năm 2017, để tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, tạo sự thống nhất cho các ngành, địa phương trong áp dụng biện pháp đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Mặt khác, ngày 09/9/2016 Chính phủ ban hành Nghị định số 136/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP dẫn đến một số quy định trong Quy chế phối hợp lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định trước đây của Ủy ban nhân dân tỉnh tại Quyết định số 425/QĐ-UBND và Quyết định 1915/QĐ-UBND đã không còn phù hợp pháp luật hiện hành. Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 25/CT-TTg ngày 05/6/2017 và chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các sở, ngành có liên quan tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quy chế phối hợp lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trên địa bàn tỉnh Bình Dương kèm theo Quyết định 17/2017/QĐ-UBND ngày 03/8/2017 (thay thế Quyết định 425/QĐ-UBND và Quyết định số 1915/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh). Qua đó, đã tạo cơ sở pháp lý giúp các ngành, địa phương thực hiện hiệu quả các quy định của pháp luật về áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian qua.

     *Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về công tác phòng, chống tội phạm :

     Sở Tư pháp - cơ quan thường trực của Hội đồng phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật tỉnh hàng năm đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch công tác phổ biến giáo dục pháp luật, theo đó chỉ đạo, định hướng các ngành, các cấp tăng cường tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luật, các văn bản chỉ đạo của Trung ương, cấp trên, trong đó có triển khai Bộ Luật Hình sự, Chỉ thị số 48-CT/TW (trong đó, năm 2016, tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 1314/KH-UBND ngày 04/05/2016 triển khai thi hành Bộ luật Hình sự và Luật Tố tụng hành chính trên địa bàn tỉnh Bình Dương).

     Trong giai đoạn 2010 – 2020, Sở Tư pháp đã lồng ghép tuyên truyền về Bộ luật Hình sự, Chỉ thị số 48-CT/TW, công tác phòng, chống tội phạm bằng các hình thức phổ biến pháp luật của Sở như: tổ chức 01 Hội nghị triển khai Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật Tố tụng hành chính, Bộ luật Dân sự với 1.800 đại biểu tham dự; thực hiện tuyên truyền trực tiếp 05 cuộc với 1.800 lượt người dự; phối hợp với Đài phát thanh và truyền hình Bình Dương thực hiện 06 chương trình "Pháp luật và cuộc sống" được phát sóng trên tỉnh với thời lượng 240 phút; thực hiện 05 chương trình "Tư vấn pháp luật trực tiếp trên sóng FM 92.5Mhz" với thời lượng 250 phút; phối hợp với Đài truyền thanh cấp huyện thực hiện 03 chuyên mục "Người dân với pháp luật" phát sóng hàng tuần trên loa truyền thanh cấp huyện và cấp xã; lồng ghép tuyên truyền trong các hội thi, cuộc thi về pháp luật như: cuộc thi tìm hiểu pháp luật trên internet, sâu khấu hóa… Cung cấp thông tin pháp luật và trả lời câu hỏi của bạn đọc hàng tuần đăng trên báo Bình Dương; xây dựng nội dung thông tin pháp luật chạy chân chữ của chương trình thời sự trên Đài phát thanh và Truyền hình Bình Dương nhằm tạo điều kiện cho nhân dân có thêm nhiều kênh thông tin tìm hiểu và nâng cao kiến thức pháp luật liên quan đến lĩnh vực hình sự, phòng, chống tội phạm.

     *Xây dựng mô hình trong đấu tranh phòng, chống tội phạm:

QCPH 427.PNG

     Ngày 06/4/2018, Sở Tư pháp và Công an tỉnh đã ký kết Quy chế phối hợp số 427/QCPH/STP-CAT về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về công chứng, chứng thực trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Sau khi Quy chế phối hợp giữa Sở Tư pháp và Công an tỉnh được ban hành, các Phòng Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp xã, tổ chức hành nghề công chứng và cơ quan công an đã nghiêm túc thực hiện Quy chế phối hợp. Công tác phối hợp giữa các cơ quan thực hiện công chứng, chứng thực với cơ quan công an được kịp thời và đạt kết quả tốt trong công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về công chứng, chứng thực trên địa bàn tỉnh. Số lượng vụ việc vi phạm pháp luật về công chứng, chứng thực chuyển sang cơ quan công an khá nhiều, thời gian xử lý vụ việc nhanh hơn; phạm vi, nội dung, phương pháp, lĩnh vực trao đổi ngày càng được mở rộng./.

FalseTrần Thị Kim Yến
Bãi bỏ đơn giá dịch vụ đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (dạng riêng lẻ) trên địa bàn tỉnh Bình DươngThông tinTinBãi bỏ đơn giá dịch vụ đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (dạng riêng lẻ) trên địa bàn tỉnh Bình Dương/CMSImageNew/2020-08/15_Key_04082020141100.2020_Key_04082020141100.PNG
7/15/2020 3:00 PMNoĐã ban hành

​     Ngày 09/7/2020, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương đã ban hành Quyết định số 15/2020/QĐ-UBND về việc bãi bỏ toàn bộ toàn bộ Quyết định số 34/2018/QĐ-UBND ngày 20/12/2018 của UBND tỉnh về việc ban hành đơn giá dịch vụ đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (dạng riêng lẻ) trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

     Quyết định bãi bỏ có hiệu lực kể từ ngày 20/7/2020.

     Đính kèm Quyết định số 15/2020/QĐ-UBND và Quyết định số 34/2018/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh./.

     Quyet dinh 15.2020.QD.UBND.pdf

     Quyet dinh 34.2018.QD.UBND.pdf

FalseTrần Thị Kim Yến
Quy định mức thu, nộp phí trong lĩnh vực y tếThông tinTinQuy định mức thu, nộp phí trong lĩnh vực y tế/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
7/14/2020 11:00 AMNoĐã ban hành

​     Ngày 08/7/2020, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 64/2020/TT-BTC về việc quy định mức thu, nộp phí trong lĩnh vực y tế. Theo đó, tổ chức, cá nhân phải nộp Phí thẩm định cấp tiếp nhận, nhập khẩu, xuất khẩu, xác nhận trong lĩnh vực chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn trong gia dụng và y tế; Phí thẩm định hoạt động, tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề thuộc lĩnh vực y tế bằng 70% mức thu phí quy định tại Điều 1 Thông tư số 11/2020/TT-BTC ngày 20 tháng 02 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 278/2016/TT-BTC ngày 14 tháng 11 năm 2016 quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí trong lĩnh vực y tế. Bên cạnh đó nộp phí bằng 70% mức thu phí quy định tại Phần II; Phần III; các Mục 2, 3, 5, 6, 7, 8 và 9 Phần IV; Phần V Biểu mức thu phí trong lĩnh vực y tế ban hành kèm theo Thông tư số 278/2016/TT-BTC ngày 14 tháng 11 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí trong lĩnh vực y tế.

     Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2021 trở đi, nộp phí trong lĩnh vực y tế theo quy định tại Điều 1 Thông tư số 11/2020/TT-BTC và Biểu mức thu phí trong lĩnh vực y tế ban hành kèm theo Thông tư số 278/2016/TT-BTC.

     Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 08/7/2020 đến hết ngày 31/12/2020./.​

Thongtu64.2020.pdf

FalseHuỳnh Hữu Tốt
Tập huấn về đánh giá tác động và phản biện chính sách, đánh giá tác động của chính sách về xã hội, về giớiThông tinTinTập huấn về đánh giá tác động và phản biện chính sách, đánh giá tác động của chính sách về xã hội, về giới/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Trong 02 ngày (02-03/7/2020), tại Hà Nội, được sự hỗ trợ của Dự án GIZ Mục tiêu Xã hội trong Tăng trưởng xanh bền vững tại Việt Nam, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tổ chức Hội nghị tập huấn về một số nghiệp vụ pháp chế với chủ đề “Đánh giá tác động và phản biện chính sách, đánh giá tác động của chính sách về xã hội, về giới” cho đại diện một số tổ chức pháp chế Bộ, ngành, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp ở Trung ương. Ông Michael Krakowski, Giám đốc Chương trình Cải cách kinh tế vĩ mô/Tăng trưởng xanh GIZ; ông Nguyễn Hồng Tuyến, Vụ trưởng Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật (Bộ Tư pháp) và ông Ngô Hoàng, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đồng chủ trì Hội nghị.
7/7/2020 4:00 PMNoĐã ban hành

​​Phát biểu khai mạc Hội nghị, ông Nguyễn Hồng Tuyến, Vụ trưởng Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật (Bộ Tư pháp) cho biết, thực hiện quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, thời gian qua công tác tham gia, góp ý của các Bộ, ngành, đặc biệt là các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp đối với các chính sách trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật còn nhiều bất cập, khó khăn, vướng mắc. Thấy được tồn tại đó, Bộ Chính trị đã chỉ đạo tại Thông báo số 160-TB/TW về việc xem xét bổ sung quy định về công tác phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vào dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị, nội dung phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã được thể chế hóa đầy đủ tại Điều 6 về tham gia góp ý kiến xây dựng văn bản và thực hiện phản biện xã hội đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây cũng là lần đầu tiên phản biện xã hội được coi là một quy trình trong quá trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đảm bảo thống nhất với Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Luật sửa đổi, bổ sung Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã  được Quốc hội thông qua vào ngày 18/6/2020 vừa qua tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV.


Tại Hội nghị tập huấn, các đại biểu đã được nghe các chuyên gia trình bày về một số vấn đề pháp lý liên quan đến việc tham gia góp ý của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp vào quá trình xây dựng chính sách pháp luật và đánh giá tác động chính sách trên khía cạnh kinh tế, xã hội, hệ thống pháp luật, giới và thủ tục hành chính. Bên cạnh đó, các đại biểu cũng tập trung thảo luận theo Tổ về các ví dụ thực hành và chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn của việc tham gia góp ý vào quá trình xây dựng chính sách pháp luật và đánh giá tác động chính sách trên khía cạnh này tại cơ quan, đơn vị mình.
 
Hội nghị tập huấn về đánh giá tác động và phản biện chính sách, đánh giá tác động của chính sách về xã hội, về giới này chính là bước chuẩn bị căn bản, chuyên sâu, là cơ hội tốt để góp phần nâng cao năng lực cho người làm công tác pháp chế tại tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp về các nghiệp vụ đánh giá tác động chính sách và phản biện chính sách, đặc biệt là phản biện xã hội để các đại biểu có thể vận dụng, triển khai việc góp ý, phản biện thật tốt các văn bản quy phạm pháp luật ngay sau khi Luật sửa đổi, bổ sung Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2021./.
Nguồn: Bộ Tư pháp​
FalseLê Thị Phương
Chương trình bồi dưỡng kiến thức pháp luật với chuyên đề "Kỹ năng soạn thảo văn bản quản lý nhà nước, viết báo cáo, lập và quản lý hồ sơ" khu vực phía NamThông tinTinChương trình bồi dưỡng kiến thức pháp luật với chuyên đề "Kỹ năng soạn thảo văn bản quản lý nhà nước, viết báo cáo, lập và quản lý hồ sơ" khu vực phía Nam/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
7/6/2020 5:00 PMNoĐã ban hành

     Ngày 02 và 03/7/2020, tại thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm Thông tin, Hỗ trợ pháp luật thuộc Cục Công tác phía Nam - Bộ Tư pháp tổ chức Chương trình tập huấn "kiến thức pháp luật và kỹ năng soạn thảo văn bản quản lý nhà nước, viết báo cáo, lập và quản lý hồ sơ" cho cán bộ, công chức, viên chức đến từ các Sở, ban, ngành khu vực miền Trung, Tây Nguyên và Nam bộ.

     Nội dung tập huấn được triển khai bởi báo cáo viên TS. Nguyễn Quỳnh Liên, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp luật hình sự - hành chính, Bộ Tư pháp.

ảnh toàn cảnh resize.jpg

     Trong 02 ngày tập huấn, TS. Nguyễn Quỳnh Liên đã chia sẻ các vấn đề liên quan đến công tác xây dựng, ban hành văn bản quản lý nhà nước; quy trình lập đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh; đánh giá tác động của chính sách; thẩm định đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật; thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật; điều kiện bảo đảm cho công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật và rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật;… Trong từng nội dung tập huấn, báo cáo viên chú trọng vào việc trao đổi, học viên đặt câu hỏi và báo cáo viên giải đáp nhằm tập trung giải quyết những khó khăn, vướng mắc mà học viên gặp phải trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

ceb6157e62059e5bc714.jpg

7d46bb196d62913cc873.jpg

     Kết thúc Chương trình bồi dưỡng, học viên đã được cấp Giấy chứng nhận hoàn thành Chương trình Bồi dưỡng kiến thức pháp luật chuyên sâu về soạn thảo văn bản quản lý nhà nước, viết báo cáo, lập và quản lý hồ sơ./.

FalseTrần Thị Kim Yến
Không cải chính nội dung trên giấy tờ hộ tịch đã được cấp hợp lệ nhằm hợp thức hóa thông tin trên hồ sơ, giấy tờ cá nhân khácThông tinTinKhông cải chính nội dung trên giấy tờ hộ tịch đã được cấp hợp lệ nhằm hợp thức hóa thông tin trên hồ sơ, giấy tờ cá nhân khác/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
7/6/2020 2:00 PMNoĐã ban hành

      Đó là một trong những nội dung mới được quy định tại Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch.

Theo đó, việc cải chính hộ tịch chỉ được giải quyết sau khi xác định có sai sót khi đăng ký hộ tịch; không cải chính nội dung trên giấy tờ hộ tịch đã được cấp hợp lệ nhằm hợp thức hóa thông tin trên hồ sơ, giấy tờ cá nhân khác. Sai sót trong đăng ký hộ tịch là sai sót của người đi đăng ký hộ tịch hoặc sai sót của cơ quan đăng ký hộ tịch (Điều 17 Thông tư số 04/2020/TT-BTP).

      Ngoài ra, Thông tư số 04/2020/TT-BTP còn quy định chi tiết một số điều của Luật hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP về việc ủy quyền đăng ký hộ tịch; việc tiếp nhận hồ sơ, trả kết quả đăng ký hộ tịch; trình tự, thủ tục đăng ký khai sinh, kết hôn, khai tử, nhận cha, mẹ, con và một số việc hộ tịch khác; việc đăng ký khai sinh, kết hôn, khai tử lưu động; ban hành, hướng dẫn sử dụng, quản lý Sổ hộ tịch, giấy tờ hộ tịch.

      Hồ sơ yêu cầu đăng ký hộ tịch do cơ quan đăng ký hộ tịch tiếp nhận trước ngày Thông tư này có hiệu lực mà chưa giải quyết xong thì tiếp tục được giải quyết theo quy định của Thông tư số 15/2015/TT-BTP. Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn, Sổ hộ tịch theo mẫu ban hành kèm theo Thông tư số 15/2015/TT-BTP đang sử dụng tại các cơ quan đăng ký hộ tịch được tiếp tục sử dụng đến hết ngày 31/12/2020.  Các trường hợp yêu cầu đăng ký hộ tịch khác tiếp nhận kể từ thời điểm Thông tư có hiệu lực thi hành được cấp giấy tờ hộ tịch theo mẫu ban hành kèm theo Thông tư này.

      Thông tư này có hiệu lực từ ngày 16/7/2020 và thay thế Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch./.

     file đính kèm: Thongtu04.pdf

FalseHuỳnh Hữu Tốt
Một số nội dung nổi bật tại Nghị định số 45/2020/NĐ-CP ngày 08/4/2020 của Chính phủ về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tửThông tinMột số nội dung nổi bật tại Nghị định số 45/2020/NĐ-CP ngày 08/4/2020 của Chính phủ về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/25/2020 3:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 08/4/2020, Chính phủ ban hành Nghị định số 45/2020/NĐ-CP về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 22/5/2020.
       Nghị định này quy định về trình tự thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử.Cụ thể, công dân, tổ chức có thể đăng ký tài khoản thực hiện thủ tục hành chính và hồ sơ điện tử thực hiện thủ tục hành chính, yêu cầu cấp bản sao điện tử có giá trị pháp lý, thanh toán trực tuyến nghĩa vụ tài chính trong giải quyết thủ tục hành chính và nhận kết quả giải quyết thủ tục hành chính theo quy định tại văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành, đồng thời nhận kết quả giải quyết thủ tục hành chính bản điện tử.

Kết quả giải quyết thủ tục hành chính bản điện tử của cơ quan có thẩm quyền có giá trị pháp lý như kết quả giải quyết thủ tục hành chính bằng văn bản giấy. Nghị định còn quy định quyền, nghĩa vụ và các hành vi không được làm của tổ chức, cá nhân có yêu cầu thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử;  trách nhiệm và hành vi không được làm của cán bộ, công công chức, viên chức tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường điện tử./.

                                                                                    Huỳnh Hữu Tốt

45.signed.pdf

FalseHuỳnh Hữu Tốt
Sửa đổi, bổ sung Nghị định về quản lý, phát triển cụm công nghiệpThông tinTinSửa đổi, bổ sung Nghị định về quản lý, phát triển cụm công nghiệp/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/24/2020 5:00 PMNoĐã ban hành

Chính phủ vừa mới ban hành Nghị định số 66/2020/NĐ-CP ngày 11 tháng 6 năm 2020 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2017/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2017 của Chính phủ về quản lý, phát triển cụm công nghiệp. Theo đó, về phạm vi điều chỉnh, Nghị định này quy định về phương án phát triển cụm công nghiệp; thành lập, mở rộng cụm công nghiệp; đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật và sản xuất kinh doanh trong cụm công nghiệp; chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển cụm công nghiệp và quản lý nhà nước đối với cụm công nghiệp.

