Hộ tịch - Văn bản điều hành
 
Ngày 28 tháng 7 năm 2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 87/2020/NĐ-CP quy định về Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, đăng ký hộ tịch trực tuyến (sau đây gọi là Nghị định), có hiệu lực thi hành từ ngày 15/9/2020.
 
​        Ngày 28/5/2020, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 04/2020/TT-BTP quy định chi tiết một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ; Thông tư có hiệu lực từ ngày 16/7/2020. Thông tư có một số điểm mới như sau:        1. Việc ủy quyền đăng ký hộ tịch.       Kế thừa quy định tại ...
 
​Công chức tư pháp hộ tịch phải có bằng trung cấp luật trở lên?Để khắc phục những yếu kém, hạn chế trong đội ngũ công chức tư pháp hộ tịch hiện nay, Luật Hộ tịch đã nêu rõ điều kiện, tiêu chuẩn của chức danh này.Điều kiện trở thành công chức tư pháp hộ tịch hiện nayTheo quy định tại Điều 72 Luật Hộ tịch hiện hành, công chức làm công tác hộ tịch gồm: Công chức tư pháp, hộ tịch ở cấp xã, ở ...
 
​Liên thông dữ liệu hộ tịch, cấp BHYT cho trẻ dưới 6 tuổi Đây là nội dung nổi bật nêu tại Công văn 2823/BTP-CNTT do Bộ Tư pháp ban hành gửi các Ủy ban nhân dân (UBND) các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Theo đó, vừa qua, Bộ Tư pháp, Bộ Thông tin và Truyền thông đã phối hợp thành công với Bảo ...
 
​Đề xuất quy định về Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, đăng ký hộ tịch trực tuyến (Chinhphu.vn) – Bộ Tư pháp đang dự thảo Nghị định quy định về Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, đăng ký hộ tịch trực tuyến. Ảnh minh họaBộ Tư pháp cho biết, triển khai thực hiện Đề án Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử toàn quốc, trong điều kiện còn nhiều hạn chế về nguồn lực, Bộ Tư pháp đã chủ động xây dựng và triển khai áp ...
 
​Mẫu khảo sát hộ tịch BD.rarHuong dan.docx
 
 
  
Phân loại
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Nội dung
  
  
Một số nội dung cơ bản của Nghị định số 87/2020/NĐ-CP về Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, đăng ký hộ tịch trực tuyếnVăn bản điều hànhBài viếtMột số nội dung cơ bản của Nghị định số 87/2020/NĐ-CP về Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, đăng ký hộ tịch trực tuyến/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Ngày 28 tháng 7 năm 2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 87/2020/NĐ-CP quy định về Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, đăng ký hộ tịch trực tuyến (sau đây gọi là Nghị định), có hiệu lực thi hành từ ngày 15/9/2020.
8/18/2020 4:00 PMNoĐã ban hành


Nghị định quy định các hoạt động liên quan đến việc xây dựng, quản lý, cập nhật, khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử (sau đây gọi tắt là CSDLHTĐT); quy định chi tiết việc kết nối, cung cấp, trao đổi dữ liệu giữa CSDLHTĐT với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (sau đây gọi tắt là CSDLQGDC) cũng như nguyên tắc kết nối, chia sẻ dữ liệu với các Cơ sở dữ liệu khác của bộ, ngành, địa phương, bảo đảm phù hợp, thống nhất với Nghị định số 47/2020/NĐ-CP ngày 09/4/2020 của Chính phủ về quản lý, kết nối, chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước. Trong đó, những nội dung  đáng chú ý gồm:

1. Quy định cụ thể hơn khái niệm CSDLHTĐT, các thông tin cần được xác lập trong CSDLHTĐT

Khoản 4 Điều 4 Luật hộ tịch đưa ra khái niệm CSDLHTĐT là cơ sở dữ liệu ngành, được lập trên cơ sở tin học hóa công tác đăng ký hộ tịch. Cụ thể hóa khái niệm CSDLHTĐT, Nghị định đã giải thích rõ: "Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử là Cơ sở dữ liệu được lập trên cơ sở tin học hóa công tác đăng ký hộ tịch, nhằm lưu giữ thông tin hộ tịch của cá nhân được đăng ký theo quy định pháp luật, bằng thiết bị số, trong môi trường mạng, thông qua Phần mềm đăng ký, quản lý hộ tịch điện từ dùng chung" (Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 87/2020/NĐ-CP).

Theo quy định của Nghị định, thông tin hộ tịch của cá nhân được xác lập trong CSDLHTĐT là các thông tin được thu thập khi cá nhân đăng ký khai sinh thông qua Hệ thống thông tin đăng ký và quản lý hộ tịch của Bộ Tư pháp, bao gồm các thông tin hộ tịch của cá nhân như: họ, chữ đệm và tên; giới tính, ngày, tháng, năm sinh; nơi sinh; quê quán; dân tộc; quốc tịch; số định danh cá nhân của người được đăng ký khai sinh; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, dân tộc, quốc tịch, quê quán, nơi cư trú, số định danh cá nhân, giấy tờ tùy thân của cha, mẹ của người được đăng ký khai sinh; ngoài ra còn có các thông tin về họ tên, số định danh cá nhân, giấy tờ tùy thân của người đi đăng ký khai sinh, mối quan hệ với người được khai sinh; số đăng ký, quyển số, ngày, tháng, năm đăng ký, tên cơ quan đăng ký khai sinh; họ tên, chức vụ của người ký Giấy khai sinh. Các thông tin này được thu thập nhằm bảo đảm sự đồng bộ, đầy đủ dữ liệu trong CSDLHTĐT, bảo đảm cung cấp đủ các trường dữ liệu có liên quan cho CSDLQGVDC. Trên cơ sở các thông tin hộ tịch gốc của cá nhân được xác lập khi đăng ký khai sinh, thì CSDLHTĐT sẽ tiếp tục cập nhật các thông tin hộ tịch khác của cá nhân như: kết hôn, thay đổi, cải chính hộ tịch, bổ sung thông tin hộ tịch, xác định lại dân tộc, giám hộ, nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi, khai tử; ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch theo bản án, quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; ghi vào Sổ hộ tịch việc hộ tịch của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài;...việc tự động cập nhật thông tin vừa không tốn thời gian trong việc phải nhập lại các thông tin đã có trước đó khi cá nhân thực hiện việc đăng ký khai sinh (như họ, chữ đệm, tên, ngày tháng năm sinh, dân tộc, quốc tịch, quê quán, thông tin về cha mẹ …), vừa bảo đảm dữ liệu hộ tịch của cá nhân được cập nhật đồng bộ, nhanh chóng, đầy đủ, kịp thời.

2. Bảo đảm tập trung, thống nhất trong xây dựng, quản lý CSDLHTĐT

Nhằm bảo đảm tính thống nhất trong việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác đăng ký và quản lý hộ tịch được xây dựng, quản lý tập trung, thống nhất từ Trung ương đến địa phương theo quy định của Luật Hộ tịch, Nghị định số 87/2020/NĐ-CP đã quy định việc xây dựng CSDLHTĐT bao gồm các hoạt động: bảo đảm cơ sở hạ tầng kỹ thuật, thông tin; thiết kế, tổ chức Cơ sở dữ liệu; triển khai, nâng cấp, phát triển, mở rộng Phần mềm đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử dùng chung; thu thập, chuẩn hóa, nhập dữ liệu; lưu trữ, bảo mật, bảo đảm an toàn, an ninh thông tin cho cơ sở dữ liệu; có giải pháp bảo đảm tính toàn vẹn, chống chối bỏ của dữ liệu; đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng, tổ chức bộ máy nhân sự, vận hành, quản lý, cập nhật, khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu; vận hành, hiệu chỉnh Cơ sở dữ liệu; Các hoạt động khác theo quy định pháp luật (Khoản 1 Điều 6).

Ngoài ra, tại Khoản 1 Điều 24 Nghị định cũng xác định: Các cơ quan đăng ký, quản lý hộ tịch ở địa phương sử dụng thống nhất Phần mềm  đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử dùng chung kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành.  

3. Quy định rõ nguồn thông tin cung cấp cho CSDLHTĐT

 Khoản 2 Điều 3 Nghị định xác định có các nguồn cung cấp thông tin cho CSDLHTĐT gồm:

- Thông tin hộ tịch của cá nhân được đăng ký thông qua Phần mềm đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử dùng chung;

- Thông tin hộ tịch được số hóa, chuẩn hóa từ sổ hộ tịch;

- Thông tin được kết nối, chia sẻ từ CSDLQGVDC;

- Thông tin hộ tịch được chia sẻ, chuyển đổi, chuẩn hóa từ các phần mềm, cơ sở dữ liệu điện tử được thiết lập trước đây.

