Bồi thường nhà nước - Văn bản điều hành
 
​Biểu mẫu 01,02,03,04 TT 08.2019.doc
 
Ngày 03/02/2023, UBND tỉnh Bình Dương đã ban hành Kế hoạch số 385/KH-UBND Triển khai công tác bồi thường nhà nước năm 2023 trên địa bàn tỉnh Bình Dương
 
​MỘT SỐ NHIỆM VỤ CỦA NGÀNH TƯ PHÁP.docx
​     Thực hiện quy định của Luật TNBTCNN, các văn bản hướng dẫn thi hành và hướng dẫn của Bộ Tư pháp, UBND tỉnh Bình Dương đã kịp thời triển khai thi hành Luật TNBTCNN, các văn bản hướng dẫn thi hành; bám sát yêu cầu tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật TNBTCNN năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ (ban hành kèm theo Quyết định số 1269/QĐ-TTg ngày 25/8/2017 của Thủ tướng Chính phủ); ...
 
Để giúp các Sở, ngành và địa phương trong việc tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Sở Tư pháp cung cấp đến các Sở, ngành và Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố những văn bản hiện đang có hiệu lực trong lĩnh vực bồi thường của Nhà nước, cụ thể như sau: Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017; Nghị định số 68/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số Điều và biện pháp thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; Thông tư số 04/2018/TT-BTP ngày 17/5/2018 của Bộ Tư pháp về việc ban hành một số biểu mẫu trong công tác bồi thường nhà nước; Thông tư liên tịch số 17/2018/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT ngày 20/12/2018 giữa Bộ trưởng Bộ Tư pháp với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc bãi bỏ toàn bộ Thông tư liên tịch số 22/2014/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT ngày 21 tháng 11 năm 2014. Thông tư số 08/2019/TT-BTP ngày 10 tháng 12 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước; Thông tư số 09/2019/TT-BTP ngày 10 tháng 12 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định biện pháp hỗ trợ, hướng dẫn người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường nhà nước
 
​Nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ, hướng dẫn người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường quy định tại khoản đ khoản 2 và điểm c khoản 3 Điều 73 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, thực hiện nhiệm vụ quy định tại Điều 37 Nghị định số 68/2018/NĐ-CP ngày 18/5/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật TNBTCNN (Nghị định 68), ...
 
 
  
Phân loại
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Nội dung
  
  
Báo cáo về việc đánh giá và xếp loại kết quả thực hiện công tác bồi thường nhà nước trong năm 2023 của Sở Tư pháp tỉnh Bình DươngTin ngành tư phápTinBáo cáo về việc đánh giá và xếp loại kết quả thực hiện công tác bồi thường nhà nước trong năm 2023 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Thực hiện Công văn số 483/BTNN-NV1 ngày 05/10/2023 của Cục Bồi thường nhà nước – Bộ Tư pháp về việc đánh giá, chấm điểm kết quả thực hiện công tác bồi thường nhà nước, căn cứ Quyết định số 3062/QĐ-BTP ngày 11 tháng 12 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc đánh giá kết quả thực hiện công tác bồi thường nhà nước, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương báo cáo kết quả tự chấm điểm.
20/12/2023 4:00 CHNoĐã ban hành

​Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương báo cáo kết quả tự chấm điểm công tác bồi thường nhà nước năm 2023 như sau

1. Đối với Nhóm tiêu chí đánh giá thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước (50 điểm)

2.  Nhóm tiêu chí đánh giá tổ chức các hoạt động phối hợp thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước (20 điểm)

3. Nhóm tiêu chí đánh giá tham gia giải quyết yêu cầu bồi thường theo quy định tại khoản 4 Điều 45 và khoản 3 Điều 46 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (10 điểm)

4. Nhóm tiêu chí đánh giá điều kiện bảo đảm thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước (10 điểm)

4. Nhóm tiêu chí đánh giá của cơ quan giải quyết bồi thường, cơ quan nhà nước khác có liên quan tại địa phương trong việc thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước và tham gia giải quyết yêu cầu bồi thường (10 điểm)

Tổng số điểm: 100 điểm.​

FalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
Báo cáo sơ kết 05 năm công tác bồi thường nhà nước trên địa bàn tỉnh Bình DươngTin ngành tư phápTinBáo cáo sơ kết 05 năm công tác bồi thường nhà nước trên địa bàn tỉnh Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Thực hiện Công văn số 2522/BTP-BTNN ngày 20/6/2023 của Bộ Tư pháp về việc phối hợp xây dựng Báo cáo sơ kết 05 năm thi hành Luật TNBTCNN và kết quả thực hiện Nghị quyết số 134/2020/QH14 về công tác bồi, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương đã ban hành báo cáo số 229/BC-UBND ngày 08/8/2023 sơ kết 05 năm công tác bồi thường nhà nước trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
20/12/2023 4:00 CHNoĐã ban hành

Thực hiện Luật TNBTCNN năm 2017 và Quyết định số 1269/QĐ-TTg ngày 25 tháng 8 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ, các nhiệm vụ trọng tâm công tác BTNN hàng năm của Bộ Tư pháp được kịp thời, thống nhất và hiệu quả, UBND tỉnh Bình Dương đã kịp thời ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn thi hành Luật TNBTCNN tại địa phương, đồng thời bám sát yêu cầu tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật TNBTCNN năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ (ban hành kèm theo Quyết định số 1269/QĐ-TTg ngày 25/8/2017 của Thủ tướng Chính phủ) và các nhiệm vụ trọng tâm về công tác BTNN hàng năm của Bộ Tư pháp như Kế hoạch triển khai thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước hàng năm[1].

Ngay sau khi Luật TNBTCNN có hiệu lực thi hành, ngoài việc UBND tỉnh ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện thống nhất trên phạm vi toàn tỉnh, Sở Tư pháp là cơ quan thường trực, tham mưu cho Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương tiếp tục tuyên truyền phổ biến Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và toàn thể nhân dân trên địa bàn tỉnh, như đăng tải các quy định của pháp luật về bồi thường nhà nước trên trang thông tin điện tử của Sở; báo Bình Dương; biên soạn và cấp phát Tờ gấp pháp luật về bồi thường nhà nước; đăng bài trên trang website của Sở Tư pháp, báo Bình Dương những nội dung chính của Luật TNBTCNN năm 2017 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Sở Tư pháp đã thực hiện tóm tắt các nội dung của Luật Trách nhiệm bồi thường nhà nước gửi qua mail công vụ cho toàn thể cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh, biên soạn và cấp phát Tờ gấp pháp luật về bồi thường nhà nước 46.000 tờ cho người dân. 

Thực hiện chức năng giúp UBND tỉnh quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước, trong 05 năm, Sở Tư pháp chưa nhận được những đề xuất, kiến nghị của cơ quan giải quyết bồi thường hoặc cơ quan khác có liên quan đến công tác bồi thường nhà nước theo quy định tại Điều 3 Thông tư số 08/2019/TT-BTP. ​

 UBND tỉnh đã ban hành Quyết định ban hành Quy chế phối hợp thực hiện công tác bồi thường nhà nước trên địa bàn tỉnh Bình Dương[1], song song đó, chỉ đạo Sở Tư pháp thực hiện việc nghiên cứu, rà soát các nội dung của Quy chế theo hướng dẫn tại Công văn số 4131/BTP-BTNN ngày 24/10/2022 của Bộ Tư pháp hướng dẫn xây dựng văn bản phối hợp thực hiện công tác BTNN. Trong thời gian qua, thực hiện Quy chế phối hợp, các cơ quan có liên quan tại địa phương thực hiện nghiêm túc và hiệu quả các nội dung phối hợp.


Thực hiện quy định của Luật TNBTCNN, các văn bản hướng dẫn thi hành và hướng dẫn của Bộ Tư pháp, UBND tỉnh Bình Dương đã kịp thời triển khai thi hành Luật TNBTCNN, các văn bản hướng dẫn thi hành; bám sát yêu cầu tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật TNBTCNN năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ (ban hành kèm theo Quyết định số 1269/QĐ-TTg ngày 25/8/2017 của Thủ tướng Chính phủ); chỉ đạo tiếp cận Luật TNBTCNN theo phương châm phòng ngừa là chính, vì vậy, các sở, ngành, địa phương trên địa bàn tỉnh thường xuyên quán triệt nội dung Luật TNBTCNN, các văn bản hướng dẫn thi hành cho đội ngũ công chức nhằm phòng ngừa phát sinh sai phạm trong thi hành công vụ; nâng cao hơn nữa nhận thức pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với đội ngũ công chức và tổ chức tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cho cá nhân, tổ chức phù hợp với từng đối tượng theo chức năng, nhiệm vụ của sở, ngành, đơn vị. 

- Kiến nghị Bộ Tư pháp:

+ Tiếp tục phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao chỉ đạo Tòa án các cấp gửi các bản án đã có hiệu lực pháp luật cho cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước ở địa phương như: Bản án dân sự giải quyết tranh chấp về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; bản án hành chính có nội dung chấp nhận yêu cầu khởi kiện và các bản án hình sự xét xử người thi hành công vụ có nội dung tuyên người thi hành công vụ có tội đồng thời có nội dung giải quyết yêu cầu bồi thường.

+ Tiếp tục tổ chức tập huấn chuyên sâu về nghiệp vụ bồi thường nhà nước cho đội ngũ công chức làm công tác tham mưu về bồi thường nhà nước tại địa phương.

+ Tiếp tục đẩy mạnh việc tuyên truyền Luật TNBTCNN và các văn bản hướng dẫn thi hành với phương thức phong phú, đa dạng.

- Kiến nghị cơ quan giải quyết yêu cầu bồi thường nhà nước:

+ Cần tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát nhất là trong việc ban hành văn bản hành chính kịp thời phát hiện những sai sót xử lý phù hợp quy định của pháp luật giảm mức thấp nhất thiệt hại cho tổ chức và công dân.

+ Tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, thường xuyên rèn luyện phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức, hạn chế sai phạm dẫn đến phát sinh trách nhiệm bồi thường nhà nước.

+ Thực hiện nghiêm việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và khiếu kiện hành chính đảm bảo kịp thời, khách quan, đúng pháp luật, đồng thời tổ chức thực hiện và giải quyết dứt điểm kết luận giải quyết khiếu nại, tố cáo và thi hành đúng đầy đủ, kịp thời các bản án đã có hiệu lực pháp luật đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Bên cạnh đó rà soát và tập trung giải quyết kịp thời, dứt điểm các vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài.

+ Tiếp tục quan tâm đến công tác dự báo, hạn chế thấp nhất các vụ việc có thể xảy ra bồi thường nhà nước, thường xuyên kiểm tra, rà soát các quyết định, hành vi thực thi công vụ trong hoạt quản lý hành chính nhà nước có thể dẫn đến vi phạm, phải bồi thường để tổ chức rút kinh nghiệm, phòng tránh.      