Ngoài ra, Nghị định số 66/2020/NĐ-CP còn sửa đổi, bổ sung một số nội dung về: Phương án phát triển cụm công nghiệp; Xây dựng, tích hợp phương án phát triển cụm công nghiệp vào quy hoạch tỉnh; Cơ sở điều chỉnh phương án phát triển cụm công nghiệp; Nội dung báo cáo điều chỉnh phương án phát triển cụm công nghiệp; Xây dựng, tích hợp điều chỉnh phương án phát triển cụm công nghiệp vào điều chỉnh quy hoạch tỉnh; Điều kiện thành lập, mở rộng cụm công nghiệp; Chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp; Quyền hạn, trách nhiệm của Bộ Công Thương; Quyền hạn, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Đồng thời, thay đổi cụm từ "quy hoạch" bằng cụm từ "phương án phát triển", "xây dựng phương án phát triển" và "phương án phát triển cụm công nghiệp" tại một số khoản, Điều và Chương của Nghị định số 68/2017/NĐ-CP cho phù hợp với quy định của Luật Quy hoạch và Nghị quyết số 751/2019/UBTVQH14 ngày 16/8/2019 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội giải thích một số điều của Luật Quy hoạch.

Quy hoạch phát triển cụm công nghiệp trên địa bàn cấp tỉnh đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt trước ngày 01 tháng 01 năm 2019, trong quá trình thực hiện được tiếp tục điều chỉnh, bổ sung theo quy định về quản lý quy hoạch phát triển cụm công nghiệp tại Nghị định số 68/2017/NĐ-CP cho đến khi quy hoạch tỉnh được phê duyệt theo quy định của pháp luật quy hoạch.

Nghị định số 66/2020/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/8/2020./.


Nghidinh66-2020.pdf    

                                                                                 Huỳnh Hữu Tốt

FalseHuỳnh Hữu Tốt
Từ 1-7- 2020, nhiều chính sách mới liên quan đến cán bộ, công chức, viên chức có hiệu lựcThông tinTinTừ 1-7- 2020, nhiều chính sách mới liên quan đến cán bộ, công chức, viên chức có hiệu lực/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
NLĐO) - Từ ngày 1-7-2020, có nhiều thay đổi lớn liên quan đến tiền lương, việc làm của cán bộ, công chức, viên chức
6/24/2020 9:00 AMNoĐã ban hành

1. Chỉ còn 3 trường hợp viên chức có biên chế suốt đời

Từ 1-7-2020, hợp đồng làm việc không xác định thời hạn chỉ còn được áp dụng với 03 trường hợp sau:

- Viên chức được tuyển dụng trước ngày 1-7-2020.

- Cán bộ, công chức chuyển thành viên chức.

- Người được tuyển dụng làm viên chức làm việc tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Trước đây, theo quy định của Luật viên chức 2010 thì sau khi viên chức đã thực hiện xong hợp đồng xác định thời hạn và tiếp tục ký hợp đồng sẽ được ký hợp đồng không xác định thời hạn (thường gọi là biên chế suốt đời).

2. Kéo dài thời hạn tối đa của hợp đồng làm việc xác định thời hạn với viên chức lên 60 tháng

- Hiện hành: Theo quy định tại Luật viên chức 2010 thì Hợp đồng làm việc xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng.

3. Tốt nghiệp đại học loại xuất sắc có thể được xét tuyển vào công chức

Theo Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức sửa đổi 2019, việc tuyển dụng công chức thông qua xét tuyển được thực hiện theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng công chức đối với từng nhóm đối tượng sau đây:

- Cam kết tình nguyện làm việc từ 05 năm trở lên ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

- Người học theo chế độ cử tuyển theo quy định của Luật giáo dục, sau khi tốt nghiệp về công tác tại địa phương nơi cử đi học.

- Sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, nhà khoa học trẻ tài năng.

Hiện hành, chỉ người có đủ điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 36 Luật Cán bộ, công chức 2008 cam kết tình nguyện làm việc từ 05 năm trở lên ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì mới được tuyển dụng thông qua xét tuyển.- Từ 01/7/2020: Hợp đồng làm việc xác định thời hạn có là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 60 tháng.

4. Sẽ có thêm ngạch công chức mới do Chính phủ quy định

Bổ sung thêm 1 loại ngạch công chức, ngạch này do Chính phủ quy định bên cạnh các ngạch Chuyên viên chính và tương đương, Chuyên viên và tương đương,Cán sự và tương đương, Nhân viên.

5. Luật hóa quy định về tiếp nhận công chức không qua thi tuyển, xét tuyển

- Hiện hành: Luật quy định 2 hình thức là thi tuyển, xét tuyển, Thông tư 03/2019/TT-BNV quy định về tiếp nhận đối với các trường hợp đặc biệt trong tuyển dụng công chức.

- Từ 1-7-2020: Luật quy định hình thức tiếp nhận không thông qua thi tuyển, xét tuyển, cụ thể đối với:

+ Viên chức công tác tại đơn vị sự nghiệp công lập.

+ Cán bộ, công chức cấp xã;

+ Người hưởng lương trong lực lượng vũ trang nhân dân, người làm việc trong tổ chức cơ yếu nhưng không phải là công chức;

+ Tiếp nhận để bổ nhiệm làm công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý đối với 1 số chức vụ được quy định chi tiết tại Điều 37 Luật Cán bộ, công chức 2008 (Đã được sửa đổi, bổ sung).

+ Người đã từng là cán bộ, công chức sau đó được cấp có thẩm quyền điều động, luân chuyển giữ các vị trí công tác không phải là cán bộ, công chức tại các cơ quan, tổ chức khác.

6. Nới lỏng điều kiện xem xét viên chức nghỉ hưu

Về việc xem xét nghỉ hưu của viên chức:

- Hiện hành, Luật viên chức 2010 quy định sẽ không giải quyết nghỉ hưu cho viên chức đang trong thời hạn xử lý kỷ luật, đang bị điều tra, truy tố, xét xử thì từ 1-7-2020, Luật mới đã loại bỏ nội dung "không giải quyết nghỉ hưu" ra khỏi điều luật.

- Khi viên chức bị khiển trách hoặc cảnh cáo vẫn có thể được bổ nhiệm lại nhưng không được bổ nhiệm vào chức vụ cao hơn trong thời hạn 12 tháng. Trong khi, hiện nay đang quy định "không bổ nhiệm trong thời hạn 12 tháng.

Như vậy, khi đang trong thời hạn xử lý kỷ luật, viên chức vẫn được xem xét giải quyết nghỉ hưu và trong thời hạn 12 tháng vẫn có thể được bổ nhiệm lại hoặc bố trí chức vụ thấp hơn.

7. Công khai kết quả đánh giá cán bộ, công chức ở nơi làm việc

Đây là một trong những điểm mới của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức sửa đổi 2019.

Theo đó, kết quả xếp loại chất lượng cán bộ được lưu vào hồ sơ cán bộ, thông báo đến cán bộ được đánh giá và công khai trong cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi cán bộ công tác.

Tong khi theo quy định hiện hành, kết quả chỉ được lưu vào hồ sơ và thông báo đến cán bộ, công chức được đánh giá.

9. Đánh giá viên chức thông qua công việc, sản phẩm cụ thể

Hiện hành,  Điều 41 Luật Viên chức nêu rõ, việc đánh giá viên chức chỉ được xem xét ở kết quả thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ theo hợp đồng làm việc đã ký kết; thái độ phục vụ nhân dân…

Từ 1-7-2020, một trong những nội dung đánh giá công chức đó là đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phải gắn với vị trí việc làm, thể hiện thông qua công việc, sản phẩm cụ thể.

10. Lương cơ sở vẫn giữ mức 1.490.000 đồng/tháng 

Tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV vừa bế mạc, Quốc hội đã quyết định chưa tăng lương cơ sở từ 1.7.2020.

Đồng thời, giao Chính phủ, căn cứ tình hình thực tế để chủ động báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thời điểm điều chỉnh mức lương cơ sở.

Như vậy, từ 1-7-2020, lương cơ sở giữ mức 1.490.000 đồng/tháng theo quy định tại Điều 3 Nghị định 38/2019/NĐ-CP ngày 09/5/2019; với việc mức lương cơ sở giữ nguyên thì các khoản khác tính theo lương cơ sở cũng sẽ giữ nguyên.

11. Sẽ không còn công chức là lãnh đạo đơn vị sự nghiệp công lập nói chung

Theo Luật Cán bộ, công chức 2008 , người làm việc trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập được xem là công chức.

Tuy nhiên, theo Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức sửa đổi 2019 (có hiệu lực từ 1-7-2020) thì khái niệm công chức không còn đối tượng công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội.

T.Ngôn ẢNH: HOÀNG TRIỀU

Nguồn: https://nld.com.vn/cong-doan/tu-1-7-2020-nhieu-chinh-sach-moi-lien-quan-den-can-bo-cong-chuc-vien-chuc-co-hieu-luc-20200623085745459.htm

FalseHuỳnh Hữu Tốt
Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật Thông tin; Tin ngành tư phápTinQuốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật /CMSImageNew/2020-06/18062020quochoithongqualuat_Key_23062020090636.jpg
Tiếp tục Kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XIV, sáng ngày 18/6, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu, Quốc hội biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
6/22/2020 6:00 PMYesĐã ban hành

Kết quả cho thấy, 92,96% đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành với việc thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu nêu rõ: Với đa số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành, Quốc hội chính thức thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Trước đó, Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật do Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội Hoàng Thanh Tùng trình bày nêu rõ: Ngày 22/5/2020, Quốc hội đã thảo luận trực tuyến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Luật BHVBQPPL). Về cơ bản, các vị đại biểu Quốc hội (ĐBQH) tán thành với Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý và nhiều nội dung của dự thảo Luật; đồng thời đóng góp thêm ý kiến về một số điều, khoản cụ thể. Trên cơ sở ý kiến của các vị ĐBQH, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo các cơ quan hữu quan nghiên cứu, tiếp thu để chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo Luật.

Về phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL): Có ý kiến đề nghị quy định rõ hơn về thời gian cơ quan chủ trì soạn thảo gửi văn bản tới Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN) và phạm vi, chủ thể, thời hạn thực hiện phản biện xã hội của MTTQVN để bảo đảm tính khả thi.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội báo cáo như sau: hiện nay, việc phản biện xã hội đối với dự thảo VBQPPL đang được thực hiện theo quy định của Luật MTTQVN. Dự thảo Luật đã tiếp thu, bổ sung quy định về hoạt động phản biện xã hội của MTTQVN và các tổ chức thành viên trong quy trình xây dựng, ban hành VBQPPL tại Điều 6. Các vấn đề về thời gian gửi văn bản, phạm vi, chủ thể, thời hạn phản biện xã hội thuộc trình tự, thủ tục thực hiện phản biện xã hội, hiện đang được quy định tại Nghị quyết liên tịch số 403/2017/NQLT-UBTVQH14-CP-ĐCTUBTWMTTQVN. Do đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin tiếp thu ý kiến của các ĐBQH để chỉ đạo các cơ quan liên quan rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung, quy định rõ trong Nghị quyết liên tịch số 403.

Về việc thẩm tra dự án luật, pháp lệnh: Có ý kiến đề nghị Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội chỉ nên có ý kiến mà không nên quy định trách nhiệm thẩm tra đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh và tham gia thẩm tra dự án, dự thảo thuộc lĩnh vực phụ trách.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội báo cáo: Theo quy định của Hiến pháp và Luật Tổ chức Quốc hội, Hội đồng Dân tộc (HĐDT), Ủy ban của Quốc hội có nhiệm vụ thẩm tra các dự án luật thuộc lĩnh vực phụ trách nhằm bảo đảm tất cả các nội dung liên quan của dự án luật đều được xem xét để báo cáo Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tương tự như vậy, trong việc thẩm tra đề nghị xây dựng luật, ngoài trách nhiệm chung của Ủy ban Pháp luật thì rất cần ý kiến thẩm tra chuyên môn sâu của HĐDT, Ủy ban khác của Quốc hội với vai trò là cơ quan phụ trách lĩnh vực. Đây cũng là sự đổi mới hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội trong công tác lập Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh từ đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV nhằm nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật và đã đạt được những kết quả tích cực. Việc quy định như vậy cũng là nhằm đề cao, làm rõ hơn trách nhiệm của các cơ quan tham gia trong quy trình xây dựng, ban hành luật như yêu cầu của Ban Bí thư tại Thông báo số 26-TB/TW ngày 19/4/2017.

Có ý kiến đề nghị bổ sung vào khoản 1 Điều 64 quy định hồ sơ dự án, dự thảo gửi thẩm tra phải bao gồm "Báo cáo việc bảo đảm chính sách dân tộc, nếu trong dự án, dự thảo có quy định liên quan đến vấn đề dân tộc". Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận thấy, đối với các dự án, dự thảo có quy định liên quan đến vấn đề dân tộc thì việc bảo đảm chính sách dân tộc là nội dung quan trọng, phải được xem xét, đánh giá tác động cùng với các chính sách cơ bản khác ngay từ khi lập đề nghị xây dựng văn bản và được lồng ghép thể hiện trong Báo cáo đánh giá tác động của chính sách, nội dung cơ bản của dự án, dự thảo. Do đó, tiếp thu ý kiến ĐBQH, tại khoản 2 Điều 55 dự thảo Luật đã bổ sung quy định Tờ trình phải thể hiện rõ các nội dung cơ bản của dự án, dự thảo, trong đó bao gồm việc bảo đảm chính sách dân tộc mà không quy định phải có báo cáo riêng.

Về văn bản quy định chi tiết luật, pháp lệnh: Một số ý kiến đề nghị không quy định hồ sơ dự án luật, pháp lệnh phải có dự thảo văn bản quy định chi tiết. Các ý kiến khác đề nghị giữ quy định của Luật hiện hành để bảo đảm việc ban hành văn bản quy định chi tiết được kịp thời, tránh nợ đọng văn bản, bảo đảm luật có hiệu lực là thi hành ngay.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội báo cáo: Luật BHVBQPPL năm 1996 được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2002 đã quy định hồ sơ dự án luật trình Quốc hội phải có dự thảo văn bản quy định chi tiết. Luật BHVBQPPL năm 2008 đã bỏ quy định này. Tuy nhiên, năm 2013, qua giám sát tối cao việc ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành luật, Quốc hội thấy rằng tình trạng nợ đọng, chậm ban hành văn bản quy định chi tiết có xu hướng gia tăng, dẫn đến luật chậm được triển khai thực hiện. Do đó, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 67/2013/QH13 yêu cầu trong hồ sơ dự án luật phải trình kèm theo dự thảo văn bản quy định chi tiết. Quy định này tiếp tục được thể hiện trong Luật BHVBQPPL năm 2015 (khoản 2 Điều 11) và kết quả thực hiện thời gian qua cho thấy hiệu quả rõ rệt. Việc yêu cầu phải có dự thảo văn bản quy định chi tiết kèm theo hồ sơ dự án luật giúp cơ quan soạn thảo, cơ quan trình dự án cũng như các cơ quan của Quốc hội, ĐBQH có cơ sở để xem xét, đánh giá toàn diện các vấn đề được dự kiến điều chỉnh và áp dụng khi luật được ban hành để quyết định việc thông qua, nhất là bảo đảm để các chính sách quy định trong luật được cụ thể hóa một cách nhất quán. Mặt khác, qua xem xét, nghiên cứu dự thảo văn bản quy định chi tiết, Quốc hội đã đưa một số nội dung của văn bản quy định chi tiết thành quy định của luật, bảo đảm luật hóa tối đa để thi hành được ngay khi luật có hiệu lực. Vì vậy, đề nghị Quốc hội cho giữ quy định về vấn đề này như Luật hiện hành. Đồng thời, tiếp thu ý kiến của các vị ĐBQH, đề nghị cơ quan trình, cơ quan soạn thảo thời gian tới cần quan tâm hơn nữa việc chuẩn bị dự thảo văn bản quy định chi tiết nhằm bảo đảm chất lượng văn bản, tránh hình thức, lãng phí.

Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định trường hợp luật giao chính quyền địa phương ban hành văn bản quy định chi tiết thì thời điểm luật có hiệu lực sau khi được ban hành cần dài hơn để chính quyền địa phương có đủ thời gian xây dựng, ban hành văn bản. Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận thấy, các dự thảo luật khi trình Quốc hội đều dự kiến thời gian có hiệu lực, trong đó cơ quan trình đã cân nhắc, tính toán đến việc xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết. Về vấn đề đại biểu nêu, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin được tiếp thu để chỉ đạo các cơ quan trong quá trình soạn thảo, chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo luật cần lưu ý, dự liệu thời điểm có hiệu lực của luật phù hợp hơn, bảo đảm đủ thời gian cho các cơ quan, địa phương thực hiện.

