Công tác xây dựng
 
Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định và bước đầu đặt nền móng cho việc tổ chức quyền hành pháp ở nước ta. Sau 5 năm thi hành Hiến pháp, xuất hiện những vấn đề đặt ra trong việc quán triệt nhận thức về quyền hành pháp, về triển khai tổ chức thực hiện quyền hành pháp. Bài viết đi sâu tìm hiểu về những vấn đề đó nhằm góp phần hoàn thiện nhận thức và tổ chức quyền hành pháp ở nước ta hiện nay.
 
​     Ngày 31/12/2019, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương đã ban hành Quyết định số 47/2019/QD-UBND quy định giá dịch vụ xử lý nước thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Bình Dương(Ban Quản lý dự án chuyên ngành nước thải tỉnh Bình Dương)     Quyết định được ban hành sẽ là cơ sở để triển khai thu giá dịch vụ xử lý nước thải sinh hoạt đối với hộ thoát nước đấu nối nước ...
 
Đây là đề nghị của Thứ trưởng Phan Chí Hiếu tại Hội nghị triển khai công tác của Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật (gọi tắt là Vụ Các vấn đề chung VXDPL) diễn ra ngày 14/01. Dự Hội nghị còn có đại diện tổ chức pháp chế một số Bộ, ngành; đại diện lãnh đạo một số đơn vị thuộc Bộ.Thực hiện tốt nhiệm vụ trọng tâm công tác Tư pháp năm 2019Năm 2019, xác định nhiệm vụ nghiên cứu, xây dựng dự án ...
 
​     Nhằm cụ thể hóa các nội dung chi và mức chi một cách rõ ràng cho phù hợp với địa phương và áp dụng hỗ trợ thiết thực nhất đến các cơ sở công nghiệp nông thôn đang hoạt động sản xuất trên địa bàn tỉnh; hỗ trợ, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế đầu tư phát triển sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp một cách bền vững, nâng cao năng lực ...
 
​     Ngày 20/12/2019, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Quyết định số 42/2019/QĐ-UBND về việc ban hành tiêu chuẩn, định mức xe ô tô chuyên dùng thuộc địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Quyết định được ban hành nhằm tổ chức thực hiện quy định về trang bị xe ô tô chuyên dùng của Chính phủ tại Nghị định số 04/2019/NĐ-CP ngày 11 tháng 01 năm 2019 quy định tiêu ...
 
     ​UBND tỉnh Bình Dương vừa ban hành Quyết định 44/2019/QĐ-UBND giá cụ thể sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi trên địa bàn tỉnh Bình Dương năm 2020. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2020 và thay thế Quyết định số 29/2013/QĐ-UBND ngày 04 tháng 10 năm 2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc quy định mức thu thủy lợi phí và tiền nước trên địa bàn tỉnh Bình ...
 
​Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sau đây gọi tắt là Luật năm 2015) có hiệu lực từ ngày 01/7/2016. Kể từ ngày Luật có hiệu lực đến nay, sau hơn 03 năm thi hành trên thực tế thì không thể phủ nhận rằng đây là một đạo luật được xây dựng với tư duy đổi mới, trong đó chứa đựng nhiều quy định tiến bộ. Trong thời gian qua, cũng đã có rất nhiều diễn đàn, công trình nghiên cứu ở nhiều ...
 
​Những văn bản quy phạm pháp luật do HĐND, UBND tỉnh Bình Dương ban hành hết hiệu lực từ ngày 01/01/2020​:*Nghị quyết của HĐND tỉnh:- Nghị quyết số 22/2009/NQ-HĐND7 ngày 24/7/2009 của Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Dương về chế độ hỗ trợ đối với cán bộ, viên chức làm việc tại các cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở cai nghiện và sau cai nghiện ma túy;- Nghị quyết số 23/2009/NQ-HĐND7 ngày 24/7/2009 ...
 
Danh mục văn bản quy phạm pháp luật do HĐND, UBND tỉnh Bình Dương ban hành có hiệu lực từ ngày 01/01/2020:1. Nghị quyết của HĐND tỉnh:​- Nghị quyết số 15/2019/NQ-HĐND ngày 12/12/2019 của HĐND tỉnh về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Nghị quyết số 51/2016/NQ-HĐND9 ngày 16/12/2016 của Hội đồng nhân dân tỉnh về định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên ngân sách địa phương năm ...
Hội nghị tập huấn nghiệp vụ công tác văn bản và nghiệp vụ công tác bồi thường nhà nước     Thực hiện Quyết định số 3738/QĐ-UBND ngày 27 tháng 12 năm 2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch kiểm tra, xử lý, rà soát và hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật năm 2019 trên địa bàn tỉnh Bình Dương và Kế hoạch số 170/KH-UBND ngày 14 tháng 01 năm 2019 về triển ...
 
 
  
Phân loại
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Nội dung
  
  
danh mục Bí mật nhà nước thuộc lĩnh vực Xây dựng pháp luật, Bổ trợ tư pháp, Hành chính tư pháp, Bồi thường nhà nước, Giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tếNewThông tindanh mục Bí mật nhà nước thuộc lĩnh vực Xây dựng pháp luật, Bổ trợ tư pháp, Hành chính tư pháp, Bồi thường nhà nước, Giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế/CMSImageNew/2021-06/qđ 741_Key_25062021092952.PNG
6/25/2021 10:00 AMNoĐã ban hành

Ngày 20/05/2021, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quyết định số 741/QĐ-TTg ban hành Danh mục bí mật nhà nước thuộc lĩnh vực xây dựng pháp luật, bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, bồi thường nhà nước, giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế với các nội dung sau:

- Bí mt nhà nước độ Tối mt gồm:

1. Báo cáo, văn bản, đề án xác lập luận cứ khoa học do Bộ Tư pháp chuẩn bị để tham mưu, hoạch định chủ trương, chính sách vĩ mô của Đảng, Nhà nước về pháp luật có liên quan đến chính trị, quốc phòng, đối ngoại, an ninh quốc gia, phòng thủ đất nước.

2. Chiến lược, kế hoạch, phương án giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế quy định tại khoản 1 Điều 2 Quyết định số 14/2020/QĐ-TTg ngày 08 tháng 4 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế phối hợp giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế.

-  Bí mt nhà nước đ Mt gồm:

1. Chương trình, kế hoạch, báo cáo trong một số lĩnh vực bổ trợ tư pháp có ảnh hưởng đến chính trị, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.

2. Báo cáo, văn bản có nội dung phản ánh, đánh giá về tình hình tư tưởng có dấu hiệu lệch lạc, sai trái của một số chức danh tư pháp do Bộ Tư pháp quản lý ảnh hưởng tới an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.

3. Chương trình, đề án, báo cáo, văn bản về hộ tịch, quốc tịch, chứng thực đối với các đối tượng xâm phạm đến chính trị, đối ngoại, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.

4. Phương án, tài liệu trao đổi liên ngành trong quá trình tổ chức thực hiện bồi thường nhà nước đối với các vụ việc phức tạp hoặc có yếu tố nước ngoài ảnh hưởng tới uy tín của cơ quan nhà nước, trật tự an toàn xã hội.

5. Báo cáo, tài liệu trao đổi liên ngành trong giải quyết các tranh chấp đầu tư quốc tế quy định tại khoản 1 Điều 2 Quyết định số 14/2020/QĐ-TTg ngày 08 tháng 4 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế phối hợp giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế có ảnh hưởng đến an ninh, chính trị, đối ngoại và môi trường đầu tư của đất nước.

Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành.​

FalseĐào Thị Quyên
Ngành Tư pháp có số người trúng cử Đại biểu Quốc hội khóa XV cao nhất từ trước đến nayVăn bản QPPL; Văn bản nghiệp vụ; Thông tinTinNgành Tư pháp có số người trúng cử Đại biểu Quốc hội khóa XV cao nhất từ trước đến nay/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Theo danh sách Hội đồng bầu cử Quốc gia vừa công bố chiều 10/6, nhiệm kỳ 2021-2026, Quốc hội Khóa XV, ngành Tư pháp có 16 người trúng cử đại biểu Quốc hội. Đây là lần đầu tiên ngành Tư pháp có số lượng Đại biểu tham gia một nhiệm kỳ Quốc hội cao như vậy
6/15/2021 4:00 PMNoĐã ban hành

​​Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long, trúng cử tại Kiên Giang:

Với tư cách đại biểu Quốc hội Khóa XIV (nhiệm kỳ 2016-2021) đơn vị tỉnh Kiên Giang, với sự hỗ trợ của cử tri, lãnh đạo các cấp của tỉnh Kiên Giang cùng với sự cố gắng của bản thân, Bộ trưởng Tư pháp Lê Thành Long đã hoàn thành tốt vai trò, nhiệm vụ của người đại biểu Quốc hội trong công tác xây dựng pháp luật, đặc biệt là các dự án luật liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội, quyền và lợi ích của người dân, doanh nghiệp, nhất là vùng đồng bào khó khăn, vùng sâu, vùng xa.

Đối với những lĩnh vực thuộc quản lý của Bộ, ngành Tư pháp, với vai trò người đứng đầu, Bộ trưởng đã kịp thời xem xét, giải quyết. Trong nhiệm kỳ, Bộ trưởng cũng tham gia vận động kinh phí thực hiện một số hoạt động xã hội, góp phần chăm lo đời sống nhân dân, đồng bào cử tri tại các địa phương thuộc các đơn vị bầu cử.

Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV, Bộ trưởng cho biết sẽ tiếp tục đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, thay mặt nhân dân thực hiện quyền nhà nước trong các hoạt động cụ thể thuộc thẩm quyền của Quốc hội về lập hiến, lập pháp, giám sát tối cao các hoạt động của cơ quan nhà nước và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước. Riêng những vấn đề thuộc lĩnh vực tư pháp, với vai trò là người đứng đầu ngành tư pháp, Bộ trưởng sẽ trực tiếp lãnh đạo xem xét, xử lý.

Đối với tỉnh Kiên Giang và các địa phương thuộc đơn vị bầu cử, Bộ trưởng mong muốn được tiếp tục tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của cử tri , từ đó kịp thời phản ánh đến các cơ quan có thẩm quyền của Trung ương, địa phương; tiếp tục nghiên cứu những thế mạnh, ưu tiên của khu vực đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh Kiên Giang nói riêng, từ đó tham mưu những quyết sách đúng đắn đối với từng khu vực, trong đó có tỉnh Kiên Giang.

Ông Đỗ Đức Hiển - Vụ trưởng Vụ Pháp luật hình sự hành chính, Bộ Tư pháp, trúng cử tại TP. Hồ Chí Minh:

Lần đầu tham gia nhiệm kỳ Quốc hội, ông Đỗ Đức Hiển cho biết, bản thân ông nhận thức được rằng, là đại biểu Quốc hội trên địa bàn thành phố HCM là cơ hội để được gắn bó với thành phố mang tên Bác, do đó ông tiếp tục trau dồi bản lĩnh chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nỗ lực tận tâm hết mình để có những đóng góp cho đất nước, cho TP.HCM, xây dựng và phát triển thành phố với mục tiêu đến năm 2025 là đô thị thông minh, thành phố dịch vụ công nghiệp theo hướng hiện đại, đi đầu trong đổi mới sáng tạo, có chất lượng sống tốt, văn minh, hiện đại và nghĩa tình.

Để làm tốt nhiệm vụ cư tri gửi gắm, tín nhiệm, với vai trò ĐBQH ông sẽ tham mưu cho Quốc hội xây dựng và ban hành kịp thời các đạo luật bảo đảm khả thi, phù hợp với thực tế, với mong muốn của cử tri và ổn định hơn, ít phải sửa đổi, bổ sung. Việc này sẽ tạo cơ chế thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có tính đến đặc thù của các đô thị lớn như TP.HCM. Ông cũng chú trọng việc đề nghị TPHCM nâng cao kỷ luật, kỷ cương, thu hút sự tham gia của cử tri, doanh nghiệp vào quá trình xây dựng luật, đề cao vai trò phản biện xã hội.

Ông Đồng Ngọc Ba - Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp, trúng cử tại Bình Định:

Cục trưởng Đồng Ngọc Ba từng có 26 năm công tác trong lĩnh vực pháp luật, trong đó 13 năm công tác tại Bộ Tư pháp (gần 6 năm làm Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật). Trúng cử ĐBQH khóa mới, ông Ba cho biết sẽ nỗ lực trong việc làm cầu nối giữa địa phương và Quốc hội, Chính phủ, các ban, bộ, ngành ở Trung ương để tranh thủ sự ủng hộ, hỗ trợ của Trung ương, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho địa phương, thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, góp phần xây dựng Bình Định phát triển nhanh và bền vững; thành tỉnh phát triển thuộc nhóm dẫn đầu của khu vực miền Trung, vì mục tiêu cao nhất là làm cho đời sống cả về vật chất và tinh thần của bà con ngày càng tốt hơn.

Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật cam kết là ĐBQH ông sẽ luôn rèn luyện, phấn đấu, không ngừng học hỏi nâng cao trình độ, năng lực, kinh nghiệm công tác để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Ông Lã Thanh Tân - Giám đốc Sở Tư pháp TP Hải Phòng, trúng cử tại TP Hải Phòng:

Là Đại biểu QH khóa XIV và trúng cử Đại biểu QH khóa XV tại TP Hải Phòng, ông cam kết sẽ tích cực nghiên cứu, lắng nghe những ý kiến, quan điểm khác nhau, lựa chọn thông tin; từ kinh nghiệm công tác thực tiễn của mình để cân nhắc, đánh giá và tham gia ý kiến có chất lượng, phù hợp với thực tế, có dự kiến, dự báo sát hợp với tình hình đất nước và TP Hải Phòng vào các dự án luật được trình trong các kỳ họp của QH; quan tâm, lắng nghe, thấu hiểu nguyện vọng của Nhân dân trong quá trình xây dựng luật, góp phần đưa pháp luật hiện hữu trong cuộc sống, đáp ứng nhu cầu chính đáng, thiết thực của xã hội và Nhân dân.

Ông cũng sẽ nghiên cứu đề xuất QH tập trung giám sát có hiệu quả những lĩnh vực, vấn đề mà Nhân dân quan tâm để đảm bảo cho các chủ trương, chính sách hợp lòng dân đi vào cuộc sống, đảm bảo cho luật pháp được thực hiện nghiêm minh, quan tâm đến những vấn đề gắn bó mật thiết đến đời sống Nhân dân. Đồng thời, cùng Đoàn đại biểu QH TP Hải Phòng phối hợp chặt chẽ với các cơ quan có trách nhiệm của TP để báo cáo, thông tin với các cơ quan có trách nhiệm của QH trong việc xem xét, thẩm tra để trình cấp có thẩm quyền cho phép Hải Phòng thực hiện thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù, có tính đột phá, khả thi cao...

Bà Hồ Thị Kim Ngân - Giám đốc Sở Tư pháp Bắc Kạn, trúng cử tại Bắc Kạn:

Đã từng tham gia ĐBQH khóa XIV, tái cử khóa XV, bà Kim Ngân cho biết, với những kinh nghiệm được tích lũy sau một nhiệm kỳ là ĐBQH, bà sẽ không ngừng học tập nâng cao trình độ, năng lực; thường xuyên trau dồi kiến thức, rèn luyện bản thân nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người đại biểu nhân dân; là thành viên tích cực của đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Kạn góp phần vào mỗi quyết sách của Quốc hội đều đảm bảo tính khả thi, phù hợp thực tiễn.

Trong hoạt động xây dựng pháp luật, bà sẽ tập trung nghiên cứu đề xuất sửa đổi, bổ sung những văn bản luật còn mâu thuẫn chồng chéo, không phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn nhằm tạo dựng môi trường pháp luật hoàn chỉnh hướng tới bảo vệ quyền công dân, quyền con người, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức trong xã hội; sẽ kiến nghị với Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan liên quan xem xét, cân nhắc trong quyết định các chính sách về các vấn đề quan trọng của đất nước; đề nghị Quốc hội tập trung thực hiện giám sát việc xây dựng, hoàn thiện và tổ chức triển khai các chính sách an sinh xã hội, đặc biệt đề xuất những chính sách phục vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Bắc Kạn nói chung.

Bà Phạm Thị Minh Huệ - Phó Giám đốc Sở Tư pháp Sóc Trăng, trúng cử tại Sóc Trăng:

Là người gắn bó nhiều năm với công tác tư pháp, đặc biệt lĩnh vực tuyên truyền phổ biến pháp luật, bà Huệ cho biết sẽ nỗ lực để thực hiện tốt vai trò là cầu nối giữa cử tri với Quốc hội, phổ biến và vận động nhân dân thực hiện Hiến pháp và pháp luật.

Với kinh nghiệm và thực tiễn công tác trong ngành Tư pháp, trong thời gian tới, bà tích cực tham gia công tác xây dựng pháp luật của Quốc hội, đặc biệt là pháp luật bảo vệ quyền con người, quyền công dân... Đặc biệt, sẽ đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật bằng nhiều hình thức, đưa pháp luật thật sự đi vào đời sống nhân dân, góp phần nâng cao hơn nữa trình độ dân trí, ý thức sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật cho mọi người dân. Tiếp tục tham mưu phát triển đội ngũ luật sư bảo đảm về chất lượng, vững vàng về bản lĩnh chính trị, trong sáng về đạo đức nghề nghiệp nhằm góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và nhu cầu của xã hội.

Bà Đỗ Thị Việt Hà - Giám đốc Sở Tư pháp Bắc Giang, trúng cử tại Bắc Giang:

Trên cương vị người đứng đầu ngành Tư pháp ở địa phương, trong nhiệm kỳ Quốc hội XV, Giám đốc Sở Tư pháp Bắc Giang cho biết sẽ không ngừng nỗ lực thực hiện tốt trách nhiệm của người ĐBQH với cử tri; luôn hành động vì quyền, lợi ích chính đáng của cử tri, Nhân dân; luôn lắng nghe, liên hệ mật thiết với cử tri để có những đề xuất, kiến nghị các giải pháp hữu hiệu cho địa phương, giải quyết kịp thời những nguyện vọng chính đáng của Nhân dân.

Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của ngành Tư pháp, bà Hà sẽ tiếp tục tích cực đồng hành cùng cấp ủy, chính quyền và Nhân dân đề ra những giải pháp để đưa công tác tư pháp của địa phương có sự chuyển biến mạnh mẽ, đạt được chất lượng, hiệu quả tốt hơn; đẩy mạnh công tác tuyên truyền PBGDPL để trang bị, nâng cao hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân; thực hiện có hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở để góp phần hạn chế đơn thư, khiếu kiện, tranh chấp; thực hiện công tác đăng ký, quản lý hộ tịch, chứng thực nhanh gọn, chính xác, linh hoạt để tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho người dân. Là đại biểu nữ nên Giám đốc Sở Tư pháp Bắc Giang sẽ tập trung nhiều hơn nữa vào việc thực hiện các hoạt động trợ giúp pháp lý cho phụ nữ, trẻ em, người yếu thế theo quy định để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của mọi người.