229-BC.signed - bc cong tac btnn 05 nam.pdf


[1]Kế hoạch số 4854/KH-UBND ngày 27/10/2017 của UBND tỉnh Bình Dương về triển khai thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trên địa bàn tỉnh Bình Dương; Kế hoạch số 170/KH-UBND ngày 14/01/2019 của UBND tỉnh Bình Dương về triển khai công tác BTNN năm 2019; Kế hoạch số 214/KH-UBND ngày 16/01/2020 của UBND tỉnh Bình Dương về triển khai công tác BTNN năm 2020; Công văn số 1124/UBDN-NC ngày 22/3/2021 của UBND tỉnh Bình Dương về việc thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm công tác BTNN năm 2021; Kế hoạch số 732/KH-UBND ngày 21/2/2022 của UBND tỉnh Bình Dương về triển khai công tác BTNN năm 2022 trên địa bàn tỉnh Bình Dương; Quyết định số 717/QĐ-UBND ngày 24/3/2022 của UBND tỉnh Bình Dương Ban hành quy chế phối hợp thực hiện công tác BTNN trên địa bàn tỉnh Bình Dương;  kiểm tra việc thực hiện công tác pháp chế và công tác bồi thường nhà nước trên địa bàn tỉnh năm 2022; Kế hoạch số 385/KH-UBND ngày 03/2/2023 của UBND tỉnh Bình Dương về triển khai công tác BTNN năm 2023 trên địa bàn tỉnh Bình Dương;

[1] Quyết định số 717/QĐ-UBND ngày 24/3/2022 của UBND tỉnh Quyết định ban hành Quy chế phối hợp thực hiện công tác bồi thường nhà nước trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

FalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
Hướng dẫn giải quyết yêu cầu bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính tại Tòa ánThông báoTinHướng dẫn giải quyết yêu cầu bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính tại Tòa án/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
15/12/2023 11:00 SANoĐã ban hành

Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư số 02/2023/TT-TNDTC hướng dẫn thi hành Điều 55 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Thông tư áp dụng đối với: 
Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án hình sự, vụ án hành chính giải quyết yêu cầu bồi thường thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Người bị thiệt hại; người thừa kế của người bị thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại chết; tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ của tổ chức bị thiệt hại đã chấm dứt tồn tại; người đại diện theo pháp luật của người bị thiệt hại thuộc trường hợp phải có người đại diện theo pháp luật theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Cá nhân, pháp nhân được người quy định tại khoản 2 Điều này ủy quyền thực hiện quyền yêu cầu bồi thường.
Người thi hành công vụ, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại.
Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có liên quan.
Nội dung của bản án có giải quyết yêu cầu bồi thường
Bản án hình sự, bản án hành chính giải quyết yêu cầu bồi thường thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước phải có các nội dung sau đây:
1. Tại phần thông tin về người tham gia tố tụng, ghi tư cách tham gia tố tụng của người có yêu cầu bồi thường thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tố tụng hành chính.
2. Tại phần “NỘI DUNG VỤ ÁN”, trình bày thành đoạn riêng thể hiện đầy đủ nội dung yêu cầu của người có yêu cầu bồi thường.
3. Tại phần “NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN”, trình bày thành đoạn riêng về các vấn đề sau đây:
a) Trường hợp chấp nhận yêu cầu bồi thường thì phải phân tích, nhận định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật, gây thiệt hại cho người yêu cầu và thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; nội dung yêu cầu của người yêu cầu bồi thường; xác định nhũng thiệt hại đối với người yêu cầu bồi thường do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra; tài liệu, chứng cứ đã đủ giải quyết yêu cầu bồi thường;
b) Trường hợp không chấp nhận yêu cầu bồi thường thì phải phân tích, nhận định hành vi của người thi hành công vụ là không trái pháp luật, không thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước;
c) Trường hợp tách yêu cầu bồi thường để giải quyết bằng vụ án khác thì phải phân tích, nhận định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật và thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nhưng tài liệu, chứng cứ chưa đầy đủ để giải quyết yêu cầu bồi thường.
4. Tại phần “QUYẾT ĐỊNH”, trình bày thành đoạn riêng về các vấn đề sau đây:
a) Trường hợp chấp nhận yêu cầu bồi thường thì ghi rõ chấp nhận yêu cầu bồi thường của người yêu cầu; xác định các loại thiệt hại được bồi thường, mức bồi thường, phục hồi danh dự (nếu có); việc khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp khác (nếu có); xác định cơ quan có trách nhiệm chi trả tiền bồi thường, thực hiện phục hồi danh dự (nếu có), khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp khác (nếu có); yêu cầu cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại xác định trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ gây thiệt hại và thu tiền hoàn trả; người yêu cầu bồi thường không phải nộp án phí, lệ phí và các loại phí khác đối với yêu cầu bồi thường;
b) Trường hợp không chấp nhận yêu cầu bồi thường thì ghi rõ không chấp nhận yêu cầu bồi thường của người yêu cầu; người yêu cầu bồi thường không phải nộp án phí, lệ phí và các loại phí khác đối với yêu cầu bồi thường;
c) Trường hợp tách yêu cầu bồi thường thì ghi rõ hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật và thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; tách yêu cầu bồi thường để giải quyết bằng vụ án khác theo thủ tục tố tụng dân sự; người yêu cầu bồi thường có quyền khởi kiện vụ án dân sự yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường theo thủ tục tố tụng dân sự.​
FalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
BÁO CÁO đánh giá, chấm điểm kết quả thực hiện  công tác bồi thường nhà nước năm 2023Thông báoTinBÁO CÁO đánh giá, chấm điểm kết quả thực hiện  công tác bồi thường nhà nước năm 2023/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
16/11/2023 5:00 CHNoĐã ban hành

Thực hiện Công văn số 483/BTNN-NV1 ngày 05/10/2023 của Cục Bồi thường nhà nước – Bộ Tư pháp về việc đánh giá, chấm điểm kết quả thực hiện công tác bồi thường nhà nước, căn cứ Quyết định số 3062/QĐ-BTP ngày 11 tháng 12 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc đánh giá kết quả thực hiện công tác bồi thường nhà nước, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương báo cáo kết quả tự chấm điểm.

hình bồi thường nhà nước.jpg

BC_176_HCTP.signed.pdf

FalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
THẨM QUYỀN HỖ TRỢ, HƯỚNG DẪN NGƯỜI BỊ THIỆT HẠI  THỰC HIỆN THỦ TỤC YÊU CẦU BỒI THƯỜNG THEO QUY ĐỊNH Văn bản hướng dẫn nghiệp vụBài viếtTHẨM QUYỀN HỖ TRỢ, HƯỚNG DẪN NGƯỜI BỊ THIỆT HẠI  THỰC HIỆN THỦ TỤC YÊU CẦU BỒI THƯỜNG THEO QUY ĐỊNH /Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
26/10/2023 9:00 SANoĐã ban hành

  1. Hỗ trợ người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường

Khoản 2 Điều 73 Luật Trách nhiệm bồi thường nhà nước năm 2017 quy định việc Hỗ trợ người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường thuộc thẩm quyền của Bộ Tư pháp.

Điều 5 Thông tư 09/2019/TT-BTP ngày 10/12/2019 của Bộ Tư pháp quy định biện pháp hỗ trợ, hướng dẫn người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường nhà nước quy định như sau: Trách nhiệm hỗ trợ người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường nhà nước:

Bộ Tư pháp hỗ trợ người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường nhà nước theo các nội dung quy định tại Điều 4 của Thông tư này như sau:

"1. Hướng dẫn người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường nhà nước đối với vụ việc đã có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường theo nội dung quy định tại Điều 6 của Thông tư này;

2. Cung cấp thông tin về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cho cá nhân, tổ chức có yêu cầu hỗ trợ về vụ việc của cá nhân, tổ chức; cung cấp thông tin về việc giải quyết yêu cầu bồi thường theo yêu cầu của người bị thiệt hại liên quan đến vụ việc yêu cầu bồi thường của mình; có ý kiến bằng văn bản đối với cơ quan có thẩm quyền để việc thực hiện thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường đúng quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo yêu cầu của người bị thiệt hại liên quan đến vụ việc yêu cầu bồi thường của mình".

 2. Hướng dẫn người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường:

+ Điểm c Khoản 3 Điều 73 của Luật TNBTNN năm 2017 quy định: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án tại địa phương và có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: "…c) Hướng dẫn người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường trong phạm vi địa phương mình..";

+ Khoản 2 Điều 7 Thông tư 09/2019/TT-BTP ngày 10/12/2019 của Bộ Tư pháp quy định biện pháp hỗ trợ, hướng dẫn người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường nhà nước quy định Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hướng dẫn người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường nhà nước theo quy định tại Điều 6 của Thông tư này trong phạm vi địa phương mình.

Sở Tư pháp giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ quy định tại khoản này. Nội dung hướng dẫn bao gồm: Quyền và nghĩa vụ của người bị thiệt hại; Trách nhiệm của cơ quan giải quyết bồi thường; Trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường tại cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại; Phục hồi danh dự; Việc chi trả tiền bồi thường.

Như vậy, việc hỗ trợ, hướng dẫn người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường nhà nước thuộc trách nhiệm của Bộ Tư pháp – Cục Bồi thường nhà nước giúp Bộ Tư pháp; việc hướng dẫn người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường nhà nước thuộc trách nhiệm của UBND tỉnh – Sở Tư pháp giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ này. 

12.png

 

FalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
Biểu mẫu báo cáo thống kê 2023Văn bản điều hànhTinBiểu mẫu báo cáo thống kê 2023/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/10/2023 2:00 CHNoĐã ban hànhFalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
KẾ HOẠCH Sơ kết 05 năm thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường  của Nhà nước trên địa bàn tỉnh Bình DươngThông báoTinKẾ HOẠCH Sơ kết 05 năm thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường  của Nhà nước trên địa bàn tỉnh Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Thực hiện Quyết định số 1983/QĐ-BTP ngày 07/10/2022 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành kế hoạch sơ kết 05 năm thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Kế hoạch sơ kết 05 năm thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
03/07/2023 5:00 CHNoĐã ban hành

1. Phạm vi sơ kết

Việc sơ kết được thực hiện trên phạm vi toàn tỉnh, tại tất cả các sở, ban, ngành, các cơ quan, tổ chức ở địa phương.

Mốc thời gian thông tin, số liệu báo cáo sơ kết: Tính từ ngày 01/7/2018 đến ngày 30/6/2023.

2. Nội dung sơ kết

2.1. Kết quả thi hành Luật TNBTCNN trên địa bàn tỉnh.

2.1.1. Trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác bồi thường

+ Việc ban hành văn bản để chỉ đạo, hướng dẫn thi hành Luật TNBTCNN;

+ Tình hình quán triệt, phổ biến, tuyên truyền Luật TNBTCNN và các văn bản hướng dẫn thi hành;

+ Công tác rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước;

+ Công tác hướng dẫn, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ công tác bồi thường nhà nước cho đội ngũ công chức được giao thực hiện công tác bồi thường;

+ Công tác xác định cơ quan giải quyết bồi thường theo quy định của Luật TNBTCNN năm 2017 và các văn bản hướng dẫn thi hành;

+ Công tác theo dõi, đôn đốc, kiểm tra công tác bồi thường nhà nước; giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm trong công tác bồi thường nhà nước theo quy định của pháp luật;

+ Công tác kiện toàn tổ chức bộ máy và biên chế để bảo đảm thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác bồi thường;

+ Công tác thống kê, báo cáo về việc thực hiện công tác bồi thường;

+ Công tác phối hợp thực hiện công tác bồi thường nhà nước;

+ Tình hình kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm trong việc giải quyết bồi thường, thực hiện trách nhiệm hoàn trả theo quy định của pháp luật;

+ Tình hình kiến nghị người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có nội dung giải quyết bồi thường theo quy định của pháp luật; yêu cầu Thủ trưởng cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại hủy quyết định giải quyết bồi thường trong trường hợp có một trong các căn cứ quy định tại khoản 1 và điểm a khoản 3 Điều 48 của Luật TNBTCNN mà không ra quyết định hủy.