Về quy định thủ tục hành chính trong VBQPPL: Có ý kiến đề nghị quy định Hội đồng Nhân dân (HĐND) cấp tỉnh có thể giao Ủy ban Nhân dân (UBND) cấp tỉnh quy định thủ tục hành chính để tổ chức thực hiện nghị quyết của HĐND trong trường hợp cần thiết.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận thấy, các quy định thủ tục hành chính có tác động trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, do đó về nguyên tắc phải được quy định cụ thể trong luật, trường hợp cần thiết mới quy định trong nghị định của Chính phủ; riêng đối với nghị quyết của HĐND, quyết định của UBND thì chỉ được quy định thủ tục hành chính trong trường hợp được luật giao. Trong sửa đổi Luật lần này, để khắc phục một số vướng mắc đã được nhận diện qua tổng kết thực tiễn, dự thảo Luật đã cho phép HĐND cấp tỉnh được quy định thủ tục hành chính khi ban hành nghị quyết để quy định biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Nếu cho phép HĐND cấp tỉnh tiếp tục "ủy quyền" cho UBND cấp tỉnh quy định thủ tục hành chính để thực hiện nghị quyết của HĐND sẽ mở rộng thêm chủ thể, thêm hình thức văn bản quy định về thủ tục hành chính. Vì vậy, đề nghị Quốc hội cho giữ quy định về vấn đề này như dự thảo Luật.

Về thẩm quyền ban hành VBQPPL của HĐND và UBND cấp huyện, cấp xã (Điều 30): Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định HĐND và UBND cấp huyện, cấp xã được ban hành VBQPPL để quyết định những vấn đề được phân quyền, để thực hiện phân cấp hoặc quy định những biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, đặc điểm riêng của địa phương. Như đã giải trình với Quốc hội tại Báo cáo số 533/BC-UBTVQH14 ngày 20/5/2020, việc chính quyền địa phương cấp huyện, cấp xã ban hành VBQPPL để quyết định những vấn đề đặc thù ở địa phương không phải là phổ biến, chỉ phát sinh ở một số ít địa phương và thực tế đã có giải pháp để xử lý.

Đối với trường hợp luật phân quyền cho chính quyền địa phương cấp huyện, cấp xã, nếu cần thiết ban hành VBQPPL để thực hiện thì luật phải giao cụ thể, do đó đây không phải là vấn đề mới. Riêng trường hợp HĐND, UBND cấp huyện ban hành VBQPPL để phân cấp cho chính quyền địa phương, cơ quan nhà nước cấp dưới theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương thì chưa được quy định trong Luật BHVBQPPL. Vì vậy, tiếp thu ý kiến ĐBQH, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã cho bổ sung quy định chính quyền địa phương cấp huyện được ban hành VBQPPL để phân cấp cho cấp dưới như thể hiện tại Điều 30 của dự thảo Luật.

Về trình tự xem xét, thông qua dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự thảo pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Có ý kiến đề nghị trong trình tự xem xét, thông qua dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết tại một kỳ họp của Quốc hội, một phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần bổ sung quy định về đánh giá tác động đối với chính sách mới do ĐBQH đề nghị bổ sung vào dự án, dự thảo (tương tự như quy trình tại hai kỳ họp).

Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận thấy, thời gian một kỳ họp Quốc hội, một phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thường rất ngắn. Các dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết được trình xem xét, thông qua theo quy trình tại một kỳ họp Quốc hội, một phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ bản đã có sự thống nhất cao về nội dung giữa cơ quan thẩm tra, cơ quan trình và sự đồng thuận của các vị ĐBQH. Trường hợp có chính sách mới quan trọng, được ĐBQH đề xuất, cần đánh giá tác động thì phải có thời gian để thực hiện. Do đó, trong trường hợp này, tiếp thu ý kiến ĐBQH, Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ báo cáo Quốc hội xem xét, cho lùi thời gian thông qua dự án, dự thảo sang kỳ họp sau theo quy trình hai kỳ họp Quốc hội, hoặc quyết định sang phiên họp khác của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Về xây dựng, ban hành thông tư liên tịch (Điều 110): Có ý kiến đề nghị quy định việc đăng tải dự thảo thông tư liên tịch trên cổng thông tin điện tử của các cơ quan cùng tham gia soạn thảo và ban hành văn bản này. Ủy ban Thường vụ Quốc hội báo cáo: đối với văn bản liên tịch, Luật BHVBQPPL quy định giao cho một cơ quan chịu trách nhiệm làm đầu mối, chủ trì soạn thảo và thực hiện các thủ tục cần thiết bao gồm cả việc đăng tải dự thảo trên cổng thông tin điện tử của cơ quan để xin ý kiến. Việc quy định như vậy là để bảo đảm đơn giản về thủ tục, thuận tiện trong tổ chức công việc, tránh một việc do nhiều cơ quan thực hiện, đồng thời rõ ràng về trách nhiệm. Vì vậy, đề nghị Quốc hội cho tiếp tục thực hiện nội dung này như Luật hiện hành.

Về việc đánh giá tác động của chính sách đối với dự thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh (Điều 119): Có ý kiến đề nghị chỉ thực hiện việc đánh giá tác động của chính sách đối với dự thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh có quy định chính sách; bổ sung từ "nếu có" vào cuối khoản 1a Điều 119 và tại một số điều, khoản khác của dự thảo Luật.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận thấy, việc đánh giá tác động của chính sách đối với dự thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh theo quy định của Luật hiện hành được thực hiện từ giai đoạn lập đề nghị xây dựng nghị quyết. Tuy nhiên, qua tổng kết 03 năm thi hành Luật, Chính phủ nhận thấy, quy trình này làm kéo dài thời gian ban hành văn bản, hạn chế khả năng phản ứng nhanh của chính quyền địa phương trong quản lý, điều hành kinh tế - xã hội. Do đó, để phù hợp hơn với điều kiện thực tế, tạo thuận lợi cho địa phương nhưng vẫn bảo đảm chất lượng xây dựng văn bản, dự thảo Luật đã sửa đổi theo hướng chuyển quy trình đánh giá tác động của chính sách từ giai đoạn lập đề nghị sang giai đoạn soạn thảo nghị quyết nhằm xem xét, đánh giá toàn diện các vấn đề trước khi trình cơ quan có thẩm quyền quyết định. Vì vậy, đề nghị Quốc hội cho giữ quy định về vấn đề này trong dự thảo Luật.

Về thẩm định dự thảo nghị quyết do UBND cấp tỉnh trình (Điều 121): Có ý kiến đề nghị nâng thời hạn thẩm định của Sở Tư pháp từ 10 ngày lên thành 15 ngày hoặc quy định kéo dài thời hạn thẩm định trong trường hợp cần thiết. Tiếp thu ý kiến của ĐBQH, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã cho chỉnh lý tăng thời hạn thẩm định của Sở Tư pháp lên 15 ngày, đồng thời tăng thời hạn gửi hồ sơ từ 20 ngày lên 25 ngày trước ngày UBND cấp tỉnh họp như quy định tại Điều 121 của dự thảo Luật. Bên cạnh đó, tại Điều 134 và Điều 139 của dự thảo Luật cũng được điều chỉnh tăng thời hạn thẩm định của Phòng Tư pháp thuộc UBND cấp huyện, thời hạn gửi hồ sơ thẩm định tương ứng để bảo đảm tính thống nhất trong dự thảo Luật.

Về thẩm định dự thảo quyết định của UBND cấp tỉnh (Điều 130): Có ý kiến đề nghị không quy định thành lập hội đồng thẩm định đối với dự thảo quyết định do Sở Tư pháp chủ trì soạn thảo có nội dung đơn giản; đề nghị quy định cụ thể trường hợp có thể không phải thành lập hội đồng thẩm định để thẩm định dự thảo quyết định của UBND cấp tỉnh.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận thấy, theo quy định hiện hành, thẩm định là một khâu bắt buộc trong quy trình xây dựng VBQPPL. Mục đích của hoạt động thẩm định là xem xét, phản biện một cách độc lập đối với dự thảo văn bản để báo cáo cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định việc ban hành. Trách nhiệm thẩm định hiện nay đang được giao cho cơ quan tư pháp, pháp chế ở địa phương. Đối với văn bản do Sở Tư pháp chủ trì soạn thảo, để bảo đảm tính khách quan thì việc thành lập hội đồng thẩm định để tiến hành thẩm định trước khi báo cáo UBND cấp tỉnh là cần thiết. Vì vậy, đề nghị Quốc hội cho phép không sửa đổi quy định này.

Về ngưng hiệu lực của VBQPPL (Điều 153): Có ý kiến đề nghị trong trường hợp không thể triệu tập họp HĐND thì có thể giao Thường trực HĐND ban hành văn bản hành chính để ngưng hiệu lực nghị quyết của HĐND cùng cấp và báo cáo HĐND tại kỳ họp gần nhất.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội báo cáo: việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền tuyên bố một VBQPPL hết hiệu lực thi hành, ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần về nguyên tắc phải do chính cơ quan đã ban hành VBQPPL đó hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp trên thực hiện. Do đó, việc giao Thường trực HĐND ban hành văn bản hành chính để ngưng hiệu lực nghị quyết của HĐND cùng cấp là không phù hợp.

Về xử lý mâu thuẫn, xung đột pháp luật: Có ý kiến đề nghị dự thảo Luật cần cụ thể hóa cơ chế bảo hiến trong Hiến pháp hoặc bổ sung quy định về trách nhiệm của Tòa án nhân dân tối cao trong việc xử lý xung đột, mâu thuẫn trong áp dụng nguyên tắc tại Điều 12 và Điều 156 của Luật BHVBQPPL. Có ý kiến đề nghị tại Điều 156 bổ sung quy định "trường hợp văn bản quy phạm pháp luật ban hành trước có quy định ưu tiên áp dụng pháp luật đối với vấn đề đó thì áp dụng quy định của văn bản ban hành trước".

Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận thấy, nguyên nhân chủ yếu của tình trạng còn xảy ra một số mâu thuẫn, chồng chéo trong quy định giữa các luật là do ngay từ giai đoạn tổng kết, đánh giá, xây dựng dự thảo văn bản mới, các cơ quan liên quan chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm trong việc rà soát, phát hiện và xử lý kịp thời các nội dung có quy định khác nhau trong các văn bản luật ban hành trước. Trong hệ thống pháp luật của chúng ta, nguyên tắc xử lý xung đột đã được thống nhất và áp dụng nhất quán từ Luật BHVBQPPL năm 1996 đến nay là trong trường hợp các VBQPPL do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản ban hành sau. Nếu nay bổ sung nguyên tắc "ưu tiên áp dụng pháp luật" thì sẽ mâu thuẫn với nguyên tắc nêu trên, đồng thời khi có xung đột xảy ra giữa các luật thì không có cơ sở để xác định luật nào được áp dụng. Do đó, để hạn chế và khắc phục tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo ngay từ khâu xây dựng văn bản, tiếp thu ý kiến ĐBQH, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo bổ sung vào dự thảo Luật quy định hồ sơ dự án gửi thẩm định, thẩm tra, trình Quốc hội phải có báo cáo về rà soát các VBQPPL có liên quan đến dự án, dự thảo; đồng thời bổ sung vào khoản 2 Điều 12 quy định "trường hợp VBQPPL đã ban hành có quy định khác với văn bản mới nhưng cần tiếp tục được áp dụng thì phải được chỉ rõ trong văn bản mới đó".

Về đề nghị cụ thể hóa cơ chế bảo hiến và quy định trách nhiệm của Tòa án nhân dân tối cao trong việc xử lý xung đột, mâu thuẫn pháp luật, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận thấy đây là vấn đề hệ trọng, liên quan đến cơ chế phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong thực hiện quyền lực nhà nước, cần được tiếp tục nghiên cứu thận trọng, thấu đáo cả về cơ sở lý luận và thực tiễn trước khi cụ thể hóa thành luật.

Về điều khoản thi hành: Có ý kiến đề nghị không cần thiết phải quy định chuyển tiếp trong dự thảo Luật, vì thời gian chuyển tiếp là rất ngắn và chủ yếu là tăng thêm trách nhiệm cho các cơ quan, về nguyên tắc không được áp dụng trước ngày Luật có hiệu lực. Tiếp thu ý kiến của ĐBQH, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã cho bỏ quy định chuyển tiếp trong dự thảo Luật, bảo đảm thống nhất thực hiện các quy định mới từ ngày Luật có hiệu lực.

Ngoài những vấn đề nêu trên, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo các cơ quan nghiên cứu các ý kiến của ĐBQH để tiếp thu, chỉnh lý nhiều điều, khoản cụ thể trong dự thảo Luật cả về nội dung và kỹ thuật văn bản, bảo đảm phù hợp với yêu cầu thực tế và thống nhất trong dự thảo Luật. Với Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Ủy ban Thường vụ Quốc hội trình Quốc hội xem xét, quyết định./.​

Bích Lan-Hoàng Quỳnh

Nguồn: http://quochoi.vn/tintuc/Pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.aspx?ItemID=46402

FalseĐào Thị Quyên
Bảo đảm tính công khai, minh bạch trong quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật tại Việt NamThông tinBảo đảm tính công khai, minh bạch trong quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/18/2020 3:00 PMNoĐã ban hành

Trong bối cảnh thực hiện chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền và quá trình hội nhập quốc tế, việc bảo đảm công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật ở Việt Nam luôn được coi là một yêu cầu không thể thiếu nhằm đảm bảo nguyên tắc dân chủ trong hoạt động của nhà nước và là yêu cầu bắt buộc đối với Việt Nam theo nhiều điều ước mà Việt Nam là thành viên. Đảm bảo tính công khai, minh bạch có ý nghĩa quan trọng đối với hệ thống pháp luật nói chung và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật nói riêng.
 Với mục tiêu xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, minh bạch, khả thi, dễ tiếp cận, hiệu lực và hiệu quả thì một trong những điều kiện, giải pháp cần thiết và quan trọng là phải bảo đảm tính công khai, minh bạch ngay trong quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Theo đó, bên cạnh việc quy định trình tự, thủ tục chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước với nhau thì cần bảo đảm sự tham gia của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật và quyền tiếp cận của người dân sau khi văn bản được ban hành.

Nhằm tạo khuôn khổ pháp lý thống nhất cho việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam, từ cấp trung ương đến địa phương, ngày 22/6/2015, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016. Luật năm 2015 có nhiều quy định mới mang tính đột phá so với Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004, trong đó có nhiều quy định nhằm bảo đảm tốt hơn yêu cầu công khai, minh bạch trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

1. Bảo đảm tính công khai - quyền được biết và tham gia vào quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Luật năm 2015 đã dành 09 chương (Chương III, IV, V, VI, VII, VIII, IX, X và XI) để quy định trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền từ Quốc hội, Chính phủ đến chính quyền địa phương. Căn cứ vào tính chất quan trọng và phức tạp của mỗi loại văn bản quy phạm pháp luật mà trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành mỗi loại văn bản có những điểm đặc thù riêng. Tuy nhiên, đều được quy định rõ ràng, cụ thể về quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan có liên quan, thời hạn, hồ sơ, cách thức tiến hành xây dựng, xem xét, thông qua văn bản. Theo đó, bảo đảm tính công khai được coi là một trong những yêu cầu xuyên suốt trong quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, bảo đảm sự tham gia các chuyên gia, nhà khoa học trong quá trình lập đề nghị, soạn thảo, thẩm định, thẩm tra dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật

Theo quy định tại Điều 11 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 thì trong quá trình lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan, tổ chức lập đề nghị có thể huy động sự tham gia của các viện nghiên cứu, trường đại học, hội, hiệp hội, tổ chức khác có liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học vào các hoạt động như: (1) Tổng kết, đánh giá tình hình thi hành pháp luật; rà soát đánh giá các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành; (2) Khảo sát, điều tra xã hội học; đánh giá thực trạng quan hệ xã hội có liên quan đến các chính sách trong đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; (3) Tập hợp, nghiên cứu, so sánh tài liệu, điều ước quốc tế có liên quanđến các chính sách trong đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; (4) Đánh giá tác động của chính sách trong đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

Trong giai đoạn soạn thảo, các chuyên gia, nhà khoa học được quy định là thành phần bắt buộc trong Ban soạn thảo, trong Hội đồng thẩm định, Hội đồng tư vấn thẩm định các dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Để bảo đảm tính khả thi của cơ chế huy động chuyên gia, nhà khoa học, Nghị định số 34 đã dành 1 điều (Điều 175) để quy định về điều kiện bảo đảm cho việc sử dụng chuyên gia trong quá trình lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, soạn thảo, thẩm định, thẩm tra dự án, dự thảo văn bản.
Thứ hai, bảo đảm sự tham gia của các cơ quan, tổ chức, cá nhân thông qua việc cho ý kiến đối với dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật

Trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, các cơ quan nhà nước cần phải lấy ý kiến, lắng nghe ý kiến của người dân để bàn bạc, nghiên cứu tiếp thu nhằm làm cho các chính sách được đề xuất sau khi được luật hóa sẽ phù hợp và đáp ứng được yêu cầu của cuộc sống. Sự tham gia này là một trong những điều kiện quan trọng và không thể thiếu giúp bảo đảm tính khả thi của văn bản trong thực tiễn thi hành, bảo đảm pháp luật sát dân, gần dân, phản ánh được ý chí, nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân góp phần bảo đảm hài hòa các quyền, lợi ích trong xã hội.

