Hộ tịch - Thông báo
 
​Thực hiện quy định tại Luật Hộ tịch; Kế hoạch số 1261/KH-UBND ngày 24/4/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương về tổ chức thi hành Luật Hộ tịch trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Năm 2018 - 2019, Sở Tư pháp đã phối hợp với Sở Nội vụ, Trường Trung cấp Luật Vị Thanh tổ chức lớp bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch cho đội ngũ công chức làm công tác hộ tịch tại UBND cấp xã và Phòng Tư pháp cấp huyện, đảm bảo ...
 
​Trong thời gian qua, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương nhận được tương đối nhiều Công văn đề nghị xác minh việc lưu trữ sổ hộ tịch của cơ quan đăng ký hộ tịch tại một số địa phương hoặc đơn yêu cầu trích lục khai sinh, kết hôn của những cá nhân trước đây đã đăng ký tại tỉnh Bình Dương.Nhằm tạo điều kiện cho UBND cấp xã nơi người yêu cầu thường trú thực hiện đăng ký lại khai sinh, kết hôn không phải có ...
 
Trước yêu cầu nhiệm vụ bảo đảm an ninh, trật tự trong tình hình mới, yêu cầu quản lý nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân và chủ trương đơn giản hoá thủ tục hành chính, giấy tờ công dân liên quan đến quản lý dân cư, ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến; thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Công an được giao trọng trách xây dựng dự án Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và dự án Sản xuất, cấp và quản lý Căn cước công dân (CCCD).
 
Để tăng cường sự phối hợp, nâng cao hiệu quả thực hiện liên thông thủ tục hành chính đăng ký khai sinh, cấp thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) cho trẻ em dưới 6 tuổi trên địa bàn tỉnh Bình Dương, ngày 03 tháng 11 năm 2020, Sở Tư pháp và Bảo hiểm xã hội (BHXH) tỉnh đã ký kết Quy chế phối hợp thực hiện kết nối liên thông dữ liệu đăng ký khai sinh, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
 
Hiện hành, người có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em mà không thực hiện việc đăng ký đúng thời hạn quy định sẽ bị phạt cảnh cáo (theo khoản 1 Điều 27 Nghị định 110/2013/NĐ-CP).
 
Khi thực hiện các thủ tục đăng ký hộ tịch sau đây sẽ không được ủy quyền cho người khác thực hiện thay theo quy định tại Thông tư 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020:
 
Đây là mức phạt hành chính đối với hành vi hủy hoại giấy tờ hộ tịch (trong đó có giấy chứng nhận kết hôn) quy định tại Nghị định 82/2020/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 01/9/2020).
 
Theo Nghị định 82/2020/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 01/9/2020), phạt tiền từ 03 - 05 triệu đồng đối với hành vi yêu sách của cải trong kết hôn.
 
 
  
Phân loại
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Nội dung
  
  
Công văn số 852/STP-HCTP&QLXLVPHC ngày 19/5/2022 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc thay đổi người giám sát giám hộVăn bản hướng dẫn nghiệp vụTinCông văn số 852/STP-HCTP&QLXLVPHC ngày 19/5/2022 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc thay đổi người giám sát giám hộ/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
5/30/2022 3:00 PMNoĐã ban hành

Để triển khai thực hiện đồng bộ, thống nhất trên địa bàn tỉnh, Sở Tư pháp hướng dẫn Phòng Tư pháp các huyện, thị xã, thành phố về việc thay đổi người giám sát giám hộ theo Công văn số 334/HTQTCT-HT ngày 05/5/2022 của Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực - Bộ Tư pháp .​

Tải file Công vănCV_852_STP-HCTP.signed.pdf

FalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
Công văn số 326/STP-HCTP&QLXLVPHC ngày 08/3/2022 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc hướng dẫn thực hiện công tác hộ tịchVăn bản hướng dẫn nghiệp vụTinCông văn số 326/STP-HCTP&QLXLVPHC ngày 08/3/2022 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc hướng dẫn thực hiện công tác hộ tịch/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
5/19/2022 3:00 PMNoĐã ban hành

Qua theo dõi, Sở Tư pháp nhận thấy có một số cơ quan đăng ký và quản lý hộ tịch trên địa bàn lúng túng khi thực hiện việc tiếp nhận, giải quyết hồ sơ đăng ký hộ tịch, cụ thể giấy tờ chứng minh về nơi cư trú theo Luật Cư trú. Để bảo đảm thực hiện thống nhất quy định pháp luật về hộ tịch, cư trú trong giải quyết hồ sơ đăng ký hộ tịch, trong giai đoạn chuyển tiếp (giai đoạn Cơ sở dữ liệu điện tử và Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư chưa được vận hành), Sở Tư pháp hướng dẫn Phòng Tư pháp các huyện, thị xã, thành phố một số nội dung. 

CV_326_STP-HCTP.signed.pdf​​

FalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
Công văn số 495/STP-HCTP&QLXLVPHC ngày 04/4/2022 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc hướng dẫn hồ sơ ghi chú ly hônVăn bản hướng dẫn nghiệp vụTinCông văn số 495/STP-HCTP&QLXLVPHC ngày 04/4/2022 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc hướng dẫn hồ sơ ghi chú ly hôn/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
5/10/2022 4:00 PMNoĐã ban hànhFalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
Công văn số 228/STP-HCTP ngày 16/02/2022 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc hướng dẫn nghiệp vụ hộ tịchVăn bản hướng dẫn nghiệp vụTinCông văn số 228/STP-HCTP ngày 16/02/2022 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc hướng dẫn nghiệp vụ hộ tịch/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
4/21/2022 4:00 PMNoĐã ban hànhFalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
Thông tư 01/2022/TT-BTP ngày 04/01/2022 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Nghị định 87/2020/NĐ-CP ngày 28/7/2020 của Chính phủ quy định về Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, đăng ký hộ tịch trực tuyếnVăn bản điều hànhTinThông tư 01/2022/TT-BTP ngày 04/01/2022 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Nghị định 87/2020/NĐ-CP ngày 28/7/2020 của Chính phủ quy định về Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, đăng ký hộ tịch trực tuyến/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
3/1/2022 4:00 PMNoĐã ban hànhFalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
Hội nghị tập huấn trực tuyến nghiệp vụ đăng ký hộ tịch cho đội ngũ công chức làm công tác hộ tịch tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ươngTin ngành tư phápTinHội nghị tập huấn trực tuyến nghiệp vụ đăng ký hộ tịch cho đội ngũ công chức làm công tác hộ tịch tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương/hanhchinhtuphap/PublishingImages/2021-12/hoi thao unicef 01 ok_Key_15122021163102.jpg
12/3/2021 5:00 PMNoĐã ban hành

Thực hiện Kế hoạch công tác năm 2021, trong khuôn khổ chương trình hợp tác với Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực đã tổ chức theo hình thức trực tuyến "Hội nghị tập huấn nghiệp vụ đăng ký hộ tịch cho công chức làm công tác hộ tịch tại một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương".

Hội nghị diễn ra trong 2 ngày 29 - 30 tháng 11 năm 2021, tập trung tại điểm cầu Hà Nội và kết nối trực tuyến với các điểm cầu địa phương. Tham dự Hội nghị có đại diện Lãnh đạo các Sở Tư pháp, Phòng Hành chính tư pháp thuộc Sở, Phòng Tư pháp và công chức tư pháp - hộ tịch của 5 tỉnh thuộc ba miền Bắc, Trung, Nam.

Nội dung Hội nghị tập huấn tập trung chủ yếu vào nghiệp vụ đăng ký khai sinh, trong đó chú trọng đăng ký khai sinh cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (như trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em là con của công dân Việt Nam với người nước ngoài, trẻ em cư trú tại khu vực biên giới…). Đồng thời, hội nghị còn tập huấn về nghiệp vụ liên thông đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú và cấp Thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi trên môi trường điện tử, cũng như các việc hộ tịch khác liên quan đến trẻ em (như giám hộ, nhận cha mẹ con, nuôi con nuôi…). Qua đó góp phần nâng cao năng lực cho đội ngũ công chức làm công tác hộ tịch, bảo đảm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.

hoi thao unicef 02 ok.jpg


Thông qua các chuyên đề chuyên sâu, các báo cáo viên (gồm Lãnh đạo Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực) đã cung cấp cho lớp học những kiến thức cơ bản và kinh nghiệm thực tiễn để xử lý những vấn đề phát sinh liên quan đến đăng ký khai sinh cho các đối tượng trẻ em. Các học viên đã sôi nổi thảo luận và nêu nhiều vướng mắc để được Lãnh đạo Cục cho ý kiến hướng dẫn, tháo gỡ. Trong đó tập trung vào những khó khăn, vướng mắc về nghiệp vụ đăng ký khai sinh cho trẻ em, nhất là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (như trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em là con của công dân Việt Nam với người nước ngoài, trẻ em cư trú tại khu vực biên giới…); việc đăng ký nuôi con nuôi; thay đổi, bổ sung hộ tịch của con nuôi; đăng ký giám hộ và đăng ký nhận cha, mẹ, con đối với trẻ em; liên thông các thủ tục hành chính đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp Thẻ Bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi v.v…

 hoi thao unicef 03 ok.jpg


Thông qua chương trình của hội nghị tập huấn, đã trang bị cho học viên những kiến thức cơ bản về đăng ký khai sinh trực tuyến và việc quản lý, khai thác, sử dụng thông tin khai sinh của trẻ em trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử theo Nghị định số 87/2020/NĐ-CP. Ngoài ra, hội nghị còn cập nhật các quy định pháp luật mới nhất về đăng ký khai sinh và các việc hộ tịch khác liên quan đến trẻ em. Hội nghị là cơ hội tốt để những người tham dự thông tin, trao đổi về những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn triển khai Luật hộ tịch và các văn bản quy định chi tiết thi hành. Từ đó, Lãnh đạo Cục có hướng dẫn, giúp cho đội ngũ công chức làm công tác hộ tịch tại địa phương nhận thức rõ hơn về vai trò, tầm quan trọng của việc đăng ký khai sinh đối với trẻ em, nắm bắt các quy định pháp luật, nhất là các quy định pháp luật mới được ban hành theo Thông tư số 04/2020/TT-BTP, Nghị định số 123/2015/NĐ-CP và Nghị định số 87/2020/NĐ-CP. Từ đó có thể tránh được những sai sót trong quá trình giải quyết các yêu cầu đăng ký hộ tịch của người dân nói chung và yêu cầu đăng ký khai sinh cho trẻ em nói riêng. Trên cơ sở đó bảo đảm quyền được đăng ký khai sinh và xác định quốc tịch của trẻ em đã được ghi nhận trong Công ước quyền trẻ em năm 1990, các văn kiện pháp luật quốc tế và nhiều văn bản pháp luật trong nước.


Dự kiến lớp tập huấn (trực tuyến) thứ hai về nghiệp vụ đăng ký khai sinh sẽ được tổ chức cho 05 tỉnh thuộc 03 miền Bắc, Trung, Nam vào các ngày 6 - 7/12/2021./.

Tác giả: Lò Thuỳ Linh

Nguồn: moj.gov.vn​

FalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
Hội thảo trực tuyến “Đánh giá kết quả 5 năm triển khai Chương trình hành động quốc gia của Việt Nam về đăng ký, thống kê hộ tịch giai đoạn 2017-2024”Tin ngành tư phápTinHội thảo trực tuyến “Đánh giá kết quả 5 năm triển khai Chương trình hành động quốc gia của Việt Nam về đăng ký, thống kê hộ tịch giai đoạn 2017-2024”/hanhchinhtuphap/PublishingImages/2021-12/crvs 23_Key_15122021122057.11 01_Key_15122021122057.jpg
11/30/2021 1:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 23/01/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 101/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình hành động quốc gia của Việt Nam về đăng ký và thống kê hộ tịch giai đoạn 2017-2024 (Chương trình CRVS – Civil registration and Vital Statistics). Tính đến nay, Chương trình CRVS đã được triển khai thực hiện được gần 05 năm trên toàn quốc, với sự tham gia tích cực của các Bộ, ngành có liên quan ở Trung ương và tất cả các địa phương.

Để đánh giá kết quả tổ chức triển khai thực hiện Chương trình trong thời gian qua, đồng thời nhận diện những khó khăn, vướng mắc, kịp thời đề ra giải pháp bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ trong giai đoạn còn lại của Chương trình CRVS, trong khuôn khổ hợp tác với Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA), Bộ Tư pháp (Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực) đã tổ chức Hội thảo "Đánh giá kết quả 5 năm triển khai Chương trình hành động quốc gia của Việt Nam về đăng ký, thống kê hộ tịch giai đoạn 2017-2024".

crvs 23.11 03.jpg 


Hội thảo được tổ chức vào ngày 23/11/2021 theo hình thức trực tuyến, tập trung tại điểm cầu Hà Nội, có kết nối trực tuyến với các điểm cầu của 29 Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Hội thảo do Thứ trưởng Nguyễn Khánh Ngọc và bà Naomi Kitahara, Trưởng đại diện Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) tại Việt Nam đồng chủ trì.