2.1.2. Tình hình yêu cầu bồi thường và giải quyết bồi thường.

Trách nhiệm thống kê số liệu vụ việc yêu cầu bồi thường và giải quyết bồi thường: Đề nghị các cơ quan thực hiện theo Điều 26 Thông tư số 08/2019/TT-BTP ngày 10/12/2019 của Bộ Tư pháp quy định biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước.

2.1.3. Kết quả thực hiện trách nhiệm hoàn trả; tình hình thu, nộp tiền hoàn trả và xử lý kỷ luật người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật.

2.1.4. Tình hình sử dụng ngân sách nhà nước chi cho công tác bồi thường nhà nước.

2.1.5. Tác động tích cực của Luật TNBTCNN, nhất là nâng cao ý thức trách nhiệm của cán bộ, công chức trong thi hành công vụ, hạn chế sai phạm làm phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

2.2. Tồn tại, hạn chế trong thi hành luật và nguyên nhân

2.2.1. Tồn tại, hạn chế

2.2.2. Nguyên nhân

- Nguyên nhân chủ quan.

- Nguyên nhân khách quan.

2.3. Hạn chế, bất cập trong các quy định của Luật và văn bản hướng dẫn thi hành

2.4. Đề xuất, kiến nghị

- Kiến nghị về sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định của Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành (nếu có);

- Kiến nghị về các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành Luật.

2.5.  Đề xuất khen thưởng những tập thể, cá nhân có thành tích trong 05 năm thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành.

3. Hình thức sơ kết

Tiến hành sơ kết 05 năm thi hành Luật TNBTCNN trong phạm vi ngành, lĩnh vực, địa bàn thuộc phạm vi quản lý bằng hình thức Báo cáo sơ kết theo nội dung tại Phần II Kế hoạch và theo đề cương báo cáo sơ kết 05 năm thi hành Luật TNBTCNN và các biểu mẫu kèm theo Kế hoạch này.​


981-_KH.signed.pdf

FalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
Cục Bồi thường Nhà nước - Bộ Tư pháp tổ chức Tọa đàm về những khó khăn, vướng mắc trong 05 năm triển khai và tổ chức thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (TNBTCNN) năm 2017 tại tỉnh Bình DươngThông báoTinCục Bồi thường Nhà nước - Bộ Tư pháp tổ chức Tọa đàm về những khó khăn, vướng mắc trong 05 năm triển khai và tổ chức thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (TNBTCNN) năm 2017 tại tỉnh Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
26/06/2023 4:00 CHNoĐã ban hành

​Sáng 23/6/2023, tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Cục Bồi thường Nhà nước - Bộ Tư pháp đã tổ chức Tọa đàm về những khó khăn, vướng mắc trong 05 năm triển khai và tổ chức thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (TNBTCNN) năm 2017 cho các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Bà Nguyễn Thị Tố Hằng - Phó Cục trưởng Cục Bồi thường Nhà nước và ông Nguyễn Quốc Trí - Phó Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương đồng chủ trì hội nghị.

65557fcac851190f4040.jpg

Thời gian qua, Bình Dương đã tập trung triển khai thực hiện nghiêm túc và hiệu quả Luật TNBTCNN năm 2017. Trên địa bàn tỉnh chưa có vụ khiếu kiện, yêu cầu bồi thường tồn đọng, kéo dài. Riêng trong năm 2022, Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương đã xét xử và tuyên Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh bồi thường một trường hợp ngụ tại Bình Dương với số tiền hơn 1 tỷ đồng.

Luật TNBTCNN đã có tác động tích cực tới đời sống kinh tế - xã hội và nhận thức, ý thức trách nhiệm công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức trong thời gian qua. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác triển khai thi hành Luật còn gặp những khó khăn, vướng mắc nhất định.

Số lượng vụ việc đã giải quyết xong trong cả ba lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án trên cả nước chưa cao. Một số cơ quan giải quyết bồi thường chưa thực hiện nghiêm các quy định về điều kiện thụ lý, giải quyết vụ việc yêu cầu bồi thường trong đó có việc không thực hiện đúng thời hạn giải quyết, xác định thiệt hại, án phí, lệ phí đối với nội dung yêu cầu bồi thường cũng như hướng dẫn người bị thiệt hại thực hiện quyền yêu cầu bồi thường. Việc giải quyết bồi thường tại cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ chưa hiệu quả. Trong một số vụ việc, người bị thiệt hại chưa hợp tác với cơ quan giải quyết bồi thường hoặc một số vụ việc người yêu cầu bồi thường không đưa ra được căn cứ cũng như tài liệu, chứng từ chứng minh thiệt hại của mình…

2da9553ee2a533fb6ab4.jpg

Tại buổi tọa đàm, các đại biểu đã đề xuất các biện pháp nhằm thúc đẩy việc đưa Luật TNBTCNN đi vào cuộc sống. Theo đó, cần nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị trong thực hiện quản lý Nhà nước về công tác bồi thường nhà nước, trong đó chú trọng giải quyết các vụ việc tồn đọng, kéo dài và giải quyết các vụ việc mới đúng quy định của pháp luật. Thường xuyên thực hiện công tác bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ chuyên sâu cho đội ngũ công chức làm công tác bồi thường nhà nước của các sở, ngành, cấp huyện, cấp xã. Chú trọng chất lượng, hiệu quả và thực chất công tác tuyên truyên, phổ biến giáo dục pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; tăng cường công tác kiểm tra, kiểm tra liên ngành, phối hợp liên ngành và các nhiệm vụ để nắm bắt đầy đủ tình hình yêu cầu bồi thường, giải quyết bồi thường; thực hiện hiệu quả công tác hỗ trợ, hướng dẫn người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường…

IMG_8619.jpg


FalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
Sở Tư pháp tổ chức Tập huấn nghiệp vụ công tác bồi thường Nhà nước năm 2023Thông báoTinSở Tư pháp tổ chức Tập huấn nghiệp vụ công tác bồi thường Nhà nước năm 2023/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
26/06/2023 4:00 CHNoĐã ban hành

​Chiều ngày 23/6/2023, tại Trường chính trị tỉnh Bình Dương, Sở Tư pháp đã tổ chức Hội nghị tập huấn chuyên sâu nghiệp vụ công tác bồi thường Nhà nước cho khoảng 120 cán bộ làm công tác pháp chế các sở, ban, ngành; công chức Tư pháp cấp huyện, xã trên địa bàn tỉnh.

a95ab9a614e1c4bf9df0.jpg

Phát biểu khai mạc buổi tập huấn, ông Nguyễn Quốc Trí - Phó Giám đốc Sở Tư pháp nhấn mạnh, trong những năm qua nhận thức pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước của đội ngũ công chức đã được nâng cao và đạt được những kết quả tích cực, góp phần quan trọng vào thực hiện mục tiêu tăng cường pháp chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách hành chính của địa phương. 

Bên cạnh kết quả đạt được, thời gian qua vẫn còn một số hạn chế như: Việc tham mưu về công tác bồi thường Nhà nước chưa có cán bộ chuyên trách; đa số công chức phụ trách công tác bồi thường Nhà nước ở các sở, ngành chưa có kinh nghiệm nên còn lúng túng, gặp không ít khó khăn trong công tác tham mưu. Do vậy, buổi tập huấn nhằm tiếp tục bồi dưỡng nghiệp công tác bồi thường Nhà nước cho cán bộ làm côn tác pháp chế các sở, ban, ngành, công chức Tư pháp cấp huyện, xã trên địa bàn tỉnh. Qua đó, giúp các đơn vị, địa phương nắm rõ và tham mưu có hiệu quả các nhiệm vụ của mình.

cd07c3e36ea4befae7b5.jpg

Tại buổi tập huấn, các đại biểu được nghe báo cáo viên Nguyễn Thị Tố Hằng - Phó Cục trưởng Cục Bồi thường Nhà nước - Bộ Tư pháp trình bày một số nội dung: Kỹ năng, nghiệp vụ quản lý Nhà nước về công tác bồi thường Nhà nước; kỹ năng, nghiệp vụ giải quyết bồi thường; trách nhiệm của cơ quan quản lý Nhà nước về công tác bồi thường Nhà nước; cơ quan tài chính có thẩm quyền, viện kiểm sát có thẩm quyền trong việc tham gia xác minh thiệt hại, thương lượng việc bồi thường, xác định trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ; quyền, nghĩa vụ của người yêu cầu bồi thường, người thi hành công vụ gây thiệt hại và trách nhiệm của cơ quan giải quyết bồi thường; thương lượng việc bồi thường;…

588c7362de250e7b5734.jpg

FalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
Triển khai công tác bồi thường nhà nước năm 2023 trên địa bàn tỉnh Bình DươngVăn bản điều hànhTinTriển khai công tác bồi thường nhà nước năm 2023 trên địa bàn tỉnh Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Ngày 03/02/2023, UBND tỉnh Bình Dương đã ban hành Kế hoạch số 385/KH-UBND Triển khai công tác bồi thường nhà nước năm 2023 trên địa bàn tỉnh Bình Dương
14/02/2023 9:00 SANoĐã ban hànhFalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
Biểu mẫu báo cáo theo Thông tư số 08/2019/TT-BTPVăn bản hướng dẫn nghiệp vụTinBiểu mẫu báo cáo theo Thông tư số 08/2019/TT-BTP/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
27/10/2022 9:00 SANoĐã ban hànhFalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
Hướng dẫn mới của Bộ Tư pháp về Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, đăng ký hộ tịch trực tuyếnVăn bản hướng dẫn nghiệp vụTinHướng dẫn mới của Bộ Tư pháp về Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, đăng ký hộ tịch trực tuyến/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
25/10/2022 4:00 CHNoĐã ban hànhFalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
MỘT SỐ NHIỆM VỤ CỦA NGÀNH TƯ PHÁP  THEO QUYẾT ĐỊNH SỐ số 402/QĐ-TTgVăn bản điều hànhTinMỘT SỐ NHIỆM VỤ CỦA NGÀNH TƯ PHÁP  THEO QUYẾT ĐỊNH SỐ số 402/QĐ-TTg/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
25/10/2022 4:00 CHNoĐã ban hànhFalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
NHỮNG ĐIỂM LƯU Ý TẠI NGHỊ ĐỊNH 118/2021/NĐ-CP QUY ĐỊNH CHI TIẾT MỘT SỐ ĐIỀU VÀ BIỆN PHÁP THI HÀNH LUẬT  XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNHVăn bản điều hànhTinNHỮNG ĐIỂM LƯU Ý TẠI NGHỊ ĐỊNH 118/2021/NĐ-CP QUY ĐỊNH CHI TIẾT MỘT SỐ ĐIỀU VÀ BIỆN PHÁP THI HÀNH LUẬT  XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
25/10/2022 4:00 CHNoĐã ban hànhFalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
Một số kết quả công tác bồi thường Nhà nước trên địa bàn tỉnh Bình Dương sau hơn 3 năm triển khai thực hiện Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2017Văn bản điều hànhBài viếtMột số kết quả công tác bồi thường Nhà nước trên địa bàn tỉnh Bình Dương sau hơn 3 năm triển khai thực hiện Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2017/hanhchinhtuphap/PublishingImages/2022-02/luat-tnbtnn_Key_08022022111230.jpg
08/02/2022 12:00 CHNoĐã ban hành

     Thực hiện quy định của Luật TNBTCNN, các văn bản hướng dẫn thi hành và hướng dẫn của Bộ Tư pháp, UBND tỉnh Bình Dương đã kịp thời triển khai thi hành Luật TNBTCNN, các văn bản hướng dẫn thi hành; bám sát yêu cầu tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật TNBTCNN năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ (ban hành kèm theo Quyết định số 1269/QĐ-TTg ngày 25/8/2017 của Thủ tướng Chính phủ); chỉ đạo tiếp cận Luật TNBTCNN theo phương châm phòng ngừa là chính, vì vậy, các sở, ngành, địa phương trên địa bàn tỉnh thường xuyên quán triệt nội dung Luật TNBTCNN, các văn bản hướng dẫn thi hành cho đội ngũ công chức nhằm phòng ngừa phát sinh sai phạm trong thi hành công vụ; nâng cao hơn nữa nhận thức pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với đội ngũ công chức và tổ chức tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cho cá nhân, tổ chức phù hợp với từng đối tượng theo chức năng, nhiệm vụ của sở, ngành, đơn vị. Vì vậy, từ khi Luật TNBTCNN năm 2017 có hiệu lực đến nay, trên địa bàn tỉnh Bình Dương không phát sinh vụ việc yêu cầu bồi thường của Nhà nước.

