Xử lý vi phạm hành chính
 
Thời gian vừa qua, Bộ Tư pháp nhận được phản ánh của các địa phương về việc một số biểu mẫu được ban hành kèm Thông tư số 42/2014/TT-BCA ngày 25/9/2014 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về biểu mẫu sử dụng trong Công an nhân dân khi áp dụng và thi hành biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn (Thông tư số 42/2014/TT-BCA) có sự trùng lặp với các biểu mẫu được ban hành kèm theo Thông tư số 20/2014/TT-BTP ngày 25/9/2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành các biểu mẫu để sử dụng trong quá trình áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, biện pháp thay thế xử lý hành chính quản lý tại gia đình đối với người chưa thành niên theo quy định của Nghị định số 111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn (Thông tư số 20/2014/TT-BTP).
 
Họp tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc​          Ngày 21/01/2016, tại trụ sở Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương, Sở Tư pháp tổ chức cuộc họp “Tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”, tham dự cuộc họp có: Bà Trần Thị Minh Hạnh ...
 
 
  
Phân loại
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Nội dung
  
  
Nghị định số 82/2020/NĐ-CP: Xử lý VPHC trong lĩnh vực thi hành án dân sựThông tinTinNghị định số 82/2020/NĐ-CP: Xử lý VPHC trong lĩnh vực thi hành án dân sự/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
7/24/2020 3:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 15/7, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 82/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.

Nghị định này quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính, thẩm quyền lập biên bản, thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh đối với hành vi vi phạm hành chính trong các lĩnh vực sau đây:

Bổ trợ tư pháp, bao gồm: luật sư; tư vấn pháp luật; công chứng; giám định tư pháp; đấu giá tài sản; trọng tài thương mại; hòa giải thương mại; thừa phát lại;
Hành chính tư pháp, bao gồm: hộ tịch; quốc tịch; chứng thực; lý lịch tư pháp; phổ biến, giáo dục pháp luật; hợp tác quốc tế về pháp luật; trợ giúp pháp lý; đăng ký biện pháp bảo đảm; trách nhiệm bồi thường của Nhà nước;

Hôn nhân và gia đình;

Thi hành án dân sự;

Phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.

Quy định về mức phạt tiền, thẩm quyền phạt tiền đối với cá nhân, tổ chức

Mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân trong các lĩnh vực: hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình là 30.000.000 đồng.

Mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân trong các lĩnh vực: thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã là 40.000.000 đồng.

Mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp là 50.000.000 đồng.
Mức phạt tiền quy định tại các Chương II, III, IV, V, VI và VII Nghị định này được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính của cá nhân, trừ các điều quy định tại khoản 5 Điều này. Trường hợp tổ chức có hành vi vi phạm hành chính như của cá nhân thì mức phạt tiền bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.
Mức phạt tiền quy định tại các Điều 7, 8, 9, 16, 17, 24, 26, 29, 33, 39, 50, 53, 63, 71, 72, 73, 74 và 80 Nghị định này là mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm hành chính của tổ chức.

Thẩm quyền phạt tiền của các chức danh được quy định tại Chương VIII Nghị định này là thẩm quyền phạt tiền đối với một hành vi vi phạm hành chính của cá nhân, thẩm quyền phạt tiền tổ chức gấp 02 lần thẩm quyền phạt tiền cá nhân.

Hành vi vi phạm quy định trong lĩnh vực thi hành án dân sự

Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi đã nhận giấy báo, giấy triệu tập lần thứ hai của người có thẩm quyền thi hành án nhưng không đến địa điểm ghi trong giấy báo, giấy triệu tập mà không có lý do chính đáng.

Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Không cung cấp thông tin, không giao giấy tờ liên quan đến tài sản bị xử lý để thi hành án theo yêu cầu của người có thẩm quyền thi hành án mà không có lý do chính đáng;

b) Không thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự khi có thay đổi về địa chỉ, nơi cư trú;

c) Không kê khai hoặc kê khai không đầy đủ, không chính xác tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án khi người có thẩm quyền thi hành án yêu cầu;

d) Có lời nói, hành động lăng mạ, xúc phạm người thi hành công vụ trong thi hành án dân sự;

đ) Chống đối, cản trở hoặc xúi giục người khác chống đối, cản trở hoạt động thi hành án dân sự;

e) Gây rối trật tự nơi thi hành án hoặc có hành vi khác gây trở ngại cho hoạt động thi hành án dân sự mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Không thực hiện công việc phải làm theo bản án, quyết định;

b) Không chấm dứt thực hiện công việc không được làm theo bản án, quyết định;
c) Trì hoãn thực hiện nghĩa vụ thi hành án trong trường hợp có điều kiện thi hành án;
d) Cung cấp chứng cứ sai sự thật cho cơ quan thi hành án dân sự.
Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Làm hư hỏng tài sản để không thực hiện nghĩa vụ thi hành án hoặc để trốn tránh việc kê biên tài sản;

b) Phá hủy niêm phong tài sản đã kê biên;

c) Không chấp hành quyết định của người có thẩm quyền thi hành án về việc trừ vào thu nhập;

d) Không chấp hành quyết định của người có thẩm quyền thi hành án về việc tạm giữ tài sản, giấy tờ liên quan đến việc thi hành án;

đ) Không chấp hành quyết định của người có thẩm quyền thi hành án về việc tạm dừng đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản;
e) Không chấp hành quyết định của người có thẩm quyền thi hành án về việc giao, trả tài sản, giấy tờ thi hành án;

g) Không cung cấp thông tin mà không có lý do chính đáng hoặc cung cấp không đúng, không đầy đủ thông tin về tài khoản, thu nhập của người phải thi hành án;

h) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc cung cấp thông tin về tài khoản, thu nhập của người phải thi hành án và việc phong tỏa, khấu trừ để thi hành án; làm lộ thông tin hoặc lạm dụng thông tin về tài khoản, thu nhập của người phải thi hành án để sử dụng trái phép vào mục đích khác.

Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Tẩu tán tài sản để không thực hiện nghĩa vụ thi hành án hoặc để trốn tránh việc kê biên tài sản;

b) Sử dụng trái phép, tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu hoặc thay đổi tình trạng tài sản đã kê biên mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;

c) Chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, cầm cố hoặc có hành vi khác nhằm chuyển quyền sở hữu, sử dụng tài sản bị hạn chế giao dịch theo quy định;

d) Hủy hoại tài sản đã kê biên;

đ) Không chấp hành quyết định của người có thẩm quyền thi hành án về việc thu tiền, tài sản của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ;

e) Không thực hiện quyết định thi hành án về việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc bản án, quyết định phải thi hành ngay của Tòa án;

g) Tiết lộ thông tin để người phải thi hành án chuyển, rút tiền khỏi tài khoản làm ảnh hưởng đến quá trình thi hành án.

Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Không chấp hành quyết định của người có thẩm quyền thi hành án về việc khấu trừ tài khoản, thu giữ giấy tờ có giá của người phải thi hành án;

b) Không chấp hành quyết định của người có thẩm quyền thi hành án về việc thu tiền từ hoạt động kinh doanh của người phải thi hành án; về việc thu tiền của người phải thi hành án đang giữ;

c) Không chấp hành quyết định của người có thẩm quyền thi hành án về việc kê biên, sử dụng, khai thác quyền sở hữu trí tuệ thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành án.

Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện quyết định của người có thẩm quyền thi hành án về việc phong tỏa tài khoản, tài sản của người phải thi hành án.

Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 4, các điểm a và b khoản 5 Điều này;

b) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu trong trường hợp cần thiết theo quy định đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 3 Điều này.

Hành vi vi phạm quy định của thừa phát lại trong lĩnh vực thi hành án dân sự Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi thông báo không đúng về thời hạn, hình thức của quyết định, giấy tờ, văn bản về thi hành án dân sự cho đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định.
Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: a) Không thực hiện xác minh hoặc xác minh điều kiện thi hành án không bảo đảm thời hạn theo quy định;

b) Xác minh điều kiện thi hành án không đầy đủ nội dung cần xác minh hoặc không đúng đối tượng, không đúng địa điểm theo quy định;

c) Biên bản xác minh điều kiện thi hành án lập không đúng quy định;

d) Vi phạm quy định về bảo mật thông tin xác minh điều kiện thi hành án;

đ) Không thông báo các quyết định, giấy tờ, văn bản về thi hành án dân sự cho đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định.

Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: a) Không cho đương sự thỏa thuận giá, thỏa thuận lựa chọn tổ chức thẩm định giá, tổ chức đấu giá tài sản;

b) Thực hiện việc ký hợp đồng thẩm định giá với tổ chức thẩm định giá không có chức năng thẩm định giá;

c) Không thông báo cho các đương sự về kết quả thẩm định giá trước khi ký hợp đồng đấu giá tài sản;

d) Không thực hiện đúng quy định về yêu cầu thẩm định giá lại tài sản của đương sự.

Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Thanh toán tiền thi hành án không đúng thứ tự, chia tỷ lệ không đúng quy định; b) Chi tiền mặt không đúng quy định đối với trường hợp người được thi hành án là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân có tài khoản ngân hàng;

c) Thu tiền thi hành án nhưng nộp vào quỹ không đúng quy định;

d) Thanh toán tiền thi hành án không đúng đối tượng; không đúng thời hạn theo quy

định;

đ) Xác minh điều kiện thi hành án, tổ chức thi hành án liên quan đến quyền, lợi ích của bản thân và những người là người thân thích của mình, bao gồm: vợ, chồng, con đẻ, con nuôi, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, bác, chú, cậu, cô, dì và anh, chị, em ruột của thừa phát lại, của vợ hoặc chồng của thừa phát lại; cháu ruột mà thừa phát lại là ông, bà, bác, chú, cậu, cô, dì.

Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Thu tiền thi hành án nhưng chưa nộp vào quỹ đúng quy định mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự;

b) Sử dụng tiền thi hành án không đúng quy định.

 Hình thức xử phạt bổ sung:

a) Tước quyền sử dụng thẻ thừa phát lại từ 06 tháng đến 09 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại các điểm c, d và đ khoản 4 Điều này;

b) Tước quyền sử dụng thẻ thừa phát lại từ 09 tháng đến 12 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 5 Điều này;

 Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 4 và điểm b khoản 5 Điều này.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 9 năm 2020 và thay thế Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24 tháng 9 năm 2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã và Nghị định số 67/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24 tháng 9 năm 2013 của Chính phủ.

Nguồn: ​https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/van-ban-chinh-sach-moi.aspx?ItemID=3261

 

FalseNguyễn Thị Linh
Bảo đảm tính thống nhất trong các văn bản pháp luật quy định về xử phạt vi phạm hành chínhThông tinTinBảo đảm tính thống nhất trong các văn bản pháp luật quy định về xử phạt vi phạm hành chính/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
7/21/2020 4:00 PMNoĐã ban hành

​​1. Quan niệm về tính thống nhất trong các văn bản pháp luật quy định xử phạt vi phạm hành chính

Theo Từ điển Tiếng Việt, "thống nhất là làm cho phù hợp với nhau, không mâu thuẫn nhau"[1]. Do đó, xét ở góc độ pháp lý, khi bàn về "tính thống nhất" trong các văn bản pháp luật, chúng tôi cho rằng, "thống nhất" nghĩa là muốn nói đến sự phù hợp, không có sự mâu thuẫn nhau giữa các văn bản pháp luật. Sự phù hợp, không mâu thuẫn giữa các quy định của pháp luật được hiểu với nhiều mức độ: các quy định của văn bản pháp luật có giá trị pháp lý thấp hơn không được trái với quy định của văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao hơn trong cùng một lĩnh vực điều chỉnh; các quy định cùng điều chỉnh một vấn đề trong nhiều văn bản phải phù hợp với nhau...

Có thể nói, "thống nhất" là một trong những tiêu chí để xây dựng và đánh giá chất lượng hệ thống pháp luật vì Nhà nước quản lý xã hội bằng công cụ pháp luật. Khi những quy định này mâu thuẫn, chồng chéo nhau thì việc áp dụng, thực thi pháp luật sẽ không hiệu quả, có thể dẫn đến sự mất niềm tin và rối loạn trong xã hội. Do đó, sau một thời gian áp dụng pháp luật, việc đánh giá các quy định trong tất cả các văn bản điều chỉnh một lĩnh vực, ngành nào đó là cơ sở để hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật hướng đến sự thống nhất.

2. Những yếu tố bảo đảm tính thống nhất trong các văn bản pháp luật quy định xử phạt vi phạm hành chính

2.1. Thống nhất về thuật ngữ

Trong công tác xử phạt vi phạm hành chính (XPVPHC), việc hiểu rõ nội hàm của các thuật ngữ pháp lý rất quan trọng, nó giúp cho các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền xử phạt thực hiện đúng quyền hạn và trách nhiệm của mình. Tuy nhiên, một số từ ngữ pháp lý không được Luật Xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC) năm 2012 giải thích. Ví dụ, các cụm từ như: "có quy mô lớn; vụ việc đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp; cố tình trốn tránh, trì hoãn; thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh; không còn giá trị sử dụng; bị chiếm đoạt, sử dụng trái phép" quy định tại các Điều 10, 66, 74, 126 Luật XLVPHC năm 2012. Điều này đã  gây khó khăn cho các cơ quan, cá nhân thực thi pháp luật cũng như gây ra sự không đồng tình cho cá nhân, tổ chức bị xử phạt. 

Mặt khác, trong các quy định của pháp luật vẫn còn chưa phân định rõ giữa thuật ngữ "giao quyền" và "ủy quyền". Đây là hai khái niệm được nhắc đến trong trường hợp cấp trưởng chuyển giao quyền của mình cho cấp phó để thực hiện XPVPHC. Theo Luật XLVPHC năm 2012, thuật ngữ "giao quyền" được sử dụng xuyên suốt trong văn bản luật. Tuy nhiên, trong trường hợp người có thẩm quyền XPVPHC là Trưởng công an xã chuyển giao quyền cho cấp phó đã phát sinh một số bất cập.

Theo quy định của khoản 3 Điều 39 Luật XLVPHC năm 2012, Trưởng công an xã có quyền phạt cảnh cáo, phạt tiền nhưng không quá 2.500.000 đồng và các hình thức xử phạt khác,... Bên cạnh đó, Trưởng công an xã cũng có thể giao quyền XPVPHC cho cấp phó[2]. Nghị định số 81/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật XLVPHC cũng nêu rõ việc giao quyền phải được thực hiện bằng "văn bản"[3]. Như vậy, Phó Trưởng công an xã có thẩm quyền XPVPHC theo cơ chế nhận quyền được giao từ cấp Trưởng. Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 54 của Luật XLVPHC năm 2012 cũng quy định: "Người được giao quyền không được giao quyền, ủy quyền cho bất kỳ người nào khác". Trong khi đó, Điều 12 Pháp lệnh Công an xã năm 2008 quy định "… khi Trưởng công an xã vắng mặt thì Phó Trưởng công an xã được Trưởng công an xã ủy quyền thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng công an xã" và theo Dự thảo Luật Công an xã năm 2016 (nguồn ?) tại Điều 17 cũng quy định như Pháp lệnh Công an xã năm 2008 là "ủy quyền" chứ không phải là "giao quyền". Như vậy, cùng một vấn đề về phân cấp giữa cấp trên và cấp dưới nhưng các văn bản pháp luật lại thiếu sự thống nhất trong việc sử dụng thuật ngữ pháp lý và cũng chưa có văn bản pháp luật quy định một cách đầy đủ về thuật ngữ pháp lý "giao quyền" và "ủy quyền", ngay cả Luật XLVPHC năm 2012 có đề cập đến cả hai thuật ngữ "giao quyền" (Điều 54) và "ủy quyền" (Điều 51, 54, 87, 123) nhưng Luật cũng chưa giải thích rõ[4].

2.2. Thống nhất về thứ bậc pháp lý

Tính thống nhất của hệ thống pháp luật về XPVPHC phải được xem xét trên cả hai mặt: hình thức và nội dung.

Thứ nhất, về mặt hình thức, tính thống nhất của pháp luật về XPVPHC phải thể hiện đúng hình thức của nó. Hình thức của nó không chỉ thể hiện dưới dạng một tên gọi nhất định mà nó còn phải được phân loại theo thứ, bậc, cách sắp xếp cấu trúc của văn bản như: chương, mục, điều, khoản,... Sự thống nhất về mặt hình thức còn phải căn cứ vào hiệu lực của văn bản, văn bản sau phải thống nhất với văn bản trước. Cùng là các văn bản điều chỉnh về một loại hành vi, một loại quan hệ pháp luật trong lĩnh vực XPVPHC, nhưng các quy định của Luật XLVPHC phải có giá trị pháp lý cao hơn những quy định được chứa đựng trong các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành. Như vậy, về hình thức, tính thống nhất của văn bản hướng dẫn, ngoài việc phải đáp ứng các yêu cầu trên thì hình thức của văn bản hướng dẫn phải thống nhất với hình thức cấu trúc của chính văn bản đang cần được hướng dẫn và bảo đảm văn bản hướng dẫn phải theo trình tự thống nhất với toàn bộ văn bản khác cùng cấp trong hệ thống pháp luật. Một thực tế là giữa các nghị định của Chính phủ về XPVPHC chưa thống nhất, đồng bộ với Luật XLVPHC về cách xác định đối tượng bị xử phạt. Có nghị định quy định mức xử phạt áp dụng đối với cá nhân, có nghị định quy định mức xử phạt áp dụng đối với tổ chức, có nghị định lại không quy định, có nghị định quy định xử phạt cá nhân và tổ chức trong cùng một điều, gây khó khăn cho người có thẩm quyền áp dụng. Chẳng hạn, Nghị định số 139/2017/NĐ-CP quy định mức phạt tiền là mức phạt áp dụng đối với tổ chức (trừ mức phạt quy định tại một số điều là mức phạt áp dụng đối với cá nhân). Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với cá nhân bằng 1/2 mức phạt tiền đối với tổ chức. Trong khi đó, Nghị định số 33/2017/NĐ-CP quy định mức phạt tiền đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính quy định tại Chương II và Chương III là mức phạt đối với cá nhân, trừ quy định tại điểm d khoản 2 Điều 34 Nghị định, mức phạt đối với hộ kinh doanh áp dụng như đối với mức phạt của cá nhân, mức phạt tiền đối với tổ chức gấp 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân…

 Thứ hai, về mặt nội dung, tiêu chí thống nhất giá trị pháp lý của văn bản hướng dẫn XPVPHC phải bao quát các quan hệ xã hội nhằm điều chỉnh thống nhất một hành vi. Nói cách khác, những nội dung của văn bản hướng dẫn sau phải bảo đảm sự nhất quán, không có sự xung đột giữa nội dung các văn bản hướng dẫn trước đó, và các văn bản này phải thống nhất với nhau. Sự nhất quán, thống nhất này là rất cần thiết nhằm tránh tình trạng cùng một lĩnh vực, một hành vi, văn bản luật thì cho phép nhưng văn bản hướng dẫn thi hành luật thì lại không cho phép, hoặc văn bản hướng dẫn quy định một mức xử phạt khác với luật. Mặt khác, ngay cả hình thức thể hiện trên văn bản, biểu mẫu trong quá trình xử phạt vi phạm hành chính cũng cần được quy định thống nhất. Ví dụ: trước đây, Nghị định số 81/2013/NĐ-CP và Thông tư số 01/2011/TT-BNV đã có hướng dẫn khác nhau về cách ghi chủ thể ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Điều này vô tình gây khó cho các cơ quan hành chính nhà nước trong việc ban hành các quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

2.3. Thống nhất về thẩm quyền

Luật XLVPHC năm 2012 quy định nhiều chức danh có thẩm quyền XPVPHC nhằm đảm bảo tính toàn diện, kịp thời trong công tác quản lý nhà nước theo đặc thù của vi phạm hành chính. Bởi lẽ, vi phạm hành chính xảy ra ở hầu hết tất cả các lĩnh vực, ngành, nghề và là một trong những hành vi mang tính phổ biến trong đời sống xã hội. Mặc dù mang ý nghĩa tích cực nhưng các quy định về thẩm quyền XPVPHC cũng gặp một số bất cập sau:

Thứ nhất, về cơ chế xác định trách nhiệm, cơ chế giải quyết bồi thường thiệt hại trong trường hợp Phó Trưởng công an xã được giao quyền XPVPHC gây ra thiệt hại. Theo điểm a khoản 3 Điều 61 Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Trưởng công an xã là công chức, Phó Trưởng công an xã không phải là cán bộ hay công chức (cũng không phải là viên chức). Vậy, việc một công chức giao quyền XPVPHC cho một người không phải là cán bộ hay công chức thì có phải là ngoại lệ không? Đặc biệt, nếu trường hợp Phó Trưởng công an xã sai sót trong việc XPVPHC thì giải quyết ra sao? Thủ tục như thế nào?

Có thể thấy, quy định "giao quyền" hay "ủy quyền" XPVPHC cho Phó Trưởng công an xã là rất cần thiết, đáp ứng được nhu cầu của địa phương. Tuy nhiên, do chức danh Phó trưởng Công an xã không phải là "công chức", nên việc giải quyết bồi thường khi Phó trưởng công an xã ra quyết định xử phạt sai sẽ vướng nhiều quy định khác có liên quan. Vì vậy, một mặt, cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung quy định của Pháp lệnh Công an xã, Luật XLVPHC, bảo đảm sự thống nhất; mặt khác, cần cân nhắc việc chính quy hóa chức danh Phó Trưởng công an xã là công chức để đảm bảo cơ chế xử lý trách nhiệm bồi thường, giải quyết các vướng mắc đã nêu.

Thứ hai, thiếu hướng dẫn cụ thể để xác định thẩm quyền. Ví dụ, quy định của Luật XLVPHC năm 2012 về thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong việc XPVPHC và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả chưa được hướng dẫn cụ thể về khung phạt và biện pháp khắc phục hậu quả.

Thứ ba, sự thay đổi tên gọi của một số chức danh có thẩm quyền XPVPHC theo văn bản luật chuyên ngành dẫn đến sự không tương thích về quy định giữa Luật XLVPHC năm 2012 và các văn bản này. Theo đó, những người có chức danh thay đổi về tên gọi mặc nhiên sẽ không còn thẩm quyền XPVPHC mặc dù người đó vẫn giữ vị trí và thực hiện nhiệm vụ tương ứng với chức danh cũ. Ví dụ, theo quy định tại Điều 48 Luật XLVPHC năm 2012, Chánh tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền XPVPHC. Tuy nhiên, theo Điều 3 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, chức danh này không còn tồn tại mà thay vào đó là chức danh Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao.

Do đó, cần rà soát, tổng hợp lại những chức danh có thẩm quyền XPVPHC đã có sự thay đổi trong tất cả các văn bản luật chuyên ngành để sửa đổi, bổ sung Luật XLVPHC cho phù hợp, đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống pháp luật.

2.4. Thống nhất về việc xử phạt hành vi vi phạm

Luật XLVPHC năm 2012 ra đời là cơ sở để các cơ quan nhà nước xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm hành chính. Các văn bản hướng dẫn cụ thể hóa hành vi vi phạm cùng các chế tài trong mọi mặt đời sống xã hội, góp phần tích cực trong công cuộc phòng, chống vi phạm hành chính. Tuy nhiên, hệ thống các văn bản hướng dẫn về XPVPHC vẫn còn một số bất cập sau:

Thứ nhất, một số quy định về XPVPHC chưa tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi dẫn đến mức xử phạt thấp, không đủ sức răn đe.

Theo quy định của điểm c khoản 2 Điều 2 Luật XLVPHC năm 2012, hình thức và mức xử phạt phải đảm bảo mức độ được giáo dục, răn đe và tính hợp lý, tính khả thi của việc áp dụng hình thức, mức phạt. Trên thực tế, nhiều vụ việc vi phạm mang tính chất nguy hiểm, không chỉ gây thiệt hại trực tiếp đến người bị vi phạm mà còn gây hoang mang và bức xúc trong dư luận xã hội, điển hình như các vụ việc XPVPHC trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội với mức phạt tiền 200.000 đồng theo khoản 1 Điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định XPVPHC trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng chống cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình: Vụ đối tượng "cưỡng hôn" phụ nữ trong thang máy chung cư ở quận Thanh Xuân (Hà Nội)[5]; Vụ cán bộ công an gây rối tại Cảng hàng không Tân Sơn Nhất với tính chất nghiêm trọng[6]. Các hành vi nêu trên dù chưa được quy định trong Bộ luật Hình sự như: có tính chất quấy rối, tấn công, lạm dụng tình dục, gây hậu quả nặng nề và tổn thương về danh dự, tinh thần lâu dài cho nạn nhân. Do đó, mức xử phạt 200.000 đồng là quá nhẹ, không đủ sức răn đe với người vi phạm, thậm chí tạo nên tiền lệ không tốt trong xã hội.

Do đó, Chính phủ cần rà soát, đánh giá lại về tính chất, mức độ của hành vi vi phạm trong nhóm vi phạm gây rối an ninh, trật tự, an toàn xã hội để xác định hình thức và mức phạt tương xứng, đánh vào đúng bản chất của hành vi vi phạm, đảm bảo mang tính giáo dục và răn đe cao. Ví dụ: Đối tượng vi phạm phải lao động công ích hoặc công khai xin lỗi trên phương tiện thông tin đại chúng (nhưng tên và địa chỉ nạn nhân thì không được nêu ra)… Đặc biệt, cần luật hóa hành vi quấy rối tình dục và có chế tài thỏa đáng để kịp thời giải quyết các vấn đề phát sinh trong thực tiễn.

Thứ hai, việc hướng dẫn áp dụng các quy định về XPVPHC trong các văn bản quy phạm pháp luật còn thiếu hoặc có sự mâu thuẫn giữa các văn bản quy phạm pháp luật với nhau. Cùng điều chỉnh một nhóm hành vi nhưng mức phạt lại khác nhau trong các văn bản hướng dẫn thi hành, cụ thể như sau:

i) Hành vi đổ rác, xả nước nơi công cộng hiện cũng được điều chỉnh trong ba văn bản vẫn còn có hiệu lực thi hành với các mức phạt khác nhau: Nghị định số 46/2016/NĐ-CP quy định về XPVPHC trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt thì phạt tiền từ 300.000-400.000 đồng đối với cá nhân[7]. Trong khi đó, Nghị định số 155/2016/NĐ-CP quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường thì có mức phạt tiền từ 5-7 triệu đồng[8]. Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định XPVPHC trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng chống bạo lực gia đình thì mức phạt tiền là 1 - 2 triệu đồng[9]. Có thể thấy, mặc dù các văn bản sử dụng từ ngữ khác nhau về hành vi nhưng quy tụ lại chỉ để điều chỉnh hành vi đổ rác, vứt rác thải, không giữ gìn vệ sinh chung nơi công cộng nhưng các văn bản trên không thống nhất về mức xử phạt.

ii) Hành vi đi vệ sinh không đúng nơi quy định: Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định mức phạt tiền là 100.000 - 300.000 đồng[10]; trong khi đó Nghị định số 155/2016/NĐ-CP lại quy định mức phạt tiền là 1 - 3 triệu đồng[11].

