Kiểm tra, rà soát, Hệ thống hóa, Cập nhật CSDL
Thứ 4, Ngày 10/01/2024, 17:00
Kết quả công tác kiểm tra, xử lý, rà soát văn bản quy phạm pháp luật năm 2023 trên địa bàn tỉnh Bình Dương
Cỡ chữ: Font size: Giảm (A-) Mặc định (A) Tăng (A+)
10/01/2024 | Nguyễn Thị Bảo Khuyên

I. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

1. Về công tác kiểm tra, xử lý văn bản QPPL

a) Công tác tự kiểm tra

- Cấp tỉnh: Sở Tư pháp đã tham mưu giúp Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện tự kiểm tra 47 văn bản QPPL do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành và gửi đến Sở Tư pháp trong năm 2023 (đạt 100% văn bản do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành), tăng 7 văn bản so với năm 2022 (có Phụ lục 1 kèm theo). Qua kiểm tra không phát hiện văn bản có sai sót, do đó, địa phương không thực hiện việc lập danh mục văn bản trái pháp luật về thẩm quyền, nội dung.

- Cấp huyện: Trong năm 2023, Phòng Tư pháp đã giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện kiểm tra 42 văn bản QPPL do Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố ban hành (tăng 12 văn bản so với năm 2022). Qua kiểm tra không phát hiện văn bản nào có sai sót về thẩm quyền, hình thức, nội dung và trình tự thủ tục theo quy định.

b) Công tác kiểm tra theo thẩm quyền

- Cấp tỉnh: Sở Tư pháp nhận được 27 văn bản QPPL do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố ban hành, gửi về Sở Tư pháp (tăng 11 văn bản so với năm 2022); thực hiện kiểm tra 27/27 văn bản, qua kiểm tra không phát hiện văn bản có sai sót.

- Cấp huyện: Trong năm 2023, Phòng Tư pháp đã nhận và thực hiện kiểm tra 25 văn bản do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn ban hành (tăng 23 văn bản so với năm 2022). Qua kiểm tra không phát hiện văn bản nào có sai sót về thẩm quyền, hình thức, nội dung và trình tự thủ tục theo quy định.

c) Xử lý văn bản QPPL do cơ quan có thẩm quyền kiểm tra

Trong năm 2022, Ủy ban nhân dân tỉnh nhận được kiến nghị xử lý 01 Quyết định[1] do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành có nội dung chưa phù hợp với quy định của pháp luật thông qua kiểm tra của Bộ Nội vụ (Kết luận số 6619/KL-BNV ngày 23/12/2022). Hiện nay, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã có văn bản chỉ đạo giao Sở Nội vụ chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan tham mưu Uỷ ban nhân dân tỉnh sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế cho phù hợp với quy định pháp luật.

Trong năm 2023, Ủy ban nhân dân tỉnh nhận được kiến nghị xử lý 03 Quyết định[2] do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành có nội dung chưa phù hợp với quy định của pháp luật thông qua kiểm tra của Bộ Nội vụ liên quan lĩnh vực nội vụ chưa phù hợp với quy định tại Nghị định số 120/2020/NĐ-CP của Chính phủ ngày 07/10/2020 quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập và Nghị định 107/2020/NĐ-CP ngày 14/9/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (Kết luận số 7715/KL-BNV ngày 28/12/2023 của Bộ Nội vụ). Kết luận số 7715/KL-BNV của Bộ Nội vụ ký ban hành vào ngày cuối năm 2023, tỉnh Bình Dương nhận được văn bản vào tháng 01 năm 2024, Uỷ ban nhân dân đang chỉ đạo xử lý theo quy định, đã đưa vào nhiệm vụ thực hiện năm 2024.

2. Về công tác rà soát văn bản QPPL

a) Rà soát thường xuyên

Công tác rà soát văn bản QPPL hết hiệu lực, ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần năm 2022 được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 157 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản QPPL (sửa đổi, bổ sung bởi khoản 34 Điều 1 Nghị định số 154/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP). Theo đó, Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo Sở Tư pháp tiến hành rà soát 541 văn bản QPPL (gồm: 153 Nghị quyết của Hội đồng nhân dân; 379 Quyết định của Ủy ban nhân dân; 09 Chỉ thị của Ủy ban nhân dân và Chủ tịch Ủy ban nhân dân) để rà soát văn bản QPPL hết hiệu lực, ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh. Sau khi rà soát, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành "Quyết định số 05/QĐ-UBND ngày 04/01/2023 về việc công bố Danh mục văn bản QPPL hết hiệu lực, ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương năm 2022", gồm: 66 văn bản QPPL hết hiệu lực toàn bộ (12 Nghị quyết; 54 Quyết định); 05 văn bản hết hiệu lực một phần (01 Nghị quyết; 04 Quyết định). Nhìn chung, công tác rà soát văn bản QPPL được thực hiện thường xuyên, kịp thời và đúng theo quy định, qua đó kịp thời phát hiện văn bản hết hiệu lực thi hành hoặc không còn phù hợp với văn bản mới được ban hành.