     Các quy định của Luật TNBTCNN năm 2017 đã quy định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án; thiệt hại được bồi thường; quyền, nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại; cơ quan giải quyết bồi thường; thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường; phục hồi danh dự; kinh phí bồi thường; trách nhiệm hoàn trả; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong công tác bồi thường nhà nước... Với việc quy định cụ thể, đầy đủ các nội dung trên đã góp phần nâng cao trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong thực thi công vụ; tạo thuận lợi cho việc giải quyết bồi thường; bảo đảm tốt hơn quyền của người bị thiệt hại; giúp cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường có đầy đủ cơ sở pháp lý để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước, qua đó, nắm bắt một cách toàn diện và thực chất tình hình thực hiện công tác bồi thường nhà nước.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện có những vướng mắc, bất cập như: Việc tham mưu về công tác bồi thường nhà nước chưa có cán bộ chuyên trách; đa số công chức phụ trách công tác bồi thường nhà nước ở các Sở, ngành chưa có kinh nghiệm nên còn lúng túng, gặp không ít khó khăn trong công tác tham mưu. Một số đơn vị gửi thông tin, báo cáo về kết quả thực hiện công tác bồi thường nhà nước trong phạm vi quản lý của mình còn chưa đầy đủ thông tin và thời hạn theo đề nghị của Sở Tư pháp.​

FalseNguyễn Thị Thúy Diễm
Thống kê các văn bản liên quan đến công tác bồi thường nhà nướcVăn bản điều hànhTinThống kê các văn bản liên quan đến công tác bồi thường nhà nước/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Để giúp các Sở, ngành và địa phương trong việc tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Sở Tư pháp cung cấp đến các Sở, ngành và Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố những văn bản hiện đang có hiệu lực trong lĩnh vực bồi thường của Nhà nước, cụ thể như sau:
Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017;
Nghị định số 68/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số Điều và biện pháp thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước;
Thông tư số 04/2018/TT-BTP ngày 17/5/2018 của Bộ Tư pháp về việc ban hành một số biểu mẫu trong công tác bồi thường nhà nước;
Thông tư liên tịch số 17/2018/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT ngày 20/12/2018 giữa Bộ trưởng Bộ Tư pháp với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc bãi bỏ toàn bộ Thông tư liên tịch số 22/2014/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT ngày 21 tháng 11 năm 2014.
Thông tư số 08/2019/TT-BTP ngày 10 tháng 12 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước;
Thông tư số 09/2019/TT-BTP ngày 10 tháng 12 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định biện pháp hỗ trợ, hướng dẫn người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường nhà nước
27/10/2021 10:00 SANoĐã ban hành
FalseĐặng Thị Nhiển
VAI TRÒ CỦA SỞ TƯ PHÁP TRONG THAM MƯU GIÚP UBND CẤP TỈNH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG  TẠI ĐỊA PHƯƠNG Văn bản hướng dẫn nghiệp vụTinVAI TRÒ CỦA SỞ TƯ PHÁP TRONG THAM MƯU GIÚP UBND CẤP TỈNH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG  TẠI ĐỊA PHƯƠNG /Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
15/07/2021 4:00 CHYesĐã ban hành

      Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 (Luật TNBTCNN 2017), có hiệu lực từ ngày 01/7/2018. Theo đó, tại Trung ương Chính phủ là cơ quan có trách nhiệm thống nhất quản lý nhà nước về công tác bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính, thi hành án, tố tụng trên phạm vi cả nước. Cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước là Bộ Tư pháp. Tại địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (UBND cấp tỉnh) là cơ quan có trách nhiệm thống nhất quản lý nhà nước về công tác bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính, thi hành án, tố tụng tại địa phương. Cơ quan tham mưu đầu mối giúp UBND cấp tỉnh quản lý nhà nước về công tác bồi thường là Sở Tư pháp. 
      Tại khoản 3 Điều 73 Luật TNBTCNN năm 2017 đã quy định UBND cấp tỉnh là cơ quan có trách nhiệm thống nhất quản lý nhà nước về công tác bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính, thi hành án, tố tụng tại địa phương. Cụ thể, nhiệm vụ UBND cấp tỉnh gồm 09 nhiệm vụ, quyền hạn. Với vai trò là cơ quan tham mưu giúp UBND cấp tỉnh (khoản 4 Điều 73 Luật TNBTCNN năm 2017), Sở Tư pháp có những nhiệm vụ, quyền hạn sau:
    - Thứ nhất, Sở Tư pháp trực tiếp thực hiện nhiệm vụ và báo cáo UBND cấp tỉnh: Xác định cơ quan giải quyết bồi thường theo quy định tại khoản 4 Điều 41 của Luật TNBTCNN.
   - Thứ hai, Sở Tư pháp tham mưu giúp UBND cấp tỉnh thực hiện:
+ Hướng dẫn, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ công tác bồi thường nhà nước;
+ Hướng dẫn người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường trong phạm vi địa phương mình; 
+ Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra công tác bồi thường nhà nước;
+ Thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm trong công tác bồi thường nhà nước.
   - Thứ ba, Sở Tư pháp tham mưu giúp UBND cấp tỉnh phối hợp, kiến nghị hoặc cùng các cơ quan có thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn:
+ Xác định cơ quan giải quyết bồi thường theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 40 của Luật TNBTCNN; 
+ Hàng năm chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan tại địa phương, thống kê việc thực hiện công tác bồi thường nhà nước báo cáo Bộ Tư pháp theo quy định;
+ Yêu cầu cơ quan giải quyết bồi thường báo cáo về việc giải quyết yêu cầu bồi thường, thực hiện trách nhiệm hoàn trả và xử lý kỷ luật người thi hành công vụ trong trường hợp cần thiết;
+ Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm trong việc giải quyết bồi thường, thực hiện trách nhiệm hoàn trả trong phạm vi do mình quản lý; 
+ Kiến nghị người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có nội dung giải quyết bồi thường theo quy định của pháp luật; 
+ Yêu cầu Thủ trưởng cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại hủy quyết định giải quyết bồi thường trong trường hợp có một trong các căn cứ quy định tại khoản 1 và điểm a khoản 3 Điều 48 của Luật mà không ra quyết định hủy. 
   - Thứ tư: là thành phần bắt buộc tham gia xác minh thiệt hại đối với vụ việc phức tạp (khoản 4, Điều 45 Luật TNBTCNN 2017) và tham gia thương lượng (khoản 3, Điều 46 Luật TNBTCNN 2017).​

Sở Tư Pháp ban hành công văn số 993/STP-HCTP ngày 02/7/2021 về việc phối hợp xây dựng Báo cáo thực hiện Nghị quyết số 134/2020/QH14 của Quốc hội khóa XIV về công tác bồi thường nhà nước năm 2021Văn bản hướng dẫn nghiệp vụTinSở Tư Pháp ban hành công văn số 993/STP-HCTP ngày 02/7/2021 về việc phối hợp xây dựng Báo cáo thực hiện Nghị quyết số 134/2020/QH14 của Quốc hội khóa XIV về công tác bồi thường nhà nước năm 2021/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
   Thực hiện quy định Công văn số 2007/BTP-BTNN ngày 21/6/2021 của Bộ Tư pháp và Công văn số 1069/VPUB_NC về Báo cáo thực hiện Nghị quyết số 134/2020/QH14 của Quốc hội khóa XIV về công tác bồi thường nhà nước năm 2021.
06/07/2021 5:00 CHNoĐã ban hành

​Kèm theo mẫu biểu báo cáo, thống kê xem file dưới đây: 

cv2007signed.pdf  (Công văn số 2007/BTP-BTNN ngày 21/6/2021 của Bộ Tư pháp về việc phối hợp xây dựng Báo cáo thực hiện Nghị quyết số 134/2020/QH14 của Quốc hội khóa XIV về công tác bồi thường nhà nước năm 2021​)

CV_1069_VP_UBND_TINH_BD.pdf (Công văn số 1069/VPUB_NC ngày 28/6/2021 về Báo cáo thực hiện Nghị quyết số 134/2020/QH14 của Quốc hội khóa XIV về công tác bồi thường nhà nước năm 2021)

CV_993_STP-HCTP.signed.pdf (Công văn số 993/STP-HCTP của Sở Tư Pháp ngày 02/7/2021 về việc phối hợp xây dựng Báo cáo thực hiện Nghị quyết số 134/2020/QH14 của Quốc hội khóa XIV về công tác bồi thường nhà nước năm 2021)

Biểu mẫu kèm​ theo: Phụ lục số 01, 02.docx


FalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
Tuyên truyên về Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nướcVăn bản hướng dẫn nghiệp vụBài viếtTuyên truyên về Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
"LÀM GÌ ĐỂ ĐƯỢC NHÀ NƯỚC BỒI THƯỜNG KHI THIỆT HẠI DO NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ GÂY RA?"
27/05/2021 3:00 CHNoĐã ban hành

​​

Thực hiện Kế hoạch hoạt động năm 2020 - Hợp phần Pagoda trong khuôn khổ Dự án tăng cường pháp luật và tư pháp tại Việt Nam (EU JULE) do Liên minh Châu Âu tài trợ.

Cục Bồi thường nhà nước đã phối hợp với dự án UNDP xây dựng video tuyên truyền quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường nhà nước.

Video "Làm gì để được Nhà nước bồi thường khi thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra" được xây dựng trên cơ sở nội dung quy định của Luật trách nhiệm bồi thường nhà nước năm 2017 với cách thức, ngôn ngữ phù hợp dễ tiếp cận với người dân. 