Tham dự Hội thảo có đại diện các cơ quan Trung ương như Bộ Công an, Bộ Y tế, Bộ Kế hoạch và đầu tư (Tổng cục Thống kê), Bộ Ngoại giao, một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp (Vụ Hợp tác quốc tế; Vụ Pháp luật Dân sự - Kinh tế; Cục Kế hoạch tài chính; Cục Công nghệ thông tin; Cục Con nuôi) và đại diện Sở Tư pháp thành phố Hà Nội. Tham dự Hội thảo ở đầu cầu nước ngoài có ông Romain Santon, Phó Giám đốc phụ trách Khu vực châu Á - Thái Bình Dương, tổ chức Vital Strategies. Đại diện các tổ chức quốc tế như Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Ngân hàng thế giới (World Bank), Quỹ Nhi đồng (UNICEF), Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP), đại diện EU, Tổ chức Family International Health (FHI360) cũng được mời tham dự.

crvs 23.11 04.jpg 

Hội thảo được tổ chức nhằm mục tiêu: (i) Đánh giá kết quả 5 năm triển khai thực hiện Chương trình CRVS trên toàn quốc; (ii) Chia sẻ nội dung Báo cáo kết quả rà soát khuôn khổ pháp lý về đăng ký và thống kê hộ tịch; Báo cáo đề xuất quy trình cải tiến thống kê khai sinh, khai tử; (iii) Thông tin tóm tắt kết quả tham dự Hội nghị Bộ trưởng khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (lần thứ 2) về đăng ký và thống kê hộ tịch (được tổ chức theo hình thức trực tuyến diễn ra từ ngày 16-19/11/2021 tại Bangkok, Thái Lan) và (iv) thảo luận một số giải pháp bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ trong giai đoạn còn lại của Chương trình CRVS.

crvs 23.11 02.jpg 

​​​

Phát biểu khai mạc Hội thảo, Thứ trưởng Nguyễn Khánh Ngọc khẳng định quyền đăng ký hộ tịch là quyền nhân thân cơ bản của con người. Về cơ bản, pháp luật hộ tịch của Việt Nam đã thừa nhận và bảo đảm quyền đăng ký hộ tịch cho tất cả mọi người sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam, không phân biệt về quốc tịch, dân tộc, tôn giáo hay nơi cư trú; bảo đảm mọi sự kiện hộ tịch của cá nhân được đăng ký đầy đủ, kịp thời, trung thực, khách quan và chính xác. Trên tinh thần đó, mỗi năm có hàng triệu trẻ em được đăng ký khai sinh và cấp số định danh cá nhân. Tỷ lệ đăng ký khai sinh ở Việt Nam trong các năm qua luôn đạt trên 98%.


Để đạt được những mục tiêu quan trọng đặt ra trong Chương trình CRVS, trong suốt 05 năm vừa qua, công tác đăng ký hộ tịch đã nhận được sự quan tâm, chỉ đạo, triển khai thực hiện khá đồng bộ của các cấp, các ngành và có nhiều chuyển biến mạnh mẽ. Thể chế đăng ký, quản lý hộ tịch cơ bản đã đầy đủ; phương thức đăng ký, quản lý hộ tịch thông qua việc bước đầu xây dựng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử toàn quốc đã hình thành, với trọng tâm là Phần mềm đăng ký hộ tịch điện tử dùng chung miễn phí đã được triển khai thống nhất tại tất cả các cơ quan đăng ký hộ tịch của 63 tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương; năng lực của đội ngũ công chức làm công tác hộ tịch các cấp từng bước được kiện toàn và nâng cao chất lượng; nhận thức của người dân về quyền lợi, trách nhiệm trong đăng ký hộ tịch, nhận thức của cơ quan, tổ chức, xã hội về ý nghĩa, vai trò của đăng ký, thống kê hộ tịch được nâng lên.

crvs 23.11 05.jpg 


Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đó, Thứ trưởng nhận định công tác đăng ký, thống kê hộ tịch còn gặp những khó khăn, thách thức như: hệ thống pháp luật về hộ tịch, quốc tịch tuy đã được ban hành đầy đủ, nhưng chưa có các quy định riêng phù hợp để giải quyết đăng ký hộ tịch, xác định quốc tịch cho nhóm dân cư khó tiếp cận, dễ bị tổn thương; nguồn lực triển khai Chương trình hành động quốc gia về đăng ký và thống kê hộ tịch còn hạn chế; năng lực của đội ngũ công chức làm công tác hộ tịch chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu. Đặc biệt, trong các đợt bùng phát dịch Covid-19 vừa qua đã cho thấy khả năng ứng phó trong công tác đăng ký hộ tịch thông qua phương thức trực tuyến còn nhiều lúng túng, hạn chế.


Thứ trưởng Nguyễn Khánh Ngọc đề nghị Hội thảo tập trung đánh giá một cách khách quan, toàn diện các kết quả 5 năm triển khai thực hiện Chương trình hành động quốc gia của Việt Nam về đăng ký, thống kê hộ tịch, đồng thời nhận diện đầy đủ những khó khăn, thách thức đang đặt ra để có những giải pháp khả thi, hiệu quả nhằm thực hiện tốt các mục tiêu của Chương trình hành động trong những năm còn lại. Qua đó, khẳng định sự hội nhập, vai trò, vị trí của Việt Nam trong khu vực trong hoạt động bảo đảm quyền đăng ký hộ tịch của người dân nói riêng, quyền cơ bản của con người nói chung nhằm hướng đến mục tiêu "Không ai bị bỏ lại phía sau".


Hội thảo đã cung cấp những thông tin, điểm lại những dấu ấn quan trọng trong 05 năm nỗ lực triển khai thực hiện Chương trình CRVS. Theo đó, với vai trò là Cơ quan đầu mối quốc gia về CRVS, Bộ Tư pháp (Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực) đã chủ trì, phối hợp, đôn đốc các Bộ, ngành có liên quan ở Trung ương, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (UBND cấp tỉnh) triển khai thực chất, có hiệu quả Chương trình CRVS; đưa việc triển khai Chương trình CRVS là một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng năm của ngành Tư pháp; tham gia và cung cấp các kết quả triển khai đáng khích lệ của Việt Nam tại các diễn đàn, Hội thảo, hoạt động của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Đặc biệt, kết quả đáng chú ý nhất đó là việc hiện đại hóa từng bước phương thức đăng ký và thống kê hộ tịch; đẩy mạnh đăng ký hộ tịch trực tuyến với trọng tâm là xây dựng Phần mềm đăng ký khai sinh điện tử và Phần mềm đăng ký hộ tịch dùng chung, kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cấp Số định danh cá nhân cho trẻ em khi đăng ký khai sinh.

crvs 23.11 07.jpg 


Tính đến hết ngày 23/11/2021, tất cả cơ quan đăng ký hộ tịch tại 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã chính thức áp dụng Phần mềm đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử dùng chung của Bộ Tư pháp. Về dữ liệu, Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử đã ghi nhận có: 21.246.221 dữ liệu khai sinh với 6.486.428 dữ liệu khai sinh đủ điều kiện, đã được Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư cấp số định danh cá nhân; 2.742.809 dữ liệu khai sinh của trẻ em dưới 6 tuổi đã được chuyển thành công sang Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm để cấp thẻ Bảo hiểm y tế; 4.247.455 dữ liệu kết hôn; 5.145.840 dữ liệu cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân; 3.010.027 dữ liệu khai tử với 9.572 ghi nguyên nhân tử vong vì Covid-19; 83.269 trường hợp nhận cha mẹ con; 11.245 trường hợp đăng ký giám hộ; 9.626 trường hợp đăng ký nhận nuôi con nuôi; 493.507 dữ liệu cải chính, thay đổi, bổ sung hộ tịch, xác định lại dân tộc.

crvs 23.11 08.jpg 


Hội thảo về cơ bản nhất trí với nội dung dự thảo Báo cáo kết quả triển khai thực hiện Chương trình CRVS cùng những tồn tại, hạn chế, thách thức cần khắc phục trong thời gian tới về công tác đăng ký, thống kê hộ tịch, nhất là việc tìm ra giải pháp để nâng cao tỷ lệ đăng ký khai tử, nâng cao chất lượng số liệu thống kê hộ tịch.

Theo dự thảo Báo cáo với số liệu thống kê chưa đầy đủ cho thấy ở Việt Nam, tỷ lệ người chết được đăng ký khai tử ước tính chỉ chiếm khoảng trên 60% và hầu hết đều chưa tiến hành xác định nguyên nhân tử vong theo tiêu chuẩn quốc tế. Đặc biệt ở các huyện miền núi, vùng sâu, vùng sông nước, vùng vạn đò, hầu hết các gia đình có người thân qua đời không đi đăng ký khai tử, thậm chí có trường hợp chết đã trên 20 năm mới yêu cầu khai tử. Ngoài ra, việc xác định tỷ lệ đăng ký khai sinh, tỷ lệ đăng ký khai tử cũng là một thách thức lớn, hầu hết các địa phương chưa xác định được tỷ lệ này hoặc có đưa ra tỷ lệ này nhưng đều là những con số bất hợp lý do chưa thống nhất được cách tính và khoanh vùng tính số liệu chưa chính xác. Đồng thời, hiện nay chưa có sự kết nối, chia sẻ dữ liệu điện tử giữa các ngành Tư pháp, Y tế, Thống kê, Công an dẫn đến dữ liệu thống kê chưa đầy đủ, thống nhất và thiếu hiệu quả, lãng phí nguồn lực.

crvs 23.11 06.jpg 


Để đạt được những mục tiêu về đăng ký khai sinh, kết hôn và khai tử, bảo đảm nguồn lực để triển khai thực hiện Chương trình CRVS, hội thảo đã đưa ra nhiều kiến nghị, đề xuất, trong đó nhấn mạnh đến việc xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành trong việc cập nhật, hoàn thiện cơ sở dữ liệu điện tử hiện có; chia sẻ dữ liệu liên ngành; thống nhất cách xác định tỷ lệ đăng ký khai sinh, tỷ lệ đăng ký khai tử, bảo đảm chất lượng dữ liệu thống kê hộ tịch; tăng cường việc đăng ký hộ tịch trực tuyến, đặc biệt là thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 4, bảo đảm thuận lợi cho người dân, thích ứng linh hoạt với bối cảnh ảnh hưởng bởi dịch bệnh, thiên tai...; đặc biệt là tiếp tục hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực đăng ký và thống kê hộ tịch, nhằm bảo đảm khuôn khổ pháp lý điều chỉnh lĩnh vực này thường xuyên được cập nhật, hoàn thiện, bảo đảm đồng bộ, thống nhất, tạo nền tảng để triển khai thực hiện tích cực, sớm hoàn thành các mục tiêu đã đề ra./.

Tác giả: Lò Thuỳ Linh

 Nguồn: moj.gov.vn

 

FalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
Công văn số 1506/STP-HCTP ngày 03/11/2021 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc bồi dưỡng và cấp chứng chỉ nghiệp vụ hộ tịchThông báoTinCông văn số 1506/STP-HCTP ngày 03/11/2021 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc bồi dưỡng và cấp chứng chỉ nghiệp vụ hộ tịch/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
11/4/2021 3:00 PMNoĐã ban hành

Thực hiện quy định tại Luật Hộ tịch; Kế hoạch số 1261/KH-UBND ngày 24/4/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương về tổ chức thi hành Luật Hộ tịch trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Năm 2018 - 2019, Sở Tư pháp đã phối hợp với Sở Nội vụ, Trường Trung cấp Luật Vị Thanh tổ chức lớp bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch cho đội ngũ công chức làm công tác hộ tịch tại UBND cấp xã và Phòng Tư pháp cấp huyện, đảm bảo đến trước ngày 31/12/2019, 100% cán bộ làm công tác hộ tịch đủ tiêu chuẩn theo quy định của Luật Hộ tịch (khoảng 180 công chức làm công tác hộ tịch đã được bồi dưỡng và cấp chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch).