4. Quy định về những hành vi không được làm

Điều 5 Nghị định nêu rõ về những hành vi không được làm như: Cung cấp thông tin không đúng sự thật khi đăng ký hộ tịch trực tuyến; Truy cập trái phép vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử; làm sai lệch thông tin, thay đổi, xóa, hủy dữ liệu trái pháp luật trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử; khai thác, sử dụng hoặc tiết lộ thông tin từ Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử không đúng quy định, xâm phạm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình; Phá hoại cơ sở hạ tầng thông tin hoặc cản trở quá trình vận hành, duy trì ổn định, liên tục của Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử.

5. Việc khai thác, sử dụng CSDLHTĐT

Nghị định quy định theo hướng cho phép cá nhân, cơ quan có thẩm quyền đăng ký và quản lý hộ tịch, cơ quan có chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực hộ tịch, cơ quan, tổ chức khác đều có quyền khai thác, sử dụng CSDLHTĐT, cụ thể:

- Cơ quan đăng ký hộ tịch (UBND cấp xã, UBND cấp huyện, Cơ quan đại diện) khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử để đăng ký hộ tịch theo thẩm quyền; cấp bản sao trích lục hộ tịch; cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân; thống kê số liệu đăng ký hộ tịch và thực hiện các hoạt động quản lý nhà nước khác trong lĩnh vực hộ tịch theo quy định pháp luật.

- Cơ quan quản lý hộ tịch ở Trung ương (Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao), cơ quan quản lý hộ tịch ở địa phương (Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp) khai thác, sử dụng CSDLHTĐT thông qua các hoạt động: cấp bản sao trích lục hộ tịch, xác nhận thông tin hộ tịch theo yêu cầu của cá nhân.

- Cơ quan, tổ chức khác được cung cấp thông tin hộ tịch từ CSDLHTĐT trong trường hợp phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước, thông qua các cơ quan quản lý hộ tịch có thẩm quyền. Các yêu cầu khai thác, sử dụng CSDLHTĐT nhằm các mục đích khác (điều tra xã hội học, cung cấp dịch vụ ...) đều không được giải quyết.

- Cá nhân khai thác CSDLHTĐT thông qua việc thực hiện thủ tục hành chính; Cá nhân có yêu cầu khai thác thông tin hộ tịch của mình trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử thì gửi yêu cầu cấp bản sao trích lục hộ tịch, xác nhận thông tin hộ tịch tới cơ quan đăng ký, quản lý hộ tịch có thẩm quyền.

6. Quy định về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có yêu cầu khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có yêu cầu khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử phải có trách nhiệm:

- Tuân thủ quy định pháp luật hộ tịch và các quy định pháp luật hiện hành về sử dụng thông tin trên mạng; khai thác và sử dụng dữ liệu trong môi trường mạng; bảo vệ đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình.

-Tổ chức, cá nhân có yêu cầu cấp bản sao trích lục hộ tịch, xác nhận thông tin hộ tịch, khai thác, sử dụng thông tin trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch phải trả phí theo quy định pháp luật.

7. Quy định về đăng ký trực tuyến; cấp bản sao trích lục hộ tịch, văn bản xác nhận thông tin hộ tịch

Việc đăng ký trực tuyến là một phương thức giúp cá nhân và cơ quan có thẩm quyền có thêm lựa chọn khi thực hiện thủ tục hành chính, bên cạnh phương thức: nộp hồ sơ trực tiếp tại trụ sở cơ quan có thẩm quyền và gửi hồ sơ qua hệ thống bưu chính. Do trình tự, thủ tục giải quyết các yêu cầu đăng ký hộ tịch vẫn phải thực hiện theo quy định của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP, nên Nghị định chỉ quy định về nguyên tắc, cách thức tiếp nhận, giải quyết yêu cầu đăng ký hộ tịch trực tuyến, bảo đảm thống nhất với Nghị định số 45/2020/NĐ-CP ngày 07/4/2020 về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử, theo đó, người có yêu cầu đăng ký hộ tịch trực tuyến sẽ phải truy cập vào Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc Cổng dịch vụ công cấp tỉnh (không phụ thuộc vào nơi cư trú) để đăng ký tài khoản, xác thực người dùng theo hướng dẫn và yêu cầu của Cổng dịch vụ công. Sau khi có tài khoản, đăng nhập thành công, người có yêu cầu sẽ cung cấp thông tin vào biểu mẫu điện tử tương tác trên Cổng dịch vụ công, đính kèm bản chụp/bản sao điện tử các giấy tờ, tài liệu mà thủ tục đăng ký hộ tịch yêu cầu, nộp phí/lệ phí trực tuyến. Theo đó, khi nhận kết quả đối với các việc hộ tịch pháp luật quy định người có yêu cầu đăng ký hộ tịch phải có mặt tại cơ quan đăng ký hộ tịch để ký vào Sổ hộ tịch và nhận kết quả bao gồm: khai sinh; kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch; khai tử, thì người có yêu cầu đăng ký hộ tịch chỉ được nhận kết quả theo phương thức nhận kết quả là giấy tờ hộ tịch tại cơ quan đăng ký hộ tịch. và người có yêu cầu đăng ký hộ tịch phải nộp, xuất trình các giấy tờ, tài liệu là thành phần hồ sơ đăng ký hộ tịch theo quy định pháp luật hộ tịch.

Đối với các việc hộ tịch mà người có yêu cầu đăng ký hộ tịch không phải có mặt tại cơ quan đăng ký hộ tịch để ký vào Sổ hộ tịch và nhận kết quả, nhưng vẫn phải nộp, xuất trình các giấy tờ, tài liệu là thành phần hồ sơ đăng ký hộ tịch theo quy định pháp luật hộ tịch, bao gồm: xác nhận thông tin hộ tịch; ghi vào Sổ hộ tịch việc khai sinh, kết hôn, ly hôn, hủy việc kết hôn, giám hộ, nhận cha, mẹ, con, xác định cha, mẹ, con, nuôi con nuôi, thay đổi hộ tịch, khai tử của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì người có yêu cầu đăng ký hộ tịch được lựa chọn nhận kết quả theo một trong các phương thức như: Nhận bản điện tử giấy tờ hộ tịch gửi qua thư điện tử, Kho quản lý dữ liệu điện tử của tổ chức, cá nhân đó; Nhận bản điện tử giấy tờ hộ tịch gửi vào thiết bị số, thông qua phương pháp truyền số liệu phù hợp, đảm bảo an toàn, bảo mật thông tin; Nhận kết quả là giấy tờ hộ tịch thông qua hệ thống bưu chính; Nhận kết quả là giấy tờ hộ tịch tại cơ quan đăng ký hộ tịch nhưng phải thực hiện việc nộp, xuất trình các giấy tờ, tài liệu theo quy định trước khi nhận kết quả. Trường hợp phải nộp bản sao hoặc xuất trình giấy tờ không phải là giấy tờ tùy thân mà người yêu cầu đăng ký hộ tịch đã có bản sao điện tử giấy tờ hoặc đã có thông tin trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử thì không phải nộp, xuất trình.

Do điều kiện cơ sở hạ tầng thông tin ở các địa phương chưa đồng bộ, việc sử dụng phương thức đăng ký trực tuyến của người dân còn chưa cao nên phạm vi, mức độ, thời điểm triển khai phương thức đăng ký hộ tịch trực tuyến đối với do các địa phương quyết định, không bắt buộc phải triển khai tại tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khi Nghị định 87/2020/NĐ-CP có hiệu lực.

FalsePhòng Hành chính Tư pháp
Bỏ quy định phạt cảnh cáo khi làm giấy khai sinh muộnThông báoTinBỏ quy định phạt cảnh cáo khi làm giấy khai sinh muộn/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Hiện hành, người có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em mà không thực hiện việc đăng ký đúng thời hạn quy định sẽ bị phạt cảnh cáo (theo khoản 1 Điều 27 Nghị định 110/2013/NĐ-CP).
7/23/2020 5:00 PMNoĐã ban hành

Tuy nhiên, Nghị định 82/2020/NĐ-CP đã bỏ quy định phạt cảnh cáo đối với hành vi không thực hiện việc đăng ký khai sinh đúng thời hạn quy định.