Ông Bùi Sỹ Hoàn - Giám đốc Sở Tư pháp Hải Dương, trúng cử tại Hải Dương:

Trao đổi với PV Báo PLVN ngay sau khi danh sách ĐBQH được công bố, Giám đốc Bùi Sỹ Hoàn cho biết, được bầu làm ĐBQH khóa XV là một niềm vinh dự lớn. Để hoàn thành tốt nhiệm vụ trong nhiệm kỳ mới, ông Hoàn sẽ gắn bó chặt chẽ, thường xuyên với cử tri để phản ánh trung thực, kịp thời với Quốc hội, giúp Quốc hội ban hành những chủ trương, quyết sách sát hợp với tình hình kinh tế - xã hội, góp phần xây dựng tỉnh Hải Dương phát triển bền vững.

Bên cạnh đó, theo Giám đốc Hoàn, ông sẽ tích cực tham gia xây dựng và giám sát thi hành pháp luật, đề xuất tập trung sửa đổi, xây dựng mới các đạo luật có liên quan chặt chẽ đến đời sống của nhân dân bảo đảm minh bạch, toàn diện, dễ tiếp cận, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp trong sinh sống, phát triển sản xuất, kinh doanh. Cùng với đó, sẽ tích cực đề nghị Quốc hội tập trung giám sát có hiệu quả việc thi hành pháp luật ở những lĩnh vực mà nhân dân quan tâm như nước sạch nông thôn, an toàn thực phẩm; hàng giả, hàng nhái; rác thải sinh hoạt, ô nhiễm môi trường; việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; việc phòng chống tham nhũng; giám sát thực hiện pháp luật về đất đai để bảo đảm quyền lợi cho người có đất bị thu hồi…

Ông Phạm Đình Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Kon Tum, trúng cử tại tỉnh Kon Tum:

Được trúng cử ĐBQH khóa XV, ông sẽ tích cực tham gia thảo luận, hiến kế trong quá trình QH bàn và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, nhất là về đảm bảo quốc phòng, an ninh; về phát triển kinh tế xã hội; về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp.

Với vai trò cá nhân là một Tỉnh ủy viên - Thành viên UBND tỉnh, ông sẽ cùng Đoàn ĐBQH tỉnh nghiên cứu sâu để đề xuất, hiến kế với QH, với Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh về những vấn đề liên quan mật thiết đến địa phương tỉnh Kon Tum, như: Việc thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo; bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa tốt đẹp của đồng bào dân tộc thiểu số; Thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, công tác giảm nghèo bền vững, nâng cao thu nhập, nâng cao mức sống của người dân, nâng cao sự hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật của người dân, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số; Việc bàn và quyết định về các chủ trương, giải pháp cụ thể để phát huy tiềm năng, lợi thế của địa phương (tỉnh Kon Tum) như bảo vệ, phát triển rừng, phát triển dược liệu, phát triển nông nghiệp công nghệ cao, gắn với công nghiệp chế biến; Nâng cao chất lượng xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương… để góp phần cùng với các cấp, các ngành thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp và các mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội XVI Đảng bộ tỉnh đã đề ra.

Ông Bùi Mạnh Khoa - Cục trưởng Cục THADS Thanh Hóa, trúng cử tại Thanh Hóa:

Được tín nhiệm bầu là ĐBQH, ông Khoa cho biết sẽ tham gia tích cực vào hoạt động lập pháp của Quốc hội với trọng tâm là tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao chất lượng và tính khả thi của các đạo luật; nghiên cứu, kiến nghị với Quốc hội sửa đổi kịp thời các quy định của pháp luật hiện hành không còn phù hợp, đặc biệt là sửa đổi Luật đất đai, ưu tiên ban hành các luật để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo bền vững; gắn công tác xây dựng pháp luật với việc tổ chức triển khai thi hành, nhằm tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, sẽ tham gia cùng Quốc hội quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước; thực hiện nghiêm túc chức năng giám sát của ĐBQH đối với công tác chấp hành pháp luật, nhất là về các vấn đề bức xúc mà cử tri và Nhân dân quan tâm.

Ông Khoa cho biết, sẽ cùng Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa là cầu nối giữa địa phương với Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ban, ngành ở trung ương trong việc trao đổi, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc của địa phương nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đề ra. Đặc biệt trong công tác chuyên môn sẽ cùng tập thể lãnh đạo Cục chỉ đạo các cơ quan Thi hành án dân sự trong tỉnh bám sát chương trình, kế hoạch công tác hàng năm của Bộ Tư pháp, Tổng cục Thi hành án dân sự; Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh hoàn thành tốt các chỉ tiêu nhiệm vụ về công tác thi hành án dân sự, theo dõi thi hành án hành chính.

Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh - Phó Giám đốc Sở Tư pháp TP HCM, trúng cử tại TP. Hồ Chí Minh:

Được cử tri tín nhiệm lựa chọn làm đại biểu Quốc hội, bà Hạnh cam kết luôn tìm hiểu, lắng nghe tâm tư nguyện vọng của cử tri, nhất là những vấn đề liên quan đến thể chế gắn với quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, những vấn đề bức xúc đang là điểm nghẽn của TP hiện nay về ô nhiễm môi trường, hạ tầng giao thông, an toàn thực phẩm,... phản ánh kịp thời, trung thực đến QH và các cơ quan chức năng, đồng thời tích cực giám sát các cơ quan trong việc thực hiện các kiến nghị này.

Với kinh nghiệm và hiểu biết trong xây dựng thể chế, chủ động nghiên cứu và nắm bắt thực tiễn tại TP HCM, bà sẽ tích cực đóng góp ý kiến tham gia xây dựng chính sách, pháp luật; góp phần tạo cơ chế, hành lang pháp lý cho sự phát triển chung của đất nước và cơ chế đặc thù cho sự phát triển TP HCM; đề xuất các giải pháp góp phần đổi mới và nâng cao chất lượng ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày càng minh bạch, khả thi, hiệu quả.

Là đại biểu nữ, bà cũng sẽ luôn quan tâm việc xây dựng thể chế để tạo điều kiện cho phụ nữ có cơ hội và điều kiện học tập, lao động một cách bình đẳng thực chất; tham gia tích cực các họat động, chương trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ, trẻ em.

Bà Phan Thị Mỹ Dung - Giám đốc Sở Tư pháp Long An, trúng cử tại Long An:

Là đại biểu QH khóa XIV, nay được cử tri tín nhiệm bầu làm đại biểu QH khóa XV, bà Mỹ Dung sẽ quyết tâm thực hiện tốt vai trò là "chiếc cầu nối" giữa Nhân dân với QH; thường xuyên sâu sát cơ sở để gặp gỡ, chân thành lắng nghe dân nói để hiểu tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân, những khó khăn vướng mắc trong thực thi pháp luật của Nhân dân, từ đó tham gia đề xuất cấp thẩm quyền kịp thời giải quyết. Với kinh nghiệm và thực tiễn của 23 năm công tác trong ngành Tư pháp, bà sẽ thuận lợi hơn trong việc trực tiếp tham gia xây dựng văn bản pháp quy của QH, góp phần đạt được mục đích là các chính sách, quy định của luật phải điều chỉnh kịp thời, hiệu quả cho phát triển kinh tế xã hội; mà còn phải khả thi, sát với thực tiễn, thực sự đi vào đời sống, mang lại ấm no hạnh phúc cho Nhân dân.

Bà còn cam kết sẽ quan tâm đóng góp tích cực vào việc xây dựng chính sách, pháp luật về đầu tư, quản lý đầu tư, tạo hành lang pháp lý an toàn cho nhà đầu tư với những quy định ổn định, bền vững, tạo môi trường đầu tư thông thoáng, thuận lợi cho nhà đầu tư, góp phần định hướng phát triển các huyện trọng điểm của tỉnh Long An thành huyện công nghiệp trong thời gian tới.

Ông Nguyễn Hữu Thông – Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận, trúng cử tại Bình Thuận:

Được cử tri tín nhiệm bầu làm đại biểu QH, Giám đốc Nguyễn Hữu Thông cho biết sẽ giữ vững chế độ tiếp xúc cử tri trước và sau mỗi kỳ họp của QH; sẵn sàng gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri cả ngoài kỳ họp để lắng nghe, tiếp thu và phản ánh một cách đầy đủ, trung thực tâm tư, nguyện vọng của cử tri đến các cơ quan có thẩm quyền. Đồng thời, theo dõi, giám sát việc giải quyết của các cơ quan bảo đảm mọi ý kiến của cử tri phải được tôn trọng và giải quyết có lý, có tình, đúng theo quy định của pháp luật.

Với vai trò Giám đốc Sở Tư pháp, ông sẽ nghiên cứu sâu, tích cực trong tham gia quá trình xây dựng pháp luật, nhất là tập trung sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế là những quy định pháp luật còn bất cập trong thực tiễn, tham gia giám sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước theo chức năng của QH đã được luật định. Bên cạnh đó, ông sẽ kết hợp nghiên cứu, kiến nghị với QH, Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương và các cấp có thẩm quyền những vấn đề có liên quan trực tiếp đến sự phát triển của tỉnh, đặc biệt là chính sách cụ thể để tháo gỡ những khó khăn trong thực tế để thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển. Đồng thời, kiến nghị quan tâm đúng mức đến thủy lợi, giao thông, nông nghiệp công nghệ cao, khai thác có hiệu quả kinh tế biển gắn với phát triển công nghiệp, trước hết là công nghiệp chế biến và các loại hình dịch vụ - du lịch, vấn đề biến đổi khí hậu và nước biển dâng…

Ông Lê Văn Thìn – Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên, trúng cử tại Phú Yên:

Được cử tri tín nhiệm bầu làm ĐBQH khóa XV, người đứng đầu ngành Tư pháp Phú Yên nguyện sẽ tập trung nghiên cứu, nắm chắc diễn biến xã hội và đời sống của nhân dân để đề xuất với QH tăng cường nâng cao chất lượng và đổi mới quy trình xây dựng pháp luật; sửa đổi, bổ sung những luật còn thiếu, chưa đồng bộ, không còn phù hợp nhằm tạo dựng môi trường pháp luật hoàn chỉnh và hành lang pháp lý thông thoáng. Đồng thời kiến nghị với QH, Chính phủ và các cơ quan hữu quan xem xét thận trọng, có chính sách và biện pháp hợp lý, kiên quyết giữ vững chủ quyền quốc gia, biển đảo, bảo đảm việc quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực kinh tế, tài nguyên của đất nước…

Ông cũng sẽ nghiên cứu, đề xuất với QH, Đoàn đại biểu QH của tỉnh về chương trình giám sát của QH và của Đoàn đại biểu QH tỉnh. Trong đó, tập trung giám sát việc thực hiện những chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước hiện nay mà Nhân dân đang quan tâm như cải cách hành chính, chống quan liêu, nhũng nhiễu trong thi hành công vụ, chương trình xây dựng nông thôn mới, các chính sách lớn về y tế, văn hóa, giáo dục, việc làm, phòng chống oan sai trong hoạt động tư pháp, đấu tranh phòng chống tội phạm, phòng chống tham nhũng lãng phí.

Ông Nguyễn Văn Quân – Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Hậu Giang, trúng cử tại Hậu Giang:

Được cử tri tín nhiệm bầu làm đại biểu QH khóa XV, ông sẽ tiếp tục phấn đấu góp sức thực hiện công cuộc đổi mới của đất nước, của tỉnh nhà, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, gương mẫu trong công tác, sinh hoạt. Thường xuyên tiếp xúc, lắng nghe, tiếp thu ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, của cử tri để phản ánh đầy đủ, trung thực với QH, thực hiện tốt vai trò cầu nối giữa cử tri với QH. Ông nguyện sẽ luôn giữ mối liên hệ chặt chẽ, mật thiết với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri nhằm thu thập và phản ánh trung thực những tâm tư, nguyện vọng, tình cảm của cử tri với Đảng, QH, Chính phủ và các cơ quan có trách nhiệm của Trung ương; cương quyết bảo vệ quyền lợi chính đáng và hợp pháp của người dân.

Với cương vị Giám đốc Sở Tư pháp, Giám đốc Sở Tư pháp Hậu Giang cho biết sẽ giải quyết các thủ tục liên quan đến ngành một cách công khai, minh bạch, hiệu quả, đảm bảo thời gian cho các tổ chức, cá nhân. Với trách nhiệm được giao, những kiến thức, kỹ năng đã được đào tạo và những kinh nghiệm tích lũy được trong quá trình công tác, ông sẽ có điều kiện thuận lợi hơn để làm tốt nhiệm vụ của Giám đốc Sở Tư pháp cũng như nhiệm vụ của người đại biểu QH.

Ông Trịnh Minh Bình, Trưởng Phòng Hành chính và Bổ trợ tư pháp, Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long, trúng cử tại tỉnh Vĩnh Long:

Được trúng cử ĐBQH, ông sẽ tích cực làm việc, cống hiến hết khả năng của mình trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao, xem đây là trách nhiệm của một công chức nhà nước, nghĩa vụ của một công dân phục vụ cho quê hương, đất nước mình.

Ngoài thực hiện nhiệm vụ chung của một ĐBQH theo quy định, ông hứa sẽ dùng trí lực, thể lực của bản thân để tập trung thực hiện một số nội dung như thường xuyên theo dõi, giám sát việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các Nghị quyết của QH kết hợp với việc tìm hiểu, nắm bắt thực tế địa phương, từ đó kiến nghị, đề xuất với QH, Chính phủ những vấn đề còn chồng chéo, mâu thuẫn, gây bức xúc trong dư luận nhân dân. Ở cương vị Trưởng phòng, ông sẽ tham mưu cho Ban Giám đốc Sở thực hiện hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao trong lĩnh vực quản lý của Phòng như hộ tịch, chứng thực, nuôi con nuôi, lý lịch tư pháp…

Ông cam kết học tập kinh nghiệm của các ĐBQH khóa trước, tích cực nghiên cứu, tham gia thảo luận các vấn đề quan trọng của đất nước, các chính sách liên quan đến đầu tư, chính sách người có công, chính sách dân tộc – tôn giáo. Ông tâm niệm, ĐBQH là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của cử tri, nhân dân nên sẽ không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh./.

(Nguồn: https://baophapluat.vn)

FalseHuỳnh Hữu Tốt
Bỏ yêu cầu về chứng chỉ ngoại ngữ, tin học đối với công chức ngành hành chính và văn thư kể từ ngày 01/8/2021Thông tin; Văn bản nghiệp vụ; Văn bản QPPLTinBỏ yêu cầu về chứng chỉ ngoại ngữ, tin học đối với công chức ngành hành chính và văn thư kể từ ngày 01/8/2021/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/15/2021 3:00 PMNoĐã ban hành

​Ngày 11/6/2021, Bộ trưởng Bộ Nội vụ vừa ban hành Thông tư số 02/2021/TT-BNV quy định mã số, tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ và xếp lương đối với các ngạch công chức chuyên ngành hành chính và công chức chuyên ngành văn thư. Theo đó, kể từ ngày 01/8/2021 không còn quy định yêu cầu về chứng chỉ ngoại ngữ, tin học trong tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức hành chính, văn thư.

Cụ thể yêu cầu về trình độ đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức hành chính ngạch chuyên viên cao cấp là:

- Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên với ngành hoặc chuyên ngành đào tạo phù hợp với ngành, lĩnh vực công tác;

- Có bằng tốt nghiệp cao cấp lý luận chính trị hoặc bằng cao cấp lý luận chính trị - hành chính hoặc có giấy xác nhận trình độ lý luận chính trị tương đương cao cấp lý luận chính trị của cơ quan có thẩm quyền;

- Có chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước theo tiêu chuẩn ngạch chuyên viên cao cấp hoặc có bằng cao cấp lý luận chính trị - hành chính.

Yêu cầu về trình độ đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức hành chính ngạch chuyên viên chính là:

- Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên với ngành hoặc chuyên ngành đào tạo phù hợp với ngành, lĩnh vực công tác;

- Có chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước theo tiêu chuẩn ngạch chuyên viên chính hoặc có bằng cao cấp lý luận chính trị - hành chính.

Yêu cầu về trình độ đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức hành chính ngạch chuyên viên là:

 - Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên với ngành hoặc chuyên ngành đào tạo phù hợp với ngành, lĩnh vực công tác;

- Có chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước theo tiêu chuẩn ngạch chuyên viên.

Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 8 năm 2021 và bãi bỏ toàn bộ các văn bản quy phạm pháp luật sau:

- Thông tư số 11/2014/TT-BNV ngày 09 tháng 10 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định chức danh, mã số ngạch và tiêu chuẩn nghiệp vụ chuyên môn các ngạch công chức chuyên ngành hành chính;

- Thông tư số 14/2014/TT-BNV ngày 31 tháng 10 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định chức danh, mã số ngạch, chức trách, nhiệm vụ và tiêu chuẩn nghiệp vụ chuyên môn các ngạch công chức chuyên ngành văn thư;

- Thông tư số 10/2019/TT-BNV ngày 02 tháng 8 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ hướng dẫn việc xếp lương đối với các ngạch công chức chuyên ngành văn thư.

- Bãi bỏ Điều 1 Thông tư số 05/2017/TT-BNV ngày 15 tháng 8 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2014/TT-BNV ngày 09 tháng 10 năm 2014 và Thông tư số 13/2010/TT-BNV ngày 30 tháng 12 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về tiêu chuẩn nghiệp vụ chuyên môn, bổ nhiệm ngạch và xếp lương đối với các ngạch công chức chuyên ngành hành chính và việc tổ chức thi nâng ngạch công chức./.

Thông tư số 02 2021 TT-BNV.pdf

​ 

FalseHuỳnh Hữu Tốt
Tình hình triển khai thực hiện Nghị định số 113/2014/NĐ-CP  ngày 26/11/2014 của Chính phủ về quản lý hợp tác quốc tế về pháp luậtNewThông tinTinTình hình triển khai thực hiện Nghị định số 113/2014/NĐ-CP  ngày 26/11/2014 của Chính phủ về quản lý hợp tác quốc tế về pháp luật/CMSImageNew/2021-06/57d2981aa1bb4340aacf1c4dc99dabae-0001_Key_25062021082718.jpg
6/15/2021 9:00 AMNoĐã ban hành

     Ngày 22/6/2021, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Báo cáo số 141/BC-UBND báo cáo tình hình triển khai thực hiện Nghị định số 113/2014/NĐ-CP ngày 26/11/2014 của Chính phủ về quản lý hợp tác quốc tế về pháp luật. Theo đó, kết quả đạt được, cụ thể:

     Thực hiện "Nghị định số 113/2014/NĐ-CP ngày 26/11/2014 của Chính phủ về quản lý hợp tác quốc tế về pháp luật; Thông tư 07/2015/TT-BTP ngày 15/6/2015 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết và biện pháp thi hành một số quy định của Nghị định 113/2014/NĐ-CP về quản lý hợp tác quốc tế về pháp luật;  Chỉ thị số 02/CT-BTP ngày ngày 08/4/2016 về việc tăng cường công tác quản lý hoạt động hợp tác quốc tế về pháp luật của ngành tư pháp,…". Theo đó, hằng năm, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương đã chỉ đạo Sở Tư pháp triển khai đồng bộ, toàn diện, bám sát chương trình, kế hoạch công tác, chỉ đạo của ngành (Bộ Tư pháp) và kịp thời ban hành các văn bản chỉ đạo, điều hành, trong đó, nội dung quản lý hợp tác quốc tế về pháp luật luôn được ưu tiên, lồng ghép triển khai thực hiện. Ngoài ra, việc triển khai thực hiện hợp tác quốc tế theo "Chỉ thị số 39-CT/TW ngày 09/12/2009 của Ban Bí thư (khóa X) về hợp tác với nước ngoài về pháp luật, cải cách hành chính, cải cách tư pháp; Kết luận số 73-KL/TW ngày 20/5/2020 của Ban Bí thư về việc tiếp tục triển khai thực hiện Chỉ thị số 39-CT/TW của Ban Bí thư (khóa X) về hợp tác với nước ngoài về pháp luật, cải cách hành chính, cải cách tư pháp" đã được triển khai thực hiện tại "Công văn số 3012-CV/TU ngày 14/7/2020 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc triển khai Kết luận số 73-KL/TW ngày 20/5/2020 của Ban Bí thư (Mật)" và tổ chức triển khai Kết luận số 73-KL/TW cũng được yêu cầu triển khai thực hiện trong "Chương trình số 11-CTr/TU ngày 31/12/2020 của Tỉnh ủy Bình Dương về thực hiện công tác cải cách tư pháp giai đoạn 2021-2025". Bên cạnh đó, chế độ báo cáo đều được Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện đầy đủ, đúng theo quy định tại Điều 16 Nghị định số 113/2014/NĐ-CP.

