Công chứng
 
Công chứng hợp đồng thuê căn hộ nhà chung cư - Trình tự thực hiện: Bước 1: Người có yêu cầu công chứng nộp hồ sơ yêu cầu công chứng hợp đồng thuê căn hộ nhà chung cư cho công chứng viên tại các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Bước 2: - Công chứng viên trực tiếp tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ của người yêu cầu công chứng theo thứ tự. Việc kiểm ...
 
Công chứng hợp đồng thuê tài sản gắn liền với đất - Trình tự thực hiện: Bước 1: Người có yêu cầu công chứng nộp hồ sơ yêu cầu công chứng hợp đồng thuê tài sản gắn liền với đất cho công chứng viên tại các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Bước 2: - Công chứng viên trực tiếp tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ của người yêu cầu công chứng theo thứ tự. ...
 
 Công chứng hợp đồng mua bán căn hộ nhà chung cư - Trình tự thực hiện: Bước 1: Người có yêu cầu công chứng nộp hồ sơ yêu cầu công chứng hợp đồng mua bán căn hộ nhà chung cư cho công chứng viên tại các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Bước 2: - Công chứng viên trực tiếp tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ của người yêu cầu công chứng theo thứ tự. ...
 
Công chứng hợp đồng tặng cho căn hộ nhà chung cư - Trình tự thực hiện: Bước 1: Người có yêu cầu công chứng nộp hồ sơ yêu cầu công chứng hợp đồng tặng cho căn hộ nhà chung cư cho công chứng viên tại các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Bước 2: - Công chứng viên trực tiếp tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ của người yêu cầu công chứng theo thứ tự. ...
 
 Công chứng hợp đồng mua bán tài sản gắn liền với đất - Trình tự thực hiện: Bước 1: Người có yêu cầu công chứng nộp hồ sơ yêu cầu công chứng hợp đồng mua bán tài sản gắn liền với đất cho công chứng viên tại các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Bước 2: - Công chứng viên trực tiếp tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ của người yêu cầu công chứng ...
 
Công chứng hợp đồng tặng cho tài sản gắn liền với đất - Trình tự thực hiện: Bước 1: Người có yêu cầu công chứng nộp hồ sơ yêu cầu công chứng hợp đồng tặng cho tài sản gắn liền với đất cho công chứng viên tại các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Bước 2: - Công chứng viên trực tiếp tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ của người yêu cầu công chứng theo ...
 
Công chứng hợp đồng thuê quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. - Trình tự thực hiện: Bước 1: Người có yêu cầu công chứng nộp hồ sơ yêu cầu công chứng hợp đồng thuê quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho công chứng viên tại các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Bước 2: - Công chứng viên trực tiếp tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ ...
 
 Công chứng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. - Trình tự thực hiện: Bước 1: Người có yêu cầu công chứng nộp hồ sơ yêu cầu công chứng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho công chứng viên tại các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Bước 2: - Công chứng viên trực tiếp tiếp nhận, ...
 
Công chứng Hợp đồng chuyển nhượng dự án - Trình tự thực hiện: Bước 1: Người có yêu cầu công chứng nộp hồ sơ yêu cầu công chứng hợp đồng chuyển nhượng dự án cho công chứng viên tại các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Bước 2: - Công chứng viên trực tiếp tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ của người yêu cầu công chứng theo thứ tự. Việc kiểm tra bao gồm ...
 
 Văn bản thỏa thuận cử đại diện đăng ký quyền sử dụng đất - Trình tự thực hiện: Bước 1: Người có yêu cầu công chứng nộp hồ sơ yêu cầu công chứng văn bản thoả thuận cử đại diện đăng ký quyền sử dụng đất cho công chứng viên tại các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Bước 2: - Công chứng viên trực tiếp tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ của người ...
 
 
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Nội dung
Phân loại
  
  
  
Kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ tưTinKiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ tư/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
4/7/2021 5:00 PMNoĐã ban hành

Thực hiện Công văn số 963/BTP-HĐKT ngày 02/4/2021 của Hội đồng kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ tư - Bộ Tư pháp về việc tổ chức kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ tư, ngày 07/4/2021 Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương đã có Công văn số 486/STP-BTTP thông báo như sau:

1. Kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ tư được tổ chức trong 04 ngày, từ ngày 25/4 đến ngày 28/4/2021 tại Học viện Tư pháp cơ sở Thành phố Hồ Chí Minh, số 821 Kha Vạn Cân, phường Linh Tây, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh cho các thí sinh đăng ký tập sự tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khu vực phía Nam (từ thành phố Đà Nẵng trở vào).

2. Theo Công văn số 963/BTP-HĐKT, tỉnh Bình Dương có 49 thí sinh tham dự kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ tư và có 02 cá nhân không đủ điều kiện tham dự kỳ kiểm tra (có danh sách kèm theo).

Đề nghị các tổ chức hành nghề công chứng thông báo đầy đủ, kịp thời cho những người tập sự tại tổ chức mình được biết và thực hiện./.