Theo khoản 1 Điều 15 Luật hộ tịch 2014: "Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh con, cha hoặc mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho con; trường hợp cha, mẹ không thể đăng ký khai sinh cho con thì ông hoặc bà hoặc người thân thích khác hoặc cá nhân, tổ chức đang nuôi dưỡng trẻ em có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em."

Đồng thời, tăng mức phạt đối với các hành vi vi phạm quy định về đăng ký khai sinh như sau:

- Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi tẩy xoá, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy tờ do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền cấp để làm thủ tục đăng ký khai sinh. (Hiện hành, phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng).

- Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

Cam đoan, làm chứng sai sự thật về việc sinh;

Cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật về nội dung khai sinh;

Sử dụng giấy tờ của người khác để làm thủ tục đăng ký khai sinh.

(Hiện hành, phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng, riêng hành vi làm giả giấy tờ để làm thủ tục đăng ký khai sinh bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng).

Nghị định 82/2020/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/9/2020 và thay thế Nghị định 110/2013/NĐ-CP  và Nghị định 27/2015/NĐ-CP.​

​​(Sưu tầm: Trang thông tin điện tử Thư viện pháp luật)

FalseNguyễn Thị Bảo Khuyên
03 trường hợp không được ủy quyền đăng ký hộ tịchThông báoTin03 trường hợp không được ủy quyền đăng ký hộ tịch/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Khi thực hiện các thủ tục đăng ký hộ tịch sau đây sẽ không được ủy quyền cho người khác thực hiện thay theo quy định tại Thông tư 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020:
7/23/2020 5:00 PMNoĐã ban hành

- Đăng ký kết hôn;

- Đăng ký lại việc kết hôn;

- Đăng ký nhận cha, mẹ, con.

Tuy những trường hợp trên không được ủy quyền đăng ký nhưng một bên có thể trực tiếp nộp hồ sơ tại cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền, không phải có văn bản ủy quyền của bên còn lại.

Liên quan đến việc ủy quyền đăng ký hộ tịch, Thông tư 04 cũng quy định về các trường hợp được ủy quyền sau đây:

- Người yêu cầu cấp bản sao trích lục hộ tịch, cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, yêu cầu đăng ký các việc hộ tịch theo quy định tại Điều 3 Luật hộ tịch được uỷ quyền cho người khác thực hiện thay (trừ 03 trường hợp đã nêu ở trên).

- Việc ủy quyền phải lập thành văn bản, được chứng thực theo quy định của pháp luật. Trường hợp người được ủy quyền là ông, bà, cha, mẹ, con, vợ, chồng, anh, chị, em ruột của người ủy quyền thì văn bản ủy quyền không phải chứng thực.

- Trường hợp người đi đăng ký khai sinh cho trẻ em là ông, bà, người thân thích khác theo quy định tại khoản 1 Điều 15 Luật hộ tịch thì không phải có văn bản ủy quyền của cha, mẹ trẻ em, nhưng phải thống nhất với cha, mẹ trẻ em về các nội dung khai sinh.​

​​(Sưu tầm: Trang thông tin điện tử Thư viện pháp luật)


FalseNguyễn Thị Bảo Khuyên
Đốt/xé giấy chứng nhận kết hôn: Có thể bị phạt tới 20 triệu đồngThông báoTinĐốt/xé giấy chứng nhận kết hôn: Có thể bị phạt tới 20 triệu đồng/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Đây là mức phạt hành chính đối với hành vi hủy hoại giấy tờ hộ tịch (trong đó có giấy chứng nhận kết hôn) quy định tại Nghị định 82/2020/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 01/9/2020).
7/23/2020 5:00 PMNoĐã ban hành

​​​

Theo khoản 1 Điều 2, điểm b khoản 1, khoản 3 Điều 3, khoản 7 Điều 4 Luật Hộ tịch 2014, Giấy chứng nhận kết hôn là một loại giấy tờ hộ tịch, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho hai bên nam, nữ khi đăng ký kết hôn.

Tại điểm a khoản 4 Điều 45 Nghị định 82/2020 quy định:

"Điều 45. Hành vi vi phạm nguyên tắc đăng ký, quản lý hộ tịch, sử dụng giấy tờ hộ tịch; xây dựng, quản lý và khai thác cơ sở dữ liệu hộ tịch

...

4. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Huỷ hoại giấy tờ hộ tịch; sổ hộ tịch;..."

Như vậy, hành vi hủy hoại (xé, đốt,...) giấy chứng nhận kết hôn có thể bị phạt đến 20 triệu đồng.

(Hiện hành, hành vi huỷ hoại giấy tờ hộ tịch bị phạt từ 03 - 05 triệu đồng, theo điểm b khoản 3 Điều 36 Nghị định 110/2013/NĐ-CP).

Ngoài ra, Nghị định 82/2020 cũng quy định mức xử phạt đối với một số hành vi vi phạm khi sử dụng giấy tờ hộ tịch như:

- Phạt tiền từ 01 - 03 triệu đồng đối với hành vi tẩy xoá, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy tờ hộ tịch (Hiện hành, phạt tiền từ 300 - 500 nghìn đồng).

- Phạt tiền từ 03 - 05 triệu đồng đối với hành vi cho người khác sử dụng giấy tờ hộ tịch của mình để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.

​​(Sưu tầm: Trang thông tin điện tử Thư viện pháp luật)

FalseNguyễn Thị Bảo Khuyên
Từ 01/9/2020, thách cưới quá cao có thể bị phạt tới 05 triệu đồngThông báoTinTừ 01/9/2020, thách cưới quá cao có thể bị phạt tới 05 triệu đồng/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Theo Nghị định 82/2020/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 01/9/2020), phạt tiền từ 03 - 05 triệu đồng đối với hành vi yêu sách của cải trong kết hôn.
7/23/2020 4:00 PMNoĐã ban hành

Cụ thể, phạt tiền từ 03 - 05 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau:

- Cản trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn hoặc cản trở ly hôn;

- Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

- Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

- Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

- Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

Theo khoản 2 Điều 55 Nghị định 167/2013/NĐ-CP phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100 - 300 nghìn đồng đối với hành vi cản trở người khác kết hôn, ly hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác.

Bên cạnh đó, phạt tiền từ 10 - 20 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau:

- Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ hoặc giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;

- Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi;

- Cưỡng ép kết hôn hoặc lừa dối kết hôn; cưỡng ép ly hôn hoặc lừa dối ly hôn;

- Lợi dụng việc kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình;

- Lợi dụng việc ly hôn để trốn tránh nghĩa vụ tài sản, vi phạm chính sách, pháp luật về dân số hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích chấm dứt hôn nhân.

(Sưu tầm: Trang thông tin điện tử Thư viện pháp luật)​​​​​

FalseNguyễn Thị Bảo Khuyên
Từ 1-9, tăng mức phạt cho hành vi ngoại tìnhTin ngành tư phápTinTừ 1-9, tăng mức phạt cho hành vi ngoại tình/hanhchinhtuphap/PublishingImages/2020-07/710ccde66d7e8920d06f_Key_22072020134121.jpg
Từ ngày 1-9, hành vi ngoại tình sẽ có thể bị phạt đến 5 triệu đồng, thay vì 1-3 triệu đồng như hiện nay.
7/22/2020 2:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 15-7, Chính phủ đã ban hành Nghị định 82/2020 thay thế Nghị định 110/2013 quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực hôn nhân gia đình.

Một điểm mới đáng chú ý tại Nghị định 82/2020 là việc quy định tăng gần gấp đôi mức phạt đối với hành vi ngoại tình.​

Theo đó, khoản 1 Điều 59 Nghị định 82/2020 quy định phạt tiền 3-5 triệu đồng đối với cá nhân vi phạm một trong các hành vi sau:

- Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ.

- Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác.

- Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ.

Hiện tại, mức phạt với các hành vi trên theo Nghị định 110/2013 là 1-3 triệu đồng.

​​​                                                                                                                                         Sưu tầm ​​​- Báo Pháp luật TP.Hồ Chí Minh


FalsePhòng Hành chính Tư pháp
Bộ Tư pháp lý giải quy định cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhânTin ngành tư phápTinBộ Tư pháp lý giải quy định cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân/hanhchinhtuphap/PublishingImages/2020-07/cuc-truong-nguyen-cong-khanh-1594785010337_Key_16072020160433.jpg
Ông Nguyễn Công Khanh - Cục trưởng Cục Hộ tịch, Quốc tịch và Chứng thực - lý giải quy định ghi tên người dự định cưới vào Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân và lộ trình loại bỏ thủ tục hành chính này.
7/16/2020 4:00 PMNoĐã ban hànhhttps://dantri.com.vn/xa-hoi/bo-tu-phap-ly-giai-quy-dinh-cap-giay-xac-nhan-tinh-trang-hon-nhan-20200715105533112.htm

​PV Dân trí trao đổi với ông Nguyễn Công Khanh - Cục trưởng Cục Hộ tịch, Quốc tịch và Chứng thực (Bộ Tư pháp) xung quanh Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân quy định tại Thông tư 04/2020/TT-BTP của Bộ Tư pháp (có hiệu lực thi hành từ ngày 16/7/2020) đang gây xôn xao dư luận.