     Công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, cải cách hành chính, cải cách tư pháp luôn được cấp ủy, chính quyền tỉnh Bình Dương quan tâm thực hiện và đạt được nhiều kết quả tích cực, khá toàn diện; góp phần quan trọng vào ổn định và phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Tính từ ngày 26/11/2014 đến ngày 31/5/2021, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương không chủ trì thực hiện các chương trình, dự án hợp tác nước ngoài trong công tác xây dựng pháp luật; đào tạo, bồi dưỡng về pháp luật; tổ chức hội nghị, hội thảo, tọa đàm về pháp luật trong khuôn khổ chương trình, dự án hoặc viện trợ phi dự án hoặc trong cải cách hành chính và cải cách tư pháp. Việc hợp tác với nước ngoài về pháp luật chủ yếu trong các hoạt động thực thi pháp luật hoặc để thực hiện chức năng quản lý nhà nước của các cơ quan, đơn vị ở địa phương dưới hình thức triển khai những quy định có liên quan đến hợp tác, hội nhập quốc tế,

     Trong thời gian qua, Bình Dương có thực hiện nhiều chương trình, dự án hợp tác quốc tế nhưng chủ yếu tập trung ở các lĩnh vực kinh tế - thương mại, khoa học - kỹ thuật, văn hóa, xã hội; ở địa phương chưa thực hiện các chương trình, dự án hợp tác quốc tế trong công tác xây dựng pháp luật; đào tạo, bồi dưỡng về pháp luật; tổ chức hội nghị, hội thảo, tọa đàm về pháp luật trong khuôn khổ chương trình, dự án hoặc viện trợ phi dự án hoặc trong công tác cải cách hành chính, cải cách tư pháp. Đối với các lĩnh vực này, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các đơn vị, địa phương thực hiện đúng chủ trương, chính sách của Đảng và chỉ đạo của Bộ, Ngành cấp trên. Các ngành, các cấp trên địa bàn tỉnh cũng đã triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp để nâng cao hơn nữa trong việc quản lý, hợp tác quốc tế về pháp luật.

     Trên cơ sở quy định của Nghị định số 113/2014/NĐ-CP, có thể thấy đây là thể chế quan trọng cho hoạt động hợp tác quốc tế về pháp luật tạo nên sự thống nhất trong quản lý nhà nước đối với hoạt động hợp tác quốc tế về pháp luật trong phạm vi cả nước phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước hiện nay đối với các hoạt động hợp tác quốc tế về pháp luật, cải cách tư pháp theo Chỉ thị 39-CT/TW và Kết luận 73-KL/TW của Ban Bí thư. Hoạt động hợp tác quốc tế về pháp luật của địa phương đã cơ bản được triển khai thực hiện phù hợp với định hướng, chính sách, quy định của Đảng và Nhà nước về quản lý công tác đối ngoại và hợp tác với nước ngoài về pháp luật, phát huy nhiều kết quả đạt được từ các hoạt động hợp tác quốc tế về pháp luật trước đây, nhờ đó đã hỗ trợ hiệu quả cho việc thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của tỉnh đặc biệt là trong công tác xây dựng pháp luật; đào tạo, bồi dưỡng về pháp luật; tổ chức hội nghị, hội thảo, tọa đàm về pháp luật trong khuôn khổ chương trình, dự án hoặc viện trợ phi dự án, cải cách pháp luật, cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam./.

57d2981aa1bb4340aacf1c4dc99dabae-0001.jpg 

FalsePhòng XD&KTVB
Tình hình triển khai thực hiện Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định của pháp luật trong 06 tháng đầu năm 2021NewThông tinTinTình hình triển khai thực hiện Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định của pháp luật trong 06 tháng đầu năm 2021/CMSImageNew/2021-06/3d2089cdb82f4bed97446a473acb4b19-0001_Key_25062021084352.jpg
6/15/2021 9:00 AMNoĐã ban hành

     Ngày 08/6/2021, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Báo cáo số 127/BC-UBND về tình hình triển khai thực hiện Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định của pháp luật trong 06 tháng đầu năm 2021, kết quả như sau:

     - Kết quả công tác lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Việc lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi bổ sung bằng Nghị định số 154/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020). Theo đó, hầu hết các Nghị quyết quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Quyết định quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh đều lập đề nghị xây dựng trước khi soạn thảo. Kết quả từ đầu năm đến nay, Sở Tư pháp đã phối hợp với Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh tham mưu Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh cho ý kiến đối với 09 đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (gồm 02 Nghị quyết của Hội đồng nhân dân và 07 Quyết định của Ủy ban nhân dân).

     - Kết quả công tác thẩm định đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Đối với các đề nghị xây dựng Nghị quyết quy định "biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương" (theo Khoản 4 Điều 27 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015) thì trước khi trình Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, cơ quan đề nghị xây dựng văn bản luôn tổng kết thực tiễn đã xảy ra trên địa bàn tỉnh, xây dựng và đánh giá tác động của từng chính sách, đánh giá thực trạng các vấn đề liên quan đến chính sách và gửi lấy ý kiến các đối tượng có liên quan, mà nhất là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của chính sách, đảm bảo được sự tham gia rộng rãi của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong đề nghị xây dựng văn bản, sau đó gửi Sở Tư pháp thẩm định đề nghị xây dựng Nghị quyết. Tính từ đầu năm 2021 đến nay, Ủy ban nhân dân tỉnh chưa tham mưu Hội đồng nhân dân tỉnh đề nghị xây dựng Nghị quyết có biện pháp tính chất đặc thù; do đó, không có văn bản thẩm định đề nghị xây dựng Nghị quyết.

     - Kết quả công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Trong 06 tháng đầu năm 2021, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành 06 văn bản quy phạm pháp luật (trong đó: 02 Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh; 04 Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh). Công tác xây dựng văn bản được thực hiện nghiêm túc, đảm bảo trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Các ý kiến góp ý đều được các sở, ngành tiếp thu; việc thẩm định Nghị quyết trước các kỳ họp Hội đồng nhân dân đảm bảo chất lượng, các văn bản được ban hành đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp.

     - Kết quả công tác thẩm định văn bản quy phạm pháp luật

Trong 06 tháng đầu năm 2021, Sở Tư pháp đã thực hiện 12 lượt thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật (giảm 11 văn bản so với cùng kỳ năm 2020), góp ý 24 dự thảo văn bản quy phạm pháp luật (giảm 06 văn bản so với cùng kỳ năm 2020) và 14 dự thảo văn bản cá biệt, đạt 100% văn bản gửi đến Sở Tư pháp.

Công tác thẩm định văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi bổ sung bằng Nghị định số 154/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020), các dự thảo văn bản trước khi trình Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành đều được Sở Tư pháp thẩm định; báo cáo thẩm định cơ bản đạt chất lượng, nhiều ý kiến của cơ quan thẩm định được đánh giá cao, góp phần ngăn chặn ngay từ đầu những vấn đề không khả thi hoặc có dấu hiệu trái pháp luật của văn bản. Các sở, ngành được giao chủ trì soạn thảo văn bản đều chủ động gửi dự thảo văn bản đến Sở Tư pháp để đề nghị thẩm định theo quy định của pháp luật. Công tác thẩm định tại Sở Tư pháp luôn đảm bảo kịp thời, rút ngắn thời gian, có chất lượng, trọng tâm đi vào nội dung chiều sâu, tăng tính phân tích, phản biện chặt chẽ.

     - Kết quả về lập danh mục, phân công soạn thảo văn bản quy định chi tiết và ban hành kế hoạch triển khai thi hành luật, pháp lệnh

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi bổ sung bằng Nghị định số 154/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020), Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo Sở Tư pháp có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh và các cơ quan, tổ chức có liên quan lập và trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh danh mục quyết định của Ủy ban nhân dân quy định chi tiết các Luật được Quốc hội khóa XIV thông qua tại kỳ họp thứ 10. Theo đó, ngày 23/12/2020, Sở Tư pháp có "Công văn số 2182/STP-XDKT về việc đề xuất, lập danh mục Nghị quyết của Hội đồng nhân dân và Quyết định của Ủy ban nhân dân quy định chi tiết các nội dung được Luật giao".

Trên cơ sở kết quả đề nghị của các sở, ngành tỉnh và ý kiến thống nhất của Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh, Sở Tư pháp đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành "Quyết định số 500/QĐ-UBND ngày 22/02/2021 Ban hành Danh mục Quyết định quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh quy định chi tiết các nội dung được giao trong các Luật được Quốc hội khóa XIV thông qua tại kỳ họp thứ 10". Theo đó, Ủy ban nhân dân tỉnh đã giao Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan nghiên cứu, xây dựng các văn bản quy định chi tiết của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020.

     - Kết quả về theo dõi, đôn đốc và kiểm tra tình hình xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết

Trên cơ sở Quyết định số 500/QĐ-UBND ngày 22/02/2021, Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo: "Sở Tư pháp có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, nhắc nhở các cơ quan, đơn vị triển khai thực hiện Quyết định này và thực hiện góp ý, thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật theo đúng quy định của pháp luật". Theo đó, Sở Tư pháp đã thực hiện đầy đủ việc theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, nhắc nhở các cơ quan, đơn vị triển khai thực hiện, qua đó, đã kịp thời phối hợp với các sở, ngành tỉnh tham mưu cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế các văn bản quy phạm pháp luật chưa phù hợp với quy định pháp luật hiện hành hoặc tình hình thực tiễn địa phương.

     - Kết quả về xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết

Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 500/QĐ-UBND ngày 22/02/2021 Ban hành Danh mục Quyết định quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh quy định chi tiết các nội dung được giao trong các Luật được Quốc hội khóa XIV thông qua tại kỳ họp thứ 10.

Hiện nay, đơn vị được phân công chủ trì soạn thảo đang tiến hành xây dựng dự thảo và tổ chức lấy ý kiến góp ý đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, dự kiến trình Ủy ban nhân dân tỉnh vào Quý IV năm 2021.

     - Kết quả về công tác rà soát, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật:

Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành "Quyết định số 545/QĐ-UBND ngày 26/02/2021 Kế hoạch kiểm tra, xử lý, rà soát văn bản quy phạm pháp luật năm 2021 trên địa bàn tỉnh Bình Dương". Trên cơ sở Kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh, các sở, ngành tỉnh và địa phương cũng ban hành kế hoạch triển khai thực hiện công tác kiểm tra, xử lý, rà soát và hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật năm 2021 tại cơ quan, địa phương mình. Trong 06 tháng đầu năm 2021, công tác rà soát, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật đạt kết quả, cụ thể:

     Thực hiện quy định tại Điều 157 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ; Khoản 34 Điều 1 Nghị định số 154/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Theo đó, Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo Sở Tư pháp tiến hành rà soát 525 văn bản quy phạm pháp luật (gồm: 140 Nghị quyết của Hội đồng nhân dân; 375 Quyết định của Ủy ban nhân dân; 10 Chỉ thị của Ủy ban nhân dân và Chủ tịch Ủy ban nhân dân) để rà soát văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực, ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh. Sau khi rà soát, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành "Quyết định số 277/QĐ-UBND ngày 27/01/2021 về việc công bố Danh mục văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực, ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương năm 2020", gồm: 47 văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực toàn bộ (15 Nghị quyết; 31 Quyết định, 01 Chỉ thị); 06 văn bản hết hiệu lực một phần (01 Nghị quyết; 05 Quyết định). Nhìn chung, công tác rà soát văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện thường xuyên, kịp thời và đúng theo quy định, qua đó kịp thời phát hiện văn bản hết hiệu lực thi hành hoặc không còn phù hợp với văn bản mới được ban hành.

     Thực hiện nhiệm vụ giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp về việc kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, Sở Tư pháp đã thực hiện nghiêm túc quy định về tự kiểm tra và kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền. Theo đó, Sở Tư pháp giúp Ủy ban nhân dân tỉnh tự kiểm tra 04/04 Quyết định do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành từ ngày 01/01 đến ngày 30/5/2021; kiểm tra theo thẩm quyền 00 văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành. Kết quả kiểm tra, không phát hiện văn bản có dấu hiệu trái pháp luật.

     Nhìn chung, việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh đã tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Các chủ trương chính sách của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh đã được thể chế hóa bằng Nghị quyết, Quyết định quy phạm pháp luật một cách kịp thời, đồng bộ với chính sách của các bộ, ngành Trung ương, phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương, đáp ứng yêu cầu quản lý, điều hành của chính quyền địa phương bằng pháp luật, tác động tích cực đến kết quả thực hiện các nhiệm vụ trong công tác; đảm bảo tính công khai, minh bạch trong xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Chất lượng ban hành các văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh được nâng lên rõ rệt, đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật, mang tính khả thi cao; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của tỉnh ban hành đã điều chỉnh cơ bản các mặt của đời sống chính trị, kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng của địa phương. Các văn bản ban hành được triển khai thực hiện thống nhất từ tỉnh đến cơ sở; đồng thời, có tác động rất lớn, tạo hành lang pháp lý trong việc bảo đảm hoạt động hiệu quả của bộ máy nhà nước, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của nhà nước và Nhân dân; tăng cường, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước ở địa phương./.

3d2089cdb82f4bed97446a473acb4b19-0001.jpg

FalseLê Thị Phương
Tỉnh đề xuất một số nội dung xây dựng Chiến lược pháp luật Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045NewThông tinTinTỉnh đề xuất một số nội dung xây dựng Chiến lược pháp luật Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045/CMSImageNew/2021-06/433d6da17dd140fe8275b0400038e369-0001_Key_25062021085949.jpg
6/15/2021 9:00 AMNoĐã ban hành

Qua thực tiễn triển khai thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương đề xuất những nội dung xây dựng Chiến lược pháp luật Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trên cơ sở tiếp tục kế thừa và phát huy Nghị quyết số 48-NQ/TW, cụ thể như sau:

1. Đề xuất nội dung xây dựng Chiến lược pháp luật

- Tiếp tục hoàn thiện thể chế về tổ chức và hoạt động của Chính quyền địa phương. Trong đó, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện thể chế về tổ chức, bộ máy của các cơ quan tư pháp.

- Ưu tiên, hoàn thiện pháp luật ở các lĩnh vực trọng tâm: xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của các thiết chế trong hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Trong đó, chú trọng các vấn đề như: Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật; hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của các thiết chế trong hệ thống chính trị: Quốc hội, Chính phủ, Tòa án, Viện Kiểm sát, Mặt trận Tổ quốc, chính quyền địa phương...; hoàn thiện pháp luật về công chức, công vụ trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa…); xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân (Trong đó, chú trọng các vấn đề như: Hoàn thiện pháp luật về quyền dân sự, chính trị; pháp luật về quyền con người, quyền công dân trong các lĩnh vực: kinh tế, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo; pháp luật về quyền giám sát của cơ quan dân cử, của công dân và vấn đề bảo đảm sự tham gia của công dân vào quản lý nhà nước và xã hội…);  xây dựng và hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (Trong đó, chú trọng các vấn đề như: hoàn thiện pháp luật về quyền tự do kinh doanh; pháp luật về quyền sở hữu; pháp luật về doanh nghiệp; pháp luật về việc tạo lập đồng bộ cho các thị trường; pháp luật về hệ thống tài chính và thị trường chứng khoán ở nước ta hiện nay).

- Hoàn thiện pháp luật về quyền giám sát của các cơ quan dân cử, quyền trực tiếp giám sát, kiểm tra của nhân dân đối với các hoạt động của cơ quan nhà nước, của cán bộ, công chức; mở rộng các hình thức dân chủ trực tiếp để người dân tham gia vào công việc của Nhà nước.

- Quy định các chế độ chính sách đãi ngộ hợp lý cho đội ngũ làm công tác pháp luật nhằm động viên khuyến khích, duy trì và phát triển đội ngũ cán bộ có năng lực làm công tác pháp luật.

- Hoàn thiện thiết chế về theo dõi tình hình thi hành pháp luật, đặc biệt là về nội dung xử lý kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật, đảm bảo việc theo dõi tình hình thi hành pháp luật phát huy được hiệu lực, hiệu quả.

- Nghiên cứu, bổ sung quy định cụ thể về hoạt động giám sát của Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân nhằm tạo điều kiện Tổ đại biểu thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo luật định, trong đó có hoạt động giám sát việc thi hành pháp luật.

2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả xây dựng pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật

- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự phối hợp của các cơ quan, tổ chức, đoàn thể trong công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, đào tạo bồi dưỡng lực lượng nòng cốt làm công tác tuyên truyền; đổi mới và phát triển tuyên truyền pháp luật dưới nhiều hình thức đa dạng, phù hợp với từng điều kiện, hoàn cảnh và đối tượng, nhằm phát triển hoạt động phổ biến giáo dục pháp luật có hiệu quả, đưa pháp luật đến gần gũi người dân, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, công chức và trong nhân dân. Thực hiện tốt cơ chế giám sát của Mặt trận Tổ quốc và Nhân dân đối với các cơ quan pháp luật, cán bộ công chức và đại biểu dân cử trong việc chấp hành pháp luật tại địa phương.

-  Tăng cường công tác kiểm tra, rà soát các văn bản QPPL để kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới thay thế cho các văn bản QPPL hiện hành đang không còn phù hợp, không thống nhất, đồng bộ; Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực thi pháp luật, tăng cường hoạt động của hệ thống cơ quan thanh tra, hoạt động kiểm tra giám sát của toàn thể Nhân dân, qua đó, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật.

- Chú trọng công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực đảm bảo về số lượng và chất lượng, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có trình độ, năng lực; kiện toàn tổ chức và hoạt động của bộ máy các cơ quan nhà nước góp phần thực hiện tốt công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật.

- Có giải pháp kỹ thuật và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, khoa học - công nghệ trong thực hiện nhiệm vụ, việc đầu tư cần đảm bảo chất lượng, đồng bộ và có sự kết nối từ các cấp, các ngành.