Luật năm 2015 đã bổ sung những quy định hợp lý hơn về việc lấy ý kiến và tạo điều kiện để nhân dân tham gia xây dựng pháp luật một cách thực chất, hiệu quả hơn như:

-  Quy định việc lấy ý kiến là thủ tục bắt buộc trong cả giai đoạn xây dựng chính sách và giai đoạn soạn thảo đối với tất cả các luật, pháp lệnh, một số loại nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh. Đối với các loại văn bản pháp luật còn lại thì việc lấy ý kiến được thực hiện khi đã có dự thảo văn bản.
- Việc lấy ý kiến được thực hiện với nhiều hình thức đa dạng và trong các giai đoạn khác nhau giúp có cái nhìn toàn diện, khách quan và chính xác nhất về những chính sách trong đề nghị và dự thảo văn bản. Chẳng hạn: dự thảo Luật quy định cần phải đăng tải hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh trên Trang thông tin về xây dựng pháp luật của Chính phủ trong thời gian ít nhất là 30 ngày. Đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, trong trường hợp cần thiết thì tổ chức họp báo thông tin về những chính sách cơ bản trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh để thu hút hơn nữa sự quan tâm của các đối tượng chịu sự tác động. Đối với đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, trong trường hợp cần thiết, cơ quan chủ trì soạn thảo tổ chức đối thoại trực tiếp về chính sách với các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của nghị quyết.

- Quy định trách nhiệm bắt buộc lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp các chính sách trong đề nghị và dự thảo văn bản. (Theo Luật năm 2015 thì đối tượng này là cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm chịu ảnh hưởng trực tiếp từ việc áp dụng văn bản đó sau khi được ban hành).

- Quy định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức được yêu cầu góp ý kiến như quy định trách nhiệm góp ý kiến bằng văn bản về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị định trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị góp ý kiến và trách nhiệm góp ý kiến bằng văn bản về nguồn tài chính, nguồn nhân lực, tác động đối với môi trường, sự tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Với những quy định nêu trên, có thể thấy rằng, việc lấy ý kiến trong Luật năm 2015 đã được sửa đổi khá toàn diện, với nhiều quy định mới, tiến bộ, hợp lý nhằm tăng cường tính dân chủ, phát huy trách nhiệm của công dân cũng như bảo đảm tốt hơn sự tham gia của người dân, doanh nghiệp, tổ chức xã hội trong xây dựng, ban hành văn bản pháp luật. Trong đó, đặc biệt là quy định tổ chức lấy ý kiến những vấn đề lớn về chính sách ngay từ giai đoạn đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trong thời gian ít nhất là 30 ngày và quy định đăng tải báo cáo tiếp thu, giải trình trên trang thông tin điện tử về xây dựng pháp luật của Chính phủ, Cổng thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức lập đề nghị xây dựng văn bản.

Thứ ba, bảo đảm quyền tiếp cận văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân sau khi văn bản được ban hành
Sau khi văn bản quy phạm pháp luật được thông qua hoặc ký ban hành, cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền có trách nhiệm thực hiện một số hoạt động như: công bố văn bản quy phạm pháp luật; đăng Công báo; đăng tải văn bản quy phạm pháp luật trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật và đưa tin trên phương tiện thông tin đại chúng. Các hoạt động nêu trên là hết sức quan trọng, để bảo đảm công khai văn bản với người dân, giúp mọi người biết được quyền, nghĩa vụ của mình để thực hiện cho đúng pháp luật. Cụ thể như sau:

- Luật, pháp lệnh sau khi được Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua phải được Chủ tịch nước công bố (chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày luật, pháp lệnh được thông qua). Đối với nghị quyết của Quốc hội, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, để bảo đảm tính công khai, minh bạch, Luật năm 2015 bổ sung quy định: Tổng thư ký Quốc hội có trách nhiệm công bố chậm nhất là 15 ngày, kể từ ngày nghị quyết được thông qua, trừ nghị quyết được xây dựng, ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn;
- Đăng Công báo văn bản quy phạm pháp luật (trừ văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền cấp huyện, cấp xã). Theo đó, Điều 150 Luật năm 2015 quy định các văn bản quy phạm pháp luật ở trung ương phải được đăng Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền cấp tỉnh và ở đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt phải được đăng Công báo cấp tỉnh. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành, cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải gửi văn bản đến cơ quan Công báo để đăng Công báo.

- Đăng tải văn bản quy phạm pháp luật trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật và đưa tin trên phương tiện thông tin đại chúng. Với mục tiêu tăng cường tính công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật, bảo đảm quyền được thông tin và tiếp cận thông tin của công dân, trong đó có thông tin pháp luật theo quy định của Hiến pháp, ngoài việc công bố và đăng Công báo, Luật năm 2015 còn quy định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc đăng tải văn bản quy phạm pháp luật trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật và đưa tin trên các phương tin thông tin đại chúng.

2. Bảo đảm tính minh bạch - trách nhiệm giải trình, phản hồi của cơ quan chủ trì soạn thảo

Trong thời gian qua, về cơ bản, các cơ quan chủ trì soạn thảo đã bảo đảm sự công khai trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật như việc thực hiện nghiêm túc thủ tục đăng tải dự án, dự thảo để lấy lý kiến; bảo đảm sự tham gia của chuyên gia, nhà khoa học trong quá trình soạn thảo; công bố, đăng công báo văn bản quy phạm pháp luật… Tuy nhiên, nhiều hoạt động còn chưa sát thực tế, mang tính hình thức, chẳng hạn như đăng tải toàn văn dự án, dự thảo văn bản đồ sộ, nhiều thuật ngữ chuyên ngành để lấy ý kiến người dân; cơ quan soạn thảo chưa công khai việc tiếp thu, phản hồi ý kiến góp ý… Để khắc phục những tồn tại, hạn chế nêu trên, góp phần tăng cường hơn nữa tính minh bạch trong quy trình xây dựng văn bản, Luật năm 2015 bổ sung một số quy định như sau:

Thứ nhất, bên cạnh việc đăng tải toàn văn dự thảo văn bản, cơ quan lấy ý kiến cần xác định nội dung lấy ý kiến phù hợp với từng đối tượng lấy ý kiến và xác định cụ thể địa chỉ tiếp nhận ý kiến kiến; tập trung vào những chính sách lớn, quan trọng, trực tiếp ảnh hưởng đến doanh nghiệp, người dân.

Thứ hai, quy định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức lấy ý kiến trong việc phản hồi đối với các ý kiến góp ý, phản biện. Theo đó, cơ quan lấy ý kiến có trách nhiệm tổng hợp, nghiên cứu, tiếp thu, giải trình các ý kiến góp ý và phải đăng tải báo cáo tiếp thu, giải trình trên trên Trang thông tin điện tử của Quốc hội đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh do Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội trình, Trang thông tin điện tử về xây dựng pháp luật đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh do Chính phủ trình, Cổng thông tin điện tử của các cơ quan, tổ chức lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh. Thời gian đăng tải ít nhất là ba mươi ngày để các cơ quan, tổ chức, cá nhân góp ý kiến.

Thứ ba, bảo đảm việc cập nhật dự thảo văn bản mới trong trường hợp dự thảo đã đăng tải để lấy ý kiến có thay đổi về nội dung. Một thời gian dài trước đây, cơ quan chủ trì soạn thảo chỉ đăng một lần dự thảo văn bản để lấy ý kiến. Tiếp thu ý kiến góp ý của cộng đồng doanh nghiệp và nhiều chuyên gia pháp lý, Luật năm 2015 đã có quy định mới trong lĩnh vực này. Cụ thể: trong thời gian dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết đang được lấy ý kiến nếu cơ quan chủ trì soạn thảo chỉnh lý lại dự thảo văn bản mà khác với dự thảo đã đăng tải trước đó thì phải đăng lại dự thảo văn bản đã được chỉnh lý./.

                                                                                                   Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật

Nguồn: https://xdpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/Nghien-cuu-trao-%C4%91oi.aspx?ItemID=17

FalseĐào Thị Quyên
Vướng mắc trong áp dụng văn bản theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015Thông tinVướng mắc trong áp dụng văn bản theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/18/2020 3:00 PMNoĐã ban hành

Áp dụng văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) là một trong những hoạt động quan trọng trong quá trình thực thi pháp luật. Việc áp dụng văn bản QPPL đúng nguyên tắc, phù hợp sẽ dẫn đến kết quả xử lý công việc được chính xác và ngược lại, nếu áp dụng văn bản QPPL sai nguyên tắc thì sẽ dẫn đến sai sót, làm ảnh hưởng đến đối tượng bị áp dụng văn bản QPPL. Do vậy, việc nghiên cứu kỹ các nguyên tắc áp dụng văn bản QPPL là một điều cần thiết đối với các chủ thể áp dụng văn bản QPPL.

Điều 156 Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 quy định việc áp dụng văn bản QPPL như sau:

"1. Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực.

Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trong trường hợp quy định của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó.

2. Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.

3. Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau.

4. Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra, trước ngày văn bản có hiệu lực thì áp dụng văn bản mới.

5. Việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật trong nước không được cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật trong nước và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó, trừ Hiến pháp."

Từ quy định này, có thể hiểu việc áp dụng văn bản QPPL theo nguyên tắc như sau:

Thứ nhất, văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực. Thời điểm có hiệu lực của văn bản được quy định tại Điều 151 của Luật Ban hành văn bản QPPL 2015, cụ thể: thời điểm có hiệu lực của văn bản sẽ được quy định tại văn bản đó nhưng không sớm hơn 45 ngày kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành đối với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước trung ương; không sớm hơn 10 ngày kể từ ngày ký ban hành đối với văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; không sớm hơn 07 ngày kể từ ngày ký ban hành đối với văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã. Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn thì có thể có hiệu lực kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành.

Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trong trường hợp quy định của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó.

Thứ hai, các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn. Việc xác định thứ bậc văn bản QPPL căn cứ vào Điều 4 Luật Ban hành văn bản QPPL, theo đó, thứ tự văn bản từ cao xuống thấp là: Hiến pháp; Bộ luật, luật, nghị quyết của Quốc hội; Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;…Ví dụ: giữa Luật và Pháp lệnh cùng quy định về một vấn đề nhưng có sự khác nhau thì ưu tiên áp dụng Luật.

Trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau.

Thứ ba, trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra, trước ngày văn bản có hiệu lực thì áp dụng văn bản mới.

Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật trong nước và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó, trừ Hiến pháp.
Quá trình thực hiện áp dụng văn bản QPPL cho thấy, Luật Ban hành văn bản QPPL 2015 mới quy định về nguyên tắc áp dụng văn bản trong trường hợp: các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề và các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề. Thực tiễn có trường hợp văn bản QPPL có hiệu lực pháp lý ngang hàng nhau nhưng do hai đơn vị ban hành có sự khác nhau thì ưu tiên áp dụng văn bản QPPL nào lại chưa được quy định. Ví dụ:

Điểm e Khoản 8 Điều 2 Thông tư liên tịch số 06/2015/TTLT-BKHĐT-BNV ngày 03 tháng 09 năm 2015 của Liên bộ Kế hoạch và Đầu tư, Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ban Quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu kinh tế cửa khẩu quy định trách nhiệm của Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh trong việc: Tiếp nhận khai trình việc sử dụng lao động, báo cáo tình hình thay đổi về lao động; nhận thông báo về việc tổ chức làm thêm từ 200 giờ đến 300 giờ trong một năm của doanh nghiệp trong khu công nghiệp, khu kinh tế theo ủy quyền của Sở Lao động Thương binh và Xã hội.
Tuy nhiên, tại Điểm e Khoản 2 Điều 7 Thông tư số 32/2014/TT-BLĐTBXH ngày 01 tháng 12 năm 2014 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn ủy quyền thực hiện một số nhiệm vụ quản lý nhà nước về lao động trong khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế và khu công nghệ cao lại quy định Sở Lao động - Thương binh và Xã hội ủy quyền cho Ban Quản lý khu công nghiệp thực hiện: Nhận thông báo của doanh nghiệp trong khu công nghiệp việc tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm.

Như vậy, hai thông tư cùng quy định về cùng một vấn đề nhưng do hai đơn vị khác nhau ban hành. Trường hợp này chưa có quy định về nguyên tắc áp dụng pháp luật, do đó, thiết nghĩ cần phải có quy định cụ thể hơn để tạo thuận lợi trong quá trình áp dụng các văn bản QPPL./.

 Kim Lân

Nguồn: https://xdpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/Nghien-cuu-trao-%C4%91oi.aspx?ItemID=20

FalseĐào Thị Quyên
Hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luậtThông tinHiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/17/2020 5:00 PMNoĐã ban hành

1. Khái niệm hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật

Hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật là kết quả của sự tác động của văn bản quy phạm pháp luật đến các quan hệ xã hội so với các yêu cầu, mục tiêu khi ban hành văn bản đó. Nếu như hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật thể hiện thuộc tính của các quy phạm pháp luật, thì hiệu quả của một văn bản quy phạm pháp luật lại là những gì mà văn bản đó có thể đem lại trong cuộc sống, là kết quả của sự tương tác giữa pháp luật và xã hội, bởi chức năng chính của pháp luật là điều chỉnh các quan hệ xã hội. Pháp luật hướng cho các chủ thể sống và làm việc một cách hợp tác với nhau, để cùng nhau đạt được những gì họ muốn, vì lợi ích của tất cả thành viên trong xã hội.

Từ một vài năm trở lại đây, việc xem xét, đánh giá một văn bản quy phạm pháp luật không còn dừng lại ở việc đánh giá nó theo các tiêu chí nội tại nữa. Ý nghĩa của sự tồn tại một văn bản quy phạm pháp luật giờ đây còn được xem xét ở một góc độ khác, đó là tính hiệu quả, là kết quả của sự tác động của các quy phạm pháp luật đến các quan hệ xã hội được điều chỉnh, đến các đối tượng được áp dụng. Xu hướng trên xuất phát từ học thuyết về tính kinh tế của pháp luật được các học giả Hoa Kỳ phát triển trong những năm 70 của thế kỷ XX. Thuyết này đề cao vai trò của kinh tế học trong lĩnh vực pháp luật. Những lý thuyết về kinh tế áp dụng trong lĩnh vực pháp luật đã tạo nên xu hướng đánh giá hiệu quả của pháp luật dựa trên các chi phí giao dịch, từ đó hình thành nên lý thuyết về kinh tế học pháp luật. Theo học thuyết này, hiệu quả của quy phạm pháp luật, hay nói rộng ra là của một văn bản quy phạm pháp luật sẽ được đánh giá dưới góc độ các chi phí bỏ ra. Hiệu quả đó tỷ lệ nghịch với chi phí thực hiện. Quy chế càng nặng nề thì càng khó đem lại hiệu quả, bởi nó thường đi liền với hệ thống cơ quan thực thi cồng kềnh, quy trình ra quyết định chậm chạp, thủ tục hành chính phức tạp, tốn kém.

Ở trên thế giới, hiệu quả của một luật được đánh giá căn cứ vào mục tiêu mà các nhà làm luật đặt ra cho luật. Cụ thể, một luật có hiệu quả khi luật đó đạt được các mục tiêu đặt ra. Ở Việt Nam, một khái niệm tương đồng có thể được tìm thấy trong Từ điển Luật học, đó là "hiệu quả của pháp luật". Theo Từ điển Luật học, hiệu quả của pháp luật được hiểu là kết quả cụ thể của sự tác động pháp luật đến các quan hệ xã hội so với mục tiêu, yêu cầu đặt ra khi ban hành pháp luật. Hiệu quả của pháp luật có thể được đánh giá theo từng cấp độ khác nhau: hiệu quả của quy phạm pháp luật, của chế định pháp luật, của ngành luật, của toàn bộ hệ thống pháp luật hoặc nếu phân chia theo hình thức, chúng ta xét đến hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật. Đây cũng là khái niệm mà chúng tôi muốn hướng đến trong phạm vi nghiên cứu này.

Hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật đề cập đến mối quan hệ giữa pháp luật và xã hội. Đây không đơn thuần là vấn đề pháp lý, mà bao trùm cả vấn đề xã hội có liên quan. Pháp luật thuộc phạm trù lý thuyết và xã hội thuộc phạm trù thực tiễn. Pháp luật được hình thành từ nhu cầu thực tiễn, nhưng không phải lúc nào cũng phản ánh đúng thực tiễn. Giữa lý thuyết và thực tiễn luôn tồn tại khoảng cách. Khoảng cách này sẽ ngày càng rộng nếu pháp luật không xuất phát từ nhu cầu của xã hội, không phản ánh đúng các giá trị của cuộc sống. Pháp luật cần phải được đánh giá trong mối quan hệ với hành vi, xử sự của các chủ thể, cũng như trong sự chuyển động và phát triển của xã hội. Sự hình thành, phát triển của pháp luật phải được đánh giá trong một xã hội nhất định, xã hội này quyết định sự tồn tại trong không gian cũng như về thời gian của pháp luật. Chính vì vậy, hiện nay ở các nước có các môn xã hội học pháp luật, kinh tế học pháp luật. Những môn này có mục đích là đề cao các yếu tố kinh tế, xã hội trong việc thực hiện pháp luật, đánh giá sự hình thành và phát triển của pháp luật trong sự phát triển của các hiện tượng xã hội, đặc biệt là của các quan hệ kinh tế, dân sự, chính trị. Do vậy, có thể nói, thực tế chính là thước đo kiểm nghiệm hiệu quả của pháp luật.