Bộ Tư pháp lý giải quy định cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân - 1 

ông Nguyễn Công Khanh


- Thưa ông, quy định của Thông tư 04/2020/TT-BTP về việc ghi tên người dự định kết hôn vào Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đang nhận được sự quan tâm của dư luận. Đây có phải quy định mới không?

- Tại khoản 3 Điều 12 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ Tư pháp quy định: “Trường hợp yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để sử dụng vào mục đích kết hôn thì cơ quan đăng ký hộ tịch chỉ cấp 1 bản cho người yêu cầu. Trong Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân phải ghi rõ họ tên, năm sinh, quốc tịch, giấy tờ tùy thân của người dự định kết hôn, nơi dự định đăng ký kết hôn”.

Thực chất, đây không phải quy định mới. Bởi vấn đề này đã được quy định và thực hiện ổn định hơn 10 năm nay mà không phát sinh khó khăn, vướng mắc gì, cũng không để lại hệ lụy gì cho người dân và xã hội.

Cụ thể, tại khoản 2 Điều 10 Thông tư số 08.a/2010/TT-BTP của Bộ Tư pháp về việc ban hành và hướng dẫn việc ghi chép, lưu trữ, sử dụng sổ, biểu mẫu hộ tịch đã quy định: “Trong trường hợp sử dụng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để làm thủ tục đăng ký kết hôn, thì phải ghi rõ kết hôn với ai, ở đâu”.

Tại khoản 5 Điều 25 Thông tư số 15/2015/TT-BTP của Bộ Tư pháp cũng quy định: “Trường hợp sử dụng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để làm thủ tục đăng ký kết hôn thì phải ghi rõ họ tên, năm sinh, giấy tờ tùy thân của người dự định kết hôn, nơi dự định làm thủ tục kết hôn”.

Do đó, quy định tại khoản 3 Điều 12 Thông tư số 04/2020 của Bộ Tư pháp sẽ có hiệu lực từ ngày 16/7/2020 chỉ là kế thừa quy định hợp lý của 2 Thông tư trước đó.

Qua hơn 10 năm thực hiện và mỗi năm có hàng triệu người yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân theo quy định tại Thông tư số 08.a/2010/TT-BTP và Thông tư số 15/2015/TT-BTP, Bộ Tư pháp chưa nhận được phản ánh nào của cơ quan đăng ký hộ tịch cũng như người dân liên quan đến vấn đề này.

Bộ Tư pháp lý giải quy định cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân - 2 

Mẫu giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã thực hiện hơn 10 năm qua (Ảnh minh hoạ).

- Ngoài việc đăng ký kết hôn, Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân còn được sử dụng cho những mục đích gì, thưa ông?

- Hiện nay, Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân là loại giấy tờ được nhiều cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước yêu cầu phải nộp khi giải quyết các công việc cho người dân như: đăng ký kết hôn, giao dịch dân sự, ngân hàng, du học, du lịch, lao động....

Để thuận lợi cho việc sử dụng, Thông tư 04/2020 đã quy định rõ hơn và yêu cầu khai đúng, sử dụng đúng mục đích cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Mục đích là nhằm bảo vệ quyền lợi của người được cấp giấy, cũng như những người có liên quan, nhất là phụ nữ trong quan hệ hôn nhân với người nước ngoài.

- Tại sao phải ghi rõ họ tên, năm sinh, quốc tịch, nơi dự định kết hôn, giấy tờ tùy thân của người dự định kết hôn vào Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân (dùng để kết hôn)? Điều đó có làm hạn chế quyền của người dân hay ảnh hưởng đến bí mật đời tư không, thưa ông?

- Việc pháp luật yêu cầu ghi thông tin của người dự định kết hôn vào Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân (dùng để kết hôn), trước hết nhằm đề cao tính nghiêm túc, ý thức trách nhiệm của mỗi bên đối với hôn nhân vì mục tiêu Xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc” như Luật Hôn nhân và gia đình khẳng định.

Thứ hai là nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên, nhất là phụ nữ khi yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để kết hôn với người nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.

Thứ ba là có cơ sở để kiểm tra, xác minh trong trường hợp người dân yêu cầu cấp lại giấy này mà không nộp lại được Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã cấp trước đó.

Việc ghi rõ thông tin của người dự định kết hôn trên Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân không làm hạn chế quyền của cá nhân, bởi giấy này chỉ xác nhận về tình trạng hôn nhân của cá nhân (là hiện tại người đó đã kết hôn hay chưa kết hôn với ai…), mà không có giá trị ràng buộc các bên phải kết hôn với nhau.

Giấy tờ hộ tịch nói chung, Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân nói riêng là giấy tờ xác nhận về thông tin nhân thân của cá nhân, nên cá nhân có trách nhiệm bảo quản, giữ gìn bí mật thông tin của mình và của những người liên quan.

Cơ quan đăng ký hộ tịch và công chức tư pháp - hộ tịch cũng có trách nhiệm bảo vệ bí mật này theo quy định của Luật Hộ tịch và Bộ luật dân sự.

- Bộ Tư pháp có biện pháp gì để hiện đại hóa quá trình đăng ký hộ tịch nói chung, cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân nói riêng hay không?

- Hiện nay Bộ Tư pháp đã cơ bản hoàn thiện Phần mềm đăng ký, quản lý hộ tịch dùng chung và triển khai đồng bộ đến tất cả các cơ quan đăng ký hộ tịch trên cả nước.

Trong bối cảnh khi Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử của Bộ Tư pháp và Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư của Bộ Công an mà xây dựng xong để vận hành đồng bộ, thống nhất trên cả nước, thì thông tin về tình trạng hôn nhân của công dân sẽ được cập nhật, quản lý chặt chẽ trên hệ thống.

Khi ấy, việc khai thác tình trạng hôn nhân (để giải quyết thủ tục hành chính) sẽ không chỉ do cơ quan đăng ký hộ tịch, mà còn do cơ quan thực hiện thủ tục hành chính tiến hành thông qua việc kết nối, chia sẻ, khai thác dữ liệu từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Đó là lúc có thể tuyên bố loại bỏ Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân trong thành phần hồ sơ của các thủ tục hành chính.

- Xin cảm ơn ông!

                                                                                                                                                                                          Thế Kha (thực hiện)- Báo Dân Trí



FalsePhòng Hành chính Tư pháp
Công văn số 1150/STP-HCTP ngày 13/7/2020 của Sở Tư pháp về việc triển khai thực hiện các quy định của Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020Văn bản hướng dẫn nghiệp vụTinCông văn số 1150/STP-HCTP ngày 13/7/2020 của Sở Tư pháp về việc triển khai thực hiện các quy định của Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
7/14/2020 10:00 AMNoĐã ban hànhFalsePhòng Hành chính Tư pháp
Những điểm mới của Thông tư số 04/2020/TT-BTP quy định chi tiết một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CPVăn bản điều hànhBài viếtNhững điểm mới của Thông tư số 04/2020/TT-BTP quy định chi tiết một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
7/14/2020 10:00 AMNoĐã ban hành

        Ngày 28/5/2020, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 04/2020/TT-BTP quy định chi tiết một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ; Thông tư có hiệu lực từ ngày 16/7/2020. Thông tư có một số điểm mới như sau:

        1. Việc ủy quyền đăng ký hộ tịch.

       Kế thừa quy định tại Thông tư số 15/2015/TT-BTP về ủy quyền trong đăng ký hộ tịch đối với một số trường hợp được ủy quyền cho người khác làm thay (trừ trường hợp đăng ký kết hôn, đăng ký lại kết hôn, đăng ký nhận cha mẹ con). Việc ủy quyền phải lập thành văn bản, được chứng thực theo quy định của pháp luật.

Trường hợp người được ủy quyền là ông, bà, cha, mẹ, con, vợ, chồng, anh, chị, em ruột của người ủy quyền thì văn bản ủy quyền không phải công chứng, chứng thực, nhưng phải có giấy tờ chứng minh mối quan hệ với người uỷ quyền.

