Thông tin tuyên truyền
 
​Ngày 30/6/2020, Chính phủ ban hành Nghị định 71/2020/NĐ-CP về việc quy định lộ trình thực hiện nâng trình độ chuẩn được đào tạo của giáo viên mầm non, tiểu học, trung học cơ sở. Theo Nghị định này, lộ trình thực hiện nâng trình độ chuẩn được đào tạo của giáo viên mầm non, tiểu học, trung học cơ sở như sau:*Lộ trình thực hiện nâng trình độ chuẩn được đào tạo của giáo viên mầm non- Lộ trình ...
 
​Ngày 10/6/2020, Chính phủ ban hành Nghị định 65/2020/NĐ-CP quy định về tổ chức quản lý và các chế độ đối với người lưu trú tại cơ sở lưu trú trong thời gian chờ xuất cảnh.Nghị định này quy định chi tiết về tổ chức quản lý và các chế độ (bao gồm chế độ ăn, mặc, ở, sinh hoạt, liên lạc, thăm gặp, nhận quà, khám bệnh, chữa bệnh, chi phí mai táng) đối với người chấp hành án phạt trục xuất, người nước ...
 
​Ngày 28/6/2020, Chính phủ ban hành Nghị định 70/2020/NĐ-CP về việc quy định mức thu lệ phí trước bạ đối với ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước đến hết ngày 31/12/2020.Cụ thể, mức thu lệ phí trước bạ lần đầu đối với ô tô, rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi ô tô và các loại xe tương tự được sản xuất, lắp ráp trong nước được thực hiện như sau:Từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành đến ...
 
​Ngày 15/6/2020, Nghị định 49/2020/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Thi hành án hình sự về tái hòa nhập cộng đồng chính thức có hiệu lực.Nghị định này quy định cụ thể các biện pháp chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng cho phạm nhân; các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng; trách nhiệm của các Bộ, Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan, tổ chức, cá nhân ...
 
​Câu 1: Theo quy định của Nghị định số 08/2020/NĐ-CP ngày 08/01/2020 của Chính phủ về Tổ chức và hoạt động Thừa phát lại, thẩm quyền tống đạt văn bản có gì mới?Trả lời: Theo quy định tại Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, Thừa phát lại tống đạt các loại giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự (So với Nghị định 61/2009/NĐ-CP sửa đổi bổ sung bởi Nghị ...
​Trên cơ sở Kế hoạch tổ chức Cuộc thi tìm hiểu pháp luật trên internet “Cùng chung tay đẩy lùi dịch Covid-19” của Hội đồng Phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật tỉnh Bình Dương và Kế hoạch phối hợp của Sở Tư pháp – Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức Cuộc thi tìm hiểu pháp luật trên internet "Học sinh chung tay đẩy lùi dịch Covid-19" từ ngày 03/4/2020 đến nay (09/4/2020) đã có ...
 
​Ngày 01/3/2020, Chính phủ ban hành Nghị định số 28/2020/NĐ-CP quy đinh xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồngTổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, BHXH, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì bị xử phạt theo hình thức xử phạt chính là ...
 
Ngày 05/3/2020 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 30/2020/NĐ-CP quy định về công tác văn thư, trong đó Nghị định 30/2020/NĐ-CP cũng hướng dẫn về thể thức, kỹ thuật trình bày đối với văn bản hành chính, trong đó có nhiều nội dung mới:Thứ nhất, bắt buộc dùng phông chữ Times New Roman, nếu như trước đây phông chữ sử dụng để trình bày văn bản trên máy vi tính là phông chữ tiếng Việt của bộ mã ký ...
​Ngày 20/3/2020, Ban Chỉ đạo Quốc gia Phòng chống dịch Covid-19 đã ban hành Công văn 1440/CV-BCĐ về việc tổ chức cách ly người nhập cảnh phòng chống dịch Covid-19 theo đó, Ban Chỉ đạo đề nghị các Bộ có liên quan và UBND các tỉnh, thành phố triển khai các nội dung liên quan đến việc tổ chức cách ly phòng chống dịch COVID-19 như sau:- Tổ chức cách ly tập trung với tất cả người nhập cảnh từ các ...
​Ngày 24/02/2020, Chính phủ ban hành Nghị định 24/2020/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia.Theo đó, Nghị định quy định bổ sung 03 nhóm địa điểm công cộng không được uống rượu, bia. Cụ thể: Ngoài các địa điểm quy định tại Điều 10 Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia (Cơ sở y tế; Cơ sở giáo dục trong thời gian giảng dạy, học tập, làm ...
 
 
  
Phân loại
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Nội dung
  
  
Chính sách hỗ trợ tiền đóng học phí, chi phí sinh hoạt đối với sinh viên sư phạmTinChính sách hỗ trợ tiền đóng học phí, chi phí sinh hoạt đối với sinh viên sư phạm/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/1/2020 12:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 25/9/2020, Chính phủ ban hành Nghị định 116/2020/NĐ-CP quy định về chính sách hỗ trợ tiền đóng học phí, chi phí sinh hoạt đối với sinh viên sư phạm. Nghị định này quy định về chính sách hỗ trợ tiền đóng học phí, chi phí sinh hoạt đối với sinh viên học các ngành đào tạo giáo viên tại các đại học, học viện, trường đại học, trường cao đẳng được phép đào tạo giáo viên thực hiện theo phương thức giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu và đào tạo theo nhu cầu xã hội.

Theo Nghị định, đối tượng áp dụng là sinh viên học trình độ đại học, cao đẳng các ngành đào tạo giáo viên theo hình thức đào tạo chính quy, liên thông chính quy và sinh viên học văn bằng thứ 2 theo hình thức đào tạo chính quy trình độ đại học, cao đẳng các ngành đào tạo giáo viên có kết quả học lực văn bằng thứ 1 đạt loại giỏi. Không áp dụng đối với giáo viên được cử đi đào tạo, bồi dưỡng để nâng trình độ chuẩn được đào tạo theo quy định tại Nghị định số 71/2020/NĐ-CP ngày 30/6/2020 của Chính phủ quy định lộ trình thực hiện nâng trình độ chuẩn được đào tạo của giáo viên mầm non, tiểu học, trung học cơ sở.

ho-tro-sinh-vien-su-pham.jpg

Quy định về mức hỗ trợ và thời gian hỗ trợ:

- Sinh viên sư phạm được nhà nước hỗ trợ tiền đóng học phí bằng mức thu học phí của cơ sở đào tạo giáo viên nơi theo học;

- Sinh viên sư phạm được nhà nước hỗ trợ 3,63 triệu đồng/tháng để chi trả chi phí sinh hoạt trong thời gian học tập tại trường.

Thời gian hỗ trợ tiền đóng học phí và chi phí sinh hoạt được xác định theo số tháng thực tế học tập tại trường theo quy định, nhưng không quá 10 tháng/năm học. Trong trường hợp tổ chức giảng dạy theo học chế tín chỉ, cơ sở đào tạo giáo viên có thể quy đổi mức hỗ trợ cho phù hợp với học chế tín chỉ. Tổng kinh phí hỗ trợ của cả khóa học theo học chế tín chỉ không vượt quá mức hỗ trợ quy định cho khóa học theo năm học.

Quy định về bồi hoàn kinh phí hỗ trợ:

Đối tượng phải bồi hoàn kinh phí hỗ trợ tiền đóng học phí và chi phí sinh hoạt gồm: Sinh viên sư phạm đã hưởng chính sách không công tác trong ngành giáo dục sau 02 năm kể từ ngày có quyết định công nhận tốt nghiệp; Sinh viên sư phạm đã hưởng chính sách và công tác trong ngành giáo dục nhưng không đủ thời gian công tác theo quy định; Sinh viên sư phạm được hưởng chính sách đang trong thời gian đào tạo nhưng chuyển sang ngành đào tạo khác, tự thôi học, không hoàn thành chương trình đào tạo hoặc bị kỷ luật buộc thôi học.

Bên cạnh đó, Nghị định cũng quy định các đối tượng không phải bồi hoàn kinh phí hỗ trợ tiền đóng học phí và chi phí sinh hoạt gồm:

- Trong thời hạn 02 năm kể từ ngày có quyết định công nhận tốt nghiệp, sinh viên sư phạm công tác trong ngành giáo dục và có thời gian công tác tối thiểu gấp hai lần thời gian đào tạo tính từ ngày được tuyển dụng;

- Sinh viên sư phạm sau khi tốt nghiệp đang công tác trong ngành giáo dục, nhưng chưa đủ thời gian theo quy định và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều động bố trí công tác ngoài ngành giáo dục;

- Sinh viên sư phạm sau khi tốt nghiệp tiếp tục được cơ quan đặt hàng, giao nhiệm vụ hoặc đấu thầu cử đi đào tạo giáo viên trình độ cao hơn và tiếp tục công tác trong ngành giáo dục đủ thời gian quy định.

Ngoài ra, Sinh viên sư phạm nghỉ học tạm thời, bị đình chỉ học tập tạm thời sẽ không được hưởng chính sách hỗ trợ trong thời gian nghỉ học hoặc bị đình chỉ học. Sinh viên sư phạm dừng học do ốm đau, tai nạn, học lại, lưu ban (không quá một lần) hoặc dừng học vì lý do khác không do kỷ luật hoặc tự thôi học, được cơ sở đào tạo giáo viên xem xét cho tiếp tục học tập theo quy định, thì tiếp tục được hưởng chính sách hỗ trợ quy định tại Nghị định này nhưng thời gian hưởng không vượt quá thời gian tối đa hoàn thành chương trình đào tạo.

Nghị định 116/2020/NĐ-CP có hiệu lực ngày 15/11/2020 và áp dụng bắt đầu từ khóa tuyển sinh năm học 2021 - 2022./.

FalseVõ Thị Trâm Anh
Quy định mới về kinh doanh hàng miễn thuếTinQuy định mới về kinh doanh hàng miễn thuế/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
9/3/2020 4:00 PMNoĐã ban hành

         Ngày 28/8/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định 100/2020/NĐ-CP quy định về kinh doanh hàng miễn thuế. Nghị định này quy định về chính sách quản lý đối với hoạt động kinh doanh hàng miễn thuế; thủ tục hải quan, giám sát hải quan đối với hoạt động kinh doanh hàng miễn thuế. Cụ thể:

          Đối tượng áp dụng: Người xuất cảnh, quá cảnh, nhập cảnh; Đối tượng được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ tại Việt Nam; Thuyền viên làm việc trên tàu biển chạy tuyến quốc tế;Hành khách trên các chuyến bay quốc tế đi và đến Việt Nam; Doanh nghiệp đủ điều kiện kinh doanh hàng miễn thuế theo quy định của pháp luật; Cơ quan hải quan, công chức hải quan; Đơn vị kinh doanh cảng biển, cảng hàng không dân dụng quốc tế, ga đường sắt liên vận quốc tế; Ban quản lý khu kinh tế cửa khẩu đường bộ quốc tế, đơn vị được giao quản lý cửa khẩu đường bộ quốc tế; Tổ chức có quyền và nghĩa vụ liên quan đến hoạt động kinh doanh bán hàng miễn thuế;…

duty free.png

          Về đối tượng và điều kiện mua hàng miễn thuế được quy định như sau:

1. Người xuất cảnh, quá cảnh sau khi hoàn thành thủ tục xuất cảnh, quá cảnh, hành khách trên các chuyến bay quốc tế xuất cảnh từ Việt Nam hoặc người chờ xuất cảnh được mua hàng miễn thuế.