Hiệu quả của một văn bản quy phạm pháp luật thể hiện sự phản ánh của dư luận xã hội về văn bản đó. Thực tế, tác động của dư luận xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến ý thức pháp luật, đến tâm lý pháp luật của người dân, từ đó tác động đến hiệu quả của quy phạm pháp luật (1). Văn bản quy phạm pháp luật không hiệu quả sẽ tạo ra khoảng cách giữa pháp luật và người dân. Nếu khoảng cách này càng lớn, thì nguy cơ không tôn trọng pháp luật càng cao, bởi vì một phần họ mất lòng tin vào pháp luật, một phần khác là vì pháp luật không phù hợp với tâm lý pháp lý trực cảm của đa phần dân chúng (2). Như một tác giả đã viết: "Nếu muốn người dân cần đến pháp luật, tức là có nhu cầu đối với pháp luật thì trong tâm thức người dân, pháp luật phải là cách giải quyết được ưu tiên, phải đáp ứng những yêu cầu nhất định, tiếp đến phải làm sao để người dân biết đến pháp luật đó, ở đâu lúc nào, luật nào dùng cho mục đích gì và sẽ được sử dụng như thế nào trên thực tế tại Tòa án ở nước ta'' (3).

Một văn bản quy phạm pháp luật không hiệu quả có thể biểu hiện ở những khía cạnh sau: thứ nhất, văn bản quy phạm pháp luật không thực hiện được mục tiêu mà các nhà làm luật đặt ra khi soạn thảo và ban hành. Ví dụ như mục tiêu của Luật Bảo vệ môi trường là nhằm giảm bớt ô nhiễm môi trường, khắc phục ô nhiễm, suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường. Tuy nhiên, Luật này có thể được xem là chưa hiệu quả khi hiện nay ở Việt Nam, tình trạng ô nhiễm môi trường diễn ra ngày càng nhiều, với mức độ ngày càng nghiêm trọng. Thứ hai, văn bản quy phạm pháp luật tạo ra những tác động không mong muốn đối với xã hội. Thực tế cho thấy, có những văn bản quy phạm pháp luật được ban hành không đạt được mục tiêu được các nhà làm luật đề ra, mà lại dẫn đến một kết quả không mong đợi khác. Ví dụ về quy định cấm họp chợ ở vỉa hè, lòng đường, cấm họp chợ cóc (Nghị định 34/NĐ-CP ngày 2/4/2010 của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ). Quy định này có thể được coi là không hiệu quả khi vẫn xuất hiện tình trạng bán hàng rong. Đấy là những kết quả không mong muốn. Hay trong thời gian gần đây, hiệu quả của pháp luật được quan tâm hơn lúc nào hết qua vụ việc một lái xe tải cố ý cán chết người. Sự việc xảy ra khi lái xe đâm bị thương một cô gái. Sau đó, lái xe đó đã quyết định cán chết cô gái đó. Bởi căn cứ vào quy định của pháp luật, cụ thể là của Bộ luật Dân sự, lái xe gây tai nạn sẽ phải chịu các chi phí bồi thường rất lớn cho nạn nhận bị thương. Do vậy, người lái xe đã cán chết người bị thương để có thể giảm thiểu chi phí đền bù cho gia đình nạn nhân (xem Điều 609, 610 Bộ luật Dân sự). Như vậy, có thể thấy rằng, chính các quy định của pháp luật đã khiến cho người lái xe thay đổi cách xử sự, từ một vụ vô ý gây thương tích dẫn đến cố ý giết người, bởi trách nhiệm dân sự do gây tai nạn chết người lại nhỏ hơn nhiều so với trách nhiệm dân sự do gây thương tích. Trong trường hợp này, hiệu quả của pháp luật dường như đã không được bảo đảm.

Như vậy, hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật chính là tiêu chí cần thiết để đánh giá ý nghĩa của sự tồn tại hay giá trị của văn bản đó. Giá trị của một văn bản quy phạm pháp luật được đánh giá qua những tác động cụ thể của nó vào thực tiễn các quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh và những tác động này được xem xét trong mối tương quan với các mục tiêu đặt ra cho văn bản. Đây là một xu hướng mới trong việc đánh giá và cải cách hệ thống pháp luật.

2. Các yếu tố tạo nên hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật

Để có thể đánh giá được hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật, trước tiên chúng ta cần phải xác định rõ các căn cứ để đánh giá.

Một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu quả khi đạt được những mục tiêu mà các nhà làm luật mong đợi, yêu cầu. Nhưng để có thể đạt được những mục tiêu này, văn bản quy phạm pháp luật đó phải có hiệu lực, có giá trị bắt buộc đối với các chủ thể thuộc đối tượng áp dụng của nó.

a. Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật

Để một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu quả, trước hết nó phải có hiệu lực. Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật là cơ sở nền tảng tạo nên hiệu quả của văn bản. Ngược lại, hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật phản ánh hiệu lực của văn bản đó. Một văn bản quy phạm pháp luật chỉ có hiệu quả khi nó được tuân thủ nghiêm túc.

Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật được hiểu là tính bắt buộc thi hành của văn bản quy phạm pháp luật ở một giai đoạn nhất định, trong một không gian nhất định và đối với những chủ thể pháp luật nhất định (cá nhân, cơ quan, tổ chức). Như vậy, hiệu lực là thuộc tính của văn bản quy phạm pháp luật. Đã là văn bản quy phạm pháp luật thì phải có tính bắt buộc thi hành. Nếu không, văn bản quy phạm pháp luật đó sẽ không còn giá trị tồn tại. Tuy nhiên, trên thực tế, xảy ra tình trạng có những văn bản quy phạm pháp luật, nhưng lại không được các chủ thể tuân thủ. Tình trạng trên xảy ra do nhiều nguyên nhân. Theo chúng tôi, các nguyên nhân này có thể được chia thành hai nhóm sau:

Nhóm thứ nhất xuất phát từ chính các yếu tố nội tại của văn bản quy phạm pháp luật. Đó là các yếu tố liên quan đến chất lượng của các quy phạm pháp luật. Để văn bản quy phạm pháp luật phát huy được hiệu lực, các quy phạm pháp luật phải đáp ứng các yêu cầu về mặt hình thức cũng như nội dung. Tuy nhiên, cũng cần phải khẳng định rằng việc phân biệt giữa mặt nội dung và mặt hình thức chỉ là tương đối, mang giá trị học thuật. Về mặt hình thức, một quy phạm pháp luật dù được soạn thảo đúng quy trình, thủ tục, nhưng không bảo đảm kỹ thuật soạn thảo, (ví dụ không đảm bảo đúng cấu trúc của quy phạm pháp luật, hoặc không rõ ràng về mặt ngữ nghĩa), sẽ khó có thể đem lại hiệu lực mong muốn. Ngược lại, những quy phạm được soạn thảo tốt về mặt kỹ thuật nhưng không được cơ quan có thẩm quyền ban hành thì cũng sẽ không có hiệu lực. Do vậy, văn bản quy phạm pháp luật phải đáp ứng được tính hợp pháp.

Những yêu cầu về mặt nội dung cần phải được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ là những yêu cầu thuần túy về mặt câu từ, ngữ nghĩa, mà cần phải hiểu ở việc tiếp nhận văn bản này từ đối tượng mà nó hướng tới, cũng như tác động của nó đến xã hội. Văn bản quy phạm pháp luật đó cần phải đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước; phải hợp lòng dân, thể hiện ý chí, lợi ích chung của người dân. Đó là tính hợp lý của văn bản quy phạm pháp luật (4). Tính hợp lý của một văn bản quy phạm pháp luật thể hiện ở mức độ phù hợp với thực tiễn hoặc ở mức độ phát sinh các chi phí bất hợp lý cho các đối tượng áp dụng của văn bản đó. Nếu như tính hợp pháp của văn bản quy phạm pháp luật là điều kiện quyết định sự tồn tại của văn bản quy phạm pháp luật, thì tính hợp lý mang lại cho văn bản khả năng thực thi cao. Một văn bản quy phạm pháp luật có tính hợp lý sẽ giúp cho các chủ thể tuân thủ một cách nghiêm túc và tự nguyện, bởi nó không chỉ mang lại lợi ích cho chủ thể mà còn mang lại lợi ích chung cho cả xã hội. Tính hợp lý của văn bản quy phạm pháp luật tuy không phải là yếu tố quyết định việc tuân thủ pháp luật của các chủ thể, nhưng không phải vì thế mà mất đi ý nghĩa quan trọng của nó trong việc đảm bảo tính pháp chế của pháp luật. Trong một đất nước mà nền pháp chế ngày càng được đề cao, thì tính hợp lý của luật ngày càng được coi trọng (5). 

Văn bản quy phạm pháp luật có tính hợp lý khi nó đáp ứng được các yêu cầu sau: Thứ nhất, nó phải xuất phát từ lợi ích thiết thực của xã hội, mà cụ thể là của người dân. Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành là nhằm để giải quyết các vấn đề mà xã hội đặt ra. Do đó, việc ban hành một văn bản quy phạm pháp luật cần phải phù hợp với tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, và lấy lợi ích của người dân, của xã hội, của nhà nước làm nền tảng. Một văn bản quy phạm pháp luật không hợp lý có thể do nhiều nguyên nhân. Một trong những nguyên nhân thường gặp là do kỹ thuật lập pháp còn yếu kém làm cho luật pháp không còn phù hợp với các quan hệ xã hội, với thực tiễn sinh động. Hậu quả là các quy phạm pháp luật đó khó có thể thực hiện trong cuộc sống. Thứ hai, văn bản quy phạm pháp luật phải phù hợp với đối tượng, phải điều chỉnh đúng đối tượng. Nếu văn bản đó luật đó không điều chỉnh đúng đối tượng, sẽ không làm cho đối tượng đó tuân thủ luật một cách tự nguyện. Điều đó gây ảnh hưởng đến hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật. Về mặt lý thuyết, một văn bản quy phạm pháp luật sẽ vẫn luôn tồn tại dù nó không được tuân thủ. Về mặt pháp lý, việc không tuân thủ một quy phạm không thể đưa đến việc hủy bỏ một quy phạm pháp luật. Các quy phạm pháp luật này sau một thời gian dài không được áp dụng trong thực tiễn, vẫn có thể được các chủ thể nhận biết. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, văn bản quy phạm pháp luật đó sẽ không phát huy hiệu lực. Một văn bản quy phạm không có hiệu lực trong một thời gian dài sẽ bị coi như không có giá trị (6). Chỉ khi đối tượng của nó chấp nhận và áp dụng nó trong thực tế, văn bản quy phạm pháp luật mới thực sự phát huy hiệu lực và có giá trị. Tính hợp lý chính là yếu tố tác động trực tiếp đến hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật. Một văn bản quy phạm pháp luật hợp lý sẽ được người dân tuân thủ nghiêm túc và có hiệu lực lâu dài. Có thể lấy ví dụ về Thông tư 33/2012/TT-BNNPTNT ngày 20/7/2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định điều kiện vệ sinh, đảm bảo an toàn thực phẩm đối với cơ sở kinh doanh thịt và phụ phẩm ăn được của động vật ở dạng tươi sống dùng làm thực phẩm. Thông tư này chưa kịp có hiệu lực đã bị thu hồi lại do không đạt được tính hợp lý. Theo quy định của Thông tư 33, thịt tươi sống chỉ được bày bán trong vòng 8 giờ đồng hồ kể từ khi giết mổ nếu được bảo quản ở nhiệt độ thường. Thông tư này bị chỉ trích vì thiếu thực tế, chưa sát với điều kiện thực tế, cũng như chưa chặt chẽ (không nêu rõ được đơn vị nào sẽ chịu trách nhiệm kiểm tra, chế tài xử phạt ra sao,...).

Ngoài ra, hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật sẽ được nâng cao nếu như có nội dung thống nhất với các văn bản quy phạm pháp luật khác trong hệ thống pháp luật. Thực tế cho thấy, có nhiều văn bản quy phạm pháp luật dù đảm bảo tính hợp pháp trong mối quan hệ dọc với Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao hơn nhưng lại có những quy định mâu thuẫn với các văn bản quy phạm pháp luật khác trong mối quan hệ ngang. Những mâu thuẫn thậm chí những quy định trái ngược nhau giữa các văn bản quy phạm pháp luật sẽ tạo nên những xung đột pháp luật gây cản trở cho việc thực thi văn bản luật. Những xung đột pháp luật này sẽ làm ảnh hưởng đến hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật. Do vậy, việc bảo đảm tính thống nhất giữa các văn bản quy phạm pháp luật sẽ giúp cho các văn bản này đạt được hiệu lực cao.

Nhóm nguyên nhân thứ hai xuất phát từ các yếu tố bên ngoài của văn bản quy phạm pháp luật: khả năng tổ chức thực thi của các cơ quan thi hành pháp luật, khả năng tiếp cận pháp luật của các chủ thể, tình trạng tuân thủ pháp luật của các chủ thể, khả năng được xã hội chấp nhận…. Có thể thấy rằng, nghiên cứu mặt bên ngoài của một văn bản quy phạm pháp luật là nghiên cứu ảnh hưởng của văn bản đó đến thái độ của các chủ thể. Một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực khi văn bản đó có giá trị bắt buộc thi hành đối với chủ thể. Sự tuân thủ các quy định của văn bản quy phạm pháp luật được coi là biểu hiện của một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực. Yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự tuân thủ pháp luật của các chủ thể là khả năng tiếp cận thông tin pháp luật của các chủ thể (7). Đó là khả năng nhận thức để có thể viện dẫn các quy phạm pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể. Đó còn là khả năng thực hiện các hành vi đúng pháp luật của các chủ thể. Một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực phải là một văn bản có thể tiếp cận được. Như vậy, khả năng tiếp cận pháp luật của các chủ thể sẽ là một trong những yếu tố quyết định hiệu lực của pháp luật, bởi nó quyết định thái độ của các chủ thể đối với văn bản quy phạm pháp luật, từ đó quyết định hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật.

Việc một văn bản quy phạm pháp luật không tiếp cận được có thể được phân tích dưới hai góc độ: Thứ nhất, văn bản đó khó hoặc ít có khả năng tiếp cận. Nói một cách khác, các chủ thể khó có thể thực hiện các quy định pháp luật bởi họ không hiểu, không thấy hợp lý hoặc cho rằng các quy định này đi ngược lại những quy tắc xử sự được thừa nhận rộng rãi trong xã hội; Thứ hai, có thể do những điều kiện khách quan bên ngoài cản trở khả năng tiếp cận của các chủ thể. hay nói một cách khác cản trở công dân thực hiện quyền tiếp cận pháp luật. Quyền tiếp cận pháp luật, hay nói rộng ra là quyền tiếp cận thông tin là một trong những quyền cơ bản của con người. Quyền này được hiểu theo hai khía cạnh: Thứ nhất, đó là quyền mà công dân được chủ động tiếp cận, thu thập thông tin; Thứ hai, đó là quyền được cung cấp thông tin từ các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quyền này đi liền với trách nhiệm của cơ quan nhà nước phải cung cấp thông tin cho công dân (8). 

Ngoài ra, nói đến yếu tố ảnh hưởng đến hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật không thể không kể đến những cơ quan thực thi pháp luật. Một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực hay không, không chỉ phụ thuộc vào chính văn bản quy phạm pháp luật đó mà còn phụ thuộc vào việc tổ chức thi hành, giám sát việc thực hiện của các cơ quan thực thi. Vì vậy, vai trò của các cơ quan thực thi pháp luật là rất quan trọng. văn bản quy phạm pháp luật sẽ có hiệu lực cao khi được các cơ quan thực thi thực hiện một cách nghiêm túc và triệt để. Việc xử lý vi phạm pháp luật được thực hiện theo ba bước: Phát hiện vi phạm; xem xét, đánh giá; đưa ra phương hướng xử lý. Mỗi bước trên đều có khả năng làm ảnh hưởng đến hiệu lực văn bản quy phạm pháp luật. Những hạn chế, trở ngại trong việc thực hiện pháp luật thường có nguồn gốc, hoặc ít nhất chịu tác động từ phía cơ quan thực thi pháp luật. Nếu như các cơ quan này không hành động, không triển khai việc áp dụng; không giám sát việc thi hành, tuân thủ pháp luật thì hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật sẽ không được bảo đảm. Bên cạnh đó, những quy định không rõ ràng, chồng chéo về thẩm quyền giữa các cơ quan thực thi cũng làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện pháp luật. Ví dụ, liên quan đến việc kinh doanh thực phẩm trong Luật An toàn thực phẩm, có tới ba Bộ có trách nhiệm chính trong việc tổ chức thực hiện các quy định của Luật. Đó là Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công thương. Thực trạng việc quản lý các thực phẩm trên thị trường hiện nay cho thấy, việc quy định thẩm quyền cho nhiều cơ quan cùng lúc và không nêu rõ cơ chế phối hợp giữa các cơ quan này sẽ dẫn đến khó có thể đưa đến sự thống nhất giữa các quy định được ban hành, cũng như cơ chế thực thi chúng.

b. Mục tiêu của văn bản quy phạm pháp luật

Hiệu quả của một văn bản quy phạm pháp luật chỉ có thể được đánh giá khi so sánh với mục tiêu mà văn bản đó đề ra. Văn bản quy phạm pháp luật sẽ có hiệu quả khi thực hiện được các mục tiêu của mình. Mục tiêu là một loạt các hoạt động, kết quả cụ thể cần phải thực hiện được theo kế hoạch đã đặt ra trong nghiên cứu. Mục tiêu có thể đo lường hay định lượng được. Mục tiêu là nền tảng hoạt động của nghiên cứu, là cơ sở cho việc đánh giá kế hoạch nghiên cứu đã đưa ra.