Hiện nay, Sở Tư pháp được biết, một số cán bộ làm công tác hộ tịch đã được bồi dưỡng và cấp chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch đã luân chuyển, điều động, nghỉ việc, thôi việc. Do vậy, UBND cấp xã đã bố trí mới công chức làm công tác hộ tịch nhưng chưa đủ các tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 72 và khoản 3 Điều 76 của Luật Hộ tịch.

Để đảm bảo công chức làm công tác hộ tịch được bồi dưỡng và cấp chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch theo quy định của Luật Hộ tịch, Sở Tư pháp đề nghị Phòng Tư pháp cấp huyện thông báo đến UBND cấp xã trên địa bàn về việc Trường Cao đẳng Luật miền Nam tổ chức lớp bồi dưỡng "Nghiệp vụ hộ tịch năm 2021" để địa phương bố trí cử công chức tham dự Lớp bồi dưỡng nói trên.

 Lưu ý: Theo Quyết định số 2247/QĐ-BTP ngày 25/12/2015 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch cho công chức làm công tác hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp xã và cấp huyện, thì Bộ Tư pháp giao Học viện Tư pháp và 05 trường Trung cấp Luật: Trung cấp Luật Buôn Ma Thuột (nay Phân hiệu Trường Đại học Luật Hà Nội tại Đắk Lắk); Trung cấp Luật Vị Thanh (nay Cao đẳng Luật miền Nam) tổ chức bồi dưỡng theo Chương trình đã được ban hành và cấp chứng chỉ nghiệp vụ hộ tịch cho đội ngũ công chức làm công tác hộ tịch.

Kèm theo Công văn: CV_1506_STP-HCTP.signed.pdf

FalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
Công văn số 1461/STP-HCTP ngày 27/10/2021 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc gia hạn thời gian nhận Giấy chứng nhận kết hôn tại UBND cấp huyện và đăng ký khai tử cho các trường hợp tử vong do Covid-19Văn bản hướng dẫn nghiệp vụCông văn số 1461/STP-HCTP ngày 27/10/2021 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc gia hạn thời gian nhận Giấy chứng nhận kết hôn tại UBND cấp huyện và đăng ký khai tử cho các trường hợp tử vong do Covid-19/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
11/3/2021 12:00 AMNoĐã ban hành

Qua theo dõi và qua thông tin phản ánh của một số cơ quan liên quan đến khó khăn, vướng mắc trong công tác đăng ký và quản lý hộ tịch tại địa phương, cụ thể là: việc trao Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn; việc tiếp nhận giấy tờ trong hồ sơ đăng ký khai tử; việc đăng ký khai tử lưu động...

Để việc triển khai thực hiện đồng bộ, thống nhất trên địa bàn và tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, Sở Tư pháp gửi đến Phòng Tư pháp các huyện, thị xã, thành phố bản sao Công văn số 897/HTQTCT-HT ngày 21/10/2021 của Cục Hộ tịch Quốc tịch, Chứng thực – Bộ Tư pháp về việc hướng dẫn nghiệp vụ đối với một số việc đăng ký hộ tịch bị ảnh hưởng do dịch bệnh Covid-19.

Kèm theo Công văn: CV_1461_STP-HCTP.signed.pdf

FalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
Công văn số 1363/STP-HCTP ngày 06/10/2021 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc hướng dẫn xử lý một số vướng mắc trong tiếp nhận số ĐDCN khi cập nhật dữ liệu khai sinh vào Phần mềm ĐKKS điện tửVăn bản hướng dẫn nghiệp vụCông văn số 1363/STP-HCTP ngày 06/10/2021 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc hướng dẫn xử lý một số vướng mắc trong tiếp nhận số ĐDCN khi cập nhật dữ liệu khai sinh vào Phần mềm ĐKKS điện tử/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
11/2/2021 12:00 AMNoĐã ban hành

Thực hiện Công văn số 3160/BTP-CNTT ngày 13/9/2021 của Bộ Tư pháp về việc hướng dẫn xử lý một số vướng mắc trong tiếp nhận số ĐDCN khi cập nhật dữ liệu khai sinh vào Phần mềm ĐKKS điện tử, theo đó, Bộ Tư pháp cho biết:

Từ ngày 01/7/2021, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư đã được Bộ Công an chính thức đưa vào vận hành nên việc kết nối với Hệ thống thông tin đăng ký và quản lý hộ tịch để cấp số định danh cá nhân đã được thực hiện theo mô hình mới, thông qua Trục NGSP của Bộ Thông tin và Truyền thông. Việc tiếp nhận số định danh cá nhân cho các dữ liệu khai sinh được cập nhật vào Phần mềm đăng ký khai sinh điện tử đã phát sinh một số vướng mắc cho các Phòng Tư pháp cấp huyện và UBND cấp xã như:

- Khi thực hiện đăng ký khai sinh, nhiều trường hợp do Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư chưa trả ngay số định danh cá nhân cho công dân theo quy định, thậm chí Cơ quan đăng ký hộ tịch phải chờ sau nhiều ngày mới nhận được số định danh cá nhân. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi cho trẻ em, các địa phương đã thực hiện việc cấp Giấy khai sinh chưa có số định danh cá nhân (Giấy khai sinh này vẫn được xem là hợp lệ) cho công dân;

- Từ ngày 01/7/2021 đến nay, Bộ Công an tạm thời chưa tiếp nhận các thông tin điều chỉnh dữ liệu khai sinh trên Phần mềm đăng ký khai sinh điện tử (do chỉnh sửa sai sót hoặc do thực hiện thủ tục thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch, xác định lại dân tộc...) để cập nhật, đồng bộ vào thông tin công dân tương ứng trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Do đó, trong thực tiễn xảy ra tình trạng sai lệch thông tin giữa thông tin khai sinh và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Trước thực trạng nêu trên và căn cứ hướng dẫn của Bộ Tư pháp, để việc nhập dữ liệu đăng ký khai sinh vào Phần mềm đăng ký khai sinh điện tử và tiếp nhận số định danh cá nhân từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư được thuận lợi, hạn chế các vướng mắc phát sinh, Sở Tư pháp đề nghị Phòng Tư pháp tham mưu UBND huyện chỉ đạo UBND cấp xã thực hiện một số nội dung.

Kèm theo Công văn: CV_1363_STP-HCTP.signed.pdf

FalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
Công văn số 1050/STP-HCTP ngày 14/7/2021 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc tiếp tục cung cấp thông tin liên quan đến giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài sử dụng để đăng ký kết hôn tại Việt NamVăn bản hướng dẫn nghiệp vụTinCông văn số 1050/STP-HCTP ngày 14/7/2021 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc tiếp tục cung cấp thông tin liên quan đến giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài sử dụng để đăng ký kết hôn tại Việt Nam/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/1/2021 5:00 PMNoĐã ban hành

Sở Tư pháp nhận được Công văn số 617/HTQTCT-HT ngày 09/7/2021 của Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực - Bộ Tư pháp về việc tiếp tục cung cấp thông tin liên quan đến giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài sử dụng để đăng ký kết hôn tại Việt Nam.

Sở Tư pháp gửi đến Phòng Tư pháp các huyện, thị xã, thành phố bản sao Công văn số 617/HTQTCT-HT ngày 09/7/2021 của Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực - Bộ Tư pháp để triển khai thực hiện đồng bộ, thống nhất trên địa bàn.

Kèm theo Công văn: CV_1050_STP-HCTP.signed.pdf

FalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
Công văn số 1151/STP-HCTP ngày 05/8/2021 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc hướng dẫn công tác đăng ký và quản lý hộ tịchVăn bản hướng dẫn nghiệp vụTinCông văn số 1151/STP-HCTP ngày 05/8/2021 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc hướng dẫn công tác đăng ký và quản lý hộ tịch/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/1/2021 5:00 PMNoĐã ban hành

Qua theo dõi công tác đăng ký và quản lý hộ tịch tại địa phương, Sở Tư pháp nhận được phản ánh của một số cán bộ làm công tác tư pháp hộ tịch về thực tiễn khi triển khai cấp Thẻ căn cước công dân đã phát sinh trường hợp sai lệch thông tin giữa CMND/Thẻ CCCD với Hộ khẩu hoặc trong các giấy tờ này chỉ có thông tin về năm sinh mà không có thông tin về ngày, tháng sinh, nên cơ quan công an đã yêu cầu người dân phải đi đăng ký lại khai sinh hoặc bổ sung hộ tịch dẫn đến phát sinh số lượng lớn yêu cầu đăng ký lại khai sinh, bổ sung hộ tịch. Vấn đề này, Sở Tư pháp đề nghị Phòng Tư pháp chủ động phối hợp với cơ quan công an trong việc giải quyết yêu cầu đăng ký hộ tịch của người dân, bảo đảm thuận lợi, đúng quy định pháp luật.

Kèm theo Công văn: CV_1151_STP-HCTP_0001.signed.pdf

FalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
Công văn số 752/STP-HCTP ngày 21/5/2021 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc hướng dẫn nghiệp vụ đăng ký và quản lý hộ tịchVăn bản hướng dẫn nghiệp vụTinCông văn số 752/STP-HCTP ngày 21/5/2021 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc hướng dẫn nghiệp vụ đăng ký và quản lý hộ tịch/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
9/8/2021 8:00 AMNoĐã ban hành

Qua theo dõi tình hình công tác đăng ký và quản lý hộ tịch tại địa phương, Sở Tư pháp nhận được phản ánh của một số Phòng Tư pháp về việc gặp khó khăn đối với trường hợp xác định quê quán trong Giấy khai sinh và việc xác minh lưu giữ sổ hộ tịch. Để giải quyết những khó khăn trên, sau khi xin ý kiến Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực - Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp đã có văn bản hướng dẫn Phòng Tư pháp các huyện, thị xã, thành phố 

Kèm theo Công văn: CV_752_STP-HCTP.signed.pdf

FalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
Công văn số 919/STP-HCTP ngày 18/6/2021 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc hướng dẫn thực hiện việc đăng ký lại khai sinhVăn bản hướng dẫn nghiệp vụTinCông văn số 919/STP-HCTP ngày 18/6/2021 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc hướng dẫn thực hiện việc đăng ký lại khai sinh/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
9/6/2021 12:00 PMNoĐã ban hành

Qua theo dõi công tác đăng ký và quản lý hộ tịch, Sở Tư pháp nhận được phản ánh của người dân cũng như khó khăn, vướng mắc của cán bộ làm công tác hộ tịch tại địa phương khi tiếp nhận, giải quyết thủ tục đăng ký lại khai sinh cho người lớn tuổi. Qua nghiên cứu các quy định của pháp luật liên quan, Sở Tư pháp đã có văn bản hướng dẫn Phòng Tư pháp các huyện, thị xã, thành phố .

Kèm theo Công văn: CV_919_STP-HCTP.signed.pdf

FalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
Công văn số 451/STP-HCTP ngày 01/4/2021 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc thông báo tình hình lưu trữ Sổ hộ tịch trên địa bàn tỉnh Bình DươngThông báoTinCông văn số 451/STP-HCTP ngày 01/4/2021 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc thông báo tình hình lưu trữ Sổ hộ tịch trên địa bàn tỉnh Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
9/1/2021 3:00 PMNoĐã ban hành

Trong thời gian qua, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương nhận được tương đối nhiều Công văn đề nghị xác minh việc lưu trữ sổ hộ tịch của cơ quan đăng ký hộ tịch tại một số địa phương hoặc đơn yêu cầu trích lục khai sinh, kết hôn của những cá nhân trước đây đã đăng ký tại tỉnh Bình Dương.

Nhằm tạo điều kiện cho UBND cấp xã nơi người yêu cầu thường trú thực hiện đăng ký lại khai sinh, kết hôn không phải có văn bản đề nghị cơ quan đăng ký hộ tịch - nơi đã đăng ký khai sinh, kết hôn trước đây để xác minh về việc lưu giữ sổ hộ tịch theo quy định của Luật Hộ tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành, Sở Tư pháp thông báo đến Quý cơ quan nội dung sau:

Hiện nay, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương không còn lưu trữ Sổ hộ tịch trước năm 1975.

​Kèm theo Công văn: CV_451_STP-HCTP.pdf

FalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
Công văn số 786/STP-HCTP ngày 27/5/2021 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc khảo sát, thu thập, phân loại các việc hộ tịch, loại sổ hộ tịch (sổ hộ tịch giấy) cần chuyển đổiVăn bản điều hànhTinCông văn số 786/STP-HCTP ngày 27/5/2021 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc khảo sát, thu thập, phân loại các việc hộ tịch, loại sổ hộ tịch (sổ hộ tịch giấy) cần chuyển đổi/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/28/2021 12:00 AMNoĐã ban hành

Thực hiện kế hoạch số 1828/KH-UBND ngày 05/5/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh triển khai thực hiện số hóa Sổ hộ tịch trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Để từng bước xây dựng và tạo lập cơ sở dữ liệu cho Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử toàn quốc, đảm bảo triển khai việc kết nối liên thông, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan đăng ký, quản lý hộ tịch trên phạm vi toàn quốc và đồng bộ các thông tin cơ bản của cá nhân với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác, Sở Tư pháp đề nghị Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố và Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn thực hiện một số nội dung.