2. Hành khách trên các chuyến bay quốc tế xuất cảnh từ Việt Nam được mua hàng miễn thuế trên tàu bay xuất cảnh. Hành khách trên các chuyến bay quốc tế đến Việt Nam được mua hàng miễn thuế trên tàu bay đang thực hiện chuyến bay quốc tế đến Việt Nam.

3. Người nhập cảnh được mua hàng miễn thuế tại cửa hàng miễn thuế đặt tại khu vực hạn chế của cảng hàng không dân dụng quốc tế ngay sau khi hoàn thành thủ tục nhập cảnh, không được mua hàng miễn thuế sau khi đã ra khỏi khu vực hạn chế tại cảng hàng không dân dụng quốc tế.

4. Đối tượng được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ tại Việt Nam được mua hàng miễn thuế tại cửa hàng miễn thuế trong nội địa. Khi mua hàng miễn thuế cho tổ chức phải xuất trình sổ định mức hàng miễn thuế. Khi mua hàng miễn thuế cho cá nhân phải xuất trình sổ định mức hàng miễn thuế kèm chứng minh thư do Bộ Ngoại giao cấp hoặc hộ chiếu.

5. Đối tượng mua hàng là thuyền viên làm việc trên tàu biển chạy tuyến quốc tế (bao gồm tàu biển có quốc tịch nước ngoài và tàu biển có quốc tịch Việt Nam chạy tuyến quốc tế) được mua hàng miễn thuế tại cảng biển loại 1, cửa hàng miễn thuế trong nội địa phục vụ cho nhu cầu cá nhân, nhu cầu sinh hoạt chung của thuyền viên để sử dụng trên tàu trong thời gian tàu neo đậu tại cảng biển Việt Nam và để sử dụng trên tàu ngoài lãnh hải Việt Nam sau khi tàu xuất cảnh.

          Ngoài ra, Nghị định còn quy định các thủ tục hải quan, giám sát hải quan đối với hoạt động kinh doanh hàng miễn thuế, như: Thủ tục hải quan đối với hàng hóa đưa vào bán tại cửa hàng miễn thuế; Thủ tục hải quan, giám sát hải quan đối với hàng hóa vận chuyển giữa kho chứa hàng miễn thuế và cửa hàng miễn thuế; Thủ tục hải quan, giám sát hải quan đối với hàng hóa vận chuyển giữa kho chứa hàng miễn thuế với tàu bay để bán hàng miễn thuế trên các chuyến bay quốc tế đi và đến Việt Nam; Thủ tục bán hàng miễn thuế cho đối tượng mua là người nhập cảnh tại cửa khẩu sân bay quốc tế; Thủ tục bán hàng miễn thuế cho đối tượng mua là hành khách đang thực hiện chuyến bay quốc tế đến Việt Nam; Thủ tục bán hàng miễn thuế cho tổ chức, cá nhân được hưởng quyền ưu đãi miễn trừ mua hàng tại cửa hàng miễn thuế trong nội địa …

        Nghị định 100/2020/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 15/10/2020. Nghị định này bãi bỏ Nghị định số 167/2016/NĐ-CP ngày 27/12/2016 của Chính phủ về kinh doanh hàng miễn thuế.

        Doanh nghiệp có nhiều cửa hàng miễn thuế, kho chứa hàng miễn thuế tại nhiều địa điểm khác nhau chịu sự quản lý của các Chi cục Hải quan, Cục Hải quan tỉnh, thành phố khác nhau thực hiện báo cáo quyết toán năm 2020 theo quy định tại Điều 22 Nghị định số 167/2016/NĐ-CP. Trường hợp doanh nghiệp kinh doanh hàng miễn thuế thực hiện hóa đơn điện tử thì việc lập, quản lý, sử dụng, bảo quản, lưu trữ hóa đơn điện tử thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành về hóa đơn điện tử./.

FalseVõ Thị Trâm Anh
Từ ngày 10/8/2020, giảm mức thu, nộp phí sử dụng đường bộ TinTừ ngày 10/8/2020, giảm mức thu, nộp phí sử dụng đường bộ /Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
8/13/2020 5:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 10/8/2020, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 74/2020/TT-BTC quy định mức thu, nộp phí sử dụng đường bộ. 

Theo đó, xe ô tô kinh doanh vận tải của doanh nghiệp kinh doanh vận tải, hợp tác xã kinh doanh vận tải, hộ kinh doanh vận tải thuộc đối tượng chịu phí theo quy định tại Điều 2 Thông tư số 293/2016/TT-BTC ngày 15/11/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, miễn, quản lý và sử dụng phí sử dụng đường bộ, chủ xe thực hiện nộp phí như sau:

giam phi duong bo.jpg

Kể từ ngày 10/8/2020 đến hết ngày 31/12/2020:

- Xe ô tô kinh doanh vận tải hành khách (xe ô tô chở người, các loại xe buýt vận tải hành khách công cộng): Nộp phí bằng 70% mức thu quy định tại điểm 1, điểm 2, điểm 3, điểm 4, điểm 5 Mục 1 Biểu mức thu phí sử dụng đường bộ ban hành kèm theo Thông tư số 293/2016/TT-BTC.

- Xe tải, xe ô tô chuyên dùng, xe đầu kéo: Nộp phí bằng 90% mức thu quy định tại điểm 2, điểm 3, điểm 4, điểm 5, điểm 6, điểm 7, điểm 8 Mục 1 Biểu mức thu phí sử dụng đường bộ ban hành kèm theo Thông tư số 293/2016/TT-BTC.

- Trường hợp xe ô tô chuyển từ không kinh doanh vận tải sang kinh doanh vận tải trong thời gian có hiệu lực của Thông tư này thì thời điểm áp dụng mức phí theo quy định tại Thông tư này tính từ ngày xe ô tô được ghi nhận trong Chương trình quản lý kiểm định của Cục Đăng kiểm Việt Nam là xe ô tô kinh doanh vận tải.

- Trường hợp xe ô tô đã được nộp phí theo mức phí quy định tại Thông tư số 293/2016/TT-BTC cho khoảng thời gian có hiệu lực của Thông tư này, chủ xe sẽ được bù trừ số tiền phí chênh lệch giữa mức phí theo quy định tại Thông tư số 293/2016/TT-BTC với mức phí theo quy định tại Thông tư này vào số phí phải nộp của chu kỳ tiếp theo. Đơn vị đăng kiểm chịu trách nhiệm tính bù trừ tiền phí cho chủ xe vào chu kỳ tiếp theo.

Kể từ ngày 01/01/2021 trở đi, thực hiện nộp phí sử dụng đường bộ theo mức phí quy định tại Mục 1 Biểu mức thu phí sử dụng đường bộ ban hành kèm theo Thông tư số 293/2016/TT-BTC./.

FalseVõ Thị Trâm Anh
Infographic về phòng chống COVID- 19Infographic về phòng chống COVID- 19/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
8/6/2020 11:00 AMNoĐã ban hành
Quy định về cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, đăng ký hộ tịch trực tuyếnTinQuy định về cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, đăng ký hộ tịch trực tuyến/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
8/6/2020 10:00 AMNoĐã ban hành

Ngày 28/7/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định 87/2020/NĐ-CP về Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, đăng ký hộ tịch trực tuyến. Nghị định này quy định về việc xây dựng, quản lý, cập nhật, khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử; kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cổng dịch vụ công quốc gia, Cổng dịch vụ công, Hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp tỉnh, Cơ sở dữ liệu khác của bộ, ngành, địa phương; cấp bản sao trích lục hộ tịch, xác nhận thông tin hộ tịch; đăng ký hộ tịch trực tuyến.

hotichdientu.jpg

Theo đó, việc tiếp nhận, giải quyết yêu cầu đăng ký hộ tịch (ĐKHT) trực tuyến theo quy trình sau:

- Người có yêu cầu ĐKHT trực tuyến truy cập vào Cổng dịch vụ công quốc gia, Cổng dịch vụ công cấp tỉnh để đăng ký tài khoản, xác thực người dùng theo hướng dẫn

- Sau khi đăng nhập tài khoản thành công, người có yêu cầu ĐKHT trực tuyến cung cấp thông tin theo biểu mẫu điện tử tương tác, đính kèm bản chụp hoặc bản sao điện tử các giấy tờ theo quy định.

- Nộp phí, lệ phí thông qua chức năng thanh toán trực tuyến hoặc bằng cách thức khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi hoàn tất việc nộp hồ sơ, người có yêu cầu ĐKHT trực tuyến được cấp 1 mã hồ sơ thủ tục hành chính để theo dõi, tra cứu tiến độ giải quyết hồ sơ hoặc truy cập để hoàn thiện hồ sơ theo yêu cầu của cơ quan ĐKHT.

Ngay trong ngày làm việc, cơ quan ĐKHT sẽ tiếp nhận, kiếm tra tính đầy đủ, phù hợp của hồ sơ và gửi Phiếu hẹn trả kết quả qua thư điện tử hoặc tin nhắn điện thoại di động nếu hồ sơ đầy đủ hoặc yêu cầu bổ sung, hoàn thiện nếu chưa đầy đủ.

Người có yêu cầu ĐKHT được nhận kết quả theo một trong các phương thức sau đây: Nhận bản điện tử giấy tờ hộ tịch gửi qua thư điện tử, Kho quản lý dữ liệu điện tử của tổ chức, cá nhân đó; Nhận bản điện tử giấy tờ hộ tịch gửi vào thiết bị số, thông qua phương pháp truyền số liệu phù hợp, đảm bảo an toàn, bảo mật thông tin; Nhận kết quả là giấy tờ hộ tịch thông qua hệ thống bưu chính; Nhận kết quả là giấy tờ hộ tịch tại cơ quan đăng ký hộ tịch.

Nghị định 87/2020/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ 15/9/2020.

FalseVõ Thị Trâm Anh
Xử phạt vi phạm hành chính về chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ kýTinXử phạt vi phạm hành chính về chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
7/30/2020 4:00 PMNoĐã ban hành

Từ ngày 01/9/2020, Nghị định 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 của Chính phủ về việc quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã chính thức có hiệu lực.

Theo đó, một số hành vi vi phạm về chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký sẽ bị xử phạt cụ thể như sau:

- Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi tẩy xoá, sửa chữa làm sai lệch nội dung của bản chính để yêu cầu chứng thực bản sao.

- Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: Giả mạo chữ ký của người thực hiện chứng thực; Không thực hiện yêu cầu chứng thực đúng thời hạn theo quy định; Chứng thực ngoài trụ sở của tổ chức thực hiện chứng thực, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; Từ chối yêu cầu chứng thực không đúng quy định của pháp luật; Không bố trí người tiếp nhận yêu cầu chứng thực các ngày làm việc trong tuần; không niêm yết công khai lịch làm việc, thẩm quyền, thủ tục, thời gian giải quyết, phí, chi phí chứng thực tại trụ sở của tổ chức thực hiện chứng thực;…

giay_to_chung_thuc_cong_chung.jpg

- Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: Chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký mà không ký, ghi rõ họ tên, đóng dấu theo đúng quy định; không ghi lời chứng vào trang cuối của bản sao giấy tờ, văn bản có từ 02 trang trở lên; không đóng dấu giáp lai đối với bản sao giấy tờ, văn bản mà người yêu cầu chứng thực đã ký có từ 02 tờ trở lên; Chứng thực chữ ký trong trường hợp người yêu cầu chứng thực không ký trước mặt người thực hiện chứng thực hoặc không ký trước mặt người tiếp nhận hồ sơ chứng thực chữ ký; Không ghi lời chứng trong văn bản chứng thực…

- Phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: Chứng thực bản sao từ bản chính giấy tờ, văn bản bị tẩy xóa, sửa chữa, thêm, bớt nội dung không hợp lệ; bản chính bị hư hỏng, cũ nát, không xác định được nội dung; Chứng thực bản sao từ bản chính giấy tờ, văn bản do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền của nước ngoài cấp, công chứng hoặc chứng nhận mà chưa được hợp pháp hóa lãnh sự, trừ trường hợp được miễn hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định của pháp luật, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi, có lại; Chứng thực bản sao từ bản chính giấy tờ, văn bản đóng dấu mật của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền hoặc không đóng dấu mật nhưng ghi rõ không được sao chụp;...

- Tước quyền sử dụng thẻ công chứng viên từ 09 tháng đến 12 tháng đối với một trong các hành vi sau: Chứng thực bản sao từ bản chính hoặc chữ ký trong giấy tờ, văn bản có nội dung trái pháp luật, đạo đức xã hội; tuyên truyền, kích động chiến tranh, chống chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam; xuyên tạc lịch sử của dân tộc Việt Nam; xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân, tổ chức; vi phạm quyền công dân; Chứng thực bản sao từ bản chính mà không đối chiếu với bản chính; Chứng thực chữ ký trong trường hợp tại thời điểm chứng thực, người yêu cầu chứng thực không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình.

Ngoài ra, hình thức xử phạt bổ sung gồm: Tước quyền sử dụng thẻ công chứng viên từ 03 tháng đến 06 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại các điểm b, c và d khoản 3 Điều 34; Tước quyền sử dụng thẻ công chứng viên từ 06 tháng đến 09 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại các điểm a, b, c, d, e và g khoản 4 Điều 34; Tịch thu tang vật là giấy tờ, văn bản bị tẩy xoá, sửa chữa làm sai lệch nội dung đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 34.

Các biện pháp khắc phục hậu quả gồm: Buộc tổ chức hành nghề công chứng đang lưu trữ hồ sơ chứng thực thông báo trên cổng thông tin điện tử của Sở Tư pháp nơi đặt trụ sở về văn bản đã được chứng thực tại điểm a khoản 3, các điểm a, b, c và d khoản 4, khoản 5 Điều 34; Kiến nghị cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xem xét, xử lý đối với giấy tờ, văn bản bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung quy định tại khoản 1 Điều 34; Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm d khoản 3 Điều 34./.

FalseVõ Thị Trâm Anh
Quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xãTinQuy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
7/17/2020 4:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 15/7/2020, Chính phủ ban hành Nghị định 82/2020/NĐ-CP về việc quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.

Nghị định này quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính, thẩm quyền lập biên bản, thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh đối với hành vi vi phạm hành chính trong các lĩnh vực sau đây: Bổ trợ tư pháp, bao gồm: luật sư; tư vấn pháp luật; công chứng; giám định tư pháp; đấu giá tài sản; trọng tài thương mại; hòa giải thương mại; thừa phát lại; Hành chính tư pháp, bao gồm: hộ tịch; quốc tịch; chứng thực; lý lịch tư pháp; phổ biến, giáo dục pháp luật; hợp tác quốc tế về pháp luật; trợ giúp pháp lý; đăng ký biện pháp bảo đảm; trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; Hôn nhân và gia đình; Thi hành án dân sự; Phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.

hình búa.jpg

Theo Nghị định này, mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân trong các lĩnh vực: hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình là 30.000.000 đồng. Mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân trong các lĩnh vực: thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã là 40.000.000 đồng. Mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp là 50.000.000 đồng. Trường hợp tổ chức có hành vi vi phạm hành chính như của cá nhân thì mức phạt tiền bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

Đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã xảy ra trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực mà sau đó mới bị phát hiện hoặc đang xem xét, giải quyết thì áp dụng Nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính có hiệu lực tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm để xử lý. Trường hợp Nghị định này không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi đã xảy ra thì áp dụng các quy định của Nghị định này để xử lý.

 Đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính đã được ban hành hoặc đã được thi hành xong trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực thi hành, mà cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính còn khiếu nại thì áp dụng quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính, Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã và Nghị định số 67/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/9/2020 và thay thế Nghị định số 110/2013/NĐ-CP và Nghị định số 67/2015/NĐ-CP./.

FalseVõ Thị Trâm Anh
Hội nghị trực tuyến “Công tác dân vận trong hoạt động hòa giải”Tin ngành tư phápTinHội nghị trực tuyến “Công tác dân vận trong hoạt động hòa giải”/PhoBietGDPL/PublishingImages/2020-07/ae51dee7cfaf33f16abe_Key_16072020162636.jpg
7/15/2020 5:00 PMNoĐã ban hành

Sáng ngày 13/7, Ban Dân vận Trung ương, Đảng Đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban Cán sự Đảng Tòa án nhân dân Tối cao và Ban Cán sự Đảng Bộ Tư pháp phối hợp tổ chức Hội nghị trực tuyến "Công tác dân vận trong hoạt động hòa giải". Đồng chí Trương Thị Mai, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng - Trưởng ban Dân vận Trung ương chủ trì hội nghị. Cùng dự có đồng chí Vũ Ðức Ðam, Ủy viên Trung ương Ðảng, Phó Thủ tướng Chính phủ, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; đại diện lãnh đạo các bộ, ban, ngành ở Trung ương và đại biểu ở 63 điểm cầu tại địa phương. Tại điểm cầu Bình Dương có đại diện lãnh đạo Ban Dân vận Tỉnh ủy, lãnh đạo các sở, ban, ngành: Ban Tuyên giáo, Ban Nội chính, Mặt Trận Tổ quốc, Sở Tư pháp, Tòa án,… lãnh đạo các huyện, thị xã, thành phố cùng 27 Hòa giải viên trên địa bàn tỉnh cùng về tham dự.

ae51dee7cfaf33f16abe.jpg

(Các đại biểu tham dự Hội nghị tại điểm cầu tỉnh Bình Dương) 


Phát biểu khai mạc Hội nghị, đồng chí Trương Thị Mai, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Ðảng, Trưởng Ban Dân vận Trung ương nhấn mạnh, hơn 20 năm qua, với sự tham gia tích cực của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, ngành tư pháp, chính quyền các địa phương, nhất là chính quyền ở cơ sở, hoạt động hòa giải ở cơ sở đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Con số gần 100 nghìn tổ hòa giải cơ sở, 600 nghìn hòa giải viên, gần 900 nghìn vụ, việc được tiến hành hòa giải trong 5 năm qua với tỷ lệ 80,6% hòa giải thành công mang lại nhiều ý nghĩa sâu sắc. Ðiều này không chỉ hàn gắn những xích mích, mâu thuẫn phát sinh, mà còn tăng cường sự hiểu biết, tinh thần tương thân tương ái, đoàn kết, thắt chặt tình cảm, góp phần giữ bình yên, ổn định xã hội, giảm bớt gánh nặng cho chính quyền cơ sở, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội các địa bàn dân cư. Ðến nay, với Luật Hòa giải ở cơ sở, Luật Hòa giải, đối thoại tại tòa án và hoạt động của hòa giải viên lao động, trọng tài lao động trong quy định của Bộ luật Lao động, cùng với các cơ chế hòa giải, đối thoại được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Ðất đai, Luật Khiếu nại, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng..., hoạt động hòa giải đã bao quát hầu hết các lĩnh vực đời sống xã hội. Theo bà Trương Thị Mai, bản chất của hoạt động hòa giải chính là công tác dân vận. Những mô hình "tổ hòa giải 5 tốt", "tổ hòa giải điển hình tiên tiến", các tổ hòa giải, hòa giải viên tiêu biểu ở nhiều nơi đã khẳng định không vận động tốt không thể hòa giải có hiệu quả.

Hội nghị được nghe nhiều ý kiến tham luận của Trung ương, địa phương về công tác dân vận trong hoạt động hòa giải. Một số ý kiến cũng đã nêu lên những tồn tại, hạn chế cần khắc phục trong công tác hòa giải ở cơ sở như: Một số quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở không còn phù hợp; chất lượng đội ngũ hòa giải viên ở cơ sở chưa đều, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa; công tác hòa giải cơ sở chưa gắn kết với công tác dân vận...

Tuy thực trạng hoạt động hòa giải nói chung, hòa giải ở cơ sở nói riêng còn đặt ra nhiều thách thức, đặc biệt dưới tác động của nền kinh tế thị trường, sự hội nhập quốc tế, các mâu thuẫn, tranh chấp đang gia tăng, cả về số lượng và tính chất phức tạp của vụ việc nhưng hoạt động hòa giải ở cơ sở cũng đã góp phần nâng cao hiệu quả công tác dân vận. Trong quá trình hòa giải, các hòa giải viên ở cơ sở đã trực tiếp phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến các bên tranh chấp và những người có liên quan, góp phần nâng cao nhận thức pháp luật của nhân dân, hình thành ý thức chấp hành pháp luật. Từ đó đạt mục tiêu của công tác dân vận là vận động tất cả các tầng lớp nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng. Đồng sức, đồng lòng thực hiện thành công các định hướng phát triển đất nước mà Đảng chỉ ra; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc; củng cố và tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân../

Nguyễn Chính

FalseNguyễn Đức Chính
Năm 2020, tỉnh Bình Dương xây dựng Cổng thông tin điện tử về phổ biến giáo dục pháp luậtTin ngành tư phápTinNăm 2020, tỉnh Bình Dương xây dựng Cổng thông tin điện tử về phổ biến giáo dục pháp luật/PhoBietGDPL/PublishingImages/2020-07/Capture_Key_14072020171317.PNG
7/13/2020 6:00 PMNoĐã ban hành

Nhằm mục đích tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện công tác phổ biến giáo dục pháp luật (PBGDPL) đáp ứng yêu cầu xây dựng Chính phủ điện tử đồng thời, tiếp tục đổi mới nội dung, đa dạng hóa hình thức, nâng cao hiệu quả công tác PBGDPL đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội; góp phần tạo chuyển biến căn bản, toàn diện trong ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật của cán bộ và nhân dân trên địa bàn tỉnh, ngày 15/6/2020, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Đề án xây dựng Cổng thông thông tin điện tử phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) tỉnh Bình Dương.