Văn bản quy phạm pháp luật được soạn thảo và ban hành ra luôn nhằm để thực hiện một hoặc những mục tiêu nhất định. Ví dụ, Luật Cạnh tranh của các quốc gia trên thế giới đều có những mục tiêu riêng của mình, nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của quốc gia đó. Luật Chống độc quyền của Mỹ có mục tiêu là bảo vệ tự do cạnh tranh. Mục tiêu của Luật Cạnh tranh Thụy Điển năm 1993 (Điều 1) là nhằm loại bỏ và vô hiệu hóa những trở ngại đối với một sự cạnh tranh hiệu quả trong sản xuất và thương mại hàng hóa, dịch vụ, và các sản phẩm khác. Mục tiêu của Luật Cạnh tranh Ấn Độ năm 2002 là ngăn chặn các hành vi gây thiệt hại đến cạnh tranh, xúc tiến và bảo trì cạnh tranh trên thị trường, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và bảo đảm tự do thực hiện thương mại cũng như tất cả các hoạt động có liên quan hoặc gắn liền với, của tất cả các chủ thể trên thị trường ở Ấn Độ (Điều 1). Các mục tiêu này chính là kim chỉ nam cho việc soạn thảo các quy phạm pháp luật trong luật. Các quy phạm pháp luật chính là sự cụ thể hóa các mục tiêu được đề ra. Các quy phạm pháp luật chính là công cụ để thực hiện mục tiêu đặt ra. Mục tiêu càng rõ ràng thì các quy phạm pháp luật càng đảm bảo được tính thống nhất, chặt chẽ về mặt nội dung. Từ đó văn bản quy phạm pháp luật càng dễ được thực hiện, đi vào cuộc sống. Việc nêu rõ mục tiêu lại càng cần thiết đối với các văn bản quy phạm pháp luật có hình thức là luật. Đây là loại văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất. Tuy nhiên, có thể thấy rằng, rất ít các văn bản luật hiện nay nêu rõ mục tiêu của mình. Ở một số văn bản luật, mục tiêu được ghi ở phần đầu, trước phần các quy định, ví dụ như Bộ luật Hình sự, Bộ luật Lao động. Ở một số văn bản khác, mục tiêu của luật được ngầm hiểu trong phần về nhiệm vụ của luật, ví dụ như Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự,… Còn đa số các văn bản luật khác, mục tiêu của luật không được nêu rõ, và thường được ngầm hiểu qua các quy định trong văn bản luật. Nếu mục tiêu của văn bản quy phạm pháp luật không được nêu rõ sẽ gây ra tình trạng văn bản quy phạm pháp luật bị phản ánh sai lệch trong quá trình thực hiện. Để có thể đánh giá xem văn bản quy phạm pháp luật có được thực hiện đúng với ý muốn của các nhà làm luật hay không, chúng ta lại phải làm công việc ngược lại là xác định mục tiêu của văn bản luật đó căn cứ vào việc xem xét tổng thể các quy phạm pháp luật được thể hiện trong đó. Tình trạng có thể xảy đến là việc hiểu và giải thích các quy định của luật sẽ trở nên khó khăn. Thậm chí, có thể xảy ra tình trạng mâu thuẫn giữa mục tiêu và các quy định trong luật, làm ảnh hưởng đến hiệu quả của luật. Thực tế hoạt động lập pháp ở Việt Nam cho thấy, rất nhiều văn bản luật không nêu rõ mục tiêu của mình gây nên tình trạng các văn bản này bị khúc xạ bởi những văn bản hướng dẫn thuộc quyền lập quy (9). Tình trạng này xảy ra khi các văn bản lập quy không phản ánh đúng tinh thần, nội dung của luật, hoặc trái luật. Cụ thể, đó là khi các văn bản pháp quy vượt quá hoặc thu hẹp phạm vi điều chỉnh của luật, pháp lệnh. Hậu quả là ý chí chung của nhân dân, lợi ích chung của xã hội không được đảm bảo.

Ý muốn của các nhà làm luật, mục tiêu mà văn bản quy phạm pháp luật phải thực hiện, không chỉ cần được nêu rõ, mà còn cần phải thống nhất. Một văn bản quy phạm pháp luật có thể được soạn thảo và ban hành nhằm thực hiện nhiều mục tiêu nhưng các mục tiêu này cần phải thống nhất với nhau. Thực tế cho thấy, một luật đa mục tiêu thường có thể dẫn đến tình trạng xung đột giữa các mục tiêu. Lấy ví dụ về pháp luật cạnh tranh. Pháp luật cạnh tranh là một ngành luật có mục đích cụ thể, được xây dựng để bảo vệ và phát triển nền kinh tế thị trường. Mỗi quốc gia sẽ xây dựng hệ thống pháp luật cạnh tranh phù hợp với những nhu cầu riêng của nước mình, tùy thuộc vào sự phát triển, hoàn cảnh kinh tế xã hội, nền văn hóa pháp lý và các ưu tiên của các quốc gia đó. Các quốc gia phát triển trên thế giới cho rằng, pháp luật cạnh tranh đa mục tiêu có thể dẫn tới xung đột giữa các mục tiêu. Việc dung hoà các mục tiêu có thể tác động tiêu cực đến nguyên tắc cạnh tranh và tính độc lập của cơ quan cạnh tranh. Do vậy, các nước này thường giảm mạnh việc sử dụng pháp luật cạnh tranh để đạt các mục tiêu chung về xã hội, trong khi điều này vẫn phổ biến ở các nước đang phát triển và chuyển đổi. Quay trở lại Luật Cạnh tranh của Việt Nam. Trong toàn bộ các quy định của Luật, không có quy định nào nêu lên mục tiêu cụ thể mà các nhà làm luật đặt ra cho Luật. Thông qua các quy định của Luật, có thể hiểu mục tiêu chính của Luật là tạo lập và duy trì cạnh tranh bình đẳng giữa các chủ thể trên thị trường bằng việc kiểm soát các hành vi gây hạn chế cạnh tranh hoặc có thể gây hạn chế cạnh tranh, chống lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Tuy nhiên, thông qua các quy định của Luật Cạnh tranh, mà cụ thể là các điều khoản liên quan quyền miễn trừ đối với các trường hợp tập trung kinh tế bị cấm, có thể thấy rằng, Luật Cạnh tranh còn hướng tới mục tiêu là mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, hoặc nhằm duy trì việc làm cho người lao động (Điều 19 của Luật Cạnh tranh). Như vậy, một Luật Cạnh tranh đa mục tiêu có thể dẫn đến sự mâu thuẫn giữa các mục tiêu này nếu không có sự sắp xếp thứ tự ưu tiên áp dụng giữa các mục tiêu được đặt ra.

3. Một số đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam hiện nay

Để văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam đạt được hiệu quả mong muốn, cần phải coi trọng thực hiện một số vấn đề sau:

Thứ nhất, cần phải chú ý đến là tính hợp pháp, tính thống nhất, tính hợp lý của các văn bản quy phạm pháp luật. Tính hợp pháp, hợp lý và thống nhất của các văn bản quy phạm pháp luật chỉ có thể được đảm bảo khi công tác xây dựng, soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật ngày càng được hoàn thiện. Việt Nam cần phải có một cơ quan lập pháp làm việc chuyên nghiệp hơn để có thể cho ra những văn bản luật có hiệu quả. Bên cạnh đó, hệ thống các văn bản lập quy cũng cần được nâng cao về mặt chất lượng. Để làm được việc này, bên cạnh việc chú trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực, bộ phận pháp chế của các Bộ, ngành cần phải chủ động phối hợp với nhau và có sự tham khảo ý kiến của đa số quần chúng nhân dân trước khi ban hành một văn bản dưới luật cụ thể.

Thứ hai, văn bản quy phạm pháp luật cần phải đảm bảo được khả năng tiếp cận của quần chúng nhân dân. Để đảm bảo cho công dân được chủ động tiếp cận thông tin, cơ quan nhà nước phải chủ động công bố công khai những trình tự thủ tục rõ ràng thuận tiện để người dân có thể dễ dàng tiếp cận được thông tin khi có nhu cầu. Ngoài ra, người dân có thể tiếp cận được thông tin ngay cả khi không có nhu cầu bằng việc cơ quan nhà nước chủ động công khai thông tin trên các trang thông tin điện tử của cơ quan hoặc thông qua các kênh phổ biến kiến thức khác để đông đảo quần chúng được biết mà không cần phải yêu cầu.

Thứ ba, liên quan đến các cơ quan thực thi pháp luật. Văn bản quy phạm pháp luật sẽ có hiệu lực cao khi được các cơ quan thực thi thực hiện một cách nghiêm túc và triệt để việc áp dụng luật. Các cơ quan này cần phải được trang bị không chỉ về cơ sở pháp lý, mà còn cả cơ sở vật chất cũng như nguồn nhân sự để đảm bảo việc thực hiện pháp luật ở mọi cấp độ. Các văn bản quy phạm pháp luật cần phải nêu rõ thẩm quyền của các cơ quan có liên quan cũng như nêu rõ các cơ quan đầu mối cùng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan đó. Cơ chế phối hợp này nên được thiết lập theo hướng sắp xếp về mặt cơ cấu, thủ tục sao cho công tác kiểm tra, giám sát, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh được thực hiện một cách thống nhất. Có thể áp dụng cơ chế theo dõi chung và theo dõi riêng giữa các cơ quan này. Theo đó, cơ quan đầu mối sẽ được phân thẩm quyền theo dõi chung việc thi hành các quy định của văn bản quy phạm pháp luật đó. Các Bộ, ngành được Chính phủ phân công chủ trì soạn thảo văn bản pháp luật chuyên ngành có trách nhiệm theo dõi văn bản đó trong đời sống xã hội. Các cơ quan này có điều kiện và đủ kiến thức chuyên sâu về ngành, lĩnh vực quản lý của mình và hiểu rõ nội dung văn bản do mình soạn thảo, do đó dễ phát hiện được những khiếm khuyết của văn bản khi được triển khai thực hiện trong cuộc sống. Đó là cơ chế theo dõi riêng. Giữa cơ quan thực hiện nhiệm vụ theo dõi chung và cơ quan thực hiện nhiệm vụ theo dõi riêng cần phải có cơ chế phối hợp trong việc cung cấp thông tin. Cần quy định trách nhiệm của các bộ, ngành quản lý chuyên ngành về việc theo dõi thi hành các văn bản này, định kỳ thông báo cho các cơ quan đầu mối để tập hợp, phân tích và làm báo cáo tổng hợp về tình hình thi hành văn bản quy phạm pháp luật đó.

Thứ tư, văn bản quy phạm pháp luật cần phải nêu rõ mục tiêu và có sự thống nhất giữa các mục tiêu được nêu. Ý muốn của các nhà làm luật cần phải được thể hiện rõ qua các mục tiêu cụ thể. Đối với trường hợp một văn bản quy phạm pháp luật được ban hành nhằm thực hiện nhiều mục tiêu cùng một lúc thì các mục tiêu này cần phải được thống nhất với nhau về nội dung. Không thể đặt ra những mục tiêu mâu thuẫn nhau, gây ra tình trạng việc thực hiện mục tiêu này gây khó khăn, cản trở cho việc thực hiện mục tiêu kia. Chính vì vậy, khi soạn thảo luật, các nhà làm luật cần cân nhắc để thống nhất các mục tiêu của luật. Ngoài ra, các mục tiêu có thể được xác định theo thứ tự ưu tiên và tầm quan trọng gắn với từng mục tiêu cụ thể nhằm giảm thiểu sự không rõ ràng, có thể dẫn đến xung đột giữa các mục tiêu trong quá trình thực thi. Ví dụ, đối với Luật Cạnh tranh của Việt Nam, cần phải xác định rõ rằng mục tiêu mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, hoặc nhằm duy trì việc làm cho người lao động chỉ có thể được thực hiện khi mục tiêu chính của Luật Cạnh tranh vẫn được bảo đảm. Nói một cách khác, các tác động tiêu cực đến cạnh tranh, mà việc cho phép các hành vi nhằm thực hiện mục tiêu này gây ra, phải được khắc phục.

Kết luận

Khái niệm hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật được xem xét dưới một góc độ rộng hơn, toàn diện hơn. Văn bản quy phạm pháp luật được đánh giá theo các mục tiêu xã hội được đặt ra. Việc phân tích các yếu tố có tác động trực tiếp đến hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật sẽ làm cơ sở để chúng ta đi vào phân tích thực trạng và các nguyên nhân tác động đến hiệu quả của các văn bản quy phạm pháp luật, từ đó đi tìm các giải pháp tương ứng nhằm nâng cao hiệu quả của các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam hiện nay.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

(1) B. Deffain (dir.), L'analyse économique du droit dans les pays de droit civil, Éd. Cujas, 2000, B. Oppetit, « Droit et économie », APD, 1992, 37, p. 17-26,

(2) TS. Nguyễn Văn Tuyến, "Tính hiệu quả của Luật Chứng khoán - Sự tiếp cận từ góc độ kinh tế học pháp luật", Luật học số 8/2006.

(3) Fédéric Rouvillois, "L'efficacité des normes. Réflections sur l'émergence d'un nouvel impératif juridique", Working papers: Fondation pour l'innovation politique, 11/2006, 35 tr.

(4) Nguyễn Minh Đoan, "Vấn đề hiệu quả của pháp luật", Nhà nước và Pháp luật số 3/2001, tr. 3

(5) Nguyễn Đức Lam,  "Tính cạnh tranh của nền pháp luật", trích dẫn từ http://chungta.com/ Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Luat-Phap/Tinh_canh_tranh_cua_nen_phap_luat/, 2005

(6) Ngọ Văn Nhân, "Tác động của dư luận xã hội đối với ý thức pháp luật", Tạp chí Triết học, 2006.

(7) Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Báo cáo Đánh giá chất lượng hoạt động xây dựng và thi hành pháp luật của các Bộ có liên quan đến doanh nghiệp (LDEA)- Giai đoạn từ 2005 đến 2009, NXB Lao động 6/2010

(8) Th.S Bùi Ngọc Sơn, Nguyễn Thị Phượng, "Sự khúc xạ luật bởi quyền lập quy", Tạp chí Dân chủ & Pháp luật, Số 7/2006.

(9) PGS. TS. Hoàng Thị Kim Quế, "Chế độ pháp chế thống nhất, hợp lý và áp dụng chung", Tạp chí Dân chủ & Pháp luật, Số 9 (162) 2005, trang 11-12.

Xem thêm:

1. Ngọ Văn Nhân, "Tác động của dư luận xã hội đối với ý thức pháp luật", Tạp chí Triết học, 8/2006.

2. Nguyễn Đức Lam, "Vì sao người dân thờ ơ với pháp luật", Tạp chí Tia sáng, 7/2006.

3. Như trên.

4. Tính hợp lý này cũng có thể được gọi theo một thuật ngữ khác là tính phù hợp của văn bản quy phạm pháp luật. Xem thêm: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Báo cáo Đánh giá chất lượng hoạt động xây dựng và thi hành pháp luật của các Bộ có liên quan đến doanh nghiệp (LDEA)- Giai đoạn từ 2005 đến 2009, NXB Lao động 6/2010.

5. PGS. TS. Hoàng Thị Kim Quế, "Chế độ pháp chế thống nhất, hợp lý và áp dụng chung", Tạp chí Dân chủ & Pháp luật, Số 9 (162) 2005, trang 11-12. Pháp chế được thể hiện trên hai phương diện, hai nghĩa căn bản- nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, pháp chế là yêu cầu đối với tất cả các cá nhân tuân thủ triệt để pháp luật, đối lập với tình trạng vô pháp luật. Theo nghĩa hẹp, pháp chế là nguyên tắc hoạt động của bộ máy nhà nước, các cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước phải tuân thủ pháp luật trong tổ chức và hoạt động; đảm bảo thực hiện các quyền công dân. Cũng trên nghĩa rộng - nghĩa chính trị - xã hội pháp chế chính là chế độ của đời sống chính trị - xã hội, là môi trường chính trị - đạo đức, trong đó có sự hiện diện của tư tưởng nhân đạo, công bằng, tuân thủ pháp luật, bảo đảm quyền con người.