Chúng tôi cho rằng, trong thời gian tới, việc rà soát, sửa đổi các quy định cần được gom gọn lại theo nhóm hành vi, theo đó cùng điều chỉnh trong một Nghị định xử phạt nhưng có thể phân tách theo nhóm hành vi chung và lĩnh vực cụ thể để có mức xử phạt tương ứng, chẳng hạn như nhóm hành vi gây rối trật tự, an toàn xã hội nói chung và trong lĩnh vực hàng không, hàng hải,… nói riêng. Như vậy, các cơ quan thực thi pháp luật cũng dễ dàng áp dụng trong từng vụ việc cụ thể mà không phải lúng túng không biết nên áp dụng văn bản nào. Giải pháp này sẽ giảm bớt số lượng văn bản hướng dẫn XPVPHC hiện nay, giảm bớt sự chồng chéo trong quy định và đặc biệt là cũng phù hợp với kỹ thuật xây dựng Luật XLVPHC năm 2012. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu sửa đổi Luật XLVPHC năm 2012 theo hướng quy định "mức phạt tiền tối đa chung, cụ thể được áp dụng trong mọi trường hợp mà mức phạt tối đa đối với mỗi người được áp dụng tùy thuộc vi phạm hành chính xảy ra trong lĩnh vực nào, vi phạm xảy ra ở địa bàn nào và vi phạm được thực hiện bởi cá nhân hay tổ chức"[12]. 

Nguồn: http://lapphap.vn/Pages/TinTuc/210545/Bao-dam-tinh-thong-nhat-trong-cac-van-ban-phap-luat-quy-dinh-ve-xu-phat-vi-pham-hanh-chinh.html

 

 

FalseNguyễn Thị Linh
Tính răn đe của hình thức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chínhThông tinTinTính răn đe của hình thức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
7/16/2020 1:00 PMNoĐã ban hành

Phạt tiền là hình thức xử phạt được áp dụng phổ biến nhất trong việc xử phạt vi phạm hành chính. Bài viết này phân tích một số khía cạnh lý luận cũng như thực tiễn về tính răn đe của hình thức phạt tiền ở nước ta hiện nay; qua đó, đề xuất một số kiến nghị

1. Khái quát về tính răn đe của hình thức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính

Vi phạm hành chính là "hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính". Xử phạt vi phạm hành chính (XPVPHC) là "việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính".

Trong số các hình thức XPVPHC, phạt tiền là hình thức xử phạt được áp dụng phổ biến. Theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC) hiện hành, mức tiền phạt cụ thể đối với một vi phạm hành chính là mức trung bình của khung tiền phạt được quy định đối với vi phạm hành chính đó (nếu có tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng thì mức tiền phạt có thể giảm xuống hoặc tăng lên tương ứng nhưng không được giảm thấp hơn mức tiền phạt tối thiểu hoặc tăng vượt hơn so với mức tiền phạt tối đa của khung tiền phạt được quy định).

Mức tiền phạt trong XPVPHC phải đảm bảo nhiều yêu cầu khác nhau như: tính thích đáng với hậu quả của vi phạm hành chính gây ra; phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội nói chung cũng như điều kiện về mặt tài chính của từng đối tượng vi phạm cụ thể nói riêng… và một yêu cầu khác cũng quan trọng không kém là phải bảo đảm được tính "răn đe" của chế tài xử phạt; từ đó, nhằm giúp giảm thiểu vi phạm hành chính có thể xảy ra.

Theo nghĩa tiếng Việt, "răn đe" có nghĩa là: "nói cho biết rõ điều tai hại với mục đích ngăn cấm, kèm theo ý đe dọa". Như vậy, sự răn đe có nhiều thuộc tính khác nhau, nhưng thuộc tính cơ bản nhất là tính đe dọa.

Thông thường, "lý thuyết răn đe" hay được nhắc đến nhiều trong lĩnh vực ngoại giao, quân sự và phổ biến hơn cả là ở lĩnh vực tội phạm. Có ý kiến cho rằng, "răn đe được định nghĩa là hiệu quả phòng ngừa mà hình phạt thực tế (hoặc bị đe dọa) của những người phạm tội đối với những người phạm tội tiềm năng". Theo hướng lập luận trên, tính chất răn đe của chế tài chủ yếu hướng vào những người vi phạm tiềm năng với cơ chế phòng ngừa là chủ yếu.

Ý kiến khác cho rằng, trong việc xem xét tính răn đe, điều quan trọng là phải phân biệt giữa răn đe chung và răn đe cụ thể. Trên thực tế, "răn đe chung đề cập đến ảnh hưởng của hậu quả bị đe dọa đối với dân chúng. Răn đe cụ thể đề cập đến ảnh hưởng của hình phạt đối với một người cụ thể gặp phải nó". Răn đe cụ thể là những tác động mang tính thực tế đối với người có hành vi vi phạm, còn răn đe chung chỉ mang tính phòng ngừa, chế ngự khả năng xuất hiện hành vi vi phạm. Hai dạng răn đe này có mối quan hệ đan xen lẫn nhau và hầu như không thể tách rời. Răn đe chung chỉ có thể được củng cố chắc chắn hơn khi răn đe cụ thể được bảo đảm thực thi tốt và ngược lại, khi mà răn đe cụ thể được đảm bảo thực thi nghiêm chỉnh thì mức độ răn đe chung lại càng được mở rộng, củng cố thêm. "Những ảnh hưởng của tính răn đe chung rất khác nhau tùy thuộc vào các yếu tố như: động lực tham gia vào hành vi bị cấm hay tính cách…v.v. Ngoài các biến số chung này, hiệu quả của một hình phạt pháp lý phụ thuộc vào hai yếu tố cơ bản: (1) rủi ro nhận thấy của việc phát hiện, sự e ngại và vấn đề bị kết án; và (2) mức độ nghiêm trọng của hình phạt. Cùng với đó, còn có sự nhất trí giữa các học giả pháp lý khi cho rằng: yếu tố thứ nhất có ý nghĩa hơn trong việc kiểm soát hành vi vi phạm so với yếu tố thứ hai". Ở một góc độ khác, có ý kiến cho rằng, răn đe không chỉ được thúc đẩy bằng sự sợ hãi của hình phạt mà còn có sự lên án của xã hội đối với hành vi bị cấm. Do đó, "răn đe có cả thành phần sợ hãi và thành phần đạo đức (giáo dục)". Nói khác đi và suy cho cùng, nếu một cá nhân được sống trong môi trường giáo dục tốt, các giá trị đạo đức được đề cao thì thông thường cá nhân đó sẽ có xu hướng muốn (và quen) làm việc tốt hơn là việc xấu; đồng thời, do ý thức được hậu quả phải gánh chịu nếu thực hiện hành vi vi phạm mà từ đó cá nhân sẽ e sợ và không (hoặc hạn chế) thực hiện hành vi phạm pháp.

Những lập luận này hoàn toàn có giá trị tham chiếu khi nghiên cứu về tính chất răn đe của việc XPVPHC nói chung và hình thức phạt tiền nói riêng. Ở Việt Nam hiện nay, việc nghiên cứu đầy đủ và cơ bản về tính răn đe của hình thức phạt tiền trong XPVPHC ít được nhắc đến, trên diễn đàn khoa học pháp lý cũng ít đề cập đến vấn đề này. Tính chất răn đe của hình thức phạt tiền chỉ được trao đổi và bàn luận nhiều khi có một sự việc nào đó phát sinh mang tính nổi cộm, thì vấn đề này mới được chú ý đến nhiều hơn…

Cũng giống như các hình thức xử phạt khác, phạt tiền nhằm góp phần vào việc duy trì trật tự, kỷ cương, nâng cao tinh thần thượng tôn pháp luật trong xã hội, thông qua cơ chế gây ảnh hưởng đến lợi ích của cá nhân, tổ chức vi phạm; vì thực chất, "phạt tiền là sự tác động vào lợi ích của người vi phạm".

Tuy nhiên, ở một chừng mực nào đó, phạt tiền không chỉ tác động đến lợi ích (kinh tế) của người vi phạm mà còn có tác động đến yếu tố tinh thần, nhận thức của người vi phạm; khi mà hành vi không tốt, sai trái bị xã hội, cộng đồng phê phán.

Mặc dù phạt tiền chủ yếu nhằm tác động đến cá nhân, tổ chức để các chủ thể này không thực hiện hành vi vi phạm; với mức độ nghiêm khắc của chế tài thấp hơn các chế tài hình sự. Tuy nhiên, không vì thế mà tính chất răn đe của hình thức phạt tiền bị xem nhẹ. Bởi lẽ, nếu thiếu đi tiêu chí này thì việc phạt tiền trong rất nhiều trường hợp sẽ không còn nhiều ý nghĩa.Nói chính xác hơn,mục đích chính của việc phạt tiền là tạo lập khả năng tránh tái diễn hành vi vi phạm của cá nhân, tổ chức và hàm ý không khuyến khích cá nhân, tổ chức khác thực hiện hành vi tương tự, với cơ chế thúc đẩy tâm lý "sợ bị phạt"; tâm lý đó sẽ làm cho các cá nhân kiểm soát tốt hành vi của mình cũng như đưa ra những lựa chọn thực hiện hành vi hợp pháp hoặc thậm chí là cá nhân có thể vẫn cố tình thực hiện hành vi nhưng sẽ có sự cân nhắc, tiết chế nhằm giảm thiểu mức độ sai phạm; nhờ đó mà nâng cao tính tuân thủ pháp luật tốt hơn.

Về cơ bản, có hai yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến tính răn đe của hình thức phạt tiền, và cả hai yếu tố này đều ảnh hưởng trực tiếp đến việc lựa chọn thực hiện hành vi của cá nhân, đó là sự chắc chắn của việc xử phạt và mức tiền phạt. Nhưng vấn đề đặt ra là sự chắc chắn của việc xử phạt và mức tiền phạt, yếu tố nào sẽ mang tính chất quyết định đến việc lựa chọn thực hiện hành vi của cá nhân? Yếu tố nào sẽ đảm bảo tính răn đe của hình thức phạt tiền có tính trội hơn. Đây là vấn đề còn rất nhiều tranh cãi, phần lớn các ý kiến cho rằng mức tiền phạt có phần trội hơn so với yếu tố chắc chắn của việc xử phạt. Trong khi đó, cũng có một số ý kiến đánh giá có sự ngang bằng nhau giữa hai yếu tố này. Tuy nhiên, theo chúng tôi, mức tiền phạt nghiêm khắc sẽ có tính răn đe cao đối với đa phần các trường hợp hơn. Bởi lẽ, sự chắc chắn của việc xử phạt chỉ bị cản trở, bị "méo mó" đi trong một số những trường hợp nhất định mà thôi (chiếm tỷ lệ nhỏ, thứ yếu).

Việc đánh giá tính chất và mức độ của sự răn đe theo mức tiền phạt là một vấn đề không hề đơn giản; việc đánh giá này chủ yếu chỉ mang tính định tính, ước đoán. Vì tác động từ sự răn đe của hình thức phạt tiền còn tùy thuộc vào mỗi cá nhân, tổ chức khác nhau ở từng thời điểm, vụ việc khác nhau. Dẫu vậy, xét trong nhiều trường hợp cụ thể, sẽ thấy rằng mức tiền phạt có thể thiếu hụt hoặc cũng có thể vượt quá "mức răn đe cần thiết". Có nhiều lý do dẫn đến tình trạng này, chủ yếu là do các quan hệ xã hội, điều kiện kinh tế, mức sống, thu nhập của người dân không ngừng thay đổi, cho nên, mức tiền phạt đối với nhiều hành vi vi phạm đôi khi không còn phù hợp trên thực tế.

Đồng thời, một điểm quan trọng khác cũng cần được quan tâm, đó là tính chất răn đe của hình thức phạt tiền còn phụ thuộc vào "năng lực phản chiếu" của từng cá nhân trước hành vi vi phạm (trừ trường hợp cá nhân vô ý hoặc không ý thức được hành vi mà mình thực hiện là hành vi vi phạm). Mức độ phản chiếu này của từng cá nhân sẽ quyết định phần lớn đến việc tự ngăn chặn khả năng bị kích thích, thu hút thực hiện hành vi vi phạm. Nếu cá nhân có năng lực phản chiếu càng tốt thì khả năng xảy ra hành vi vi phạm càng thấp và ngược lại. Năng lực phản chiếu này lại phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố thành phần cụ thể hơn như  kiến thức pháp luật của cá nhân.

Từ những phân tích trên, có thể đưa ra nhận định về mức độ tương quan giữa mức tiền phạt và tính răn đe của hình thức phạt tiền như sau:nếu mức tiền phạt quá thấp thì khả năng xảy ra vi phạm càng nhiều; chỉ khi mức tiền phạt tương xứng với mức độ vi phạm thì tính răn đe càng cao; điều đó càng giúp làm giảm khả năng tái diễn và xảy ra hành vi vi phạm mới; giúp cho Nhà nước giảm thiểu chi phí, thời gian xử lý các vụ việc; nhưng ngược lại, mức tiền phạt quá cao thì nó sẽ khó có tính khả thi trên thực tế. Điều đó đòi hỏi mức tiền phạt phải được cân nhắc, điều chỉnh cho phù hợp với từng thời điểm, giai đoạn và tương ứng với từng nhóm đối tượng khác nhau.

Theo chúng tôi, tính răn đe của hình thức phạt tiền chỉ được đảm bảo khi:

Thứ nhất, mức tiền phạt đối với những vi phạm hành chính, nhất là vi phạm hành chính phổ biến cần phải được truyền tải đến đông đảo cá nhân, tổ chức trong xã hội; phải gây ảnh hưởng và tạo được suy nghĩ cho người dân rằng: nếu thực hiện vi phạm hành chính đó thì sẽ bị thiệt nhiều hơn là được lợi;

Thứ hai, mức tiền phạt phải đủ "mạnh" với đa số các cá nhân, tổ chức vi phạm; tạo được sự đồng thuận cao trong xã hội tại một thời điểm nhất định;

Thứ ba, tính răn đe của hình thức phạt tiền chỉ được củng cố tốt hơn khi vi phạm hành chính được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm minh, công bằng.

2. Một số nhận định về tính răn đe của hình thức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính

Hiện nay, theo quy định của Luật XLVPHC năm 2012, khung tiền phạt từ 50.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 100.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng đối với tổ chức. Mức phạt cụ thể chủ yếu được quy định trong các nghị định theo từng ngành, lĩnh vực riêng biệt. Riêng ở cấp địa phương cũng có trường hợp chính quyền cấp tỉnh đã ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật về XPVPHC trên địa bàn, trong đó có quy định chi tiết về mức tiền phạt cụ thể theo lĩnh vực quản lý. Đơn cử như: Nghị quyết số 07/2014/NQ-HĐND ngày 11/7/2014 của Hội đồng Nhân dân thành phố Hà Nội về mức tiền phạt đối với một số hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng và Nghị quyết số 08/2014/NQ- HĐND ngày 11/7/2014 quy định về mức tiền phạt đối với một số hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa.

Trong khoảng 04 năm qua, trên địa bàn cả nước đã phát hiện: 36.789.227 vụ việc vi phạm hành chính, tổng số vụ việc đã xử phạt là 28.493.927 vụ việc (chiếm 77.45% số vụ vi phạm), tổng tiền phạt thu được là 38.543.430.058.702 đồng. Đáng lưu ý, có một số lĩnh vực có số lượng vi phạm hành chính rất lớn, đơn cử như lĩnh vực giao thông. Theo một số liệu thống kê cho thấy: tính trong hai năm kể từ khi triển khai thực hiện Nghị định số 46/2016/NĐ-CP về XPVPHC trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, lực lượng Công an đã xử lý trong lĩnh vực đường bộ hơn 7,87 triệu trường hợp vi phạm, phạt tiền hơn 4.618 tỷ đồng; tước hơn 589.738 giấy phép lái xe, tạm giữ hơn 939.116 phương tiện. Trong lĩnh vực đường sắt đã xử phạt hơn 2.928 trường hợp vi phạm, phạt tiền hơn 1,6 tỷ đồng. Thực tế cho thấy, hình thức xử phạt bằng tiền đã góp phần quan trọng vào việc duy trì kỷ cương, trật tự, an toàn xã hội.

Tuy nhiên, cũng phần nào giống như giai đoạn trước đây, "do đa dạng về hành vi vi phạm và đối tượng vi phạm nên việc các nghị định về XPVPHC quy định cách thức định lượng mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm trong nhiều trường hợp, lĩnh vực không thống nhất và không phù hợp. Điều này tạo ra sự khó khăn khi xác định mức phạt tiền phù hợp với mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm để đảm bảo tính răn đe, nghiêm minh và công bằng của pháp luật". Nên trong thời điểm hiện nay, đây vẫn chính là một "nút thắt" cần tháo gỡ.

Cụ thể: mức phạt tiền hiện nay đối với một số hành vi vi phạm còn quá thấp, tình trạng này dẫn đến tâm thế "khẩn trương nộp phạt", cũng như tâm lý "nhờn luật" vì thế mà tăng cao, gây bức xúc trong dư luận. Điển hình như: nếu cá nhân có cử chỉ, lời nói trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác thì chỉ có thể sẽ bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng (theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ, quy định XPVPHC trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình); hay như: mức xử phạt đối với một số hành vi vi phạm pháp luật nghĩa vụ quân sự đã khá lạc hậu. Hiện mức phạt tối đa đối với hành vi "không chấp hành lệnh nhập ngũ" hiện nay là 2,5 triệu đồng. Có trường hợp không chấp hành lệnh khám sức khỏe 03 năm liên tục nhưng chỉ bị phạt tổng cộng 3,4 triệu đồng. Với mức tiền phạt thấp như ở một số lĩnh vực vừa dẫn chứng trên, rất khó để những cá nhân, tổ chức vi phạm sẽ "e dè" trong việc tái diễn hành vi vi phạm tương tự của mình. 

Trái ngược với mức xử phạt thấp, một số trường hợp vi phạm hành chính hiện nay bị xử lý với mức phạt quá cao. Chẳng hạn: "nhiều người vi phạm luật giao thông bị bắt nộp phạt cao thì mới được lấy lại phương tiện, nên đã chấp nhận bỏ phương tiện để không phải nộp phạt. Nhà nước vừa không thu được tiền phạt, còn phải chi phí cho việc tạm giữ một lượng lớn phương tiện".

Gần đây, trong Dự thảo Nghị định quy định XPVPHC trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã, cụ thể là tại "điểm e khoản 1 Điều 15 của Dự thảo quy định về mức phạt tiền đối với hành vi "không đeo thẻ công chứng viên khi hành nghề công chứng" với mức phạt từ 3.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng. Đây là mức phạt tiền khá nặng đối với hành vi vi phạm tác động đến lợi ích công cộng khá thấp"[16]. Nói cách khác, mức tiền phạt trong trường hợp này đã có dấu hiệu "vượt quá mức răn đe cần thiết" nếu được áp dụng trên thực tế.

Một vấn đề nữa cũng đáng lưu tâm là cách thức phạt tiền. Hiện nay, các cơ quan chức năng đang áp dụng hai cách thức phạt tiền đối với vi phạm hành chính là "phạt nóng" và "phạt nguội" (chủ yếu đối với lĩnh vực giao thông). Nhưng xét về mặt tâm lý, việc "phạt nóng" đa phần sẽ có tính răn đe cao hơn so với cách thức "phạt nguội". Tuy nhiên, có một nghịch lý kèm theo đó là "phạt nguội", nhờ sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật thường có tính chuẩn xác cao hơn là "phạt nóng".

Song song đó, trong quá trình tiến hành XPVPHC bằng hình thức phạt tiền, có trường hợp người thi hành công vụ không thực hiện đúng theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục, dễ dãi cho qua hoặc nhận hối lộ… làm giảm tính nghiêm minh của pháp luật. Đặc biệt là việc đưa ra mức tiền phạt khi có tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng còn mang tính tùy nghi cao[17]. Từ đó, phần nào ảnh hưởng đến tính răn đe của hình thức phạt tiền.

3. Kiến nghị

Để bảo đảm tăng cường tính "răn đe" của chế tài xử phạt vi phạm hành chính, góp phần giảm thiểu vi phạm hành chính có thể xảy ra, chúng tôi đề xuất một số kiến nghị sau:

Một là, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Việc tuyên truyền phải làm cho đối tượng cảm nhận được "cảm giác sai trái" và sự e ngại các thiệt hại về kinh tế nếu thực hiện hành vi vi phạm; ưu tiên tuyên truyền pháp luật về XPVPHC theo từng nhóm ngành, lĩnh vực có số lượng vụ việc vi phạm hành chính cao, phổ biến. Hình thức tuyên truyền cần đảm bảo tính hiệu quả, thiết thực, có trọng tâm. Cùng với đó, chúng ta cần nâng cao tính minh bạch, tăng cường trách nhiệm, đạo đức thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức trong quá trình XPVPHC. Bởi khi cán bộ, công chức thực thi pháp luật nghiêm minh thì tính chất răn đe của hình thức phạt tiền sẽ ngày càng được đảm bảo tốt hơn.

Hai là, nghiên cứu, rà soát, cân nhắc lại mức phạt tiền với mức độ nặng/nhẹ tùy vào từng hành vi vi phạm cụ thể. Thiết nghĩ, cần đánh giá một cách tổng thể sự phù hợp của mức tiền phạt tối đa và tối thiểu trong các lĩnh vực với tình hình thực tiễn của đời sống kinh tế - xã hội. Qua đó, xem xét mức tiền phạt trong lĩnh vực nào cần tăng lên, lĩnh vực nào cần giảm xuống. Đặc biệt, như đã đề cập, đối với trường hợp "nhờn luật" thì mức phạt tối đa vẫn khó có thể đảm bảo tính răn đe đối với người vi phạm. Trong những trường hợp này, cần có cách thức giải quyết phù hợp và thích đáng hơn. Chẳng hạn, người thi hành công vụ, cơ quan công quyền cần phải có đầy đủ thông tin của người vi phạm; từ đó, có thể tính toán lại mức tiền phạt theo cách "tích lũy điểm phạt"; hoặc nhân theo "hệ số vi phạm" (tính theo số lần vi phạm) hay căn cứ vào "lịch sử vi phạm hành chính" để đưa ra mức tiền phạt nặng hơn.

Ba là, việc xử phạt đối với những hành vi vi phạm đã bị xử lý nhiều lần (như vượt đèn đỏ, chạy quá tốc độ cho phép…), ngoài phương án tăng mức tiền phạt thì cũng cần phải tăng mức xử phạt bổ sung thậm chí nên thay đổi hình thức phạt tiền bằng hình thức xử phạt khác. Nói cách khác là "nên nghiên cứu để không áp dụng duy nhất hình thức phạt tiền đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính"[18]. Đơn cử như có thể áp dụng biện pháp xử phạt "lao động công ích". Tuy nhiên, nếu tái áp dụng hình thức này, cần phải giải quyết được những vấn đề then chốt nhất đặt ra như: lao động công ích là những công việc gì? thời gian cụ thể ra sao?; kèm theo đó, cơ chế giám sát, đánh giá kết quả phải đơn giản, dễ thực hiện, tránh làm phát sinh chi phí, tốn kém. Đồng thời, cũng rất cần thiết phải có cơ chế bảo vệ người vi phạm, nhằm tránh khả năng xâm phạm đến quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân./.

Nguồn: http://quochoi.vn/tintuc/Pages/tin-hoat-dong-cua-quoc hoi.aspx?ItemID=44249

FalseNguyễn Thị Linh
Xử phạt VPHC trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xãThông tinTinXử phạt VPHC trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
7/16/2020 12:00 PMYesĐã ban hành

Ngày 24/9/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 110/2013/NĐ-CP quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã và được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Nghị định số 67/2015/NĐ-CP ngày 14/8/2015 (gọi tắt là Nghị định 110). Nghị định 110 đã đặt ra những cơ sở pháp lý quan trọng để quản lý thống nhất công tác xử phạt VPHC trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã trong phạm vi toàn quốc.

Qua thực tiễn thi hành Nghị định 110 cho thấy, Nghị định đã góp phần trong việc duy trì, tăng cường trật tự, kỷ cương hành chính trong quản lý nhà nước về lĩnh vực tư pháp, nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời những hành vi VPHC trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã trong phạm vi toàn quốc.

Tuy nhiên, hiện nay, một số văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở pháp lý để ban hành Nghị định 110 đã có nhiều sự thay đổi, có văn bản đã được ban hành mới, có văn bản được sửa đổi, bổ sung, dẫn đến nhiều quy định về xử phạt VPHC trong Nghị định không còn phù hợp, cần phải sửa đổi, bổ sung.

Để bảo đảm hiệu lực thi hành của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước,  Luật Trợ giúp pháp lý đồng thời, để bảo đảm sự phù hợp của các quy định pháp luật thì việc nghiên cứu, xây dựng và ban hành Nghị định thay thế Nghị định số 110/2013/NĐ-CP là cần thiết để bảo đảm cơ sở pháp lý và chế tài xử phạt khi có hành vi vi phạm xảy ra.

Bên cạnh đó, tình hình vi phạm pháp luật trong các lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự ngày càng gia tăng cả về tính chất, mức độ phức tạp. Quy định pháp luật về các lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự chưa rõ ràng, chế tài xử phạt vi phạm hành chính đối với các lĩnh vực trên chưa nghiêm, mức xử phạt VPHC quá thấp, các chế tài về thu hồi Giấy phép hoạt động, cấm hoạt động, tạm dừng, tạm đình chỉ hoạt động đối với các đơn vị được thanh tra còn ít, chưa áp dụng được nhiều. Nhiều hành vi vi phạm pháp luật trong các lĩnh vực được thanh tra như luật sư, công chứng, đấu giá tài sản... chưa có chế tài xử phạt hoặc biện pháp xử phạt chưa tương xứng, nên tạo ra tâm lý coi thường pháp luật, coi thường sự quản lý nhà nước.

Do đó, ngày 15/7/2020, Chính phủ ban hành Nghị định số 82/2020/NĐ-CP quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã. Nghị định này quy định phạm vi điều chỉnh gồm:

1. Về hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính, thẩm quyền lập biên bản, thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh đối với hành vi vi phạm hành chính trong các lĩnh vực sau đây:

a) Bổ trợ tư pháp, bao gồm: luật sư; tư vấn pháp luật; công chứng; giám định tư pháp; đấu giá tài sản; trọng tài thương mại; hòa giải thương mại; thừa phát lại;

b) Hành chính tư pháp, bao gồm: hộ tịch; quốc tịch; chứng thực; lý lịch tư pháp; phổ biến, giáo dục pháp luật; hợp tác quốc tế về pháp luật; trợ giúp pháp lý; đăng ký biện pháp bảo đảm; trách nhiệm bồi thường của Nhà nước;

c) Hôn nhân và gia đình;

d) Thi hành án dân sự;

đ) Phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.

2. Các vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã không quy định tại Nghị định này thì áp dụng theo quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước có liên quan.