Đó một nội dung trong Báo cáo số 124/BC-UBND ngày 07/6/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương về kết quả rà soát, đề xuất định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật./.​

433d6da17dd140fe8275b0400038e369-0001.jpg

FalseLê Thị Phương
Văn bản quy định chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị - nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tỉnh Bình DươngThông tinTinVăn bản quy định chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị - nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tỉnh Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/1/2021 3:00 PMNoĐã ban hành

      ​Ngày 16/5/2021, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương đã ban hành Quyết định số 05/2021/QĐ-UBND bãi bỏ Quyết định số 04/2016/QĐ-UBND ngày 17/02/2016 của UBND tỉnh ban hành Quy định về chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị - nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tỉnh Bình Dương giai đoạn 2016 – 2020.

05.2021.PNG

      Việc bãi bỏ văn bản nêu trên là cần thiết nhằm đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của địa phương vì kể từ ngày 01/01/2021, chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn tỉnh Bình Dương được thực hiện theo Nghị quyết số 09/2020/NQ-HĐND ngày 10 tháng 12 năm 2020 của Hội đồng nhân dân tỉnh./.

FalseTrần Thị Kim Yến
Đính chính Nghị quyết số 10/2020/NQ-HĐND ngày 10/12/2020  của Hội đồng nhân dân tỉnhThông tin; Chương trình, kế hoạch công tác; Văn bản nghiệp vụ; Văn bản QPPLTinĐính chính Nghị quyết số 10/2020/NQ-HĐND ngày 10/12/2020  của Hội đồng nhân dân tỉnh/CMSImageNew/2021-05/CV 80 1_Key_24052021090741.jpg
5/24/2021 10:00 AMNoĐã ban hành

      Ngày 10/12/2020, Hội đồng nhân dân tỉnh khóa IX, nhiệm kỳ 2016 - 2021, kỳ họp thứ 17 thông qua Nghị quyết số 10/2020/NQ-HĐND về Quy định chính sách hỗ trợ xây dựng nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu trên địa bàn tỉnh Bình Dương giai đoạn 2021-2025. Tuy nhiên, do sơ suất trong kỹ thuật soạn thảo văn bản, Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh đã ban hành Công văn số 80/HĐND-KTNS ngày 14/5/2021 về việc đính chính Nghị quyết số 10/2020/NQ-HĐND ngày 10/12/2020 của HĐND tỉnh, cụ thể:

      1. Điều chỉnh, thay thế cụm từ "khoản 3" thành cụm từ "khoản 2" tại khoản 3 Điều 1 của Nghị quyết số 10/2020/NQ-HĐND, như sau:

 " a) Ngân sách cấp tỉnh hỗ trợ kinh phí các nội dung tại điểm a, b, c, d khoản 2 Điều này.

b) Ngân sách huyện, thị xã, thành phố đảm bảo kinh phí theo phân cấp cho các nội dung tại điểm đ, e khoản 2 Điều này.".

      2. Điều chỉnh, thay thế cụm từ "khoản 3" thành cụm từ "khoản 2" tại khoản 4 Điều 1 của Nghị quyết số 10/2020/NQ-HĐND, như sau:

"Đối với trường hợp các huyện được Thủ tướng Chính phủ công nhận huyện đạt chuẩn nông thôn mới sau ngày 01 tháng 01 năm 2021 thì được hưởng mức hỗ trợ bằng một phần hai mức hỗ trợ đối với huyện đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết này".

       Thường trực HĐND tỉnh thông báo đến các cơ quan, đơn vị, cá nhân liên quan biết, thực hiện. Văn bản đính chính này là một phần không tách rời của Nghị quyết số 10/2020/NQ-HĐND ngày 10/12/2020 của Hội đồng nhân dân tỉnh./.

CV 80 1.jpg 

CV 80 2.jpg

FalseLê Thị Phương
Nghị định số 52/2021/NĐ-CP quy định gia hạn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất trong năm 2021Thông tinNghị định số 52/2021/NĐ-CP quy định gia hạn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất trong năm 2021/CMSImageNew/2021-05/nđ 52_Key_05052021091600.PNG
5/5/2021 10:00 AMNoĐã ban hành

​Ngày 19 tháng 4 năm 2021, Chính phủ ban hành nghị định số 52/2021/NĐ-CP quy định gia hạn thời gian nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất trong năm 2021. Theo đó tại Điều 3 Nghị định số 52/2021/NĐ-CP quy định:

1. Đối với thuế giá trị gia tăng (trừ thuế giá trị gia tăng khâu nhập khẩu)

a) Gia hạn thời hạn nộp thuế đối với số thuế giá trị gia tăng phát sinh phải nộp (bao gồm cả số thuế phân bổ cho các địa phương cấp tỉnh khác nơi người nộp thuế có trụ sở chính, số thuế nộp theo từng lần phát sinh) của kỳ tính thuế từ tháng 3 đến tháng 8 năm 2021 (đối với trường hợp kê khai thuế giá trị gia tăng theo tháng) và kỳ tính thuế quý 1, quý 2 năm 2021 (đối với trường hợp kê khai thuế giá trị gia tăng theo quý) của các doanh nghiệp, tổ chức nêu tại Điều 2 Nghị định này. Thời gian gia hạn là 05 tháng đối với số thuế giá trị gia tăng từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2021 và quý 1, quý 2 năm 2021, thời gian gia hạn là 04 tháng đối với số thuế giá trị gia tăng của tháng 7 năm 2021, thời gian gia hạn là 03 tháng đối với số thuế giá trị gia tăng của tháng 8 năm 2021. Thời gian gia hạn tại điểm này được tính từ ngày kết thúc thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

Trường hợp người nộp thuế khai bổ sung hồ sơ khai thuế của kỳ tính thuế được gia hạn dẫn đến làm tăng số thuế giá trị gia tăng phải nộp và gửi đến cơ quan thuế trước khi hết thời hạn nộp thuế được gia hạn thì số thuế được gia hạn bao gồm cả số thuế phải nộp tăng thêm do khai bổ sung.

Các doanh nghiệp, tổ chức thuộc đối tượng được gia hạn thực hiện kê khai, nộp Tờ khai thuế giá trị gia tăng tháng, quý theo quy định của pháp luật hiện hành, nhưng chưa phải nộp số thuế giá trị gia tăng phải nộp phát sinh trên Tờ khai thuế giá trị gia tăng đã kê khai. Thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng của tháng, quý được gia hạn như sau:

- Thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng của kỳ tính thuế tháng 3 năm 2021 chậm nhất là ngày 20 tháng 9 năm 2021.

- Thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng của kỳ tính thuế tháng 4 năm 2021 chậm nhất là ngày 20 tháng 10 năm 2021.

- Thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng của kỳ tính thuế tháng 5 năm 2021 chậm nhất là ngày 20 tháng 11 năm 2021.

- Thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng của kỳ tính thuế tháng 6 năm 2021 chậm nhất là ngày 20 tháng 12 năm 2021.

- Thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng của kỳ tính thuế tháng 7 năm 2021 chậm nhất là ngày 20 tháng 12 năm 2021.

- Thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng của kỳ tính thuế tháng 8 năm 2021 chậm nhất là ngày 20 tháng 12 năm 2021.

- Thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng của kỳ tính thuế quý 1 năm 2021 chậm nhất là ngày 30 tháng 9 năm 2021.

- Thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng của kỳ tính thuế quý 2 năm 2021 chậm nhất là ngày 31 tháng 12 năm 2021.

b) Trường hợp doanh nghiệp, tổ chức nêu tại Điều 2 Nghị định này có các chi nhánh, đơn vị trực thuộc thực hiện khai thuế giá trị gia tăng riêng với cơ quan thuế quản lý trực tiếp của chi nhánh, đơn vị trực thuộc thì các chi nhánh, đơn vị trực thuộc cũng thuộc đối tượng được gia hạn nộp thuế giá trị gia tăng. Trường hợp chi nhánh, đơn vị trực thuộc của doanh nghiệp, tổ chức nêu tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 2 Nghị định này không có hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc ngành kinh tế, lĩnh vực được gia hạn thì chi nhánh, đơn vị trực thuộc không thuộc đối tượng được gia hạn nộp thuế giá trị gia tăng.

2. Đối với thuế thu nhập doanh nghiệp

a) Gia hạn thời hạn nộp thuế đối với số thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp của quý 1, quý 2 kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2021 của doanh nghiệp, tổ chức thuộc đối tượng được quy định tại Điều 2 Nghị định này. Thời gian gia hạn là 03 tháng, kể từ ngày kết thúc thời hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

b) Trường hợp doanh nghiệp, tổ chức nêu tại Điều 2 Nghị định này có các chi nhánh, đơn vị trực thuộc thực hiện khai thuế thu nhập doanh nghiệp riêng với cơ quan thuế quản lý trực tiếp của chi nhánh, đơn vị trực thuộc thì các chi nhánh, đơn vị trực thuộc cũng thuộc đối tượng được gia hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Trường hợp chi nhánh, đơn vị trực thuộc của doanh nghiệp, tổ chức nêu tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 2 Nghị định này không có hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc ngành kinh tế, lĩnh vực được gia hạn thì chi nhánh, đơn vị trực thuộc không thuộc đối tượng được gia hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp.

3. Đối với thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh

Gia hạn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân đối với số tiền thuế phát sinh phải nộp năm 2021 của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh hoạt động trong các ngành kinh tế, lĩnh vực nêu tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 2 Nghị định này. Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thực hiện nộp số tiền thuế được gia hạn tại khoản này chậm nhất là ngày 31 tháng 12 năm 2021.

4. Đối với tiền thuê đất

Gia hạn thời hạn nộp tiền thuê đất đối với số tiền thuê đất phải nộp kỳ đầu năm 2021 của doanh nghiệp, tổ chức, hộ kinh doanh, cá nhân thuộc đối tượng quy định tại Điều 2 Nghị định này đang được Nhà nước cho thuê đất trực tiếp theo Quyết định hoặc Hợp đồng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền dưới hình thức trả tiền thuê đất hàng năm. Thời gian gia hạn là 06 tháng kể từ ngày 31 tháng 5 năm 2021.

Quy định này áp dụng cho cả trường hợp doanh nghiệp, tổ chức, hộ kinh doanh, cá nhân có nhiều Quyết định, Hợp đồng thuê đất trực tiếp của nhà nước và có nhiều hoạt động sản xuất, kinh doanh khác nhau trong đó có ngành kinh tế, lĩnh vực quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 3 và khoản 5 Điều 2 Nghị định này.

5. Trường hợp doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh có hoạt động sản xuất, kinh doanh nhiều ngành kinh tế khác nhau trong đó có ngành kinh tế, lĩnh vực quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 3 và khoản 5 Điều 2 Nghị định này thì được gia hạn toàn bộ số thuế giá trị gia tăng, số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp theo hướng dẫn tại Nghị định này.

6. Trường hợp ngày cuối cùng của thời hạn nộp thuế được gia hạn trùng với ngày nghỉ theo quy định thì ngày cuối cùng của thời hạn được tính là ngày làm việc tiếp theo của ngày nghỉ đó. 

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký./.​


FalseĐào Thị Quyên
Bãi bỏ Quyết định số 22/2015/QĐ-UBND ngày 25 tháng 5 năm 2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc ban hành quy định, trình tự thực hiện việc xác định giá đất cụ thể trên địa bàn tỉnh Bình DươngThông tinBãi bỏ Quyết định số 22/2015/QĐ-UBND ngày 25 tháng 5 năm 2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc ban hành quy định, trình tự thực hiện việc xác định giá đất cụ thể trên địa bàn tỉnh Bình Dương/CMSImageNew/2021-06/qđ 04_Key_04062021085315.PNG
5/4/2021 9:00 AMNoĐã ban hành

​Ngày 29 tháng 4 năm 2021, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 04/2021/QĐ-UBND về việc bãi bỏ Quyết định số 22/2015/QĐ-UBND ngày 25 tháng 5 năm 2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc ban hành quy định, trình tự thực hiện việc xác định giá đất cụ thể trên địa bàn tỉnh Bình Dương. ​

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ​10 tháng 5 năm 2021./VanBanGoc_04-2021-QD.signed.pdf

FalseĐào Thị Quyên
Chỉ thị về nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật và tăng cường hiệu quả thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh Bình DươngThông tin; Tin ngành tư pháp; Văn bản nghiệp vụ; Văn bản QPPL; Chương trình, kế hoạch công tácTinChỉ thị về nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật và tăng cường hiệu quả thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh Bình Dương/CMSImageNew/2021-04/CT 1_Key_22042021083353.jpg
4/22/2021 9:00 AMYesĐã ban hành

       Thực hiện Chỉ thị số 43/CT-TTg ngày 11/12/2020 của Thủ tướng Chính phủ về nâng cao chất lượng công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tăng cường hiệu quả thi hành pháp luật; đồng thời, để nâng cao hơn nữa chất lượng công tác xây dựng, hoàn thiện và thi hành pháp luật tại địa phương, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, ngày 16/4/2021, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Chỉ thị số 06/CT-UBND về nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật và tăng cường hiệu quả thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh Bình Dương, trong đó yêu cầu:

       1. Thủ trưởng các sở, ban, ngành tỉnh; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp sau:

       a) Tiếp tục quán triệt, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác xây dựng và thi hành pháp luật; xác định xây dựng pháp luật là nhiệm vụ trọng tâm, ưu tiên hàng đầu trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành; gắn kết việc xây dựng với tăng cường hiệu quả thi hành pháp luật. Tăng cường trách nhiệm người đứng đầu, trực tiếp chỉ đạo công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của các sở, ngành, địa phương mình; nghiêm túc tổ chức rút kinh nghiệm, khắc phục những tồn tại, hạn chế thời gian qua của ngành, địa phương mình.

       b) Thực hiện nghiêm Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định số 154/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020).

Căn cứ chức năng, nhiệm vụ kịp thời tham mưu trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành hoặc trình Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định. Bám sát chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và yêu cầu thực tiễn để chủ động đề xuất các lĩnh vực cần ưu tiên trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật và thi hành pháp luật theo từng lĩnh vực cụ thể. Chú trọng việc sơ kết, tổng kết thi hành pháp luật, đánh giá tác động của chính sách để đề xuất việc hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định.

       c) Tăng cường hoạt động rà soát văn bản quy phạm pháp luật thuộc các lĩnh vực quản lý để đề xuất nội dung hoàn thiện pháp luật, kịp thời đề xuất xử lý những nội dung mâu thuẫn, chồng chéo, bất cập hoặc không phù hợp thực tiễn nhằm phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, bảo đảm an sinh xã hội, quyền con người, quyền công dân, hội nhập quốc tế, trong đó chú trọng rà soát, góp ý cho việc hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức, bộ máy theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

       d) Chú trọng phổ biến, tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và ý thức tự giác học tập, tìm hiểu pháp luật và tuân thủ pháp luật. Tiếp tục đổi mới đa dạng phương pháp cách thức tuyên truyền, tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, coi đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, là khâu đầu vào trong tổ chức thi hành pháp luật.

       đ) Tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật. Khắc phục triệt để tình trạng chậm trễ tiến độ tham mưu ban hành văn bản quy phạm pháp luật; hạn chế việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngoài chương trình. Khai thác, ứng dụng tốt công nghệ thông tin trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật, nhằm bảo đảm tiến độ, nâng cao chất lượng các văn bản quy phạm pháp luật và tăng cường hiệu quả thi hành pháp luật.

       Đẩy mạnh hoạt động theo dõi, đánh giá tình hình thi hành pháp luật của ngành, địa phương mình để kiến nghị các biện pháp xử lý phù hợp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác thi hành pháp luật. Nâng cao hơn nữa năng lực phản ứng chính sách trong quá trình tổ chức thi hành pháp luật, nhất là trong việc tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp. Chú trọng đối thoại với doanh nghiệp, người dân về vướng mắc, bất cập trong thực thi chính sách, pháp luật.

       e) Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc tổ chức thi hành pháp luật; phát hiện và xử lý nghiêm minh, kịp thời các cá nhân, tổ chức có khuyết điểm, vi phạm trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật. Chú trọng kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn và kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi "tham nhũng, trục lợi chính sách" trong công tác xây dựng pháp luật. Đồng thời, khen thưởng kịp thời các tổ chức, cá nhân có thành tích trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật.

       g) Nâng cao trách nhiệm của từng cơ quan trong quá trình xây dựng và thi hành pháp luật. Các sở, ban, ngành phối hợp chặt chẽ, chủ động, trách nhiệm hơn với Sở Tư pháp, Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, các cơ quan của Hội đồng nhân dân tỉnh. Chú trọng việc lấy ý kiến các chuyên gia, nhà khoa học, nhất là ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản. Nghiêm túc tiếp thu, giải trình đầy đủ, thực chất các ý kiến góp ý để bảo đảm tính khả thi.

       h) Quan tâm  bố trí, điều động các cán bộ, công chức có năng lực thực hiện công tác xây dựng pháp luật, pháp chế đáp ứng các yêu cầu công việc. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ cho đội ngũ này. Củng cố kiện toàn tổ chức pháp chế, tổ chức thực hiện công tác xây dựng và thi hành pháp luật. Ưu tiên, tăng cường nguồn lực, nhất là nguồn tài chính đầu tư cho công tác xây dựng và thi hành pháp luật.

       2. Sở Tư pháp

       a) Tiếp tục phát huy vai trò tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân tỉnh trong quản lý nhà nước về công tác xây dựng, hoàn thiện và thi hành pháp luật. Phối hợp chặt chẽ với các sở, ban, ngành, địa phương, nghiên cứu, đề xuất với Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh các giải pháp nhằm tăng cường công tác xây dựng và thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh.

       b) Tăng cường đôn đốc, kiểm tra công tác xây dựng pháp luật của các sở, ban, ngành, địa phương; tham mưu, trình Ủy ban nhân dân tỉnh các kế hoạch rà soát văn bản quy phạm pháp luật theo các chuyên đề, lĩnh vực và tổ chức thực hiện bảo đảm tính bao quát, toàn diện; tăng cường công tác tự kiểm tra, kiểm tra theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là việc xử lý các văn bản trái pháp luật.

       c) Nâng cao hơn nữa chất lượng thẩm định văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền; không tổ chức thẩm định những hồ sơ dự thảo văn bản chưa đủ điều kiện, thủ tục theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); theo dõi sát việc tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định; có ý kiến với Ủy ban nhân dân tỉnh về kết quả tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định của cơ quan chủ trì soạn thảo.

       d) Hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện trong việc thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật tại địa phương; kiến nghị với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về việc xử lý kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật.

       3. Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh

       a) Đẩy nhanh tiến độ trình Ủy ban nhân dân tỉnh các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật theo Quy chế làm việc của Ủy ban nhân dân tỉnh; chủ trì, phối hợp với các Sở, ban, ngành, cơ quan liên quan xử lý các vấn đề, nội dung có ý kiến khác nhau và tiếp thu ý kiến thành viên Ủy ban nhân dân tỉnh, rút ngắn thời gian trình, ban hành văn bản.