Nội dung chi tiết vui lòng xem tại file đính kèm

CV_486_STP-BTTP.signed.pdf

CV 963 về KH tổ chức kiểm tra.pdf

QĐ 478 ban hành KH tổ chức kiểm tra.pdf

QĐ 518 ban hành Nội quy kỳ kiểm tra.pdf

Hướng dẫn ôn tập.pdf

Thông tinFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Danh sách các tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 02/4/2021)Danh sách các tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 02/4/2021)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
4/5/2021 11:00 AMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Danh sách các tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 15/3/2021)Danh sách các tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 15/3/2021)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
3/16/2021 12:00 PMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Khái quát tình hình tổ chức và hoạt động công chứng tại tỉnh Bình Dương năm 2020TinKhái quát tình hình tổ chức và hoạt động công chứng tại tỉnh Bình Dương năm 2020/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
2/26/2021 9:00 AMNoĐã ban hành

Tính đến ngày 31/12/2020, trên địa bàn tỉnh Bình Dương có tổng số 32 tổ chức hành nghề công chứng, gồm: 02 Phòng công chứng và 30 Văn phòng công chứng. Số công chứng viên đang hành nghề tại các tổ chức hành nghề công chứng: 83 (tăng 08 công chứng viên so với năm 2019). Năm 2020, các tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện công chứng 279.026 vụ việc với tổng số phí và thù lao công chứng thu được gần 154 tỷ đồng; chứng thực bản sao từ bản chính: 704.358 bản, chứng thực chữ ký: 55.247 việc với tổng số phí chứng thực hơn 6 tỷ đồng. Các tổ chức hành nghề công chứng đã đóng góp hơn 14 tỷ đồng vào ngân sách Nhà nước/thuế.

Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động công chứng đạt được nhiều kết quả tích cực, cụ thể như sau:

- Về tuyên truyền, phổ biến các quy định pháp luật về công chứng: Sở Tư pháp đã phát hành 30.000 tờ gấp pháp luật phổ biến quy định về thẩm quyền ngăn chặn giao dịch về quyền sử dụng đất, công chứng ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng. Phối hợp với Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh Bình Dương thực hiện 01 chương trình "Pháp luật và cuộc sống" nhằm kịp thời đáp ứng nhu cầu tìm hiểu pháp luật và giải đáp các khó khăn, vướng mắc của người dân liên quan đến công chứng.

- Về ban hành, tham mưu ban hành các văn bản liên quan đến tổ chức và hoạt động công chứng:

Trong năm 2020, Sở Tư pháp đã ban hành nhiều văn bản về lĩnh vực công chứng, như: chủ động ban hành công văn chấn chỉnh tổ chức và hoạt động công chứng; triển khai thực hiện Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương (ban hành kèm theo Quyết định số 29/2019/QĐ-UBND ngày 03/12/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh); ban hành các văn bản trả lời, phúc đáp các sở, ngành và tổ chức về tháo gỡ khó khăn, vướng mắc liên quan đến công chứng; kịp thời báo cáo theo yêu cầu của Bộ Tư pháp,...

Bên cạnh đó, Sở Tư pháp cũng đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Báo cáo tổng kết 05 năm thi hành Luật Công chứng năm 2014 trên địa bàn tỉnh Bình Dương, Quyết định số 27/2020/QĐ-UBND ngày 05/11/2020 ban hành Quy định về tiêu chí xét duyệt hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

          - Về công tác phối hợp với các cơ quan có liên quan đến tổ chức và hoạt động công chứng: Sở Tư pháp tổ chức họp theo Quy chế phối hợp giữa Sở Tư pháp và Hội Công chứng viên tỉnh nhằm đánh giá kết quả thực hiện Quy chế phối hợp trong năm 2019; việc sửa đổi, bổ sung Quy chế phối hợp giữa Sở Tư pháp và Hội công chứng viên ký kết ngày 04/5/2016; trao đổi một số nội dung liên quan đến Cơ sở dữ liệu công chứng; việc tổ chức Đại hội bất thường của Hội Công chứng viên tỉnh. Tham gia phối hợp với Hội Công chứng viên tỉnh tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng cho đội ngũ công chứng viên và chuyên viên của các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng diễn ra trong 3 ngày với 04 chuyên đề. Sở Tư pháp đã cấp Giấy chứng nhận hoàn thành Chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng năm 2020 cho 119 cá nhân..

- Chế độ kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo về tổ chức hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng:

+ Về thanh tra, kiểm tra

Sở Tư pháp đã tổ chức 01 cuộc thanh tra hành chính đối với 01 Phòng Công chứng, 01 cuộc thanh tra chuyên ngành đối với 01 Văn phòng công chứng, 01 cuộc kiểm tra đột xuất theo đơn của công dân đối với 01 Văn phòng công chứng và 01 cuộc kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra đối với 01 Văn phòng công chứng. Qua thanh tra, Chánh Thanh tra Sở Tư pháp ban hành 04 quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với 01 công chứng viên và 03 Văn phòng công chứng với tổng số tiền phạt là 23.500.000 đồng, kèm theo biện pháp khắc phục hậu quả với số tiền 1.020.000 đồng.