b) Rà soát theo chuyên đề, địa bàn, ngành, lĩnh vực

Trong năm 2023, thực hiện yêu cầu của các cơ quan có thẩm quyền khác, Sở Tư pháp tham mưu Ủy ban nhân dân thực hiện các đợt rà soát theo chuyên đề, cụ thể như sau:

- Thực hiện rà soát văn bản quy phạm pháp luật phục vụ triển khai Đề án 06: Thực hiện yêu cầu của Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ về rà soát văn bản quy phạm pháp luật về việc rà soát văn bản quy phạm pháp luật phục vụ triển khai Đề án 06; kết quả: có 464 văn bản được tập hợp rà soát; qua rà soát đề xuất sửa đổi, bổ sung 02 văn bản.

- Thực hiện rà soát văn bản theo chỉ đạo của Lãnh đạo Chính phủ tại Công văn số 7705/VPCP-PL và Công văn số 854/VPCP-PL; Tuy nhiên, qua rà soát Ủy ban nhân dân tỉnh chưa phát hiện trường hợp văn bản hành chính do Thủ tướng Chính phủ ban hành có nội dung chứa quy phạm pháp luật nhưng hình thức không phải văn bản quy phạm pháp luật; văn bản có nội dung không còn phù hợp với quy định pháp luật hiện hành; văn bản có nội dung không còn phù hợp với thực tiễn. Do vậy, tạm thời Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương chưa có kiến nghị, đề xuất xử lý.

- Thực hiện Công văn số 689/TTg-PL ngày 29/7/2023 của Thủ tướng Chính phủ về việc rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định bất cập, những vấn đề vướng mắc trong các luật hiện hành; Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành tỉnh tiến hành rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định bất cập, những vấn đề vướng mắc trong các luật hiện hành. Qua rà soát, đề xuất xử lý 65 vấn đề có vướng mắc, bất cập trong quy định của các văn bản QPPL Trung ương thuộc các lĩnh vực như công thương, tài nguyên và môi trường, đầu tư…

- Thực hiện Công văn số 5449/VPCP-PL ngày 19/7/2023 của Văn phòng Chính phủ về việc triển khai Nghị quyết kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XV về rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Qua rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, trọng tâm là pháp luật về đấu thầu, đấu giá, quy hoạch, đầu tư công, quản lý, sử dụng đất đai, tài sản công, ngân sách nhà nước, tài chính công, hợp tác công tư, xã hội hóa các dịch vụ công, đầu tư môi trường, xây dựng, kinh doanh bất động sản, ngân hàng, tài chính, tự chủ tài chính, chứng khoán, trái phiếu, doanh nghiệp, giám định, định giá; Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương đề xuất sửa đổi, bổ sung 12 nội dung liên quan đến các quy định tại Luật Đấu giá tài sản năm 2016, Luật Đất đai năm 2013, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014, Luật Đầu tư năm 2020, Luật Đầu tư công năm 2019, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư năm 2020 và một số Nghị định, Thông tư liên quan đến đất đai.

- Ngoài ra, để có cơ sở cung cấp thông tin cho Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Bình Dương theo yêu cầu tại Nghị quyết số 101/2023/QH15, Sở Tư pháp tiến hành rà soát liên quan đến các lĩnh vực trọng tâm theo yêu cầu tại Nghị quyết số 101/2023/QH15. Qua rà soát, đề xuất xử lý 02 vấn đề có vướng mắc, bất cập trong quy định của các văn bản QPPL Trung ương thuộc lĩnh vực đấu giá tài sản.

c) Tình hình xử lý văn bản không còn phù hợp sau rà soát

Qua kết quả công tác rà soát văn bản quy phạm pháp luật năm 2022, có 13[3] văn bản QPPL do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành hiện không còn phù hợp, cần phải sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ. Đến thời điểm hiện tại, địa phương đã xử lý 12/13 văn bản, còn 01/13 văn bản đang trong quá trình xử lý (Có Phụ lục 2 kèm theo).

Trong năm 2023, trên cơ sở kết quả rà soát văn bản quy phạm pháp luật của các sở, ban, ngành tỉnh, có 10 văn bản QPPL do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành hiện không còn phù hợp, cần phải sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ trong năm 2024, gồm: 01 văn bản từ năm 2023 chuyển sang và 09 văn bản đề xuất mới (Có Phụ lục 3 kèm theo).