Kèm theo Công văn: CV_786_STP-HCTP.signed.pdf

                                 Ke_hoach_khao_sat_BD.xlsx

                                 Bao_cao_khao_sat_cap_xa.docx

                                 Bao_cao_khao_sat_cap_huyen.docx

FalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
Công văn số 813/STP-HCTP ngày 01/6/2021 của Sở tư Pháp tỉnh Bình Dương về hướng dẫn thực hiện công tác đăng ký và quản lý hộ tịchVăn bản hướng dẫn nghiệp vụTinCông văn số 813/STP-HCTP ngày 01/6/2021 của Sở tư Pháp tỉnh Bình Dương về hướng dẫn thực hiện công tác đăng ký và quản lý hộ tịch/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/15/2021 4:00 PMNoĐã ban hành

     ​Qua theo dõi công tác đăng ký và quản lý hộ tịch, Sở Tư pháp nhận được một số khó khăn, vướng mắc của cán bộ làm công tác hộ tịch tại địa phương khi tiếp nhận, giải quyết các thủ tục như: cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người đã sống chung với nhau như vợ chồng trước ngày 03/01/1987; giám sát giám hộ.       Qua nghiên cứu các quy định của pháp luật liê​n quan; các văn bản hướng dẫn của Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực (Bộ Tư pháp), Sở Tư pháp đã có công văn hướng dẫn Phòng Tư pháp các huyện, thị xã, thành phố các nội dung trên để đảm bảo thực hiện thống nhất trên phạm vi tỉnh.

Kèm theo Công văn : CV_813_STP-HCTP.signed.pdf

FalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
KẾ HOẠCH SỐ 1828/KH-UBND VỀ VIỆC TRIỂN KHAI THỰC HIỆN SỐ HÓA SỔ HỘ TỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNGVăn bản hướng dẫn nghiệp vụBài viếtKẾ HOẠCH SỐ 1828/KH-UBND VỀ VIỆC TRIỂN KHAI THỰC HIỆN SỐ HÓA SỔ HỘ TỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG/hanhchinhtuphap/PublishingImages/2021-05/11_Key_18052021150157.jpg
Ngày 05 tháng 05 năm 2021, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương đã ban hành Kế hoạch số 1828/KH-UBND về việc triển khai thực hiện số hóa Sổ hộ tịch trên địa bàn tỉnh Bình Dương
5/18/2021 3:00 PMYesĐã ban hành

    Ngày 05 tháng 05 năm 2021, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương đã ban hành Kế hoạch số 1828/KH-UBND về việc triển khai thực hiện số hóa Sổ hộ tịch trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Theo đó, việc số hóa Sổ hộ tịch trên địa bàn tỉnh được thực hiện theo 05 giai đoạn, cụ thể:

- Giai đoạn 1: Số hóa các sổ hộ tịch đã được đăng ký theo quy định của Luật Hộ tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành có hiệu lực từ ngày 01/01/2016 đến ngày đến hết ngày 30/5/2017 (trước ngày các cơ quan đăng ký và quản lý hộ tịch trên địa bàn tỉnh Bình Dương triển khai Hệ thống thông tin quản lý hộ tịch của Bộ Tư pháp).

- Giai đoạn 2: Số hóa các sổ hộ tịch được đăng ký theo quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch (dữ liệu đăng ký hộ tịch từ năm 2006 đến hết năm 2015).

- Giai đoạn 3: Số hóa các sổ hộ tịch đã được đăng ký theo quy định của Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ về đăng ký hộ tịch (dữ liệu đăng ký hộ tịch từ năm 1999 đến năm 2006).

- Giai đoạn 4: Số hóa các sổ hộ tịch đã được đăng ký từ năm 1976 đến năm 1999.

- Giai đoạn 5: Số hóa các sổ hộ tịch đã đăng ký từ năm 1975 trở về trước.

   Kế hoạch thực hiện số hóa sổ hộ tịch trên địa bàn tỉnh nhằm chuyển đổi dữ liệu hộ tịch từ sổ giấy sang dữ liệu số theo hướng hình thành hệ thống thông tin hộ tịch với cấu trúc chuẩn tại các cơ quan đăng ký hộ tịch trên địa bàn tỉnh, đáp ứng yêu cầu đăng ký, quản lý hộ tịch theo Luật Hộ tịch và giải quyết thủ tục hành chính trong đăng ký hộ tịch trực tuyến, có khả năng kết nối để cung cấp thông tin hộ tịch cho cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác có liên quan; đồng thời hoàn thiện việc xây dựng cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử của tỉnh và kết nối cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử toàn quốc, bảo đảm tối đa lợi ích của người dân.

Đính kèm Kế hoạch số 1828/KH-UBND​ ​​1828-KH.signed.pdf

FalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
Công văn số 444/STP-HCTP ngày 01/42021 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc lưu trữ Sổ hộ tịch Văn bản hướng dẫn nghiệp vụTinCông văn số 444/STP-HCTP ngày 01/42021 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc lưu trữ Sổ hộ tịch /Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
4/5/2021 3:00 PMNoĐã ban hành
FalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
Công văn số 390/STP-HCTP ngày 25/3/2021 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc tiếp tục cung cấp thông tin liên quan đến giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài; thông tin đăng ký khai tử cho công dân Việt Nam tại Trung Quốc (Đài Loan)Văn bản hướng dẫn nghiệp vụTinCông văn số 390/STP-HCTP ngày 25/3/2021 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc tiếp tục cung cấp thông tin liên quan đến giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài; thông tin đăng ký khai tử cho công dân Việt Nam tại Trung Quốc (Đài Loan)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
4/5/2021 3:00 PMNoĐã ban hành
FalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
Công văn số 451/STP-HCTP ngày 01/4/2021 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc thông báo tình hình lưu trữ Sổ hộ tịch trên địa bàn tỉnh Bình DươngThông báoTinCông văn số 451/STP-HCTP ngày 01/4/2021 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc thông báo tình hình lưu trữ Sổ hộ tịch trên địa bàn tỉnh Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
4/5/2021 2:00 PMNoĐã ban hành
FalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
Công văn số 120/STP-HCTP ngày 25/01/2021 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc xử lý một số vướng mắc liên quan đến số định danh cá nhân của trẻ em đăng ký khai sinh từ ngày 01/01/2016 Văn bản hướng dẫn nghiệp vụTinCông văn số 120/STP-HCTP ngày 25/01/2021 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc xử lý một số vướng mắc liên quan đến số định danh cá nhân của trẻ em đăng ký khai sinh từ ngày 01/01/2016 /Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
2/3/2021 3:00 PMNoĐã ban hành
FalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
Công văn số 79/STP-HCTP ngày 18/01/2021 về việc phối hợp báo cáo kết quả thực hiện Quyết định 1299/QĐ-TTgVăn bản điều hànhTinCông văn số 79/STP-HCTP ngày 18/01/2021 về việc phối hợp báo cáo kết quả thực hiện Quyết định 1299/QĐ-TTg/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
1/20/2021 9:00 AMNoĐã ban hành
FalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
Hỏi - đáp: Về dự án Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và dự án Sản xuất, cấp và quản lý Căn cước công dânThông báoTinHỏi - đáp: Về dự án Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và dự án Sản xuất, cấp và quản lý Căn cước công dân/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Trước yêu cầu nhiệm vụ bảo đảm an ninh, trật tự trong tình hình mới, yêu cầu quản lý nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân và chủ trương đơn giản hoá thủ tục hành chính, giấy tờ công dân liên quan đến quản lý dân cư, ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến; thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Công an được giao trọng trách xây dựng dự án Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và dự án Sản xuất, cấp và quản lý Căn cước công dân (CCCD).
12/21/2020 9:00 AMNoĐã ban hành

Đây là 02 dự án có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình xây dựng Chính phủ điện tử, góp phần cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, phục vụ hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh phòng, chống tội phạm.

I. VỀ DỰ ÁN CƠ SỞ DỮ LIỆU QUỐC GIA VỀ DÂN CƯ

Hỏi: Sự cần thiết của việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư?

Đáp: Hiện nay, ở nước ta việc quản lý dân cư mang tính đơn lẻ, từng bộ, ngành quản lý, theo dõi riêng biệt. Để phục vụ công tác quản lý nhà nước của bộ, ngành mình, đồng thời bảo đảm quyền và nghĩa vụ của công dân trong từng bộ, ngành, lĩnh vực, các cơ quan quản lý nhà nước đều cấp cho công dân một số loại giấy tờ nên mỗi công dân có thể sở hữu nhiều loại giấy tờ khác nhau (giấy khai sinh, chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu, giấy đăng ký kết hôn, thẻ bảo hiểm y tế, hộ chiếu, giấy phép lái xe, các loại thẻ, chứng chỉ...). Cùng với việc cấp các giấy tờ cho công dân, việc nghiên cứu, xây dựng các cơ sở dữ liệu mới chỉ tập trung vào mục tiêu quản lý nhà nước của từng bộ, ngành, lĩnh vực mà chưa đặt vấn đề kết nối, chia sẻ thông tin chung về công dân giữa các cơ sở dữ liệu nên không khắc phục được tình trạng cục bộ, chia cắt thông tin về công dân, không thống nhất về thông tin cơ bản của một công dân trong các cơ sở dữ liệu. Từ việc quản lý đơn lẻ dẫn tới gây lãng phí về kinh tế, nguồn nhân lực, khi thực hiện thủ tục hành chính người dân phải mất thời gian đi sao, chứng thực các giấy tờ để chứng minh nhân thân, trong khi những loại giấy tờ liên quan đều chỉ sử dụng chung những thông tin về công dân giống nhau.

Cùng với quá trình phát triển của khoa học kỹ thuật, nhất là cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang phát triển mạnh mẽ như hiện nay, việc ứng dụng khoa học công nghệ trong các mặt công tác quản lý nhà nước nói chung và công tác nghiệp vụ của ngành Công an là xu hướng không thể đảo ngược, nhiều nước trên thế giới đã có bước tiến rất xa trong lĩnh vực này. Muốn làm được điều này, cần phải xây dựng và kết nối được hệ thống các cơ sở dữ liệu với nhau, trong đó cốt lõi là Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Như vậy, việc xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư thống nhất trên toàn quốc để thu thập, cập nhật được thông tin cơ bản của công dân Việt Nam nhằm phục vụ quản lý nhà nước và giao dịch của cơ quan, tổ chức, cá nhân, khắc phục được các hạn chế, bất cập nêu trên là cần thiết, có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng thành công Chính phủ điện tử, hướng tới nền kinh tế số.

Hỏi: Vị trí, vai trò của Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư?

Đáp: Vị trí, vai trò của Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư đối với công tác quản lý nhà nước và phục vụ Nhân dân.

- Thông qua việc tổ chức thu thập, cập nhật các thông tin cơ bản của công dân sẽ tạo lập nên một hệ cơ sở dữ liệu về dân cư tập trung, thống nhất trên toàn quốc để dùng chung cho các bộ, ngành và chính quyền các cấp nhằm cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời thông tin về dân cư (số liệu, cơ cấu, phân bổ và biến động dân cư...) phục vụ công tác quản lý nhà nước, hoạch định các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an sinh xã hội.

- Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư chính là căn cứ quan trọng để các cơ quan quản lý nhà nước nghiên cứu, đề xuất lộ trình đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm giấy tờ công dân, khắc phục tình trạng một người dân phải sử dụng quá nhiều giấy tờ cá nhân nhưng lại không đem lại hiệu quả trong công tác giải quyết thủ tục hành chính. Việc tra cứu thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư khi giải quyết các thủ tục hành chính sẽ thay thế cho việc phải xuất trình hoặc nộp bản sao có chứng thực các giấy tờ công dân khi thực hiện thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian xử lý, giảm chi phí và thời gian đi lại của Nhân dân, nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân.

- Thông tin về dân cư được thu thập, cập nhật thường xuyên sẽ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý dân cư, quản lý chắc biến động dân cư, quản lý các loại đối tượng hỗ trợ công tác tra cứu, xác minh về nhân thân của công dân, góp phần đảm bảo an ninh, trật tự, đấu tranh phòng, chống tội phạm.