Trên cơ sở Đề án, Sở Tư pháp được giao chủ trì phối hợp với các sở, ban ngành và UBND các huyện, thị xã, thành phố xây dựng Cổng thông tin điện tử PBGDPL tỉnh Bình Dương; quản lý, khai thác, vận hành Cổng thông tin điện tử PBGDPL; xây dựng chương trình, sản phẩm, tài liệu, ấn phẩm PBGDPL để đăng tải trên Cổng thông tin điện tử PBGDPL tỉnh; tổ chức bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong PBGDPL, nhất là đội ngũ báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật; tăng cường tổ chức bồi dưỡng, tập huấn bằng hình thức trực tuyến trên môi trường mạng;…

Cổng thông tin điện tử về PBGDPL được định hướng xây dựng hệ thống đảm bảo đầy đủ các tính năng cơ bản, giao diện thân thiện, phù hợp với đa số các trình duyệt thông dụng hiện nay, tùy ứng tốt trên các thiết bị và sử dụng tên miền truy cập là: pbgdpl.binhduong.gov.vn

Lộ trình thực hiện:

Trong năm 2020, thực hiện xây dựng Cổng thông tin điện tử PBGDPL tỉnh để cung cấp chính xác, đầy đủ, kịp thời thông tin về pháp luật; chỉ đạo, hướng dẫn công tác PBGDPL phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, liên kết chia sẻ với Cổng thông tin điện tử PBGDPL của Bộ Tư pháp.

Kể từ năm 2021 trở đi, thực hiện duy trì, nâng cấp Cổng thông tin điện tử PBGDPL tỉnh hoạt động ổn định, bền vững. Tiếp tục vận hành, cung cấp chính xác, đầy đủ, kịp thời thông tin về pháp luật; chỉ đạo, hướng dẫn công tác PBGDPL để đáp ứng công tác phổ biến giáo dục pháp luật tại địa phương.

Kèm theo Đề án: QD_1575_UBND_TINH_BD.pdf

FalseNguyễn Đức Chính
Tuyên truyền về Luật Phòng chống tác hại của rượu bia và Nghị định 100 cho đồng bào dân tộc thiểu sốTin ngành tư phápTinTuyên truyền về Luật Phòng chống tác hại của rượu bia và Nghị định 100 cho đồng bào dân tộc thiểu số/PhoBietGDPL/PublishingImages/2020-07/bd5f78818e6873362a79 (1)_Key_14072020164046.jpg
7/12/2020 5:00 PMNoĐã ban hành

Thực hiện kế hoạch công tác phổ biến giáo dục pháp luật và chương trình công tác dân tộc năm 2020, từ ngày 09/6/2020 đến ngày 19/6/2020 Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh đã phối hợp với Sở Tư pháp thực hiện tuyên truyền pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số tại nhiều xã trên địa bàn tỉnh.

Đợt tuyên truyền đã thực hiện được 10 cuộc với khoảng 700 đồng bào dân tộc thiểu số tham dự, tại các buổi tuyền báo cáo viên đã tuyên truyền về các nội dung quy định pháp luật của Luật Phòng chống tác hại của rượu bia và Nghị định 100/2019/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt. Qua nội dung tuyên truyền, nhiều đông đảo đồng bào đã có nhận thức đúng đắn hơn về tác hại, hậu quả của việc sử dụng rượu, bia cũng như các quy định về mức xử phạt trong lĩnh vực giao thông đường bộ.

5e547b858d6c7032297d (1).jpg

Việc tuyên truyền pháp luật cho đồng bào dân tộc là một trong những nội dung công tác quan trọng được lãnh đạo Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh và lãnh đạo Sở Tư pháp quan tâm chỉ đạo thực hiện hàng năm.

Nguyễn Chính

FalseNguyễn Đức Chính
Lộ trình thực hiện nâng trình độ chuẩn được đào tạo của giáo viên mầm non, tiểu học, trung học cơ sởTinLộ trình thực hiện nâng trình độ chuẩn được đào tạo của giáo viên mầm non, tiểu học, trung học cơ sở/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
7/7/2020 4:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 30/6/2020, Chính phủ ban hành Nghị định 71/2020/NĐ-CP về việc quy định lộ trình thực hiện nâng trình độ chuẩn được đào tạo của giáo viên mầm non, tiểu học, trung học cơ sở.

Theo Nghị định này, lộ trình thực hiện nâng trình độ chuẩn được đào tạo của giáo viên mầm non, tiểu học, trung học cơ sở như sau:

*Lộ trình thực hiện nâng trình độ chuẩn được đào tạo của giáo viên mầm non

mầm non.jpg

- Lộ trình thực hiện từ ngày 01/7/2020 đến hết ngày 31/12/2030.

- Lộ trình được thực hiện thành hai giai đoạn:

+ Giai đoạn 1: Từ ngày 01/7/2020 đến hết ngày 31/12/2025, bảo đảm đạt ít nhất 60% số giáo viên mầm non đang được đào tạo hoặc đã hoàn thành chương trình đào tạo được cấp bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm;

+ Giai đoạn 2: Từ ngày 01/01/2026 đến hết ngày 31/12/2030, thực hiện đối với số giáo viên còn lại để bảo đảm 100% số giáo viên mầm non hoàn thành chương trình đào tạo được cấp bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm.

*Lộ trình thực hiện năng trình độ chuẩn được đào tạo của giáo viên tiểu học

cap 1.jpg

- Lộ trình thực hiện từ ngày 01/7/2020 đến hết ngày 31/12/2030.

- Lộ trình được thực hiện thành hai giai đoạn:

+ Giai đoạn 1: Từ ngày 01/7/2020 đến hết ngày 31/12/2025, bảo đảm đạt ít nhất 50% số giáo viên tiểu học đang được đào tạo hoặc đã hoàn thành chương trình đào tạo được cấp bằng cử nhân;

+ Giai đoạn 2: Từ ngày 01/01/2026 đến hết ngày 31/12/2030, thực hiện đối với số giáo viên còn lại để bảo đảm 100% số giáo viên tiểu học hoàn thành chương trình đào tạo được cấp bằng cử nhân.

*Lộ trình thực hiện năng trình độ chuẩn được đào tạo của giáo viên trung học cơ sở

- Lộ trình thực hiện từ ngày 01/7/2020 đến hết ngày 31/12/2030.

- Lộ trình được thực hiện thành hai giai đoạn:

+ Giai đoạn 1: Từ ngày 01/7/2020 đến hết ngày 31/12/2025, bảo đảm đạt ít nhất 60% số giáo viên trung học cơ sở đang được đào tạo hoặc đã hoàn thành chương trình đào tạo được cấp bằng cử nhân;

+ Giai đoạn 2: Từ ngày 01/01/2026 đến hết ngày 31/12/2030, thực hiện đối với số giáo viên còn lại để bảo đảm 100% số giáo viên trung học cơ sở hoàn thành chương trình đào tạo được cấp bằng cử nhân.

FalseVõ Thị Trâm Anh
Quy định về tổ chức quản lý và các chế độ đối với người lưu trú tại cơ sở lưu trú trong thời gian chờ xuất cảnhTinQuy định về tổ chức quản lý và các chế độ đối với người lưu trú tại cơ sở lưu trú trong thời gian chờ xuất cảnh/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
7/7/2020 4:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 10/6/2020, Chính phủ ban hành Nghị định 65/2020/NĐ-CP quy định về tổ chức quản lý và các chế độ đối với người lưu trú tại cơ sở lưu trú trong thời gian chờ xuất cảnh.

Nghị định này quy định chi tiết về tổ chức quản lý và các chế độ (bao gồm chế độ ăn, mặc, ở, sinh hoạt, liên lạc, thăm gặp, nhận quà, khám bệnh, chữa bệnh, chi phí mai táng) đối với người chấp hành án phạt trục xuất, người nước ngoài bị áp dụng hình thức xử phạt vi phạm hành chính là trục xuất và người nước ngoài đã chấp hành xong án phạt tù lưu trú tại cơ sở lưu trú của Bộ Công an trong thời gian chờ làm thủ tục xuất cảnh (gọi chung là người lưu trú).

Nguoi NN.jpg

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 15/6/2020. Điều chỉnh các văn bản quy phạm pháp luật, các điều khoản và quy định sau đây:

- Thay thế Nghị định số 09/2012/NĐ-CP ngày 17/02/2012 của Chính phủ quy định về tổ chức quản lý và các chế độ đối với người lưu trú trong thời gian chờ xuất cảnh theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

- Bãi bỏ Điều 31 Nghị định số 112/2013/NĐ-CP ngày 02/10/2013 của Chính phủ quy định hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất.

- Điều 32 và khoản 1 Điều 33 Nghị định số 112/2013/NĐ-CP không điều chỉnh đối tượng người nước ngoài bị áp dụng hình thức xử phạt vi phạm hành chính là trục xuất lưu trú tại cơ sở lưu trú của Bộ Công an.

Kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành, các trường hợp đang được giải quyết theo quy định tại Nghị Nghị định số 09/2012/NĐ-CP ngày 17/02/2012 của Chính phủ quy định về tổ chức quản lý và các chế độ đối với người lưu trú trong thời gian chờ xuất cảnh theo quy định của Luật Thi hành án hình sự và Nghị định số 112/2013/NĐ-CP thì áp dụng quy định của Nghị định này để giải quyết.

FalseVõ Thị Trâm Anh
Giảm lệ phí trước bạ đối với ô tô sản xuất, lắp ráp trong nướcTinGiảm lệ phí trước bạ đối với ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
7/6/2020 5:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 28/6/2020, Chính phủ ban hành Nghị định 70/2020/NĐ-CP về việc quy định mức thu lệ phí trước bạ đối với ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước đến hết ngày 31/12/2020.

xe1.jpg

Cụ thể, mức thu lệ phí trước bạ lần đầu đối với ô tô, rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi ô tô và các loại xe tương tự được sản xuất, lắp ráp trong nước được thực hiện như sau:

Từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2020: Mức thu lệ phí trước bạ bằng 50% mức thu quy định tại Nghị định số 20/2019/NĐ-CP ngày 21 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 140/2016/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2016 của Chính phủ về lệ phí trước bạ và các Nghị quyết hiện hành của Hội đồng nhân dân hoặc Quyết định hiện hành của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về mức thu lệ phí trước bạ tại địa phương.