Không tiếp nhận, trình Ủy ban nhân dân tỉnh đối với các hồ sơ dự thảo văn bản quy phạm pháp luật chưa đủ điều kiện, thủ tục theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

       b) Tham mưu bố trí các phiên họp Ủy ban nhân dân dành nhiều thời gian thảo luận các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, nghe báo cáo về việc xây dựng văn bản quy định chi tiết văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên ở địa phương.

       4. Sở Nội vụ

       Phối hợp chặt chẽ với Sở Tư pháp tiếp tục nghiên cứu, củng cố kiện toàn, đổi mới về tổ chức, bộ máy, biên chế thực hiện công tác xây dựng và thi hành pháp luật, pháp chế, đáp ứng yêu cầu công việc, nhiệm vụ được giao.

       5. Sở Tài chính

       Căn cứ quy định, phối hợp với Sở Tư pháp và các đơn vị có liên quan bảo đảm nguồn lực tài chính nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật và thi hành pháp luật.

        6.  Ủy ban nhân dân cấp huyện

       a) Tổ chức thực hiện hiệu quả Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và các văn bản có liên quan theo thẩm quyền được giao; tăng cường các giải pháp tổ chức thi hành pháp luật, bảo đảm pháp luật được thực hiện nghiêm và hiệu quả ở địa phương.

       b) Chỉ đạo Phòng Tư pháp thực hiện tốt trách nhiệm đầu mối giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện đối với công tác công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tăng cường hiệu quả thi hành pháp luật; hướng dẫn, kiểm tra chuyên môn nghiệp vụ về công tác tư pháp ở cấp xã. Kiện toàn đội ngũ công chức tư pháp cấp huyện, cấp xã đảm bảo đủ biên chế, năng lực, trình độ thực hiện tốt công tác tham mưu về văn bản.

       c) Tăng cường hiệu quả công tác rà soát văn bản quy phạm pháp luật, thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo, thống kê về công tác xây dựng, kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật theo quy định./.

06-CT.signed.pdf


CT 1.jpg 

CT 2.jpg 

CT 3.jpg

CT 4.jpg

CT 5.jpg

FalsePhòng XD&KTVB
Tỉnh Bình Dương hướng dẫn, triển khai thực hiện Chỉ số cải thiện các quy định pháp luậtThông tin; Chương trình, kế hoạch công tác; Văn bản nghiệp vụTinTỉnh Bình Dương hướng dẫn, triển khai thực hiện Chỉ số cải thiện các quy định pháp luật/CMSImageNew/2021-04/so 01_Key_20042021103245.jpg
4/20/2021 11:00 AMNoĐã ban hành

       Ngày 15/4/2021, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Công văn số 1553/UBND-NC về việc hướng dẫn, triển khai thực hiện Chỉ số cải thiện các quy định pháp luật. Theo đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu Thủ trưởng các Sở, ban, ngành tỉnh; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố thực hiện các nội dung sau:

       1. Chỉ đạo tiếp tục siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, phân công rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân trong việc nghiên cứu, soạn thảo, tham mưu trình văn bản quy phạm pháp luật. Thường xuyên theo dõi, kiểm tra, kiểm điểm rõ trách nhiệm và có hình thức xử lý đối với đơn vị, cá nhân để xảy ra tình trạng chậm tiến độ xây dựng văn bản, tham mưu ban hành văn bản quy phạm pháp luật không đảm bảo chất lượng; không xem xét khen thưởng các tổ chức, cá nhân để xảy ra tình trạng nợ ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo Kế hoạch được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh giao. Đồng thời, tập trung nguồn lực để tổ chức soạn thảo văn bản quy định chi tiết nội dung được Luật giao thuộc lĩnh vực, ngành, địa phương quản lý.

       2. Tổ chức tự kiểm tra, rà soát, kiến nghị cơ quan, người có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế các văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực, ngành, địa phương quản lý có quy định không rõ ràng, không cụ thể, không khả thi làm cản trở điều kiện đầu tư, kinh doanh, gây khó khăn, phiền hà cho doanh nghiệp; trong đó, đặc biệt quan tâm đến việc cắt giảm, đơn giản hóa các quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh theo quy định tại Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 12 tháng 5 năm 2020 của Chính phủ về ban hành Chương trình cắt giảm, đơn giản hóa quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh giai đoạn 2020 - 2025.

       3. Bảo đảm nguồn lực về biên chế, kinh phí cho công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật. Quan tâm bố trí công chức pháp chế chuyên trách, tổ chức làm công tác xây dựng pháp luật; chú trọng đào tạo, nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn của đội ngũ công chức làm công tác xây dựng pháp luật, pháp chế theo hướng chuyên nghiệp và hiện đại, đáp ứng yêu cầu công việc.

       4. Thực hiện nghiêm túc, kịp thời chế độ báo cáo về kết quả thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp cải thiện chất lượng các quy định của pháp luật theo quy định tại Nghị quyết số 02/NQ-CP năm 2021 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2021.

       5. Giao Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh kiểm soát chặt chẽ việc xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật tại địa phương có quy định điều kiện đầu tư kinh doanh, thủ tục hành chính trên tinh thần cắt giảm chi phí tuân thủ pháp luật; theo dõi, đôn đốc thực hiện và tổng hợp, xây dựng báo cáo, trình Ủy ban nhân dân tỉnh về kết quả thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp cải thiện chất lượng các quy định của pháp luật./.



so 01.jpg 

so 02.jpg

FalsePhòng XD&KTVB
Sửa đổi, bổ sung Nghị định về phát triển và quản lý nhà ở xã hộiVăn bản nghiệp vụ; Văn bản QPPL; Thông tinTinSửa đổi, bổ sung Nghị định về phát triển và quản lý nhà ở xã hội/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
4/19/2021 5:00 PMNoĐã ban hành

​       Ngày 01 tháng 4 năm 2021, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 49/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội.

       Theo đó, Nghị định bổ sung một số nội dung như: lấy ý kiến thẩm định để chấp thuận chủ trương đầu tư đối với các dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội; quy định cụ thể dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội bao gồm dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội độc lập và dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội sử dụng phần quỹ đất 20% tổng diện tích đất ở thuộc phạm vi dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại dành để đầu tư xây dựng nhà ở xã hội trong trường hợp chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại đó không thực hiện đầu tư xây dựng nhà ở xã hội;

       Xác định cụ thể người thu nhập thấp là người làm việc tại cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế hoặc lao động tự do tại khu vực đô thị, có mức thu nhập không phải đóng thuế thu nhập thường xuyên theo quy định của pháp luật nhà ở, pháp luật thuế thu nhập cá nhân.

       Nghị định số 49/2021/NĐ-CP đã bỏ quy định về việc xét duyệt, lựa chọn đối tượng thực hiện theo hình thức chấm điểm quy định tại Điều 23 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP, như vậy Nghị định chỉ còn quy định nguyên tắc xét duyệt đối tượng được mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội đầu tư xây dựng theo dự án quy định đối với trường hợp tổng số hồ sơ đăng ký mua, thuê, thuê mua (hợp lệ) bằng hoặc ít hơn tổng số căn hộ do chủ đầu tư công bố cho từng loại sản phẩm thì việc lựa chọn căn hộ theo thỏa thuận giữa chủ đầu tư và khách hàng và trường hợp tổng số hồ sơ đăng ký mua, thuê, thuê mua (hợp lệ) nhiều hơn tổng số căn hộ do chủ đầu tư công bố cho từng loại sản phẩm thì việc xét duyệt, lựa chọn theo hình thức bốc thăm do chủ đầu tư tổ chức.

       Sửa đổi Điều 5 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP, trong đó quy định cụ thể trường hợp Nhà nước sử dụng quỹ đất 20% để xây dựng nhà ở xã hội bằng vốn đầu tư công, vốn nhà nước ngoài đầu tư công thì chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại, khu đô thị có trách nhiệm đầu tư xây dựng đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật theo quy hoạch đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt trước khi bàn giao quỹ đất này cho Nhà nước.

       Khi chủ đầu tư bàn giao quỹ đất 20% để xây dựng nhà ở xã hội cho Nhà nước thì số tiền đền bù giải phóng mặt bằng theo phương án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt đối với quỹ đất 20% này (nếu có) sẽ được trừ vào nghĩa vụ tài chính (tiền sử dụng đất, tiền thuê đất) mà chủ đầu tư phải nộp của dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại, khu đô thị đó.  Đối với chi phí đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật và các khoản chi phí hợp lý khác theo quy định của pháp luật mà chủ đầu tư đã thực hiện đối với quỹ đất 20% phải bàn giao sẽ được ngân sách nhà nước hoàn trả theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

       Bên cạnh đó, Nghị định còn sửa đổi, bổ sung thời hạn vay vốn ưu đãi để mua, thuê mua nhà ở xã hội, thời hạn vay do ngân hàng và khách hàng thỏa thuận phù hợp với khả năng trả nợ của khách hàng và tối đa không quá 25 năm kể từ ngày giải ngân khoản vay đầu tiên được quy định tại Khoản 10 Điều 1 Nghị định số 49/2021/NĐ-CP. Cũng theo đó, lãi suất cho vay tại Ngân hàng chính sách xã hội do Thủ tướng Chính phủ quyết định theo đề nghị của Hội đồng quản trị Ngân hàng chính sách xã hội cho từng thời kỳ; lãi suất cho vay tại các tổ chức tín dụng được chỉ định do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xác định và công bố trên cơ sở bảo đảm nguyên tắc không vượt quá 50% lãi suất cho vay bình quân của các ngân hàng thương mại cùng thời kỳ.

Nghị định số 49/2021/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2021./.

49_2021_ND-CP.pdf

FalseHuỳnh Hữu Tốt
Chính phủ ban hành Nghị định số 37/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều và biện pháp thi hành Luật Căn cước công dânThông tinChính phủ ban hành Nghị định số 37/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều và biện pháp thi hành Luật Căn cước công dân/CMSImageNew/2021-04/nđ 37_Key_13042021092452.PNG
4/13/2021 10:00 AMNoĐã ban hành

Ngày 29 tháng 03 năm 2021, Chính phủ ban hành Nghị định số 37/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 137/2015/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2015 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật Căn cước công dân. Nghị định số 37/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung 09 Điều. Trong đó, sửa đổi, bổ sung bổ sung Điều 15 quy định trình tự, thủ tục cấp số định danh cá nhân đối với công dân đã đăng ký khai sinh như sau:

- Công dân đã đăng ký khai sinh nhưng chưa được cấp số định danh cá nhân thì cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư xác lập số định danh cá nhân cho công dân theo thông tin hiện có trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

 - Ngay sau khi xác lập được số định danh cá nhân cho công dân, cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư có văn bản thông báo cho công dân về số định danh cá nhân đã được xác lập và các thông tin của công dân hiện có trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Trường hợp thông tin của công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư chưa đầy đủ thì trong văn bản thông báo cần yêu cầu công dân bổ sung thông tin cho Công an xã, phường, thị trấn nơi mình đang cư trú để thực hiện cập nhật, chỉnh sửa thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

- Trường hợp công dân đã có số định danh cá nhân mà được xác định lại giới tính hoặc cải chính năm sinh thì cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư xác lập lại số định danh cá nhân cho công dân sau khi công dân đó đã thực hiện việc đăng ký hộ tịch liên quan đến thông tin về giới tính, năm sinh theo quy định pháp luật về đăng ký hộ tịch. Cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư có văn bản thông báo cho công dân về số định danh cá nhân đã được xác lập lại.

 - Cơ quan cấp thẻ Căn cước công dân sử dụng số định danh cá nhân đã được cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư xác lập cho công dân để cấp thẻ Căn cước công dân theo quy định.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 14 tháng 5 năm 2021./.

​ nđ 37 2021.pdf




FalseĐào Thị Quyên
Từ ngày 15/4/2021, áp dụng Quy chế Quản lý và sử dụng chữ ký số, chứng thư số chuyên dùng Chính phủ trong cơ quan Nhà nước  của tỉnh Bình DươngTin ngành tư pháp; Văn bản nghiệp vụ; Văn bản QPPL; Thông tin; Chương trình, kế hoạch công tácTinTừ ngày 15/4/2021, áp dụng Quy chế Quản lý và sử dụng chữ ký số, chứng thư số chuyên dùng Chính phủ trong cơ quan Nhà nước  của tỉnh Bình Dương/CMSImageNew/2021-04/QĐ 03 1_Key_09042021100514.jpg
4/9/2021 10:00 AMYesĐã ban hành

        Căn cứ khoản 1 Điều 12 Thông tư số 185/2019/TT-BQP ngày 04 tháng 12 năm 2019 của Bộ Quốc phòng hướng dẫn việc cung cấp, quản lý, sử dụng dịch vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng Chính phủ quy định trách nhiệm của các cơ quan Đảng, Nhà nước: "Xây dựng, ban hành quy chế, quy định về quản lý, sử dụng dịch vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng Chính phủ trong phạm vi quản lý", ngày 05 tháng 4 năm 2021, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 03/2021/QĐ-UBND Ban hành Quy chế Quản lý và sử dụng chữ ký số, chứng thư số chuyên dùng Chính phủ trong cơ quan Nhà nước của tỉnh Bình Dương.

        Nội dung của Quy chế gồm 04 Chương và 19 Điều, trong đó, quy định việc quản lý, sử dụng chữ ký số, chứng thư số chuyên dùng trong giao dịc​h điện tử và các hoạt động bảo mật thông tin của các cơ quan, tổ chức nhà nước trên địa bàn tỉnh Bình Dương; không quy định việc sử dụng chữ ký số, chứng thư số cho văn bản điện tử, các thông điệp điện tử chứa thông tin thuộc danh mục bí mật Nhà nước. 

       Quy chế áp dụng đối với các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh; Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố; Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn; các cơ quan, đơn vị sự nghiệp khác trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh và các cơ quan, đơn vị trực thuộc các cơ quan, đơn vị này (sau đây gọi tắt là cơ quan, tổ chức Nhà nước); áp dụng đối với các cá nhân là cán bộ, công chức, viên chức, người được cấp, quản lý, sử dụng chữ ký số, chứng thư số chuyên dùng Chính phủ đang làm việc trong các cơ quan, tổ chức Nhà nước được quy định tại Khoản 1 Điều này; trong trường hợp cần thiết các cơ quan Đảng của tỉnh; các cơ quan, tổ chức Nhà nước trực thuộc Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh có thể nghiên cứu áp dụng lại Quy chế này tại đơn vị mình.

       Quyết định số 03/2021/QĐ-UBND, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 04 năm 2021 và thay thế Quyết định số 12/2017/QĐ-UBND ngày 05 tháng 6 năm 2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quy chế quản lý và sử dụng chứng thư số chuyên dùng trong các cơ quan nhà nước tỉnh Bình Dương./.

(Chi tiết xem tại đây QĐ 03-2021.signed.pdf)

QĐ 03 1.jpg

QĐ 03 2.jpg

FalsePhòng XD&KTVB
Chính phủ ban hành Nghị định quy định Cơ sở dữ liệu quốc gia về Bảo hiểmNewThông tinChính phủ ban hành Nghị định quy định Cơ sở dữ liệu quốc gia về Bảo hiểm/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
4/6/2021 10:00 AMNoĐã ban hành

Ngày 31 tháng 3 năm 2021 Chính phủ ban hành Nghị định số 43/2021/NĐ-CP quy định Cơ sở dữ liệu quốc gia về Bảo hiểm

1.Nghị định này quy định về việc xây dựng, quản lý, khai thác và sử dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về Bảo hiểm; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc xây dựng, quản lý, khai thác và sử dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về Bảo hiểm

2.Nghị định này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến việc xây dựng, quản lý, khai thác và sử dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về Bảo hiểm

3.Cơ sở dữ liệu quốc gia về Bảo hiểm là Cơ sở dữ liệu quốc gia lưu trữ thông tin về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và thông tin về y tế, an sinh xã hội được cơ quan có thẩm quyền ghi nhận và đảm bảo quyền lợi, nghĩa vụ về bảo hiểm của công dân; Cơ sở dữ liệu quốc gia về Bảo hiểm là cơ sở dữ liệu của Chính phủ được xây dựng thống nhất trên toàn quốc, dùng chung cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm cung cấp chính xác, kịp thời thông tin về bảo hiểm phục vụ công tác quản lý nhà nước, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và yêu cầu chính đáng của các cơ quan, tổ chức, cá nhân.

4. Cơ sở dữ liệu quốc gia về Bảo hiểm bao gồm các thông tin sau:

a) Dữ liệu cơ bản cá nhân bao gồm: Họ, chữ đệm và tên khai sinh; ngày, tháng, năm sinh; giới tính, số định danh cá nhân hoặc số chứng minh nhân dân; dân tộc; quốc tịch; nơi đăng ký khai sinh; quê quán, nơi thường trú; họ, chữ đệm và tên, số định danh cá nhân hoặc số chứng minh nhân dân của cha, mẹ, vợ, chồng hoặc người đại diện hợp pháp;

b) Thông tin liên hệ của công dân;

c) Nhóm thông tin về hộ gia đình: Mã hộ gia đình; địa chỉ; danh sách các thành viên trong hộ gia đình;

d) Nhóm thông tin về bảo hiểm xã hội: Mã số bảo hiểm xã hội; mã đơn vị quản lý người tham gia; cơ quan bảo hiểm xã hội quản lý; loại đối tượng bảo hiểm xã hội; phương thức đóng; quá trình đóng, hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; mã số thuế;

đ) Nhóm thông tin về bảo hiểm y tế: Mã mức hưởng; loại đối tượng; nơi đăng ký khám chữa bệnh ban đầu; thời điểm hết hạn; thời điểm đủ 05 năm liên tục; quá trình đóng, hưởng;

e) Nhóm thông tin về bảo hiểm thất nghiệp: Quá trình đóng, hưởng; thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp được bảo lưu làm căn cứ để tính thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp;

g) Nhóm thông tin về người sử dụng lao động gồm: Tên; mã số doanh nghiệp/số quyết định thành lập; mã số thuế; địa chỉ trụ sở chính; ngành, nghề kinh doanh (hoặc ngành, nghề kinh doanh chính)/lĩnh vực hoạt động; số điện thoại, thư điện tử; loại hình doanh nghiệp/loại hình tổ chức; phương thức đóng;

h) Nhóm thông tin cơ bản về y tế;

i) Nhóm thông tin về an sinh xã hội;

Thông tin được quy định tại các điểm d, đ và e nêu trên là dữ liệu gốc của Cơ sở dữ liệu quốc gia về Bảo hiểm.

Nghị định này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 6 năm 2021.

Tổ chức kinh doanh dịch vụ karaoke sau 12 giờ đêm sẽ bị phạt  từ 20-30 triệu đồngChương trình, kế hoạch công tác; Văn bản nghiệp vụ; Văn bản QPPLTinTổ chức kinh doanh dịch vụ karaoke sau 12 giờ đêm sẽ bị phạt  từ 20-30 triệu đồng/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
4/5/2021 11:00 AMNoĐã ban hành

Ngày 29/3/2021, Chính phủ ban hành Nghị định 38/2021/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa và quảng cáo. Một nội dung đáng chú ý tại Nghị định này là việc xử phạt đối với cá nhân, tổ chức mở quán karaoke trước 8 giờ sáng và sau 12 giờ đêm.