Ngoài ra Nghị định còn quy định đối tượng bị xử phạt gồm:

1. Cá nhân, tổ chức Việt Nam; cá nhân, tổ chức nước ngoài (sau đây gọi là cá nhân, tổ chức) có hành vi vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị định này.

2. Tổ chức là đối tượng bị xử phạt theo quy định của Nghị định này, bao gồm:

a) Tổ chức hành nghề luật sư; tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư; tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam; trung tâm tư vấn pháp luật, chi nhánh của trung tâm tư vấn pháp luật; tổ chức hành nghề công chứng; tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên; văn phòng giám định tư pháp; tổ chức đấu giá tài sản; tổ chức mà nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng; tổ chức có tài sản đấu giá; trung tâm trọng tài; chi nhánh, văn phòng đại diện của trung tâm trọng tài; chi nhánh, văn phòng đại diện của tổ chức trọng tài nước ngoài tại Việt Nam; trung tâm hòa giải thương mại; chi nhánh, văn phòng đại diện của trung tâm hòa giải thương mại; tổ chức hòa giải thương mại nước ngoài tại Việt Nam; văn phòng thừa phát lại; doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản;

b) Trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; văn phòng con nuôi nước ngoài tại Việt Nam; tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý;

c) Doanh nghiệp, hợp tác xã tiến hành thủ tục phá sản; ngân hàng nơi doanh nghiệp, hợp tác xã có tài khoản;

d) Cơ quan, tổ chức thực hiện hoạt động hợp tác quốc tế về pháp luật với cơ quan chính phủ, tổ chức quốc tế liên chính phủ và tổ chức phi chính phủ nước ngoài;

đ) Cơ quan nhà nước có hành vi vi phạm mà hành vi đó không thuộc nhiệm vụ quản lý nhà nước được giao;

Quy định về mức phạt tiền, thẩm quyền phạt tiền đối với cá nhân, tổ chức

1. Mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân trong các lĩnh vực: hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình là 30.000.000 đồng.

2. Mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân trong các lĩnh vực: thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã là 40.000.000 đồng.

3. Mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp là 50.000.000 đồng.

Ngoài ra Nghị định còn quy định một số nội dung khác như quy định xử phạt hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả trong các lĩnh vực như: bổ trợ tư pháp; hoạt động giám định tư pháp; hoạt động đấu giá tài sản; trọng tài thương mại; hòa giải thương mại…với các quy định pháp luật nổi bật, đơn cử như:

Phạt tiền từ 01 – 03 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau: Không tham gia hoặc tham gia không đầy đủ nghĩa vụ bồi dưỡng bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ; Thông báo không đúng thời hạn cho Đoàn luật sư về việc đăng ký hành nghề, thay đổi nội dung đăng ký hành nghề;

Phạt tiền từ 20 – 30 triệu đồng đối với hành vi hành nghề luật sư khi chưa có chứng chỉ hành nghề luật sư hoặc chưa gia nhập Đoàn luật sư; Cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng hoặc treo biển hiệu khi tổ chức hành nghề luật sư do mình thành lập hoặc tham gia thành lập chưa được đăng ký hoạt động;

Phạt tiền từ 30 – 40 triệu đồng đối với người hành nghề luật sư có hành vi cung cấp hoặc hướng dẫn khách hàng cung cấp tài liệu, vật chứng giả, sai sự thật; Xúi giục khách hàng khai sai sự thật hoặc xúi giục khách hàng khiếu nại, tố cáo trái pháp luật;…Đáng chú ý, tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư hoặc giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam từ 06 – 09 tháng;

Phạt tiền từ 03 - 05 triệu đồng đối với hành vi cản trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn hoặc cản trở ly hôn (Trước đây Nghị định 110/2013/NĐ-CP không quy định phạt đối với hành vi này; Nghị định 167/2013 quy định phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 - 300.000 đồng nếu cản trở người khác kết hôn bằng cách đưa ra yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác);

Các hành vi vi phạm quy định liên quan đến công chứng hợp đồng:

Phạt tiền từ 07 - 10 triệu đồng đối với hành vi: Tẩy xoá, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy tờ, văn bản để được công chứng hợp đồng ; Sử dụng giấy tờ, văn bản do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền cấp bị tẩy xoá, sửa chữa làm sai lệch nội dung để được công chứng hợp đồng (Hiện hành theo Nghị định 67/2015/NĐ-CP, phạt từ 01 - 03 triệu đồng);

Phạt tiền từ 20 – 30 triệu đồng đối với hành vi: Giả mạo, thuê hoặc nhờ người khác giả mạo người yêu cầu công chứng; giả mạo, thuê hoặc nhờ người khác giả mạo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến hợp đồng để công chứng hợp đồng, giao dịch; giả mạo chữ ký của người yêu cầu công chứng; Yêu cầu công chứng hợp đồng giả tạo; Cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật để công chứng hợp đồng (hiện hành phạt từ 03 - 07 triệu đồng);  Cản trở hoạt động công chứng. 

Nghị định này có hiệu lực từ ngày 01/9/2020, thay thế Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24 tháng 9 năm 2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã và Nghị định số 67/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24 tháng 9 năm 2013 của Chính phủ.

​Linh Nguyễn

 

 

 

 

FalseNguyễn Thị Linh
Hội thảo đánh giá thực trạng thi hành quyết định xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Bình DươngTin ngành tư phápTinHội thảo đánh giá thực trạng thi hành quyết định xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Bình Dương/XLVPHCTDTHPL/PublishingImages/2020-07/HT 1_Key_13072020084319.jpg
7/13/2020 9:00 AMNoĐã ban hành

Nhằm đánh giá thực trạng thi hành quyết định xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC) trong lĩnh vực bảo vệ môi trường (BVMT), qua đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành quyết định XLVPHC trong lĩnh vực BVMT. 

td.jpg

Chiều ngày 08/7/2020 tại Hội trường Sở Tư pháp tỉnh, Đoàn khảo sát của Viện Khoa học pháp lý được Bộ Tư pháp giao nhiệm vụ chủ trì, phối hợp với sở Tư pháp tổ chức Hội thảo đánh giá thực trạng thi hành các quyết định XLVPHC trong lĩnh vực BVMT trên địa bàn tỉnh Bình Dương do bà Chu Thị Hoa - Phó Viện trưởng - Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp và ông Nguyễn Quốc Trí - Phó Giám đốc - Sở Tư pháp đồng chủ trì với hơn 50 đại biểu là đại diện UBND cấp tỉnh; UBND cấp xã; Cán bộ các sở, ban, ngành gồm: Tài nguyên và Môi trường; Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Công an; Y tế; Tư pháp; Xây dựng; Kế hoạch và Đầu tư; Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh; Hải quan; Thuế và một số doanh nghiệp đã bị XLVPHC trong lĩnh vực BVMT trên địa bàn tỉnh. 

HT 2.jpg 

Tại Hội thảo, các đại biểu đã được nghe báo cáo tham luận của các đơn vị về các vấn đề như: Đánh giá thực tiễn thi hành quyết định XLVPHC trong lĩnh vực BVMT; Thực trạng thi hành quyết định XLVPHC trong lĩnh vực BVMT trên địa bàn huyện; Thực trạng thi hành quyết định XLVPHC trong lĩnh vực BVMT của Công an tỉnh thời gian qua và vai trò của Sở Tư pháp trong việc theo dõi thi hành pháp luật về XLVPHC trong lĩnh vực BVMT trên địa bàn tỉnh. Đồng thời, tập trung trao đổi, thảo luận và giải đáp các khó khăn, vướng mắc của các đại biểu tham dự trong quá trình thi hành quyết định XLVPHC trong lĩnh vực BVMT tại địa phương. 

HT 1.jpg

Kết thúc Hội thảo, bà Chu Thị Hoa ghi nhận các ý kiến đóng góp của các đại biểu, Đoàn Khảo sát về đánh giá thực trạng thi hành quyết định XLVPHC trong lĩnh vực BVMT sẽ nghiên cứu, tiếp thu các khó khăn, vướng mắc cũng như là các giải pháp đã đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả thi hành Quyết định xử phạt VPHC trong lĩnh vực BVMT trong thời gian tới./.

Linh Nguyễn

FalseNguyễn Thị Linh
​  Xử phạt vi phạm hành chính: Nhiều người cùng có quyền thì ai ra quyết định?Thông tinTin​  Xử phạt vi phạm hành chính: Nhiều người cùng có quyền thì ai ra quyết định?/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
7/7/2020 12:00 PMNoĐã ban hành

Để không chồng chéo về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính (VPHC), Luật quy định nguyên tắc xác định, phân định thẩm quyền xử phạt VPHC và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.

Thẩm quyền áp dụng đối với một hành vi VPHC

Theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Luật Xử lý VPHC, thẩm quyền xử phạt VPHC được quy định tại các điều từ 38 đến 51 của Luật này là thẩm quyền áp dụng đối với một hành vi VPHC của cá nhân; trong trường hợp phạt tiền, thẩm quyền xử phạt tổ chức gấp 02 lần thẩm quyền xử phạt cá nhân và được xác định theo tỉ lệ phần trăm đối với chức danh đó.

Thẩm quyền phạt tiền được xác định căn cứ vào mức tối đa của khung tiền phạt quy định đối với từng hành vi vi phạm cụ thể. Chủ tịch UBND các cấp có thẩm quyền xử phạt trong các lĩnh vực quản lý nhà nước ở địa phương. Người có thẩm quyền xử phạt có quyền xử phạt quy định tại các điều từ 39 đến 51 của Luật này thuộc lĩnh vực, ngành mình quản lý. Tuy nhiên, trong trường hợp VPHC thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều người thì việc xử phạt do người thụ lý đầu tiên thực hiện.

Ví dụ: Điểm c khoản 4 Điều 11 Nghị định số 176/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực y tế, mức phạt tối đa đối với hành vi "Không thực hiện quyết định áp dụng biện pháp hạn chế tập trung đông người" là 10 triệu đồng đối với cá nhân và 20 triệu đồng đối với tổ chức.

Về thẩm quyền xử phạt hành vi này, chương 3 Nghị định số 176/2013/NĐ-CP quy định: Chủ tịch UBND cấp xã, phạt đến 05 triệu đồng; Chủ tịch UBND cấp huyện, phạt đến 25 triệu đồng; Chánh Thanh tra Sở Y tế, phạt đến 25 triệu đồng;… Đây là hành vi VPHC thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều người, cho nên việc xử phạt do người thụ lý đầu tiên thực hiện. 

Ví dụ: Cũng với hành vi trên trong phòng, chống dịch Covid-19 do lực lượng chức năng ở địa phương lập biên bản thì việc xử phạt này do Chủ tịch UBND cấp huyện thực hiện; nếu do lực lượng Thanh tra Sở Y tế thực hiện thì do Chánh Thanh tra Sở Y tế xử phạt.

Thẩm quyền áp dụng đối với nhiều hành vi VPHC

Trường hợp xử phạt một người thực hiện nhiều hành vi VPHC (từ 2 hành vi trở lên) thì thẩm quyền xử phạt được xác định theo nguyên tắc sau đây: (1) Nếu hình thức, mức xử phạt, trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu, biện pháp khắc phục hậu quả được quy định đối với từng hành vi đều thuộc thẩm quyền của người xử phạt thì thẩm quyền xử phạt vẫn thuộc người đó; (2) Nếu hình thức, mức xử phạt, trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu, biện pháp khắc phục hậu quả được quy định đối với một trong các hành vi vượt quá thẩm quyền của người xử phạt thì người đó phải chuyển vụ vi phạm đến cấp có thẩm quyền xử phạt; (3) Nếu hành vi thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều người thuộc các ngành khác nhau thì thẩm quyền xử phạt thuộc Chủ tịch UBND cấp có thẩm quyền xử phạt nơi xảy ra vi phạm.

Ví dụ: Ông A bị lập biên bản 02 hành vi vi phạm về phòng, chống dịch Covid-19. Nếu hình thức, mức phạt tiền, biện pháp khắc phục hậu quả,… được quy định đối với từng hành vi đều thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp xã thì quyền xử phạt thuộc về Chủ tịch UBND cấp xã; trường hợp một trong các hình thức, mức phạt,… đối với một trong các hành vi vi phạm của ông A vượt quá thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp xã thì phải chuyển ngay vụ việc đến cấp thẩm quyền xử phạt; nếu ông A có 01 hành vi vi phạm thuộc về thẩm quyền của Thanh tra Y tế, 01 hành vi vi phạm thuộc về thẩm quyền của Quản lý Thị trường thì xử phạt thuộc về Chủ tịch UBND có thẩm quyền nơi xảy ra vi phạm. 

Trong mỗi nghị định về xử phạt VPHC đều có quy định rõ thẩm quyền xử phạt của các chức danh đối với từng điều khoản, cũng như thẩm quyền phạt tiền được tính thành mức tiền cụ thể, nhưng người có thẩm quyền xử phạt phải tuyệt đối tuân thủ nguyên tắc được quy định tại Điều 52 Luật Xử lý VPHC. Riêng Trưởng đoàn Thanh tra chuyên ngành có thẩm quyền xử phạt đối với hành vi VPHC thuộc phạm vi, nội dung cuộc thanh tra trong thời hạn thanh tra theo quy định của pháp luật về thanh tra (Điều 5 Văn bản hợp nhất Nghị định  số 81/2013/NĐ-CP và Nghị định số 97/2017/NĐ-CP). 

 

Nguồn: https://baophapluat.vn/tu-van-365/xu-phat-vi-pham-hanh-chinh-nhieu-nguoi-cung-co-quyen-thi-ai-ra-quyet-dinh-508610.html

 

FalseNguyễn Thị Linh
Tình hình thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trên địa bàn tỉnh Bình Dương 06 tháng đầu năm 2020Thông tinTinTình hình thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trên địa bàn tỉnh Bình Dương 06 tháng đầu năm 2020/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/25/2020 5:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 19/6/2020, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương đã ban hành Báo cáo số 132/BC-UBND về công tác tình hình thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trên địa bàn tỉnh Bình Dương 06 tháng đầu năm 2020.

Theo Báo cáo, từ ngày 15/12/2019 đến ngày 14/6/2020: Tổng số vụ vi phạm hành chính bị phát hiện: 4.432 vụ (không bao gồm số liệu của ngành dọc như: Công an; Ban Chỉ huy quân sự; Hải quan; Thuế; Quản lý thị trường; Cơ quan thi hành án dân sự; Kho bạc Nhà nước; Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước; Bảo hiểm xã hội…).  

Vi phạm hành chính diễn ra trên nhiều lĩnh vực, trong đó phổ biến nhất là những hành vi vi phạm trong các lĩnh vực:

- Lĩnh vực kinh doanh: Vi phạm về đăng ký kinh doanh; Điều kiện kinh doanh; Kinh doanh nhập hàng lậu, hàng giả; Kinh doanh không đúng theo nội dung giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Không đăng ký thay đổi với cơ quan đăng ký kinh doanh khi không góp đủ vốn điều lệ như đã đăng ký; Thông báo thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp quá thời hạn quy định.

- Lĩnh vực giao thông vận tải: Vi phạm trật tự an toàn giao thông; Lấn chiếm hành lang an toàn giao thông đường bộ; Trách nhiệm bảo vệ công trình; Xe khách đón, trả khách không đúng nơi quy định; Xe tải chở hàng quá tải trọng cho phép; Làm rơi vãi nguyên vật liệu, phế liệu gây ô nhiễm môi trường.

- Lĩnh vực xây dựng: Vi phạm xây dựng không phép, sai phép, sử dụng đất sai mục đích, xây dựng trên đất hành lang an toàn đường bộ và hành lang an toàn đường thủy.

- Lĩnh vực văn hóa: Cơ sở kinh doanh quá giờ quy định; Không ký kết hợp đồng lao động với nhân viên, thông tin truyền thông và quảng cáo rao vặt không đúng quy định, treo tranh ảnh có nội dung khiêu dâm tại phòng karaoke, mua bán băng đĩa không dán nhãn kiểm soát.

- Lĩnh vực y tế: Không sử dụng phương tiện để theo dõi hoạt động mua thuốc, bán thuốc theo quy định của pháp luật; Kinh doanh thuốc không đúng với hình thức kinh doanh, phạm vi kinh doanh đã ghi trên giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc. Sử dụng người trực tiếp chế biến thức ăn mà không đội mũ, đeo khẩu trang; Bày bán, chứa đựng thực phẩm trên thiết bị, dụng cụ, vật liệu không bảo đảm vệ sinh; Dụng cụ thu gom chất thải rắn không có nắp đậy; Không thực hiện đúng quy định của pháp luật về chế độ kiểm thực 3 bước...

- Lĩnh vực công nghệ thông tin: Dùng mạng xã hội Facebook để đăng tải các thông tin sai sự thật, mạo danh tài khoản Facebook là các cơ quan chức năng  nhằm mục đích trục lợi…

 Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các hành vi vi phạm là do Bình Dương là một trong những tỉnh thu hút đầu tư và thu hút nguồn nhân lực cao, lượng dân nhập cư từ nhiều nơi đến địa bàn tỉnh để làm ăn và sinh sống nhiều dẫn đến tình trạng người và phương tiện tham gia giao thông ngày càng tăng nhanh với số lượng lớn; Đối tượng vi phạm chủ yếu là dân nhập cư, đa số các trường hợp vi phạm là do ý thức pháp luật còn hạn chế; Mức xử phạt đối với các hành vi vi phạm chưa đủ tính răn đe; Tổ chức, cá nhân vì lợi ích của mình mà bất chấp việc vi phạm quy định pháp luật.

Linh Nguyễn

BC_132_UBND_TINH_BD.pdf

 

FalseNguyễn Thị Linh
Xử lý vi phạm với người chưa thành niên sử dụng trái phép chất ma túy, nghiện ma túy là vấn đề khóThông tinTinXử lý vi phạm với người chưa thành niên sử dụng trái phép chất ma túy, nghiện ma túy là vấn đề khó/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/19/2020 2:00 PMNoĐã ban hành

Chia sẻ với Quốc hội ngày 18/6 tại phiên thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long thừa nhận, việc xử lý vi phạm với người chưa thành niên sử dụng trái phép chất ma túy và nghiện ma túy là vấn đề hết sức khó, có phần nhạy cảm.

Lê Thành Long.jpg

Với gần 200 lượt ý kiến góp ý tại tổ vừa qua và tại hội trường hôm nay đối với dự thảo Luật, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long thay mặt cơ quan chủ trì soạn thảo trân trọng cảm ơn các ý kiến sâu sắc, xác đáng của các đại biểu Quốc hội. Bộ Tư pháp sẽ cùng cơ quan chủ trì thẩm tra nghiên cứu kỹ các ý kiến này, báo cáo Thủ tướng Chính phủ hoàn thiện dự thảo Luật trình Quốc hội xem xét cho ý kiến thông qua vào kỳ họp sau.

Nhắc lại quan điểm sửa đổi Luật của Chính phủ, Bộ trưởng Long cho biết chỉ có 2 quan điểm lớn. Thứ nhất là dự án Luật chỉ tập trung sửa đổi những quy định đang còn hạn chế, bất cập có nhiều khó khăn, vướng mắc trong áp dụng. Thứ hai là kết hợp xử lý ở mức độ hài hòa nhất có thể các yêu cầu đặt ra từ thực tiễn và tính pháp chế của vấn đề vốn liên quan, tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp và quản lý nhà nước.

Về vấn đề ngừng cung cấp dịch vụ điện, nước tại địa điểm vi phạm, theo Bộ trưởng Long, đây là vấn đề khó khăn nên Chính phủ trình Quốc hội xem xét, quyết định. Chính phủ thì coi đây là biện pháp cưỡng chế với các lý do:

Thứ nhất, Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện hành chưa có quy định cưỡng chế trong trường hợp đối tượng vi phạm không chấp hành quyết định xử phạt có áp dụng các hình thức như đình chỉ hoạt động, tước giấy phép.

Thứ hai, trong một số trường hợp, đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng, môi trường, có cơ sở sản xuất (thường là doanh nghiệp) đã bị tước giấy phép hoạt động, tức là phải dừng hoạt động lại nhưng vẫn tiếp tục hoạt động để xả thải ra môi trường. Hay một cơ sở khai thác đá gây ô nhiễm bị tước giấy phép, đình chỉ hoạt động nhưng vẫn tiếp tục hoạt động thì thực sự không còn biện pháp nào khác. Thực tế phát sinh như vậy nên Chính phủ đề xuất biện pháp này và Bộ trưởng Long nhấn mạnh, phạm vi áp dụng và đối tượng áp dụng rất hạn chế trong trường hợp không xử lý được vi phạm như nêu trên.

Đối với người chưa thành niên sử dụng trái phép chất ma túy và nghiện ma túy, đây cũng là vấn đề hết sức khó, có phần nhạy cảm và hiện có 2 nhóm ý kiến khác nhau. Các lập luận đưa vào hay không việc áp dụng biện pháp này đã được trình bày tại Tờ trình của Chính phủ, báo cáo bổ sung, báo cáo thẩm tra. Vấn đề này Chính phủ xin lắng nghe và báo cáo Quốc hội quyết định.

Riêng việc có đưa lao động công ích thành một biện pháp chế tài trong dự thảo Luật không thì Bộ trưởng Long cho biết, lần sửa đổi này Chính phủ chưa đưa vào bởi năm 2012, Chính phủ đã trình biện pháp này, có hạn chế trong một số trường hợp khi vi phạm trật tự an toàn giao thông, an ninh trật tự. Nhưng khi ấy, Quốc hội không đồng tình vì đây là biện pháp liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích của người dân, doanh nghiệp; chưa khả thi vì chúng ta chưa sẵn sàng thiết kế hệ thống cơ sở để buộc phải lao động công ích. Ngoài ra, lần sửa đổi này, Chính phủ chỉ đề xuất sửa đổi, bổ sung những vấn đề hết sức cấp thiết và nếu đưa biện pháp buộc lao động công ích thì phải nghiên cứu, đánh giá kỹ lưỡng về tính hợp hiến, hợp pháp, tính đồng bộ với hệ thống pháp luật.

Nguồn: https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/hoat-dong-cua-lanh-dao-bo.aspx?ItemID=4452

FalsePhòng QLXLVPHC&TDTHPL
Xử lý kỷ luật trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chínhThông tinTinXử lý kỷ luật trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/19/2020 11:00 AMNoĐã ban hành

Nghị định kiểm tra, xử lý kỷ luật trong thi hành pháp luật (THPL) về xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC) được Chính phủ ban hành ngày 12/02/2020 (Nghị định số 19/2020/NĐ-CP) và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 31/3/2020. Đối với các quy định về xử lý kỷ luật trong THPL về XLVPHC thì có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2020 . Nghị định số 19/2020/NĐ-CP đã dành một chương (Chương IV) quy định cụ thể về xử lý kỷ luật trong THPL về XLVPHC. Bài viết tập trung phân tích những quy định pháp luật về xử lý kỷ luật trong THPL về XLVPHC trong mối liên hệ với quy định của Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Luật Viên chức năm 2010, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019 , pháp luật về xử lý kỷ luật trong thi hành án hành chính và xử lý kỷ luật về phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng.

1. Các hành vi vi phạm trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính
Theo quy định tại Điều 22 Nghị định số 19/2020/NĐ-CP, các hành vi vi phạm trong THPL về XLVPHC gồm có các hành vi sau đây:

(1) Giữ lại vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để xử lý vi phạm hành chính.

(2) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để sách nhiễu, đòi, nhận tiền, tài sản của người vi phạm; dung túng, bao che, hạn chế quyền của người vi phạm hành chính khi xử lý vi phạm hành chính.

(3) Không xử phạt vi phạm hành chính; không áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả hoặc không áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người vi phạm theo quy định pháp luật.

(4) Xử phạt vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả hoặc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính không kịp thời, không nghiêm minh, không đúng thẩm quyền, thủ tục, đối tượng theo quy định pháp luật.

(5) Áp dụng hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả không đúng, không đầy đủ đối với hành vi vi phạm hành chính.

(6) Can thiệp trái pháp luật vào việc xử lý vi phạm hành chính.

(7) Kéo dài thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

(8) Sử dụng tiền thu được từ tiền nộp phạt vi phạm hành chính, tiền nộp do chậm thi hành quyết định xử phạt tiền, tiền bán, thanh lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu và các khoản tiền khác thu được từ xử phạt vi phạm hành chính trái quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

(9) Giả mạo, làm sai lệch hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính, hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

(10) Cung cấp thông tin, tài liệu không chính xác, thiếu trung thực liên quan đến nội dung kiểm tra.

(11) Can thiệp trái pháp luật vào hoạt động kiểm tra, lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến người làm nhiệm vụ kiểm tra.

(12) Chống đối, cản trở người làm nhiệm vụ kiểm tra, đe dọa, trù dập người cung cấp thông tin, tài liệu cho cơ quan kiểm tra, đoàn kiểm tra, gây khó khăn cho hoạt động kiểm tra.

(13) Tiết lộ thông tin, tài liệu về kết luận kiểm tra khi chưa có kết luận chính thức.

(14) Không thực hiện kết luận kiểm tra.

(15) Thực hiện không đầy đủ, chính xác kết luận kiểm tra.

(16) Không theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc chấp hành quyết định xử phạt của cá nhân, tổ chức bị xử phạt; việc thi hành biện pháp khắc phục hậu quả do cá nhân, tổ chức thực hiện.
(17) Ban hành trái thẩm quyền văn bản quy định về hành vi vi phạm hành chính; về thẩm quyền, thủ tục, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước và biện pháp xử lý hành chính.
(18) Thiếu trách nhiệm trong việc chỉ đạo thực hiện kết luận kiểm tra.

(19) Không giải quyết hoặc giải quyết không kịp thời khiếu nại, tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính.

Trong số các hành vi vi phạm trong THPL về XLVPHC nêu trên, tác giả thấy rằng có một số hành vi vi phạm có sự tương đồng với các hành vi tham nhũng[1] được quy định tại Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018[2] (trong đó, các hành vi tham nhũng nhấn mạnh đến yếu tố "vì vụ lợi"), cụ thể:

- Hành vi "Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để sách nhiễu, đòi, nhận tiền, tài sản của người vi phạm; dung túng, bao che, hạn chế quyền của người vi phạm hành chính khi xử lý vi phạm hành chính"[3] có sự tương đồng với các hành vi "Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi"[4], hành vi "Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi"[5]hành vi "Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi…"[6]

Hành vi "Giả mạo, làm sai lệch hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính, hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính"[7] có sự tương đồng với hành vi "Giả mạo trong công tác vì vụ lợi"[8]

- Hành vi "Can thiệp trái pháp luật vào hoạt động kiểm tra, lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến người làm nhiệm vụ kiểm tra"[9], hành vi "Chống đối, cản trở người làm nhiệm vụ kiểm tra…"[10] có sự tương đồng với hành vi "… cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi"[11]

 Các hành vi "Không xử phạt vi phạm hành chính; không áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả hoặc không áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người vi phạm theo quy định pháp luật"[12]; Hành vi "Xử phạt vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả hoặc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính không kịp thời, không nghiêm minh, không đúng thẩm quyền, thủ tục, đối tượng theo quy định pháp luật"[13]; Hành vi "Áp dụng hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả không đúng, không đầy đủ đối với hành vi vi phạm hành chính"[14]Hành vi "Không thực hiện kết luận kiểm tra"[15]; Hành vi "Thực hiện không đầy đủ, chính xác kết luận kiểm tra"[16]; Hành vi "Không theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc chấp hành quyết định xử phạt của cá nhân, tổ chức bị xử phạt; việc thi hành biện pháp khắc phục hậu quả do cá nhân, tổ chức thực hiện"[17]; Hành vi "Không giải quyết hoặc giải quyết không kịp thời khiếu nại, tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính"[18] có sự tương đồng với hành vi "Không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi"[19].