Từ ngày 01 tháng 01 năm 2021 trở đi: Mức thu lệ phí trước bạ tiếp tục thực hiện theo quy định tại Nghị định số 20/2019/NĐ-CP ngày 21 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 140/2016/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2016 của Chính phủ về lệ phí trước bạ và các Nghị quyết hiện hành của Hội đồng nhân dân hoặc Quyết định hiện hành của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về mức thu lệ phí trước bạ tại địa phương.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 28/6/2020 đến hết ngày 31/12/2020./.

FalseVõ Thị Trâm Anh
Quy định mới của pháp luật về tái hòa nhập cộng đồngTinQuy định mới của pháp luật về tái hòa nhập cộng đồng/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/15/2020 6:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 15/6/2020, Nghị định 49/2020/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Thi hành án hình sự về tái hòa nhập cộng đồng chính thức có hiệu lực.

Nghị định này quy định cụ thể các biện pháp chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng cho phạm nhân; các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng; trách nhiệm của các Bộ, Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc thực hiện các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng, được áp dụng đối với phạm nhân trước khi chấp hành xong án phạt tù, được đặc xá, tha tù trước thời hạn có điều kiện tại các cơ sở giam giữ phạm nhân (gọi chung là phạm nhân); người được đặc xá, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, người chấp hành xong án phạt tù đã trở về cộng đồng (gọi chung là người chấp hành xong hình phạt tù) là người Việt Nam, người nước ngoài và người không có quốc tịch thường trú tại Việt Nam; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến thực hiện các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng.

HINH.jpg

Theo đó, trong khoảng thời gian 02 tháng trước khi phạm nhân chấp hành xong án phạt tù hoặc sau khi có kết quả thẩm định nhất trí đề nghị đặc xá, tha tù trước thời hạn có điều kiện của cơ quan có thẩm quyền, các cơ sở giam giữ phạm nhân tổ chức tư vấn tâm lý, hỗ trợ các thủ tục pháp lý cho phạm nhân. Cụ thể: Tư vấn tình cảm, hôn nhân, gia đình, sức khỏe; phòng, chống ma túy, HIV/AIDS và các tệ nạn xã hội; Tư vấn xóa bỏ mặc cảm, tự ti; xây dựng ý chí, niềm tin, khả năng ứng phó, giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình tái hòa nhập cộng đồng; Tư vấn về lao động, việc làm, sử dụng các ngành nghề đã được học, bảo hiểm xã hội và các vấn đề khác có liên quan….

Mặt khác, các cơ sở giam giữ phạm nhân có trách nhiệm kiểm tra, đánh giá năng lực, nhu cầu, điều kiện, hoàn cảnh của từng phạm nhân để hướng dẫn họ lập kế hoạch tái hòa nhập cộng đồng cho bản thân; phối hợp với các Trung tâm dịch vụ việc làm cung cấp thông tin thị trường lao động, tư vấn, định hướng nghề nghiệp, giới thiệu việc làm cho phạm nhân. Căn cứ vào khả năng, nhu cầu của phạm nhân, thị trường lao động và điều kiện cụ thể, ba tháng trước khi phạm nhân chấp hành xong án phạt tù, các cơ sở giam giữ phạm nhân lập kế hoạch, phối hợp với các cơ quan, đơn vị chức năng tổ chức đào tạo nghề, bồi dưỡng nâng cao tay nghề, cấp chứng chỉ nghề cho phạm nhân. Cần ưu tiên đào tạo nghề, nâng cao tay nghề để có điều kiện thuận lợi tái hòa nhập cộng đồng đối với phạm nhân là người dưới 18 tuổi.

Nghị định số 80/2011/NĐ-CP ngày 16 tháng 9 năm 2011 của Chính phủ quy định các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định 49/2020/NĐ-CP có hiệu lực thi hành.

 

FalseVõ Thị Trâm Anh
Hỏi đáp về thừa phát lạiTinHỏi đáp về thừa phát lại/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
5/28/2020 4:00 PMNoĐã ban hành

Câu 1: Theo quy định của Nghị định số 08/2020/NĐ-CP ngày 08/01/2020 của Chính phủ về Tổ chức và hoạt động Thừa phát lại, thẩm quyền tống đạt văn bản có gì mới?

Trả lời:

Theo quy định tại Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, Thừa phát lại tống đạt các loại giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự (So với Nghị định 61/2009/NĐ-CP sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 135/2013/NĐ-CP mở rộng thẩm quyền tống đạt văn bản Giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của Viện Kiểm sát)

Câu 2: Theo quy định của Nghị định số 08/2020/NĐ-CP ngày 08/01/2020 của Chính phủ về Tổ chức và hoạt động Thừa phát lại, những trường hợp nào Thừa phát lại không được lập vi bằng?

Trả lời: Theo quy định tại Điều 37 có 09 trường hợp không được lập vi bằng, trong đó đáng chú ý là các trường hợp sau:

- Xác nhận nội dung, việc ký tên trong hợp đồng, giao dịch mà pháp luật quy định thuộc phạm vi hoạt động công chứng, chứng thực; xác nhận tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt; xác nhận chữ ký, bản sao đúng với bản chính.

- Ghi nhận sự kiện, hành vi để chuyển quyền sử dụng, quyền sở hữu đất đai, tài sản không có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng, quyền sở hữu theo quy định của pháp luật.

- Ghi nhận sự kiện, hành vi để thực hiện các giao dịch trái pháp luật của người yêu cầu lập vi bằng.

- Ghi nhận sự kiện, hành vi của cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân đang thi hành công vụ.

- Ghi nhận sự kiện, hành vi không do Thừa phát lại trực tiếp chứng kiến.​

FalsePhòng PBGDPL
Sau gần 01 tuần phát động Cuộc thi tìm hiểu pháp luật trên internet  “Cùng chung tay đẩy lùi dịch Covid-19” thu hút hơn 15.595 người dân,  học sinh tham gia dự thiTin ngành tư phápSau gần 01 tuần phát động Cuộc thi tìm hiểu pháp luật trên internet  “Cùng chung tay đẩy lùi dịch Covid-19” thu hút hơn 15.595 người dân,  học sinh tham gia dự thi/PhoBietGDPL/PublishingImages/2020-04/Covid19_Key_09042020154403.jpg
4/9/2020 4:00 PMNoĐã ban hành

​Trên cơ sở Kế hoạch tổ chức Cuộc thi tìm hiểu pháp luật trên internet “Cùng chung tay đẩy lùi dịch Covid-19” của Hội đồng Phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật tỉnh Bình Dương và Kế hoạch phối hợp của Sở Tư pháp – Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức Cuộc thi tìm hiểu pháp luật trên internet "Học sinh chung tay đẩy lùi dịch Covid-19" từ ngày 03/4/2020 đến nay (09/4/2020) đã có hơn 15.595 người tham gia dự thi, trong đó cuộc thi học sinh thu hút 7.109 em tham gia với nhiều bài thi đạt kết quả cao. Từ đó cho thấy sức lan tỏa lớn của cuộc thi và sự chung tay tích cực của cộng đồng trong công tác phòng chống dịch Covid-19.

Cuộc thi được tổ chức từ ngày 03/4/2020 đến hết ngày 30/4/2020. Các thí sinh có thể tham gia thi tại địa chỉ truy cập: http://thitructuyen.binhduong.gov.vn

FalseNguyễn Đức Chính
Chậm trả lương cho người lao động có thể bị phạt lên đến 100 triệu đồngTinChậm trả lương cho người lao động có thể bị phạt lên đến 100 triệu đồng/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
3/23/2020 11:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 01/3/2020, Chính phủ ban hành Nghị định số 28/2020/NĐ-CP quy đinh xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, BHXH, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì bị xử phạt theo hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền. Căn cứ tính chất, mức độ của hành vi vi phạm, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm hành chính còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung.

Cụ thể, phạt tiền đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi: Trả lương không đúng hạn; không trả hoặc trả không đủ tiền lương cho người lao động (NLĐ) theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động; không trả hoặc trả không đủ tiền lương cho NLĐ làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, công việc đòi hỏi đã qua đào tạo, học nghề theo quy định của pháp luật; trả lương thấp hơn mức quy định tại thang lương, bảng lương đã gửi cho cơ quan nhà nước về lao động cấp huyện; không trả hoặc trả không đủ tiền lương làm thêm giờ, tiền lương làm việc ban đêm, tiền lương ngừng việc cho NLĐ theo quy định của pháp luật; khấu trừ tiền lương của NLĐ không đúng quy định của pháp luật…

lao_dong_mydz.jpg

Mức phạt tương ứng như sau: Từ 5-10 triệu đồng đối với vi phạm từ 1 đến 10 NLĐ; từ 10-20 triệu đồng đối với vi phạm từ 11 đến 50 NLĐ; từ 20-30 triệu đồng đối với vi phạm từ 51 đến 100 NLĐ; từ 30-40 triệu đồng đối với vi phạm từ 101 đến 200 NLĐ; từ 40-50 triệu đồng đối với vi phạm từ 301 NLĐ trở lên. Đồng thời, người sử dụng lao động buộc trả đủ tiền lương cộng với khoản tiền lãi của số tiền lương chậm trả, trả thiếu cho NLĐ tính theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt. Mức phạt này áp dụng đối với người sử dụng lao động là cá nhân. Đối với người sử dụng lao động là tổ chức, mức phạt được nhân đôi. Như vậy, người sử dụng lao động là tổ chức sẽ bị phạt tối đa 100 triệu đồng nếu chậm trả lương cho NLĐ.

Đặc biệt, đối với người sử dụng lao động có hành vi cưỡng bức lao động, ngược đãi người lao động mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ xử phạt tiền từ 50-75 triệu đồng

Nghị định cũng quy định mức phạt đối với vi phạm quy định về giao kết hợp đồng. Cụ thể, phạt tiền từ 02-25 triệu đồng đối với người sử dụng lao động khi có một trong các hành vi: Không giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản đối với công việc có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên; không giao kết đúng loại hợp đồng lao động với người lao động; giao kết hợp đồng lao động không đầy đủ các nội dung chủ yếu của hợp đồng lao động; giao kết hợp đồng lao động trong trường hợp thuê người lao động làm giám đốc trong doanh nghiệp có vốn của Nhà nước không theo quy định của pháp luật.

Phạt tiền từ 20-25 triệu đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây: Giữ bản chính giấy tờ tùy thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động khi giao kết hoặc thực hiện hợp đồng lao động; buộc người lao động thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động; giao kết hợp đồng lao động với người lao động từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi mà không có sự đồng ý bằng văn bản của người đại diện theo pháp luật của người lao động.

Nghị định bắt đầu có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/4/2020 và bãi bỏ Nghị định 95/2013/NĐ-CP, Nghị định 88/2015/NĐ-CP.