       Tuy nhiên, Thông tư 04 đã quy định rõ hơn việc ủy quyền đăng ký khai sinh cho trẻ em, cụ thể: Trường hợp người đi đăng ký khai sinh cho trẻ em là ông, bà, người thân thích khác theo quy định tại khoản 1 Điều 15 Luật Hộ tịch thì không phải có văn bản ủy quyền của cha, mẹ trẻ em, nhưng phải thống nhất với cha, mẹ trẻ em về các nội dung khai sinh.

       Do vậy, kể từ ngày 16/7/2020, ông, bà hoặc người thân thích khác hoặc cá nhân, tổ chức đang nuôi dưỡng trẻ em đi đăng ký khai sinh cho trẻ không cần có văn bản ủy quyền của cha, mẹ trẻ.

       2. Quy định về đặt tên và xác định họ, dân tộc, quê quán của con.

       Nội dung khai sinh được xác định theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật Hộ tịch, khoản 1 Điều 4 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP và hướng dẫn sau đây:

       - Việc xác định họ, dân tộc, đặt tên cho trẻ em phải phù hợp với pháp luật và yêu cầu giữ gìn bản sắc dân tộc, tập quán, truyền thống văn hóa tốt đẹp của Việt Nam; không đặt tên quá dài, khó sử dụng.

       - Trường hợp cha, mẹ không thỏa thuận được về họ, dân tộc, quê quán của con khi đăng ký khai sinh thì họ, dân tộc, quê quán của con được xác định theo tập quán nhưng phải bảo đảm theo họ, dân tộc, quê quán của cha hoặc mẹ.

       3. Giải quyết yêu cầu đăng ký hộ tịch khi không nhận được kết quả xác minh

       Trường hợp việc đăng ký hộ tịch cần xác minh theo quy định, sau thời hạn 20 ngày kể từ ngày gửi văn bản yêu cầu xác minh mà không nhận được văn bản trả lời, thì cơ quan đăng ký hộ tịch tiếp tục giải quyết hồ sơ theo quy định. Đối với trường hợp xác minh về tình trạng hôn nhân thì cho phép người yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có văn bản cam đoan về tình trạng hôn nhân của mình.

       4. Giấy tờ, tài liệu là cơ sở đăng ký lại khai sinh

      Ngoài các quy định về giấy tờ, tài liệu là cở sở đăng ký lại khai sinh theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 26 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP, Thông tư số 04/2020/TT-BTP đã hướng dẫn cụ thể về trường hợp giấy tờ của người yêu cầu đăng ký lại khai sinh không có thông tin chứng minh quan hệ cha, mẹ, con thì cơ quan đăng ký hộ tịch có văn bản đề nghị cơ quan công an có thẩm quyền xác minh.

      Trường hợp cơ quan công an trả lời không có thông tin thì cơ quan đăng ký hộ tịch cho người yêu cầu đăng ký lại khai sinh lập văn bản cam đoan về thông tin của cha, mẹ và xác định nội dung khai sinh theo văn bản cam đoan.

      5. Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân

      Thông tư hướng dẫn cụ thể về việc cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân như sau:

     - Trường hợp người yêu cầu cấp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để kết hôn mà không nộp lại được Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã được cấp trước đây, thì người yêu cầu phải trình bày rõ lý do không nộp lại được Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, cơ quan đăng ký hộ tịch có văn bản trao đổi với nơi dự định đăng ký kết hôn trước đây để xác minh. Trường hợp không xác minh được hoặc không nhận được kết quả xác minh thì cơ quan đăng ký hộ tịch cho phép người yêu cầu lập văn bản cam đoan về tình trạng hôn nhân.

      - Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị đến thời điểm thay đổi tình trạng hôn nhân hoặc 06 tháng kể từ ngày cấp, tùy theo thời điểm nào đến trước.

      - Số lượng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để sử dụng vào mục đích kết hôn: Trường hợp yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để sử dụng vào mục đích kết hôn thì cơ quan đăng ký hộ tịch chỉ cấp một (01) bản cho người yêu cầu. Trong Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân phải ghi rõ họ tên, năm sinh, quốc tịch, giấy tờ tùy thân của người dự định kết hôn, nơi dự định đăng ký kết hôn.

      - Số lượng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân sử dụng vào mục đích khác: Trường hợp yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để sử dụng vào mục đích khác, không phải để đăng ký kết hôn, thì người yêu cầu không phải đáp ứng điều kiện kết hôn; trong Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân phải ghi rõ mục đích sử dụng, không có giá trị sử dụng để đăng ký kết hôn. Số lượng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được cấp theo yêu cầu.

      - Trường hợp yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để kết hôn với người cùng giới tính hoặc kết hôn với người nước ngoài tại Cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam thì cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối giải quyết.

      6. Đơn giản hóa chứng cứ chứng minh cha, mẹ, con

Chứng cứ để chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại khoản 1 Điều 25 và khoản 1 Điều 44 của Luật Hộ tịch gồm một trong các giấy tờ, tài liệu sau đây:

      - Văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan, tổ chức khác có thẩm quyền ở trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con, quan hệ mẹ con.

      - Trường hợp không có chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại khoản 1 Điều này thì các bên nhận cha, mẹ, con lập văn bản cam đoan về mối quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại Điều 5 Thông tư này, có ít nhất hai người làm chứng về mối quan hệ cha, mẹ, con (trước đây, ngoài văn bản cam đoan thì phải có thư từ, phim ảnh, băng, đĩa, đồ dùng, vật dụng khác chứng minh mối quan hệ cha con, quan hệ mẹ con và có ít nhất hai người thân thích của cha, mẹ làm chứng).

      7. Bổ sung trường hợp con do người vợ sinh ra hoặc có thai trong thời ký hôn nhân nhưng không được thừa nhận là con chung

     Trường hợp con do người vợ sinh ra hoặc có thai trong thời kỳ hôn nhân nhưng vợ hoặc chồng không thừa nhận là con chung hoặc người khác muốn nhận con thì do Tòa án nhân dân xác định theo quy định pháp luật.

Trường hợp Tòa án nhân dân từ chối giải quyết thì cơ quan đăng ký hộ tịch tiếp nhận, giải quyết yêu cầu đăng ký khai sinh cho trẻ em chưa xác định được cha hoặc đăng ký nhận cha, con, hồ sơ phải có văn bản từ chối giải quyết của Tòa án và chứng cứ chứng minh quan hệ cha, con.

      8. Biểu mẫu giấy tờ hộ tịch

     Các giấy tờ hộ tịch do Bộ Tư pháp in ấn, phát hành, bao gồm: 

  • Giấy khai sinh (bản chính);
  • Giấy khai sinh (bản sao);
  • Giấy chứng nhận kết hôn (bản chính).

      (Trước đây theo Thông tư số 15/2015/TT-BTP, không có Giấy khai sinh (bản sao) mà sử dụng Trích lục khai sinh (bản sao)).

      Với một số quy định mới, Thông tư số 04/2020/TT-BTP đã khắc phục được những vướng mắc, bất cập phát sinh trong thời gian qua, đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người yêu cầu đăng ký hộ tịch./.​

FalsePhòng Hành chính Tư pháp
Mẫu giấy tờ, sổ hộ tịch theo Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ Tư pháp Văn bản hướng dẫn nghiệp vụTinMẫu giấy tờ, sổ hộ tịch theo Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ Tư pháp /Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
7/9/2020 11:00 PMNoĐã ban hành
FalsePhòng Hành chính Tư pháp
Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịchVăn bản hướng dẫn nghiệp vụTinThông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
7/9/2020 10:00 AMNoĐã ban hành
FalsePhòng Hành chính Tư pháp
Một số điểm mới của Thông tư số 04/2020/TT-BTP về hộ tịchVăn bản hướng dẫn nghiệp vụTinMột số điểm mới của Thông tư số 04/2020/TT-BTP về hộ tịch/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
7/9/2020 10:00 AMNoĐã ban hành

Một số điểm mới của Thông tư số 04/2020/TT-BTP về hộ tịch


Bắt đầu có hiệu lực từ ngày 16/7/2020, Thông tư số 04/2020/TT-BTP hướng dẫn Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP, góp phần khắc phục những khó khăn, bất cập trong công tác đăng ký, quản lý hộ tịch, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân trong việc thực hiện quyền, nghĩa vụ đăng ký hộ tịch.