Dưới đây là 02 phiên bản: 01 video tiếng Kinh không có phụ đề và 01 video tiếng Kinh có phụ đề chữ

​​

 

 

FalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
Phối hợp thực hiện báo cáo công tác bồi thường nhà nước năm 2020Văn bản hướng dẫn nghiệp vụBài viếtPhối hợp thực hiện báo cáo công tác bồi thường nhà nước năm 2020/hanhchinhtuphap/PublishingImages/2020-11/trien-khai-thi-hanh-luat-trach-nhiem-boi-thuong-cua-nha-nuoc_Key_12112020103811.jpg
Thực hiện Kế hoạch số 4854/KH-UBND ngày 27 tháng 10 năm 2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương về triển khai thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 (gọi tắt là Luật TNBTCNN năm 2017) trên địa bàn tỉnh Bình Dương và Kết luận số 162/KL-BTNN ngày 22 tháng 6 năm 2020 của Cục Bồi thường nhà nước – Bộ Tư pháp về kiểm tra định kỳ công tác bồi thường nhà nước năm 2020 trên địa bàn tỉnh Bình Dương
12/11/2020 11:00 SANoĐã ban hành

1. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh, Viện kiểm sát nhận dân tỉnh, Công an tỉnh, Cục Thi hành án dân sự tỉnh, Thanh tra tỉnh phối hợp với Sở Tư pháp trong công tác theo dõi, nắm bắt tình hình khiếu nại, khiếu kiện trong phạm vi tỉnh để qua đó, có cơ sở phục vụ cho việc dự báo được khả năng phát sinh yêu cầu bồi thường trên địa bàn tỉnh.
2. Thống kê, báo cáo công tác bồi thường nhà nước theo quy định tại Thông tư số 08/2019/TT-BTP ngày 10/12/2019 của Bộ Tư pháp quy định biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác bồi thường, cụ thể:
- Phạm vi báo cáo: Từ ngày 01 tháng 01 đến hết ngày 31 tháng 10 hàng năm.
- Thời hạn gửi báo cáo: Sở Tư pháp nhận báo cáo năm chậm nhất trước ngày 30 tháng 11 của năm báo cáo.
- Phương thức gửi báo cáo: theo một trong các phương thức: (1) Gửi trực tiếp; (2) Gửi qua dịch vụ bưu chính; (3) Gửi qua hệ thống thư điện tử công vụ và báo cáo phải có chữ ký số hoặc xác nhận của Thủ trưởng cơ quan; (4) gửi qua trục liên thông phần mềm quản lý văn bản.

CV_1812_STP-HCTP.signed.pdf

LUAT TNBTNN 10.signed.pdf

TT 08.signed.pdf

KH-214.signed.pdf

KH 4854 UBND TINH BD.PDF

ND 68.signed.pdf


False
Tiếp và làm việc với Đoàn kiểm tra công tác bồi thường nhà nước của  Cục Bồi thường nhà nước - Bộ Tư phápTin ngành tư pháp; Thông báoBài viếtTiếp và làm việc với Đoàn kiểm tra công tác bồi thường nhà nước của  Cục Bồi thường nhà nước - Bộ Tư pháp/hanhchinhtuphap/PublishingImages/2020-06/f3f7494d1444e91ab055_Key_11062020161718.jpg
11/06/2020 5:00 CHNoĐã ban hành

           Ngày 10/6/2020, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương đã tổ chức buổi làm việc với Đoàn kiểm tra của Cục Bồi thường nhà nước – Bộ Tư pháp để báo cáo về công tác bồi thường nhà nước trên địa bàn tỉnh Bình Dương theo kế hoạch kiểm tra định kỳ công tác bồi thường nhà nước.

86abe464b96d44331d7c.jpg

          Thành phần tham dự Buổi làm việc, về phía Đoàn kiểm tra của Cục Bồi thường nhà nước: ông Lê Thái Phương, Phó Cục trưởng Cục Bồi thường nhà nước, Trưởng đoàn kiểm tra và các thành viên đoàn; Về phía địa phương: ông Nguyễn Quốc Trí – Phó Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; các đồng chí là lãnh đạo Ban nội chính tỉnh ủy, Cục THADS tỉnh Bình Dương, TAND tỉnh Bình Dương, VKSND tỉnh Bình Dương, đại diện Công an tỉnh Bình Dương, Sở Tài chính, Sở Nội vụ.

          Tại Buổi làm việc, đại diện Sở Tư pháp đã báo cáo việc thực hiện công tác bồi thường nhà nước, tình hình bồi thường và giải quyết yêu cầu bồi thường trên địa bàn tỉnh Bình Dương trong thời gian qua.

dafa660e3b07c6599f16.jpg

          Bên cạnh đó, các đại biểu cũng đã cùng nhau trao đổi, thảo luận những khó khăn, vướng mắc về việc triển khai thi hành Luật TNBTCNN 2017 trong các ngành và trao đổi về các vụ việc đang giải quyết bồi thường, các vụ việc có khả năng phát sinh trách nhiệm bồi thường trên địa bàn tỉnh Bình Dương và có những kiến nghị, đề xuất đối với công tác bồi thường đến Đoàn kiểm tra.

41b321507c598107d848.jpg

          Qua buổi làm việc, Đoàn kiểm tra đánh giá cao việc triển khai thực hiện công tác bồi thường nhà nước của tỉnh Bình Dương; tiếp thu những kiến nghị, đề xuất của địa phương. Đồng thời cũng đề nghị Sở Tư pháp và các đơn vị có liên quan cần tiếp tục phát huy, dự báo các vụ việc bồi thường có thể xảy ra, kịp thời chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan giải quyết yêu cầu bồi thường ở địa phương để công tác bồi thường nhà nước tại tỉnh Bình Dương được triển khai thực hiện thống nhất và có hiệu quả hơn nữa trong thời gian tới./.

FalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
Thông tư số 09/2019/TT-BTP ngày 10/12/2019 quy định biện pháp hỗ trợ, hướng dẫn người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường nhà nướcVăn bản điều hànhThông tư số 09/2019/TT-BTP ngày 10/12/2019 quy định biện pháp hỗ trợ, hướng dẫn người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường nhà nước/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
03/04/2020 10:00 SANoĐã ban hành

​​tt09.pdf

FalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 09/2019/TT-BTP ngày 10/12/2019 quy định biện pháp hỗ trợ, hướng dẫn người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường nhà nướcThông báo; Văn bản điều hànhBộ Tư pháp ban hành Thông tư số 09/2019/TT-BTP ngày 10/12/2019 quy định biện pháp hỗ trợ, hướng dẫn người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường nhà nước/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
03/04/2020 9:00 SANoĐã ban hành


Nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ, hướng dẫn người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường quy định tại khoản đ khoản 2 và điểm c khoản 3 Điều 73 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, thực hiện nhiệm vụ quy định tại Điều 37 Nghị định số 68/2018/NĐ-CP ngày 18/5/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật TNBTCNN (Nghị định 68), ngày 10/12/2019, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 09/2019/TT-BTP quy định biện pháp hỗ trợ, hướng dẫn người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường nhà nước (sau đây gọi tắt là Thông tư số 09/2019/TT-BTP).

Thông tư quy định về nội dung, trách nhiệm cũng như công tác phối hợp, cách thức hỗ trợ, hướng dẫn người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường nhà nước của cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện việc hỗ trợ, hướng dẫn người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường. Thông tư gồm 4 chương với 17 Điều, cụ thể:

Chương I. Những quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 3);

Chương II. Nội dung và trách nhiệm hỗ trợ, hướng dẫn người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường nhà nước (từ Điều 4 đến Điều 8);

Chương III. Cách thức hỗ trợ, hướng dẫn người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường nhà nước, (từ Điều 9 đến Điều 15);

Chương IV. Điều khoản thi hành (Điều 16 và Điều 17).
Ngoài ra, Thông tư còn ban hành kèm theo 03 biểu mẫu trong việc thực hiện việc hỗ trợ, hướng dẫn người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường như: Mẫu văn bản yêu cầu hỗ trợ; Mẫu văn bản yêu cầu hướng dẫn; Sổ tiếp nhận, xử lý yêu cầu hỗ trợ, hướng dẫn. Thông tư số 09/2019/TT-BTP có hiệu lực kể từ ngày 25 tháng 01 năm 2020.​​​​

FalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
Thông tư số 08/2019/TT-BTP ngày 10/12/2019 quy định biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nướcVăn bản điều hànhTinThông tư số 08/2019/TT-BTP ngày 10/12/2019 quy định biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
19/03/2020 12:00 CHNoĐã ban hànhFalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 08/2019/TT-BTP ngày 10/12/2019 quy định biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nướcThông báoTinBộ Tư pháp ban hành Thông tư số 08/2019/TT-BTP ngày 10/12/2019 quy định biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
19/03/2020 11:00 SANoĐã ban hành

         Ngày 10/12/2019, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 08/2019/TT-BTP quy định biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25/01/2020.

          Thông tư quy định biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước của Bộ Tư pháp và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án, cụ thể quy định đối với các nhiệm vụ sau:

          - Hướng dẫn nghiệp vụ công tác bồi thường nhà nước, giải đáp vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước;

          - Theo dõi công tác bồi thường nhà nước;

          - Đôn đốc công tác bồi thường nhà nước;

          - Kiểm tra công tác bồi thường nhà nước;

          - Báo cáo thống kê việc thực hiện công tác bồi thường nhà nước;

          - Kiến nghị, yêu cầu người có thẩm quyền thực hiện công tác bồi thường nhà nước trong một số trường hợp cụ thể.

          Ngoài ra, Thông tư còn ban hành 05 biểu mẫu kèm theo như: Biểu mẫu danh mục vụ việc giải quyết yêu cầu bồi thường; Biểu mẫu về báo cáo việc thực hiện công tác bồi thường nhà nước; Biểu mẫu tổng hợp tình hình yêu cầu bồi thường, giải quyết bồi thường và chi trả tiền bồi thường; Biểu mẫu tình hình thực hiện trách nhiệm hoàn trả; Sổ thụ lý hồ sơ yêu cầu bồi thường.

          Thông tư số 08/2019/TT-BTP ngày 10/12/2019 được ban hành đã đáp ứng yêu cầu triển khai thi hành các quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 về quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước, nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước cũng như công tác phối hợp trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác bồi thường.​

(sưu tầm)

FalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
Kế hoạch triển khai công tác bồi thường nhà nước năm 2020Văn bản điều hànhTinKế hoạch triển khai công tác bồi thường nhà nước năm 2020/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
19/03/2020 11:00 SANoĐã ban hànhFalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
Quyết định số 3062/QĐ-BTP ban hành Bộ tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện công tác bồi thường nhà nước Văn bản điều hànhBài viếtQuyết định số 3062/QĐ-BTP ban hành Bộ tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện công tác bồi thường nhà nước /Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
31/12/2019 4:00 CHNoĐã ban hành

Ngày 11/12/2019, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 3062/QĐ-BTP ban hành Bộ tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện công tác bồi thường nhà nước thay thế Quyết định số 634/QĐ-BTP ngày 22/3/2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc ban hành Bộ tiêu chí và quy trình đánh giá hiệu quả thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước. Theo đó, một số nội dung đã được sửa đổi, bổ sung so với trước đây như:

          - Về thành phần Bộ tiêu chí, được phân loại nhiều hơn, cụ thể hơn so với 4 nhóm của Bộ tiêu chí theo QĐ số 634/QĐ-BTP:

          Nhóm tiêu chí đánh giá thực hiện quản lý nhà nước công tác bôi thường nhà nước.