FalseNguyễn Đức Chính
Quy định mới về thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản hành chínhTinQuy định mới về thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản hành chính/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
3/22/2020 8:00 AMNoĐã ban hành

Ngày 05/3/2020 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 30/2020/NĐ-CP quy định về công tác văn thư, trong đó Nghị định 30/2020/NĐ-CP cũng hướng dẫn về thể thức, kỹ thuật trình bày đối với văn bản hành chính, trong đó có nhiều nội dung mới:

Thứ nhất, bắt buộc dùng phông chữ Times New Roman, nếu như trước đây phông chữ sử dụng để trình bày văn bản trên máy vi tính là phông chữ tiếng Việt của bộ mã ký tự Unicode theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6909:2001 thì hiện nay đã quy định cụ thể phông chữ phải là phông chữ tiếng Việt Times New Roman, bộ mã ký tự Unicode theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6909:2001.

Thứ hai, hướng dẫn cụ thể phần Tên loại và trích yếu nội dung văn bản, tên loại văn bản là tên của từng loại văn bản do cơ quan, tổ chức ban hành. Trích yếu nội dung của văn bản là một câu ngắn gọn hoặc một cụm từ phản ánh khái quát nội dung chủ yếu của văn bản. Tên loại và trích yếu được đặt canh giữa theo chiều ngang văn bản. Tên loại trình bày bằng chữ in hoa, cỡ chữ 13 đến 14, đứng, đậm. Trích yếu nội dung văn bản được đặt ngay dưới tên loại văn bản, chữ thường, cỡ 13 đến 14, đứng, đậm. Bên dưới có đường kẻ ngang, nét liền, có độ dài bằng từ 1/3 đến 1/2 độ dài dòng chữ và đặt cân đối so với dòng chữ.

 Thứ ba, bổ sung yêu cầu trình bày căn cứ ban hành văn bản, căn cứ ban hành văn bản ghi đầy đủ tên, loại văn bản, số, ký hiệu, cơ quan ban hành, ngày tháng năm ban hành và trích yếu nội dung văn bản (Luật và Pháp lệnh không ghi số, ký hiệu và cơ quan ban hành). Căn cứ ban hành văn bản trình bày bằng chữ in thường, kiểu chữ nghiêng, cỡ chữ từ 13 đến 14, trình bày dưới phần tên loại và trích yếu  nội dung văn bản; sau đó mỗi căn cứ phải xuống dòng có dấu chấm phẩy, dòng cuối cùng kết thúc bằng dấu chấm.

Kết quả hình ảnh cho chữ ký số

Thứ tư, Chữ ký của người có thẩm quyền, Nghị định mới đã bổ sung chữ ký số của người có thẩm quyền, theo đó, hình ảnh, vị trí chữ ký số của người có thẩm quyền là hình ảnh chữ ký của người có thẩm quyền trên văn bản giấy, màu xanh, định dạng Portable Netwwork Graphics (.png) nền trong suốt; đặt canh giữa chức vụ của người ký và họ tên người ký. Đối với văn bản giấy, khi ký văn bản dùng bút có mực màu xanh, không dùng các loại mực dễ phai.

Bên cạnh đó, Nghị định 30/2020/NĐ-CP còn quy định khá nhiều nội dung khác có liên quan như: khoảng các giữa các dòng, đoạn, khoảng cách từ số ký hiệu văn bản với trích yếu nội dung văn bản; quy định về viết hoa trong văn bản hành chính;…

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 05/3/2020./.

FalseNguyễn Đức Chính
Bắt buộc cách ly tất cả người nhập cảnh vào VN từ 21/3/2020Tin ngành tư phápTinBắt buộc cách ly tất cả người nhập cảnh vào VN từ 21/3/2020/PhoBietGDPL/PublishingImages/2020-03/corona_Key_21032020101133.jpg
3/21/2020 11:00 AMYesĐã ban hành

​Ngày 20/3/2020, Ban Chỉ đạo Quốc gia Phòng chống dịch Covid-19 đã ban hành Công văn 1440/CV-BCĐ về việc tổ chức cách ly người nhập cảnh phòng chống dịch Covid-19 theo đó, Ban Chỉ đạo đề nghị các Bộ có liên quan và UBND các tỉnh, thành phố triển khai các nội dung liên quan đến việc tổ chức cách ly phòng chống dịch COVID-19 như sau:

- Tổ chức cách ly tập trung với tất cả người nhập cảnh từ các quốc gia, vùng lãnh thổ vào Việt Nam từ 0 giờ 00 ngày 21/3/2020.

- Trường hợp người nhập cảnh có dấu hiệu sốt, ho, khó thở được đưa ngay về cơ sở y tế để cách ly, điều trị và lấy mẫu xét nghiệm COVID-19.

- Trường hợp người nhập cảnh mang hộ chiếu ngoại giao, công vụ, nếu có sức khỏe bình thường, không có các dấu hiệu bệnh và được cơ quan đại diện cam kết đảm bảo tuyệt đối về các điều kiện cách ly thì:

Có thể được cách ly tại cơ quan đại diện hoặc nơi cư trú cho đến khi đủ 14 ngày kể từ ngày nhập cảnh vào Việt Nam.

- Tiếp tục triển khai thực hiện Công văn 1338/CV-BCĐ năm 2020 của Ban Chỉ đạo Quốc gia về việc tổ chức cách ly và lấy mẫu xét nghiệm phòng chống dịch COVID-19.

CV 1440.PNG

FalseNguyễn Đức Chính
Bổ sung địa điểm cấm uống rượu, biaTinBổ sung địa điểm cấm uống rượu, bia/PhoBietGDPL/PublishingImages/2020-03/hình búa_Key_06032020162003.jpg
3/6/2020 5:00 PMNoĐã ban hành


Ngày 24/02/2020, Chính phủ ban hành Nghị định 24/2020/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia.

Theo đó, Nghị định quy định bổ sung 03 nhóm địa điểm công cộng không được uống rượu, bia. Cụ thể: Ngoài các địa điểm quy định tại Điều 10 Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia (Cơ sở y tế; Cơ sở giáo dục trong thời gian giảng dạy, học tập, làm việc; Cơ sở, khu vực chăm sóc, nuôi dưỡng, vui chơi, giải trí dành cho người chưa đủ 18 tuổi; Cơ sở cai nghiện, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng, cơ sở giam giữ phạm nhân và cơ sở giam giữ khác; Cơ sở bảo trợ xã hội; Nơi làm việc của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập trong thời gian làm việc, trừ địa điểm được phép kinh doanh rượu, bia), các địa điểm công cộng không được uống rượu, bia bao gồm:

ND_24.jpg

- Công viên, trừ trường hợp nhà hàng trong phạm vi khuôn viên của công viên đã được cấp phép kinh doanh rượu, bia trước ngày Nghị định này có hiệu lực;

- Nhà chờ xe buýt;

- Rạp chiếu phim, nhà hát, cơ sở văn hóa, thể thao trong thời gian tổ chức các hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ và công năng sử dụng chính của các địa điểm này, trừ trường hợp tổ chức các lễ hội ẩm thực, văn hóa có sử dụng rượu, bia.

Ngoài ra, Nghị định còn quy định hạn chế hình ảnh diễn viên uống rượu, bia trong tác phẩm điện ảnh, sân khấu, truyền hình. Việc sử dụng hình ảnh diễn viên uống rượu, bia trong tác phẩm điện ảnh, sân khấu, truyền hình phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:

tải xuống.jpg

- Không thể hiện các hành vi bị nghiêm cấm được quy định tại Điều 5, hành vi uống rượu, bia ở các địa điểm được quy định tại Điều 10, hành vi bán rượu, bia ở các địa điểm được quy định tại Điều 19 Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia hoặc hành vi uống rượu, bia trong tác phẩm sân khấu, điện ảnh, truyền hình dành cho người dưới 18 tuổi; trừ trường hợp nhằm phê phán, lên án các hành vi này;

- Không ca ngợi tổ chức, cá nhân thành công từ sản xuất, kinh doanh rượu, bia;

- Việc sử dụng hình ảnh diễn viên uống rượu, bia nhằm mục đích nghệ thuật chỉ được thực hiện trong trường hợp cần thiết để khắc họa hình tượng nhân vật lịch sử hoặc tái hiện một giai đoạn lịch sử nhất định hoặc phê phán, lên án hành vi uống rượu, bia;…

Nghị định 24/2020/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 24/02/2020./.​

FalseVõ Thị Trâm Anh
Từ ngày 01/4/2020, nhiều hành vi vi phạm trong lĩnh vực xây dựng trước đây được bãi bỏTinTừ ngày 01/4/2020, nhiều hành vi vi phạm trong lĩnh vực xây dựng trước đây được bãi bỏ/PhoBietGDPL/PublishingImages/2020-02/hình búa_Key_26022020145314.jpg
2/26/2020 3:00 PMYesĐã ban hành

Ngày 17/02/2020, Chính phủ ban hành Nghị định 21/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 139/2017/NĐ-CP ngày 27/11/2017 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng; khai thác, chế biến, kinh doanh khoáng sản làm vật liệu xây dựng, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; kinh doanh bất động sản, phát triển nhà ở, quản lý sử dụng nhà và công sở.

nghi-dinh-21-2020-nd-cp.jpg

Theo đó, Nghị định 21/2020/NĐ-CP bãi bỏ điểm c, điểm d khoản 1 Điều 7 (vi phạm quy định về lựa chọn tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động đầu tư xây dựng). Cụ thể bãi bỏ quy định phạt tiền từ 30-40 triệu đồng đối với hành vi lựa chọn tổ chức, cá nhân không đủ điều kiện năng lực tham gia hoạt động lập dự án đầu tư xây dựng; thẩm tra dự án đầu tư xây dựng.

Bãi bỏ điểm d, điểm đ khoản 2; điểm d khoản 3; điểm d, điểm đ, điểm i, khoản 5 Điều 23 (vi phạm quy định về điều kiện hoạt động xây dựng). Trong đó, bãi bỏ quy định phạt tiền từ 20-30 triệu đồng đối với tổ chức hoạt động xây dựng có một trong các hành vi: không có hợp đồng lao động đối với những cá nhân đảm nhận những chức danh chủ chốt theo quy định; những chức danh chủ chốt không có chứng nhận bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về lĩnh vực đặc thù của dự án theo quy định.

Nghị định cũng bãi bỏ quy định: đối với hành vi không công bố thông tin trên trang thông tin điện tử theo quy định khi tham gia các hoạt động xây dựng, ngoài việc bị xử phạt theo quy định, nhà thầu nước ngoài còn bị phạt tiền từ 30-40 triệu đồng.

Bãi bỏ khoản 3 Điều 38 (vi phạm quy định về kiểm định, thí nghiệm, đào tạo trong hoạt động xây dựng). Cụ thể, bãi bỏ quy định phạt tiền từ 40-50 triệu đồng đối với hành vi tổ chức bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về hoạt động xây dựng không đủ điều kiện theo quy định.