Theo đó, Thông tư 04/2020 có một số điểm mới nổi bật sau đây:

- Không đặt tên con quá dài, khó sử dụng

Cụ thể, việc xác định họ, dân tộc, đặt tên cho trẻ em phải phù hợp với pháp luật và yêu cầu giữ gìn bản sắc dân tộc, tập quán, truyền thống văn hóa tốt đẹp của Việt Nam; không đặt tên quá dài, khó sử dụng.

Trường hợp cha, mẹ không thỏa thuận được về họ, dân tộc, quê quán của con khi đăng ký khai sinh thì họ, dân tộc, quê quán của con được xác định theo tập quán nhưng phải bảo đảm theo họ, dân tộc, quê quán của cha hoặc mẹ.

- Quy định mới về giá trị sử dụng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân

Hiện hành, Khoản 1 Điều 23 Nghị định 123/2015 thì Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị 6 tháng kể từ ngày cấp.

Thông tư 04/2020 quy định chi tiết hơn: Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị đến thời điểm thay đổi tình trạng hôn nhân hoặc 06 tháng kể từ ngày cấp, tùy theo thời điểm nào đến trước.

Ví dụ: Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được cấp ngày 03/02/2020 nhưng ngày 10/02/2020, người được cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã đăng ký kết hôn thì Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân chỉ có giá trị sử dụng đến ngày 10/02/2020.

- Ông bà không cần giấy ủy quyền khi khai sinh cho cháu

Theo đó, trường hợp người đi đăng ký khai sinh cho trẻ em là ông, bà, người thân thích khác theo quy định tại khoản 1 Điều 15 Luật Hộ tịch thì không phải có văn bản ủy quyền của cha, mẹ trẻ em, nhưng phải thống nhất với cha, mẹ trẻ em về các nội dung khai sinh.

Hiện hành, trường hợp người được ủy quyền là ông, bà, cha, mẹ, con, vợ, chồng, anh, chị, em ruột của người ủy quyền thì văn bản ủy quyền không phải công chứng, chứng thực, nhưng phải có giấy tờ chứng minh mối quan hệ với người uỷ quyền.

- Hướng dẫn chi tiết việc xác minh trong thủ tục đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài

Cụ thể, việc xác minh trong thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 38 Luật hộ tịch, khoản 1 Điều 31 Nghị định 123/2015 được thực hiện theo hướng dẫn sau đây:

Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Phòng Tư pháp có trách nhiệm nghiên cứu, thẩm tra hồ sơ đăng ký kết hôn.

Trường hợp có khiếu nại, tố cáo việc kết hôn không đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình hoặc xét thấy có vấn đề cần làm rõ về nhân thân của bên nam, bên nữ hoặc giấy tờ trong hồ sơ đăng ký kết hôn thì Phòng Tư pháp phối hợp với cơ quan có liên quan xác minh làm rõ.

Trong quá trình thẩm tra, xác minh hồ sơ, nếu thấy cần thiết, Phòng Tư pháp làm việc trực tiếp với các bên để làm rõ về nhân thân, sự tự nguyện kết hôn, mục đích kết hôn.

- Chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con đơn giản hơn

Chứng cứ để chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại khoản 1 Điều 25 và khoản 1 Điều 44 của Luật Hộ tịch gồm một trong các giấy tờ, tài liệu sau đây:

+ Văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan, tổ chức khác có thẩm quyền ở trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con, quan hệ mẹ con.

+ Trường hợp không có chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại khoản 1 Điều này thì các bên nhận cha, mẹ, con lập văn bản cam đoan về mối quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại Điều 5 Thông tư 04/2020, có ít nhất hai người làm chứng về mối quan hệ cha, mẹ, con.

Hiện hành, ngoài văn bản cam đoan có ít nhất hai người thân thích của cha, mẹ làm chứng, còn phải có thư từ, phim ảnh, băng, đĩa, đồ dùng, vật dụng khác chứng minh mối quan hệ cha con, quan hệ mẹ con.

- Bổ sung quy định về cải chính hộ tịch

Việc cải chính hộ tịch chỉ được giải quyết sau khi xác định có sai sót khi đăng ký hộ tịch; không cải chính nội dung trên giấy tờ hộ tịch đã được cấp hợp lệ nhằm hợp thức hóa thông tin trên hồ sơ, giấy tờ cá nhân khác.

Sai sót trong đăng ký hộ tịch là sai sót của người đi đăng ký hộ tịch hoặc sai sót của cơ quan đăng ký hộ tịch.

Việc cải chính nội dung đăng ký khai tử thuộc thẩm quyền của cơ quan đã đăng ký khai tử, theo đề nghị của người có trách nhiệm đăng ký khai tử quy định tại Điều 33 Luật hộ tịch.

Nguồn: thuvienphapluat.vn​

FalsePhòng Hành chính Tư pháp
Công văn số 576/TB-HVTP ngày 11/6/2020 của Học viện Tư pháp về việc chiêu sinh lớp bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch cho công chức làm công tác hộ tịch tại UBND cấp xã, cấp huyện (đợt 2)Thông báoTinCông văn số 576/TB-HVTP ngày 11/6/2020 của Học viện Tư pháp về việc chiêu sinh lớp bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch cho công chức làm công tác hộ tịch tại UBND cấp xã, cấp huyện (đợt 2)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/18/2020 4:00 PMNoĐã ban hành
FalsePhòng Hành chính Tư pháp
cập nhật tên đơn vị hành chính trên Hệ thống thông tin đăng ký và quản lý hộ tịchVăn bản hướng dẫn nghiệp vụTincập nhật tên đơn vị hành chính trên Hệ thống thông tin đăng ký và quản lý hộ tịch/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
4/16/2020 4:00 PMNoĐã ban hànhFalsePhòng Hành chính Tư pháp
Ghi quốc tịch trong Giấy khai sinh và thẩm quyền đăng ký lại việc sinh, tử, kết hônVăn bản hướng dẫn nghiệp vụTinGhi quốc tịch trong Giấy khai sinh và thẩm quyền đăng ký lại việc sinh, tử, kết hôn/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
4/14/2020 11:00 AMNoĐã ban hànhFalsePhòng Hành chính Tư pháp
Thông báo tổ chức lớp bồi dưỡng và cấp chứng chỉ nghiệp vụ hộ tịchVăn bản điều hànhTinThông báo tổ chức lớp bồi dưỡng và cấp chứng chỉ nghiệp vụ hộ tịch/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
3/2/2020 11:00 AMNoĐã ban hànhFalsePhòng Hành chính Tư pháp
Công văn số 188/STP-HCTP ngày 14/02/2020 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc thay đổi tài khoản người dùng trên Phần mềm hộ tịch của Bộ Tư phápVăn bản điều hànhTinCông văn số 188/STP-HCTP ngày 14/02/2020 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc thay đổi tài khoản người dùng trên Phần mềm hộ tịch của Bộ Tư pháp/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
2/24/2020 9:00 AMNoĐã ban hành
FalsePhòng Hành chính Tư pháp
Công chức tư pháp hộ tịch phải có bằng trung cấp luật trở lên?Văn bản điều hànhTinCông chức tư pháp hộ tịch phải có bằng trung cấp luật trở lên?/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/3/2019 8:00 PMNoĐã ban hành

Công chức tư pháp hộ tịch phải có bằng trung cấp luật trở lên?

Để khắc phục những yếu kém, hạn chế trong đội ngũ công chức tư pháp hộ tịch hiện nay, Luật Hộ tịch đã nêu rõ điều kiện, tiêu chuẩn của chức danh này.


Điều kiện trở thành công chức tư pháp hộ tịch hiện nay

Theo quy định tại Điều 72 Luật Hộ tịch hiện hành, công chức làm công tác hộ tịch gồm: Công chức tư pháp, hộ tịch ở cấp xã, ở phòng tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện.

Trong đó, điều kiện, tiêu chuẩn để trở thành công chức tư pháp hộ tịch cấp xã gồm:

- Có trình độ từ trung cấp luật trở lên và đã được bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch;

- Có chữ viết rõ ràng và trình độ tin học phù hợp theo yêu cầu công việc.

Với công chức làm việc ở Phòng tư pháp thì phải có trình độ cử nhân luật trở lên và được bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch.

Do đó, yêu cầu tối thiểu về trình độ đào tạo để có thể trở thành công chức tư pháp, hộ tịch là phải có bằng trung cấp luật trở lên.

Như vậy, từ ngày 01/01/2016, người có thẩm quyền chỉ được bố trí, tuyển dụng mới người có đủ tiêu chuẩn đã nêu ở trên làm công tác hộ tịch.

h.jpg 
Tiêu chuẩn trở thành công chức tư pháp, hộ tịch (Ảnh minh họa)

 

Sắp tới, công chức tư pháp, hộ tịch có thể do 2 người đảm nhiệm?