Theo đó, khoản 5 Điều 15 Nghị định 38/2021/NĐ-CP nêu rõi: Phạt tiền từ 10-15 triệu đồng đối với cá nhân kinh doanh dịch vụ karaoke ngoài khoảng thời gian từ 8 giờ đến 24 giờ mỗi ngày. Trường hợp tổ chức vi phạm hành vi trên sẽ bị xử phạt từ 20-30 triệu đồng. Đồng thời, cá nhân kinh doanh karaoke sẽ bị xử phạt từ 15-20 triệu đồng (nếu tổ chức kinh doanh sẽ bị xử phạt từ 30-40 triệu đồng) khi vi phạm một trong các hành vi sau:

- Kinh doanh dịch vụ karaoke không bảo đảm diện tích theo quy định.

- Đặt chốt cửa bên trong phòng hát karaoke.

- Đặt thiết bị báo động, trừ các thiết bị báo cháy nổ tại địa điểm kinh doanh dịch vụ karaoke.

- Không bảo đảm hình ảnh phù hợp với lời bài hát thể hiện trên màn hình (hay hình thức tương tự) hoặc với văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam trong phòng hát karaoke.

- Không điều chỉnh giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke khi thay đổi về số lượng phòng hoặc thay đổi chủ sở hữu.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 6 năm 2021. Kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành, các văn bản và quy định sau đây hết hiệu lực thi hành:

- Nghị định số 56/2006/NĐ-CP ngày 6 tháng 6 năm 2006 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa;

- Nghị định số 158/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo;

- Điều 2 Nghị định số 28/2017/NĐ-CP ngày 20 tháng 3 năm 2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 131/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan và Nghị định số 158/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo;

- Khoản 1 và khoản 3 Điều 23 Nghị định số 115/2018/NĐ-CP ngày 04 tháng 9 năm 2018 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm./.​

FalseHuỳnh Hữu Tốt
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hộiNewThông tinChính phủ ban hành Nghị định quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội/CMSImageNew/2021-06/nd 20_Key_25062021103644.PNG
4/4/2021 11:00 AMNoĐã ban hành

Ngày 15 tháng 3 năm 2021 Chính phủ ban hành Nghị định số 20/2021/NĐ-Cp quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội.

* Tại Điều 4 Nghị định quy định: Mức chuẩn trợ giúp xã hội áp dụng từ ngày 01 tháng 7 năm 2021 là 360.000 đồng/tháng. Tùy theo khả năng cân đối của ngân sách, tốc độ tăng giá tiêu dùng và tình hình đời sống của đối tượng bảo trợ xã hội, cơ quan có thẩm quyền xem xét, điều chỉnh tăng mức chuẩn trợ giúp xã hội cho phù hợp; bảo đảm tương quan chính sách đối với các đối tượng khác. Tùy thuộc điều kiện kinh tế - xã hội tại địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định:

a) Mức chuẩn trợ giúp xã hội, mức trợ giúp xã hội áp dụng trên địa bàn bảo đảm không thấp hơn mức chuẩn trợ giúp xã hội và mức trợ giúp xã hội quy định tại Nghị định này;

b) Đối tượng khó khăn khác chưa quy định tại Nghị định này được hưởng chính sách trợ giúp xã hội.

*Tại Điều 5 Nghị định quy định Đối tượng bảo trợ xã hội hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng:

1. Trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi;

b) Mồ côi cả cha và mẹ;

c) Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật;

d) Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội, nhà xã hội;

đ) Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

e) Cả cha và mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật;

g) Cả cha và mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội, nhà xã hội;

h) Cả cha và mẹ đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

i) Cha hoặc mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội, nhà xã hội;

k) Cha hoặc mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

l) Cha hoặc mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.

2. Người thuộc diện quy định tại khoản 1 Điều này đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng mà đủ 16 tuổi nhưng đang học văn hóa, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất thì tiếp tục được hưởng chính sách trợ giúp xã hội cho đến khi kết thúc học, nhưng tối đa không quá 22 tuổi.

3. Trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo.

4. Người thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo chưa có chồng hoặc chưa có vợ; đã có chồng hoặc vợ nhưng đã chết hoặc mất tích theo quy định của pháp luật và đang nuôi con dưới 16 tuổi hoặc đang nuôi con từ 16 đến 22 tuổi và người con đó đang học văn hóa, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất quy định tại khoản 2 Điều này (sau đây gọi chung là người đơn thân nghèo đang nuôi con).

5. Người cao tuổi thuộc một trong các trường hợp quy định sau đây:

a) Người cao tuổi thuộc diện hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng;

b) Người cao tuổi từ đủ 75 tuổi đến 80 tuổi thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo không thuộc diện quy định ở điểm a khoản này đang sống tại địa bàn các xã, thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đặc biệt khó khăn;

c) Người từ đủ 80 tuổi trở lên không thuộc diện quy định tại điểm a khoản này mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp xã hội hàng tháng;

d) Người cao tuổi thuộc diện hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở trợ giúp xã hội nhưng có người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc tại cộng đồng.

6. Người khuyết tật nặng, người khuyết tật đặc biệt nặng theo quy định pháp luật về người khuyết tật.

7. Trẻ em dưới 3 tuổi thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo không thuộc đối tượng quy định tại các khoản 1, 3 và 6 Điều này đang sống tại địa bàn các xã, thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đặc biệt khó khăn.

8. Người nhiễm HIV/AIDS thuộc diện hộ nghèo không có nguồn thu nhập ổn định hàng tháng như tiền lương, tiền công, lương hưu, trợ cấp bảo bảo hiểm xã hội, trợ cấp xã hội hàng tháng

* Tại Điều 6 quy định mức trợ cấp xã hội hàng tháng:

1. Đối tượng quy định tại Điều 5 Nghị định này được trợ cấp xã hội hàng tháng với mức bằng mức chuẩn trợ giúp xã hội quy định tại Điều 4 Nghị định này nhân với hệ số tương ứng quy định như sau:

a) Đối với đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định này:

- Hệ số 2,5 đối với trường hợp dưới 4 tuổi;

- Hệ số 1,5 đối với trường hợp từ đủ 4 tuổi trở lên.

b) Hệ số 1,5 đối với đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định này.

c) Đối với đối tượng quy định tại khoản 3 Điều 5 Nghị định này:

- Hệ số 2,5 đối với đối tượng dưới 4 tuổi;

- Hệ số 2,0 đối với đối tượng từ đủ 4 tuổi đến dưới 16 tuổi.

d) Đối với đối tượng quy định tại khoản 4 Điều 5 Nghị định này:

Hệ số 1,0 đối với mỗi một con đang nuôi.

đ) Đối với đối tượng quy định tại khoản 5 Điều 5 Nghị định này:

- Hệ số 1,5 đối với đối tượng quy định tại điểm a khoản 5 từ đủ 60 tuổi đến 80 tuổi;

- Hệ số 2,0 đối với đối tượng quy định tại điểm a khoản 5 từ đủ 80 tuổi trở lên;

- Hệ số 1,0 đối với đối tượng quy định tại các điểm b và c khoản 5;

- Hệ số 3,0 đối với đối tượng quy định tại điểm d khoản 5.

e) Đối với đối tượng quy định tại khoản 6 Điều 5 Nghị định này:

- Hệ số 2,0 đối với người khuyết tật đặc biệt nặng;

- Hệ số 2,5 đối với trẻ em khuyết tật đặc biệt nặng hoặc người cao tuổi là người khuyết tật đặc biệt nặng;

- Hệ số 1,5 đối với người khuyết tật nặng;

- Hệ số 2,0 đối với trẻ em khuyết tật nặng hoặc người cao tuổi là người khuyết tật nặng.

g) Hệ số 1,5 đối với đối tượng quy định tại các khoản 7 và 8 Điều 5 Nghị định này.

2. Trường hợp đối tượng thuộc diện hưởng các mức theo các hệ số khác nhau quy định tại khoản 1 Điều này hoặc tại các văn bản khác nhau thì chỉ được hưởng một mức cao nhất. Riêng người đơn thân nghèo đang nuôi con là đối tượng quy định tại các khoản 5, 6 và 8 Điều 5 Nghị định này thì được hưởng cả chế độ đối với đối tượng quy định tại khoản 4 Điều 5 và chế độ đối với đối tượng quy định tại các khoản 5, 6 và 8 Điều 5 Nghị định này.

Nghị định này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2021.​

FalseĐào Thị Quyên
Ban hành Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình DươngThông tinTinBan hành Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
4/1/2021 2:00 PMNoĐã ban hành

     Ngày 26 tháng 3 năm 2021, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 02/2021/QĐ-UBND ban hành Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Dương. Quyết định quy định cụ thể vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Giáo dục và đào tạo tỉnh Bình Dương, phù hợp với quy định của Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04 tháng 4 năm 2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 107/2020/NĐ-CP ngày 14 tháng 9 năm 2020 của Chính phủ); Nghị định số 127/2018/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2018 của Chính phủ quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục và  Thông tư số 12/2020/TT-BGDĐT ngày 22 tháng 5 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục vả Đào tạo hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Sở Giáo dục và Đào tạo thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Phòng Giáo dục và Đào tạo thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương.

QD 02.2021.PNG

​     Một số nhiệm vụ, quyền hạn của Sở Giáo dục và Đào tạo được quy định cụ thể như:

​     - Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan trình Ủy ban nhân dân tỉnh: dự thảo quyết định phân cấp, ủy quyền nhiệm vụ quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực cho Sở, Ủy ban nhân dân cấp huyện; dự thảo quyết định, quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở; dự thảo quyết định thực hiện xã hội hóa các hoạt động cung ứng dịch vụ sự nghiệp công theo ngành, lĩnh vực thuộc thẩm ​quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh và theo phân cấp của cơ quan nhà nước cấp trên; ban hành văn bản hướng dẫn, tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về giáo dục; phương án tích hợp nội dung về mạng lưới các cơ sở giáo dục và đào tạo vào quy hoạch tỉnh theo Luật Quy hoạch và các quy định có liên quan; kế hoạch phát triển giáo dục trên địa bàn; kế hoạch, chương trình, dự án phát triển giáo dục trung học phổ thông trên địa bàn; kế hoạch triển khai Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông được phân công trên phạm vi địa bàn tỉnh; các văn bản pháp luật về giáo dục theo thẩm quyền; văn bản chấp thuận về việc thành lập, cho phép thành lập; sáp nhập, chia, tách, giải thể cơ sở giáo dục đại học, phân hiệu của cơ sở giáo dục đại học; trường cao đẳng sư phạm, phân hiệu của trường cao đẳng sư phạm trên địa bàn tỉnh; phê duyệt Đề án sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục công lập thuộc phạm vi quản lý phù hợp với thực tiễn của tỉnh Bình Dương; phê duyệt phương án thành lập, tổ chức lại, giải thể các phòng chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo theo quy định.

​     - Trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh dự thảo các văn bản thuộc thẩm quyền ban hành của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh theo phân công.

​     - Phối hợp Sở Nội vụ tổng hợp số lượng người làm việc hàng năm của các cơ sở giáo dục công lập trong kế hoạch số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập của tỉnh trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

​     - Chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan tổ chức tuyển dụng hoặc phân cấp việc tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, nhân viên trong các cơ sở giáo dục công lập trực thuộc Sở theo quy định của pháp luật.

​     - Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo đối với các cơ sở giáo dục đại học; trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh theo phân cấp của Chính phủ.

​     - Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo và người có chức danh theo dõi giáo dục thuộc Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Quản lý về chuyên môn đối với việc thực hiện chương trình giáo dục thường xuyên của các trung tâm cấp huyện theo quy định.

​     - Hướng dẫn thực hiện cơ chế tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành, lĩnh vực quản lý theo quy định của pháp luật; quản lý hoạt động của các đơn vị sự nghiệp trong và ngoài công lập thuộc phạm vi ngành, lĩnh vực.

​     - Quản lý các hoạt động dạy học, giáo dục trong nhà trường và ngoài nhà trường; chỉ đạo thực hiện hoạt động giáo dục đạo đức, lối sống, an toàn trường học; tổ chức thực hiện kế hoạch triển khai Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông; thực hiện và chỉ đạo thực hiện công tác truyền thông giáo dục trên địa bàn.

​     - Tham gia thẩm định thực tế đề án thành lập, cho phép thành lập cơ sở giáo dục đại học, phân hiệu của cơ sở giáo dục đại học trên địa bàn.

​     - Thường xuyên cập nhật thông tin về đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục thuộc phạm vi quản lý vào cơ sở dữ liệu ngành giáo dục. Thực hiện đầy đủ và kịp thời chế độ báo cáo định kỳ hàng năm và đột xuất về thống kê, công khai lĩnh vực giáo dục của địa phương thuộc phạm vi quản lý với Ủy ban nhân dân tỉnh và Bộ Giáo dục và Đào tạo theo quy định.

​     Về cơ cấu tổ chức

​     Sở Giáo dục và Đào tạo có 07 phòng chuyên môn nghiệp vụ (Văn phòng, Thanh tra, Phòng Tổ chức cán bộ, Phòng Kế hoạch - Tài chính, Phòng Giáo dục Mầm non và Tiểu học, Phòng Giáo dục Trung học - Thường xuyên, Phòng Khảo thí và Quản lý chất lượng giáo dục) và các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Sở (các trường trung học phổ thông, Trung tâm Giáo dục thường xuyên và Bồi dưỡng nghiệp vụ.

​     Quyết định số 02/2020/QĐ-UBND có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 04 năm 2021 và thay thế Quyết định số 52/2015/QĐ-UBND ngày 30 tháng 11 năm 2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ​ chức của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Dương./.

FalseTrần Thị Kim Yến
Mức chi và thời gian được hưởng hỗ trợ kinh phí phục vụ công tác bầu cử  đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp  nhiệm kỳ 2021 - 2026 trên địa bàn tỉnh Bình DươngTin ngành tư phápMức chi và thời gian được hưởng hỗ trợ kinh phí phục vụ công tác bầu cử  đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp  nhiệm kỳ 2021 - 2026 trên địa bàn tỉnh Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
3/31/2021 4:00 PMNoĐã ban hành

Để đảm bảo kinh phí cho công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Dương đã thông qua Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐND về Quy định mức chi và thời gian được hưởng hỗ trợ kinh phí phục vụ công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 trên địa bàn tỉnh Bình Dương tại kỳ họp chuyên đề ngày 18 tháng 3 năm 2021.

I. NỘI DUNG CHI VÀ MỨC CHI

1. Cấp tỉnh

a) Chi tổ chức các hội nghị thực hiện theo quy định tại Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐND ngày 20/7/2018 của Hội đồng nhân dân tỉnh về mức chi công tác phí, chi hội nghị trên địa bàn tỉnh Bình Dương và Thông tư số 40/2017/TT-BTC ngày 28/4/2017 của Bộ Tài chính quy định chế độ công tác phí, chế độ chi hội nghị.

Chi tổ chức tập huấn cho cán bộ tham gia phục vụ công tác tổ chức bầu cử thực hiện theo quy định tại Quyết định số 25/2018/QĐ-UBND ngày 27/9/2018 của UBND tỉnh Bình Dương ban hành Quy định về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức tỉnh Bình Dương.

Riêng Hội nghị triển khai và Hội nghị tổng kết công tác bầu cử: vận dụng mức chi tiền ăn cho đại biểu (đại biểu hưởng lương không thanh toán tiền công tác phí): với mức chi là 200.000 đồng/người/ngày. 

b) Chi bồi dưỡng các cuộc họp của Ban chỉ đạo bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (Ban chỉ đạo bầu cử), Ủy ban bầu cử, Tiểu ban thuộc Ủy ban bầu cử, Tổ giúp việc Ban Chỉ đạo bầu cử, Tổ công tác giúp việc Ủy ban bầu cử, Ban bầu cử, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (UBMTTQVN) tỉnh và các cuộc họp khác phục vụ công tác bầu cử:

- Chủ trì cuộc họp: 150.000 đồng/người/buổi;     

- Thành viên tham dự: 100.000 đồng/người/buổi (riêng các cuộc họp khác thành viên dự họp là 80.000 đồng/người/buổi).

- Các đối tượng phục vụ: 50.000 đồng/người/buổi.

c) Chi công tác chỉ đạo, kiểm tra, giám sát bầu cử của Ủy ban bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh, các Tiểu ban thuộc Ủy ban bầu cử, UBMTTQVN tỉnh:

Ngoài chế độ thanh toán công tác phí theo quy định hiện hành, các đoàn công tác được chi bồi dưỡng như sau:

- Trưởng đoàn giám sát: 150.000 đồng/người/buổi;

- Thành viên chính thức của đoàn giám sát: 80.000 đồng/người/buổi;

- Cán bộ, công chức, viên chức phục vụ Đoàn giám sát:

 + Phục vụ trực tiếp Đoàn giám sát: 60.000 đồng /người/buổi,

+ Phục vụ gián tiếp Đoàn giám sát (lái xe, bảo vệ lãnh đạo): 50.000 đồng /người/buổi.

d) Chi xây dựng báo cáo kết quả kiểm tra, giám sát:

-  Báo cáo tổng hợp kết quả của từng đoàn công tác: 500.000 đồng/báo cáo;

- Báo cáo tổng hợp kết quả của đợt kiểm tra, giám sát trình Ủy ban bầu cử: 1.000.000 đồng/báo cáo.

đ) Chi xây dựng văn bản (Kế hoạch, văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, báo cáo sơ kết, biên bản kết quả cuộc bầu cử): mức chi 2.000.000 đồng/văn bản (văn bản tính đến sản phẩm cuối cùng, bao gồm cả tiếp thu chỉnh lý).

Riêng báo cáo tổng kết cuộc bầu cử báo cáo HĐND tỉnh, mức  chi  3.200.000 đồng/báo cáo.

e) Chi bồi dưỡng cho những người trực tiếp phục vụ trong đợt bầu cử

- Ban chỉ đạo bầu cử

+ Trưởng ban, Phó trưởng ban: 2.200.000 đồng/người/tháng.

+ Các thành viên: 2.000.000 đồng/người/tháng.

- Ủy ban bầu cử

+ Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên thường trực: 2.000.000 đồng/người/tháng;

+ Các thành viên: 1.700.000 đồng/người/tháng.

- Tiểu ban thuộc Ủy ban bầu cử, Tổ giúp việc Ban Chỉ đạo bầu cử của tỉnh, Tổ công tác giúp việc Ủy ban bầu cử

+ Trưởng tiểu ban, Phó trưởng tiểu ban, Thư ký; Tổ trưởng, Tổ phó Tổ công tác giúp việc: 1.800.000 đồng/người/tháng;

+ Các thành viên: 1.600.000 đồng/người/tháng.

- Ban bầu cử:

+ Trưởng ban, Phó trưởng ban, Thư ký: 1.600.000 đồng/người/tháng;

+  Các thành viên: 1.400.000 đồng/người/tháng.

- Cán bộ trưng tập: các đối tượng được huy động, trưng tập trực tiếp phục vụ công tác bầu cử (không bao gồm những ngày tham gia đoàn kiểm tra, giám sát; phục vụ tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo về bầu cử, ngày trước ngày bầu cử và ngày bầu cử) bồi dưỡng với mức chi 100.000 đồng/người/ngày, thời gian hưởng không quá 15 ngày.