2. Các hình thức xử lý kỷ luật trong THPL về XLVPHC

 Theo quy định của pháp luật về xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức trong THPL về XLVPHC thì có 06 hình thức xử lý kỷ luật, bao gồm: (1) Khiển trách; (2) Cảnh cáo; (3) Hạ bậc lương; (4) Giáng chức; (5) Cách chức; (6) Buộc thôi việc, cụ thể:
 2.1. Khiển trách

 Trong THPL về XLVPHC, hình thức kỷ luật khiển trách áp dụng đối với cán bộ, công chức hoặc đối với cán bộ, công chức, viên chức có một trong các hành vi vi phạm sau đây[20]:
(i) Xử phạt vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả hoặc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính không kịp thời, không nghiêm minh, không đúng thẩm quyền, thủ tục, đối tượng theo quy định pháp luật[21];

(ii) Không theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc chấp hành quyết định xử phạt của cá nhân, tổ chức bị xử phạt; việc thi hành biện pháp khắc phục hậu quả do cá nhân, tổ chức thực hiện[22];
(iii) Tiết lộ thông tin, tài liệu về kết luận kiểm tra khi chưa có kết luận chính thức[23];
(iv) Thực hiện không đầy đủ, chính xác kết luận kiểm tra[24];

(v) Không giải quyết hoặc giải quyết không kịp thời khiếu nại, tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính[25].

Hình thức kỷ luật khiển trách không chỉ được quy định áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức trong THPL về XLVPHC mà còn được quy định áp dụng đối với công chức, viên chức trong các lĩnh vực khác như trong lĩnh vực thi hành án hành chính, pháp luật quy định[26], hình thức kỷ luật khiển trách áp dụng đối với công chức, viên chức có một trong các hành vi vi phạm pháp luật về thi hành án hành chính, bao gồm:

(i) Chậm thi hành án.

(ii) Chấp hành nhưng không đúng nội dung bản án, quyết định của Tòa án trong thời hạn tự nguyện quy định tại khoản 2 Điều 311 Luật tố tụng hành chính[27].

(iii) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc thi hành án.

(iv) Từ chối làm việc hoặc không cung cấp, cung cấp nhưng không đầy đủ thông tin, tài liệu có liên quan về quá trình, kết quả thi hành án cho các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của Luật tố tụng hành chính và Nghị định số 71/2016/NĐ-CP.

(v) Có thái độ hách dịch, cửa quyền hoặc gây khó khăn, phiền hà đối với người được thi hành án trong quá trình tổ chức thi hành án.

(vi) Người đứng đầu cơ quan, tổ chức thiếu trách nhiệm trong việc chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc thi hành án hành chính để xảy ra hậu quả nghiêm trọng.

Trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng, hình thức kỷ luật khiển trách được quy định và áp dụng trong trường hợp người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị là cán bộ, công chức, viên chức và người quản lý doanh nghiệp nhà nước[28] để xảy ra vụ việc tham nhũng ít nghiêm trọng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách[29] (Vụ việc tham nhũng ít nghiêm trọng là vụ việc mà người có hành vi tham nhũng chưa đến mức bị xử lý hình sự hoặc bị xử lý hình sự bằng hình thức phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm)[30].
Đối với hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng[31]:
- Xử lý vi phạm trong việc thực hiện công khai, minh bạch: Người thực hiện công vụ, nhiệm vụ vi phạm quy định về công khai, minh bạch, bị xử lý kỷ luật bằng hình thức khiển trách đối với hành vi vi phạm quy định về nội dung, hình thức, thời hạn thực hiện việc công khai, cung cấp thông tin, thực hiện trách nhiệm giải trình và vi phạm chế độ báo cáo về công tác phòng, chống tham nhũng[32].

Xử lý vi phạm quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn: Người sử dụng trái quy định về định mức, tiêu chuẩn, chế độ mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì phải liên đới bồi thường phần giá trị đã sử dụng vượt quá quy định và bị xử lý kỷ luật bằng hình thức khiển trách trong trường hợp không biết việc sử dụng đó là trái quy định[33].

- Xử lý vi phạm quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị: Người có chức vụ, quyền hạn có hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 20[34] của Luật Phòng, chống tham nhũng mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì bị xử lý kỷ luật bằng hình thức khiển trách đối với người lần đầu có hành vi nhũng nhiễu trong giải quyết công việc; sử dụng trái phép thông tin của cơ quan, tổ chức, đơn vị[35]. Thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Giám đốc, Phó Giám đốc, Kế toán trưởng và người giữ chức danh, chức vụ quản lý khác trong doanh nghiệp nhà nước có hành vi ký kết hợp đồng với doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột; cho phép doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột tham dự các gói thầu của doanh nghiệp mình; bố trí vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột giữ chức vụ quản lý về tổ chức nhân sự, kế toán, làm thủ quỹ, thủ kho trong doanh nghiệp hoặc giao dịch, mua bán hàng hóa, dịch vụ, ký kết hợp đồng cho doanh nghiệp mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì bị xử lý kỷ luật bằng hình thức khiển trách đối với người có hành vi vi phạm lần đầu[36]. Ngoài việc xử lý kỷ luật khiển trách, cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan còn phải áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả, bồi thường khi gây ra thiệt hại theo quy định của pháp luật[37].

- Xử lý vi phạm quy định về xung đột lợi ích: Người thực hiện công vụ, nhiệm vụ nếu biết hoặc buộc phải biết về tình huống xung đột lợi ích của mình mà không báo cáo thì bị xử lý kỷ luật bằng hình thức khiển trách đối với người có hành vi vi phạm lần đầu[38]. Người có thẩm quyền nếu biết hoặc buộc phải biết có xung đột lợi ích mà không áp dụng các biện pháp kiểm soát xung đột lợi ích theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng thì bị xử lý kỷ luật khiển trách đối với người có hành vi vi phạm lần đầu[39].

- Xử lý vi phạm quy định về báo cáo, xử lý báo cáo về hành vi tham nhũng: Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động khi phát hiện hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi mình công tác mà không báo cáo với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị đó thì bị xử lý kỷ luật bằng hình thức khiển trách đối với người có hành vi vi phạm lần đầu[40]. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi nhận được báo cáo về hành vi tham nhũng nhưng không xử lý thì bị xử lý kỷ luật bằng hình thức khiển trách đối với người có hành vi vi phạm lần đầu[41].

2.2. Cảnh cáo

Trong THPL về XLVPHC, hình thức kỷ luật cảnh cáo áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức có một trong các hành vi vi phạm sau đây[42] :

(i) Không xử phạt vi phạm hành chính, không áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả hoặc không áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người vi phạm theo quy định pháp luật[43];

(ii) Áp dụng hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả không đúng, không đầy đủ đối với hành vi vi phạm hành chính[44];

(iii) Kéo dài thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính[45];

(iv) Can thiệp trái pháp luật vào việc xử lý vi phạm hành chính[46];

(v) Can thiệp trái pháp luật vào hoạt động kiểm tra, lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến người làm nhiệm vụ kiểm tra[47];

(vi) Cung cấp thông tin, tài liệu không chính xác, thiếu trung thực liên quan đến nội dung kiểm tra[48];

(vii) Thiếu trách nhiệm trong việc chỉ đạo thực hiện kết luận kiểm tra[49].

(viii) Không thực hiện kết luận kiểm tra[50].

(ix) Sử dụng tiền thu được từ tiền nộp phạt vi phạm hành chính, tiền nộp do chậm thi hành quyết định xử phạt tiền, tiền bán, thanh lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu và các khoản tiền khác thu được từ xử phạt vi phạm hành chính trái quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước[51].

Hình thức kỷ luật cảnh cáo áp dụng đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, viên chức quản lý có hành vi thiếu trách nhiệm trong việc chỉ đạo thực hiện kết luận kiểm tra.

Hình thức kỷ luật cảnh cáo đối với công chức, viên chức trong thi hành án hành chính cũng được quy định. Theo đó, hình thức kỷ luật cảnh cáo áp dụng đối với công chức, viên chức có một trong các hành vi vi phạm pháp luật về thi hành án hành chính sau đây[52]:

(i) Có hành vi quy định tại khoản 1, 2 hoặc 3 Điều 21 Nghị định này[53] và gây hậu quả nghiêm trọng nhưng đã thành khẩn kiểm điểm trong quá trình xem xét xử lý kỷ luật.

(ii) Sau khi có quyết định buộc thi hành án hành chính mà vẫn không chấp hành, chấp hành không đúng hoặc không đầy đủ nội dung bản án, quyết định của Tòa án.

(iii)  Bị phạt tù cho hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ về tội không chấp hành án hoặc tội cản trở việc thi hành án đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.

(iv) Viên chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý có một trong các hành vi quy định tại Điều 23 Nghị định này[54].

(v) Người đứng đầu cơ quan, tổ chức thiếu trách nhiệm trong việc chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc thi hành án hành chính để xảy ra hậu quả rất nghiêm trọng.

Trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng, hình thức xử lý kỷ luật cảnh cáo được áp dụng đối với người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị là cán bộ, công chức, viên chức và người quản lý doanh nghiệp nhà nước[55] để xảy ra vụ, việc tham nhũng nghiêm trọng (Vụ việc tham nhũng nghiêm trọng là vụ việc mà người có hành vi tham nhũng bị xử lý bằng hình thức phạt tù từ trên 03 năm đến 07 năm)[56] hoặc nhiều vụ việc tham nhũng ít nghiêm trọng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách[57].

 Bên cạnh đó, hình thức kỷ luật cảnh cáo cũng được quy định và áp dụng đối với các hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng:

- Xử lý vi phạm trong việc thực hiện công khai, minh bạch: Người thực hiện công vụ, nhiệm vụ vi phạm quy định về công khai, minh bạch thì bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo khi không thực hiện công khai, không tổ chức họp báo, không cung cấp thông tin, không thực hiện việc giải trình, không xây dựng, không công khai báo cáo về công tác phòng, chống tham nhũng[58]. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có vi phạm trong việc tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc thực hiện công khai, minh bạch thì sẽ bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo[59].

- Xử lý vi phạm quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn: Người cho phép sử dụng trái quy định về định mức, tiêu chuẩn, chế độ mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo; phải hoàn trả phần giá trị đã cho phép sử dụng trái quy định và bồi thường khi có thiệt hại xảy ra[60]. Người sử dụng trái quy định về định mức, tiêu chuẩn, chế độ mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì phải liên đới bồi thường phần giá trị đã sử dụng vượt quá quy định và bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo trong trường hợp biết hoặc buộc phải biết việc sử dụng đó là trái quy định[61]. Người tự ý sử dụng trái quy định về định mức, tiêu chuẩn, chế độ mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo; phải hoàn trả phần giá trị đã sử dụng trái quy định và bồi thường nếu gây thiệt hại[62].

 - Xử lý vi phạm quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị: Người có chức vụ, quyền hạn có hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 20[63] của Luật Phòng, chống tham nhũng mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với người có hành vi nhũng nhiễu, người sử dụng trái phép thông tin của cơ quan, tổ chức, đơn vị mà đã bị xử lý bằng hình thức khiển trách; người tư vấn cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khác trong nước và nước ngoài về công việc thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc tham gia giải quyết[64]. Hình thức kỷ luật cảnh cáo được áp dụng đối với người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị lần đầu có hành vi bố trí vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột của mình giữ chức vụ quản lý về tổ chức nhân sự, kế toán, làm thủ quỹ, thủ kho trong cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc giao dịch, mua bán hàng hóa, dịch vụ, ký kết hợp đồng cho cơ quan, tổ chức, đơn vị đó[65]. Thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Giám đốc, Phó Giám đốc, Kế toán trưởng và người giữ chức danh, chức vụ quản lý khác trong doanh nghiệp nhà nước có hành vi ký kết hợp đồng với doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột; cho phép doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột tham dự các gói thầu của doanh nghiệp mình; bố trí vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột giữ chức vụ quản lý về tổ chức nhân sự, kế toán, làm thủ quỹ, thủ kho trong doanh nghiệp hoặc giao dịch, mua bán hàng hóa, dịch vụ, ký kết hợp đồng cho doanh nghiệp mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với người đã bị xử lý kỷ luật bằng hình thức khiển trách về hành vi đó mà tiếp tục tái phạm[66]. Ngoài việc bị xử lý kỷ luật cảnh cáo, cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan còn phải áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả, bồi thường khi gây ra thiệt hại theo quy định của pháp luật[67].

 - Xử lý vi phạm quy định về xung đột lợi ích: Người thực hiện công vụ, nhiệm vụ nếu biết hoặc buộc phải biết về tình huống xung đột lợi ích của mình mà không báo cáo thì bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với người đã bị xử lý kỷ luật bằng hình thức khiển trách về hành vi đó mà tiếp tục tái phạm; người có hành vi vi phạm lần đầu nhưng gây hậu quả nghiêm trọng[68]. Người có thẩm quyền nếu biết hoặc buộc phải biết có xung đột lợi ích mà không áp dụng các biện pháp kiểm soát xung đột lợi ích theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng thì bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với người đã bị xử lý kỷ luật bằng hình thức khiển trách về hành vi đó mà tiếp tục tái phạm; người có hành vi vi phạm lần đầu nhưng gây hậu quả nghiêm trọng[69].

 - Xử lý vi phạm quy định về báo cáo, xử lý báo cáo về hành vi tham nhũng: Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động khi phát hiện hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi mình công tác mà không báo cáo với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị đó thì bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với người đã bị xử lý kỷ luật bằng hình thức khiển trách về hành vi đó mà tiếp tục tái phạm; người có hành vi vi phạm lần đầu nhưng để xảy ra vụ việc tham nhũng nghiêm trọng[70].  Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi nhận được báo cáo về hành vi tham nhũng nhưng không xử lý thì bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với người đã bị xử lý kỷ luật bằng hình thức khiển trách về hành vi đó mà tiếp tục tái phạm; người có hành vi vi phạm lần đầu nhưng để xảy ra vụ việc tham nhũng nghiêm trọng[71].
 2.3. Hạ bậc lương

Trong THPL về XLVPHC, hình thức xử lý kỷ luật hạ bậc lương áp dụng đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý có hành vi sử dụng tiền thu được từ tiền nộp phạt vi phạm hành chính, tiền nộp do chậm thi hành quyết định xử phạt tiền, tiền bán, thanh lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu và các khoản tiền khác thu được từ xử phạt vi phạm hành chính trái quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước[72]

Trong thi hành án hành chính, hình thức kỷ luật hạ bậc lương được áp dụng đối với công chức có một trong các hành vi vi phạm pháp luật sau đây

 (i) Có hành vi quy định tại khoản 1, 2 hoặc 3 Điều 21 Nghị định này[74] và gây hậu quả nghiêm trọng.

 (ii) Sau khi có quyết định buộc thi hành án hành chính mà vẫn không chấp hành, chấp hành không đúng hoặc không đầy đủ nội dung bản án, quyết định của Tòa án và gây hậu quả nghiêm trọng.

2.4. Giáng chức

Trong THPL về XLVPHC, hình thức kỷ luật giáng chức áp dụng đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý có hành vi không thực hiện kết luận kiểm tra[75].
Trong thi hành án hành chính, hình thức kỷ luật giáng chức áp dụng đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý có một trong các hành vi vi phạm pháp luật[76] sau đây:
(i) Sau khi có quyết định buộc thi hành án hành chính mà vẫn không chấp hành, chấp hành không đúng hoặc không đầy đủ nội dung bản án, quyết định của Tòa án và gây hậu quả rất nghiêm trọng nhưng đã thành khẩn kiểm điểm trong quá trình xem xét xử lý kỷ luật.

(ii) Người đứng đầu cơ quan, tổ chức thiếu trách nhiệm trong việc chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc thi hành án hành chính, để xảy ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

2.5. Cách chức

- Trong THPL về XLVPHC, hình thức kỷ luật cách chức áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức có một trong các hành vi vi phạm sau đây[77]:

(i) Giữ lại vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để xử lý vi phạm hành chính[78];

(ii) Sử dụng tiền thu được từ tiền nộp phạt vi phạm hành chính, tiền nộp do chậm thi hành quyết định xử phạt tiền, tiền bán, thanh lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu và các khoản tiền khác thu được từ xử phạt vi phạm hành chính trái quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước[79];

(iii) Giả mạo, làm sai lệch hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính, hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính[80];

(iv) Chống đối, cản trở người làm nhiệm vụ kiểm tra, đe dọa, trù dập người cung cấp thông tin, tài liệu cho cơ quan kiểm tra, đoàn kiểm tra, gây khó khăn cho hoạt động kiểm tra[81];

(v) Ban hành trái thẩm quyền văn bản quy định về hành vi vi phạm hành chính; về thẩm quyền, thủ tục, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước và biện pháp xử lý hành chính[82];
(vi) Không thực hiện kết luận kiểm tra[83];

(vii) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để sách nhiễu, đòi, nhận tiền, tài sản của người vi phạm; dung túng, bao che, hạn chế quyền của người vi phạm hành chính khi xử lý vi phạm hành chính[84].

- Trong thi hành án hành chính, hình thức kỷ luật cách chức áp dụng đối với công chức, viên chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý có một trong các hành vi vi phạm pháp luật sau đây[85]:

(i) Sau khi có quyết định buộc thi hành án hành chính mà vẫn không chấp hành, chấp hành không đúng hoặc không đầy đủ nội dung bản án, quyết định của Tòa án và gây hậu quả rất nghiêm trọng.

(ii) Bị phạt tù cho hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ về tội không chấp hành án hoặc tội cản trở việc thi hành án.

(iii) Viên chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý có một trong các hành vi quy định tại Điều 24 Nghị định này[86].

- Trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng, hình thức kỷ luật cách chức được áp dụng trong trường hợp người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị là cán bộ, công chức, viên chức và người quản lý doanh nghiệp nhà nước[87] để xảy ra vụ việc tham nhũng rất nghiêm trọng (Vụ việc tham nhũng rất nghiêm trọng là vụ việc mà người có hành vi tham nhũng bị xử lý bằng hình thức phạt tù từ trên 07 năm đến 15 năm)[88], đặc biệt nghiêm trọng (Vụ việc tham nhũng đặc biệt nghiêm trọng là vụ việc mà người có hành vi tham nhũng bị xử lý bằng hình thức phạt tù từ trên 05 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình)[89] hoặc nhiều vụ việc tham nhũng nghiêm trọng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách[90].
Bên cạnh đó, trong xử lý vi phạm quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị: Người có chức vụ, quyền hạn có hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 20[91] của Luật Phòng, chống tham nhũng mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì bị xử lý kỷ luật bằng hình thức (i) cách chức hoặc buộc thôi việc đối với người tư vấn cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khác trong nước và nước ngoài về công việc có liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật công tác"[92] . (ii) Cách chức hoặc buộc thôi việc đối với người thành lập, tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, trừ trường hợp luật có quy định khác[93]. Hình thức kỷ luật cách chức được áp dụng đối với người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có hành vi bố trí vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột của mình giữ chức vụ quản lý về tổ chức nhân sự, kế toán, làm thủ quỹ, thủ kho trong Cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc giao dịch, mua bán hàng hóa, dịch vụ, ký kết hợp đồng cho cơ quan, tổ chức, đơn vị đó mà đã bị xử lý bằng hình thức cảnh cáo; người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành, nghề mà người đó trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước hoặc để vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con kinh doanh trong phạm vi ngành, nghề do người đó trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước[94]. Ngoài việc xử lý kỷ luật cách chức, cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan còn phải áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả, bồi thường khi gây ra thiệt hại theo quy định của pháp luật[95].
Trong xử lý vi phạm quy định về báo cáo, xử lý báo cáo về hành vi tham nhũng: Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi nhận được báo cáo về hành vi tham nhũng nhưng không xử lý thì bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cách chức đối với người đã bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo về hành vi đó mà tiếp tục tái phạm; người có hành vi vi phạm lần đầu nhưng để xảy ra vụ việc tham nhũng rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng[96].

2.6. Buộc thôi việc

 - Trong THPL về XLVPHC, hình thức kỷ luật buộc thôi việc áp dụng đối với công chức, viên chức có một trong các hành vi vi phạm sau đây[97]:

 (i) Giữ lại vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để xử lý vi phạm hành chính;

 (ii) Giả mạo, làm sai lệch hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính, hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính;

 (iii) Chống đối, cản trở người làm nhiệm vụ kiểm tra, đe dọa, trù dập người cung cấp thông tin, tài liệu cho cơ quan kiểm tra, đoàn kiểm tra, gây khó khăn cho hoạt động kiểm tra;

 (iv) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để sách nhiễu, đòi, nhận tiền, tài sản của người vi phạm; dung túng, bao che, hạn chế quyền của người vi phạm hành chính khi xử lý vi phạm hành chính.

 - Trong thi hành án hành chính, hình thức kỷ luật buộc thôi việc áp dụng đối với công chức, viên chức có một trong các hành vi vi phạm pháp luật sau đây[98]:
(i) Sau khi có quyết định buộc thi hành án hành chính mà vẫn không chấp hành, chấp hành không đúng hoặc không đầy đủ nội dung bản án, quyết định của Tòa án và gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

(ii)  Bị phạt tù mà không được hưởng án treo về tội không chấp hành án hoặc tội cản trở việc thi hành án.

- Trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng, một số hành vi vi phạm, pháp luật quy định bị áp dụng chế tài xử lý kỷ luật cách chức hoặc buộc thôi việc như đã nêu trên trong quy định xử lý vi phạm quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị: Cách chức hoặc buộc thôi việc đối với người tư vấn cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khác trong nước và nước ngoài về công việc có liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật công tác[99]Cách chức hoặc buộc thôi việc đối với người thành lập, tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, trừ trường hợp luật có quy định khác[100].

Ngoài việc quy định các hành vi và chế tài xử lý kỷ luật cụ thể đối với từng hành vi vi phạm nêu trên, trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng, đối với hành vi vi phạm quy định về nghĩa vụ trung thực trong kê khai tài sản, thu nhập, giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm[101] pháp luật quy định hành vi kê khai tài sản, thu nhập không trung thực, giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm không trung thực sẽ bị xử lý như sau:[102]

"1. Người ứng cử đại biểu Quốc hội, người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân mà kê khai tài sản, thu nhập không trung thực, giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm không trung thực thì bị xóa tên khỏi danh sách những người ứng cử.
2. Người được dự kiến bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, phê chuẩn, cử giữ chức vụ mà kê khai tài sản, thu nhập không trung thực, giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm không trung thực thì không được bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, phê chuẩn, cử vào chức vụ đã dự kiến.

3. Người có nghĩa vụ kê khai không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà kê khai tài sản, thu nhập không trung thực, giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm không trung thực thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, bị xử lý kỷ luật bằng một trong các hình thức cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc hoặc bãi nhiệm; nếu được quy hoạch vào các chức danh lãnh đạo, quản lý thì còn bị đưa ra khỏi danh sách quy hoạch; trường hợp xin thôi làm nhiệm vụ, từ chức, miễn nhiệm thì có thể xem xét không kỷ luật.

4. Quyết định kỷ luật được công khai tại cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người bị xử lý kỷ luật làm việc".

Có thể thấy, qua tìm hiểu, nghiên cứu về các hình thức xử lý kỷ luật trong THPL về XLVPHC trong mối liên hệ với Luật cán bộ, công chức năm 2008, Luật Viên chức năm 2010, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019 và các lĩnh vực khác như thi hành án hành chính; phòng, chống tham nhũng, tác giả thấy rằng:

 Thứ nhất, các hình thức xử lý kỷ luật trong THPL về XLVPHC được quy định áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức phù hợp với các hình thức xử lý kỷ luật được quy định tại Luật cán bộ, công chức năm 2008, Luật Viên chức năm 2010, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019 về các hình thức xử lý kỷ luật đối với cán bộ[103], đối với công chức[104] và đối với viên chức[105].

  Thứ hai, các hình thức xử lý kỷ luật trong THPL về XLVPHC được quy định gắn với từng hành vi vi phạm cụ thể của cán bộ, công chức, viên chức, tạo thuận lợi cho cơ quan, người có thẩm quyền trong việc xem xét, áp dụng chế tài xử lý kỷ luật, tránh sự tùy tiện trong áp dụng pháp luật, đồng thời tạo nên sự thống nhất, minh bạch trong áp dụng pháp luật.

3. Nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức trong THPL về XLVPHC

Trong THPL về XLVPHC, pháp luật quy định:

- Nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục và các nội dung khác có liên quan đến việc xử lý kỷ luật công chức, viên chức có hành vi vi phạm trong THPL về XLVPHC được thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý kỷ luật đối với công chức, viên chức.
- Thái độ tiếp thu, sửa chữa và chủ động khắc phục hậu quả của cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm là yếu tố xem xét tăng nặng hoặc giảm nhẹ khi áp dụng hình thức kỷ luật. Việc xem xét tăng nặng hoặc giảm nhẹ khi áp dụng hình thức kỷ luật cũng được áp dụng trong trường hợp thực hiện hành vi vi phạm do hoàn cảnh khách quan hoặc do lỗi của đối tượng vi phạm hành chính.

- Việc xác định thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật cán bộ có hành vi vi phạm trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Cũng theo quy định của pháp luật XLVPHC[106], việc xử lý kỷ luật đối với người có thẩm quyền xử phạt và lập biên bản vi phạm hành chính thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu trên cơ sở yêu cầu, kiến nghị tại kết luận kiểm tra được thực hiện theo quy định pháp luật có liên quan, trừ những người trong cơ quan, đơn vị Quân đội nhưng không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ, công nhân quốc phòng, viên chức quốc phòng; những người trong cơ quan, đơn vị Công an nhưng  không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ nghĩa vụ, công nhân công an; những người trong tổ chức cơ yếu nhưng không làm công tác cơ yếu thì được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 19/2020/NĐ-CP.
          Nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức trong THPL về XLVPHC trong pháp luật XLVPHC cũng có sự thống nhất, đồng bộ với các quy định của pháp luật về xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức viên chức của các lĩnh vực khác như thi hành án hành chính, phòng, chống tham nhũng.
          Trong thi hành án hành chính, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, cá nhân là người phải thi hành án có trách nhiệm "Xử lý kỷ luật đối với cá nhân thuộc phạm vi quản lý có hành vi chậm thi hành án, không chấp hành, chấp hành không đúng hoặc không đầy đủ nội dung bản án, quyết định của Tòa án"[107]. Đối với người đứng đầu cơ quan cấp trên trực tiếp của người phải thi hành án thì có trách nhiệm "Xem xét xử lý kỷ luật hoặc đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền xử lý kỷ luật đối với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi chậm thi hành án, không chấp hành, chấp hành không đúng hoặc không đầy đủ nội dung bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của pháp luật"[108]. Bên cạnh đó, trong xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức trong thi hành án hành chính, pháp luật cũng quy định[109]:

 - Nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục và các nội dung khác có liên quan

đến việc xử lý kỷ luật công chức, viên chức vi phạm trong thi hành án hành chính chưa được quy định tại Nghị định số 71/2016/NĐ-CP được thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý kỷ luật đối với công chức, viên chức.