- Cơ sở dữ liệu dân cư được xây dựng với mục tiêu kết nối, chia sẻ thông tin về dân cư với các cơ sở dữ liệu chuyên ngành của các ngành, lĩnh vực trên toàn quốc, làm tăng khả năng khai thác, cập nhật thông tin về dân cư, hạn chế tối đa sự trùng lặp thông tin, giảm chi phí ngân sách nhà nước trong xây dựng cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin của các cơ sở dữ liệu chuyên ngành. Đồng thời, Cơ sở dữ liệu về dân cư ra đời cũng sẽ góp phần làm giảm khối lượng hồ sơ giấy tờ đang được lưu trữ quản lý tại cơ quan hành chính.

(*) Ý nghĩa, vai trò trong công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm

Thông qua việc tổ chức thu thập, cập nhật các thông tin cơ bản của công dân sẽ tạo lập nên một hệ cơ sở dữ liệu về dân cư tập trung, thống nhất từ Trung ương đến địa phương. Từ hệ thống cơ sở dữ liệu dân cư đó, sẽ giúp hỗ trợ công tác tra cứu, xác minh về nhân thân của công dân, góp phần đảm bảo an ninh, trật tự, đấu tranh phòng, chống tội phạm.

(*) Ý nghĩa, vai trò trong việc hoạch định, phát triển kinh tế của Nhà nước

Từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, các bộ, ngành có thể tra cứu các thông tin như: Di biến động về tình hình dân cư, số lượng người đến độ tuổi lao động tại các địa phương, từ đó có thể bố trí, sắp xếp các khu kinh tế trọng điểm tại địa phương mình; số lượng trẻ dưới 14 tuổi và trên 14 tuổi để sắp xếp xây dựng các trường học…

(*) Ý nghĩa của Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư đối với việc bỏ Sổ hộ khẩu theo Luật Cư trú (sửa đổi)

Ngày 30/10/2017, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 112/NQ-CP về đơn giản hoá thủ tục hành chính, giấy tờ công dân liên quan đến quản lý dân cư thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Công an. Trong đó, quy định "Bãi bỏ hình thức quản lý dân cư đăng ký thường trú bằng "Sổ hộ khẩu" và thay thế bằng hình thức quản lý thông qua mã số định danh cá nhân". Việc bãi bỏ hình thức quản lý dân cư bằng Sổ hộ khẩu là thay đổi phương thức quản lý, từ quản lý thủ công bằng Sổ hộ khẩu sang quản lý hiện đại thông qua mã số định danh cá nhân để phục vụ tốt hơn cho người dân, phục vụ mục tiêu dùng chung trong công tác quản lý nhà nước, cải cách thủ tục hành chính, phục vụ giao dịch của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, hướng tới xây dựng Chính phủ điện tử. Việc xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư nhằm tiến tới quản lý dân cư dựa trên ứng dụng khoa học kỹ thuật thông qua mã số định danh cá nhân. Do đó, khi công dân có các giao dịch chỉ cần có số định danh cá nhân để chứng minh nhân thân, không cần thiết xuất trình Sổ hộ khẩu.

Hỏi: Mã số định danh cá nhân được hình thành như thế nào? Phương thức quản lý cư trú sau khi bỏ Sổ hộ khẩu sang quản lý số hoá thông qua mã định danh cá nhân?

Đáp: Số định danh cá nhân được sinh ra sau khi thông tin về công dân được thu thập vào hệ thống một cách đồng bộ, thống nhất. Số định danh cá nhân được xác lập từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư dùng để kết nối, cập nhật, chia sẻ, khai thác thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành. Số định danh cá nhân do Bộ Công an thống nhất quản lý trên toàn quốc cấp cho công dân Việt Nam, không lặp lại ở người khác. Số định danh cá nhân có vai trò rất quan trọng trong việc kết nối, liên thông giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, trong đó hệ thống quản lý dân cư trên toàn quốc được coi là hệ thống thông tin chủ đạo kết nối với các hệ thống thông tin chuyên ngành khác của bộ, ngành thông qua mã số định danh cá nhân.

Việc bãi bỏ Sổ hộ khẩu là bước đột phá trong việc quản lý dân cư, thay thế phương thức quản lý dân cư từ thủ công sang quản lý điện tử bằng mã số định danh cá nhân xác lập từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Số định danh cá nhân được ghi trên giấy khai sinh và thẻ Căn cước công dân để phục vụ công dân khi thực hiện các thủ tục hành chính.

Khi đó, quy trình thực hiện các thủ tục hành chính về quản lý dân cư cũng sẽ được nghiên cứu, thay đổi cho phù hợp. Với việc khi Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (thực hiện các thủ tục về đăng ký, quản lý cư trú) kết nối với Cơ sở dữ liệu căn cước công dân (thực hiện thủ tục về cấp, quản lý Căn cước công dân, Chứng minh nhân dân) và Cơ sở dữ liệu hộ tịch (khai sinh, khai tử, đăng ký kết hôn…) và kết nối đến các cơ sở dữ liệu quốc gia khác. Việc thực hiện các thủ tục hành chính sẽ được khai thác thông qua Số định danh cá nhân để chứng minh của công dân.

Theo đó, Luật Căn cước công dân tại Khoản 3, Điều 10 cũng quy định: "Thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư là căn cứ để cơ quan, tổ chức kiểm tra, thống nhất thông tin về công dân. Khi công dân đã sử dụng thẻ Căn cước công dân của mình, cơ quan, tổ chức không được yêu cầu công dân xuất trình giấy tờ hoặc cung cấp thông tin đã có trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư".

Sau khi dự án Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư được hoàn thành và đưa vào khai thác, Bộ Công an sẽ chủ trì phối hợp với các bộ, ngành có liên quan đề xuất lộ trình đơn giản hoá thủ tục hành chính, giấy tờ công dân thuộc lĩnh vực đăng ký, quản lý cư trú, cấp và quản lý Chứng minh nhân dân. Chứng minh nhân dân sẽ dần được thay thế bằng Căn cước công dân. Việc quản lý và khai thác thông tin dân cư sẽ thông qua mã số định danh cá nhân thay thế cho việc xuất trình Sổ hộ khẩu như hiện nay.

Hỏi: Tính bảo mật của thông tin công dân, hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư như thế nào?

Đáp: Theo quy định của Luật Căn cước công dân thì công dân có quyền được đảm bảo bí mật cá nhân, gia đình và trách nhiệm của cơ quan quản lý phải đảm bảo an toàn, bí mật thông tin cá nhân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Chính vì vậy, ngay từ khi triển khai, đầu tư xây dựng, Bộ Công an đã chỉ đạo thiết kế xây dựng hạ tầng, đường truyền riêng thông suốt từ Trung ương đến địa phương, có phương án để kết nối, chia sẻ thông tin với các bộ, ngành liên quan. Hệ thống được trang bị bảo mật tiên tiến, nhiều lớp như: Chia vùng phần cứng và phần mềm chuyên dụng, bảo mật đường truyền, mã hoá dữ liệu thông tin kết hợp với quản lý người dùng. Vì vậy đảm bảo thông tin của công dân được an toàn, bảo mật tuyệt đối.

Hỏi: Quyền, nghĩa vụ của công dân trong việc thực hiện thu thập, cập nhật thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư?

Đáp: Công dân có quyền:

+ Được đảm bảo bí mật cá nhân, bí mật gia đình trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư trừ trường hợp phải cung cấp thông tin, tài liệu theo luật định.

+ Yêu cầu cơ quan quản lý Căn cước công dân cập nhật, chỉnh sửa thông tin khi thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và Cơ sở dữ liệu Căn cước công dân hoặc thẻ Căn cước công dân chưa có, chưa chính xác hoặc có thay đổi theo quy định của pháp luật.

- Công dân có nghĩa vụ:

+ Cung cấp đầy đủ, chính xác, đúng thời hạn thông tin, tài liệu của bản thân để cập nhật vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Bên cạnh việc chấp hành nghiêm quyền và nghĩa vụ của mình, công dân cần nâng cao nhận thức về mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của việc xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Từ đó, vận động người thân, bạn bè chấp hành nghiêm, phối hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho các lực lượng chức năng thực thi nhiệm vụ, bảo đảm xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư đúng tiến độ và đạt hiệu quả cao.

Hỏi: Việc chia sẻ các bộ, ngành về thông tin công dân để phục vụ công tác quản lý của bộ, ngành được thực hiện như thế nào?

Đáp: Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư sẽ bao gồm tập hợp 18 trường thông tin cơ bản của toàn bộ công dân Việt Nam. Hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư được tích hợp với hệ thống căn cước công dân, hệ thống đăng ký khai sinh, khai tử, thay đổi, cải chính hộ tịch của Bộ Tư pháp và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành… Đây là "chìa khoá" để Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư trao đổi, chia sẻ hồ sơ dữ liệu gốc của công dân với các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành của các cơ quan nhà nước khác khi có nhu cầu đảm bảo tính nhất quán, chính xác, kịp thời và tránh trùng lặp thông tin về công dân trong các cơ sở dữ liệu; cung cấp thông tin tổng hợp về công dân theo yêu cầu khai thác của Chính phủ và cung cấp dịch vụ xác thực nhân thân theo nhu cầu của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân.

Hỏi: Các cách thức để Nhân dân biết, khai thác thông tin của mình trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư

Đáp: Trong dự án Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư đã xây dựng các chức năng cho phép công dân được tra cứu các thông tin của mình qua cổng dịch vụ công quốc gia. Do vậy, sẽ tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn công dân cách thức thực hiện việc tự tra cứu thông tin trên cổng này.

Ngoài ra, công dân có nhu cầu khai thác thông tin thì làm văn bản yêu cầu nêu rõ mục đích, nội dung thông tin cần khai thác và đến Công an địa phương (cấp huyện, xã thuộc hệ lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính), xuất trình thẻ Căn cước công dân để cơ quan Công an kiểm tra, xác định đúng người trước khi yêu cầu tra cứu, xác minh thông tin của mình.  

II. VỀ DỰ ÁN SẢN XUẤT, CẤP VÀ QUẢN LÝ CCCD

Hỏi: Vị trí, vai trò của dự án Sản xuất, cấp và quản lý CCCD đối với công tác quản lý nhà nước, phục vụ Nhân dân và ý nghĩa, vai trò trong công tác phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm?

Đáp: Dự án Sản xuất, cấp và quản lý CCCD có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình xây dựng Chính phủ điện tử, góp phần cải cách hành chính phục vụ Nhân dân, nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự; phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và các hoạt động nghiệp vụ khác của lực lượng Công an nhân dân, cụ thể:

(1). Góp phần cải cách hành chính, phục vụ Nhân dân: Bộ Công an xây dựng hệ thống sản xuất, cấp và quản lý CCCD tập trung, thống nhất, đồng bộ, hiện đại từ Trung ương tới Công an các địa phương và kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư nên các thông tin của công dân thường xuyên được thu thập, cập nhật, khai thác, chia sẻ nên khi công dân làm thủ tục đề nghị cấp, đổi, cấp lại thẻ CCCD rất thuận tiện, công dân có thể đến bất cứ điểm tiếp dân nào của cơ quan Công an cũng có thể thực hiện việc cấp CCCD mà không nhất thiết phải về nơi đăng ký thường trú. Bộ Công an đồng thời triển khai các dịch vụ công trực tuyến cấp CCCD, cấp Giấy xác nhận số CMND trực tuyến, cấp thẻ CCCD có gắn chíp điện tử... Do đó sẽ tạo điều kiện rất thuận lợi cho công dân và tiết kiệm thời gian, công sức, chi phí, đồng thời khi thực hiện các giao dịch khác cũng rất thuận tiện và nhanh chóng.

(2). Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước: Việc triển khai thành công dự án sẽ tạo dựng được cơ sở dữ liệu về thông tin của công dân trong toàn quốc với độ chính xác cao, đầy đủ và khả năng truy nguyên đồng nhất mỗi công dân được cấp 01 số thẻ CCCD cũng là Số định danh cá nhân; trên thẻ CCCD được gắn chíp điện để lưu trữ thông tin cá nhân của công dân để các Bộ, ngành, đơn vị có thể khai thác thông tin và ghi thông tin trên chíp phục vụ quản lý nhà nước.