6. H. Kelsen, Théorie pure du droit, 2e éd., trad. C. Eisenmann, Dalloz, 1962, p. 15.

7. Xem: TS. Nguyễn Thị Thu Vân, "Cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin", trên trang web:duthaoonline; Th.S Vũ Công Giao, "Cơ chế và việc hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của các cơ quan nhà nước ở Việt Nam", trên trang web: http://www.hids.hochiminhcity. gov.vn/Hoithao/VNHOC/TB7/giao.pdf.

8. Như trên.

9. Th.S Bùi Ngọc Sơn, Nguyễn Thị Phượng, "Sự khúc xạ luật bởi quyền lập quy", Tạp chí Dân chủ & Pháp luật, Số 7/2006.

                                                                                                TS. Trần Thị Thu Phương

Nguồn: https://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=15

FalseĐào Thị Quyên
Tài liệu hướng dẫn về nghiệp vụ đánh giá tác động của chính sáchThông tinTinTài liệu hướng dẫn về nghiệp vụ đánh giá tác động của chính sách/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/17/2020 3:00 PMNoĐã ban hành

​       "Tài liệu hướng dẫn về nghiệp vụ đánh giá tác động của chính sách" được xây dựng với mục tiêu hướng dẫn phương pháp thực hiện nội dung đánh giá tác động của chính sách theo các quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Đây là tài liệu do Dự án Quản trị Nhà nước nhằm Tăng trưởng Toàn diện của Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID GIG) phối hợp với Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật của Bộ Tư pháp Việt Nam xây dựng.

       Nội dung của tài liệu tập trung vào quá trình đánh giá tác động của chính sách, bao gồm đánh giá tác động về kinh tế, về xã hội, về giới, về thủ tục hành chính và đánh giá tác động đối với hệ thống pháp luật. Tài liệu còn cung cấp các hướng dẫn kỹ thuật đánh giá tác động của chính sách và việc sử dụng kết quả đánh giá tác động của chính sách cho quá trình xây dựng chính sách ở giai đoạn lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Các hướng dẫn kỹ thuật này cũng có thể áp dụng cho việc đánh giá tác động của chính sách trong giai đoạn soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật.

       Với mục đích chính là hướng dẫn kỹ thuật, tài liệu này tập trung vào quy trình, các bước, kỹ năng, phương pháp, công cụ có thể được sử dụng cho quá trình đánh giá tác động của chính sách. Tài liệu được xây dựng theo hướng sát thực tiễn để tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện sau này. Các nội dung và phương pháp được nêu là những nguyên tắc cơ bản, công cụ tham khảo nên việc linh hoạt và sáng tạo trong quá trình áp dụng là điều hết sức cần thiết do tính chất đa dạng của vấn đề thực tiễn, nội dung của các chính sách. Tài liệu cũng đưa ra các chỉ dẫn cơ bản để thực hiện việc lấy ý kiến trong quá trình đánh giá tác động của chính sách và lấy ý kiến đối với dự thảo báo cáo đánh giá tác động của chính sách.

       Tài liệu này có thể sử dụng cho các đơn vị chịu trách nhiệm đánh giá tác động của chính sách thuộc các bộ, ngành và địa phương theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, cho các chuyên gia, cơ quan nghiên cứu, đơn vị tư vấn và cá nhân khác sử dụng tham khảo khi tiến hành đánh giá tác động của chính sách, khi tham gia góp ý, phản biện đối với chính sách hoặc báo cáo đánh giá tác động của chính sách. Ngoài ra, cuốn tài liệu cũng có thể sử dụng cho các các cơ sở đào tạo.​/.

Sach danh gia tac dong.doc

FalseLê Thị Phương
Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật theo tinh thần của Nghị quyết số 48-NQ/TW và định hướng trong thời gian tớiThông tinXây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật theo tinh thần của Nghị quyết số 48-NQ/TW và định hướng trong thời gian tới/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/15/2020 5:00 PMNoĐã ban hành

  1. Đặt vấn đề

Để tăng cường đổi mới công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, ngày 24/5/2005, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 48-NQ/TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 (Nghị quyết số 48-NQ/TW). Nghị quyết là văn kiện đầu tiên của Đảng chuyên sâu về công tác pháp luật, với mục tiêu xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; đổi mới căn bản công tác xây dựng và thực hiện pháp luật; phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật để góp phần quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, góp phần đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.
Nghị quyết số 48-NQ/TW xác định nội dung quan trọng, chủ yếu trong Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, theo đó đặt ra 06 nội dung định hướng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam[1] và đề ra 02 nhóm giải pháp trọng tâm với nhiều giải pháp cụ thể để thực hiện.
2. Kết quả xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật theo tinh thần của Nghị Quyết số 48-NQ/TW
Sau 15 năm thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW, gắn với những nội dung, mục tiêu và các giải pháp về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam được đề ra trong Nghị quyết cơ bản đã hoàn thành, có thể khái quát kết quả đạt được trên những nội dung sau đây:

Thứ nhất, hệ thống pháp luật của nước ta không ngừng hoàn thiện và phát triển cơ bản cân đối trên mọi lĩnh vực. Trước năm 2005, hệ thống pháp luật chủ yếu được chú trọng xây dựng trong lĩnh vực kinh tế, nhưng đến nay, hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội đều có văn bản quy phạm pháp luật ở tầm luật điều chỉnh, cơ bản thể chế hóa đầy đủ, đúng đắn đường lối, chủ trương của Đảng, không chỉ góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, mà còn bảo đảm xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tôn trọng, bảo vệ quyền con người, chủ động hội nhập quốc tế của đất nước.

Pháp luật về tổ chức và hoạt động của các thiết chế trong hệ thống chính trị nói chung, của Chính phủ và hệ thống cơ quan hành chính nhà nước nói riêng được xây dựng đầy đủ và không ngừng hoàn thiện, đặc biệt sau khi Quốc hội ban hành Hiến pháp năm 2013. Thể chế về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được bổ sung, hoàn thiện. Nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước được quy định đầy đủ hơn trong Hiến pháp năm 2013. Nguyên tắc kiểm soát quyền lực đã được thể chế hóa, là cơ sở cho việc tiếp tục tăng cường cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của tổ chức bộ máy nhà nước được xác định rõ hơn và có những bước tiến mới trong hoạt động. Cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước được xác định rõ hơn. Vai trò của pháp luật trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước, trong quản lý xã hội ngày càng được đề cao.

Hiến pháp năm 2013 tiếp tục ghi nhận, đề cao việc thể chế hóa quan điểm của Đảng và Nhà nước, phù hợp với yêu cầu bảo đảm quyền con người, quyền cơ bản của công dân trong tình hình mới, tạo bước chuyển quan trọng trong nhận thức về tư duy lập hiến, lập pháp theo hướng công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân là trách nhiệm của Nhà nước. Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung, ghi nhận nhiều quyền mới[2] và quy định rõ ràng, đầy đủ hơn nội hàm của các quyền mà Hiến pháp năm 1992 đã quy định; đồng thời bổ sung nguyên tắc quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.

Pháp luật về dân sự, kinh tế với trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển và phù hợp hơn với luật pháp, thông lệ quốc tế. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước được hình thành, đáp ứng yêu cầu hội nhập. Chế độ sở hữu ngày càng hoàn thiện, các thành phần kinh tế và loại hình doanh nghiệp phát triển đa dạng. Các quyền, nghĩa vụ về tài sản được thể chế hóa tương đối đầy đủ. Hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế được nâng lên, tạo lập môi trường pháp lý cho cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, phù hợp với nguyên tắc của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và các cam kết quốc tế khác. Các yếu tố thị trường và các loại thị trường được hình thành đồng bộ hơn, gắn kết với thị trường khu vực và thế giới. Môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện và thông thoáng hơn; quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế được bảo đảm hơn.

Trên cơ sở định hướng đề ra theo tinh thần Nghị quyết số 48-NQ/TW, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 05/02/2007 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới, Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, thì khung pháp luật về hội nhập quốc tế đã được hình thành, phát triển khá đồng bộ, tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho việc ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế, cũng như cơ chế bảo đảm thực thi các cam kết quốc tế của Việt Nam. Luật Điều ước quốc tế năm 2016 đã thể chế hóa các quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về đối ngoại, đặc biệt là chủ trương chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; tạo khung pháp lý vừa chặt chẽ, vừa linh hoạt, đáp ứng nhu cầu ký kết và thực hiện điều ước quốc tế phù hợp với lợi ích của đất nước[3].
Thứ hai, chất lượng của hệ thống pháp luật có nhiều chuyển biến tích cực, cơ bản bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ[4]. Các văn bản đều được đánh giá về tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ trước khi ban hành. Tính công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật từng bước được nâng lên. Công tác xây dựng pháp luật đã được đổi mới. Quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật thống nhất cho cả Trung ương và địa phương. Quy trình xây dựng chính sách tách bạch với quy trình soạn thảo luật, pháp lệnh, bảo đảm sự phù hợp của văn bản quy phạm pháp luật với đường lối, chủ trương của Đảng, từng bước nâng cao tính công khai, minh bạch trong xây dựng chính sách, pháp luật; vai trò tham gia của xã hội vào quy trình xây dựng chính sách, pháp luật của Nhà nước được quy định cụ thể; pháp luật về hợp nhất, pháp điển văn bản quy phạm pháp luật góp phần bảo đảm cho hệ thống pháp luật đơn giản, rõ ràng, dễ tra cứu, tiếp cận, dễ sử dụng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật.

Thứ ba, nhận thức của các cơ quan nhà nước, cán bộ, Nhân dân về pháp luật và công tác xây dựng pháp luật đã được nâng lên. Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan, ban, ngành đều chú trọng, quan tâm hơn đến công tác xây dựng, hoàn thiện và thực thi pháp luật. Chính phủ xác định xây dựng và hoàn thiện thể chế là nhiệm vụ trọng tâm, giành nhiều thời gian hơn cho công tác xây dựng pháp luật. Ý thức pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân được nâng lên rõ rệt, hoạt động giám sát của các cơ quan quyền lực nhà nước, tổ chức xã hội, Nhân dân thay đổi về hình thức và nội dung, hiệu quả, thực chất.

Kết quả sau 15 năm thực hiện Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật theo Nghị quyết số 48-NQ/TW là rất lớn. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật nước ta vẫn còn một số hạn chế, bất cập:
Một là, hệ thống pháp luật chưa thực sự đồng bộ, tính thống nhất chưa cao, còn cồng kềnh với nhiều hình thức văn bản quy phạm pháp luật, do nhiều cơ quan có thẩm quyền ban hành, một số nội dung còn chồng chéo, mâu thuẫn[5].

Hai là, tính dự báo, khả thi của hệ thống pháp luật chưa thực sự đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, chi phí tuân thủ pháp luật còn cao. Nhiều dự án luật có vòng đời ngắn[6]. Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về pháp luật chưa theo kịp yêu cầu của thực tiễn và nhiệm vụ quản lý nhà nước. Việc nghiên cứu, đề xuất chính sách chưa có khảo sát, đánh giá kỹ lưỡng, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu về tính chiến lược và tầm nhìn dài hạn. Bên cạnh đó, trong một số trường hợp, việc xem xét các điều kiện, nguồn lực thực hiện vẫn còn chung chung, không rõ ràng.

Ba là, trong việc thực hiện định hướng xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật theo 06 nội dung định hướng của Nghị quyết số 48-NQ/TW vẫn còn nội dung, định hướng chưa được thể chế hóa kịp thời, đầy đủ. Cụ thể:

(i) Việc đổi mới mô hình, nhiệm vụ và thẩm quyền của các cơ quan trong bộ máy nhà nước chưa thực sự đáp ứng yêu cầu mới về xây dựng và thi hành pháp luật; nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước chủ yếu mới chỉ được ghi nhận theo Hiến pháp năm 2013, việc luật hóa cụ thể còn lúng túng, đặc biệt là việc thiết lập và vận hành cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước.
(ii) Việc phân định chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan chưa thực sự rõ ràng, hợp lý; phân cấp giữa Trung ương và địa phương trong một số lĩnh vực còn chưa phù hợp (phân cấp nhưng chưa tính đến các điều kiện bảo đảm, thiếu quản lý, giám sát của Trung ương). Việc xác định cơ quan nào là bộ, cơ quan nào là cơ quan ngang bộ chưa có tiêu chí cụ thể[7]. Tính dân chủ, công khai, minh bạch trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước và cơ chế giám sát, phản biện xã hội chưa đáp ứng được đòi hỏi của phát triển kinh tế - xã hội; bộ máy nhà nước vẫn còn cồng kềnh, hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa thực sự cao.

(iii) Trong lĩnh vực quyền con người, quyền cơ bản của công dân, so với yêu cầu đặt ra, còn một số quyền của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 nhưng chưa được cụ thể hóa thành luật; chưa có cơ chế hiệu quả để công dân thực hiện quyền yêu cầu xem xét tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản quy phạm pháp luật mà việc áp dụng văn bản đó gây ra những thiệt hại về quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức; quy định về một số hình thức dân chủ trực tiếp (lấy ý kiến và phản biện xã hội...) còn chưa hoàn thiện.

(iv) Đối với lĩnh vực xây dựng và hoàn thiện pháp luật về dân sự, kinh tế, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sở hữu toàn dân còn nhiều điểm chưa rõ ràng về mặt pháp lý, đặc biệt là đối với các tài sản thuộc sở hữu toàn dân được đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước, nhất là các tập đoàn; pháp luật về hình thành và hoạt động của các thị trường còn có điểm chưa đồng bộ, còn thiếu các cơ chế hiệu quả để kiểm soát, quản lý, xử lý vi phạm. Chiến lược cạnh tranh quốc gia và thực thi các chính sách công nghiệp chưa rõ nét; những vướng mắc về thủ tục hành chính, cả trong pháp luật lẫn trong thực tiễn thi hành vẫn đang còn là rào cản đối với quá trình gia nhập thị trường, vận hành hoạt động sản xuất, kinh doanh của các chủ thể, làm giảm đáng kể sức cạnh tranh và sự hấp dẫn, thu hút đầu tư trong và ngoài nước của Việt Nam.

(v) Thể chế pháp luật về hội nhập quốc tế chưa thực sự thích ứng nhanh với bối cảnh hội nhập sâu rộng, dẫn đến chưa chủ động tận dụng các cơ hội; đồng thời, chưa thấy rõ thách thức để chủ động ứng phó; chưa lường trước các tác động tiêu cực từ bên ngoài để có những biện pháp hạn chế hữu hiệu.
Những tồn tại, hạn chế nêu trên của hệ thống pháp luật và công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật ở nước ta xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, trong đó, những nguyên nhân chủ yếu có thể kể đến như:

- Quy trình xây dựng pháp luật còn thiếu tính liên kết, kiểm soát chặt chẽ giữa các giai đoạn dẫn đến phản ứng chính sách chưa bảo đảm tính linh hoạt khi phải đối phó với những vấn đề phát sinh cần có sự phản ứng nhanh nhạy.

- Nguồn lực tài chính dành cho công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực pháp luật, mặc dù tranh thủ được nguồn lực hỗ trợ của các tổ chức quốc tế trong công tác xây dựng pháp luật và nâng cao năng lực cán bộ của ngành, tuy nhiên, kinh phí hỗ trợ cũng chỉ đủ chi phí một phần, còn lại phải dựa vào nguồn ngân sách nhà nước hạn hẹp. Công tác đào tạo cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật chưa thực sự khoa học, chưa gắn với thực tiễn nhu cầu của xã hội,

- Cơ chế phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật chưa hiệu quả, thực chất, nhất là giữa cơ quan hành pháp với cơ quan lập pháp và tư pháp; thủ tục hành chính vẫn còn rườm rà, chưa hợp lý, thiếu linh hoạt.

- Tư duy đổi mới về xây dựng pháp luật, gắn xây dựng với tổ chức thi hành pháp luật chưa được triệt để, chưa phù hợp với từ bối cảnh mới. Một số cơ quan chưa coi trọng đúng mức việc lấy ý kiến, tổng hợp, xử lý và giải trình đầy đủ ý kiến của Nhân dân, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của chính sách, văn bản hoặc chưa có phương pháp thực hiện phù hợp. Từ phía xã hội, nhiều cá nhân, tổ chức cũng chưa nhận thức đầy đủ trách nhiệm về tham gia xây dựng pháp luật, giám sát và phản biện xã hội đối với việc thực thi các chính sách, pháp luật của Nhà nước.