Theo quy định hiện nay, tại Thông tư liên tịch số 03/2010/TTLT-BNV-BTC-BLĐTB&XH, căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể của từng xã, phường, thị trấn thì có 02 chức danh được bố trí 02 người đảm nhiệm:

- Chức danh văn hóa, xã hội;

- Chức danh địa chính, nông nghiệp, xây dựng và môi trường (với các xã) hoặc địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (với các phường, thị trấn).

Tuy nhiên, hiện nay, Bộ Nội vụ đang lấy ý kiến về dự thảo Thông tư hướng dẫn cán bộ, công chức cấp xã trong đó có đề xuất thêm 02 chức danh cấp xã có thể bố trí 02 người đảm nhiệm là chức danh tư pháp, hộ tịch và văn phòng, thống kê.

Dù vậy, vẫn phải bảo đảm tổng số lượng cán bộ, công chức cấp xã được bố trí theo quyết định phân loại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn bằng hoặc thấp hơn số lượng quy định tại Điều 4 Nghị định 92/2009 sửa đổi năm 2019:

- Loại xã cấp 1: Tối đa 23 người;

- Loại xã cấp 2: Tối đa 21 người;

- Loại xã cấp 3: Tối đa 19 người.

Lưu ý rằng: Những chức danh công chức cấp xã bố trí 02 người đảm nhiệm, khi tuyển dụng, ghi hồ sơ lý lịch và sổ bảo hiểm xã hội phải thống nhất theo đúng tên gọi của chức danh công chức cấp xã.

Như vậy, nếu dự thảo này được thông qua, công chức tư pháp, hộ tịch có thể được bố trí 02 người đảm nhiệm.

Nguồn: luatvietnam.vn

FalsePhòng Hành chính Tư pháp
Hướng dẫn gửi dữ liệu đăng ký khai sinh của trẻ em dưới 6 tuổi sang cơ quan bảo hiểm xã hộiVăn bản điều hànhHướng dẫn gửi dữ liệu đăng ký khai sinh của trẻ em dưới 6 tuổi sang cơ quan bảo hiểm xã hội/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/31/2019 11:00 AMNoĐã ban hànhFalsePhòng Hành chính Tư pháp
Công văn số 1994/STP-HCTP ngày 30/10/2019 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc triển khai liên thông dữ liệu đăng ký khai sinh và cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổiVăn bản điều hànhTinCông văn số 1994/STP-HCTP ngày 30/10/2019 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc triển khai liên thông dữ liệu đăng ký khai sinh và cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/30/2019 8:00 AMNoĐã ban hành
FalsePhòng Hành chính Tư pháp
Liên thông dữ liệu hộ tịch, cấp BHYT cho trẻ dưới 6 tuổiVăn bản điều hànhTinLiên thông dữ liệu hộ tịch, cấp BHYT cho trẻ dưới 6 tuổi/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/24/2019 10:00 PMNoĐã ban hành

Liên thông dữ liệu hộ tịch, cấp BHYT cho trẻ dưới 6 tuổi

Đây là nội dung nổi bật nêu tại Công văn 2823/BTP-CNTT do Bộ Tư pháp ban hành gửi các Ủy ban nhân dân (UBND) các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Theo đó, vừa qua, Bộ Tư pháp, Bộ Thông tin và Truyền thông đã phối hợp thành công với Bảo hiểm Xã hội (BHXH) Việt Nam liên thông dữ liệu đăng ký khai sinh cho trẻ em dưới 06 tuổi từ hệ thống đăng ký, quản lý hộ tịch với hệ thống cấp thẻ bảo hiểm y tế (BHYT).

Liên thông dữ liệu hộ tịch, cấp BHYT
Liên thông dữ liệu hộ tịch, cấp BHYT cho trẻ dưới 6 tuổi (Ảnh minh họa)


Việc này cho phép UBND cấp xã và Phòng Tư pháp cấp huyện có thể gửi dữ liệu đăng ký khai sinh cho trẻ dưới 06 tuổi sang cơ quan BHXH để xử lý một số thủ tục cần thiết trước khi chính thức nhận Tờ khai đăng ký cấp thẻ BHYT và trích lục khai sinh.

Việc làm này giúp các địa phương giảm được rất nhiều trùng lặp thông tin hộ tịch trên hệ thống phần mềm và giúp quá trình đăng ký khai sinh cũng như đăng ký cấp thẻ BHYT cho trẻ dưới 06 tuổi được diễn ra nhanh chóng và hiệu quả hơn.

Như vậy, nếu địa phương có nhu cầu triển khai liên thông dữ liệu đăng ký khai sinh và cấp thẻ BHYT cho trẻ dưới 06 tuổi thì có thể liên hệ Cục Công nghệ thông tin Bộ Tư pháp và Trung tâm Công nghệ thông tin BHXH Việt Nam để được hướng dẫn, thực hiện.

Công văn này được ban hành ngày 29/7/2019.​

Nguồn: Luatvietnam.vn

Thống kê số liệu đăng ký khai sinh, khai tử, kết hôn trên địa bàn tỉnh Bình Dương năm 2018Thông báoTinThống kê số liệu đăng ký khai sinh, khai tử, kết hôn trên địa bàn tỉnh Bình Dương năm 2018/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/4/2019 5:00 PMNoĐã ban hành
FalsePhòng Hành chính Tư pháp
Thống kê số liệu đăng ký các việc hộ tịch khác trên địa bàn tỉnh Bình Dương năm 2018Thông báoTinThống kê số liệu đăng ký các việc hộ tịch khác trên địa bàn tỉnh Bình Dương năm 2018/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/4/2019 5:00 PMNoĐã ban hành
FalsePhòng Hành chính Tư pháp
 Đề xuất quy định về Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, đăng ký hộ tịch trực tuyếnVăn bản điều hànhTin Đề xuất quy định về Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, đăng ký hộ tịch trực tuyến/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/1/2019 11:00 PMNoĐã ban hành

Đề xuất quy định về Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, đăng ký hộ tịch trực tuyến

(Chinhphu.vn) – Bộ Tư pháp đang dự thảo Nghị định quy định về Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, đăng ký hộ tịch trực tuyến.

Ảnh minh họa

Bộ Tư pháp cho biết, triển khai thực hiện Đề án Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử toàn quốc, trong điều kiện còn nhiều hạn chế về nguồn lực, Bộ Tư pháp đã chủ động xây dựng và triển khai áp dụng từ thí điểm đến nhân rộng phần mềm đăng ký, quản lý hộ tịch dùng chung, có kết nối với phần mềm quản lý số định danh cá nhân để cấp số định danh cá nhân cho trẻ em được đăng ký khai sinh từ ngày 01/01/2016.

Tính đến hết tháng 7/2019, Bộ Tư pháp đã hoàn thành việc đào tạo, hướng dẫn triển khai cho 63/63 địa phương, đã có 52/63 tỉnh, thành phố triển khai sử dụng phần mềm đăng ký, quản lý hộ tịch dùng chung, thực hiện kết nối để cấp số định danh cá nhân cho trẻ em khi đăng ký khai sinh. Trên toàn hệ thống đã ghi nhận: 14.035 người dùng là công chức tư pháp - hộ tịch tại 8.919 UBND cấp xã, 579 Phòng Tư pháp cấp huyện và 52 Sở Tư pháp cấp tỉnh tham gia tác nghiệp hàng ngày. Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử toàn quốc đã dần được hình thành tại 52/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với 5.186.636 trường hợp đăng ký khai sinh, trong đó có 2.519.844 trẻ em là công dân Việt Nam dưới 14 tuổi đăng ký khai sinh (lần đầu) sau ngày 01/01/2016 được cấp Số định danh cá nhân; 1.143.813 hồ sơ đăng ký kết hôn; 1.828.152lượt cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân; 749.585 trường hợp đăng ký khai tử; 3.710 trường hợp đăng ký giám hộ; 26.782 trường hợp đăng ký nhận cha, mẹ, con; 88.682 trường hợp đăng ký cải chính, thay đổi, bổ sung hộ tịch; 1.833 trường hợp đăng ký xác định lại dân tộc; 16 trường hợp xác định lại giới tính và hơn 17,5 triệu công dân đã được thu thập, thiết lập thông tin cơ bản về nhân thân, mối quan hệ công dân.