          Nhóm tiêu chí đánh giá tổ chức các hoạt động phối hợp thực hiện công tác bồi thường nhà nước.

          Nhóm tiêu chí đánh giá tham gia giải quyết yêu cầu bối thường theo quy định tại khoản 4 Điều 45 và khoản 3 Điều 46 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

          Nhóm tiêu chí đánh giá điều kiện bảo đảm thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước.

          Nhóm tiêu chí đánh giá của cơ quan giải quyết bối thường, cơ quan nhà nước có liên quan tại địa phương trong việc thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước và tham gia giải quyết yêu cầu bồi thường.

           - Bộ tiêu chí mới quy định cụ thể hơn về phương pháp đánh giá (phương pháp định tính và phương pháp định lượng) giúp cho quá trình đánh giá được chính xác hơn và việc đánh giá được thuận lợi hơn...

Quyết định số 3062/QĐ-BTP có hiệu lực ngày 11/12/2019 đã kịp thời khắc phục những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong công tác bồi thường nhà nước trong thời gian qua và tăng cường công tác quản lý nhà nước về bồi thường nhà nước, đáp ứng nhu cầu thực tiễn./.​

Quyet_dinh_3062_QD-BTP.pdf

FalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
Một số vấn đề về thời hiệu yêu cầu bồi thường theo quy định của Luật TNBT của Nhà nước năm 2017Văn bản hướng dẫn nghiệp vụTinMột số vấn đề về thời hiệu yêu cầu bồi thường theo quy định của Luật TNBT của Nhà nước năm 2017/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
05/12/2019 11:00 SANoĐã ban hành