- Công tác nghiên cứu lý luận trong lĩnh vực pháp luật và đổi mới tư duy lập pháp chưa thực sự đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, chưa gắn việc xây dựng pháp luật với phục vụ nhiệm vụ quản lý nhà nước.
3. Định hướng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trong thời gian tới

Sau hơn 30 năm đổi mới, thế và lực của ta đã lớn mạnh hơn nhiều. Kinh tế vĩ mô ổn định, vững chắc hơn, niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp và xã hội tăng lên. Chất lượng tăng trưởng kinh tế được cải thiện, mô hình tăng trưởng từng bước dịch chuyển sang chiều sâu. Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, khả năng chống chịu, thích ứng với tác động bên ngoài còn hạn chế, năng lực tiếp cận nền kinh tế số còn bất cập. Những thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, môi trường, biến đổi khí hậu… ngày càng nặng nề, yêu cầu đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng phát triển con người, bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, bảo đảm quốc phòng, an ninh rất lớn trong khi nguồn lực còn hạn hẹp. Phấn đấu đến năm 2030 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; có thể chế quản lý hiện đại, cạnh tranh, hiệu lực, hiệu quả; một nền kinh tế năng động, phát triển nhanh và bền vững, độc lập, tự chủ, gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế… 
Bối cảnh và mục tiêu nêu trên đặt ra những cơ hội và thách thức trong công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đòi hỏi định hướng của công tác này vừa đảm bảo tính dự báo của hệ thống pháp luật, vừa bảo đảm tính phù hợp, khả thi với điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước, theo đó cần tập trung vào một số định hướng sau:


Thứ nhất, trong giai đoạn 2021 - 2030, tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện pháp luật gắn với nâng cao hiệu lực, hiệu quả thi hành pháp luật, xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận, với chi phí tuân thủ thấp, có sức cạnh tranh trong khu vực và quốc tế, lấy quyền và lợi ích hợp pháp của người dân là trung tâm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển bền vững kinh tế - xã hội và quốc phòng, an ninh.

Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện, nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tiếp tục phát triển, hoàn thiện các loại thị trường để huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch; hình thành hệ thống thể chế có năng lực cạnh tranh cao trong khu vực và thế giới.

Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện thể chế, tạo điều kiện phát triển mạnh mẽ khoa học - công nghệ; xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội, cạnh tranh để tăng cường ứng dụng công nghệ, nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển; xây dựng thể chế để phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, lấy doanh nghiệp là trung tâm nghiên cứu phát triển, ứng dụng và chuyển giao công nghệ, đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4.
Thứ tư, bên cạnh các cải cách trình tự, thủ tục tổ chức thi hành pháp luật theo hướng công khai, minh bạch, thì cần bảo đảm cơ chế phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan trong thi hành pháp luật; bảo đảm cơ chế giám sát của cơ quan nhà nước và xã hội đối với công tác thi hành pháp luật; xây dựng đội ngũ công chức có chuyên môn, chuyên nghiệp, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu của đất nước trong giai đoạn 2021 - 2030, nhất là yêu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng.

Thứ năm, trong một số lĩnh vực pháp luật cụ thể, công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật cần linh hoạt, giải quyết các vấn đề phát sinh trong đời sống kinh tế - xã hội, đồng thời phải bảo đảm phù hợp với thực tiễn, điều kiện của nước ta, cụ thể:

- Tiếp tục nghiên cứu, rà soát xây dựng thể chế về tổ chức bộ máy nhà nước; kiện toàn tổ chức bộ máy hành chính nhà nước bảo đảm các cơ quan trong hệ thống chính trị hoạt động hiệu lực, hiệu quả, tinh gọn, khắc phục tình trạng trùng lặp, chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ hoặc tổ chức không phù hợp; bảo đảm tính đồng bộ, hệ thống, kế thừa những thành quả, kinh nghiệm đã đạt được, phù hợp với đặc điểm của hệ thống chính trị nước ta vận hành theo cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ" đáp ứng yêu cầu của tiến trình đổi mới đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.
- Tiếp tục thể chế hóa các quyền con người, quyền công dân đã được đề ra trong các chủ trương, nghị quyết của Đảng và Hiến pháp năm 2013, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và có tính đến các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, tạo điều kiện để người dân thực hiện quyền dân chủ trực tiếp và các quyền tự do, dân chủ khác, tạo thêm động lực cho cải cách, đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, các thiết chế trong hệ thống chính trị.

- Tập trung hoàn thiện, nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giải quyết tốt hơn quan hệ giữa Nhà nước và thị trường. Tiếp tục hoàn thiện thể chế về sở hữu toàn dân theo hướng tách bạch vai trò của Nhà nước với tư cách là bộ máy công quyền quản lý toàn bộ nền kinh tế - xã hội và vai trò đại diện chủ sở hữu, tạo điều kiện cho sự tham gia một cách thực chất của người dân trong việc thực thi quyền sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân.
- Đẩy mạnh việc rà soát, ưu tiên xây dựng các văn bản pháp luật và các thiết chế bảo vệ nền kinh tế độc lập tự chủ trong quá trình hội nhập quốc tế. Chú trọng việc nội luật hóa những điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, nhất là các điều ước quốc tế về tự do hóa thương mại thế hệ mới như Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)... Chủ động và tích cực đóng góp xây dựng, định hình các thể chế đa phương (nhất là các diễn đàn đa phương về pháp luật) và khu vực (nhất là cộng đồng ASEAN) trên cơ sở các chủ trương về hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước./.

 

[1] Pháp luật về: Tổ chức và hoạt động của các thiết chế trong hệ thống chính trị; bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân; dân sự, kinh tế, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, y tế, văn hóa - thông tin, thể thao, dân tộc, tôn giáo, dân số, gia đình, trẻ em và chính sách xã hội; quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; hội nhập quốc tế;

[2] Hiến pháp năm 2013 bổ sung, ghi nhận nhiều quyền mới như quyền sống (Điều 19); quyền được sống trong môi trường trong lành (Điều 43); quyền không bị trục xuất, giao nộp cho nước khác (khoản 2 Điều 17); quyền có nơi ở hợp pháp (Điều 22); quyền được bảo đảm an sinh xã hội (Điều 34); quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa (Điều 41); quyền xác định dân tộc, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp (Điều 42)… Hiến pháp năm 2013 cũng quy định rõ ràng, đầy đủ hơn nội hàm của các quyền mà Hiến pháp năm 1992 đã quy định, đó là các quyền bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trước pháp luật (Điều 16); không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm (khoản 1 Điều 20); quyền bảo vệ đời tư (Điều 21); quyền tiếp cận thông tin (Điều 25); quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội (Điều 28); quyền bình đẳng giới (Điều 26); quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân (Điều 29)...

[3] Giai đoạn 2005 - 2019, Việt Nam đã ký, gia nhập, phê chuẩn, phê duyệt rất nhiều điều ước quốc tế, góp phần đảm bảo công tác hội nhập kinh tế quốc tế đạt được những thành tựu lớn. Những cam kết mở cửa thị trường không chỉ giới hạn trong phạm vi thương mại hàng hóa mà còn bao gồm thương mại dịch vụ, đầu tư, dịch vụ tài chính, sở hữu trí tuệ… Việt Nam đã tiến hành nhiều cải cách chính sách thương mại theo hướng minh bạch và tự do hóa hơn. Đồng thời hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp đã được đẩy mạnh thông qua việc ký kết các điều ước quốc tế song phương, từng bước tham gia các thiết chế đa phương, khu vực về tương trợ tư pháp, giải quyết tranh chấp thương mại, đầu tư... Xem Phụ lục số 5, Báo cáo số 1182-BC/BCSĐCP ngày 13/11/2019 của Ban Cán sự Đảng Chính phủ tổng kết Nghị quyết số 48-NQ/TW;

[4] Mặc dù tình trạng mâu thuẫn giữa các văn bản quy phạm pháp luật cụ thể vẫn còn, xem nội dung về tồn tại, hạn chế bên dưới.

[5] Xem Báo cáo số 1182-BC/BCSĐCP ngày 13/11/2019 của Ban Cán sự Đảng Chính phủ tổng kết Nghị quyết số 48-NQ/TW, tr. 28, 29. Mâu thuẫn giữa Luật Điện lực, Luật Đầu tư với Luật Xây dựng; mâu thuẫn giữa Luật Dầu khí với Luật Xây dựng, Luật Đầu tư, Luật Đầu tư công, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp trong lĩnh vực điện lực, lĩnh vực dầu khí; mâu thuẫn giữa Luật Di sản văn hóa với Luật Đầu tư công, Luật Bảo vệ môi trường; mâu thuẫn giữa Bộ luật Lao động với Luật Doanh nghiệp…

[6] Luật Đầu tư công năm 2014 và Luật Đầu tư công năm 2019; Luật Tố tụng hành chính năm 2010 và Luật Tố tụng hành chính năm 2015; Luật Vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ được Quốc hội khóa XIV thông qua năm 2017, tuy nhiên đến nay, Chính phủ đã trình Quốc hội khóa XIV xem xét thông qua đối với dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ (trong 03 năm từ năm 2017 đến năm 2019)...

[7] Ngân hàng Nhà nước có chức năng quản lý nhà nước đối với các tổ chức tín dụng, ngân hàng thương mại, vừa làm chức năng của Ngân hàng Trung ương; Thanh tra Chính phủ có chức năng quản lý nhà nước về hoạt động thanh tra, vừa trực tiếp tổ chức hoạt động thanh tra các đối tượng, vụ việc theo thẩm quyền.

Nguyễn Hồng Tuyến

Vụ trưởng Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật

Nguồn: https://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=601

 

FalseĐào Thị Quyên
Từ ngày 01/7/2020, một số điểm mới của Luật Cán bộ, công chức  được thi hành Thông tinTinTừ ngày 01/7/2020, một số điểm mới của Luật Cán bộ, công chức  được thi hành /CMSImageNew/2020-06/Capture_Key_12062020150648.PNG
6/12/2020 4:00 PMNoĐã ban hành

​     Ngày 25 tháng 11 năm 2019, Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 và Luật Viên chức số 58/2010/QH12. Theo đó, từ ngày 01/7/2020 một số điểm mới của Luật Cán bộ, công chức được sửa đổi, bổ sung, cụ thể như sau:

     1. Thu hẹp đối tượng là công chức

     Theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức thì Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Như vậy, khái niệm mới không còn đối tượng công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội.

     2. Bổ sung thêm 01 loại công chức theo ngạch

     Căn cứ vào lĩnh vực ngành, nghề, chuyên môn, nghiệp vụ, công chức được phân loại theo 4 ngạch công chức tương ứng (gồm: Loại A gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên cao cấp hoặc tương đương; Loại B gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên chính hoặc tương đương; Loại C gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên hoặc tương đương; Loại D gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch cán sự hoặc tương đương và ngạch nhân viên).

     Tuy nhiên, theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức thì bổ sung thêm 01 loại công chức theo ngạch, đó là ngạch khác theo quy định Chính phủ.

     3. Bổ sung quy định về phương thức tuyển dụng công chức

     Ngoài hình thức tuyển dụng thông qua thi tuyển và xét tuyển theo Luật Cán bộ, công chức thì Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức có quy định thêm về việc tiếp nhận công chức không qua thi tuyển, xét tuyển. Theo đó, người đứng đầu cơ quan quản lý công chức quyết định tiếp nhận người đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện của vị trí việc làm vào làm công chức đối với trường hợp sau đây:

- Viên chức công tác tại đơn vị sự nghiệp công lập;

- Cán bộ, công chức cấp xã;

- Người hưởng lương trong lực lượng vũ trang nhân dân, người làm việc trong tổ chức cơ yếu nhưng không phải là công chức;

- Tiếp nhận để bổ nhiệm làm công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý đối với người đang là Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch công ty, Thành viên Hội đồng thành viên, Thành viên Hội đồng quản trị, Kiểm soát viên, Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc, Giám đốc, Phó Giám đốc, Kế toán trưởng và người đang giữ chức vụ, chức danh quản lý khác theo quy định của Chính phủ trong doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ; người được tiếp nhận phải được quy hoạch vào chức vụ bổ nhiệm hoặc chức vụ tương đương;

- Người đã từng là cán bộ, công chức sau đó được cấp có thẩm quyền điều động, luân chuyển giữ các vị trí công tác không phải là cán bộ, công chức tại các cơ quan, tổ chức khác./.

 

​ 

FalseLê Thị Phương
Một số văn bản quy phạm pháp luật do Trung ương ban hành có hiệu lực thi hành từ ngày 15/6/2020Thông tinTinMột số văn bản quy phạm pháp luật do Trung ương ban hành có hiệu lực thi hành từ ngày 15/6/2020/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/12/2020 10:00 AMNoĐã ban hành

1. Nghị định 49/2020/NĐ-CP ngày 17/4/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thi hành án hình sự về tái hòa nhập cộng đồng.

2. Nghị định 50/2020/NĐ-CP ngày 20/4/2020 của Chính phủ quy định về tiếp nhận, quản lý và sử dụng viện trợ quốc tế khẩn cấp để cứu trợ và khắc phục hậu quả thiên tai.

3. Nghị định 52/2020/NĐ-CP ngày 27/4/2020 của Chính phủ về đầu tư xây dựng và kinh doanh sân gôn.

4. Thông tư số 01/2020/TT-BTNMT ngày 29/4/2020 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về kỹ thuật đánh giá chất lượng tài liệu hải văn, môi trường không khí và nước.

5. Thông tư 02/2020/TT-BTNMT ngày 29/4/2020 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về Danh mục địa danh dân cư, sơn văn, thủy văn, kinh tế - xã hội phục vụ công tác thành lập bản đồ tỉnh Đắk Nông.

6. Thông tư 03/2020/TT-BTP ngày 28/4/2020 của Bộ Tư pháp về Quy tắc nghề nghiệp trợ giúp pháp lý.

7. Thông tư 09/2020/TT-BGTVT ngày 23/4/2020 của Bộ Giao thông vận tải sửa đổi Thông tư 19/2017/TT-BGTVT quy định về quản lý và bảo đảm hoạt động bay.

​8. Thông tư 01/2020/TT-BNV ngày 05/6/2020 của Bộ Nội vụ bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật (Bãi bỏ toàn bộ các văn bản: Thông tư số 01/2011/TT-BNV ngày 19/01/2011 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính; Thông tư số 07/2012/TT-BNV ngày 22/11/2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn quản lý văn bản, lập hồ sơ và nộp lưu hồ sơ, tài liệu vào Lưu trữ cơ quan; Thông tư số 01/2019/TT-BNV ngày 24/01/2019 của Bộ Nội vụ quy định quy trình trao đổi, lưu trữ, xử lý tài liệu điện tử trong công tác văn thư, các chức năng cơ bản của Hệ thống quản lý tài liệu điện tử trong quá trình xử lý công việc của các cơ quan, tổ chức).

FalseTrần Thị Kim Yến
Thực hiện nghiêm Chương trình xây dựng luật, pháp lệnhThông tinThực hiện nghiêm Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Tại phiên họp chiều 10/6, với 94% đại biểu tán thành, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2021, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2020.
6/11/2020 4:00 PMNoĐã ban hành

​         Nghị quyết nêu rõ, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền đề cao trách nhiệm, thực hiện nghiêm Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh đã được Quốc hội quyết định, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, bảo đảm tuân thủ đầy đủ quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) trong công tác xây dựng pháp luật; không trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội dự án, dự thảo không bảo đảm đầy đủ hồ sơ, tài liệu, không bảo đảm chất lượng và tiến độ; kiểm điểm, xác định rõ nguyên nhân, trách nhiệm trong việc không hoàn thành nhiệm vụ soạn thảo được giao, phải lùi, rút dự án, dự thảo ra khỏi Chương trình để báo cáo Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; đồng thời có giải pháp kiên quyết xử lý để tiến tới chấm dứt tình trạng này.

        Cơ quan soạn thảo, cơ quan trình khi xây dựng dự thảo VBQPPL cần thực hiện nghiêm quy định tại khoản 2 Điều 12 Luật Ban hành VBQPPL; rà soát kỹ các văn bản đã ban hành để phát hiện, xử lý những vấn đề khác nhau giữa quy định của văn bản đang có hiệu lực và văn bản dự kiến ban hành, bảo đảm không để xảy ra mâu thuẫn, chồng chéo giữa các văn bản.

         Thực hiện nghiêm túc, đúng quy định của Luật Ban hành VBQPPL trong công tác tổ chức lấy ý kiến, tham gia ý kiến và tiếp thu ý kiến về dự án, dự thảo, huy động sự tham gia của đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học một cách thực chất, tránh hình thức...

          Cũng tại phiên họp, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp với tỉ lệ 94,41% đại biểu tán thành. Nghị quyết nêu rõ kéo dài thời hạn miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp được quy định tại Nghị quyết số 55/2010/QH12 ngày 24/11/2010 của Quốc hội về miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 28/2016/QH14 đến hết ngày 31/12/2025. Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2021. 

Thanh Tâm​

Nguồn: https://baophapluat.vn/trong-nuoc/thuc-hien-nghiem-chuong-trinh-xay-dung-luat-phap-lenh-522857.html

FalseĐào Thị Quyên
Quyết định số 14/2020/QĐ-UBND ngày 04 tháng 6 năm 2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình DươngVăn bản QPPLTinQuyết định số 14/2020/QĐ-UBND ngày 04 tháng 6 năm 2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương/CMSImageNew/2020-06/qd 14_Key_11062020143548.PNG
6/11/2020 3:00 PMNoĐã ban hành

​Ngày 04 tháng 6 năm 2020, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Quyết định quy định Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương. Quyết định này thay thế Quyết định số 40/2016/QĐ-UBND ngày 13/10/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc ban hành Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương nhằm đảm bảo thực hiện đúng số lượng các phòng chuyên môn và đơn vị sự nghiệp thuộc Sở sau khi sáp nhập, tinh gọn bộ máy và thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ theo quy định.​

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2020.

14-2020-QD.signed.pdf

FalseĐào Thị Quyên
1 - 30Next
Ảnh
Video
Audio