(3). Hiệu quả về kinh tế và xã hội: Việc triển khai thành công dự án Sản xuất, cấp và quản lý CCCD sẽ mang lại hiệu quả về kinh tế, xã hội rõ rệt. Công dân được đảm bảo quyền lợi về CCCD phục vụ giao dịch cá nhân nhanh chóng, thuận tiện, tiết kiệm chi phí, công sức đi lại; cơ quan nhà nước sẽ được hưởng những dịch vụ công tốt nhất, được kết nối, khai thác thông tin phục vụ công tác quản lý của mình nhanh chóng, chính xác, độ tin cậy cao; các giao dịch của người dân rất thuận tiện (sử dụng chíp điện tử, dữ liệu dân cư liên thông các Bộ, ngành) dần tiến tới các giao dịch trong Chính phủ điện tử, nền kinh tế số hỗ trợ rất lớn cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong phát triển các hoạt động kinh tế, xã hội; minh bạch hóa các thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian trả kết quả của các dịch vụ hành chính công.

(4). Nâng cao hiệu công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm; các hoạt động nghiệp vụ của lực lượng CAND: Qua triển khai dự án Sản xuất, cấp và quản lý CCCD, thông tin của người dân từ đủ 14 tuổi trở lên sẽ được thu thập, cập nhật vào cơ sở dữ liệu CCCD và trao đổi với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để thống nhất, quản lý. Thông tin có độ chính xác cao, có ảnh chân dung, vân tay lăn và các thông tin cơ bản của công dân do vậy phục vụ rất đắc lực cho công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, truy nguyên các thông tin như truy tìm tung tích nạn nhân, mất tích, chết không rõ nguyên nhân, nhận diện khuôn mặt, đối sánh vân tay, quản lý danh sách đối tượng theo quy định; phục vụ cơ quan điều tra thực thi các hoạt động điều tra, truy xét theo quy định một cách nhanh chóng, chính xác.     

Hệ thống được thiết kế mở có khả năng kết nối, chia sẻ dữ liệu với các hệ thống khác của ngành Công an như Cơ sở dữ liệu về tội phạm, nhận diện khuôn mặt, hộ chiếu, truy nã, truy tìm... và tạo thành một cơ sở dữ liệu liên thông, thống nhất, đầy đủ của Bộ Công an góp phần xây dựng các chương trình, kế hoạch để Bộ Công an ra được các quyết nghị về tác chiến, đấu tranh phòng, chống tội phạm, tổ chức các đợt cao điểm tấn công trấn áp tội phạm, truy nã, truy tìm, thực hiện các biện pháp nghiệp vụ của lực lượng CAND...

Hỏi: Tiến độ, thời gian hoàn thành các hạng mục chính của dự án?

Đáp: (1). Tháng 11/2020, triển khai thu nhận, cấp CCCD gắn chíp điện tử, thu nhận vân tay lăn của công dân trên toàn quốc.

(2). Tháng 12/2020, Bộ Công an sản xuất, cấp thẻ CCCD có gắn chíp điện tử trên toàn quốc.

(3). Ngày 26/02/2021, tổ chức Lễ bấm nút, công bố Hệ thống sản xuất, cấp và quản lý CCCD và CSDL quốc gia về dân cư.

(4). Tháng 6/2021, Bộ Công an tổ chức Hội nghị Tổng kết Dự án và thực hiện các thủ tục quyết toán dự án theo quy định.

Hỏi: Việc thực hiện thu nhận vân tay lăn có những ưu điểm, nhược điểm gì?

Đáp:

- Ưu điểm: Có thể thu nhận được vùng vân tay rộng hơn kết nối với tàng thư thủ công giúp cho việc truy nguyên hiệu quả hơn vân tay phẳng (khi lăn đầy đủ ngón tay).

- Nhược điểm: Công tác thu nhận hồ sơ khi thu nhận vân tay lăn phức tạp hơn vân tay phẳng; đầu tư lớn hơn; cán bộ cần có kinh nghiệm, chuyên môn để có thể đảm bảo năng suất thu nhận, cấp CCCD; tốc độ, công suất tiếp nhận hồ sơ ở địa phương chậm; tăng chi phí đầu tư; cần phải đầu tư nhiều thời gian đào tạo nhân lực và nguồn nhân lực cũng phải có chuyên môn cao. Cần hình thành một đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp lấy vân tay. Do vân tay lăn được thu nhận bằng phương pháp lăn ngón tay trên mặt phẳng của thiết bị nên ngón tay dễ bị trượt, dẫn đến các vân bị chồng nhau, tạo ra các khoảng đen vân tay.

Hỏi: Việc thực hiện song hành và tiết kiệm khi thực hiện với dự án Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư?

Đáp: Cơ sở dữ liệu CCCD và Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư độc lập nhau về cơ sở pháp lý; đối tượng sử dụng, đối tượng phục vụ và mục tiêu dự án là khác nhau nhưng được lãnh đạo Bộ Công an chỉ đạo về việc xây dựng hệ thống CCCD thống nhất thành một hệ thống với hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Do đó, dự án Sản xuất, cấp và quản lý CCCD sử dụng chung với dự án Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư về nhiều hạng mục đầu tư để nâng cao hiệu quả và tiết kiệm chi phí như: Dùng chung đường truyền;  thiết bị tường lửa, định tuyến cấp Trung ương tại Hà Nội và trung tâm dự phòng tại Tp. HCM; dùng chung máy trạm tại địa phương; đối với 16 địa phương đã triển khai cấp CCCD thì sử dụng hạ tầng, máy móc, thiết bị sẵn có...

Hỏi: Tính ưu việt của thẻ CCCD có gắn chíp?

Đáp: Thẻ CCCD có gắn chíp điện tử có độ bảo mật cao, dung lượng lưu trữ lớn, cho phép tích hợp nhiều ứng dụng đi kèm như: Ứng dụng chữ ký số, ứng dụng sinh trắc học, ứng dụng mật khẩu một lần…có thể được sử dụng và kết nối rộng rãi cho các dịch vụ công cộng và tư nhân. Đáng chú ý, khi thẻ CCCD gắn chíp điện tử có tích hợp đầy đủ các thông tin, lúc đó người dân đi giao dịch và làm các thủ tục sẽ không phải mang nhiều loại giấy tờ mà chỉ cần dùng thẻ CCCD có gắn chíp thì sẽ thực hiện được các giao dịch. Ngoài ra, việc tích hợp chíp trên CCCD đem lại tính linh hoạt khi cần bổ sung hoặc sửa đổi thông tin trên thẻ sau khi phát hành bởi cơ quan công an. Dữ liệu trên chíp có thể truy cập ngay lập tức mà không bị phụ thuộc vào kết nối mạng thông qua các thiết bị cho phép đọc thông tin trên chíp, giúp cho việc xác thực danh tính được thực hiện ngay lập tức, hạn chế tối đa việc giả mạo danh tính. 

Thẻ CCCD gắn chíp cũng là xu thế nhiều nước trên thế giới áp dụng vì tính tiện dụng, cũng như tạo sự thuận lợi cho công dân khi thực hiện các giao dịch dịch vụ trực tuyến. Hiện nay, đã có tổng số 70 nước sử dụng thẻ CCCD có gắn chíp, trong đó các nước ứng dụng điển hình như: Malaysia, Thái Lan, Campuchia, Philipin, Brunei, Ấn Độ, Isarel, Pakistan, UAE, Bangladesh, Tây Ban Nha, Estonia, Cộng hoà Séc, Ý, Hungary, Lithuania, Ba Lan, Latvia, Thuỵ Điển, Bồ Đào Nha, Mexico, Peru, Brazil, Guatemala, Urugoay, Nigeria, Malawi, Ghana, Cameroon.

Hỏi: Phương án bảo mật thông tin cá nhân khi sử dụng thẻ CCCD gắn chíp; khả năng định vị được người sử dụng của loại chíp gắn trên CCCD?

Đáp: Chíp sử dụng trên thẻ CCCD tuân thủ quy định bảo mật của thế giới và Việt Nam, trên chíp có thực hiện ký số do vậy khó có thể làm giả, đảm bảo độ tin cậy trong thực hiện các giao dịch.

Chíp có khả năng lưu trữ thông tin sinh trắc học (như dấu vân tay) cho phép xác thực đảm bảo chính xác con người. Qua đó, thông tin chủ thẻ được định danh một cách chính xác, giảm thiểu mọi nguy cơ về giả mạo thẻ, đảm bảo an toàn bảo mật nhất là trong các giao dịch tài chính.

Khi đề xuất sử dụng thẻ CCCD có gắn chíp điện tử, Bộ Công an đã xây dựng phương án đảm bảo tính bảo mật thông tin được lưu trữ trên chíp; phương án này được các đơn vị chuyên môn đánh giá, nghiệm thu đảm bảo bảo mật trước khi đưa vào phát hành sử dụng rộng rãi trong xã hội.

Hỏi: Việc đảm bảo quyền tự do cá nhân cho công dân khi sử dụng thẻ CCCD gắn chíp điện tử?

Đáp: Việc gắn chíp điện tử trên thẻ CCCD với mục đích là thuận tiện trong các giao dịch hành chính của công dân cũng như phục vụ công tác quản lý nhà nước; nâng cao hiệu quả công tác cải cách hành chính, hướng tới nền Chính phủ số, chuyển đổi số và xây dựng Chính phủ điện tử, đây là xu hướng tất yếu trong việc phát triển xã hội hiện nay.

Chíp được gắn trên thẻ CCCD là để lưu trữ các thông tin của công dân trên thẻ CCCD với mục tiêu là tạo điều kiện thuận lợi cho công dân thực hiện các giao dịch hành chính, đi lại, nâng cao hiệu quả của Chính phủ điện tử, Chính phủ số; chíp gắn trên thẻ CCCD không có chức năng định vị, theo dõi để xác định vị trí của công dân. Việc tích hợp, sử dụng thông tin trên chíp tuân thủ quy định của pháp luật Việt Nam, đảm bảo an ninh, an toàn thông tin.

Hỏi: Các trường hợp cần thiết phải cấp, đổi, cấp lại CCCD; các trường hợp không cần thiết cấp, đổi, cấp lại CCCD?

Đáp: Ngày 03/9/2020, Dự án sản xuất, cấp và quản lý CCCD đã được Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định phê duyệt chủ trương đầu tư dự án và đang thực hiện các công việc phục vụ cho việc cấp thẻ CCCD có gắn chíp điện tử trên phạm vi toàn quốc, dự kiến từ tháng 11/2020. Để tránh lãng phí, góp phần tiết kiệm ngân sách Nhà nước, giảm phiền hà cho công dân khi chuyển từ CMND và thẻ CCCD đang cấp hiện nay sang thẻ CCCD gắn chíp trên phạm vi toàn quốc, trong thời gian này, người dân nếu chưa cần thiết phải cấp, đổi, cấp lại CMND, CCCD thì hãy tạm dừng lại để chờ cấp CCCD có gắn chíp; đối với những trường hợp thực sự cần thiết thì thực hiện cấp, đổi CMND, CCCD, cụ thể:

- Những trường hợp cần thiết phải cấp, đổi CMND, CCCD: Là những trường hợp công dân chưa được cấp CMND, CCCD hoặc đã được cấp nhưng bị hỏng, mất, hết thời hạn mà phải thực hiện các giao dịch buộc phải có CMND, CCCD.

- Các trường hợp chưa cần thiết: Công dân đã được cấp CMND 9 số, CMND 12 số, thẻ CCCD còn nguyên vẹn và còn thời hạn sử dụng.

Hỏi: Về việc đổi thẻ CCCD gắn chíp điện tử?

Đáp: Theo quy định của Luật CCCD và pháp luật hiện hành, công dân vẫn được sử dụng 03 loại thẻ (CMND 9 số, CMND 12 số và CCCD mã vạch) đến khi thẻ hết giá trị sử dụng.

Tuy nhiên, để tạo điều kiện thuận lợi cho công dân trong thực hiện các giao dịch, cải cách hành chính hướng tới thực hiện Chính phủ điện tử, Chính phủ số, Bộ Công an khuyến khích công dân thực hiện đổi sang sử dụng thẻ CCCD gắn chíp điện tử khi dự án Sản xuất, cấp và quản lý CCCD được triển khai.