3. Công bố Danh mục văn bản QPPL hết hiệu lực, ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần

- Việc công bố Danh mục văn bản QPPL hết hiệu lực, ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần năm 2022: Căn cứ Điều 157 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy định pháp luật (được sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 34 Điều 1 Nghị định 154/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP). Theo đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 05/QĐ-UBND ngày 04/01/2023 về việc công bố Danh mục văn bản QPPL hết hiệu lực, ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương năm 2022[4], gồm: 66 văn bản hết hiệu lực toàn bộ và 05 văn bản hết hiệu lực một phần.

- Việc công bố Danh mục văn bản QPPL hết hiệu lực, ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần năm 2023: Để đảm bảo việc công bố Danh mục văn bản QPPL hết hiệu lực, ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần năm 2023 đảm bảo thời gian theo quy định; ngày 18/12/2023, Sở Tư pháp đã ban hành Công văn số 2530/STP-VBTT gửi các sở, ban, ngành tỉnh, Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố về việc lập danh mục văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực, ngưng hiệu lực. Trên cơ sở báo cáo của các đơn vị, Sở Tư pháp đã có Tờ trình số 06/TTr-STP ngày 02/01/2024 trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định công bố Danh mục văn bản QPPL hết hiệu lực, ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương năm 2023.

4. Cập nhật văn bản QPPL vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật

Nguồn cơ sở dữ liệu chủ yếu phục vụ công tác kiểm tra, rà soát văn bản được sử dụng từ nguồn Cơ sở Dữ liệu Quốc gia về pháp luật, Cổng thông tin điện tử của Chính phủ, Công báo Chính phủ, Công báo Ủy ban nhân dân tỉnh, Website tỉnh và Danh mục cập nhật văn bản QPPL của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành từ trước đến nay còn hiệu lực để làm nguồn phục vụ công tác kiểm tra, rà soát văn bản. Thực hiện Nghị định số 52/2015/NĐ-CP ngày 28/5/2015 của Chính phủ quy định cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật, Sở Tư pháp phối hợp với các cơ quan có liên quan tổ chức thực hiện cập nhật văn bản QPPL do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành đúng theo quy định. Trong năm 2023, Sở Tư pháp đã giúp Ủy ban nhân dân tỉnh cập nhật kịp thời, đầy đủ 75 văn bản QPPL (47 Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh và 28 Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh) vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật (tăng 12 văn bản so với năm 2022).

5. Tổ chức tập huấn, nghiệp vụ

- Đối với cấp tỉnh: Để triển khai "Kế hoạch số 384/KH-UBND ngày 03/02/2023 về kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hoá văn bản QPPL năm 2023 trên địa bàn tỉnh Bình Dương"; Ủy ban nhân dân tỉnh đã giao Sở Tư pháp chủ động chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan thường xuyên tổ chức tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ công tác văn bản cho cán bộ, công chức, viên chức; công tác tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ làm công tác pháp chế ở các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, công chức tư pháp cấp huyện, cấp xã được thực hiện thường xuyên, góp phần nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ, công chức làm công tác này cũng như chất lượng công tác xây dựng, ban hành văn bản của địa phương. Trong năm 2023, tỉnh đã tổ chức 01 Hội nghị tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ về công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, pháp chế và 01 Hội nghị Tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật phục vụ hệ thống hóa văn bản kỳ 2019 – 2023 cho cán bộ pháp chế các sở, ban, ngành tỉnh; công chức Phòng Tư pháp cấp huyện và cán bộ Tư pháp - Hộ tịch cấp xã với khoảng 300 lượt người tham dự.

- Đối với cấp huyện: 09/09 Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố đã tổ chức và tham dự đầy đủ, đúng thành phần các Hội nghị tập huấn nghiệp vụ công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát văn bản QPPL của cấp trên cho cán bộ, công chức các phòng, ban chuyên môn và Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nhằm đảm bảo triển khai đầy đủ các nội dung về kiểm tra, rà soát, thực hiện có hiệu quả công tác văn bản QPPL trên địa bàn theo quy định của pháp luật.

II. ĐÁNH GIÁ CHUNG

1. Ưu điểm:

Trong năm 2023, thực hiện chỉ đạo của Bộ Tư pháp, Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đối với việc xây dựng, rà soát, hoàn thiện thể chế và tổ chức thi hành pháp luật phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát văn bản tại các sở, ban, ngành tỉnh và địa phương nhìn chung tiếp tục có những chuyển biến tích cực, nâng cao về chất lượng, hiệu quả. Cụ thể:

- Các sở, ban, ngành tỉnh và Ủy ban nhân dân cấp huyện đã quan tâm chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch hàng năm; công tác kiểm tra, xử lý, rà soát văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh đi vào nề nếp; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh ngày càng hoàn thiện.

- Công tác kiểm tra, xử lý văn bản QPPL trên địa bàn tỉnh được triển khai tốt; các cấp, các ngành đã thực hiện nghiêm túc, đầy đủ về công tác kiểm tra, xử lý văn bản theo quy định của pháp luật và kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh.