Công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng bị xử phạt đã nghiêm túc chấp hành quyết định xử phạt của Sở Tư pháp; khắc phục những sai sót theo kết luận của Sở Tư pháp; tổ chức họp rút kinh nghiệm đối với công chứng viên và chuyên viên thuộc tổ chức hành nghề công chứng.    

+ Về giải quyết khiếu nại, tố cáo

Trong năm 2020, Sở Tư pháp tiếp nhận 12 đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Giám đốc Sở, gồm: 07 tố cáo, 05 đề nghị, kiến nghị, phản ánh (trong đó: kỳ trước chuyển sang 01 tố cáo, 01 kiến nghị). Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo được thực hiện nghiêm túc và đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. 100% đơn thư tiếp nhận đã được xử lý, không có đơn tồn đọng, kéo dài, không phát sinh khiếu nại đông người, phức tạp. Các trường hợp kiến nghị, phản ánh của cá nhân, tổ chức liên quan đến hoạt động công chứng Sở Tư pháp đều có văn bản trả lời hoặc chuyển đến cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có thẩm quyền thụ lý, giải quyết./.

Thông tinFalseTăng Thị Hà Chi
Danh sách các tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 22/02/2021)Danh sách các tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 22/02/2021)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
2/23/2021 9:00 AMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Thông báo về việc tiếp nhận hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng công chứngTinThông báo về việc tiếp nhận hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng công chứng/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
1/15/2021 5:00 PMNoĐã ban hành

Thông báo về việc tiếp nhận hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng công chứng​: TB 76 STP-BTTP.signed.pdf

Thông tin; Văn bản Quy phạm Pháp luậtFalsePhòng Hành chính Tư pháp
Thông báo tiếp nhận hồ sơ đăng ký kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ tưTinThông báo tiếp nhận hồ sơ đăng ký kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ tư/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
1/7/2021 11:00 AMNoĐã ban hành

Thực hiện Công văn số 4927/BTP-BTTP ngày 31/12/2020 của Bộ Tư pháp về việc tổ chức kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ tư, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương đã có Công văn số 21/STP-BTTP ngày 06/01/2021 về việc tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham dự kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ tư. Theo đó:​​

1. Đối tượng đăng ký tham dự kiểm tra:​

a) Người đã hoàn thành tập sự theo quy định của Luật Công chứng và Thông tư số 04/2015/TT-BTP chậm nhất là ngày 31/12/2020;

b) Người có tên trong Danh sách không đủ điều kiện tham dự kỳ kiểm tra trước hoặc không đạt yêu cầu trong kỳ kiểm tra kết quả tập sự trước, trừ trường hợp không đạt yêu cầu trong cả ba kỳ kiểm tra đã được tổ chức.

2. Hồ sơ đăng ký tham dự kiểm tra:

a) Giấy đăng ký tham dự kiểm tra theo mẫu ban hành kèm theo Thông tư số 04/2015/TT-BTP (trường hợp đã từng tham dự kiểm tra hoặc được hoãn tham dự kỳ kiểm tra trước thì ghi rõ trong Giấy đăng ký tham dự kiểm tra);

b) Báo cáo kết quả tập sự hành nghề công chứng quy định tại Điều 8 của Thông tư số 04/2015/TT-BTP;

c) Bản sao giấy tờ chứng minh đã nộp phí thẩm định tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề công chứng theo quy định, với các thông tin như sau:

Tên tài khoản: Cục Bổ trợ tư pháp.

Số tài khoản: 3511.0.1118188 mở tại Kho bạc nhà nước quận Ba Đình, thành phố Hà Nội

Ngân hàng ủy nhiệm thu: Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (Vietinbank), chi nhánh Ba Đình

Số tiền: 3.500.000 đồng/trường hợp.

Nội dung: Nộp phí thẩm định tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề công chứng lần thứ 4 cho Ông/Bà...., đăng ký tập sự tại tỉnh/thành phố...... (Người nộp phí tự chịu trách nhiệm nếu trên giấy tờ không đủ thông tin để có thể xác định được người đăng ký tham dự kiểm tra).

3. Thời gian tiếp nhận hồ sơ: từ ngày 06/01/2021 đến ngày 15/01/2021.

4. Lưu ý:

- Các trường hợp Báo cáo kết quả tập sự sơ sài, không đầy đủ nội dung theo quy định, Báo cáo không thể hiện được kết quả của quá trình tập sự hoặc sao chép Báo cáo của người khác, xác nhận sai về thời gian, kết quả tập sự hoặc có các hành vi không trung thực, gian dối khác… trong hồ sơ đăng ký tham dự kiểm tra thì sẽ không được tham dự kỳ kiểm tra và tùy theo tính chất, mức độ sẽ bị xem xét, xử lý theo quy định.

- Đối với những người tập sự đã nộp hồ sơ đăng ký tham dự kiểm tra về Sở Tư pháp mà chưa nộp phí, đề nghị gửi bổ sung bản sao giấy tờ chứng minh đã nộp phí để hoàn thiện hồ sơ.

Sở Tư pháp đề nghị các tổ chức hành nghề công chứng thông báo cho những người tập sự tại tổ chức mình được biết và thực hiện.