Trường hợp thời gian huy động, trưng tập trực tiếp phục vụ công tác bầu cử lớn hơn 15 ngày, thực hiện chi bồi dưỡng theo mức chi tối đa: 1.500.000 đồng/người/tháng trên cơ sở quyết định, văn bản huy động, trưng tập được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

- Riêng 02 ngày (ngày trước ngày bầu cử và ngày bầu cử) đối với tất cả các lực lượng trực tiếp tham gia phục vụ bầu cử (làm ngoài giờ ngày thứ bảy, chủ nhật): mức chi 60.000 đồng/giờ.

g) Chi khoán hỗ trợ cước điện thoại di động.

Các thành viên của Ban chỉ đạo bầu cử, Ủy ban bầu cử, Tiểu ban thuộc Ủy ban bầu cử, Tổ giúp việc Ban Chỉ đạo bầu cử, Tổ công tác giúp việc Ủy ban bầu cử, Ban bầu cử, Ban chỉ đạo công tác bầu cử của UBMTTQVN: Mức chi 400.000 đồng/người/tháng;

Trong trường hợp cần thiết, Ủy viên thường trực Ủy ban bầu cử hoặc Chủ tịch UBMTTQVN tỉnh (đối với trường hợp thuộc UBMTTQ) quyết định danh sách cán bộ được hỗ trợ cước điện thoại di động nhưng không quá 200.000 đồng/người/tháng.

h) Chi tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo về bầu cử

- Người trực tiếp việc tiếp công dân: 70.000 đồng/người/buổi;

- Người phục vụ trực tiếp việc tiếp công dân: 50.000 đồng/người/buổi;

- Người phục vụ gián tiếp việc tiếp công dân: 30.000 đồng/người/buổi.

i) Chi đóng thùng phiếu: trường hợp thùng phiếu cũ không thể sử dụng, hoặc cần bổ sung, mức chi tối đa: 350.000 đồng/thùng.

k) Chi khắc dấu: trường hợp dấu cũ không thể sử dụng, hoặc cần phải bổ sung, mức chi tối đa 250.000 đồng/dấu.

l) Chi bảng niêm yết danh sách bầu cử: trường hợp chưa có bảng niêm yết, hoặc bảng cũ không thể sử dụng, hoặc cần phải bổ sung, mức chi tối đa 1.500.000 đồng/bảng.

m) Chi xây dựng, cập nhật, vận hành trang thông tin điện tử về công tác bầu cử của Ủy ban Bầu cử tỉnh: theo Quyết định số 16/2016/QĐ-UBND ngày 23/6/2016 của  UBND tỉnh về việc ban hành quy định về chế độ nhuận bút, thù lao đối Cổng/trang thông tin điện tử, Bản tin của các cơ quan, đơn vị và hệ thống Đài truyền thanh trên địa bàn tỉnh Bình Dương và các văn bản quy định pháp luật hiện hành.

n) Chi công tác tuyên truyền, in ấn: thực hiện theo quy định hiện hành về đấu thầu.

o) Chi thiết bị phục vụ cơ quan thường trực Ủy ban bầu cử: thực hiện theo đúng định mức, chế độ, chi tiêu hiện hành trong phạm vi dự toán ngân sách giao cho Sở Nội vụ.

2. Cấp huyện (bao gồm huyện, thị xã, thành phố)

a) Chi tổ chức các hội nghị thực hiện theo quy định tại Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐND và Thông tư số 40/2017/TT-BTC.

Chi tổ chức tập huấn cho cán bộ tham gia phục vụ công tác tổ chức bầu cử thực hiện theo quy định tại Quyết định số 25/2018/QĐ-UBND.

Riêng Hội nghị triển khai và Hội nghị tổng kết công tác bầu cử tại các huyện, thị xã, thành phố: vận dụng mức chi tiền ăn cho đại biểu (đại biểu hưởng lương không thanh toán tiền công tác phí): mức chi là 150.000 đồng/người/ngày. 

b) Chi bồi dưỡng thành viên tham dự các cuộc họp của Ban chỉ đạo bầu cử, Ủy ban bầu cử, Tiểu ban thuộc Ủy ban bầu cử, Ban bầu cử, Ủy ban Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam cấp huyện và các cuộc họp khác phục vụ công tác bầu cử:

- Chủ trì: 100.000 đồng/người/buổi.

- Thành viên: 80.000 đồng/người/buổi

c) Chi công tác chỉ đạo, kiểm tra, giám sát bầu cử của Ủy ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, UBMTTQVN cấp huyện:

Ngoài chế độ thanh toán công tác phí theo quy định hiện hành, các đoàn công tác được chi bồi dưỡng như sau:

- Trưởng đoàn giám sát: 100.000 đồng/người/buổi;

- Thành viên chính thức của đoàn giám sát: 60.000 đồng/người/buổi;

- Cán bộ, công chức, viên chức phục vụ Đoàn giám sát

+  Phục vụ trực tiếp đoàn giám sát: 40.000 đồng /người/buổi;

+ Phục vụ gián tiếp đoàn giám sát (lái xe, bảo vệ lãnh đạo): 30.000 đồng /người/buổi.

d) Chi tổng hợp báo cáo kết quả kiểm tra từng đoàn công tác; báo cáo tổng hợp kết quả của đợt kiểm tra, giám sát trình Ủy ban bầu cử: 400.000 đồng/báo cáo.

đ) Chi xây dựng văn bản (Kế hoạch, văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, báo cáo sơ kết, biên bản kết quả cuộc bầu cử): Mức chi 1.000.000 đồng/văn bản (văn bản tính đến sản phẩm cuối cùng, bao gồm cả tiếp thu chỉnh lý).

Riêng báo cáo tổng kết cuộc bầu cử báo cáo Hội đồng nhân dân mức chi 2.500.000 đồng/báo cáo.

e) Chi bồi dưỡng cho những người trực tiếp phục vụ trong đợt bầu cử

- Ban chỉ đạo bầu cử

+ Trưởng ban, Phó trưởng ban: 2.000.000 đồng/người/tháng.

+ Các thành viên: 1.700.000 đồng/người/tháng.

- Ủy ban bầu cử

+ Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên thường trực: 1.500.000 đồng/người/tháng;

+ Các thành viên: 1.300.000 đồng/người/tháng.

- Tiểu ban thuộc Ủy ban bầu cử

+ Trưởng tiểu ban, Phó trưởng tiểu ban, Thư ký: 1.400.000 đồng/người/tháng;

+ Các thành viên: 1.200.000 đồng/người/tháng.

-  Ban bầu cử

+ Trưởng ban, Phó trưởng ban, Thư ký: 1.300.000 đồng/người/tháng;

+ Các thành viên: 1.100.000 đồng/người/tháng.

- Cán bộ trưng tập: các đối tượng được huy động, trưng tập trực tiếp phục vụ công tác bầu cử (không bao gồm những ngày tham gia đoàn kiểm tra, giám sát; phục vụ tiếp dân) bồi dưỡng với mức chi 50.000 đồng/người/ngày.

Trường hợp thời gian huy động, trưng tập trực tiếp phục vụ công tác bầu cử lớn hơn 15 ngày, thực hiện chi bồi dưỡng theo mức chi tối đa: 750.000 đồng/người/tháng trên cơ sở quyết định, văn bản huy động, trưng tập được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

- Riêng 02 ngày (ngày trước ngày bầu cử và ngày bầu cử) đối với tất cả các lực lượng trực tiếp tham gia phục vụ bầu cử (làm ngoài giờ ngày thứ bảy, chủ nhật): mức chi 60.000 đồng/giờ.

g) Chi khoán hỗ trợ cước điện thoại di động

Các thành viên của Ban chỉ đạo bầu cử, Ủy ban bầu cử, Tiểu ban thuộc Ủy ban bầu cử, Ban bầu cử, Ban chỉ đạo công tác bầu cử của UBMTTQVN: 250.000 đồng/người/tháng;

Trong trường hợp cần thiết, Ủy viên thường trực Ủy ban bầu cử hoặc Chủ tịch Ủy ban Mặt trận tổ quốc cấp huyện (đối với trường hợp thuộc UBMTTQ) quyết định danh sách cán bộ được hỗ trợ cước điện thoại di động nhưng không quá 100.000 đồng/người/tháng.

h) Chi tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo về bầu cử

- Người trực tiếp việc tiếp công dân: 50.000 đồng/người/buổi;

- Người phục vụ trực tiếp việc tiếp công dân: 30.000 đồng/người/buổi;

- Người phục vụ gián tiếp việc tiếp công dân: 20.000 đồng/người/buổi.

3. Mức chi cấp xã (bao gồm xã, phường, thị trấn)

a) Chi tổ chức các hội nghị thực hiện theo quy định tại Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐND và Thông tư số 40/2017/TT-BTC.

Chi tổ chức tập huấn cho cán bộ tham gia phục vụ công tác tổ chức bầu cử thực hiện theo quy định tại Quyết định số 25/2018/QĐ-UBND.

Riêng Hội nghị triển khai và Hội nghị tổng kết công tác bầu cử tại cấp xã vận dụng mức chi tiền ăn cho đại biểu (đại biểu hưởng lương không thanh toán tiền công tác phí): mức chi là 150.000 đồng/người/ngày. 

b) Chi bồi dưỡng thành viên tham dự các cuộc họp của Ban chỉ đạo bầu cử, Ủy ban bầu cử, Tiểu ban thuộc Ủy ban bầu cử, Ban bầu cử, UBMTTQVN cấp xã và các cuộc họp khác phục vụ công tác bầu cử:

- Chủ trì: 80.000 đồng/người/buổi.

- Thành viên: 50.000 đồng/người/buổi.

c) Chi công tác chỉ đạo, kiểm tra, giám sát bầu cử của Ủy ban bầu cử đại biểu HĐND, UBMTTQVN cấp xã:

Ngoài chế độ thanh toán công tác phí theo quy định hiện hành, các đoàn công tác được chi bồi dưỡng như sau:

- Trưởng đoàn giám sát: 70.000 đồng/người/buổi;

- Thành viên chính thức của đoàn giám sát: 40.000 đồng/người/buổi;

- Cán bộ, công chức phục vụ đoàn giám sát: 30.000 đồng/người/buổi.

d) Chi tổng hợp báo cáo kết quả kiểm tra từng đoàn công tác; báo cáo tổng hợp kết quả của đợt kiểm tra, giám sát trình Ủy ban bầu cử: 200.000 đồng/báo cáo.

đ) Chi xây dựng văn bản (Kế hoạch, văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, báo cáo sơ kết, biên bản kết quả cuộc bầu cử): mức chi 500.000 đồng/văn bản (văn bản tính đến sản phẩm cuối cùng, bao gồm cả tiếp thu chỉnh lý).

Riêng báo cáo tổng kết cuộc bầu cử báo cáo HĐND cấp xã mức chi 1.800.000 đồng/báo cáo.

e) Chi bồi dưỡng cho những người trực tiếp phục vụ trong đợt bầu cử

- Ban chỉ đạo bầu cử

+ Trưởng ban, Phó trưởng ban: 1.500.000 đồng/người/tháng.

+ Các thành viên: 1.000.000 đồng/người/tháng.

- Ủy ban bầu cử

+ Chủ tịch, Phó chủ tịch, Ủy viên thường trực: 800.000 đồng/người/tháng;

+ Các thành viên: 600.000 đồng/người/tháng.

- Tiểu ban thuộc Ủy ban bầu cử

+ Trưởng Tiểu ban, Phó trưởng Tiểu ban, Thư ký: 700.000 đồng/người/tháng;

+ Các thành viên: 500.000 đồng/người/tháng.

- Ban bầu cử

+ Trưởng ban, Phó trưởng ban, Thư ký: 600.000 đồng/người/tháng;

+ Các thành viên: 400.000 đồng/người/tháng.

- Cán bộ trưng tập: các đối tượng được huy động, trưng tập trực tiếp phục vụ công tác bầu cử (không bao gồm những ngày tham gia đoàn kiểm tra, giám sát; phục vụ tiếp dân) bồi dưỡng với mức chi 50.000 đồng/người/ngày.

Trường hợp thời gian huy động, trưng tập trực tiếp phục vụ công tác bầu cử lớn hơn 15 ngày, thực hiện chi bồi dưỡng theo mức chi tối đa: 750.000 đồng/người/tháng trên cơ sở quyết định, văn bản huy động, trưng tập được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

- Riêng 02 ngày (ngày trước ngày bầu cử và ngày bầu cử) đối với tất cả các lực lượng trực tiếp tham gia phục vụ bầu cử (làm ngoài giờ ngày thứ bảy, chủ nhật): mức chi 60.000 đồng/giờ.

  g) Chi khoán hỗ trợ cước điện thoại di động

Các thành viên của Ban chỉ đạo bầu cử, Ủy ban bầu cử, Tiểu ban thuộc Ủy ban bầu cử, Ban bầu cử, Ban chỉ đạo công tác bầu cử của UBMTTQVN: 250.000 đồng/người/tháng;

Trong trường hợp cần thiết, Ủy viên thường trực Ủy ban bầu cử hoặc Chủ tịch UBMTTQ cấp xã (đối với trường hợp thuộc UBMTTQ) quyết định danh sách cán bộ được hỗ trợ cước điện thoại di động nhưng không quá 80.000 đồng/người/tháng.

h) Chi tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo về bầu cử:

- Người trực tiếp việc tiếp công dân: 50.000 đồng/người/buổi;

- Người phục vụ trực tiếp việc tiếp công dân: 30.000 đồng/người/buổi;

- Người phục vụ gián tiếp việc tiếp công dân: 20.000 đồng/người/buổi.

4. Tổ bầu cử

- Bồi dưỡng thành viên Tổ bầu cử: mức chi 300.000 đồng/người/tháng.

- Kinh phí hoạt động tổ bầu cử (trang trí, văn phòng phẩm, tampong, mực dấu, điện nước, thuê rạp che, nước uống...): mức chi tối đa 3.000.000 đồng/tổ.

5. Các nội dung chi khác thực hiện theo quy định pháp luật hiện hành.

II. THỜI GIAN HƯỞNG HỖ TRỢ

1. Thời gian hưởng chế độ bồi dưỡng phục vụ công tác bầu cử

- Ban Chỉ đạo bầu cử các cấp, Ủy ban bầu cử các cấp: tối đa không quá 05 tháng

- Tiểu ban thuộc Ủy ban bầu cử các cấp, Tổ giúp việc Ban chỉ đạo bầu cử, Tổ công tác giúp việc Ủy ban bầu cử: tối đa không quá 04 tháng

- Ban Bầu cử các cấp: tối đa không quá 03 tháng

- Tổ Bầu cử: tối đa không quá 02 tháng

2. Thời gian hưởng hỗ trợ cước điện thoại di động

- Ban chỉ đạo bầu cử các cấp, Ủy ban bầu cử các cấp, Ban chỉ đạo công tác bầu cử của UBMTTQ các cấp: tối đa không quá 05 tháng

- Tiểu ban thuộc Ủy ban bầu cử các cấp, Tổ giúp việc Ban chỉ đạo bầu cử của tỉnh, Tổ công tác giúp việc Ủy ban bầu cử: tối đa không quá 04 tháng

- Ban Bầu cử các cấp và các trường hợp khác: tối đa không quá 03 tháng.

3. Thời gian hưởng hỗ trợ tính theo thời gian thực tế phục vụ công tác bầu cử (theo tháng tròn) trên cơ sở quyết định thành lập được cấp có thẩm quyền quyết định. ​

Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Dương khóa IX, kỳ họp thứ 18 (chuyên đề) thông qua ngày 16 tháng 3 năm 2021 và có hiệu lực kể từ ngày thông qua./.

 Huỳnh Hữu Tốt

NQ_KINH_PHI_BAU_CU-ky.pdf

FalseHuỳnh Hữu Tốt
Bộ Tư pháp hướng dẫn triển khai thực hiện  Chỉ số cải thiện các quy định của pháp luật Thông tin; Văn bản nghiệp vụ; Chương trình, kế hoạch công tácTinBộ Tư pháp hướng dẫn triển khai thực hiện  Chỉ số cải thiện các quy định của pháp luật /Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
3/26/2021 11:00 AMNoĐã ban hành

       Thực hiện nhiệm vụ "Cải thiện Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định của pháp luật thuộc Bộ chỉ số Đổi mới sáng tạo (GII)" được Chính phủ giao chủ trì thực hiện tại Phụ lục IV Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP ngày 06/02/2017 và các nghị quyết của Chính phủ năm 2018, 2019, 2020, 2021 về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

       Ngày 15/3/2021, Bộ Tư pháp đã ban hành Công văn số 686/BTP-VĐCXDPL về việc hướng dẫn triển khai thực hiện Chỉ số cải thiện các quy định của pháp luật; theo đó, Bộ Tư pháp hướng dẫn triển khai đến các các bộ, ngành và địa phương, gồm 05 nội dung chính sau:

      1. Chỉ đạo, điều hành, phân công nhiệm vụ cụ thể cho các cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc phạm vi quản lý thực hiện đầy đủ, kịp thời, đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp để cải thiện chất lượng các quy định của pháp luật do bộ, ngành, địa phương ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành theo quy định. Tiếp tục siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, phân công rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân trong việc nghiên cứu, soạn thảo, trình văn bản. Thường xuyên kiểm tra, kiểm điểm rõ trách nhiệm và có hình thức xử lý trách nhiệm đối với đơn vị, cá nhân để xảy ra tình trạng chậm tiến độ và không bảo đảm chất lượng văn bản; cương quyết không xem xét khen thưởng các tổ chức, cá nhân đề xảy ra tình trạng nợ ban hành văn bản.

       2. Tiếp tục chú trọng, đầu tư nguồn lực thỏa đáng cho công tác soạn thảo, trình các dự án luật, pháp lệnh thuộc Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2021, nhất là các dự án về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Tập trung nguồn lực để tổ chức soạn thảo văn bản quy định chi tiết đảm bảo chất lượng, đúng thời hạn theo quyết định phân công của Thủ tướng Chính phủ.

       3. Tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật không rõ ràng, không cụ thể, không khả thi, cản trở điều kiện đầu tư, kinh doanh, gây khó khăn, phiền hà cho doanh nghiệp, trong đó đặc biệt quan tâm, chú trọng đến việc cắt giảm, đơn giản hóa quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh theo tinh thần Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 12/5/2020 của Chính phủ về Ban hành Chương trình cắt giảm, đơn giản hóa quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh giai đoạn 2020 - 2025; kiểm soát chặt chẽ việc xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định điều kiện đầu kinh doanh, thủ tục hành chính trên tinh thần cắt giảm chi phí tuân thủ pháp luật.

       4. Bảo đảm nguồn lực về biên chế, kinh phí cho công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật. Chú trọng kiện toàn tổ chức pháp chế, tổ chức làm công tác xây dựng pháp luật; nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn của đội ngũ công chức làm công tác xây dựng pháp luật, pháp chế theo hướng chuyên nghiệp và hiện đại, đáp ứng các yêu cầu công việc.

       5. Thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo về kết quả thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp cải thiện chất lượng các quy định của pháp luật theo tinh thần Nghị quyết số 02/NQ-CP năm 2021 của Chính phủ./.