                                                                                                                                          Nguồn: Cổng thông tin điện tử - Công an tỉnh Thái Bình



FalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
Một số lưu ý khi thực hiện các quy định về biểu mẫu, Sổ Hộ tịch theo Thông tư số 04/2020/TT-BTPVăn bản hướng dẫn nghiệp vụBài viếtMột số lưu ý khi thực hiện các quy định về biểu mẫu, Sổ Hộ tịch theo Thông tư số 04/2020/TT-BTP/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Ngày 28/5/2020, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 04/2020/TT-BTP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch (Thông tư có hiệu lực kể từ ngày 16/7/2020, thay thế Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015).
12/11/2020 3:00 PMNoĐã ban hành

Để bảo đảm thực hiện thống nhất một số quy định của Thông tư số 04/2020/TT-BTP về sử dụng, biểu mẫu Sổ hộ tịch, Sở Tư pháp đề nghị Phòng Tư pháp các huyện, thị xã, thành phố lưu ý triển khai những nội dung sau:

1. Về sử dụng mẫu giấy tờ, Sổ hộ tịch.

2. Việc mở, khóa Sổ hộ tịch tại cơ quan đăng ký hộ tịch.

3. Lưu trữ Sổ hộ tịch, hồ sơ đăng ký hộ tịch.

CV_2107_STP-HCTP.signed.pdf


FalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
Sở Tư pháp triển khai Nghị định số 87/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định về cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, đăng ký hộ tịch trực tuyếnVăn bản hướng dẫn nghiệp vụBài viếtSở Tư pháp triển khai Nghị định số 87/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định về cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, đăng ký hộ tịch trực tuyến/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Nghị định số 87/2020/NĐ-CP quy định về việc xây dựng, quản lý, cập nhật, khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử; kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cổng dịch vụ công quốc gia, Cổng dịch vụ công, Hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp tỉnh, Cơ sở dữ liệu khác của bộ, ngành, địa phương; cấp bản sao trích lục hộ tịch, xác nhận thông tin hộ tịch; đăng ký hộ tịch trực tuyến.
12/8/2020 10:00 AMNoĐã ban hành

Ngày 28/7/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 87/2020/NĐ-CP quy định về cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, đăng ký hộ tịch trực tuyến.

Nghị định số 87/2020/NĐ-CP quy định về việc xây dựng, quản lý, cập nhật, khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử; kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cổng dịch vụ công quốc gia, Cổng dịch vụ công, Hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp tỉnh, Cơ sở dữ liệu khác của bộ, ngành, địa phương; cấp bản sao trích lục hộ tịch, xác nhận thông tin hộ tịch; đăng ký hộ tịch trực tuyến.

Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 15/9/2020 và bãi bỏ quy định về việc chứng thực 01 bản sao Sổ hộ tịch để chuyển lưu tại cơ quan quản lý hộ tịch cấp trên trực tiếp quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 12 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch.

Để nội dung Nghị định số 87/2020/NĐ-CP được triển khai có hiệu quả và đảm bảo đúng quy định của pháp luật, ngày 20/10/2020, Sở Tư pháp đã ban hành Công văn số 1779/STP-HCTP về việc triển khai thực hiện Nghị định số 87/2020/NĐ-CP quy định về cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, đăng ký hộ tịch trực tuyến. Theo đó, Sở Tư pháp đề nghị UBND các huyện, thị xã, thành phố quan tâm chỉ đạo triển khai thực hiện các nội dung sau đây:

1. Chỉ đạo các phòng chuyên môn, các bộ phận có liên quan; Ủy ban nhân các xã, phường, thị trấn trong phạm vi địa phương quản lý tổ chức triển khai thực hiện Nghị định số 87/2020/NĐ-CP ngày 28/7/2020 của Chính phủ.

2. Bảo đảm trang thiết bị, cơ sở hạ tầng, kinh phí xây dựng, cập nhật, khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử trong phạm vị địa phương quản lý quản lý đảm bảo theo đúng quy định hiện hành.

3. Chỉ đạo Phòng Tư pháp chỉ đề nghị Sở Tư  pháp cấp tài khoản người dùng là công chức làm công tác hộ tịch tại các Phòng Tư pháp, công chức tư pháp hộ tịch tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn khi có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 72 của Luật Hộ tịch. Người dùng được cấp tài khoản có trách nhiệm bảo mật thông tin tài khoản theo quy định pháp luật về an toàn thông tin; trường hợp nghi ngờ hoặc phát hiện bị lộ thông tin tài khoản phải liên hệ ngay với Sở Tư pháp. 

4. Chỉ đạo cơ quan đăng ký hộ tịch tại địa phương khi thực hiện việc khóa Sổ hộ tịch cần lưu ý:

- Đối với các Sổ hộ tịch đã mở trước ngày Nghị định số 87/2020/NĐ-CP có hiệu lực thì vẫn thực hiện khóa sổ khi hết sổ, chứng thực bản sao và chuyển lưu theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 12 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ.

- Đối với các Sổ hộ tịch mở sau ngày Nghị định số 87/2020/NĐ-CP có hiệu lực, cơ quan đăng ký hộ tịch không thực hiện việc chứng thực bản sao Sổ hộ tịch để chuyển lưu tại cơ quan quản lý hộ tịch cấp trên trực tiếp theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 12 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ.


CV_1779_STP-HCTP.signed.pdf
FalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
Ký kết quy chế phối hợp trong việc thực hiện kết nối liên thông dữ liệu đăng ký khai sinh để cấp thẻ BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổiThông báoBài viếtKý kết quy chế phối hợp trong việc thực hiện kết nối liên thông dữ liệu đăng ký khai sinh để cấp thẻ BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Để tăng cường sự phối hợp, nâng cao hiệu quả thực hiện liên thông thủ tục hành chính đăng ký khai sinh, cấp thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) cho trẻ em dưới 6 tuổi trên địa bàn tỉnh Bình Dương, ngày 03 tháng 11 năm 2020, Sở Tư pháp và Bảo hiểm xã hội (BHXH) tỉnh đã ký kết Quy chế phối hợp thực hiện kết nối liên thông dữ liệu đăng ký khai sinh, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
11/13/2020 9:00 AMNoĐã ban hành

Theo đó, hai ngành thống nhất thực hiện kết nối liên thông dữ liệu đăng ký khai sinh, cấp thẻ BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi được thực hiện bằng phương thức trao đổi thông tin qua hệ thống kết nối tự động trên Hệ thống thông tin đăng ký và quản lý hộ tịch với Hệ thống cấp thẻ BHYT qua trục NGSP (Hệ thống kết nối, liên thông các hệ thống thông tin ở Trung ương và địa phương).

Theo nội dung ký kết, công chức tư pháp hộ tịch của UBND cấp xã, phòng Tư pháp cấp huyện được phân công làm đầu mối tiếp nhận hồ sơ tiến hành đăng ký khai sinh cho trẻ em trên phần mềm đăng ký khai sinh điện tử dùng chung. Cán bộ đầu mối cập nhật phần mềm đăng ký khai sinh và chuyển dữ liệu sang Hệ thống cấp thẻ BHYT. Cơ quan BHXH thực hiện tiếp nhận dữ liệu đăng ký khai sinh để xử lý hồ sơ, cấp thẻ BHYT cho trẻ em theo thẩm quyền và chuyển thẻ BHYT của trẻ em qua dịch vụ bưu chính công ích cho cán bộ đầu mối thực hiện liên thông để trả kết quả cho người đăng ký.

Thời hạn cơ quan bảo hiểm xã hội thực hiện tiếp nhận dữ liệu, cấp thẻ BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi và bàn giao Thẻ BHYT cho Phòng Tư pháp và UBND cấp xã: trong thời hạn 04 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Trong trường hợp trẻ em bị bệnh nặng, bệnh hiểm nghèo cần phải điều trị tại cơ sở y tế, có xác nhận của Cơ sở y tế điều trị, việc cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi sẽ được cấp ngay trong ngày khi nhận hồ sơ theo quy định).

Việc cấp thẻ BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi thông qua kết nối liên thông dữ liệu giúp cho việc giải quyết thủ tục hành chính liên thông: Khai sinh – cấp thẻ BHYT được nhanh chóng, thuận lợi.

QCPH_01_BHXH-STP.pdf
FalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
Một số nội dung cơ bản của Nghị định số 87/2020/NĐ-CP về Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, đăng ký hộ tịch trực tuyếnVăn bản điều hànhBài viếtMột số nội dung cơ bản của Nghị định số 87/2020/NĐ-CP về Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, đăng ký hộ tịch trực tuyến/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Ngày 28 tháng 7 năm 2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 87/2020/NĐ-CP quy định về Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, đăng ký hộ tịch trực tuyến (sau đây gọi là Nghị định), có hiệu lực thi hành từ ngày 15/9/2020.
8/18/2020 4:00 PMNoĐã ban hành


Nghị định quy định các hoạt động liên quan đến việc xây dựng, quản lý, cập nhật, khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử (sau đây gọi tắt là CSDLHTĐT); quy định chi tiết việc kết nối, cung cấp, trao đổi dữ liệu giữa CSDLHTĐT với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (sau đây gọi tắt là CSDLQGDC) cũng như nguyên tắc kết nối, chia sẻ dữ liệu với các Cơ sở dữ liệu khác của bộ, ngành, địa phương, bảo đảm phù hợp, thống nhất với Nghị định số 47/2020/NĐ-CP ngày 09/4/2020 của Chính phủ về quản lý, kết nối, chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước. Trong đó, những nội dung  đáng chú ý gồm:

1. Quy định cụ thể hơn khái niệm CSDLHTĐT, các thông tin cần được xác lập trong CSDLHTĐT

Khoản 4 Điều 4 Luật hộ tịch đưa ra khái niệm CSDLHTĐT là cơ sở dữ liệu ngành, được lập trên cơ sở tin học hóa công tác đăng ký hộ tịch. Cụ thể hóa khái niệm CSDLHTĐT, Nghị định đã giải thích rõ: "Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử là Cơ sở dữ liệu được lập trên cơ sở tin học hóa công tác đăng ký hộ tịch, nhằm lưu giữ thông tin hộ tịch của cá nhân được đăng ký theo quy định pháp luật, bằng thiết bị số, trong môi trường mạng, thông qua Phần mềm đăng ký, quản lý hộ tịch điện từ dùng chung" (Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 87/2020/NĐ-CP).

Theo quy định của Nghị định, thông tin hộ tịch của cá nhân được xác lập trong CSDLHTĐT là các thông tin được thu thập khi cá nhân đăng ký khai sinh thông qua Hệ thống thông tin đăng ký và quản lý hộ tịch của Bộ Tư pháp, bao gồm các thông tin hộ tịch của cá nhân như: họ, chữ đệm và tên; giới tính, ngày, tháng, năm sinh; nơi sinh; quê quán; dân tộc; quốc tịch; số định danh cá nhân của người được đăng ký khai sinh; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, dân tộc, quốc tịch, quê quán, nơi cư trú, số định danh cá nhân, giấy tờ tùy thân của cha, mẹ của người được đăng ký khai sinh; ngoài ra còn có các thông tin về họ tên, số định danh cá nhân, giấy tờ tùy thân của người đi đăng ký khai sinh, mối quan hệ với người được khai sinh; số đăng ký, quyển số, ngày, tháng, năm đăng ký, tên cơ quan đăng ký khai sinh; họ tên, chức vụ của người ký Giấy khai sinh. Các thông tin này được thu thập nhằm bảo đảm sự đồng bộ, đầy đủ dữ liệu trong CSDLHTĐT, bảo đảm cung cấp đủ các trường dữ liệu có liên quan cho CSDLQGVDC. Trên cơ sở các thông tin hộ tịch gốc của cá nhân được xác lập khi đăng ký khai sinh, thì CSDLHTĐT sẽ tiếp tục cập nhật các thông tin hộ tịch khác của cá nhân như: kết hôn, thay đổi, cải chính hộ tịch, bổ sung thông tin hộ tịch, xác định lại dân tộc, giám hộ, nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi, khai tử; ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch theo bản án, quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; ghi vào Sổ hộ tịch việc hộ tịch của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài;...việc tự động cập nhật thông tin vừa không tốn thời gian trong việc phải nhập lại các thông tin đã có trước đó khi cá nhân thực hiện việc đăng ký khai sinh (như họ, chữ đệm, tên, ngày tháng năm sinh, dân tộc, quốc tịch, quê quán, thông tin về cha mẹ …), vừa bảo đảm dữ liệu hộ tịch của cá nhân được cập nhật đồng bộ, nhanh chóng, đầy đủ, kịp thời.

2. Bảo đảm tập trung, thống nhất trong xây dựng, quản lý CSDLHTĐT

Nhằm bảo đảm tính thống nhất trong việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác đăng ký và quản lý hộ tịch được xây dựng, quản lý tập trung, thống nhất từ Trung ương đến địa phương theo quy định của Luật Hộ tịch, Nghị định số 87/2020/NĐ-CP đã quy định việc xây dựng CSDLHTĐT bao gồm các hoạt động: bảo đảm cơ sở hạ tầng kỹ thuật, thông tin; thiết kế, tổ chức Cơ sở dữ liệu; triển khai, nâng cấp, phát triển, mở rộng Phần mềm đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử dùng chung; thu thập, chuẩn hóa, nhập dữ liệu; lưu trữ, bảo mật, bảo đảm an toàn, an ninh thông tin cho cơ sở dữ liệu; có giải pháp bảo đảm tính toàn vẹn, chống chối bỏ của dữ liệu; đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng, tổ chức bộ máy nhân sự, vận hành, quản lý, cập nhật, khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu; vận hành, hiệu chỉnh Cơ sở dữ liệu; Các hoạt động khác theo quy định pháp luật (Khoản 1 Điều 6).