File đính kèm: Công văn số CV 4927-BTP.pdf

                        Công văn số CV_21_STP-BTTP.signed.pdf


Thông tinFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Nghị quyết số 172/NQ-CP ngày 19/11/2020 của Chính phủ về chính sách phát triển nghề công chứngTinNghị quyết số 172/NQ-CP ngày 19/11/2020 của Chính phủ về chính sách phát triển nghề công chứng/bo-tro-tu-phap/PublishingImages/2021-02/bttp-2021-NQ 172_Key_26022021102347.jpg
1/6/2021 11:00 AMNoĐã ban hành

Ngày 19/11/2020, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 172/NQ-CP về chính sách phát triển nghề công chứng với mục tiêu Phát triển nghề công chứng ổn định, bền vững nhằm tạo thuận lợi cho cá nhân, tổ chức tiếp cận dịch vụ công chứng, bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia hợp đồng, giao dịch, phòng ngừa tranh chấp, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức; đổi mới hoạt động công chứng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và cải cách tư pháp, đưa hoạt động công chứng Việt Nam hội nhập với khu vực và thế giới.

bttp-2021-NQ 172.jpg

Nghị quyết số 172/NQ-CP đã đề ra 04 định hướng và 04 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu để thực hiện chính sách phát triển nghề công chứng, đồng thời phân công trách nhiệm đối với các Bộ, ngành, địa phương. Theo đó:

- Về định hướng: Phát triển đội ngũ công chứng viên có chất lượng, số lượng phù hợp với nhu cầu xã hội. Phát triển tổ chức hành nghề công chứng có kiểm soát gắn với địa bàn dân cư, bảo đảm đáp ứng đầy đủ, kịp thời yêu cầu công chứng của cá nhân, tổ chức. Khuyến khích cá nhân, tổ chức thực hiện công chứng hợp đồng, giao dịch để bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia hợp đồng, giao dịch, góp phần giảm tải công việc của cơ quan hành chính, giảm biên chế và chi ngân sách Nhà nước. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với nghề công chứng, bảo đảm vai trò định hướng, điều tiết của Nhà nước trong việc hỗ trợ phát triển nghề công chứng; gắn trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về công chứng tại địa phương trong việc kiểm soát phát triển tổ chức hành nghề công chứng; chuẩn hóa quy trình, thủ tục công chứng cùng với việc tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động công chứng tiến tới thực hiện công chứng hợp đồng, giao dịch trên môi trường điện tử; nâng cao trách nhiệm trong công tác phối hợp của các Bộ, ngành với Bộ Tư pháp về tổ chức và hoạt động công chứng, đặc biệt là trong việc chia sẻ thông tin, liên thông các thủ tục hành chính; đấu tranh phòng chống tội phạm, lợi dụng công chứng để hợp pháp hóa các giao dịch bất hợp pháp. Phát huy trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên, nhất là trong việc đấu tranh với các hành vi tiêu cực trong hoạt động nghề nghiệp công chứng.

- Về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu: Hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật để tạo điều kiện cho hoạt động công chứng phát triển ổn định, bền vững. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động công chứng, đáp ứng yêu cầu của việc xây dựng Chính phủ điện tử và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư. Phát triển tổ chức hành nghề công chứng bảo đảm ổn định, bền vững gắn với sự phát triển kinh tế - xã hội theo địa bàn cấp huyện. Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với tổ chức và hoạt động công chứng, phát huy vai trò của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên./.

Thông tinFalseTăng Thị Hà Chi
Sở Tư pháp cấp Giấy chứng nhận hoàn thành chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng năm 2020 cho 119 cá nhânTinSở Tư pháp cấp Giấy chứng nhận hoàn thành chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng năm 2020 cho 119 cá nhân/bo-tro-tu-phap/PublishingImages/2020-12/bttp-BDCC 2020-6_Key_01122020104736.jpg
11/25/2020 11:00 AMNoĐã ban hành

Tiếp nối Chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng năm 2020, trong hai ngày (21 và 22 tháng 11 năm 2020), Sở Tư pháp phối hợp với Hội công chứng viên tỉnh Bình Dương tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng tại Hội trường E2 Trường Chính trị tỉnh Bình Dương.

Các học viên đã được nghe TS. Tuấn Đạo Thanh - Chủ tịch Hiệp hội Công chứng viên Việt Nam trao đổi, giải đáp các khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn hoạt động công chứng, chứng thực; ông Hoàng Mạnh Thắng - Trưởng Phòng công chứng số 7 Thành phố Hồ Chí Minh giới thiệu một số cách thức nhận biết giấy tờ giả dưới góc độ tác nghiệp của công chứng viên.

bttp-BDCC 2020-8.jpg 

(TS. Tuấn Đạo Thanh - Chủ tịch Hiệp hội Công chứng viên Việt Nam)

bttp-BDCC 2020-9.jpg

(Ông Hoàng Mạnh Thắng - Trưởng Phòng công chứng số 7 Thành phố Hồ Chí Minh)