- Việc áp dụng các hình thức kỷ luật, thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật cán bộ vi phạm trong thi hành án hành chính được thực hiện theo quy định của pháp luật, điều lệ của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội và văn bản của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

- Kết quả xử lý kỷ luật được gửi cho Tòa án đã xét xử sơ thẩm, Viện kiểm sát và cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp với Tòa án đã xét xử sơ thẩm.

 Trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng, pháp luật quy định cụ thể về việc xử lý người có hành vi tham nhũng[110]:

- Người có hành vi tham nhũng giữ bất kì chức vụ, vị trí công tác nào đều phải bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật, kể cả người đã nghỉ hưu, thôi việc, chuyển công tác.

Liên quan đến vấn đề này, hiện nay Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019 cũng quy định việc xử lý đối với hành vi vi phạm trong thời gian công tác của cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu. Theo đó đối với hành vi vi phạm trong thời gian công tác của cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu, pháp luật quy định[111]:

"5. Việc xử lý đối với hành vi vi phạm trong thời gian công tác của cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu được quy định như sau:

a) Mọi hành vi vi phạm trong thời gian công tác của cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu đều bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào tính chất, mức độ nghiêm trọng, người có hành vi vi phạm có thể bị xử lý hình sự, hành chính hoặc xử lý kỷ luật;

b) Cán bộ, công chức sau khi nghỉ việc hoặc nghỉ hưu mới phát hiện có hành vi vi phạm trong thời gian công tác thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm phải chịu một trong những hình thức kỷ luật khiển trách, cảnh cáo, xóa tư cách chức vụ đã đảm nhiệm gắn với hệ quả pháp lý tương ứng với hình thức xử lý kỷ luật.
Việc xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu có hành vi vi phạm trong thời gian công tác trước ngày 01 tháng 7 năm 2020 được thực hiện theo quy định của Luật này.

Chính phủ quy định chi tiết khoản này.".

Đối với viên chức sau khi nghỉ việc, nghỉ hưu mới phát hiện có hành vi vi phạm trong thời gian công tác, Quốc hội cũng giao "Chính phủ quy định việc xử lý kỷ luật đối với viên chức sau khi nghỉ việc, nghỉ hưu mới phát hiện có hành vi vi phạm trong thời gian công tác. Việc xử lý kỷ luật đối với viên chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu có hành vi vi phạm trong thời gian công tác trước ngày 01 tháng 7 năm 2020 được thực hiện theo quy định của Luật này"[112]

- Trường hợp người có hành vi tham nhũng bị xử lý kỷ luật là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị thì bị xem xét tăng hình thức kỷ luật.
- Người có hành vi tham nhũng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, tích cực hợp tác với cơ quan có thẩm quyền, góp phần hạn chế thiệt hại, tự giác nộp lại tài sản tham nhũng, khắc phục hậu quả của hành vi tham nhũng thì được xem xét giảm hình thức kỷ luật, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt hoặc miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

- Người bị kết án về tội phạm tham nhũng là cán bộ, công chức, viên chức mà bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì đương nhiên bị buộc thôi việc; đối với đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân thì đương nhiên mất quyền đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.

Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định cụ thể về thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử lý trách nhiệm người đứng đầu và thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật đối với hành vi khác vi phạm quy định về phòng, chống tham nhũng. Theo đó, thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử lý trách nhiệm người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị được thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức[113]. Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật đối với hành vi khác vi phạm quy định về phòng, chống tham nhũng, pháp luật quy định[114]:
- Đối với cán bộ, công chức, viên chức thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức.

- Đối với người làm việc trong cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, Công an nhân dân thực hiện theo quy định về xử lý kỷ luật trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân.

- Đối với người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước được thực hiện theo quy định về xử lý kỷ luật trong doanh nghiệp nhà nước.

- Đối với cán bộ, công chức, viên chức là đảng viên vi phạm thì ngoài việc bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật còn phải bị xem xét, xử lý kỷ luật theo Điều lệ Đảng.
- Đối với người làm việc trong tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức, doanh nghiệp ngoài nhà nước khác thì thực hiện theo điều lệ, quy định của tổ chức đó.

 4. Kết luận chung

Có thể nói, việc Chính phủ ban hành Nghị định kiểm tra, xử lý kỷ luật trong THPL về XLVPHC đã tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, cụ thể, công khai, minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi trong việc xác định các hành vi vi phạm trong THPL về XLVPHC, áp dụng các hình thức xử lý kỷ luật đối với từng hành vi vi phạm trong THPL về XLVPHC cũng như nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức trong THPL về XLVPHC. Tác giả hy vọng và tin tưởng rằng, các quy định này sẽ góp phần quan trọng trong việc phòng, chống, ngăn chặn các vi phạm trong THPL về XLVPHC; tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính trong việc tổ chức thực hiện, áp dụng pháp luật nhằm bảo đảm hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật về XLVPHC[115].
          Bên cạnh đó, để đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ, khả thi trong việc thực hiện các quy định pháp luật liên quan đến xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức nói chung và xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức trong THPL về XLVPHC nói riêng, đề nghị Chính phủ sớm ban hành Nghị định quy định chi tiết các điều, khoản được giao trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức năm 2019, trong đó có các quy định liên quan đến xử lý kỷ luật đối với hành vi vi phạm của cán bộ, công chức, viên chức./. 

Nguồn: https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2540

 

FalsePhòng QLXLVPHC&TDTHPL
Công văn số 2619/BXD-HĐXD ngày 02/6/2020 của Bộ Xây dựng hướng dẫn một số vướng mắc về xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựngThông tinTinCông văn số 2619/BXD-HĐXD ngày 02/6/2020 của Bộ Xây dựng hướng dẫn một số vướng mắc về xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/17/2020 11:00 AMNoĐã ban hành

Theo đó, công trình được miễn giấy phép xây dựng theo quy định tại điểm k khoản 2 Điều 89 Luật Xây dựng 2014 là "Công trình xây dựng ở nông thôn thuộc khu vực chưa có quy hoạch phát triển đô thị và quy hoạch chỉ tiết xây dựng được duyệt; nhà ở riêng lẻ ở nông thôn, trừ nhà ở riêng lẻ xây dựng trong khu bảo tồn, khu di tích lịch sử - văn hóa".

Tuy nhiên, chủ đầu tư có quyền nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng nếu có nhu cầu.

Theo điểm b khoản 5 Điều 15 Nghị định 139/2017/NĐ-CP ngày 27/11/2017:

"Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với xây dựng nhà ở riêng lẻ tại đô thị;..."

Không quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi xây dựng nhà ở riêng lẻ không yêu cầu phải có giấy phép xây dựng tại nông thôn (trừ trường hợp nhà ở riêng lẻ xây dựng trong khu bảo tồn, khu di tích lịch sử - văn hóa).

Việc quản lý trật tự xây dựng đối với công trình được miễn giấy phép xây dựng thực hiện theo khoản 2 Điều 2 Thông tư 15/2016/TT-BXD ngày 30/6/2016.

"2. Đối với công trình được miễn giấy phép xây dựng:

a) Việc quản lý trật tự xây dựng căn cứ vào quy hoạch xây dựng được duyệt và các quy định của pháp luật có liên quan. Đối với khu vực chưa có quy hoạch xây dựng được duyệt, Ủy ban nhân dân các cấp theo phân cấp có trách nhiệm ban hành Quy định về quản lý quy hoạch, kiến trúc để làm cơ sở cấp giấy phép xây dựng và quản lý trật tự xây dựng;

b) Nội dung quản lý trật tự xây dựng đối với các công trình được miễn giấy phép xây dựng là kiểm tra sự tuân thủ quy hoạch xây dựng, thiết kế đô thị (nếu có) hoặc Quy định về quản lý quy hoạch, kiến trúc. Đối với trường hợp thiết kế xây dựng đã được cơ quan chuyên môn về xây dựng thẩm định thì nội dung quản lý xây dựng là kiểm tra sự tuân thủ thiết kế đã được thẩm định và các quy định của pháp luật có liên quan."

Trường hợp xây dựng công trình không phù hợp với quy hoạch xây dựng được duyệt thì xử lý theo điểm a khoản 7 và điểm d khoản 11 Điều 15 Nghị định 139/2017/NĐ-CP.

"a) Xây dựng công trình không phù hợp với quy hoạch xây dựng được duyệt"

"d) Buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng vi phạm đối với hành vi quy định tại khoản 2, khoản 4, khoản 5 (mà hành vi vi phạm đã kết thúc), khoản 6 và khoản 7 Điều này."

Linh Nguyễn

Cong-van-2619.pdf

 

FalsePhòng QLXLVPHC&TDTHPL
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của chiến sĩ, trạm trưởng, đội trưởng bộ đội biên phòng đang thi hành công vụThông tinTinThẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của chiến sĩ, trạm trưởng, đội trưởng bộ đội biên phòng đang thi hành công vụ/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/10/2020 5:00 PMNoĐã ban hành

Tóm tắt: Hiện nay, các quy định về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chiến sĩ Bộ đội Biên phòng, Trạm trưởng, Đội trưởng của Chiến sỹ Bộ đội Biên phòng đang thi hành công vụ còn tồn tại một số điểm bất cập, làm ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động xử phạt vi phạm hành chính nói riêng và công tác đấu tranh phòng, chống vi phạm hành chính nói chung. Bài viết phân tích, chỉ rõ những hạn chế đó và đồng thời đề xuất hướng hoàn thiện.

hinh chien si.jpg

​Ảnh minh họa: Nguồn internet

1. Quy định của pháp luật về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của chiến sĩ, Trạm trưởng, Đội trưởng Bộ đội Biên phòng đang thi hành công vụ

- Thẩm quyền theo luật định

Theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (Luật Xử lý VPHC), các chức danh có thẩm quyền xử phạt VPHC trong Bộ đội Biên phòng (BĐBP) bao gồm 04 nhóm với 09 chức danh cụ thể: Chiến sĩ BĐBP đang thi hành công vụ; Trạm trưởng, Đội trưởng của Chiến sĩ BĐBP đang thi hành công vụ; Đồn trưởng Đồn biên phòng, Hải đội trưởng Hải đội biên phòng, Chỉ huy trưởng Tiểu khu biên phòng, Chỉ huy trưởng biên phòng Cửa khẩu cảng; Chỉ huy trưởng BĐBP cấp tỉnh, Chỉ huy trưởng Hải đoàn biên phòng trực thuộc Bộ Tư lệnh BĐBP[1]. Trong đó, Chiến sĩ BĐBP đang thi hành công vụ có thẩm quyền xử phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 1% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 Luật Xử lý VPHC, nhưng không quá 500.000 đồng[2]; Trạm trưởng, Đội trưởng của Chiến sỹ BĐBP đang thi hành công vụ có thẩm quyền xử phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 5% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 Luật Xử lý VPHC nhưng không quá 2.500.000 đồng[3].

-Thẩm quyền được cụ thể hóa, chi tiết hóa trong các Nghị định

Căn cứ Luật Xử lý VPHC, Chính phủ quy định cụ thể, chi tiết về hành vi VPHC, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi VPHC; thẩm quyền xử phạt VPHC, mức tiền phạt cụ thể theo từng chức danh[4]. Trong đó, thẩm quyền xử phạt VPHC của BĐBP nói chung , Chiến sĩ BĐBP đang thi hành công vụ, Trạm trưởng, Đội trưởng của Chiến sĩ BĐBP đang thi hành công vụ được quy định tại 50 nghị định, với 57 lĩnh vực theo các phương thức sau:

Thứ nhấtxác định cụ thể thẩm quyền xử phạt của Chiến sĩ BĐBP đang thi hành công vụ, Trạm trưởng, Đội trưởng của Chiến sĩ BĐBP đang thi hành công vụtại khoản riêng; đồng thời, có phân định thẩm quyền xử phạt của ba chức danh đối với các hành vi VPHC quy định tại các điểm, khoản, điều luật trong nghị định cụ thể. Phương thức này được thực hiện ở 08 lĩnh vực, quy định tại 03 nghị định, bao gồm: lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử[5]; thủy sản[6]; hóa chất và vật liệu nổ công nghiệp[7].

Thứ hai, xác định cụ thể thẩm quyền xử phạt của Chiến sĩ BĐBP đang thi hành công vụ, Trạm trưởng, Đội trưởng của Chiến sĩ BĐBP đang thi hành công vụtại khoản riêng; nhưng không phân định thẩm quyền xử phạt của ba chức danh đối với các hành vi VPHC quy định tại các điểm, khoản, điều luật trong nghị định cụ thể mà chỉ phân định thẩm quyền của BĐBP nói chung. Phương thức này được thực hiện ở 25 lĩnh vực, quy định tại 23 nghị định, bao gồm: lĩnh vực An toàn thực phẩm[8]; giống cây trồng; bảo vệ và kiểm dịch thực vật[9]; hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng[10]; tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa[11]; du lịch[12]; dầu khí, kinh doanh xăng dầu và khí[13]; phòng, chống thiên tai; khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi; đê điều[14]; giao thông đường thủy nội địa[15]; giống vật nuôi[16]; tài nguyên nước và khoáng sản[17]; lâm nghiệp[18]; phânbón[19]; quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia[20]; quốc phòng[21]; thú y[22]; thể thao[23].

Thứ bakhông xác định cụ thể thẩm quyền xử phạt của Chiến sĩ BĐBP đang thi hành công vụ, Trạm trưởng, Đội trưởng của Chiến sĩ BĐBP đang thi hành công vụtại khoản riêng; nhưng có phân định thẩm quyền xử phạt của ba chức danh đối với các hành vi VPHC quy định tại các điểm, khoản, điều luật trong nghị định cụ thể hoặc tại các điều, chương trong nghị định. Phương thức này được thực hiện ở 01 lĩnh vực, quy định tại 01 nghị định, bao gồm: lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng[24].

Thứ tưkhông xác định cụ thể thẩm quyền xử phạt của Chiến sĩ BĐBP đang thi hành công vụ, Trạm trưởng, Đội trưởng của Chiến sĩ BĐBP đang thi hành công vụtại khoản riêng; đồng thời, không phân định thẩm quyền xử phạt của ba chức danh đối với các hành vi VPHC quy định trong nghị định mà chỉ phân định thẩm quyền của BĐBP nói chung hoặc viện dẫn khái quát là dựa vào quy định của Luật Xử lý VPHC. Phương thức này được thực hiện ở 19 lĩnh vực, quy định tại 21 nghị định, bao gồm: lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội;phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình[25]; bảo vệ môi trường[26]; bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã[27]; báo chí, xuất bản[28]; hàng hải[29]; hải quan[30]; khí tượng, thủy văn[31]; kinh doanh xổ số[32]; kinh doanh trò chơi điện tử có thưởng dành cho người nước ngoài[33]; phí, lệ phí[34]; y tế[35].

Thứ năm, không xác định thẩm quyền xử phạt VPHC cho Chiến sĩ BĐBP đang thi hành công vụ mà chỉ xác định thẩm quyền từ chức danh Trạm trưởng, Đội trưởng của Chiến sỹ BĐBP đang thi hành công vụ trở lên, gồm 01 lĩnh vực: xử phạt VPHC trên các vùng biển, đảo và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam[36].

2. Nhận xét, kiến nghị

2.1. Nhận xét

Quy định hiện hành của pháp luật về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của Chiến sĩ BĐBP đang thi hành công vụ, Trạm trưởng, Đội trưởng của Chiến sĩ BĐBP đang thi hành công vụ bên cạnh những điểm tích cực còn bộc lộ một số bất cập sau:

Thứ nhất, quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính không thống nhất trong phương thức xác định và phân định thẩm quyền xử phạt VPHC của Chiến sĩ BĐBP đang thi hành công vụ, Trạm trưởng, Đội trưởng của Chiến sĩ BĐBP đang thi hành công vụ.

Nội dung quy định thẩm quyền xử phạt của ba chức danh trong các nghị định nêu trên thể hiện trong 05 phương thức cơ bản. Trong đó, chỉ có phương thức thứ nhất là đáp ứng yêu cầu cụ thể hóa, chi tiết hóa mà Điều 4 Luật Xử lý VPHC giao cho Chính phủ quy định, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người có thẩm quyền áp dụng trong xử phạt vi phạt VPHC. Đối với các phương thức khác, các chủ thể có thẩm quyền xử phạt phải tra cứu, phân loại hành vi, xác định tỉ lệ % mức tiền phạt đối với các chức danh cụ thể để vận dụng cho phù hợp, đúng đắn. Điều này không những tạo ra sự phức tạp trong quy định của pháp luật, chưa phản ánh đúng yêu cầu chi tiết hóa, cụ thể hóa của Luật Xử lý VPHC mà còn gây nên sự tốn kém khi thực hiện các hoạt động hướng dẫn, phổ biến, giáo dục pháp luật.

Thứ hai, thuật ngữ pháp lý để chỉ các chức danh này không được sử dụng thống nhất.

Luật Xử lý VPHC ghi nhận chức danh và điều kiện trở thành chủ thể của chức danh này trong xử phạt VPHC: Đối với Chiến sĩ BĐBP phải có điều kiện "đang thi hành công vụ", đối với Trạm trưởng, Đội trưởng phải có điều kiện là "của Chiến sĩ BĐBP đang thi hành công vụ". Tuy nhiên, ở một số nghị định việc sử dụng thuật ngữ chỉ chức danh và điều kiện lại không thống nhất. Cụ thể, tại Điều 54 Nghị định số 42/2019/NĐ-CP ngày 16/5/2019 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực thủy sản chỉ nêu "Chiến sĩ BĐBP" và "Trạm trưởng, Đội trưởng của Chiến sĩ BĐBP" mà không xác định điều kiện "đang thi hành công vụ"; tương tự ở khoản 2 Điều 63 Nghị định số 71/2019/NĐ-CP ngày 30/8/2019 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực hóa chất và vật liệu nổ công nghiệp xác định "Trạm trưởng, Đội trưởng của chiến sĩ BĐBP" mà không nêu điều kiện "Trạm trưởng, Đội trưởng của chiến sĩ BĐBP đang thi hành công vụ". Trong khi đó, ở hầu hết các nghị định còn lại đều nêu rõ cả hai yếu tố này hoặc theo phương thức nêu khái quát nhưng bao hàm đủ nghĩa "Người có thẩm quyền xử phạt của BĐBP"; "BĐBP có thẩm quyền xử phạt". Trong đó, để bảo đảm yếu tố "đang thi hành công vụ" cần phải có kế hoạch thực hiện nhiệm vụ, công vụ có liên quan đến quá trình giải quyết vụ việc VPHC, ghi nhận việc thực hiện công vụ của chiến sĩ BĐBP.

Bên cạnh đó, quy định "Trạm trưởng, Đội trưởng của Chiến sĩ BĐBP" và "Trạm trưởng, Đội trưởng của Chiến sĩ BĐBP đang thi hành công vụ" sẽ dẫn đến hai cách hiểu: Nếu là "Trạm trưởng, Đội trưởng của Chiến sĩ BĐBP" thì theo cơ cấu tổ chức của BĐBP, đó là Đội trưởng các Đội (Vũ trang, Trinh sát, Phòng, chống tội phạm ma túy hoặc Đội phòng, chống tội phạm), Vận động quần chúng, Tổng hợp đảm bảo, Thủ tục (Đồn có cửa khẩu), Trạm trưởng Trạm Kiểm soát biên phòng và chiến sĩ BĐBP (sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp không giữ chức vụ) thuộc các Đội, Trạm trên. Tuy nhiên, nếu là "Trạm trưởng, Đội trưởng của Chiến sĩ BĐBP đang thi hành công vụ" thì chiến sĩ BĐBP đang thi hành công vụ thuộc bất kỳ đội nào nêu trên và Đội trưởng cũng có thể là bất kỳ đội nào; nhưng cần thỏa mãn điều kiện "đang thi hành công vụ" (được hiểu là đang thi hành nhiệm vụ, công vụ theo văn bản quy phạm pháp luật hoặc văn bản hành chính do cơ quan, người có thẩm quyền ban hành).

Thứ ba, chưa có sự giải thích rõ ràng thuật ngữ "chiến sĩ BĐBP" trong văn bản quy phạm pháp luật.

Trong các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan chưa có sự giải thích chính thức, rõ ràng về thuật ngữ này; vì thế, gây khó khăn trong việc xác định nhóm người thuộc chức danh này. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, trên cơ sở đánh giá năng lực, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ trong quá trình xử phạt VPHC, Bộ Tư lệnh BĐBP đã có hướng dẫn giải thích "Chiến sĩ BĐBP đang thi hành công vụ là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp không giữ chức vụ đang thi hành công vụ". Tuy rằng sự giải thích này là cần thiết, nhưng đó vẫn là giải thích mang tính nghiệp vụ, chưa phải là giải thích chính thức trong văn bản quy phạm pháp luật.

Thứ tư, nhiều nghị định xác định và phân định thẩm quyền xử phạt của ba chức danh mang tính hình thức, không khả thi.

Quy định mang tính hình thức, không khả thi về thẩm quyền xử phạt của ba chức danh nêu trên thể hiện ở các khía cạnh sau:

- Có Nghị định xác định và phân định thẩm quyền xử phạt của ba chức danh, nhưng khi đối chiếu với từng hành vi vi phạm cụ thể thì cả ba chức danh đều không có thẩm quyền xử phạt, bao gồm: lĩnh vực an toàn thực phẩm[37]; giống cây trồng[38]; hoạt động thương mại; sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng[39]; giống vật nuôi[40]; hải quan[41]; khí tượng, thủyvăn[42]; kinh doanh trò chơi điện tửcó thưởng dành cho người nước ngoài[43]; tài nguyên nước[44]; phân bón[45]; thú y[46]; thể thao[47].

- Có Nghị định xác định và phân định thẩm quyền xử phạt của ba chức danh nhưng khi đối chiếu hành vi thì chỉ có chức danh Trạm trưởng, Đội trưởng của chiến sĩ BĐBP đang thi hành công vụ là có thẩm quyền, còn chức danh chiến sĩ BĐBP đang thi hành công vụ không có thẩm quyền, bao gồm: lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã[48]; lâm nghiệp[49].

- Có Nghị định xác định thẩm quyền xử phạt của các chức danh gắn liền với lĩnh vực, song thực tế đối chiếu hành vi vi phạm thì một hoặc một số chức danh trong ba chức danh lại không có thẩm quyền xử phạt trên lĩnh vực đó, bao gồm: Nghị định nêu ba chức danh có thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi vi phạm thuộc cả 05 lĩnh vực (viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin, bưu chính, giao dịch điện tử)[50]; nhưng quy định cụ thể thì hành vi thuộc thẩm quyền xử phạt chỉ liên quan đến 01 lĩnh vực là tần số vô tuyến điện[51].

Thứ năm, một số quy định về thẩm quyền của ba chức danh chưa rõ ràng, dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau.

Có Nghị định[52] bao hàm một số điều quy định về xử phạt VPHC đối với người nước ngoài "có thể bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất khỏi nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam"[53], dẫn đến hai cách hiểu: Một là, đối với việc xử phạt người nước ngoài VPHC, nếu áp dụng hình thức xử phạt trục xuất thì BĐBP không có thẩm quyền; nếu không áp dụng hình thức xử phạt trục xuất thì việc xử phạt người nước ngoài vẫn thuộc thẩm quyền của BĐBP. Hai là, chỉ cần trong điều luật quy định "có thể bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất" thì thẩm quyền không thuộc BĐBP, vì chỉ khi BĐBP có quyền xử phạt trục xuất thì mới cân nhắc được việc có áp dụng hay không, trong khi đó, BĐBP không có thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt này. Các cách hiểu khác nhau này bắt nguồn từ cụm từ "có thể" mà không nêu rõ hành vi nào của người nước ngoài bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất. Tương tự như vậy, Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ về xử phạt VPHC trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình quy định việc xử phạt VPHC "khi nạn nhân có yêu cầu"[54], cũng dẫn đến hai cách hiểu sau: một là, nếu nạn nhân có yêu cầu thì ba chức danh trên không có thẩm quyền xử phạt, nếu họ không có yêu cầu thì các chức danh này vẫn có quyền xử phạt (vì cả ba chức danh không có thẩm quyền áp dụng bất kỳ biện pháp khắc phục hậu quả nào); hai là, trong điều luật đã nêu biện pháp khắc phục hậu quả thì dù có áp dụng hay không, cả ba chức danh đều không có thẩm quyền xử phạt.

Ngoài ra, còn có những quy định chưa phù hợp, chưa chính xác hoặc lỗi kỹ thuật. Ví dụ, khoản 1 Điều 75 Nghị định số 67/2017/NĐ-CP ngày 25/5/2017 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực dầu khí, kinh doanh xăng dầu và khí đã không dựa trên cách tính tỉ lệ % được Luật Xử lý VPHC quy định tại Điều 24 và Điều 40; khoản 4 Điều 35 Nghị định số 115/2018/NĐ-CP ngày 04/9/2018 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC về an toàn thực phẩm có nêu "điểm b khoản 1, các điểm b và c khoản 6 Điều 22" nhưng trong Nghị định này không có điểm b khoản 1 Điều 22; Điều 66 Nghị định số 142/2017/NĐ-CPngày 11/12/2017 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực hàng hải, quy định thẩm quyền của Cảnh sát biển nhưng trong khoản 1 lại ghi là lực lượng BĐBP.

2.2. Kiến nghị

Để khắc phục những bất cập nêu trên trong quy định của pháp luật về thẩm quyền xử phạt VPHC của Chiến sỹ BĐBP đang thi hành công vụ, Trạm trưởng, Đội trưởng của chiến sĩ BĐBP đang thi hành công vụ, chúng tôi đề xuất một số kiến nghị sau:

Thứ nhất,các nghị định cần thống nhất phương thức xác định và phân định thẩm quyền xử phạt VPHC của Chiến sĩ BĐBP đang thi hành công vụ, Trạm trưởng, Đội trưởng của Chiến sĩ BĐBP đang thi hành công vụ theo hướng xác định cụ thể thẩm quyền xử phạt của từng chức danh, gắn liền với từng hành vi VPHC, quy định tại các điểm, khoản, điều trong nghị định. Điều này phù hợp với quy định của Luật Xử lý VPHC và rất thuận lợi cho người áp dụng pháp luật.