(Chi tiết công văn xem tại đây cong-van-686-btp-vdcxdpl.pdf)

9dd11bf6327e4923b96a6f33b21f33d4-0001.jpg

FalseLê Thị Phương
Quy định mới về khung thù lao dịch vụ đấu giá tài sảnChương trình, kế hoạch công tác; Văn bản nghiệp vụ; Văn bản QPPL; Thông tinTinQuy định mới về khung thù lao dịch vụ đấu giá tài sản/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
3/24/2021 10:00 AMNoĐã ban hành

      Ngày 21/12/2020, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 108/2020/TT-BTC về sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 45/2017/TT-BTC ngày 12/5/2017 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định khung thù lao dịch vụ đấu giá tài sản theo quy định tại Luật đấu giá tài sản. Thông tư số 108/2020/TT-BTC đã sửa đổi, bổ sung Điều 3, Khoản 3 Điều 4 và thay thế các Phụ lục số 1, Phụ lục số 2 ban hành kèm theo Thông tư số 45/2017/TT-BTC. Theo đó, khung thù lao dịch vụ đấu giá tài sản đã được điều chỉnh tăng so với quy định hiện nay; cụ thể:

      Nếu như theo Thông tư số 45/2017/TT-BTC thì mức thù lao tối đa tương ứng từng khung giá trị tài sản theo giá khởi điểm theo quy định nhưng không vượt quá 300.000.000 đồng/01 hợp đồng (Ba trăm triệu đồng/một hợp đồng), còn theo Thông tư số 108/2020/TT-BTC mức thù lao tối đa tương ứng từng khung giá trị tài sản theo giá khởi điểm theo quy định nhưng không vượt quá 400.000.000 đồng/01 hợp đồng (Bốn trăm triệu đồng/một hợp đồng).

      Mức tối đa thù lao dịch vụ đấu giá tài sản tương ứng khung giá trị tài sản theo giá khởi điểm đối với tài sản quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật Đấu giá tài sản năm 2016 cũng có sự thay đổi so với quy định trước đây.

       Thông tư số 108/2020/TT-BTC có hiệu lực thi hành từ ngày 04/02/2021. Đối với các hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản đã được ký kết trước ngày Thông tư này có hiệu lực thì tiếp tục thực hiện theo quy định tại Thông tư số 45/2017/TT-BTC  cho đến khi kết thúc hợp đồng./.

Thông tư số 1082020TT-BTC.pdf

FalseHuỳnh Hữu Tốt
Quy định về mẫu thẻ, trình tự, thủ tục cấp mới, cấp lại thẻ  giám định viên tư phápChương trình, kế hoạch công tác; Thông tin; Văn bản QPPL; Văn bản nghiệp vụTinQuy định về mẫu thẻ, trình tự, thủ tục cấp mới, cấp lại thẻ  giám định viên tư pháp/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
3/24/2021 10:00 AMNoĐã ban hành

​     Ngày 31/12/2020, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư 11/2020/TT-BTP quy định về mẫu thẻ, trình tự, thủ tục cấp mới, cấp lại thẻ giám định viên tư pháp. Thông tư này áp dụng đối với giám định viên tư pháp; các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc cấp và quản lý thẻ giám định viên tư pháp.

     Theo Thông tư số 11/2020/TT-BTP, thẻ giám định viên tư pháp được cấp cho giám định viên tư pháp để sử dụng khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của giám định viên tư pháp. Giám định viên tư pháp có trách nhiệm bảo quản, giữ gìn thẻ được cấp; không được tẩy, xóa, sửa chữa, cho mượn; không sử dụng thẻ vào mục đích không thuộc quy định nêu trên.

      Thẻ giám định viên tư pháp hình chữ nhật, chiều dài 90 mm, chiều rộng 65 mm, độ dày 0,76 mm, được dán ép bằng màng dán Plastic, gồm hai mặt: Nền mặt trước là hình ảnh trống đồng và các hoa văn, các họa tiết trang trí, màu vàng; nền mặt sau màu đỏ cờ. Con dấu trên thẻ giám định viên tư pháp là con dấu có hình Quốc huy thu nhỏ của cơ quan có thẩm quyền cấp thẻ giám định viên tư pháp, mực dấu màu đỏ, ảnh của giám định viên tư pháp dán trên thẻ được đóng giáp lai bằng dấu nổi (ở ¼ dưới góc phải ảnh).

     Bên cạnh đó, Bộ ban hành 08 mẫu thẻ, mẫu giấy tờ sử dụng trong việc bổ nhiệm và cấp thẻ giám định viên tư pháp; Mã số bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc cấp thẻ giám định viên tư pháp, trong đó, tỉnh Đồng Nai mã số 45.

     Thông tư số 11/2020/TT-BTP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 14/02/2021./.

Thongtu11-2020.pdf

FalseHuỳnh Hữu Tốt
Quy định về phí thẩm định điều kiện thành lập, hoạt động  Văn phòng Thừa phát lạiVăn bản QPPL; Văn bản nghiệp vụ; Thông tin; Chương trình, kế hoạch công tácTinQuy định về phí thẩm định điều kiện thành lập, hoạt động  Văn phòng Thừa phát lại/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
3/24/2021 10:00 AMNoĐã ban hành

Ngày 20/01/2021, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 05/2021/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 223/2016/TT-BTC ngày 10/11/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thẩm định tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề thừa phát lại; phí thẩm định điều kiện thành lập, hoạt động Văn phòng Thừa phát lại.

Theo đó, Thừa phát lại khi nộp hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng Thừa phát lại, đề nghị thay đổi nội dung đăng ký hoạt động Văn phòng Thừa phát lại phải nộp phí thẩm định điều kiện thành lập, hoạt động Văn phòng Thừa phát lại theo quy định tại Thông tư này, cụ thể như sau:

- Phí thẩm định điều kiện thành lập và cấp Giấy đăng ký hoạt động Văn phòng Thừa phát lại: 1.000.000 đồng/hồ sơ;

- Phí thẩm định cấp Giấy đăng ký hoạt động Văn phòng Thừa phát lại trong trường hợp thay đổi nội dung đăng ký hoạt động: 500.000 đồng/hồ sơ.

Thông tư số 05/2021/TT-BTC đã quy định 02 mức thu phí thẩm định đối với điều kiện thành lập, hoạt động Văn phòng Thừa phát lại so với quy định trước đây tại Thông tư số 223/2016/TT-BTC có 01 mức thu phí chung là 1.000.000 đồng/hồ sơ.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 06/3/2021./.

TT 05-BTC.signed.pdf

FalseHuỳnh Hữu Tốt
​Quyền bầu cử theo quy định của Hiến pháp năm 2013NewThông tinTin​Quyền bầu cử theo quy định của Hiến pháp năm 2013/CMSImageNew/2021-06/z2573087127593_2507b174174c9a4bdbb6023e2eb3ceaa_Key_24062021220145.jpg
3/1/2021 10:00 PMNoĐã ban hành

      Quyền bầu cử là một quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp. Hiến pháp năm 2013 quy định các nội dung cơ bản nhất liên quan đến công tác bầu cử như sau:

z2573087127593_2507b174174c9a4bdbb6023e2eb3ceaa.jpg

      Thứ nhất, về nguyên tắc bầu cử, khoản 1 Điều 7 Hiến pháp 2013 quy định: "Việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín".

      Thứ hai, về quyền bầu cử của công dân, Điều 27 của Hiến pháp 2013 quy định: "Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân"

      Thứ ba, về bầu Hội đồng nhân dân các cấp, khoản 1 Điều 123 Hiến pháp 2013 quy định: "Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân địa phương, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên".

      Thứ tư, về Hội đồng Bầu cử Quốc gia, Điều 117  Hiến pháp 2013 quy định: "Hội đồng bầu cử quốc gia là cơ quan do Quốc hội thành lập, có nhiệm vụ tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội; chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp".

Các nội dung quy định nêu trên chính là nội dung cốt lõi nhất, là cơ sở pháp lý cho các quy định pháp luật khác liên quan đến công tác bầu cử./.

 

FalseTrần Thị Kim Yến
Ban hành Danh mục Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh quy định chi tiết các nội dung được giao trong các luật được Quốc hội khóa XIV  thông qua tại kỳ họp thứ 10Thông tinBan hành Danh mục Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh quy định chi tiết các nội dung được giao trong các luật được Quốc hội khóa XIV  thông qua tại kỳ họp thứ 10/CMSImageNew/2021-03/qd 500_Key_10032021101059.PNG
2/23/2021 11:00 AMNoĐã ban hành

​Ngày 22 tháng 02 năm 2021, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Bình Dương đã ban hành Quyết định số 500/QĐ-UBND Ban hành Danh mục Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh quy định chi tiết các nội dung được giao trong các luật được Quốc hội khóa XIV  thông qua tại kỳ họp thứ 10. Theo đó, ban hành 01 danh mục về Quy định bảo vệ môi trường tỉnh Bình Dương. Trong đó quy định chi tiết 17 nội dung trong lĩnh vực bảo vệ môi trường theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường 2020.

Căn cứ Quyết định này, sở, ngành được phân công chủ trì soạn thảo văn bản có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan nghiên cứu, xây dựng dự thảo Quyết định của UBND tỉnh quy định chi tiết các nội dung được giao trong các luật, đảm bảo chất lượng, tiến độ soạn thảo, thời hạn trình văn bản. Trong quá trình thực hiện, nếu cần điều chỉnh, bổ sung Quyết định này, các cơ quan, đơn vị có văn bản đề nghị nêu rõ cơ sở pháp lý, thời gian thực hiện gửi về Sở Tư pháp để tổng hợp, báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh xem xét quyết định.

500-QD.signed.pdf

FalseĐào Thị Quyên
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 - 2025Thông tinChính phủ ban hành Nghị định quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 - 2025/CMSImageNew/2021-02/NĐ 07_Key_22022021102810.PNG
2/22/2021 11:00 AMNoĐã ban hành

​Ngày 27 tháng 01 năm 2021, Chính phủ ban hành Nghị định số 07/2021/NĐ-CP về chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 - 2025​. Theo đó:

 Từ ngày 01 tháng 01 năm 2021 tiếp tục thực hiện chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 - 2020 theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg  ngày 19 tháng 11 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ. Chuẩn nghèo theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg là căn cứ để đo lường và giám sát mức độ thiếu hụt về thu nhập và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân; là cơ sở xác định đối tượng để thực hiện các chính sách giảm nghèo, an sinh xã hội và hoạch định các chính sách kinh tế - xã hội khác năm 2021.

1) Các tiêu chí đo lường nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025

a) Tiêu chí thu nhập

- Khu vực nông thôn: 1.500.000 đồng/người/tháng.

- Khu vực thành thị: 2.000.000 đồng/người/tháng.

b) Tiêu chí mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản

- Các dịch vụ xã hội cơ bản (06 dịch vụ), gồm: việc làm; y tế; giáo dục; nhà ở; nước sinh hoạt và vệ sinh; thông tin.

- Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản (12 chỉ số), gồm: việc làm; người phụ thuộc trong hộ gia đình; dinh dưỡng; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; phương tiện phục vụ tiếp cận thông tin.

c) Dịch vụ xã hội cơ bản, chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản và ngưỡng thiếu hụt quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này.

2) Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình giai đoạn 2022 - 2025

a) Chuẩn hộ nghèo

- Khu vực nông thôn: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 1.500.000 đồng trở xuống và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.

- Khu vực thành thị: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 2.000.000 đồng trở xuống và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.

b) Chuẩn hộ cận nghèo

- Khu vực nông thôn: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 1.500.000 đồng trở xuống và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản.

- Khu vực thành thị: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 2.000.000 đồng trở xuống và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản.

c) Chuẩn hộ có mức sống trung bình

- Khu vực nông thôn: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.500.000 đồng đến 2.250.000 đồng.

- Khu vực thành thị: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.

d) Chuẩn hộ nghèo, chuẩn hộ cận nghèo, chuẩn hộ có mức sống trung bình quy định nêu trên là căn cứ để đo lường và giám sát mức độ thiếu hụt về thu nhập và dịch vụ xã hội cơ bản của người dân; là cơ sở xác định đối tượng để thực hiện các chính sách giảm nghèo, an sinh xã hội và hoạch định các chính sách kinh tế - xã hội khác giai đoạn 2022 - 2025.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 3 năm 2021.​

​​


FalseĐào Thị Quyên
Quy định về mẫu thẻ, trình tự, thủ tục cấp mới, cấp lại thẻ  giám định viên tư phápThông tinQuy định về mẫu thẻ, trình tự, thủ tục cấp mới, cấp lại thẻ  giám định viên tư pháp/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
2/19/2021 3:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 31/12/2020, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư 11/2020/TT-BTP quy định về mẫu thẻ, trình tự, thủ tục cấp mới, cấp lại thẻ giám định viên tư pháp. Thông tư này áp dụng đối với giám định viên tư pháp; các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc cấp và quản lý thẻ giám định viên tư pháp.

Theo Thông tư số 11/2020/TT-BTP, thẻ giám định viên tư pháp được cấp cho giám định viên tư pháp để sử dụng khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của giám định viên tư pháp. Giám định viên tư pháp có trách nhiệm bảo quản, giữ gìn thẻ được cấp; không được tẩy, xóa, sửa chữa, cho mượn; không sử dụng thẻ vào mục đích không thuộc quy định nêu trên.

Thẻ giám định viên tư pháp hình chữ nhật, chiều dài 90 mm, chiều rộng 65 mm, độ dày 0,76 mm, được dán ép bằng màng dán Plastic, gồm hai mặt: Nền mặt trước là hình ảnh trống đồng và các hoa văn, các họa tiết trang trí, màu vàng; nền mặt sau màu đỏ cờ. Con dấu trên thẻ giám định viên tư pháp là con dấu có hình Quốc huy thu nhỏ của cơ quan có thẩm quyền cấp thẻ giám định viên tư pháp, mực dấu màu đỏ, ảnh của giám định viên tư pháp dán trên thẻ được đóng giáp lai bằng dấu nổi (ở ¼ dưới góc phải ảnh).

Bên cạnh đó, Bộ ban hành 08 mẫu thẻ, mẫu giấy tờ sử dụng trong việc bổ nhiệm và cấp thẻ giám định viên tư pháp; Mã số bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc cấp thẻ giám định viên tư pháp, trong đó, tỉnh Đồng Nai mã số 45.

Thông tư số 11/2020/TT-BTP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 14/02/2021.

Huỳnh Hữu Tốt​

Thongtu11-2020.pdf

FalseHuỳnh Hữu Tốt
Những quy định chung về bầu cử đại biểu Quốc hội  và đại biểu Hội đồng nhân dânVăn bản QPPL; Thông tinTinNhững quy định chung về bầu cử đại biểu Quốc hội  và đại biểu Hội đồng nhân dân/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
2/6/2021 3:00 PMNoĐã ban hành

​     Theo quy định Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, thì những quy định chung về bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, bao gồm:

     Về nguyên tắc bầu cử: Việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.

     Về tuổi bầu cử và tuổi ứng cử: Tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp.

     Về tiêu chuẩn của người ứng cử: Người ứng cử đại biểu Quốc hội phải đáp ứng các tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội quy định tại Luật tổ chức Quốc hội; người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân phải đáp ứng các tiêu chuẩn của đại biểu Hội đồng nhân dân quy định tại Luật tổ chức chính quyền địa phương.

     Về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong công tác bầu cử:

     - Quốc hội quyết định ngày bầu cử toàn quốc đối với cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội, bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; quyết định việc bầu cử bổ sung đại biểu Quốc hội trong thời gian giữa nhiệm kỳ; quyết định, thành lập Hội đồng bầu cử quốc gia.

      - Hội đồng bầu cử quốc gia tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội; chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.

     - Ủy ban thường vụ Quốc hội thực hiện việc dự kiến và phân bổ số lượng đại biểu Quốc hội được bầu; xác định cơ cấu, thành phần những người được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội; hướng dẫn việc xác định dự kiến cơ cấu, thành phần, phân bổ số lượng người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; tổ chức giám sát công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, bảo đảm cho việc bầu cử được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, an toàn, tiết kiệm.

     - Chính phủ chỉ đạo các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện công tác bầu cử theo quy định của pháp luật; tổ chức thực hiện các biện pháp bảo đảm kinh phí, hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí tổ chức bầu cử, bảo đảm công tác thông tin, tuyên truyền, an ninh, an toàn và các điều kiện cần thiết khác phục vụ cuộc bầu cử.

     - Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức hiệp thương lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; tham gia giám sát việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.

     - Ủy ban bầu cử ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội tại địa phương; Ủy ban bầu cử ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Ủy ban bầu cử ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, Ủy ban bầu cử ở xã, phường, thị trấn tổ chức bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã tương ứng; các Ban bầu cử, Tổ bầu cử thực hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp theo quy định.

     - Thường trực Hội đồng nhân dân dự kiến cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân của cấp mình; Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm giám sát, kiểm tra và thực hiện công tác bầu cử theo quy định pháp luật.

     - Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế có trách nhiệm tạo điều kiện để các tổ chức phụ trách bầu cử thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

     Về ngày bầu cử: Ngày bầu cử phải là ngày chủ nhật và được công bố chậm nhất là 115 ngày trước ngày bầu cử.

     Về kinh phí tổ chức bầu cử: Kinh phí tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân do ngân sách nhà nước bảo đảm./.​

FalsePhòng XD&KTVB
Phải có ít nhất 35% là nữ ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dânThông tinPhải có ít nhất 35% là nữ ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân/CMSImageNew/2021-06/ảnh 333_Key_23062021161056.PNG
2/5/2021 5:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 16 tháng 01 năm 2016, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 1132/NQ-UBTVQH13 hướng dẫn việc xác định dự kiến cơ cấu, thành phần và phân bổ số lượng người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 – 2021.

Nghị quyết gồm 03 điều, trong đó quy định việc xác định dự kiến cơ cấu, thành phần, phân bổ số lượng người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở mỗi đơn vị hành chính phải bảo đảm các tiêu chí sau đây:

a) Bảo đảm có ít nhất 35% tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân là phụ nữ;

b) Bảo đảm số lượng hợp lý người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân là người dân tộc thiểu số, phù hợp với đặc Điểm, cơ cấu dân số của từng địa phương; phấn đấu số đại biểu Hội đồng nhân dân được bầu là người dân tộc thiểu số không thấp hơn số đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2011-2016 là người dân tộc thiểu số ở đơn vị hành chính đó;

c) Phấn đấu đạt tỷ lệ người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân là người ngoài Đảng không dưới 10%; người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân là người dưới 35 tuổi không dưới 15% tổng số người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở từng cấp;

d) Phấn đấu có ít nhất 30% đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ trước tái cử đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2016-2021;

đ) Việc phân bổ số lượng người được giới thiệu ứng cử ở các đơn vị hành chính cấp dưới, các thôn, tổ dân phố cần bảo đảm tương quan hợp lý về dân số giữa các đơn vị này.

Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 16 tháng 01 năm 2016./.​

ảnh 333.PNG

FalsePhòng XD&KTVB
1 - 30Next
Ảnh
Video
Audio