Kết thúc lớp bồi dưỡng, Sở Tư pháp đã cấp Giấy chứng nhận hoàn thành chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng năm 2020 cho 119 cá nhân, gồm 85 công chứng viên và 34 chuyên viên công chứng./.

bttp-BDCC 2020-6.jpg

bttp-BDCC 2020-10.jpg

(Ông Lý Thanh Thoại - Trưởng Phòng Bổ trợ tư pháp, Sở Tư pháp và bà Nguyễn Thị Phương Ngọc - Chủ tịch Hội công chứng viên tỉnh trao Giấy chứng nhận cho các công chứng viên)

Thông tin; Tin ngành tư phápFalseTăng Thị Hà Chi
Bình Dương ban hành Quy định về tiêu chí xét duyệt hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng công chứngTinBình Dương ban hành Quy định về tiêu chí xét duyệt hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng công chứng/bo-tro-tu-phap/PublishingImages/2020-11/bttp-thanhlapvpcc-2020_Key_26112020110112.jpg
11/24/2020 9:00 AMNoĐã ban hành

Ngày 05/11/2020, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 27/2020/QĐ-UBND về việc ban hành Quy định về tiêu chí xét duyệt hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/12/2020 và bãi bỏ Quyết định số 2544/QĐ-UBND ngày 05/10/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh. Quy định về tiêu chí xét duyệt hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng công chứng được bố cục 04 Chương, 25 Điều. So với trước đây, Quyết định số 27 có một số điểm mới như sau:

- Về nguyên tắc xét duyệt hồ sơ (Điều 3): Ngày 15/6/2018, Quốc hội thông qua Luật số 28/2018/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 Luật có liên quan đến quy hoạch. Điều 2 của Luật này sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng năm 2014, theo đó, bãi bỏ các quy định có liên quan đến Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng đến năm 2020. Vì vậy, Quyết định số 27 quy định hồ sơ xét duyệt phải tuân theo quy định của Luật Công chứng, Quy định này và các văn bản pháp luật khác có liên quan.

- Về tiêu chí xét duyệt hồ sơ (từ Điều 5 đến Điều 19): Để phù hợp với tình hình thực tiễn, Quyết định số 27 đã có sự thay đổi đáng kể trong quy định về tiêu chí xét duyệt hồ sơ, chẳng hạn như: đối với tiêu chí bắt buộc, diện tích trụ sở của Văn phòng công chứng phải có tổng diện tích tối thiểu là 140 m2 thay vì 100 m2 như trước đây; đối với các tiêu chí tính điểm thì điều chỉnh cơ cấu điểm số của một số tiêu chí,…

- Bổ sung quy định mới về tính bảo đảm thực thi của Đề án thành lập Văn phòng công chứng, theo đó Đề án thành lập Văn phòng công chứng thể hiện được tính khả thi, cho thấy sự cần thiết thành lập Văn phòng công chứng; có số liệu, bảng biểu, hình ảnh minh họa và đảm bảo đầy đủ các nội dung theo quy định (Điều 19).

- Quy định rõ các trường hợp không tiếp nhận hồ sơ thành lập Văn phòng công chứng và không được tính điểm (Điều 20).

Việc ban hành Quy định về tiêu chí xét duyệt hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng công chứng nhằm tạo khung pháp lý rõ ràng, thống nhất cho việc xét duyệt hồ sơ thành lập Văn phòng công chứng trên địa bàn tỉnh, đảm bảo sự công bằng, công khai, khách quan và đúng quy định của pháp luật. Các Văn phòng công chứng được lựa chọn thành lập khi đi vào hoạt động đảm bảo tính ổn định, có chất lượng đáp ứng yêu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch của cá nhân, tổ chức.

Hiện nay, Bình Dương đã có 32 tổ chức hành nghề công chứng (02 Phòng công chứng và 30 Văn phòng công chứng) được thành lập và đi vào hoạt động ổn định, được phân bố tại 9/9 địa bàn cấp huyện./.

bttp-QD27.2020.jpg

Thông tin; Tin ngành tư phápFalseTăng Thị Hà Chi
Danh sách các tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 17/11/2020)Danh sách các tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 17/11/2020)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
11/17/2020 11:00 AMNoĐã ban hànhDanh sáchFalseTăng Thị Hà Chi
Khai giảng lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng năm 2020TinKhai giảng lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng năm 2020/bo-tro-tu-phap/PublishingImages/2020-11/bttp-BDCC 2020-1_Key_24112020083941.jpg
11/17/2020 9:00 AMNoĐã ban hành

Thực hiện Thông tư số 06/2015/TT-BTP ngày 15/6/2015 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng về việc bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng hàng năm cho công chứng viên, ngày 15/11/2020 Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương phối hợp với Hội công chứng viên tỉnh tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng tại Hội trường E2 Trường Chính trị tỉnh Bình Dương. Tham dự khai giảng lớp bồi dưỡng, về phía Sở Tư pháp có bà Nguyễn Anh Hoa - Giám đốc Sở Tư pháp, Phòng Bổ trợ tư pháp, Thanh tra Sở Tư pháp; về phía Hội công chứng viên tỉnh có bà Nguyễn Thị Phương Ngọc - Chủ tịch Hội công chứng viên.