Thứ hai, sửa đổi Điều 54 Nghị định số 42/2019/NĐ-CP, khoản 2 Điều 63 Nghị định số 71/2019/NĐ-CP bằng cách bổ sung thêm nội dung "đang thi hành công vụ" vào các chức danh "Chiến sĩ BĐBP" và "Trạm trưởng, Đội trưởng của Chiến sĩ BĐBP". Điều này vừa thống nhất với quy định tại Điều 40 Luật Xử lý VPHC, vừa phù hợp với thực tiễn công tác của BĐBP khi thành lập các Tổ, Đội công tác gồm thành phần là chiến sĩ BĐBP ở các Đội công tác khác nhau.

Thứ ba, các nội dung có liên quan đến chức danh có thẩm quyền xử phạt nói chung và chiến sĩ BĐBP nói riêng cần được giải thích trong chính nghị định hoặc thông tư, để bảo đảm yếu tố công khai, thống nhất trong áp dụng pháp luật.

Thứ tư, sửa đổi Nghị định số 15/2020/NĐ-CP theo hướng ba chức danh chỉ có thẩm quyền xử phạt VPHC trong lĩnh vực tần số vô tuyến điện; bỏ thẩm quyền xử phạt của các chức danh này trong lĩnh vực viễn thông, công nghệ thông tin, bưu chính, giao dịch điện tử.

Sửa đổi Nghị định số 115/2018/NĐ-CP ngày 04/9/2018 của Chính phủ; Nghị định số 31/2016/NĐ-CP ngày 06/5/2016 của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 90/2017/NĐ-CP, Nghị định số 04/2020/NĐ-CP); Nghị định số 64/2018/NĐ-CP ngày 07/5/2018 của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 42/2019/NĐ-CP) theo hướng bỏ chức danh có thẩm quyền xử phạt là Chiến sĩ BĐBP đang thi hành công vụ, Trạm trưởng, Đội trưởng của Chiến sĩ BĐBP đang thi hành công vụ.

 Thứ năm, sửa đổi Nghị định số 167/2013/NĐ-CP theo hướng chuẩn hóa các thuật ngữ pháp lý, bỏ cụm từ "có thể" trong quy định về việc áp dụng hình thức xử phạt trục xuất mà cần nêu rõ trường hợp vi phạm nào áp dụng hình thức này, nhằm tránh các cách hiểu khác nhau. Đối với quy định xử phạt trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình tại Nghị định này, khi xác định và phân định thẩm quyền xử phạt vi phạm của từng chức danh sẽ khắc phục được hai cách hiểu đối với việc xử phạt VPHC "khi nạn nhân có yêu cầu"; trong đó, cần khẳng định thẩm quyền xử phạt không thể thuộc về chiến sĩ BĐBP đang thi hành công vụ, trạm trưởng, đội trưởng của chiến sĩ BĐBP đang thi hành công vụ vì cả ba chức danh này đều không có thẩm quyền áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.

Thứ sáu, sửa đổi các lỗi kỹ thuật tại khoản 1 Điều 75 Nghị định số 67/2017/NĐ-CP;   khoản 4 Điều 35 Nghị định số 115/2018/NĐ-CP; Điều 66 Nghị định số 142/2017/NĐ-CP./. 


[1] Điều 40 Luật Xử lý VPHC năm 2012.

[2] Điều 24, Khoản 1 Điều 40 Luật Xử lý VPHC năm 2012.

[3] Điều 24, khoản 2 Điều 40 Luật Xử lý VPHC năm 2012.

[4] Điều 4 Luật Xử lý VPHC năm 2012.

[5] Điều 117, điểm a khoản 3 Điều 120 Nghị định số 15/2020/NĐ-CP 03/02/2020 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử.

[6] Nghị định số 42/2019/NĐ-CP ngày 16/5/2019 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực thủy sản.

[7] Nghị định số 71/2019/NĐ-CP ngày 30/8/2019 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực hóa chất và vật liệu nổ công nghiệp.

[8] Khoản 1, khoản 2 Điều 31, khoản 4 Điều 35 Nghị định số 115/2018/NĐ-CP ngày 04/9/2018 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC về an toàn thực phẩm.

[9] Nghị định số 31/2016/NĐ-CP ngày 06/5/2016 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực giống cây trồng, bảo vệ và kiểm dịch thực vật; Nghị định số 04/2020/NĐ-CP ngày 03/01/2020 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 31/2016/NĐ-CP ngày 06/5/2016 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực giống cây trồng, bảo vệ và kiểm dịch thực vật; Nghị định số 90/2017/NĐ-CP ngày 31/7/2017 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực thú y.

[10] Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Nghị định số 124/2015/NĐ-CP ngày 19/11/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Nghị định số 141/2018/NĐ-CP ngày 08/10/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp.

[11] Nghị định số 119/2017/NĐ-CP ngày 01/11/2017 của Chính phủ quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hóa; Nghị định số 42/2019/NĐ-CP ngày 16/5/2019 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực thủy sản.

[12] Nghị định số 45/2019/NĐ-CP ngày 21/5/2019 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực du lịch.

[13] Nghị định số 67/2017/NĐ-CP ngày 25/5/2017 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực dầu khí, kinh doanh xăng dầu và khí.

[14] Nghị định số 104/2017/NĐ-CP ngày 14/9/2017 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực phòng, chống thiên tai; khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi; đê điều; Nghị định số 65/2019/NĐ-CP ngày 18/7/2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 104/2017/NĐ-CP ngày 14/9/2017 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực phòng, chống thiên tai; khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi; đê điều.

[15] Nghị định số 132/2015/NĐ-CP ngày 25/12/2015 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa.

[16] Nghị định số 64/2018/NĐ-CP ngày 07/5/2018 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi, thủy sản; Nghị định số 42/2019/NĐ-CP ngày 16/5/2019 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực thủy sản.

[17] Nghị định số 36/2020/NĐ-CP ngày 24/3/2020 của Chính phủ quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản.

[18] Nghị định số 35/2019/NĐ-CP ngày 25/04/2019 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực lâm nghiệp.

[19] Nghị định số 55/2018/NĐ-CP ngày 16/4/2018 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực phân bón.

[20] Nghị định số 169/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia.

[21] Nghị định số 120/2013/NĐ-CP ngày 09/10/2013 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực quốc phòng, cơ yếu.

[22] Nghị định số 90/2017/NĐ-CP ngày 31/7/2017 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực thú y; Nghị định số 04/2020/NĐ-CP ngày 03/01/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 31/2016/NĐ-CP ngày 06/5/2016 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực giống cây trồng, bảo vệ và kiểm dịch thực vật.

[23] Nghị định số46/2019/NĐ-CP ngày 27/5/2019 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực thể thao.

[24] Nghị định số88/2019/NĐ-CP ngày 14/11/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.

[25] Điều 68 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình.

[26] Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52 Nghị địnhsố 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

[27] Điều 73 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã; Nghị định số 67/2015/NĐ-CP ngày 14/8/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ về xử phạt VPHC trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.

[28] Nghị định số 159/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong hoạt động báo chí, xuất bản.

[29] Nghị định số 142/2017/NĐ-CP ngày 11/12/2017 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực hàng hải.

[30] Nghị định số 127/2013/NĐ-CP ngày 15/10/2013 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan; Nghị định số 45/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 127/2013/NĐ-CP ngày 15/10/2013 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan.

[31] Nghị định số 173/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực khí tượng thủy văn, đo đạc và bản đồ; Nghị định số 65/2015/NĐ-CP ngày 07/8/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định về xử phạt VPHC trong các lĩnh vực quản lý nhà nước liên quan đến hành vi đăng, phát, cung cấp, đưa tin, công bố thông tin sai sự thật; Nghị định 84/2017/NĐ-CP ngày 18/7/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 173/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực khí tượng thủy văn, đo đạc và bản đồ.

[32] Nghị định số 98/2013/NĐ-CP ngày 28/8/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh xổ số; Nghị định số 48/2018/NĐ-CP ngày 21/3/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 98/2013/NĐ-CP ngày 28/8/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh xổ số; Nghị định số 80/2019/NĐ-CP ngày 01/11/2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 73/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm.

[33] Nghị định số 86/2013/NĐ-CP ngày 29/7/2013 của Chính phủ về kinh doanh trò chơi điện tử có thưởng dành cho người nước ngoài; Nghị định số 175/2016/NĐ-CP ngày 30/12/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều quy định tại Nghị định số 86/2013/NĐ-CP ngày 29/7/2013 của Chính phủ về kinh doanh trò chơi điện tử có thưởng dành cho người nước ngoài; Nghị định số 151/2018/NĐ-CP ngày 07/11/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định về điều kiện đầu tư, kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tài chính.

[34] Nghị định số 109/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý giá, phí, lệ phí, hóa đơn; Nghị định số 49/2016/NĐ-CP ngày 27/5/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 109/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý giá, phí, lệ phí, hóa đơn.

[35] Nghị định số 176/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực y tế; Nghị định số 65/2015/NĐ-CP ngày 07/8/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định về xử phạt VPHC trong các lĩnh vực quản lý nhà nước liên quan đến hành vi đăng, phát, cung cấp, đưa tin, công bố thông tin sai sự thật.

[36] Nghị định số 162/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt VPHC trên các vùng biển, đảo và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Nghị định số 23/2017/NĐ-CP ngày 13/3/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 162/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt VPHC trên các vùng biển, đảo và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

[37] Nghị định số 115/2018/NĐ-CP ngày 04/9/2018 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC về an toàn thực phẩm.

[38] Điều 17, khoản 1 Điều 18, Điều 39 Nghị định số 31/2016/NĐ-CP ngày 06/5/2016 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực giống cây trồng, bảo vệ và kiểm dịch thực vật (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 04/2020/NĐ-CP và Nghị định số 90/2017/NĐ-CP).

[39] Điều 17, 21, 25, 55, 91, 103, 103c Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 124/2015/NĐ-CP, Nghị định số 141/2018/NĐ-CP.

[40] Điều 21, khoản 1, 2 Điều 30, khoản 6 Điều 34 Nghị định số 64/2018/NĐ-CP ngày 07/5/2018 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi, thủy sản, sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 42/2019/NĐ-CP.

[41] Điều 12, Điều 19, Điều 21 Nghị định số 127/2013/NĐ-CP ngày 15/10/2013 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 45/2016/NĐ-CP.

[42] Điều 5, 5a, 6, 7, 7a, 8, 8a, 9, 9a, 9b, 9c, 19 Nghị định số173/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực khí tượng thủy văn, đo đạc và bản đồ (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 65/2015/NĐ-CP và Nghị định số 84/2017/NĐ-CP).

[43] Từ Điều 37 đến Điều 48; khoản 6 Điều 49 Nghị định số 86/2013/NĐ-CP ngày 29/7/2013 của Chính phủ về kinh doanh trò chơi điện tử có thưởng dành cho người nước ngoài, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 175/2016/NĐ-CP, Nghị định số 151/2018/NĐ-CP.

[44] Điều 8, 9, 10, 20, 21, 24, 26, 27, 67 Nghị định số 36/2020/NĐ-CP ngày 24/3/2020 của Chính phủ quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản.

[45] Điều 7, Điều 8, khoản 1 và khoản 2 Điều 17, Điều 19 Nghị định số 55/2018/NĐ-CP ngày 16/4/2018 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực phân bón.

[46] Nghị định số 90/2017/NĐ-CP ngày 31/7/2017 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực thú y, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 04/2020/NĐ-CP.

[47] Khoản 3 Điều 18, khoản 3 Điều 19, khoản 1 và khoản 2 Điều 25, Điều 27 Nghị định số46/2019/NĐ-CP ngày 27 tháng 5 năm 2019 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực thể thao.

[48] Ví dụ trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, xem khoản 1 Điều 47; khoản 1 Điều 49; khoản 1 Điều 50; Điều 73 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 67/2015/NĐ-CP).

[49] Điều 24; khoản 1, khoản 2 Điều 30; khoản 2 Điều 34 Nghị định số35/2019/NĐ-CP ngày 25/4/2019 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực lâm nghiệp.

[50] Điều 117 Nghị định số 15/2020/NĐ-CP 03/02/2020 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử.

[51] Khoản 1 Điều 57; khoản 1 Điều 58; điểm a, điểm b khoản 3 Điều 120 Nghị định số 15/2020/NĐ-CP 03/02/2020 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử.

[52] Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình.

[53] Điều 15, Điều 17 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình.

[54] Khoản 1, khoản 2 Điều 49; Điều 52; Điều 58 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình.

(Nguồn:http://lapphap.vn/Pages/TinTuc/210522/Tham-quyen-xu-phat-vi-pham-hanh-chinh-cua-chien-si--tram-truong--doi-truong-bo-doi-bien-phong-dang-thi-hanh-cong-vu.html)

 

FalsePhòng QLXLVPHC&TDTHPL
Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính theo pháp luật hiện hànhThông tinTinNguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính theo pháp luật hiện hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/9/2020 12:00 PMNoĐã ban hành

Xử phạt vi phạm hành chính là hoạt động của các cá nhân có thẩm quyền nhằm xác định hành vi vi phạm hành chính (VPHC) để áp dụng các hình thức xử phạt và các biện pháp cưỡng chế khác do pháp luật quy định đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi VPHC. Cũng như các hoạt động truy cứu trách nhiệm pháp lý khác, xử phạt VPHC phải tuân theo những nguyên tắc nhất định để xử phạt đúng đắn, chính xác, vừa bảo vệ quyền, lợi ích của Nhà nước, của xã hội, đồng thời vẫn bảo vệ hữu hiệu quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị xử phạt.

1.      Các nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính

1.1. Nguyên tắc mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và phải bị xử lý nghiêm minh, mọi hậu quả do VPHC gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật

VPHC là hành vi trái pháp luật nên có tính nguy hiểm cho xã hội. Tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi VPHC thể hiện ở chỗ VPHC phá vỡ trật tự xã hội được Nhà nước thiết lập, xâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm đến quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của các cá nhân, tổ chức, xã hội, Nhà nước. Việc phát hiện, ngăn chặn kịp thời hành vi VPHC sẽ góp phần xác minh các tình tiết liên quan đến vi phạm để xử lý chính xác hay ngăn chặn tác động tiêu cực của hành vi vi phạm. Chẳng hạn, để thiết lập trật tự giao thông, Nhà nước đặt ra những quy định về quy tắc giao thông, như quy tắc sử dụng làn đường, vượt xe, chuyển hướng, dừng, đỗ xe, chở người, hàng hóa… Nếu tất cả mọi người tham gia giao thông đều tuân thủ các quy tắc đó thì giao thông sẽ ổn định, trật tự, an toàn. Bất cứ hành vi vi phạm hành chính nào về giao thông đều ảnh hưởng xấu đến trật tự giao thông, gây mất an toàn cho người và phương tiện tham gia giao thông. Trên thực tế có nhiều hành vi vi phạm không được phát hiện, ngăn chặn kịp thời đã gây ra những hậu quả thảm khốc. Pháp luật có những quy định thể hiện trực tiếp nguyên tắc này, như: để xác minh các tình tiết liên quan đến vi phạm hành chính, khi xét thấy cần thiết, người có thẩm quyền có thể quyết định khám người, khám phương tiện vận tải, đồ vật. Việc khám người, khám phương tiện vận tải, đồ vật trong trường hợp thông thường thì phải có quyết định bằng văn bản của người có thẩm quyền. Tuy nhiên, để đảm bảo tính kịp thời, pháp luật cho phép khám không cần quyết định bằng văn bản mà tiến hành khám ngay nếu có căn cứ cho rằng nếu không khám ngay thì đồ vật, tang vật, phương tiện, tài liệu bị tẩu tán, tiêu hủy[1].

Khi phát hiện hành vi VPHC thì người có thẩm quyền phải xử phạt nghiêm minh để đảm bảo giá trị trừng trị người vi phạm, đồng thời giáo dục người vi phạm và giáo dục chung đối với tất cả mọi người. Việc không xử lý hay xử lý quá nhẹ có thể dẫn đến sự coi thường pháp luật, nếu xử phạt quá nặng sẽ gây bức xúc cho người bị xử phạt. Cả hai khả năng đó đều ảnh hưởng bất lợi đến ý thức pháp luật của người dân.

Bên cạnh đó, có nhiều hành vi VPHC gây ra thiệt hại về mặt thực tế. Chẳng hạn, hành vi xả, thải nước, khí có chứa các thông số nguy hại môi trường sẽ làm ô nhiễm đất, nước, không khí. Sự ô nhiễm này sẽ gây nguy hại cho con người, cho động, thực vật. Vì vậy, với các hành vi VPHC có gây thiệt hại thực tế thì ngoài việc xử phạt người vi phạm bằng hình thức xử phạt thì còn cần phải áp dụng các biện pháp cần thiết để khắc phục hậu quả do VPHC gây ra thì mới thực sự loại trừ được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm. Nếu hậu quả của vi phạm hành chính không được khắc phục thì hậu quả đó có thể ảnh hưởng rất lâu dài như trường hợp công ty Vedan đã làm ô nhiễm dòng sông Thị Vải mà theo ước tính thì nếu áp dụng tích cực các biện pháp cần thiết cũng phải mất 10 năm đến 15 năm mới trả lại cho dòng sông tình trạng ban đầu[2].

1.2. Nguyên tắc việc xử phạt VPHC được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật

Thứ nhất, việc xử phạt VPHC được tiến hành nhanh chóng. VPHC thường được coi là hành vi có tính nguy hiểm thấp hơn tội phạm nên thông thường việc xử phạt VPHC không phải mất quá nhiều thời gian mà vẫn có thể đảm bảo chính xác, đúng pháp luật. Hơn nữa, khi xử phạt VPHC, bằng việc áp dụng một số biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật có thể ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hay hoạt động bình thường của người bị xử phạt. Hơn nữa, như trên đã nêu, việc xử phạt nhanh chóng sẽ có khả năng ngăn ngừa kịp thời các tác động tiêu cực do vi phạm hành chính gây ra. Nguyên tắc này được thể hiện ở cả hai thủ tục xử phạt VPHC. Trong thủ tục xử phạt không lập biên bản, quyết định hành chính được ban hành ngay khi người có thẩm quyền phát hiện hành vi vi phạm. Trong thủ tục xử phạt có lập biên bản, thời hạn ban hành quyết định xử phạt VPHC nói chung là 7 ngày; trong trường hợp pháp luật quy định có giải trình hoặc trường hợp không có giải trình nhưng phức tạp thì thời hạn là 30 ngày kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính. Với thời hạn như vậy, việc xử phạt VPHC cần được thực hiện nhanh chóng vì nếu hết thời hạn thì người có thẩm quyền không được ban hành quyết định để xử phạt về hành vi vi phạm đó nữa.

Thứ hai, việc xử phạt VPHC phải được tiến hành công khai, khách quan. Hiện nay, công khai đã trở thành nguyên tắc chung trong hoạt động của Nhà nước, trừ trường hợp liên quan đến bí mật nhà nước. Nhiều quy định về xử phạt VPHC đã thể hiện nguyên tắc này, như: biên bản vi phạm hành chính phải có chữ ký của người vi phạm hoặc đại diện của người vi phạm, nếu người vi phạm không có mặt thì phải có chữ ký của đại diện chính quyền cơ sở nơi xảy ra vi phạm[3]; công bố công khai việc xử phạt VPHC trong trường hợp vi phạm gây hậu quả lớn hoặc gây ảnh hưởng xấu về xã hội[4]; các quy định về khám người, khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, khám phương tiện vận tải cũng chú ý đến việc công bố quyết định khám, có người chứng kiến, lập biên bản về việc khám…[5] Công khai giúp cho việc kiểm soát dễ dàng nên sẽ hạn chế sai phạm trong xử phạt vi phạm hành chính, còn khách quan thì bảo đảm xử phạt chính xác, đúng người, đúng vi phạm.

 Thứ ba, việc xử phạt VPHC phải đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật. Xử phạt VPHC là hoạt động sử dụng quyền lực nhà nước để áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với người vi phạm nên chỉ người có thẩm quyền mới có quyền xử phạt VPHC và chỉ được xử phạt trong giới hạn thẩm quyền pháp luật quy định. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính được thể hiện cụ thể là ai được quyền xử phạt, được xử phạt đối với những hành vi vi phạm trong lĩnh vực nào, được áp dụng các biện pháp cưỡng chế nào, đến mức độ nào. Việc xử phạt đúng thẩm quyền sẽ tạo nên sự hài hòa, không chồng chéo, không bỏ sót vi phạm và xử phạt được thuận tiện, chính xác. Việc xử phạt cũng phải bảo đảm công bằng để ai vi phạm cũng đều bị xử phạt, vi phạm giống nhau thì bị xử phạt giống nhau, đồng thời có tính đến các yếu tố đặc thù về người vi phạm, điều kiện, hoàn cảnh vi phạm nhưng trong giới hạn pháp luật quy định. Chẳng hạn, sau khi ban hành quyết định xử phạt VPHC, nếu cá nhân bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng trở lên đang gặp khó khăn đặc biệt, đột xuất về kinh tế do thiên tại, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh, bệnh hiểm nghèo, tai nạn thì người có thẩm quyền có thể xem xét miễn, giảm tiền phạt[6].

1.3. Nguyên tắc việc xử phạt VPHC phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, đối tượng vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng

Bất cứ hành vi VPHC nào cũng có tính nguy hiểm cho xã hội và tùy theo mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà pháp luật quy định hình thức, mức phạt phù hợp. Mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi VPHC tùy thuộc vào nhiều yếu tố như bản thân hành vi đó là hành vi gì, mức độ nghiêm trọng của hậu quả gây ra, người vi phạm là ai, thực hiện hành vi vi phạm trong điều kiện hoàn cảnh nào… Vì vậy, để xử phạt VPHC nghiêm minh, công bằng, có giá trị răn đe, phòng ngừa cao thì khi xử phạt phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, đồi tượng vi phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để quyết định hình thức, mức xử phạt.

1.4. Nguyên tắc chỉ xử phạt VPHC khi có hành vi VPHC do pháp luật quy định;một hành vi VPHC chỉ bị xử phạt một lần;nhiều người cùng thực hiện một hành vi VPHC thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt về hành vi VPHC đó;một người thực hiện nhiều hành vi VPHC hoặc VPHC nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm

Một hành vi vi phạm pháp luật nói chung đều có 2 dấu hiệu: dấu hiệu nội dung là hành vi đó có tính nguy hiểm cho xã hội; dấu hiệu hình thức là hành vi đó phải được pháp luật quy định đó là hành vi vi phạm pháp luật. Ví dụ, pháp luật quy định người khiếu nại có nghĩa vụ chấp hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật nhưng pháp luật không có quy định hành vi không thực hiện quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật là hành vi VPHC nên không thể xử phạt cá nhân, tổ chức khiếu nại nếu họ không thực hiện quyết định giải quyết khiếu nại. Nguyên tắc này thể hiện quan điểm là chỉ có cơ quan có thẩm quyền mới có quyền xác định một hành vi trái pháp luật nào đó có phải là VPHC không và trong trường hợp có hành vi thực sự có tính nguy hiểm cho xã hội mà vì lý do nào đó pháp luật chưa quy định đó là hành vi VPHC thì không ai có thể bắt cá nhân, tổ chức chịu trách nhiệm hành chính về hành vi đó. Trong trường hợp pháp luật quy định một hành vi là VPHC thì mỗi lần cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi đó sẽ chỉ bị xử phạt một lần về hành vi VPHC đã thực hiện được. Nếu người có thẩm quyền phát hiện cá nhân, tổ chức thực hiện nhiều VPHC hay nhiều cá nhân, tổ chức cùng thực hiện một vi phạm thì việc xử phạt mỗi cá nhân, tổ chức về từng hành vi họ vi phạm trong một lần xử phạt cũng vẫn là một VPHC chỉ bị xử phạt một lần.

1.5. Nguyên tắc người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng minh VPHC;cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính

Để xử phạt VPHC đối với cá nhân, tổ chức thì người có thẩm quyền xử phạt phải chứng minh được cá nhân, tổ chức đó đã thực hiện hành vi vi phạm trên thực tế. Nếu không chứng minh được có VPHC trên thực tế thì không thể xử phạt và muốn xử phạt về hành vi vi phạm nào thì phải chứng minh có hành vi đó. Có như vậy, người có thẩm quyền mới có thể biết được cần xử phạt ai và xử phạt như thế nào để tránh sai sót. Mặc dù vậy, người có thẩm quyền đôi khi vẫn không có đủ thông tin cần thiết hoặc thông tin họ có không rõ ràng, chính xác nên có thể dẫn đến kết luận sai và ra quyết định xử phạt sai. Để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị xử phạt, Luật năm 2012 đưa ra nguyên tắc cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không VPHC. Nguyên tắc này được thể hiện rất rõ trong quy định về quyền giải trình của người bị xử phạt VPHC [7].

1.6. Nguyên tắc đối với cùng một hành vi VPHC thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân

Đây cũng là nguyên tắc mới được đưa vào trong Luật năm 2012. Theo đó, khi thực hiện hành vi vi phạm có tất cả mọi tình tiết giống nhau thì tổ chức vi phạm sẽ bị phạt tiền với mức tiền phạt cao gấp đôi so với mức tiền phạt đối với cá nhân đã thành niên. Nguyên tắc này đã được cụ thể hóa trong tất cả các nghị định quy định về VPHC và xử phạt VPHC trong các lĩnh vực cụ thể.

2.   Nhận xét và kiến nghị

2.1. Về nguyên tắc mọi hậu quả do VPHC gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật

Như đã đề cập ở trên, tính chất nguy hiểm cho xã hội của VPHC không chỉ thể hiện ở bản thân hành vi vi phạm mà còn ở hậu quả do hành vi vi phạm gây ra. Vì vậy, khắc phục hậu quả do VPHC gây ra là tất yếu. Tuy nhiên, Điều 65 Luật năm 2012 quy định trường hợp cá nhân vi phạm hành chính chết, mất tích, tổ chức vi phạm giải thể, phá sản trong thời gian xem xét ra quyết định xử phạt thì người có thẩm quyền không ra quyết định xử phạt, nhưng vẫn có thể áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả. Vấn đề đặt ra là trong trường hợp này ai sẽ là người thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả khi mà trách nhiệm ở đây thuộc loại trách nhiệm không chuyển giao cho người khác[8]. Do vậy, để nguyên tắc này được thể hiện xuyên suốt, cần sửa đổi quy định này theo một trong hai phương án sau:

- Bãi bỏ quy định về việc ra quyết định khắc phục hậu quả VPHC trong trường hợp cá nhân chết, mất tích, tổ chức bị giải thể, phá sản; hoặc,

- Xác định cụ thể cơ quan nhà nước có trách nhiệm khắc phục hậu quả để bảo đảm an toàn cho con người, xã hội, tự nhiên khi chủ thể của vi phạm đã không còn tồn tại.