XP xdung.jpg

Bãi bỏ khoản 1 Điều 39 (vi phạm quy định về lập quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng, quy hoạch khoáng sản làm vật liệu xây dựng; khai thác, chế biến khoáng sản làm vật liệu xây dựng, sản xuất vật liệu xây dựng). Theo đó, bãi bỏ quy định phạt tiền từ 20-40 triệu đồng đối với tổ chức lập quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng hoặc quy hoạch khoáng sản làm vật liệu xây dựng không đảm bảo điều kiện năng lực quy định.

Bãi bỏ điểm a khoản 1 Điều 60 (vi phạm quy định về đào tạo, bồi dưỡng kiến thức hành nghề môi giới bất động sản, điều hành sàn giao dịch bất động sản). Cụ thể, bãi bỏ quy định phạt tiền từ 2-5 triệu đồng đối với hành vi sử dụng giảng viên không đủ tiêu chuẩn quy định.

Bãi bỏ điểm a, điểm b khoản 1 Điều 61 (vi phạm quy định về đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ quản lý vận hành nhà chung cư). Cụ thể, bãi bỏ quy định phạt tiền từ 10-20 triệu đồng đối với một trong các hành vi: Thực hiện đào tạo không đúng địa điểm đào tạo theo quy định; sử dụng giảng viên không đủ tiêu chuẩn theo quy định.

Nghị định 21/2020/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/4/2020./.

FalseVõ Thị Trâm Anh
Nhà giáo đã nghỉ hưu chưa được hưởng chế độ phụ cấp thâm niên sẽ được hưởng trợ cấp theo chính sách mớiTinNhà giáo đã nghỉ hưu chưa được hưởng chế độ phụ cấp thâm niên sẽ được hưởng trợ cấp theo chính sách mới/PhoBietGDPL/PublishingImages/2020-02/hình búa_Key_06022020163941.jpg
2/6/2020 5:00 PMNoĐã ban hành

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 14/2020/NĐ-CP ngày 24/01/2020 quy định chế độ trợ cấp đối với nhà giáo đã nghỉ hưu chưa được hưởng chế độ phụ cấp thâm niên trong lương hưu.

Nghị định quy định, đối tượng áp dụng là giáo viên, giảng viên, cô nuôi dạy trẻ, hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, chủ nhiệm, phó chủ nhiệm nhà trẻ, giám đốc, phó giám đốc, trưởng khoa, phó trưởng khoa, chủ nhiệm khoa, phó chủ nhiệm khoa, trưởng ban, phó trưởng ban, trưởng phòng, phó trưởng phòng nghỉ hưu khi đang trực tiếp giảng dạy, giáo dục, hướng dẫn thực hành hoặc nghỉ chờ đủ tuổi để hưởng lương hưu và bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) để hưởng lương hưu trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/1994 đến ngày 31/5/2011 tại các cơ sở giáo dục công lập sau: Cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học, giáo dục thường xuyên, các học viện, trường, trung tâm làm nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng thuộc cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.

GV.jpg

Nhà giáo nghỉ hưu khi đang trực tiếp giảng dạy, giáo dục hoặc nghỉ chờ đủ tuổi để hưởng lương hưu và được bảo lưu thời gian đóng BHXH để hưởng lương hưu trong khoảng thời gian từ ngày 1/1/1994 đến 31/5/2011 tại cơ sở giáo dục bán công nhưng trước đó được điều động từ các cơ sở giáo dục công lập hoặc tại cơ sở giáo dục bán công do cấp có thẩm quyền chuyển đổi từ cơ sở giáo dục công lập và được xếp lương theo bảng lương của ngạch viên chức ngành Giáo dục.

Nhà giáo làm công tác giảng dạy, giáo dục tại các cơ sở giáo dục công lập được cấp có thẩm quyền cử làm chuyên gia giáo dục ở ngoài nước, khi hết thời gian làm chuyên gia về nước thì nghỉ hưu ngay.

Nhà giáo nghỉ hưu có thời gian tham gia giảng dạy ở các lớp học được tổ chức tại các đơn vị thanh niên xung phong mà chưa hưởng các chế độ, chính sách của nhà nước dành cho thanh niên xung phong; nhà giáo là quân nhân, công an nhân dân, người làm công tác cơ yếu sau đó chuyển ngành về công tác giảng dạy, giáo dục tại các cơ sở giáo dục công lập khi nghỉ hưu là giáo viên, giảng viên trong lương hưu có phụ cấp thâm niên lực lượng vũ trang nhưng không có phụ cấp thâm niên nhà giáo.

Nghị định cũng quy định, những nhà giáo trên được hưởng chế độ trợ cấp khi có đủ các điều kiện: Trực tiếp giảng dạy, giáo dục, hướng dẫn thực hành và tham gia đóng BHXH từ 5 năm (đủ 60 tháng) trở lên; nghỉ hưu trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/1994 đến ngày 31/5/2011; đang hưởng lương hưu tại thời điểm ngày 01/01/2012. Trường hợp bị tạm dừng hưởng lương hưu theo quy định của Luật BHXH thì được hưởng trợ cấp sau khi được hưởng lại lương hưu.

ND14.jpg

Mức trợ cấp một lần bằng tiền, được tính bằng (lương hưu tháng x 10%) x số năm được tính trợ cấp. Trong đó, lương hưu tháng là mức lương hưu của tháng tại thời điểm Nghị định có hiệu lực thi hành. Số năm được tính trợ cấp là tổng thời gian trực tiếp giảng dạy, giáo dục, hướng dẫn thực hành trong các cơ sở giáo dục, thời gian tham gia giảng dạy ở các lớp học được tổ chức tại các đơn vị thanh niên xung phong, nếu không liên tục thì được cộng dồn, không gồm thời gian đã hưởng phụ cấp thâm niên của lực lượng vũ trang và phụ cấp thâm niên của các ngành khác (nếu có) trong lương hưu. Tháng lẻ từ 3 đến 6 tháng được tính tròn là nửa năm; từ trên 6 tháng đến dưới 12 tháng được tính tròn 1 năm.

Trường hợp nhà giáo đủ điều kiện hưởng trợ cấp theo quy định, chưa được giải quyết chế độ mà từ trần từ ngày 01/01/2012 trở về sau thì đại diện theo ủy quyền của thân nhân người từ trần (vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, con đẻ, con nuôi của người từ trần) làm hồ sơ và nhận chế độ trợ cấp theo quy định. Người đại diện theo ủy quyền của thân nhân nhà giáo đã từ trần chịu trách nhiệm trước pháp luật về hồ sơ và khoản tiền trợ cấp nhận được.

Trong thời hạn 20 ngày làm việc, kể từ ngày cơ quan BHXH huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh nhận được đầy đủ hồ sơ đề nghị của người đủ điều kiện hưởng trợ cấp theo quy định, cơ quan BHXH có trách nhiệm giải quyết và chi trả trợ cấp cho người được hưởng. Trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 15/3/2020./.

FalseVõ Thị Trâm Anh
 Quốc hội thông qua 11 Luật, Bộ luật và 17 Nghị quyết Quốc hội thông qua 11 Luật, Bộ luật và 17 Nghị quyết/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
1/12/2020 11:00 PMNoĐã ban hành

​Đây là nội dung nổi bật tại Nghị quyết 101/2019/QH14 được Quốc hội khóa XIV thông qua ngày 27/11/2019, theo đó, Quốc hội đã hoàn thành chương trình kỳ họp thứ 8 với các nội dung được xem xét, quyết định; trong đó có việc thông qua các Luật, Bộ luật và Nghị quyết, cụ thể:

Thông qua 11 Luật, Bộ luật: Bộ luật Lao động; Luật Chứng khoán; Luật Thư viện; Luật Lực lượng dự bị động viên; Luật Dân quân tự vệ; Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiểm toán nhà nước; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.

Chưa thông qua dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội tại kỳ họp thứ 8. Quốc hội giao Ủy ban Thường vụ Quốc hội tiếp tục chỉ đạo việc nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của đại biểu Quốc hội để hoàn thiện dự án Luật này, trình Quốc hội xem xét, thông qua tại kỳ họp thứ 9 (tháng 5 năm 2020).

Thông qua 17 Nghị quyết: Nghị quyết phê chuẩn Hiệp ước bổ sung Hiệp ước Hoạch định biên giới quốc gia năm 1985 và Hiệp ước bổ sung năm 2005 và Nghị định thư phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Campuchia; Nghị quyết về khoanh tiền nợ thuế, xóa nợ tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp đối với người nộp thuế không còn khả năng nộp ngân sách nhà nước; Nghị quyết thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hà Nội; Nghị quyết về hoạt động chất vấn tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV; Nghị quyết về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án; Nghị quyết về tiếp tục hoàn thiện, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật về phòng cháy, chữa cháy; Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2020; Nghị quyết về dự toán ngân sách nhà nước năm 2020; Nghị quyết về phân bổ ngân sách trung ương năm 2020; Nghị quyết phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030; Nghị quyết về Báo cáo nghiên cứu khả thi Dự án đầu tư xây dựng Cảng hàng không quốc tế Long Thành giai đoạn 1; Nghị quyết phê chuẩn chủ trương đầu tư Dự án hồ chứa nước Ka Pét, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận; Nghị quyết về việc miễn nhiệm Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội khóa XIV; Nghị quyết bầu Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV; Nghị quyết bầu Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội khóa XIV; Nghị quyết phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc miễn nhiệm Bộ trưởng Bộ Y tế nhiệm kỳ 2016-2021 và Nghị quyết kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV.

Ngoài ra, Quốc hội còn cho ý kiến về 10 dự án luật: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; Luật Thanh niên (sửa đổi); Luật Đầu tư (sửa đổi); Luật Doanh nghiệp (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng; Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư; Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án./.

FalseNguyễn Đức Chính
Hướng dẫn áp dụng áp dụng một số quy định tại Điều 299 về tội khủng bố và Điều 300 về tội tài trợ khủng bố của Bộ luật Hình sựHướng dẫn áp dụng áp dụng một số quy định tại Điều 299 về tội khủng bố và Điều 300 về tội tài trợ khủng bố của Bộ luật Hình sự/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
1/10/2020 11:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 25/10/2019, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết 07/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 299 về tội khủng bố và Điều 300 về tội tài trợ khủng bố của Bộ luật Hình sự. Theo đó, truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) về tội khủng bố trong một số trường hợp cụ thể sau:

- Người thực hiện một hành vi phạm tội vừa có dấu hiệu của tội khủng bố vừa có dấu hiệu của tội phạm khác nhẹ hơn thì bị truy cứu TNHS về tội khủng bố.

- Người thực hiện nhiều hành vi phạm tội, trong đó có hành vi có dấu hiệu tội khủng bố và tội phạm khác thì bị truy cứu TNHS về các tội trên, nếu thỏa mãn dấu hiệu của cấu thành tội phạm.