bttp-BDCC 2020-1.jpg

(Bà Nguyễn Anh Hoa - Giám đốc Sở Tư pháp phát biểu khai giảng lớp bồi dưỡng)

Phát biểu khai giảng lớp học, bà Nguyễn Anh Hoa thông tin về tình hình tổ chức và hoạt động công chứng trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua, mặc dù bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 nhưng hoạt động công chứng tại Bình Dương vẫn duy trì được sự ổn định và phát triển. Để phát huy những kết quả đạt được, đồng chí đề nghị các công chứng viên phải tuân thủ nguyên tắc hành nghề, đạo đức hành nghề công chứng, tuân thủ quy định của Luật Công chứng và các quy định khác có liên quan. Bên cạnh đó, đồng chí cũng biểu dương, đánh giá cao những nỗ lực của Hội công chứng viên trong công tác tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng: số lượng học viên tăng dần theo từng năm, cách thức tổ chức bồi dưỡng ngày càng bài bản hơn, lựa chọn chuyên đề bồi dưỡng đáp ứng được nhu cầu của các học viên.

bttp-BDCC 2020-3.jpg

(Bà Ngô Thùy Trang - Chánh Thanh tra Sở Tư pháp)

Tại lớp bồi dưỡng, bà Ngô Thùy Trang - Chánh Thanh tra Sở Tư pháp nhắc nhở, chấn chỉnh một số sai sót thường gặp trong quá trình thanh tra, kiểm tra và giới thiệu một số điểm mới của Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 của Chính phủ liên quan đến xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực công chứng. Các học viên đã được nghe ông Nguyễn Trí Hòa - Ủy viên Ban Thường vụ, Tổng Thư ký Hiệp hội công chứng viên Việt Nam trình bày về chế định thừa kế; công chứng các giao dịch liên quan đến tài sản của vợ chồng; thế chấp, chuyển nhượng dự án và tài sản hình thành trong tương lai; giải đáp các khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn hoạt động công chứng, chứng thực.

bttp-BDCC 2020-4.jpg

ng Nguyễn Trí Hòa - Ủy viên Ban Thường vụ, Tổng Thư ký Hiệp hội công chứng viên Việt Nam)

Lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng có sự tham gia của hơn 130 công chứng viên, chuyên viên tại các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh và một số tỉnh như Tây Ninh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Đắk Lắk./.

bttp-BDCC 2020-5.jpg

Thông tin; Tin ngành tư phápFalseTăng Thị Hà Chi
Quyết định số 27/2020/QĐ-UBND ngày 05/11/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quy định về tiêu chí xét duyệt hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng công chứng trên địa bàn tỉnh Bình DươngQuyết định số 27/2020/QĐ-UBND ngày 05/11/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quy định về tiêu chí xét duyệt hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
11/16/2020 11:00 AMNoĐã ban hành

Nội dung chi tiết ​Quyet dinh 27-2020.pdf

Văn bản Quy phạm Pháp luậtFalseTăng Thị Hà Chi
Thực hiện Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 25/5/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường phòng ngừa vi phạm pháp luật trong hoạt động công chứng, chứng thực, thừa phát lạiTinThực hiện Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 25/5/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường phòng ngừa vi phạm pháp luật trong hoạt động công chứng, chứng thực, thừa phát lại/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/9/2020 4:00 PMNoĐã ban hành

Thời gian qua, tình hình tội phạm và vi phạm pháp luật liên quan đến hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh diễn biến phức tạp, gia tăng nhanh về số lượng, vụ việc, phạm vi, quy mô, tính chất và thiệt hại ngày càng nghiêm trọng. Để tăng cường phòng ngừa, ngăn chặn hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo chỉ đạo của Bộ Tư pháp tại Công văn số 2726/BTP-BTTP ngày 28/7/2020 về việc triển khai Chỉ thị 21/CT-TTg về tăng cường phòng ngừa, xử lý hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản và chấn chỉnh hoạt động công chứng, thừa phát lại và Kế hoạch số 4152/KH-UBND ngày 25/8/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh về tăng cường hoạt động đấu tranh phòng ngừa, xử lý hoạt động lừa đảo, chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Bình Dương, Sở Tư pháp đã ban hành Công văn số 1718/STP-BTTP ngày 08/10/2020 về thực hiện Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 25/5/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường phòng ngừa vi phạm pháp luật trong hoạt động công chứng, chứng thực, thừa phát lại./.

Nội dung chi tiết xem tại file đính kèm: Chi thi so 21-CT-TTg.pdf

                                                                Ke hoạch 4152-KH-UBND.pdf

                                                               CV_1718_STP-BTTP.signed.pdf

bttp-CV1718.jpg

Thông tinFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Thông tin về kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ tưTinThông tin về kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ tư/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/9/2020 3:00 PMNoĐã ban hành

​Thực hiện Công văn số 3566/BTP-BTTP ngày 25/9/2020 của Bộ Tư pháp về việc chưa tổ chức kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ tư và Công văn số 3681/BTP-BTTP ngày 02/10/2020 của Bộ Tư pháp về việc thông tin liên quan đến kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ tư, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương đã có Công văn số 1717/STP-BTTP đề nghị Hội Công chứng viên tỉnh Bình Dương, các tổ chức hành nghề công chứng​:

1. Đối với các tổ chức hành nghề công chứng

Đề nghị các tổ chức hành nghề công chứng thông báo kịp thời cho những người tập sự tại tổ chức mình biết các thông tin sau:

- Chưa tổ chức kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ tư.