Chế định về thời hiệu là một chế định quan trọng trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, việc nhận thức đúng và áp dụng nghiêm túc, thống nhất về thời hiệu có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện quyền yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại, cũng như việc giải quyết bồi thường của cơ quan nhà nước. Do đó, việc nhận thức đúng, áp dụng pháp luật thống nhất về thời hiệu, cách tính thời hiệu và các quy định liên quan đến thời hiệu là cần thiết.
1. Thời hiệu yêu cầu bồi thường
Thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định[1]. Thời hiệu yêu cầu bồi thường là thời hiệu hưởng quyền dân sự mà khi kết thúc thời hạn đó, chủ thể được hưởng quyền dân sự.
Theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thì thời hiệu yêu cầu bồi thường được hiểu là thời hạn do Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (Luật TNBTCNN) quy định, mà khi kết thúc thời hạn đó thì người bị thiệt hại không còn quyền yêu cầu bồi thường.
          Do thời hiệu yêu cầu bồi thường là thời hiệu hưởng quyền dân sự nên thời hiệu yêu cầu bồi thường trong pháp luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được quy định phù hợp với quy định về thời hiệu khởi kiện về yêu cầu bồi thường thiệt hại trong phần trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của pháp luật dân sự. Quy định về thời hiệu tạo điều kiện bảo toàn chứng cứ để xác định sự thật khách quan trong tranh chấp dân sự. Nếu không có thời hiệu thì những tranh chấp đã xảy ra quá lâu, việc thu thập, xác minh chứng cứ sẽ khó khăn trong hoạt động của Tòa án và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Luật TNBTCNN năm 2017 quy định 04 loại thời hiệu yêu cầu bồi thường như sau:
Thứ nhất, thời hiệu yêu cầu bồi thường áp dụng tại cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại là 03 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu bồi thường nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường[2]. Theo đó, việc tính thời hạn hưởng quyền yêu cầu bồi thường là 03 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu bồi thường nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường. Quy định này có lợi và bảo đảm quyền yêu cầu bồi thường hơn cho người có quyền yêu cầu bồi thường. Đồng thời, quy định về thời hiệu này phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về thời điểm bắt đầu thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự[3]. Theo đó, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được tính từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Như vậy, thời hiệu khởi kiện được tính từ khi có vi phạm nghĩa vụ dân sự mà người có quyền biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, không phải tính tại thời điểm vi phạm nghĩa vụ xảy ra hay thời điểm xảy ra hành vi trái pháp luật gây thiệt hại về sức khỏe, tài sản. Vì có thể sau thời điểm đó, người có quyền yêu cầu mới biết được quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.
Ví dụ 1: Ngày 01/6/2017, Cục THADS tỉnh D ban hành quyết định giải quyết khiếu nại, chấp nhận khiếu nại của ông A về việc Cục THADS tỉnh D tổ chức kê biên, bán đấu giá nhà đất của ông A trái pháp luật. Ngày 15/6/2017, ông A nhận được quyết định giải quyết khiếu nại này thì ngày tính thời hiệu yêu cầu bồi thường phải là ngày 15/6/2017.
Ví dụ 2: Ông T là công chức của Sở Xây dựng tỉnh C. Ngày 02/3/2014, ông T bị kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc. Không đồng ý, ông T đã khởi kiện vụ án hành chính, đề nghị Tòa án giải quyết. Ngày 08/9/2014, Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh C ban hành bản án hành chính sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu của ông T. Ngày 10/9/2015, Tòa án nhân dân tỉnh C ban hành bản án phúc thẩm chấp nhận yêu cầu của ông T, tuyên hủy quyết định buộc thôi việc trái pháp luật và buộc Sở Xây dựng tỉnh C khôi phục việc làm cho ông T (ông T nhận được bản án ngay hôm ban hành). Ngày 20/8/2018, ông T yêu cầu Sở Xây dựng tỉnh C bồi thường đối với toàn bộ lương, thưởng trong khoảng thời gian bị buộc thôi việc. Như vậy, khoảng thời gian tính từ thời điểm ông T nhận được Bản án phúc thẩm ngày 10/9/2015 đến ngày có đơn yêu cầu bồi thường là ngày 20/8/2018 vẫn trong thời hạn 03 năm theo quy định của pháp luật. Như vậy, vụ việc của ông T vẫn nằm trong thời hiệu yêu cầu bồi thường.
Thứ hai, thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường tại Tòa án trong trường hợp người yêu cầu bồi thường đã có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường và chưa yêu cầu cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại giải quyết yêu cầu bồi thường hoặc rút yêu cầu bồi thường trước thời điểm cơ quan giải quyết bồi thường tiến hành xác minh thiệt hại thì trong thời hạn 03 năm kể từ ngày nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường, người yêu cầu bồi thường có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường[4].
Ví dụ: Ngày 12/3/2017, ông A nhận được quyết định giải quyết khiếu nại của UBND tỉnh C về việc chấp nhận khiếu nại của ông A trong việc UBND huyện B, tỉnh C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng quy định pháp luật cho ông. Ngày 05/8/2018, ông A yêu cầu UBND huyện B yêu cầu bồi thường. Ngày 15/9/2018, UBND huyện B đã thụ lý yêu cầu bồi thường của ông A. Tuy nhiên, sau đó, ngày 18/9/2018, ông A đã rút đơn yêu cầu bồi thường trước khi UBND huyện B tiến hành xác minh thiệt hại và khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu bồi thường. Trong trường hợp này, kể từ ngày ông A nhận được quyết định giải quyết khiếu nại ngày 12/3/2018 đến ngày 18/9/2018 thì ông A vẫn còn thời hiệu thực hiện quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường.
Thứ ba, thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường tại Tòa án là 15 ngày trong trường hợp yêu cầu bồi thường đã được giải quyết tại cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại, nhưng sau đó người yêu cầu bồi thường khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết trong các trường hợp sau[5]:
(i) Không đồng ý với quyết định giải quyết bồi thường trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định. Người yêu cầu bồi thường không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu bồi thường trong trường hợp quyết định giải quyết bồi thường đã có hiệu lực pháp luật. Quyết định giải quyết bồi thường có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày trao cho người yêu cầu bồi thường quyết định giải quyết bồi thường[6]. Ví dụ: Trường hợp ông T đã được Sở Xây dựng tỉnh C giải quyết bồi thường. Ngày 05/5/2019, ông T đã được Sở Xây dựng tỉnh C trao quyết định giải quyết bồi thường. Tuy nhiên, ông T không đồng ý với quyết định giải quyết bồi thường này nên ngày 01/6/2019, ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh C giải quyết bồi thường. Trong trường hợp này, kể từ ngày ông T nhận được quyết định giải quyết bồi thường ngày 05/5/2019 đến ngày 01/6/2019 đã quá thời hạn 15 ngày nên ông T không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết nữa.
(ii) Kể từ ngày có biên bản kết quả thương lượng thành quy định tại khoản 7 Điều 46 Luật TNBTCNN năm 2017 mà cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại không ra quyết định giải quyết bồi thường. Ví dụ: Trường hợp ông T đã được Sở Xây dựng tỉnh C thụ lý giải quyết và có biên bản thương lượng thành. Tuy nhiên, sau đó, Sở Xây dựng tỉnh C không ra quyết định giải quyết bồi thường ngay thì trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có biên bản thương lượng thành, ông T có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường.
(iii) Kể từ ngày có biên bản kết quả thương lượng không thành quy định tại khoản 7 Điều 46 Luật TNBTCNN năm 2017. Ví dụ: Trường hợp ông T đã được Sở Xây dựng tỉnh C thụ lý giải quyết. Tuy nhiên, trong quá trình thương lượng, Sở Xây dựng tỉnh C và ông T không thống nhất được mức thiệt hại bồi thường nên Sở Xây dựng tỉnh C đã lập biên bản kết quả thương lượng không thành có chữ ký của ông T. Trong trường hợp này, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có biên bản thương lượng không thành, ông T có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường.
Trường hợp do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho người yêu cầu bồi thường khổng thể thực hiện việc khởi kiện đúng thời hạn đối với thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường tại Tòa án nêu tại mục 3 thì khoảng thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó không được tính vào thời hạn khởi kiện này. Ví dụ: Trường hợp ông T đã được Sở Xây dựng tỉnh C giải quyết bồi thường. Ngày 05/5/2019, ông T đã được Sở Xây dựng tỉnh C trao quyết định giải quyết bồi thường. Tuy nhiên, ông T không đồng ý với quyết định giải quyết bồi thường này nên ngày 01/6/2019, ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh C giải quyết bồi thường. Trong khoảng thời gian từ ngày 05/5/2019, ông T bị tai nạn giao thông phải nhập viện. Ngày 18/5/2019, ông T được ra viện và hồ sơ bệnh án của bệnh viện xác nhận ông T bị gãy chân và chấn thương sọ não đến ngày 18/5/2019 mới được xuất viện. Như vậy, kể từ ngày ông T nhận được quyết định giải quyết bồi thường ngày 05/5/2019 đến ngày 01/6/2019 đã quá thời hạn 15 ngày nhưng vì ông T bị tai nạn nhập viện từ ngày 05/5/2019 đến ngày 18/5/2019 nên khoảng thời gian này không tính vào thời hạn khởi kiện. Do đó, kể từ ngày 18/5/2019 đến ngày 01/6/2019 nộp đơn khởi kiện thì ông T vẫn còn thời hiệu khởi kiện.
Thứ tư, trường hợp người yêu cầu bồi thường yêu cầu bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính thì thời hiệu yêu cầu bồi thường được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự, tố tụng hành chính[7]. Thời điểm chấp nhận yêu cầu bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính là thời điểm Tòa án có thẩm quyền thụ lý yêu cầu bồi thường.
2. Xác định thời hiệu yêu cầu bồi thường
Khi giải quyết bồi thường, cơ quan giải quyết yêu cầu bồi thường phải căn cứ trên những tài liệu có trong hồ sơ để xác định vụ việc còn thời hiệu yêu cầu bồi thường hay không. Theo đó, cơ quan giải quyết bồi thường cần xác định:
(1) Khoảng thời gian tính từ thời điểm người có quyền yêu cầu bồi thường nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường đến thời điểm nộp đơn yêu cầu bồi thường lần đầu.
(2) Các khoảng thời gian không tính vào thời hiệu yêu cầu bồi thường. Người yêu cầu bồi thường có nghĩa vụ cung cấp thông tin và tài liệu, chứng cứ chứng minh khoảng thời gian không tính vào thời hiệu này[8].
Đối với trường hợp giải quyết bồi thường tại cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại, cơ quan giải quyết bồi thường xác định các trường hợp sau được xác định là còn thời hiệu yêu cầu bồi thường:
- Thời điểm người yêu cầu bồi thường nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường đến thời điểm nộp đơn yêu cầu bồi thường là không quá 03 năm. Ví dụ: Ngày 03/9/2015, ông A nhận được quyết định giải quyết khiếu nại của UBND tỉnh N, trong đó chấp nhận khiếu nại của ông A về việc UBND huyện B, tỉnh N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trái pháp luật. Ngày 30/7/2018, ông A yêu cầu UBND huyện B giải quyết bồi thường. Trong trường hợp này, kể từ ngày ông A nhận được quyết định giải quyết khiếu nại ngày 03/9/2015 đến ngày 30/7/2018 thì ông A vẫn trong thời hạn 03 năm nên ông A vẫn còn thời hiệu yêu cầu bồi thường.
- Những trường hợp mà tính từ thời điểm người yêu cầu bồi thường nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường đến thời điểm nộp đơn yêu cầu bồi thường đã quá 03 năm nhưng có các khoảng thời gian không tính vào thời hiệu thì phải trừ đi khoảng thời gian này. Nếu sau khi trừ đi khoảng thời gian không tính vào thời hiệu mà khoảng thời gian tính từ thời điểm người yêu cầu bồi thường nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường đến thời điểm nộp đơn yêu cầu bồi thường không vượt quá 03 năm thì yêu cầu bồi thường vẫn còn thời hiệu. Trường hợp, vượt quá 03 năm thì yêu cầu bồi thường đã hết thời hiệu để giải quyết.
3. Khoảng thời gian không tính vào thời hiệu yêu cầu bồi thường
          Luật TNBTCNN năm 2017 quy định các khoảng thời gian không tính vào thời hiệu yêu cầu bồi thường theo hướng phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, qua đó bảo đảm hơn quyền yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại. Cụ thể, Luật TNBTCNN năm 2017 quy định các khoảng thời gian không tính vào thời hiệu yêu cầu bồi thường sau[9]:
          (1) Khoảng thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định của Bộ luật Dân sự làm cho người có quyền yêu cầu bồi thường không thể thực hiện được quyền yêu cầu bồi thường. Theo đó, Bộ luật Dân sự[10] quy định sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép. Ví dụ, báo lũ làm hỏng đường, giao thông bị tắc nghẽn không đi lại được… Trở ngại khách quan là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho người có quyền, nghĩa vụ dân sự không thể biết về việc quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được quyền, nghĩa vụ dân sự của mình. Ví dụ, bị tai nạn giao thông, ốm đau…
          (2) Khoảng thời gian mà người bị thiệt hại là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi chưa có người đại diện theo quy định của pháp luật hoặc người đại diện đã chết hoặc không thể tiếp tục là người đại diện cho tới khi có người đại diện mới.
Thông thường, người yêu cầu bồi thường phải là người thành niên, có năng lực hành vi dân sự. Do vậy, nếu người bị thiệt hại là người chưa thành niên, mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì cần người đại diện. Tuy nhiên, vì lý do khách quan mà chưa cử được người đại diện thì thời gian này không tính vào thời hiệu yêu cầu bồi thường.
Trường hợp người đại diện của người chưa thành niên, mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi chết hoặc trường hợp người đại diện có lý do chính đáng mà không thể tiếp tục làm người đại diện cho tới khi có người đại diện mới thì thời hạn chờ cử người đại diện thay thế không tính vào thời hiệu yêu cầu bồi thường. Ví dụ: người đại diện được cử bị bệnh nặng mà chưa cử được người đại diện thay thế thì cần phải tiếp tục cử người đại diện thay thế.
Ví dụ: Ngày 01/7/2015, A (12 tuổi, bố mất chỉ còn mẹ) nhận được quyết định giải quyết khiếu nại của UBND huyện B, tỉnh C, trong đó chấp nhận khiếu nại của A về việc UBND xã D, huyện B áp dụng biện pháp giáo dục tại xã D đối với A là trái pháp luật. Ngày 01/8/2015, mẹ của A mất.  A được bác ruột (anh trai bố) nhận làm con nuôi (có Quyết định của UBND xã D ngày 01/8/2016). Ngày 01/12/2018, cha nuôi của A gửi đơn yêu cầu bồi thường đến UBND xã D. Như vậy, trong khoảng thời gian từ ngày 01/7/2015 nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường đến ngày 01/12/2018 nộp đơn yêu cầu bồi thường là 3 năm 5 tháng. Tuy nhiên, khoảng thời gian từ ngày 01/8/2015 mẹ A mất đến ngày 01/8/2016 có cha nuôi là 1 năm không được tính trong thời hạn tính thời hiệu. Như vậy, thời hạn để tính thời hiệu yêu cầu bồi thường của cha nuôi A là 2 năm 5 tháng nên vẫn còn thời hiệu theo quy định của Luật TNBTCNN năm 2017.
(3) Xác định thời hiệu trong trường hợp đặc biệt, Luật TNBTCNN năm 2017 quy định trong trường hợp người yêu cầu bồi thường chưa xác định ngay được cơ quan giải quyết bồi thường mà nộp hồ sơ đến Sở Tư pháp nơi người bị thiệt hại cư trú hoặc có trụ sở thì Sở Tư pháp có trách nhiệm xác định cơ quan giải quyết bồi thường và chuyển hồ sơ đến cơ quan giải quyết bồi thường và thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu bồi thường. Nghị định số 68/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định trường hợp người yêu cầu bồi thường đã nộp hồ sơ tại Sở Tư pháp để xác định cơ quan giải quyết bồi thường trong thời hiệu yêu cầu bồi thường nhưng tại thời điểm nhận hồ sơ do Sở Tư pháp chuyển đến mà thời hiệu yêu cầu bồi thường đã hết thì cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại phải thụ lý hồ sơ do Sở Tư pháp chuyển đến[11].
Ví dụ: Ngày 15/7/2015, TAND tỉnh A ban hành bản án hành chính phúc thẩm chấp nhận nội dung khởi kiện của ông A về việc: Chi cục THADS huyện B, tỉnh A có sai phạm trong việc kê biên, bán đấu giá nhà đất của ông A dẫn tới việc UBND huyện B, tỉnh A tham mưu UBND tỉnh A ban hành quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông D (người mua được tài sản bán đấu giá) không đúng. Ông A nhận được bản án ngày 15/7/2015. Trên cơ sở này, ngày 16/10/2015, UBND tỉnh A đã ban hành quyết định hủy bỏ quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông D. Ngày 12/8/2018, ông A gửi hồ sơ yêu cầu bồi thường đến Sở Tư pháp tỉnh A đề nghị xác định cơ quan giải quyết bồi thường. Ngày 17/8/2018, Sở Tư pháp tỉnh A xác định cơ quan giải quyết bồi thường là UBND huyện B và chuyển hồ sơ cho UBND huyện B giải quyết. Như vậy, kể từ ngày 15/7/2015 ông A nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường đến ngày hồ sơ chuyển cho UBND huyện B này 17/8/2018 là 3 năm 02 ngày nhưng do hồ sơ yêu cầu bồi thường đã được chuyển đến Sở Tư pháp tỉnh A từ ngày 12/8/2018 nên thời hạn để tính thời hiệu yêu cầu bồi thường của ông A là 2 năm 11 tháng 27 ngày. Do đó, UBND huyện B vẫn phải giải quyết yêu cầu bồi thường của ông A.
4. Một số vướng mắc trong việc áp dụng quy định về thời hiệu yêu cầu bồi thường trong Luật TNBTCNN năm 2017 trong thực tiễn
Trong thực tế có một số vụ việc yêu cầu bồi thường mà việc xác định thời hiệu yêu cầu bồi thường trong Luật TNBTCNN năm 2017 chưa quy định, cụ thể như sau:
4.1. Bà T khiếu nại UBND huyện B, tỉnh Nghệ An về việc: năm 2004 bà T nhận quyền sử dụng đất của D, tuy nhiên đến tháng 8/2004, UBND huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng  đất mang tên T và  H (kết hôn với bà T năm 2007) là không đúng. Ngày 18/8/2014, UBND huyện B có Kết luận thanh tra việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho bà T và ông H là chưa đúng quy định của pháp luật, lý do vì ông H không có tên trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; trách nhiệm đối với vụ việc này thuộc về Chủ tịch UBND xã Q, huyện B. Ngày 12/9/2014, UBND huyện B ban hành quyết định về việc thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà T và ông H. Ngày 02/6/2016, Tòa án nhân dân tỉnh C bản án phúc thẩm vụ án tranh chấp tài sản và nghĩa vụ nuôi con khi ly hôn giữa bà T và ông H, trong đó khẳng định bà T được quyền sử dụng mảnh đất mà không có nội dung nào về hành vi thi hành công vụ. Ngày 20/7/2018, bà T có đơn yêu cầu bồi thường gửi UBND huyện B, đồng thời yêu cầu thu thập văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ. UBND huyện B đã không thụ lý yêu cầu bồi thường của bà T với lý do hết thời hiệu yêu cầu bồi thường theo quy định của Luật TNBTCNN năm 2017 (tính từ ngày 12/9/2014 ban hành Quyết định hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà T và ông H đến ngày 20/7/2018 có đơn yêu cầu bồi thường lần đầu).
4.2. Ông A và B tranh chấp quyền sử dụng đất với nhau từ năm 1999 và đã được cơ quan có thẩm quyền ban hành nhiều văn bản giải quyết khiếu nại khác nhau. Trong đó, văn bản giải quyết khiếu nại cuối cùng có hiệu lực thi hành là Quyết định giải quyết khiếu nại N của Chủ tịch UBND tỉnh C ngày 10/9/2009, công nhận quyền sử dụng đất của ông A. Ông B không đồng ý với Quyết định này đã khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét hủy Quyết định giải quyết khiếu nại N. Theo đó, TAND tỉnh C đã có bản án hành chính sơ thẩm ngày 28/5/2013, tuyên công nhận Quyết định giải quyết khiếu nại N. Ông B làm đơn kháng cáo và ngày 30/9/2013, Tòa án phúc thẩm tại HCM ban hành bản án phúc thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông B. Ông B tiếp tục đề nghị giám đốc thẩm bản án phúc thẩm. Ngày 28/5/2015, Viện trưởng VKSNDTC có kháng nghị đề nghị Hội đồng thẩm phán TANDTC hủy Bản án hành chính phúc thẩm và Bản án hành chính sơ thẩm nêu trên. Ngày 13/01/2016, Hội đồng thẩm phán TANDTC quyết định giám đốc thẩm, quyết định không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng VKSNDTC. Ngày 11/9/2017, ông A có đơn yêu cầu bồi thường về kinh tế và tinh thần theo quy định của Luật TNBTCNN trong thời gian giải quyết khiếu nại.
4.3. Bình luận
Theo quy định tại Điều 153 Bộ luật Dân sự năm 2015 về tính liên tục của thời hiệu hưởng quyền dân sự, miễn trừ nghĩa vụ dân sự thì thời hiệu hưởng quyền dân sự có tính liên tục từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc; nếu có sự kiện làm gián đoạn thì thời hiệu phải được tính lại từ đầu, sau khi sự kiện làm gián đoạn chấm dứt. Theo đó, thời hiệu hưởng quyền dân sự bị gián đoạn khi có sự kiện sau đây: Quyền, nghĩa vụ dân sự đang được áp dụng thời hiệu mà bị người có quyền, nghĩa vụ liên quan tranh chấp và đã được giải quyết bằng một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
Tuy nhiên, Luật TNBTCNN năm 2017 chỉ quy định về 03 loại khoảng thời gian không tính vào thời hiệu yêu cầu bồi thường mà không quy định về tính liên tục của thời hiệu hưởng quyền dân sự như trong Bộ luật Dân sự 2015. Trong khi đó, về nguyên tắc, việc bồi thường của Nhà nước chỉ được thực hiện theo quy định của Luật TNBTCNN năm 2017[12]. Quay lại nguyên tắc áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 thì có quy định Luật khác có liên quan điều chỉnh quan hệ dân sự trong các lĩnh vực cụ thể không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự và trường hợp luật khác có liên quan không quy định hoặc có quy định nhưng vi phạm nguyên tắc của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 được áp dụng[13].
Như vậy, trường hợp yêu cầu của bà T và ông A có đặc điểm như sau:
- Trường hợp của bà T, trong khoảng thời gian từ ngày 12/9/2014 ban hành Quyết định hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà T và ông H đến ngày 02/6/2016 có phúc thẩm vụ án tranh chấp tài sản và nghĩa vụ nuôi con khi ly hôn giữa bà T và ông H, trong đó khẳng định bà T được quyền sử dụng mảnh đất thì quyền sử dụng đất của bà T đang được Tòa án xem xét.
- Trường hợp của ông A, trong khoảng thời gian từ ngày 10/9/2009 có Quyết định giải quyết khiếu nại N của Chủ tịch UBND tỉnh C đến ngày 11/9/2017 ông A có đơn yêu cầu bồi thường thì quyền sử dụng đất của ông A đang được Tòa án xem xét để giải quyết tranh chấp đất đai với ông B.
Như vậy, trường hợp yêu cầu của bà T nếu được áp dụng quy định trong Bộ luật Dân sự thì thời hiệu yêu cầu bồi thường sẽ được tính từ ngày 02/6/2016 có phúc thẩm vụ án tranh chấp tài sản và nghĩa vụ nuôi con khi ly hôn giữa bà T và ông H. Trường hợp yêu cầu của ông A nếu được áp dụng quy định trong Bộ luật Dân sự thì thời hiệu yêu cầu bồi thường sẽ được tính từ ngày 13/01/2016 Hội đồng thẩm phán TANDTC quyết định giám đốc thẩm, quyết định không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng VKSNDTC. Như vậy, trong cả hai trường hợp, yêu cầu bồi thường đều còn thời hiệu.
Tóm lại, quy định về thời hiệu yêu cầu bồi thường trong Luật TNBTCNN năm 2017 được tiếp thu, sửa đổi từ các quy định của Luật TNBTCNN năm 2009 và phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về thời hiệu. Việc năm bắt các quy định này giúp bảo đảm hơn việc thực hiện quyền yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền của công dân theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013. Tuy nhiên, đối với trường hợp có sự kiện làm phát sinh việc tính lại thời hiệu hưởng quyền dân sự nêu trên thì Luật TNBTCNN năm 2017 cần quy định thêm để tiếp tục bảo đảm hơn quyền của công dân theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013.
Lê Thị Thu Hằng - Cục Bồi thường nhà nước
(Sưu tầm: Trang thông tin điện tử Bộ Tư pháp)
FalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
Báo cáo công tác bồi thường nhà nước năm 2019Văn bản điều hànhTinBáo cáo công tác bồi thường nhà nước năm 2019/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
21/11/2019 12:00 CHNoĐã ban hànhFalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
VKSND có vị trí, vai trò quan trọng trong công tác giải quyết bồi thường Nhà nướcThông báoTinVKSND có vị trí, vai trò quan trọng trong công tác giải quyết bồi thường Nhà nước/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
(BVPL) - Trình bày tham luận tại Hội nghị tập huấn công tác bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự thuộc trách nhiệm của Viện kiểm sát do VKSND tối cao tổ chức, đại diện lãnh đạo Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học (Vụ 14), VKSND tối cao đã đề cập đến những nội dung sửa đổi, bổ sung của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (Luật TNBTCNN) năm 2017 và vị trí, vai trò của VKSND trong công tác giải quyết bồi thường nhà nước.
05/06/2019 3:00 CHNoĐã ban hành