- Người thực hiện hành vi phạm tội xâm phạm tính mạng của người khác hoặc phá hủy tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhưng không nhằm gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng thì không bị truy cứu TNHS về tội khủng bố mà tùy trường hợp cụ thể bị truy cứu TNHS về tội phạm tương ứng.

Bên cạnh đó, Nghị quyết 07/2019/NQ-HĐTP cũng hướng dẫn một số thuật ngữ "Tình trạng hoảng sợ trong công chúng"; "Hành vi khác uy hiếp tinh thần" ; "Hỗ trợ tiền, tài sản dưới bất kỳ hình thức nào cho tổ chức, cá nhân khủng bố" hay "Phá hủy tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân"… để áp dụng cho Điều 299 và Điều 300 của Bộ luật Hình sự.

Nghị quyết 07/2019/NQ-HĐTP có hiệu lực kể từ ngày 01/12/2019./.

FalseNguyễn Đức Chính
 Bình Dương ban hành Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng​ Bình Dương ban hành Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng​/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
1/8/2020 11:00 PMNoĐã ban hành

​Ngày 03/12/2019, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương (kèm theo Quyết định số 29/2019/QĐ-UBND). Quy chế được bố cục 05 Chương, 25 Điều. Nội dung chủ yếu của Quy chế quy định về: nguyên tắc cung cấp thông tin, phương thức cập nhật, chỉnh sửa, khai thác và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng; những hành vi bị nghiêm cấm,…. Theo đó, việc nhập thông tin ngăn chặn, thông tin giải tỏa ngăn chặn, thông tin về hợp đồng, giao dịch đã công chứng vào Cơ sở dữ liệu công chứng phải bảo đảm tính chính xác, đầy đủ, kịp thời, bảo đảm an toàn, an ninh thông tin và lưu trữ lâu dài; tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức hành nghề công chứng tra cứu thông tin. Tổ chức hành nghề công chứng có trách nhiệm cập nhật tất cả các hợp đồng, giao dịch đã công chứng vào Cơ sở dữ liệu công chứng. Cá nhân, tổ chức khai thác, sử dụng, quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng phải đúng mục đích, không sử dụng Cơ sở dữ liệu công chứng vào những mục đích trái pháp luật hay mục đích khác không phải phục vụ cho hoạt động công chứng của tổ chức mình hay hoạt động quản lý nhà nước về công chứng.

Quy chế cũng quy định về cung cấp thông tin, khai thác, sử dụng và chia sẻ thông tin về hợp đồng, giao dịch trong Cơ sở dữ liệu công chứng; quy trình vận hành và sử dụng Cơ sở dữ liệu công chứng tại Sở Tư pháp và các tổ chức hành nghề công chứng; trách nhiệm của Sở Tư pháp, các tổ chức hành nghề công chứng và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc thực hiện Quy chế.

Cơ sở dữ liệu công chứng là hệ thống cơ sở dữ liệu bao gồm thông tin ngăn chặn và Phần mềm quản lý hồ sơ công chứng. Kết quả tra cứu từ Cơ sở dữ liệu công chứng là nguồn thông tin để công chứng viên kiểm tra, xem xét trước khi quyết định công chứng hoặc tạm dừng thực hiện việc công chứng hợp đồng, giao dịch.

Việc ban hành Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương nhằm tạo khung pháp lý rõ ràng, thống nhất cho việc khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh, qua đó góp phần đảm bảo tính an toàn pháp lý trong hoạt động công chứng.

Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2020.

FalseNguyễn Đức Chính
Xử phạt với cả người lái xe đạp có sử dụng rượu biaXử phạt với cả người lái xe đạp có sử dụng rượu bia/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
1/5/2020 11:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 30/12/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 100/2019/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, theo đó, đa phần mức phạt được quy định tăng hơn so với trước đây. Cùng với hình thức phạt tiền, Nghị định đã quy định thêm khá nhiều hình phạt bổ sung đối với nhiều hành vi vi phạm. Việc ban hành Nghị định nhằm hiện thực hóa quy định cấm người đã uống rượu, bia rồi mà còn tham gia giao thông quy định tại Luật Phòng chống tác hại của rượu, bia năm 2019.

Kết quả hình ảnh cho lais xe uong ruou bia

Cụ thể, người nào chỉ cần uống rượu, bia (dù uống ít) điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc chưa vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở thì: đối với xe ô tô thì bị xử phạt 6.000.000 đến 8.000.000 đồng; đối với xe gắn máy thì bị xử phạt từ 2.000.000 đến 3.000.000 đồng. Mức phạt cao nhất trong việc sử dụng rượu bia khi tham gia giao thông mức phạt có thể lên đến 40.000.000 đồng (đối với xe ô tô) 8.000.000 đồng (đối với xe gắn máy), đồng thời bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe đến 24 tháng.

Đặc biệt, lần đầu tiên quy định xử phạt người uống rượu, bia mà còn lái xe đạp tham gia giao thông mức phạt cao nhất có thể lên đến 600.000đ.

Nghị định 100/2019/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/01/2020./.

FalseNguyễn Đức Chính
Mức lương tối thiểu vùng từ ngày 01/01/2020Mức lương tối thiểu vùng từ ngày 01/01/2020/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
1/3/2020 11:00 PMNoĐã ban hành

Từ ngày 01/01/2020, Nghị định 90/2019/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu vùng áp dụng cho người lao động làm việc ở doanh nghiệp theo chế độ hợp đồng lao động như sau:

- Mức 4.420.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng I.

- Mức 3.920.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng II.

- Mức 3.430.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng III.

- Mức 3.070.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng IV.

Mức lương tối thiểu đối với NLĐ làm công việc đòi hỏi đã qua học nghề, đào tạo nghề phải cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng.

Thành phố Thủ Dầu Một, các thị xã Thuận An, Dĩ An, Bến Cát, Tân Uyên và các huyện Bàu Bàng, Bắc Tân Uyên, Dầu Tiếng, Phú Giáo đều thuộc vùng I theo quy định của Nghị định 90/2019/NĐ-CP.

FalseNguyễn Đức Chính
Quy định về tổ chức, hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiệnTinQuy định về tổ chức, hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
1/2/2020 11:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 25/11/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định 93/2019/NĐ-CP quy định về tổ chức, hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện, theo đó, mục đích tổ chức, hoạt động của quỹ nhằm hỗ trợ, khuyến khích phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục, thể thao, khoa học, công nghệ, cộng đồng và từ thiện, nhân đạo, không vì mục tiêu lợi nhuận. Điều kiện đối với thành viên sáng lập quỹ từ thiện phải là công dân, tổ chức Việt Nam và đáp ứng các yêu cầu sau:

- Đối với cá nhân thành lập quỹ từ thiện có đủ năng lực hành vi dân sự và không có án tích.

- Đối với tổ chức:

+ Phải thành lập hợp pháp

+ Có điều lệ hoặc văn bản quy định chức năng, nhiệm vụ của tổ chức;

+ Có nghị quyết của tập thể lãnh đạo hoặc người đứng đầu có thẩm quyền về việc thành lập quỹ;

+ Quyết định cử người đại diện của tổ chức tham gia với tư cách sáng lập viên quỹ từ thiện.

Nếu là tổ chức Việt Nam có vốn đầu tư nước ngoài thì người đại diện làm sáng lập viên phải là công dân Việt Nam

- Thành viên sáng lập có tài sản hợp pháp đóng góp vào quỹ từ thiện, theo quy định của pháp luật.

- Sáng lập viên thành lập quỹ nếu thuộc diện quản lý của cơ quan có thẩm quyền thì phải được sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền theo quy định về phân cấp quản lý cán bộ.

Bên cạnh đó, Nghị định còn quy định cụ thể về Hội đồng quản lý quỹ, về nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng quản lý quỹ; Giám đốc, Phụ trách kế toán, Ban Kiểm soát Quỹ trong quá trình hoạt động của Quỹ

Nghị định 93/2019/NĐ-CP có hiệu lực ngày 15/01/2020 và thay thế Nghị định 30/2012/NĐ-CP

FalseNguyễn Đức Chính
Thị xã Tân Uyên tổ chức Hội thi tuyên truyền viên về xây dựng “Khu nhà trọ văn hoá” năm 2019Tin ngành tư phápThị xã Tân Uyên tổ chức Hội thi tuyên truyền viên về xây dựng “Khu nhà trọ văn hoá” năm 2019/PhoBietGDPL/PublishingImages/2019-11/HOA_12 (1)_Key_27112019133622.jpg
11/27/2019 2:00 PMNoĐã ban hành

Sáng ngày 9/11/2019, Ban chỉ đạo đề án đảm bảo an ninh, trật tự tại các khu nhà trọ trên địa bàn thị xã Tân Uyên tổ chức hội thi tuyên truyền viên về xây dựng "Khu nhà trọ văn hoá" thị xã Tân Uyên năm 2019. Tham dự hội thi có 10 đội đến từ 10 xã, phường, với các thành viên là đoàn viên, thanh niên, hội viên hội Liên hiệp phụ nữ, Công chức văn hoá, Công an, các chủ cơ sở kinh doanh nhà trọ.

Các thí sinh trải qua 2 phần thi. Phần thi kiến thức, mỗi đội tham gia với 7 thành viên, bốc thăm bộ đề và trả lời 10 câu hỏi xoay quanh các vấn đề liên quan đến việc cho vay tín dụng đen, tội phạm ma tuý, Luật giao thông đường bộ. Phần thi tuyên truyên viên, mỗi đơn vị thành lập 1 đội ít nhất 3 thành viên, tuyên truyền miệng, sử dụng hiệu ứng màn hình LED, pano, khẩu hiệu,… lồng ghép các hình thức thơ, ca, hò, vè, phụ hoạ. Kết thúc hội thi, Ban tổ chức trao giải thưởng cho các đơn vị có phần thi xuất sắc và giải cổ động viên xuất sắc nhất.

Hội thi nhằm đẩy mạnh tuyên truyền về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tội phạm, giáo dục và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của quần chúng nhân dân, vận động nhân dân tích cực tham gia xây dựng "Khu nhà trọ văn hoá", góp phần giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương; đồng thời, phát huy vai trò, trách nhiệm của chính quyền, đoàn thể và các chủ cơ sở trọ trong việc xây dựng "Khu nhà trọ văn hoá", "Khu nhà trọ an ninh trật tự"./.

Một số hình ảnh về Hội thi​

FalseNguyễn Thu Trang
Báo cáo nhanh tình hình thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân năm 2019TinBáo cáo nhanh tình hình thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân năm 2019/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/25/2019 10:00 AMNoĐã ban hành

      ​Các văn bản có liên quan đến việc yêu cầu báo cáo nhanh tình hình thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân năm 2019​:

​1. ​CV_1940_STP-PBGDPL.signed.pdf

2.cv ve bao cao.docx

3.PHỤ LỤC BÁO CÁO LUAT TCTT.docx


FalsePhòng PBGDPL
1 - 30Next
Ảnh
Video
Audio