Theo nội dung Công văn số 3566/BTP-BTTP, đến nay, các bước chuẩn bị cho kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ tư đã và đang được triển khai thực hiện. Tuy nhiên, trước tình hình dịch COVID-19 tiếp tục diễn biến khó lường, tiềm ẩn nhiều nguy cơ lây lan ở những địa điểm tập trung đông người, do vậy việc tổ chức kỳ kiểm tra với số lượng thí sinh đông tại thời điểm này là chưa phù hợp. Thời gian, địa điểm tổ chức kỳ kiểm tra sẽ được Hội đồng kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ tư quyết định và thông báo chính thức sau khi dịch COVID-19 được kiểm soát hoàn toàn, bảo đảm điều kiện tổ chức kỳ kiểm tra an toàn, hiệu quả.

- Bộ Tư pháp, Hội đồng kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ tư không có chủ trương tổ chức ôn thi hay giới hạn phạm vi cần ôn. Mọi thông tin về kỳ kiểm tra sẽ được thông báo cho Sở Tư pháp, đồng thời công bố công khai trên Cổng Thông tin điện tử Bộ Tư pháp. Vì vậy, người đăng ký tham dự kiểm tra chỉ theo dõi, cập nhật các thông tin, tài liệu chính thức do Bộ Tư pháp, Hội đồng kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ tư thông báo.

2. Đối với Hội Công chứng viên tỉnh Bình Dương

Phối hợp với Sở Tư pháp kiểm tra, xác minh thông tin về việc "một số người tự nhận là người ra đề thi, người sẽ chấm thi…đứng ra tổ chức ôn thi theo nhóm nhỏ, nhóm kín; người tham gia ôn thi nộp một số tiền lớn để được giới hạn phạm vi cần ôn và chỉ cần học trong phạm vi được giới hạn là bảo đảm thi đỗ".

Trường hợp phát hiện vi phạm thì kịp thời báo cáo Sở Tư pháp để xem xét, xử lý theo quy định pháp luật./.

File đính kèm: CV 3566-BTp-BTTP.pdf

                        CV 3681-BTP-BTTP.pdf

                        CV_1717_STP-BTTP.signed.pdf

 bttp-CV1717.jpg

Thông tinFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Thông báo về việc thay đổi thông tin tài khoản thu phí, lệ phí trong lĩnh vực bổ trợ tư phápTinThông báo về việc thay đổi thông tin tài khoản thu phí, lệ phí trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp/bo-tro-tu-phap/PublishingImages/2020-11/bttp-TB 961-2020_Key_24112020093236.jpg
9/30/2020 10:00 AMNoĐã ban hành

​Ngày 24/9/2020, Cục Bổ trợ tư pháp - Bộ Tư pháp đã ban hành Thông báo số 961/TB-BTTP về việc thay đổi thông tin tài khoản thu phí, lệ phí trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp. Theo đó, kể từ ngày 18/9/2020 thông tin tài khoản thu phí, lệ phí trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp của Cục Bổ trợ tư pháp được thay đổi như sau:

1. Tên tài khoản: Cục Bổ trợ tư pháp

2. Số tài khoản: 3511.0.1118188

3. Mở tại Kho bạc nhà nước quận Ba Đình, thành phố Hà Nội

4. Ngân hàng ủy nhiệm thu: Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (Vietinbank), chi nhánh Ba Đình./.

Đính kèm Thong bao so 961-TB-BTTP.pdf.

bttp-TB961.jpg

Thông tinFalseTăng Thị Hà Chi
Danh sách các tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 25/9/2020)Danh sách các tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 25/9/2020)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
9/25/2020 3:00 PMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Họp theo Quy chế phối hợp giữa Sở Tư pháp và Hội Công chứng viên tỉnh Bình DươngTinHọp theo Quy chế phối hợp giữa Sở Tư pháp và Hội Công chứng viên tỉnh Bình Dương/bo-tro-tu-phap/PublishingImages/2020-09/bttp-hopHoiCCV-2020_Key_03092020140903.jpg
9/3/2020 3:00 PMNoĐã ban hành

Thực hiện Quy chế phối hợp trong công tác quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương, chiều ngày 14/8/2020, tại Hội trường Trung tâm hành chính tỉnh Bình Dương đã diễn ra cuộc họp theo Quy chế phối hợp giữa Sở Tư pháp và Hội Công chứng viên. Bà Nguyễn Anh Hoa - Giám đốc Sở Tư pháp - chủ trì cuộc họp. Tham dự họp có đại diện các Phòng chuyên môn thuộc Sở: Bổ trợ tư pháp, Thanh tra Sở, Văn phòng Sở và Ban Chấp hành Hội Công chứng viên (bà Nguyễn Thị Phương Ngọc - Chủ tịch Hội Công chứng viên, bà Phạm Thị Mỹ Lệ - Phó Chủ tịch Hội Công chứng viên, ông Đoàn Cao Thái ông Nguyễn Hữu Tài - Thành viên Ban Chấp hành Hội Công chứng viên).