Bổ sung nguyên tắc “Bình đẳng, thiện chí, trung thực”

Luật TNBTCNN 2009 quy định các nguyên tắc, đó là: Kịp thời, công khai, đúng pháp luật; được tiến hành trên cơ sở thương lượng; được trả một lần bằng tiền trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác (Điều 7).

Đồng thời, Luật TNBTCNN 2009 (Điều 4) quy định việc giải quyết yêu cầu bồi thường lần đầu được thực hiện theo 1 trong 3 cơ chế, đó là: Tại cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại; trường hợp hết thời hạn mà cơ quan giải quyết bồi thường không ra quyết định hoặc không đồng ý với quyết định giải quyết bồi thường thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường theo thủ tục tố tụng dân sự; giải quyết kết hợp tại cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại trong quá trình khiếu nại; giải quyết kết hợp tại Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án hành chính.

 Hội nghị tập huấn công tác bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự thuộc trách nhiệm của Viện kiểm sát

Luật TNBTCNN 2017 đã bổ sung nguyên tắc: “bình đẳng, thiện chí, trung thực” và nguyên tắc “việc bồi thường của Nhà nước được thực hiện theo quy định của Luật này”.

Bổ sung quy định rõ nguyên tắc: Người yêu cầu bồi thường đã yêu cầu một cơ quan giải quyết bồi thường và đã được cơ quan đó thụ lý giải quyết thì không được yêu cầu cơ quan khác giải quyết yêu cầu bồi thường, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 52 của Luật này (khoản 3 Điều 4). 

Bên cạnh đó, Luật TNBTCNN 2017 đã bổ sung quy định cụ thể: Trường hợp người bị thiệt hại có một phần lỗi trong việc gây ra thiệt hại thì Nhà nước chỉ bồi thường phần thiệt hại sau khi trừ đi phần thiệt hại tương ứng với phần lỗi của người bị thiệt hại (khoản 5 Điều 4).

Về các cơ chế giải quyết yêu cầu bồi thường, Luật TNBTCNN 2017 tiếp tục kế thừa quy định của Luật TNBTCNN 2009 đồng thời, sửa đổi, bổ sung một số nội dung, đó là: Không còn quy định cơ chế giải quyết yêu cầu bồi thường kết hợp trong quá trình giải quyết khiếu nại tại cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại; bổ sung cơ chế giải quyết yêu cầu bồi thường lần đầu tại Tòa án (khi có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường, có thể khởi kiện ngay vụ án dân sự yêu cầu bồi thường tại Tòa án); bổ sung cơ chế kết hợp giải quyết yêu cầu bồi thường trong tố tụng hình sự tại Tòa án (khoản 4 Điều 4).

Bổ sung các hành vi bị nghiêm cấm trong việc giải quyết bồi thường

Luật TNBTCNN 2009 quy định 4 hành vi bị cấm, gồm: Giả mạo hồ sơ, tài liệu, giấy tờ để được bồi thường; thông đồng giữa người bị thiệt hại, người có trách nhiệm giải quyết bồi thường và người có liên quan để trục lợi trong việc bồi thường; lợi dụng chức vụ, quyền hạn can thiệp trái pháp luật vào quá trình giải quyết bồi thường; không giải quyết bồi thường hoặc giải quyết bồi thường trái pháp luật.

Luật TNBTCNN 2017 đã làm rõ, đồng thời bổ sung một số hành vi bị nghiêm cấm, cụ thể đó là: Cung cấp tài liệu, chứng cứ sai sự thật trong hồ sơ yêu cầu bồi thường và trong quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường; thông đồng giữa người yêu cầu bồi thường với người giải quyết bồi thường, người có liên quan để trục lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn can thiệp trái pháp luật vào quá trình xác định trách nhiệm hoàn trả và xem xét, xử lý kỷ luật người thi hành công vụ gây thiệt hại; không ra quyết định giải quyết bồi thường; không thực hiện việc xác định trách nhiệm hoàn trả hoặc không xem xét, xử lý kỷ luật người thi hành công vụ gây thiệt hại; sách nhiễu, cản trở hoạt động giải quyết yêu cầu bồi thường.

Phó Vụ trưởng Vụ 14, VKSND tối cao Phạm Hoàng Diệu Linh giới thiệu những nội dung sửa đổi, bổ sung của Luật TNBTCNN năm 2017 

Cũng theo lãnh đạo Vụ 14, VKSND tối cao cho biết, theo quy định của Luật TNBTCNN 2017, Bộ luật TTHS 2015,  Bộ luật TTDS 2015 và Luật TTHC 2015, trong công tác bồi thường nhà nước, VKSND có các vị trí, vai trò, đó là:

Là cơ quan trực tiếp giải quyết bồi thường trong hoạt động TTHS; tham gia một số hoạt động giải quyết bồi thường của các cơ quan khác trong hoạt động TTHS.

Là cơ quan kiểm sát việc giải quyết vụ án dân sự về yêu cầu bồi thường tại Tòa án; cơ quan kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính kết hợp giải quyết yêu cầu bồi thường nhà nước tại Tòa án.

Là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự kết hợp giải quyết yêu cầu bồi thường nhà nước tại Tòa án; đồng thời, là cơ quan kiểm sát việc thi hành các bản án, quyết định của Tòa án về giải quyết yêu cầu bồi thường nhà nước.​

Luật TNBTCNN 2017 gồm 09 chương, 78 điều. So với Luật TNBTCNN 2009, Luật đã sửa đổi 54/67 điều, bỏ 13 điều và quy định mới 24 điều. Thay vì kết cấu chương theo lĩnh vực thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (gồm quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án), Luật TNBTCNN 2017 kết cấu chương theo những vấn đề cơ bản của việc giải quyết bồi thường, bảo đảm bố cục rõ ràng, mạch lạc hơn.
Sưu tầm: Báo Bảo vệ​​ pháp luật​ ​(cơ quan của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao)​
FalsePhòng HCTP&QLXLVPHC
1 - 30Next
Ảnh
Video
Audio