Bên cạnh việc triển khai bước đầu đăng ký hộ tịch trực tuyến bằng phần mềm đăng ký, quản lý hộ tịch dùng chung tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương và Lào Cai, Bắc Kạn, Hà Giang; thực hiện Quyết định số 877/QĐ-TTg ngày 18/7/2018 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 để các Bộ, ngành, địa phương thực hiện trong các năm 2018-2019, một số địa phương đã chủ động triển khai đăng ký trực tuyến một số việc hộ tịch.

Xuất phát từ nhiệm vụ được giao tại các văn bản pháp luật nêu trên, từ thực tế đang từng bước hình thành tương đối nhanh chóng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, việc cải cách hành chính đòi hỏi phải đẩy nhanh tiến độ đăng ký trực tuyến các thủ tục trong lĩnh vực hộ tịch, việc xây dựng Nghị định quy định về Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, đăng ký hộ tịch trực tuyến trong năm 2019 là hết sức cần thiết.

Bộ Tư pháp đã dự thảo Nghị định quy định về Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, đăng ký hộ tịch trực tuyến gồm 5 chương, 26 điều. Trong đó nêu rõ quy định về xây dựng, cập nhật, khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử; đăng ký hộ tịch trực tuyến, ghi, lưu trữ, quản lý sổ đăng ký hộ tịch, cấp bản sao trích lục hộ tịch, văn bản xác nhận thông tin hộ tịch; quản lý nhà nước đối với Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử.

Theo dự thảo, Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử được xây dựng tập trung, thống nhất từ Trung ương đến địa phương, do Bộ Tư pháp thống nhất quản lý. Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử được quản lý chặt chẽ, bảo đảm an toàn, lưu trữ vĩnh viễn. Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử được cập nhật kịp thời, đầy đủ, chính xác; duy trì hoạt động liên tục, ổn định, thông suốt đáp ứng yêu cầu khai thác và sử dụng của các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định pháp luật. Việc xây dựng, quản lý, khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử; đăng ký hộ tịch trực tuyến phải tuân thủ Luật hộ tịch, các văn bản quy định chi tiết thi hành và các quy định pháp luật có liên quan; bảo đảm bảo vệ bí mật đời tư cá nhân theo quy định pháp luật.

Dự thảo nêu rõ, nghiêm cấm những hành vi sau: Cố ý cung cấp thông tin không đúng sự thật khi đăng ký hộ tịch trực tuyến, làm sai lệch thông tin, thay đổi, xóa, hủy dữ liệu trái pháp luật trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử. Truy cập, sử dụng các biện pháp trái pháp luật để khai thác thông tin hoặc phát tán thông tin từ Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử. Phá hoại cơ sở hạ tầng thông tin hoặc cản trở quá trình vận hành, duy trì ổn định, liên tục của Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử.​

Nguồn: chinhphu.vn

FalsePhòng Hành chính Tư pháp
Tổ chức khai giảng Lớp bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch cho công chức làm công tác hộ tịch tại UBND cấp xã, cấp huyện của tỉnh Bình DươngThông báo; Tin ngành tư phápBài viếtTổ chức khai giảng Lớp bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch cho công chức làm công tác hộ tịch tại UBND cấp xã, cấp huyện của tỉnh Bình Dương/hanhchinhtuphap/PublishingImages/2019-09/338d477512ebf5b5acfa_Key_23092019155824.jpg
9/23/2019 4:00 PMNoĐã ban hành

Sáng ngày 16/9/2019, Sở Tư pháp phối hợp với Sở Nội vụ, trường Trung cấp Luật Vị Thanh tổ chức khai giảng Lớp bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch cho công chức làm công tác hộ tịch tại UBND cấp xã, cấp huyện của tỉnh. Thời gian được tổ chức trong thời gian 06 ngày. (Từ ngày 16/9/2019 đến ngày 21/9/2019).

75b7e7cfbd515a0f0340.jpg

Ông Nguyễn Quốc Trí - Phó Giám đốc Sở Tư pháp phát biểu khai mạc Hội nghị


Đến dự Lễ khai giảng có đồng chí Nguyễn Quốc Trí – Phó Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; đồng chí Lê Quỳnh Như – Sở Nội vụ tỉnh Bình Dương; đồng chí Nguyễn Văn Phụng - Hiệu trưởng Trường Trung cấp Luật Vị Thanh cùng hơn 100 công chức tư pháp hộ tịch tham gia lớp học.

Chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch cho công chức làm công tác hộ tịch cấp xã và cấp huyện gồm 10 chuyên đề (theo Chương trình bồi dưỡng được thực hiện theo Quyết định số 2247/QĐ-BTP ngày 25/02/2015 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc ban hành chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch).

Ngoài ra, chương trình bồi dưỡng còn dành thời gian để học viên và giảng viên cùng thực hành tình huống, tọa đàm, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm về những khó khăn, vướng mắc, giải pháp thực hiện trong thực tiễn đăng ký, quản lý hộ tịch ở các địa phương.

796ab09ce502025c5b13.jpg

Phát biểu tại Lễ khai giảng, đồng chí Nguyễn Quốc Trí – Phó Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương cảm ơn sự quan tâm và phối hợp tích cực của SỞ Nội vụ, Trường Trung cấp Luật Vị Thanh trong công tác tổ chức lớp học. Đồng chí yêu cầu các học viên trong quá trình học phải tham gia đầy đủ thời gian lên lớp, chấp hành nghiêm túc nội quy, quy chế đào tạo và tích cực tăng cường giao lưu trao đổi, chủ động trao đổi với giảng viên về các vấn đề gặp phải trong công việc hàng ngày để khóa bồi dưỡng thực sự có hiệu quả, mong các học viên sẽ tích lũy được nhiều kiến thức bổ ích để sau khi hoàn thành khóa bồi dưỡng sẽ thực hiện tốt công việc của mình.

9da0ec25b6bb51e508aa.jpg

          Lễ Bế giảng và phát Giấy chứng nhận cho các học viên


Kết thúc lớp bồi dưỡng, Trường Trung cấp Luật Vị Thanh đã cấp chứng chỉ cho 73 học viên đủ điều kiện hiện đang là công chức phụ trách công tác hộ tịch tại UBND cấp xã, Phòng Tư pháp cấp huyện trên địa bàn tỉnh Bình Dương./.​

FalsePhòng Hành chính Tư pháp
Công văn số 1592/STP-HCTP ngày 28/8/2019 về việc hướng dẫn nghiệp vụ hộ tịchVăn bản hướng dẫn nghiệp vụTinCông văn số 1592/STP-HCTP ngày 28/8/2019 về việc hướng dẫn nghiệp vụ hộ tịch/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
8/28/2019 5:00 PMNoĐã ban hành
FalsePhòng Hành chính Tư pháp
Công văn số 1141/STP-HCTP ngày 28/6/2019 về việc hướng dẫn trường hợp cải chính hộ tịch Văn bản hướng dẫn nghiệp vụTinCông văn số 1141/STP-HCTP ngày 28/6/2019 về việc hướng dẫn trường hợp cải chính hộ tịch /Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
8/28/2019 5:00 PMNoĐã ban hành
FalsePhòng Hành chính Tư pháp
Công văn số 769/STP-HCTP ngày 08/5/2019 về việc xác nhận của Tổng lãnh sự quán Úc về Công hàm không cản trở kết hônVăn bản hướng dẫn nghiệp vụTinCông văn số 769/STP-HCTP ngày 08/5/2019 về việc xác nhận của Tổng lãnh sự quán Úc về Công hàm không cản trở kết hôn/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
8/28/2019 5:00 PMNoĐã ban hành
FalsePhòng Hành chính Tư pháp
Công văn số 1593/STP-HCTP ngày 28/8/2019 về việc cung cấp thông tin liên quan đến giấy tờ được miễn hợp pháp hóa lãnh sự và giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoàiVăn bản hướng dẫn nghiệp vụCông văn số 1593/STP-HCTP ngày 28/8/2019 về việc cung cấp thông tin liên quan đến giấy tờ được miễn hợp pháp hóa lãnh sự và giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
8/28/2019 12:00 PMNoĐã ban hành
FalsePhòng Hành chính Tư pháp
Công văn số 1566/STP-HCTP ngày 27/8/2019 về việc hướng dẫn giám sát việc giám hộVăn bản hướng dẫn nghiệp vụTinCông văn số 1566/STP-HCTP ngày 27/8/2019 về việc hướng dẫn giám sát việc giám hộ/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
8/28/2019 9:00 AMNoĐã ban hành
FalsePhòng Hành chính Tư pháp
1 - 30Next
Ảnh
Video
Audio