Ngoài ra, tại Khoản 1 Điều 24 Nghị định cũng xác định: Các cơ quan đăng ký, quản lý hộ tịch ở địa phương sử dụng thống nhất Phần mềm  đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử dùng chung kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành.  

3. Quy định rõ nguồn thông tin cung cấp cho CSDLHTĐT

 Khoản 2 Điều 3 Nghị định xác định có các nguồn cung cấp thông tin cho CSDLHTĐT gồm:

- Thông tin hộ tịch của cá nhân được đăng ký thông qua Phần mềm đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử dùng chung;

- Thông tin hộ tịch được số hóa, chuẩn hóa từ sổ hộ tịch;

- Thông tin được kết nối, chia sẻ từ CSDLQGVDC;

- Thông tin hộ tịch được chia sẻ, chuyển đổi, chuẩn hóa từ các phần mềm, cơ sở dữ liệu điện tử được thiết lập trước đây.

4. Quy định về những hành vi không được làm

Điều 5 Nghị định nêu rõ về những hành vi không được làm như: Cung cấp thông tin không đúng sự thật khi đăng ký hộ tịch trực tuyến; Truy cập trái phép vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử; làm sai lệch thông tin, thay đổi, xóa, hủy dữ liệu trái pháp luật trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử; khai thác, sử dụng hoặc tiết lộ thông tin từ Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử không đúng quy định, xâm phạm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình; Phá hoại cơ sở hạ tầng thông tin hoặc cản trở quá trình vận hành, duy trì ổn định, liên tục của Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử.

5. Việc khai thác, sử dụng CSDLHTĐT

Nghị định quy định theo hướng cho phép cá nhân, cơ quan có thẩm quyền đăng ký và quản lý hộ tịch, cơ quan có chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực hộ tịch, cơ quan, tổ chức khác đều có quyền khai thác, sử dụng CSDLHTĐT, cụ thể:

- Cơ quan đăng ký hộ tịch (UBND cấp xã, UBND cấp huyện, Cơ quan đại diện) khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử để đăng ký hộ tịch theo thẩm quyền; cấp bản sao trích lục hộ tịch; cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân; thống kê số liệu đăng ký hộ tịch và thực hiện các hoạt động quản lý nhà nước khác trong lĩnh vực hộ tịch theo quy định pháp luật.

- Cơ quan quản lý hộ tịch ở Trung ương (Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao), cơ quan quản lý hộ tịch ở địa phương (Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp) khai thác, sử dụng CSDLHTĐT thông qua các hoạt động: cấp bản sao trích lục hộ tịch, xác nhận thông tin hộ tịch theo yêu cầu của cá nhân.

- Cơ quan, tổ chức khác được cung cấp thông tin hộ tịch từ CSDLHTĐT trong trường hợp phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước, thông qua các cơ quan quản lý hộ tịch có thẩm quyền. Các yêu cầu khai thác, sử dụng CSDLHTĐT nhằm các mục đích khác (điều tra xã hội học, cung cấp dịch vụ ...) đều không được giải quyết.

- Cá nhân khai thác CSDLHTĐT thông qua việc thực hiện thủ tục hành chính; Cá nhân có yêu cầu khai thác thông tin hộ tịch của mình trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử thì gửi yêu cầu cấp bản sao trích lục hộ tịch, xác nhận thông tin hộ tịch tới cơ quan đăng ký, quản lý hộ tịch có thẩm quyền.

6. Quy định về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có yêu cầu khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có yêu cầu khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử phải có trách nhiệm:

- Tuân thủ quy định pháp luật hộ tịch và các quy định pháp luật hiện hành về sử dụng thông tin trên mạng; khai thác và sử dụng dữ liệu trong môi trường mạng; bảo vệ đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình.

-Tổ chức, cá nhân có yêu cầu cấp bản sao trích lục hộ tịch, xác nhận thông tin hộ tịch, khai thác, sử dụng thông tin trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch phải trả phí theo quy định pháp luật.

7. Quy định về đăng ký trực tuyến; cấp bản sao trích lục hộ tịch, văn bản xác nhận thông tin hộ tịch

Việc đăng ký trực tuyến là một phương thức giúp cá nhân và cơ quan có thẩm quyền có thêm lựa chọn khi thực hiện thủ tục hành chính, bên cạnh phương thức: nộp hồ sơ trực tiếp tại trụ sở cơ quan có thẩm quyền và gửi hồ sơ qua hệ thống bưu chính. Do trình tự, thủ tục giải quyết các yêu cầu đăng ký hộ tịch vẫn phải thực hiện theo quy định của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP, nên Nghị định chỉ quy định về nguyên tắc, cách thức tiếp nhận, giải quyết yêu cầu đăng ký hộ tịch trực tuyến, bảo đảm thống nhất với Nghị định số 45/2020/NĐ-CP ngày 07/4/2020 về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử, theo đó, người có yêu cầu đăng ký hộ tịch trực tuyến sẽ phải truy cập vào Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc Cổng dịch vụ công cấp tỉnh (không phụ thuộc vào nơi cư trú) để đăng ký tài khoản, xác thực người dùng theo hướng dẫn và yêu cầu của Cổng dịch vụ công. Sau khi có tài khoản, đăng nhập thành công, người có yêu cầu sẽ cung cấp thông tin vào biểu mẫu điện tử tương tác trên Cổng dịch vụ công, đính kèm bản chụp/bản sao điện tử các giấy tờ, tài liệu mà thủ tục đăng ký hộ tịch yêu cầu, nộp phí/lệ phí trực tuyến. Theo đó, khi nhận kết quả đối với các việc hộ tịch pháp luật quy định người có yêu cầu đăng ký hộ tịch phải có mặt tại cơ quan đăng ký hộ tịch để ký vào Sổ hộ tịch và nhận kết quả bao gồm: khai sinh; kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch; khai tử, thì người có yêu cầu đăng ký hộ tịch chỉ được nhận kết quả theo phương thức nhận kết quả là giấy tờ hộ tịch tại cơ quan đăng ký hộ tịch. và người có yêu cầu đăng ký hộ tịch phải nộp, xuất trình các giấy tờ, tài liệu là thành phần hồ sơ đăng ký hộ tịch theo quy định pháp luật hộ tịch.

Đối với các việc hộ tịch mà người có yêu cầu đăng ký hộ tịch không phải có mặt tại cơ quan đăng ký hộ tịch để ký vào Sổ hộ tịch và nhận kết quả, nhưng vẫn phải nộp, xuất trình các giấy tờ, tài liệu là thành phần hồ sơ đăng ký hộ tịch theo quy định pháp luật hộ tịch, bao gồm: xác nhận thông tin hộ tịch; ghi vào Sổ hộ tịch việc khai sinh, kết hôn, ly hôn, hủy việc kết hôn, giám hộ, nhận cha, mẹ, con, xác định cha, mẹ, con, nuôi con nuôi, thay đổi hộ tịch, khai tử của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì người có yêu cầu đăng ký hộ tịch được lựa chọn nhận kết quả theo một trong các phương thức như: Nhận bản điện tử giấy tờ hộ tịch gửi qua thư điện tử, Kho quản lý dữ liệu điện tử của tổ chức, cá nhân đó; Nhận bản điện tử giấy tờ hộ tịch gửi vào thiết bị số, thông qua phương pháp truyền số liệu phù hợp, đảm bảo an toàn, bảo mật thông tin; Nhận kết quả là giấy tờ hộ tịch thông qua hệ thống bưu chính; Nhận kết quả là giấy tờ hộ tịch tại cơ quan đăng ký hộ tịch nhưng phải thực hiện việc nộp, xuất trình các giấy tờ, tài liệu theo quy định trước khi nhận kết quả. Trường hợp phải nộp bản sao hoặc xuất trình giấy tờ không phải là giấy tờ tùy thân mà người yêu cầu đăng ký hộ tịch đã có bản sao điện tử giấy tờ hoặc đã có thông tin trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử thì không phải nộp, xuất trình.

Do điều kiện cơ sở hạ tầng thông tin ở các địa phương chưa đồng bộ, việc sử dụng phương thức đăng ký trực tuyến của người dân còn chưa cao nên phạm vi, mức độ, thời điểm triển khai phương thức đăng ký hộ tịch trực tuyến đối với do các địa phương quyết định, không bắt buộc phải triển khai tại tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khi Nghị định 87/2020/NĐ-CP có hiệu lực.

FalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
Bỏ quy định phạt cảnh cáo khi làm giấy khai sinh muộnThông báoTinBỏ quy định phạt cảnh cáo khi làm giấy khai sinh muộn/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Hiện hành, người có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em mà không thực hiện việc đăng ký đúng thời hạn quy định sẽ bị phạt cảnh cáo (theo khoản 1 Điều 27 Nghị định 110/2013/NĐ-CP).
7/23/2020 5:00 PMNoĐã ban hành

Tuy nhiên, Nghị định 82/2020/NĐ-CP đã bỏ quy định phạt cảnh cáo đối với hành vi không thực hiện việc đăng ký khai sinh đúng thời hạn quy định.

Theo khoản 1 Điều 15 Luật hộ tịch 2014: "Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh con, cha hoặc mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho con; trường hợp cha, mẹ không thể đăng ký khai sinh cho con thì ông hoặc bà hoặc người thân thích khác hoặc cá nhân, tổ chức đang nuôi dưỡng trẻ em có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em."

Đồng thời, tăng mức phạt đối với các hành vi vi phạm quy định về đăng ký khai sinh như sau:

- Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi tẩy xoá, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy tờ do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền cấp để làm thủ tục đăng ký khai sinh. (Hiện hành, phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng).

- Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

Cam đoan, làm chứng sai sự thật về việc sinh;

Cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật về nội dung khai sinh;

Sử dụng giấy tờ của người khác để làm thủ tục đăng ký khai sinh.

(Hiện hành, phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng, riêng hành vi làm giả giấy tờ để làm thủ tục đăng ký khai sinh bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng).

Nghị định 82/2020/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/9/2020 và thay thế Nghị định 110/2013/NĐ-CP  và Nghị định 27/2015/NĐ-CP.​

​​(Sưu tầm: Trang thông tin điện tử Thư viện pháp luật)

FalseNguyễn Thị Bảo Khuyên
03 trường hợp không được ủy quyền đăng ký hộ tịchThông báoTin03 trường hợp không được ủy quyền đăng ký hộ tịch/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Khi thực hiện các thủ tục đăng ký hộ tịch sau đây sẽ không được ủy quyền cho người khác thực hiện thay theo quy định tại Thông tư 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020:
7/23/2020 5:00 PMNoĐã ban hành

- Đăng ký kết hôn;

- Đăng ký lại việc kết hôn;

- Đăng ký nhận cha, mẹ, con.

Tuy những trường hợp trên không được ủy quyền đăng ký nhưng một bên có thể trực tiếp nộp hồ sơ tại cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền, không phải có văn bản ủy quyền của bên còn lại.

Liên quan đến việc ủy quyền đăng ký hộ tịch, Thông tư 04 cũng quy định về các trường hợp được ủy quyền sau đây:

- Người yêu cầu cấp bản sao trích lục hộ tịch, cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, yêu cầu đăng ký các việc hộ tịch theo quy định tại Điều 3 Luật hộ tịch được uỷ quyền cho người khác thực hiện thay (trừ 03 trường hợp đã nêu ở trên).

- Việc ủy quyền phải lập thành văn bản, được chứng thực theo quy định của pháp luật. Trường hợp người được ủy quyền là ông, bà, cha, mẹ, con, vợ, chồng, anh, chị, em ruột của người ủy quyền thì văn bản ủy quyền không phải chứng thực.

- Trường hợp người đi đăng ký khai sinh cho trẻ em là ông, bà, người thân thích khác theo quy định tại khoản 1 Điều 15 Luật hộ tịch thì không phải có văn bản ủy quyền của cha, mẹ trẻ em, nhưng phải thống nhất với cha, mẹ trẻ em về các nội dung khai sinh.​

​​(Sưu tầm: Trang thông tin điện tử Thư viện pháp luật)


FalseNguyễn Thị Bảo Khuyên
1 - 30Next
Ảnh
Video
Audio