2.2. Về nguyên tắc việc xử phạt VPHC được tiến hành đúng thẩm quyền, đúng quy định của pháp luật

Luật năm 2012 quy định hai thủ tục xử phạt VPHC, trong đó thủ tục không lập biên bản chỉ được áp dụng trong trường hợp phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 250.000 đồng đối với cá nhân, đến 500.000 đồng đối với tổ chức (trừ trường hợp vi phạm được phát hiện bởi các phương tiện kỹ thuật). Tất cả các trường hợp còn lại đều áp dụng theo thủ tục có lập biên bản. Điều đó có nghĩa là, ngay cả trường hợp xử phạt hành vi do cơ quan tiến hành tố tụng hình sự thụ lý, giải quyết nhưng sau đó quyết định không khởi tố vụ án hình sự, hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án cũng vẫn phải lập biên bản VPHC[9]. Điều này về cơ bản là không hợp lý vì khi rơi vào trường hợp nêu trên thì VPHC đã xảy ra khá lâu (dù chưa hết thời hiệu xử phạt) và các cơ quan tố tụng đã có nhiều hoạt động nhằm ghi nhận, xác minh thông tin liên quan đến vi phạm đó rồi. Lúc này, việc lập biên bản VPHC chủ yếu mang tính hình thức. Như vậy, để đảm bảo nguyên tắc xử phạt VPHC đúng pháp luật (trong đó có đúng thủ tục xử phạt) thì cần có quy định về trường hợp ngoại lệ không áp dụng thủ tục không lập biên bản nhưng vẫn không cần lập biên bản VPHC[10].

Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 56 Luật năm 2012 quy định "Xử phạt VPHC không lập biên bản được áp dụng trong trường hợp xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 250.000 đồng đối với cá nhân, 500.000 đồng đối với tổ chức". Từ "trường hợp" ở đây không rõ nghĩa nên có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau: (1) Trường hợp có nghĩa là hành vi: tức là cứ hành vi nào có mức phạt tiền trên 250.000 đồng đối với cá nhân, trên 500.000 đồng đối với tổ chức thì mới phải lập biên bản; (2) Trường hợp nghĩa là người vi phạm: tức là một cá nhân, tổ chức trong một lần bị xử phạt bất kể thực hiện mấy hành vi nếu tổng mức phạt là trên 250.000 đồng đối với cá nhân, 500.000 đồng đối với tổ chức thì phải lập biên bản; (3) Trường hợp nghĩa là một lần xử phạt, tức là trong một lần xử phạt có thể có nhiều người bị xử phạt, có thể xử phạt về nhiều hành vi nhưng tổng tiền phạt trong lần xử phạt đó là trên 250.000 đồng đối với cá nhân, 500.000 đồng đối với tổ chức thì phải lập biên bản. Nếu hiểu theo các cách khác nhau như vậy có nghĩa là sẽ có nhiều cách áp dụng thủ tục xử phạt khác nhau mà vẫn được gọi là đúng thủ tục pháp luật quy định. Do vậy, cần sửa đổi quy định này như sau: "Xử phạt VPHC không lập biên bản được áp dụng trong trường hợp hành vi vi phạm bị xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 250.000 đồng đối với cá nhân, 500.000 đồng đối với tổ chức".

2.3. Về nguyên tắc xử phạt VPHC phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm

Nguyên tắc này bảo đảm hình thức, mức xử phạt hoàn toàn tương xứng với mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm. Tuy nhiên, do hành vi VPHC thường được quan niệm là có mức độ nguy hiểm cho xã hội không cao, trong khi thực tế VPHC xảy ra rất thường xuyên nên việc xử phạt VPHC cần được tiến hành một cách đơn giản, nhanh chóng. Vì vậy, Luật năm 2012 quy định cách xác định mức tiền phạt là nếu không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì mức phạt tiền là mức trung bình của khung. Cho nên, ở mức độ chi tiết thì hành vi VPHC có mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau nhưng nếu thuộc một khung tiền phạt thì mức phạt tiền được áp dụng là như nhau. Điều này có thể chấp nhận được nếu mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi thuộc phạm vi được đưa vào một khung tiền phạt không chênh lệch quá lớn.

Ví dụ, khoản 3 Điều 24 Nghị định 96/2014/NĐ-CP  quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng: phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với hành vi mua, bán ngoại tệ tại tổ chức không được phép thu đổi ngoại tệ. Với quy định này, hành vi mua, bán ngoại tệ tại tổ chức không được phép thu đổi ngoại tệ không phụ thuộc số lượng ngoại tệ được mua bán đều bị xử phạt cùng một khung tiền phạt. Bởi vậy, khi có trường hợp chỉ bán 100 USD đã bị phạt tới 90.000.000 đồng gây bức xúc trong xã hội[11].

Khoản 2 Điều 14 Nghị định 176/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế: Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi xả rác, chất thải sinh hoạt, chất thải của người và gia súc có khối lượng từ đủ 01 m3/ngày đêm trở lên vào nguồn nước dùng cho ăn uống, sinh hoạt và khu vực công cộng. Như vậy, dù lượng rác, chất thải nhiều đến mức nào (chỉ cần đủ 1mtrở lên) là đều bị xử phạt giống nhau.

Những quy định như trên không phải là phổ biến, tuy nhiên, để đảm bảo xử phạt vi phạm hành chính đúng với tính chất, mức độ, hậu quả của vi phạm thì cần có những khung tiền phạt trên cơ sở có định lượng cụ thể đối với hành vi và biên độ giữa mức nguy hiểm nhất và ít nguy hiểm nhất của hành vi thuộc mỗi khung tiền phạt không nên quá rộng.

2.4. Về nguyên tắc người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng minh VPHC, cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền chứng minh mình không VPHC

Thứ nhất, người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng minh VPHC. Xét ở một góc độ nhất định, nguyên tắc này có tính tất yếu vì nếu không chứng minh được VPHC thì người có thẩm quyền không thể tiến hành xử phạt. Xét ở một góc độ khác, nếu so sánh với truy cứu trách nhiệm hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự (TTHS) ngoài quy định trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tố tụng thì còn quy định người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội, đồng thời quy định nguyên tắc suy đoán vô tội[12]. Nguyên tắc suy đoán vô tội là yêu cầu về logic tư duy, thể hiện sự khách quan, công minh, nhân văn ở chỗ mọi tình tiết, chứng cứ liên quan đến vụ án phải được giải thích theo hướng có lợi cho người bị tình nghi[13]. Các quy định đó nhằm tránh việc các cơ quan tố tụng chỉ quan tâm đến việc chứng minh người bị buộc tội mà bỏ qua các chứng cứ có thể chứng minh họ vô tội. Dĩ nhiên, truy cứu trách nhiệm hình sự và xử phạt VPHC là khác nhau, nhưng để tránh khả năng người có thẩm quyền xử phạt suy nghĩ lệch theo hướng chỉ chứng minh VPHC thì Luật năm 2012 cũng cần có quy định tương tự Bộ luật TTHS. Pháp luật xử phạt VPHC của Nga cũng quy định nguyên tắc suy đoán không có lỗi[14].

Thứ hai, người bị xử phạt có quyền chứng minh mình không VPHC. Đây là nguyên tắc thể hiện sự tiến bộ hơn hẳn của Luật so với pháp luật trước đây về xử phạt VPHC. Luật đã dành một số điều quy định trực tiếp về giải trình trong xử phạt VPHC. Hàm nghĩa của giải trình là quyền được lắng nghe. Cơ sở của quyền giải trình là bất kỳ ai cũng đều không thích hợp để trở thành quan tòa cho chính bản thân mình. Ý nghĩa của nó là loại bỏ sự phiến diện trong suy nghĩ, ý kiến của cá nhân[15]. Nguyên tắc này góp phần hạn chế sự quan liêu, thiên lệch có thể có trong tư duy chứng minh VPHC của người có thẩm quyền xử phạt. Hiện nay, Luật năm 2012  mới quy định người bị xử phạt có quyền giải trình khi bị xử phạt bằng hình thức tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc áp dụng mức phạt tiền tối đa của khung tiền phạt đối với hành vi đó từ 15.000.000 đồng trở lên đối với cá nhân, từ 30.000.000 đồng trở lên đối với tổ chức. Như vậy, nếu người bị xử phạt với hành vi có mức phạt tiền tối đa của khung tiền phạt thấp hơn mức trên hoặc không phải là bị tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn thì không được giải trình và thực chất cũng không có cách thức nào để chứng minh mình không VPHC. Để đảm bảo nguyên tắc người bị xử phạt có quyền chứng minh mình không VPHC thì cần mở rộng quyền giải trình cho người bị xử phạt.

2.5. Về nguyên tắc đối với cùng một hành vi VPHC thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân

Trong xử phạt VPHC, phạt tiền là hình thức xử phạt được áp dụng phổ biến nhất. Mức phạt tiền cao hay thấp tùy thuộc vào mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và mức phạt tỉ lệ thuận với nhau. Mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phụ thuộc vào khách thể mà hành vi xâm phạm tới, thiệt hại thực tế hành vi gây ra, công cụ, phương tiện sử dụng để thực hiện hành vi, điều kiện, hoàn cảnh hành vi được thực hiện, hình thức lỗi… nhưng không phụ thuộc vào chủ thể thực hiện hành vi theo nghĩa là cá nhân hay tổ chức. Bởi vậy, cần xem xét lại cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn, cơ sở pháp lý của nguyên tắc này, đánh giá lại tác động của việc thực hiện nguyên tắc này trên thực tế một cách thật sự khách quan, khoa học để quyết định duy trì hay bãi bỏ nguyên tắc này trong xử phạt VPHC.

Pháp luật về xử phạt VPHC những năm qua không ngừng thay đổi, hoàn thiện phù hợp với thực trạng VPHC và những thay đổi của đời sống xã hội. Các nguyên tắc xử phạt vi phạm cũng được thay đổi, bổ sung. Bên cạnh những ưu điểm của pháp luật về xử phạt VPHC và các nguyên tắc xử phạt VPHC thì việc tiếp tục nghiên cứu kỹ hơn về các nguyên tắc cũng như mối tương quan giữa các nguyên tắc xử phạt VPHC với các quy định của pháp luật về xử phạt VPHC là rất cần thiết nhằm xây dựng được các nguyên tắc thực sự khách quan, khoa học và tạo ra sự thống nhất, đồng bộ của pháp luật thì các nguyên tắc mới phát huy được hết vai trò tích cực trong xử phạt VPHC./.

 

 


[1] Xem khoản 3 Điều 127, khoản 3 Điều 128 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

[2] Hồng Khánh, Việt Linh, Mất 10-15 năm sau mới làm sạch được Thị Vảihttps://vnexpress.net/thoi-su/mat-10-15-nam-moi-lam-sach-duoc-thi-vai-2112512.html.

[3] Xem khoản 2 Điều 58 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

[4] Xem Điều 72 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

[5] Xem Điều 127, 128, 129 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

[6] Xem Điều 76, 77 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

[7] Xem Điều 61 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

[8] Xem Ủy ban pháp luật, Báo cáo Thẩm tra dự án Luật Xử lý vi phạm hành chính số 299/BC-UBPL13.

[9] Xem Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

[10] Xem Bùi Thị Đào, Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính, Tạp chí Luật học, số Đặc san về xử lý vi phạm hành chính 9/2003.

[11] Xem Công ty luật Vũ Anh, Vấn đề pháp lý từ vụ đổi 100 USD chịu phạt 90.000.000 đồnghttp://vuanhlaw.com.vn/tin-tuc/van-de-phap-ly-tu-vu-doi-100-usd-chiu-phat-90-trieu-dong.html.

[12] Xem Điều 13, 15 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[13] Xem Đào Trí Úc, Nguyên tắc suy đoán vô tội- nguyên tắc hiến định quan trọng trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Tạp chí Kiểm sát, số 02/2017.

[14] Xem Báo cáo tổng quan tham khảo kinh nghiệm một số nước trên thế giới về xử lý vi phạm hành chính, http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_DUTHAO_LUAT/View_Detail.aspx?ItemID=266&TabIndex=2&TaiLieuID=219.

[15] Xem Tô Khánh Nguyên (Su Qing Yuan), Nghiên cứu chế độ nghe giải trình trong xử phạt vi phạm hành chính ở Trung quốc, Kỷ yếu hội thảo về trách nhiệm hành chính và cấp phép hành chính, Đại học Luật Hà Nội và Đại học Vân Nam Trung Quốc.

(Nguồn:http://lapphap.vn/Pages/TinTuc/210448/Nguyen-tac-xu-phat-vi-pham-hanh-chinh-theo-phap-luat-hien-hanh.html)

 

FalsePhòng QLXLVPHC&TDTHPL
Bình Dương tổ chức Hội nghị triển khai công tác quản lý xử lý vi phạm hành chính; công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật và công tác đăng ký - quản lý hộ tịch năm 2020Thông tin; Tin ngành tư phápBài viếtBình Dương tổ chức Hội nghị triển khai công tác quản lý xử lý vi phạm hành chính; công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật và công tác đăng ký - quản lý hộ tịch năm 2020/XLVPHCTDTHPL/PublishingImages/2020-06/IMG_20200604_110519_Key_04062020123110.jpg
6/4/2020 1:00 PMYesĐã ban hành

Để kịp thời phổ biến các quy định mới cũng như quán triệt, triển khai các kế hoạch, văn bản chỉ đạo của UBND tỉnh về thực hiện nhiệm vụ công tác quản lý thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC); Công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật (THTHPL) và công tác đăng ký - quản lý hộ tịch trên địa bàn tỉnh.

IMG_20200604_110519.jpg

(Ông Nguyễn Quốc Trí – PGĐ. Sở Tư pháp phát biểu khai mạc hội nghị)

Sáng ngày 03/6/2020 tại Hội trường Liên đoàn Lao động tỉnh, Sở Tư pháp tổ chức Hội nghị triển khai công tác quản lý thi hành pháp luật về XLVPHC; Công tác theo dõi THTHPL; Công tác đăng ký - quản lý hộ tịch năm 2020 cho hơn 200 cán bộ pháp chế, cán bộ tham mưu công tác XLVPHC của các sở, ngành; Đại diện lãnh đạo UBND và công chức làm công tác tư pháp - hộ tịch tại các huyện, thị xã, thành phố và các xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh.

IMG_20200604_110825.jpg

IMG_20200604_110724.jpg

(Toàn cảnh hội nghị)

Tại Hội nghị, các đại biểu đã được nghe Báo cáo viên là Trưởng phòng QLXLVPHC&TDTHPL và Trưởng phòng HCTP của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương triển khai các vấn đề về nhiệm vụ; kỹ năng; chuyên môn nghiệp vụ đối với công tác XLVPHC, công tác theo dõi THTHPL và công tác đăng ký - quản lý hộ tịch và triển khai các văn bản quy phạm pháp luật mới như Nghị định số 19/2020/NĐ-CP ngày 12/02/2020 của Chính phủ về việc kiểm tra, xử lý kỷ luật trong thi hành pháp luật về XLVPHC; Nghị định số 32/2020/NĐ-CP ngày 05/3/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 về theo dõi tình hình thi hành pháp luật. Đồng thời, tập trung trao đổi, thảo luận và giải đáp các khó khăn, vướng mắc của các đại biểu tham dự trong quá trình triển khai thực hiện các nhiệm vụ công tác này tại địa phương.

IMG_20200604_110754.jpg

​(Đại biểu đặt câu hỏi còn thắc mắc đến Báo cáo viên để làm rõ vấn đề)

Qua hội nghị đã giúp đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác XLVPHC; công tác theo dõi THTHPL và công tác đăng ký - quản lý hộ tịch tại các đơn vị, địa phương nâng cao nhận thức, kiến thức, kỹ năng, chuyên môn nghiệp vụ và áp dụng các quy định của pháp luật vào công tác XLVPHC, công tác theo dõi THTHPL đảm bảo thống nhất, kịp thời và hiệu quả trong thời gian tới./.

Linh Nguyễn

FalseNguyễn Thị Linh
Triển khai thực hiện Nghị định 19/2020/NĐ-CP ngày 12/02/2020 của Chính phủVăn bản điều hànhTinTriển khai thực hiện Nghị định 19/2020/NĐ-CP ngày 12/02/2020 của Chính phủ/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
5/20/2020 10:00 AMNoĐã ban hành

Để đáp ứng yêu cầu công tác và kịp thời triển khai các văn bản pháp luật đến toàn thể cán bộ, công chức biết thực hiện; vừa qua, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương đã ban hành Công văn số 2281/UBND-NC ngày 14/5/2020 về việc triển khai thực hiện Nghị định số 19/2020/NĐ-CP ngày 12/02/2020 của Chính phủ kiểm tra, xử lý kỷ luật trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

Theo đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đề nghị các sở, ban, ngành; Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố tập trung triển khai thực hiện các nhiệm vụ:

- Tổ chức tuyên truyền, phổ biến, quán triệt sâu rộng nội dung Nghị định số 19/2020/NĐ-CP ngày 12/02/2020 của Chính phủ kiểm tra, xử lý kỷ luật trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính (sau đây gọi là Nghị định số 19/2020/NĐ-CP) đến toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính, Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị của người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính, cơ quan, tổ chức, các nhân có liên quan.

- Căn cứ thời điểm có hiệu lực thi hành của Nghị định số 19/2020/NĐ-CP (từ ngày 31/3/2020, riêng các quy định về xử lý kỷ luật trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính tại các Điều 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28 và 29 của Nghị định có  hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2020) và các nội dung quy định tại Nghị định số 19/2020/NĐ-CP, chủ động tổ chức hoạt động kiểm tra công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính bảo đảm tuân thủ đúng nguyên tắc, trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định.

- Rà soát các văn bản hiện hành để sửa đổi, bổ sung, ban hành mới theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, ban hành mới đảm bảo phù hợp với Nghị định số 19/2020/NĐ-CP.

Linh Nguyễn

2281-NC.signed.pdf

FalseNguyễn Thị Linh
Tài liệu báo cáo số liệu, kết quả công tác XLVPHC 6 tháng đầu năm 2020Văn bản điều hànhTinTài liệu báo cáo số liệu, kết quả công tác XLVPHC 6 tháng đầu năm 2020/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
5/19/2020 5:00 PMNoĐã ban hànhFalsePhòng QLXLVPHC&TDTHPL
Công văn số 1226/UBND-NC ngày 19/3/2020 của UBND tỉnh Bình Dương về việc triển khai thực hiện Nghị định số 19/2020/NĐ-CP ngày 12/02/2020 của Chính phủ về kiểm tra, xử lý kỷ luật trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chínhVăn bản điều hànhTinCông văn số 1226/UBND-NC ngày 19/3/2020 của UBND tỉnh Bình Dương về việc triển khai thực hiện Nghị định số 19/2020/NĐ-CP ngày 12/02/2020 của Chính phủ về kiểm tra, xử lý kỷ luật trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
3/23/2020 10:00 AMNoĐã ban hànhFalsePhòng QLXLVPHC&TDTHPL
Công văn số 114/QLXLVPHC&TDTHPL-XLHC ngày 19/3/2020 của Bộ Tư pháp về việc tịch thu phương tiện VPHC đang được thế chấp tại ngân hàng, phương tiện VPHC là tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhânThông tinTinCông văn số 114/QLXLVPHC&TDTHPL-XLHC ngày 19/3/2020 của Bộ Tư pháp về việc tịch thu phương tiện VPHC đang được thế chấp tại ngân hàng, phương tiện VPHC là tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
3/23/2020 10:00 AMNoĐã ban hànhFalsePhòng QLXLVPHC&TDTHPL
Xử phạt VPHC trong lĩnh vực tư pháp: Cần phân định rõ thẩm quyềnThông tinTinXử phạt VPHC trong lĩnh vực tư pháp: Cần phân định rõ thẩm quyền/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
2/14/2020 11:00 AMNoĐã ban hành

hình 1.png

Đây là quan điểm được nhiều đại biểu đề cập tại cuộc họp rà soát, hoàn thiện dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 110/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính (VPHC) trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, THADS, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã diễn ra vào chiều 12/2 do Thứ trưởng Phan Chí Hiếu chủ trì.

Thực tiễn thi hành Nghị định số 110/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 67/2015/NĐ-CP) cho thấy tình hình vi phạm pháp luật trong các lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, THADS ngày càng gia tăng cả về tính chất, mức độ phức tạp. Trong khi đó, quy định pháp luật về các lĩnh vực này chưa rõ ràng, chế tài xử phạt VPHC chưa nghiêm, mức xử phạt VPHC quá thấp, các chế tài về thu hồi Giấy phép hoạt động, cấm hoạt động, tạm dừng, tạm đình chỉ hoạt động đối với các đơn vị được thanh tra còn ít, chưa áp dụng được nhiều. Nhiều hành vi vi phạm pháp luật trong các lĩnh vực được thanh tra như luật sư, công chứng, đấu giá tài sản... chưa có chế tài xử phạt hoặc biện pháp xử phạt chưa tương xứng, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước. Do đó, việc nghiên cứu, xây dựng Nghị định thay thế Nghị định 110/2013/NĐ-CP là rất cần thiết.


Góp ý về thẩm quyền xử phạt VPHC, Phó Cục trưởng Cục Bổ trợ Tư pháp Vũ Văn Đoàn cho rằng cần phân định rõ thẩm quyền theo hướng lĩnh vực nào thì thuộc thẩm quyền xử lý của cơ quan, lãnh đạo quản lý lĩnh vực đó. Vì vậy, cần cân nhắc, nghiên cứu thêm về thẩm quyền xử phạt VPHC của Cục trưởng Cục Bổ trợ tư pháp đối với cả hành vi trong lĩnh vực bồi thường nhà nước, THADS của Thừa phát lại như đã được quy định trong dự thảo Nghị định. Riêng đối với hoạt động của Thừa phát lại, ông Đoàn đề xuất bổ sung thêm các hành vi liên quan đến việc lập khống các giấy tờ về chứng minh thời gian công tác pháp luật để được bổ nhiệm chức danh Thừa phát lại… Lý giải thêm, ông Đoàn cho rằng hành vi này xuất hiện ngày càng nhiều trên thực tế mà chưa có chế tài xử lý, cho nên nếu bỏ sót sẽ rất khó cho công tác thanh tra chuyên ngành.​

hình 3.jpg

Liên quan tới các hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả, Phó Cục trưởng Cục Quản lý xử lý VPHC và theo dõi thi hành pháp luật Lê Thanh Bình cho rằng đối với hành vi tẩy xóa, sửa chữa, làm sai các giấy tờ, văn bản… cần rà soát kỹ lưỡng để việc áp dụng đồng thời biện pháp tịch thu và biện pháp kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét, xử lý đối với giấy tờ văn bản này đảm bảo tính khả thi. Bởi thực tế hiện nay các văn bản, giấy tờ chia 2 loại gồm văn bản, giấy tờ do Bộ Tư pháp cấp và văn bản, giấy tờ sử dụng trong các hồ sơ gửi đến Bộ Tư pháp, thuộc thẩm quyền cấp của các cơ quan khác nhau. Do đó, việc tịch thu hoặc tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn do Bộ Tư pháp cấp là hợp lý nhưng việc tịch thu với các giấy tờ, văn bản sử dụng trong các hồ sơ gửi đến Bộ Tư pháp là khó khả thi.Góp ý thêm, ông Bình cho rằng khung phạt tiền giữa các hành vi vi phạm trong dự thảo Nghị định đã được bố trí khá hợp lý. Tuy nhiên, mức xử phạt các hành vi liên quan đến việc hủy hoại các giấy tờ về quốc tịch còn khá cao, do vậy đề nghị cân đối thêm để đảm bảo cùng một hành vi nhưng ở các lĩnh vực quản lý khác nhau (như lĩnh vực quản lý hộ chiếu, lĩnh vực an ninh trật tự) được tương đối thống nhất.
Cũng cho ý kiến về các hình thức xử phạt bổ sung, đại diện Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực cho rằng ngoài việc tịch thu tang vật, phương tiện VPHC cần  bổ sung tịch thu các văn bản, giấy tờ vi phạm để đảm bảo tính toàn diện. Ngoài ra, đối với các vi phạm trong lĩnh vực cụ thể như đăng ký khai sinh, đăng ký kết hôn, khai tử… nên quy định rõ các giấy tờ sẽ bị xử lý là giấy đăng ký khai sinh, giấy chứng nhận kết hôn, giấy chứng tử đã cấp chứ không nên ghi chung chung. Riêng đối với vấn đề đăng ký kết hôn, để đảm bảo tính bao quát, toàn diện thì ngoài trường hợp cam đoan không đúng về tình trạng hôn nhân cũng cần quy định nếu cung cấp không chính xác các thông tin khác có liên quan như về nơi cư trú cũng sẽ bị xử phạt.​

Cơ bản đồng tình với các quy định liên quan tới lĩnh vực THADS, ông Lê Dương Hưng, Phó Vụ trưởng Vụ Nghiệp vụ 1, Tổng cục THADS cho rằng dự thảo Nghị định mới chỉ đề cập tới việc xử phạt trường hợp không cho đương sự thỏa thuận tổ chức thẩm định giá mà chưa quy định trường hợp không cho đương sự thỏa thuận để lựa chọn tổ chức bán đấu giá tài sản. Trong khi đó, hoạt động thẩm định giá và bán đấu giá tài sản thường đi liền với nhau, do vậy cần nghiên cứu bổ sung thêm.
Sau khi lắng nghe các ý kiến cụ thể của các đơn vị, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Phan Chí Hiếu nhấn mạnh đây là dự thảo Nghị định vô cùng quan trọng, là công cụ phục vụ đắc lực trong công tác quản lý nhà nước của toàn ngành Tư pháp. Vì dự thảo Nghị định có phạm vi rộng với nhiều hành vi vi phạm, liên quan và dẫn chiếu đến nhiều quy định pháp luật chuyên ngành khác nhau nên Thứ trưởng đề nghị các đơn vị cần rà soát một cách kỹ lưỡng để đảm bảo khi áp dụng được thuận lợi, khả thi, vừa tăng cường tính răn đe, vừa nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Sau khi​ các đơn vị góp ý cụ thể, đầy đủ, Thanh tra Bộ cần tổng hợp, nghiên cứu sâu, có phương án chỉnh lý để dự thảo Nghị định phù hợp với thực tiễn hiện nay.