- Công tác rà soát văn bản QPPL luôn được Ủy ban nhân dân tỉnh thường xuyên quan tâm, chỉ đạo các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thực hiện các hoạt động liên quan đến việc rà soát văn bản QPPL do Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành, bao gồm rà soát văn bản QPPL thường xuyên và rà soát theo chuyên đề, lĩnh vực đảm bảo tiến độ theo quy định pháp luật và yêu cầu của Bộ Tư pháp. Kết quả rà soát cho thấy, hầu hết các văn bản QPPL được địa phương khi ban hành đều đảm bảo về nội dung, thẩm quyền, đáp ứng nhu cầu quản lý nhà nước và góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh chính trị của địa phương. Qua đó nhằm phát hiện và kịp thời xử lý nhiều văn bản, quy định chồng chéo, mâu thuẫn hoặc không còn phù hợp, góp phần bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật; chú trọng thường xuyên, kịp thời phát hiện xử lý những nội dung trái quy định pháp luật.

- Việc công bố danh mục văn bản hết hiệu lực hàng năm và cập nhật văn bản vào hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia kịp thời, đúng theo quy định góp phần công khai, minh bạch nâng cao chỉ số cạnh tranh của tỉnh.

- Công tác tập huấn nghiệp vụ luôn được tỉnh đề cao, chú trọng nhằm đưa những thông tin mới, kịp thời đến những người làm công tác kiểm tra, rà soát; giải quyết những khó khăn, vướng mắc, bất cập trong quá trình thực hiện công tác văn bản.

2. Hạn chế và nguyên nhân

a) Hạn chế

- Việc xử lý một số văn bản quy phạm pháp luật không còn phù hợp sau rà soát chưa đảm bảo tiến độ theo yêu cầu (đến nay vẫn còn 01/13 văn bản không còn phù hợp chưa hoàn thành việc xử lý).

 - Một số cán bộ, công chức thực hiện công tác kiểm tra, rà soát ở một số cơ quan, đơn vị còn thiếu và yếu, chủ yếu kiêm nhiệm và thường xuyên có sự biến động dẫn đến công tác kiểm tra, rà soát đôi lúc chưa kịp thời, chất lượng chưa đảm bảo yêu cầu.

- Việc thống kê, báo cáo số liệu về kiểm tra, xử lý văn bản tại một số ít sở, ngành, địa phương chưa đảm bảo chính xác; việc thực hiện quy định về chế độ báo cáo công tác kiểm tra, xử lý, rà soát văn bản của một số cơ quan chưa đúng yêu cầu về nội dung và thời hạn.      

b) Nguyên nhân

-  Một số ít sở, ngành chưa nhận thức thật sự đầy đủ, chưa quan tâm đúng mức về công tác kiểm tra, xử lý, rà soát văn bản; do đó, chưa xác định đúng đắn nội dung, yêu cầu đối với công tác này, chưa kịp thời xử lý văn bản không còn phù hợp sau rà soát.

- Đa phần công chức thực hiện công tác kiểm tra, rà soát văn bản tại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh và Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố chủ yếu là kiêm nhiệm; đồng thời, khối lượng công việc trong công tác kiểm tra, rà soát tương đối lớn, làm ảnh hưởng đến chất lượng, thời gian thực hiện.

III. KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC 

Hiện tại, Thông tư của các Bộ chuyên ngành không quy định về việc thành lập phòng pháp chế tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh nên các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh không thành lập phòng pháp chế; đồng thời, Nghị định số 107/2020/NĐ-CP ngày 14 tháng 9 năm 2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04 tháng 4 năm 2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã giao UBND cấp tỉnh quyết định cơ cấu tổ chức của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh. Thực tế hiện nay, thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, nhà nước về tinh giản biên chế, tinh gọn bộ máy Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả nên  các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh không thành lập phòng pháp chế, cũng như không có đội ngũ pháp chế chuyên trách thực hiện công tác kiểm tra, rà soát văn bản nói riêng và công tác pháp chế nói chung.

Lượt người xem:  Views:   19
Chia sẻ:
Share:
Tin khác
 
 
Manage PermissionsManage Permissions
|
Version HistoryVersion History

Tiêu đề

Hình ảnh

Hình ảnh mô tả

Tóm tắt

Nội dung

Link thay thế nội dung

Ngày xuất bản

Tin nổi bật

Phân loại

Loại bài viết

Số Trang

Số Ảnh

Số tiền

Tin liên quan

Audio

Từ khóa

Trạng thái

Lịch sử

Số lượt người đọc

Tin mới nhất

Tác giả

Approval Status

Attachments

Content Type: Tin Tức Mở Rộng
Version:
Created at by
Last modified at by
Ảnh
Video
Audio