Nguồn: https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/hoat-dong-cua-lanh-dao-bo.aspx?ItemID=4338

 


FalsePhòng QLXLVPHC&TDTHPL
Thủ Dầu Một tổ chức hội nghị tập huấn công tác xử lý vi phạm hành chính và công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luậtThông tinTinThủ Dầu Một tổ chức hội nghị tập huấn công tác xử lý vi phạm hành chính và công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật/XLVPHCTDTHPL/PublishingImages/2020-01/congtacxlvphc hinh5_Key_10012020160401.jpg
1/10/2020 4:00 PMNoĐã ban hành

Sáng ngày 09/01/2020 tại Hội trường UBND thành phố Thủ Dầu Một, Phòng Tư pháp thành phố Thủ Dầu Một tham mưu UBND thành phố tổ chức Hội nghị tập huấn nghiệp vụ công tác xử lý vi phạm hành chính và công tác soạn thảo, ban hành, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp cho hơn 100 cán bộ, công chức, viên chức của các phòng chuyên môn thuộc UBND thành phố; các ban, ngành, đoàn thể và UBND các phường trên địa bàn thành phố.

congtacxlvphc hinh1.png

(Bà Đỗ Thị Thu Thủy - Phòng Tư pháp TDM phát biểu khai mạc lớp tập huấn)

congtacxlvphc hinh2.png

(Toàn cảnh lớp tập huấn)

Tại buổi tập huấn, các đại biểu đã được nghe Báo cáo viên là Trưởng phòng QLXLVPHC&TDTHPL và Trưởng phòng XD&KTVBQPPL của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương triển khai các vấn đề về quy trình, nghiệp vụ xử lý vi phạm hành chính; kỹ năng soạn thảo, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật. Đồng thời, tập trung trao đổi, thảo luận và giải đáp các khó khăn, vướng mắc của các đại biểu tham dự trong quá trình triển khai thực hiện các nhiệm vụ công tác này tại địa phương.

congtacxlvphc_hinh3.jpg

(Báo cáo viên đang triển khai nội dung tập huấn)

congtacxlvp hinh4.jpg

​(Đại biểu đặt câu hỏi còn thắc mắc đến Báo cáo viên để làm rõ vấn đề)

Qua hội nghị tập huấn đã giúp đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và công tác xử lý vi phạm hành chính tại các đơn vị, địa phương nâng cao nhận thức, kiến thức, kỹ năng tham mưu soạn thảo, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật và áp dụng các quy định của pháp luật vào công tác xử lý vi phạm hành chính đảm bảo thống nhất, kịp thời và hiệu quả trong thời gian tới./.

 Linh-CV Phòng QLXLVPHX&TDTHPL STP.BD




FalseNguyễn Thị Linh
Quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàngThông tin; Văn bản QPPLTinQuy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng/XLVPHCTDTHPL/PublishingImages/2019-12/ngân hàng - Copy_Key_12122019160233.jpg
12/12/2019 5:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 14/11/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định 88/2019/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.

Theo đó, quy định mức phạt đối với các vi phạm về trung gian thanh toán, đơn cử như vi phạm một trong các hành vi sau đây sẽ bị phạt tiền từ 15 triệu đồng đến 20 triệu đồng, buộc nộp vào ngân sách nhà nước số lợi bất hợp pháp:

vàng.jpg

- Vi phạm quy định về thực hiện việc nạp tiền vào ví điện tử, rút tiền ra khỏi ví điện tử;

- Vi phạm quy định về tài khoản đảm bảo thanh toán;

- Cấp tín dụng cho khách hàng sử dụng ví điện tử, trả lãi trên số dư ví điện tử hoặc bất kỳ hành động nào có thể làm gia tăng giá trị tiền tệ trên ví điện tử so với giá trị tiền khách hàng nạp vào ví điện tử;

- Không thực hiện trách nhiệm yêu cầu khách hàng phải có tài khoản thanh toán mở tại ngân hàng trước khi sử dụng dịch vụ ví điện tử.

vidientu.png

Ngoài ra, Nghị định 88/2019/NĐ-CP quy định hành vi thuê, cho thuê, mượn, cho mượn ví điện tử hoặc mua, bán thông tin ví điện tử tử 01 ví điện tử đến dưới 10 ví điện tử sẽ bị phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng, buộc nộp vào ngân sách nhà nước số lợi bất hợp pháp.

Các mức phạt trên được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức có cùng hành vi vi phạm sẽ bị phạt tiền gấp 02 lần.

Nghị định 88/2019/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 31/12/2019 và thay thế Nghị định 96/2014/NĐ-CP ngày 17/10/2014 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.

ngân hàng.jpg

Đối với hành vi vi phạm hành chính về tiền tệ và ngân hàng xảy ra trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực mà sau đó mới bị phát hiện nhưng còn thời hiệu xử phạt hoặc đang trong quá trình xem xét, giải quyết thì áp dụng các quy định có lợi cho tổ chức, cá nhân vi phạm.

Đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng đã được ban hành hoặc đã được thi hành xong trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực thi hành, mà cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính còn khiếu nại thì áp dụng quy định của Nghị định số 96/2014/NĐ-CP ngày 17 tháng 10 năm 2014 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng để giải quyết.​

FalseVõ Thị Trâm Anh
Quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thể thaoThông tin; Văn bản QPPLTinQuy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thể thao/XLVPHCTDTHPL/PublishingImages/2019-12/chất kích thích - Copy_Key_11122019160354.jpg
12/11/2019 5:00 PMNoĐã ban hành

Từ ngày 01/8/2019, Nghị định 46/2019/NĐ-CP ngày 25/7/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thể thao chính thức có hiệu lực. Nghị định này quy định về hành vi vi phạm, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính.

Nghị định này áp dụng với tổ chức, cá nhân Việt Nam hoạt động thể thao trên lãnh thổ Việt Nam và ở nước ngoài. Tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động thể thao trên lãnh thổ Việt Nam.

Theo quy định tại Điều 7 Nghị định 46/2019/NĐ-CP, hành vi sử dụng các bài tập, môn thể thao hoặc các phương pháp tập luyện, thi đấu thể thao mang tính chất khiêu dâm, đồi trụy, kích động bạo lực, trái với đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục và bản sắc văn hóa dân tộc sẽ bị phạt tiền từ 5 triệu đến 10 triệu đồng.

the thao.jpg

Phạt tiền từ 10 triệu đến 15 triệu đồng đối với hành vi sử dụng các bài tập, môn thể thao hoặc các phương pháp tập luyện, thi đấu thể thao gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe người tập luyện, thi đấu (trừ những bài tập, môn thể thao, phương pháp tập luyện, thi đấu thể thao được pháp luật cho phép). Mức phạt này cũng áp dụng với với hành vi sử dụng chất kích thích thuộc Danh mục bị cấm trong tập luyện, thi đấu thể thao, hình thức phạt bổ sung là đình chỉ việc tham dự giải thi đấu thể thao có thời hạn từ 1 đến 3 tháng.

Đối với hành vi bao che, tổ chức cho vận động viên sử dụng chất kích thích thuộc danh mục bị cấm trong tập luyện, thi đấu thể thao sẽ bị phạt tiền từ 15 triệu đến 20 triệu đồng, hình thức xử phạt bổ sung là đình chỉ việc tham dự giải thi đấu thể thao có thời hạn từ 3 đến 6 tháng.

chất kích thích.jpg

Biện pháp khắc phục hậu quả là buộc hủy bỏ kết quả thi đấu thể thao, kết quả tuyển chọn vận động viên vào đội tuyển thể thao, trường năng khiếu thể thao, thành tích thi đấu thể thao đối với hành vi vi phạm quy định về sử dụng chất kích thích trong tập luyện, thi đấu thể thao nêu trên.

Ngoài ra, người nào có hành vi chửi bới, lăng mạ, xúc phạm nhân phẩm, danh dự; phản ứng không phù hợp với đạo đức, thuần phong mỹ tục, truyền thống văn hóa Việt Nam khi tham gia hoạt động thể thao sẽ bị phạt tiền từ 15 triệu đến 20 triệu đồng và phải xin lỗi công khai đối với hành vi của mình.

Đối với một trong các hành vi cố ý gây chấn thương, chơi thô bạo gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người khác trong tập luyện, thi đấu thể thao sẽ bị phạt tiền từ 20 triệu đến 25 triệu đồng.

thể thao.jpg

Với các hành vi gian lận trong thể thao cũng được quy định xử phạt trong nghị định này. Cụ thể, phạt tiền từ 5 triệu đến 10 triệu đồng với hành vi gian lận tên, tuổi, giới tính để được tuyển chọn vào các đội tuyển thể thao.

Phạt tiền từ 15 triệu đến 20 triệu đồng đối với các hành vi làm sai lệch kết quả thi đấu thể thao. Mức phạt này cũng áp dụng với các trọng tài điều khiển các cuộc thi đấu thể thao thiếu trung thực, khách quan.

Nghị định này thay thế Mục 2 Chương II Nghị định số 158/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo, khoản 28 Điều 2 Nghị định số 28/2017/NĐ-CP ngày 20/3/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 131/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan và Nghị định số 158/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo

​ 

FalseVõ Thị Trâm Anh
Nghị định số 51/2019/NĐ-CP ngày 13/6/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động khoa học và công nghệ, chuyển giao công nghệThông tin; Văn bản QPPLTinNghị định số 51/2019/NĐ-CP ngày 13/6/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động khoa học và công nghệ, chuyển giao công nghệ/XLVPHCTDTHPL/PublishingImages/2019-12/KHCN - Copy_Key_11122019152058.jpg
12/11/2019 4:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 13/6/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 51/2019/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động khoa học và công nghệ, chuyển giao công nghệ. Nghị định 51/2019/NĐ-CP được ban hành thay thế Nghị định số 64/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động khoa học và công nghệ, chuyển giao công nghệ và Nghị định số 93/2014/NĐ-CP ngày 17/10/2014 để sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 64/2013/NĐ-CP. Sau đây là những điểm mới của Nghị định này.

khoa-hoc-cong-nghe-380x228.jpg

1. Về đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính, Nghị định 51 đã liệt kê chi tiết các tổ chức có thể là đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động KH&CN, chuyển giao công nghệ (Điều 2), bao gồm:

- Tổ chức khoa học và công nghệ theo quy định của Luật khoa học và công nghệ;

- Tổ chức kinh tế theo quy định của Luật doanh nghiệp;- Tổ chức kinh tế theo quy định của Luật hợp tác

xã;

- Cơ quan nhà nước có hành vi vi phạm mà hành vi đó không thuộc nhiệm vụ quản lý nhà nước được giao;

- Tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp;

- Các tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật;

- Đối với hộ kinh doanh, tổ hợp tác vi phạm các quy định của Nghị định này bị xử phạt như đối với cá nhân vi phạm.

công nghệ.jpg

2. Về hình thức xử phạt, mức phạt tiền, Nghị định 51 đã bỏ hình thức xử phạt trục xuất vì không khả thi; thiết kế mức phạt tiền theo hướng phù hợp hơn với thực tế và tương đồng với các Nghị định hiện hành; đồng thời quy định cụ thể phù hợp với thực tiễn về các biện pháp khắc phục hậu quả (Điều 3, Điều 4).

3. Về các hành vi vi phạm hành chính, Nghị định 51/2019/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung một số quy định để phù hợp với Luật Chuyển giao công nghệ, cụ thể là:

- Thứ nhất, bổ sung hành vi "không gửi báo cáo định kỳ hằng năm về kết quả hoạt động đánh giá, giám định công nghệ tới cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ" (khoản 2 Điều 16); bổ sung hành vi "không báo cáo cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền đã thẩm định hoặc có ý kiến về công nghệ khi điều chỉnh, thay đổi nội dung công nghệ" (khoản 3 Điều 16); bổ sung hành vi "không làm thủ tục đăng ký gia hạn, sửa đổi, bổ sung nội dung chuyển giao công nghệ" (khoản 1 Điều 17); bổ sung hành vi "thực hiện chương trình, dự án phổ biến giống cây trồng, giống vật nuôi hoặc công nghệ nuôi trồng, bảo quản, chế biến sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, diêm nghiệp nhưng không có nội dung chuyển giao công nghệ" (Điều 19); bổ sung hành vi " kê khai không đúng sự thật thông tin trong hồ sơ đề nghị công nhận kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ không sử dụng ngân sách nhà nước (khoản 1 Điều 20)…;

- Thứ hai, Nghị định 51/2019/NĐ-CP đã chỉnh sửa, bổ sung một số câu chữ, cụm từ để phù hợp với Luật Chuyển giao công nghệ và Nghị định số 76/2018/NĐ-CP như: Chỉnh sửa "dịch vụ chuyển giao công nghệ" thành "dịch vụ đánh giá, giám định công nghệ"; "Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ chuyển giao công nghệ" thành "Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động dịch vụ đánh giá, giám định công nghệ"; bổ sung cụm từ "nội dung công nghệ trong hợp đồng, hồ sơ dự án đầu tư" vào phần tên điều để phù hợp với Khoản 4 Điều 12 Luật Chuyển giao công nghệ... 

KHCN.jpg

4. Về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả: Ngoài việc quy định chi tiết thẩm quyền của từng lực lượng, Nghị định 51/2019/NĐ-CP còn bổ sung thẩm quyền của người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành, cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về KH&CN thuộc Cục An toàn bức xạ và hạt nhân; Tổng cục và Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng (Điều 28); Lực lượng Quản lý thị trường (Điều 32); đồng thời có quy định về phân định thẩm quyền của từng lực lượng (Điều 35)…

Nghị định số 51/2019/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/8/2019./.

FalseVõ Thị Trâm Anh
Nghị định số 63/2019/NĐ-CP ngày 11/7/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản công; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; dự trữ quốc gia; kho bạc nhà nướcThông tin; Văn bản QPPLTinNghị định số 63/2019/NĐ-CP ngày 11/7/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản công; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; dự trữ quốc gia; kho bạc nhà nước/XLVPHCTDTHPL/PublishingImages/2019-12/thuc-hanh-tiet-kiem-chong-lang-phi_1507102402 - Copy_Key_11122019145806.jpg
12/11/2019 3:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 11/7/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 63/2019/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản công; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; dự trữ quốc gia; kho bạc nhà nước. Nghị định này gồm có 6 Chương và 67 Điều. Sau đây là một số nội dung chính:

Về phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định về các hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực: Quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan, tổ chức, đơn vị; tài sản dự án sử dụng vốn nhà nước; tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân và tài sản kết cấu hạ tầng do Nhà nước đầu tư, quản lý; Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Dự trữ quốc gia; Kho bạc nhà nước.

quydinhxecong.jpg

Về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính

Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản công; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; dự trữ quốc gia; kho bạc nhà nước quy định tại Nghị định này là 01 năm. Riêng các hành vi vi phạm hành chính đối với tài sản công là nhà, đất và tài sản kết cấu hạ tầng do Nhà nước đầu tư, quản lý thì thời hiệu xử phạt là 02 năm.

Về hình thức xử phạt vi phạm hành chính

Theo Nghị định, hình thức xử phạt chính bao gồm: Cảnh cáo và phạt tiền. Mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản công; dự trữ quốc gia; kho bạc nhà nước là 50 triệu đồng đối với cá nhân và 100 triệu đồng đối với tổ chức; trong lĩnh vực thực hành tiết kiệm, chống lãng phí là 100 triệu đồng đối với cá nhân và 200 triệu đồng đối với tổ chức.

thuc-hanh-tiet-kiem-chong-lang-phi_1507102402.jpg

Bên cạnh đó, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, tổ chức, cá nhân vi phạm còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm hành chính. Nghị định cũng quy định về biện pháp khắc phục hậu quả trong các lĩnh vực: quản lý, sử dụng tài sản công; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí: dự trữ quốc gia; và kho bạc nhà nước.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/9/2019 và thay thế Nghị định số 192/2013/NĐ-CP ngày 21/11/2013 của Chính phủ quy định việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; thực hành tiết kiệm, chông lãng phí; dự trữ quốc gia; kho bạc nhà nước và Nghị định số 58/2015/NĐ-CP ngày 16/6/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 192/2013/NĐ-CP ngày 21/11/2013 của Chính phủ quy định việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; dự trữ quốc gia; kho bạc nhà nước.

tiết kiệm.jpg

Đối với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản công; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; dự trữ quốc gia; kho bạc nhà nước xảy ra trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành mà sau đó mới bị phát hiện hoặc đang xem xét, giải quyết thì áp dụng các quy định về xử phạt quy định tại Nghị định này nếu Nghị định này không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn cho cá nhân, tổ chức vi phạm.

FalseVõ Thị Trâm Anh
Nghị định 71/2019/NĐ-CP ngày 30/8/2019 của Chính phủ về việc quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hóa chất và vật liệu nổ công nghiệp Thông tin; Văn bản QPPLTinNghị định 71/2019/NĐ-CP ngày 30/8/2019 của Chính phủ về việc quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hóa chất và vật liệu nổ công nghiệp /XLVPHCTDTHPL/PublishingImages/2019-12/cháy nổ - Copy_Key_10122019110540.jpg
12/10/2019 12:00 PMYesĐã ban hành

Từ ngày 15/10/2019, Nghị định 71/2019/NĐ-CP ngày 30/8/2019 của Chính phủ về việc quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hóa chất và vật liệu nổ công nghiệp có hiệu lực

Nghị định này quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính, thẩm quyền lập biên bản, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo từng chức danh đối với từng hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hóa chất và vật liệu nổ công nghiệp.

cháy nổ.jpg

Theo quy định, mức phạt tiền tối đa đối với một hành vi vi phạm hành chính của cá nhân trong lĩnh vực hóa chất là 50 triệu đồng, trong lĩnh vực vật liệu nổ công nghiệp là 100 triệu đồng. Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức gấp hai lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

Đối với vi phạm quy định về yêu cầu đối với nhà xưởng, kho chứa, thiết bị trong sản xuất, kinh doanh hóa chất, phạt tiền từ 1 triệu đồng đến 2 triệu đồng đối với hành vi không có bảng hiệu và đèn báo tại lối thoát hiểm của nhà xưởng, kho chứa hóa chất.

vat-lieu-no.jpg

Nghị định cũng quy định mức phạt tiền từ 3 đến 5 triệu đồng đối với một trong các hành vi: Không có thông tin thể hiện các đặc tính nguy hiểm của hóa chất theo quy định trong biển báo nguy hiểm treo tại nhà xưởng, kho chứa hóa chất; không treo, đặt biển báo các đặc tính nguy hiểm của hóa chất ở nơi dễ thấy trong nhà xưởng, kho chứa hóa chất; không có bảng nội quy về an toàn hóa chất trong nhà xưởng, kho chứa hóa chất; không treo, đặt bảng hướng dẫn cụ thể về quy trình thao tác an toàn ở vị trí dễ thấy, dễ đọc tại khu vực sản xuất có hóa chất nguy hiểm; sử dụng hệ thống chiếu sáng không đảm bảo đúng quy định, yêu cầu trong sản xuất, cất giữ hóa chất; sử dụng hệ thống thông gió tại nhà xưởng, kho chứa hóa chất không đáp ứng một trong các quy chuẩn, tiêu chuẩn về hệ thống thông gió; không có hệ thống thu lôi chống sét cho nhà xưởng, kho chứa hóa chất không nằm trong khu vực được chống sét an toàn; không có rãnh thu gom và thoát nước cho sàn nhà xưởng, kho chứa hóa chất.

Đồng thời, phạt tiền từ 10 đến 15 triệu đồng đối với một trong các hành vi: Sử dụng bồn chứa ngoài trời không có đê bao hoặc không có các biện pháp kỹ thuật khác để ngăn chặn hóa chất thoát ra môi trường; không thực hiện kiểm định định kỳ đối với máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động trong quá trình sử dụng.

hoa-chat_xsks.jpg

Đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hóa chất và vật liệu nổ công nghiệp xảy ra trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực mà sau đó mới bị phát hiện hoặc đang xem xét, giải quyết thì áp dụng Nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính có hiệu lực tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm để xử lý. Trường hợp Nghị định này không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi đã xảy ra thì áp dụng các quy định của Nghị định này để xử lý.

Đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính đã được ban hành hoặc đã được thi hành xong trước thời điểm nghị định này có hiệu lực thi hành mà cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính còn khiếu nại thì áp dụng quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính, Nghị định số 163/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hóa chất, phân bón và vật liệu nổ công nghiệp và Nghị định số 115/2016/NĐ-CP ngày 08 tháng 7 năm 2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2013/NĐ-CP.

Nghị định này thay thế Nghị định số 163/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hóa chất, phân bón và vật liệu nổ công nghiệp; Nghị định số 115/2016/NĐ-CP ngày 08/7/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2013/NĐ-CP

FalseVõ Thị Trâm Anh
Nghị định 75/2019/NĐ-CP ngày 26/9/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranhVăn bản QPPL; Thông tinTinNghị định 75/2019/NĐ-CP ngày 26/9/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh/XLVPHCTDTHPL/PublishingImages/2019-12/viphamcanhtranh - Copy_Key_10122019102113.png
12/10/2019 11:00 AMYesĐã ban hành

Từ ngày 01/12/2019, Nghị định 75/2019/NĐ-CP ngày 26/9/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh chính thức có hiệu lực.

Theo đó, mức phạt tiền tối đa đối với hành vi vi phạm quy định về cạnh tranh không lành mạnh là 02 tỷ đồng. Mức phạt tiền tối đa quy định dưới đây áp dụng đối với hành vi vi phạm của tổ chức; đối với cá nhân có cùng hành vi vi phạm hành chính về cạnh tranh, mức phạt tiền tối đa bằng một phần hai mức phạt tiền tối đa đối với tổ chức.

viphamcanhtranh.png

Nghị định này dành riêng một mục với 06 điều để quy định về mức xử phạt các hành vi vi phạm quy định về cạnh tranh không lành mạnh. Với hành vi tiết lộ, sử dụng thông tin bí mật trong kinh doanh mà không được phép của chủ sở hữu thông tin đó hoặc tiếp cận thông tin bí mật trong kinh doanh bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật thì bị phạt tiền từ 200 – 300 triệu đồng đối với một hành vi vi phạm.

Trường hợp hành vi do cá nhân thực hiện thì mức phạt đối với cá nhân bằng ½ mức phạt đối với tổ chức, đồng nghĩa với việc cá nhân sẽ bị phạt tối đa 150 triệu đồng.

cạnh tranh.jpg

Đặc biệt, phạt tiền từ 100 – 200 triệu đồng đối với hành vi gián tiếp và từ 200 – 300 triệu đồng đối với hành vi trực tiếp cung cấp thông tin không trung thực về doanh nghiệp khác gây ảnh hưởng xấu đến uy tín, tình trạng tài chính hoặc hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó. Phạt tiền gấp hai lần các mức trên nếu hành vi vi phạm được thực hiện trên phạm vi từ hai tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên.

Bên cạnh việc phạt tiền, tổ chức, cá nhân còn bị tịch thu tang vật, phương tiện cũng như khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm.

 Nghị định này thay thế Nghị định số 71/2014/NĐ-CP ngày 21/7/2014 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh, trừ quy định tại Điều 36 (đã được sửa đổi, bổ sung theo khoản 1 Điều 1 Nghị định số 141/2018/NĐ-CP ngày 08/10/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp).​ ​

FalseVõ Thị Trâm Anh
Nghị định 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đaiThông tin; Văn bản QPPLTinNghị định 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai/XLVPHCTDTHPL/PublishingImages/2019-12/qSDD - Copy_Key_10122019104522.png
12/10/2019 11:00 AMYesĐã ban hành

Ngày 19/11/2019, Chính phủ ban hành Nghị định 91/2019/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.

Nghị định 91/2019/NĐ-CP sẽ thay thế Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; bãi bỏ điểm đ khoản 3 và điểm i khoản 6 Điều 57 của Nghị định số 139/2017/NĐ-CP ngày 27/11/2017 của Chính phủ.

đất đai.jpg

Đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Nghị định này gồm các đối tượng dưới đây có hành vi vi phạm hành chính quy định tại Nghị định này xảy ra trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác: Hộ gia đình, cộng đồng dân cư, cá nhân trong nước, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài (sau đây gọi chung là cá nhân); Tổ chức trong nước, tổ chức nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cơ sở tôn giáo (sau đây gọi chung là tổ chức).

qSDD.png

Ngoài ra, Nghị định 91/2019/NĐ-CP đã bổ sung quy định về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là 2 năm và xác định rõ hành vi đang thực hiện và hành vi đã kết thúc để tính thời hiệu xử phạt

*Quy định về xử phạt các hành vi vi phạm:

– Bổ sung quy định xử phạt hành vi chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất lúa không đúng quy định; sử dụng đất vào mục đích khác thuộc trường hợp phải đăng ký mà không đăng ký theo quy định, mức phạt lên tới 100 triệu đồng.

– Bổ sung hành vi lấn, chiếm đất chưa sử dụng tại khu vực nông thôn, mức phạt lên tới 70 triệu đồng. Đối với hành vi lấn, chiếm đất chưa sử dụng ở khu vực đô thị thì mức phạt gấp 2 lần ở nông thôn, tức là 140 triệu đồng.

– Bổ sung xử phạt hành vi hủy hoại đất, với mức phạt tiền lên tới 150 triệu đồng.

– Bổ sung xử phạt hành vi không sử dụng đất trồng cây hằng năm trong 12 tháng liên tục, đất trồng cây lâu năm trong 18 tháng liên tục, đất trồng rừng trong 24 tháng liên tục, mức phạt tiền lên tới 10 triệu đồng.

đất.jpg

– Về mức phạt tiền trong các hành vi vi phạm thì đều tăng so với Nghị định 102/2014/NĐ-CP.

Nghị định 91/2019/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 05/01/2020./.​

FalseVõ Thị Trâm Anh
Báo cáo số 194/BC-STP ngày 06/12/2019 của Sở Tư pháp về Kết quả rà soát các văn bản quy phạm pháp luật do Trung ương và HĐND, UBND tỉnh ban hành về xử lý vi phạm hành chínhThông tinTinBáo cáo số 194/BC-STP ngày 06/12/2019 của Sở Tư pháp về Kết quả rà soát các văn bản quy phạm pháp luật do Trung ương và HĐND, UBND tỉnh ban hành về xử lý vi phạm hành chính/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/9/2019 4:00 PMNoĐã ban hành
FalsePhòng QLXLVPHC&TDTHPL
Công văn số 2103/STP-XLVPHC&THPL ngày 20/11/2019 của Sở Tư pháp về việc báo cáo số liệu, kết quả công tác THPL về XLVPHC năm 2019Văn bản điều hànhTinCông văn số 2103/STP-XLVPHC&THPL ngày 20/11/2019 của Sở Tư pháp về việc báo cáo số liệu, kết quả công tác THPL về XLVPHC năm 2019/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
11/20/2019 4:00 PMNoĐã ban hành
FalsePhòng QLXLVPHC&TDTHPL
RÀ SOÁT VĂN BẢN QPPL VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH NĂM 2019Văn bản điều hànhTinRÀ SOÁT VĂN BẢN QPPL VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH NĂM 2019/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
11/6/2019 3:00 PMNoĐã ban hành
FalsePhòng QLXLVPHC&TDTHPL
Báo cáo số 166/BC-UBND ngày 21/6/2019 của UBND tỉnh Báo cáo công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trên địa bàn tỉnh Bình Dương 6 tháng đầu năm 2019 Thông tinTinBáo cáo số 166/BC-UBND ngày 21/6/2019 của UBND tỉnh Báo cáo công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trên địa bàn tỉnh Bình Dương 6 tháng đầu năm 2019 /Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/29/2019 3:00 PMNoĐã ban hành
FalsePhòng QLXLVPHC&TDTHPL
1 - 30Next
Ảnh
Video
Audio