bttp-hopHoiCCV-2020.jpg

Tại cuộc họp, ông Lý Thanh Thoại - Trưởng Phòng Bổ trợ tư pháp đã thông qua báo cáo tóm tắt về kết quả thực hiện Quy chế phối hợp giữa Sở Tư pháp và Hội Công chứng viên trong năm 2019 và kết quả thực hiện ý kiến kết luận của Giám đốc Sở Tư pháp tại cuộc họp ngày 12/4/2019. Nhìn chung, công tác phối hợp giữa Sở Tư pháp và Hội Công chứng viên trong năm 2019 tiếp tục đạt được kết quả tốt, công tác phối hợp đã đi vào nề nếp, chặt chẽ và hiệu quả hơn. Việc thực hiện ý kiến kết luận của Giám đốc Sở Tư pháp tại cuộc họp ngày 12/4/2019 đã được Phòng chuyên môn của Sở, BCH Hội Công chứng viên nghiêm túc thực hiện, hầu hết đã hoàn thành. Bà Ngô Thùy Trang - Chánh Thanh tra Sở Tư pháp thông tin về tình hình đơn thư khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực công chứng thời gian qua.

Ban Chấp hành Hội Công chứng viên cơ bản nhất trí với đánh giá của đại diện Sở Tư pháp và có bổ sung một số ý kiến về công tác phối hợp giữa các tổ chức hành nghề công chứng với cơ quan công an, việc xây dựng Quy chế Thi đua khen thưởng, kỷ luật hội viên,...

Các thành viên dự họp cũng tập trung thảo luận các vấn đề liên quan đến Cơ sở dữ liệu công chứng; việc sửa đổi, bổ sung Quy chế phối hợp giữa Sở Tư pháp và Hội Công chứng viên; việc tổ chức Đại hội bất thường của Hội Công chứng viên.

Phát biểu kết luận cuộc họp, bà Nguyễn Anh Hoa thống nhất sửa đổi, bổ sung Quy chế phối hợp giữa Sở Tư pháp và Hội Công chứng viên cho phù hợp với tình hình thực tế hiện nay. Đồng chí đề nghị Phòng Bổ trợ tư pháp hướng dẫn Ban Chấp hành Hội hoàn thiện văn kiện Đại hội bất thường, nghiên cứu phương án xử lý các vướng mắc phát sinh trong quá trình sử dụng Cơ sở dữ liệu công chứng; đề nghị Ban Chấp hành Hội tiếp tục quán triệt, thường xuyên chấn chỉnh, nhắc nhở hội viên thực hiện đúng quy định pháp luật về công chứng; xây dựng Quy chế khen thưởng, quy trình giải quyết các trường hợp phát hiện giả mạo trong hoạt động công chứng./.


Thông tin; Tin ngành tư phápFalseTăng Thị Hà Chi
Danh sách các tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 31/8/2020)Danh sách các tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 31/8/2020)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
9/1/2020 11:00 AMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Danh sách các tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 01/7/2020)Danh sách các tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 01/7/2020)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
8/5/2020 5:00 PMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Thông báo gia hạn thời gian tiếp nhận hồ sơ đăng ký kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ tưTinThông báo gia hạn thời gian tiếp nhận hồ sơ đăng ký kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ tư/bo-tro-tu-phap/PublishingImages/2020-07/Thong bao_Key_17072020170758.png
7/17/2020 5:00 PMNoĐã ban hành

Thực hiện Công văn số 2510/BTP-BTTP ngày 14/7/2020 của Bộ Tư pháp về việc tiếp tục nhận hồ sơ đăng ký tham dự kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ tư, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương đã ban hành Công văn số 1205/STP-BTTP ngày 17/7/2020 thông báo gia hạn tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham dự kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng​. Theo đó:

1. Đối tượng đăng ký tham dự kiểm tra:

a) Người đã hoàn thành tập sự theo quy định của Luật Công chứng và Thông tư số 04/2015/TT-BTP chậm nhất là ngày 15/7/2020;

b) Người không đạt yêu cầu trong kỳ kiểm tra kết quả tập sự trước, trừ trường hợp không đạt yêu cầu trong cả ba kỳ kiểm tra đã được tổ chức.

3. Hồ sơ đăng ký tham dự kiểm tra:

a) Giấy đăng ký tham dự kiểm tra theo mẫu ban hành kèm theo Thông tư số 04/2015/TT-BTP (trường hợp đã từng tham dự kiểm tra hoặc được hoãn tham dự kỳ kiểm tra trước thì ghi rõ trong Giấy đăng ký tham dự kiểm tra);

b) Báo cáo kết quả tập sự hành nghề công chứng quy định tại Điều 8 của Thông tư số 04/2015/TT-BTP;

c) Bản sao giấy tờ chứng minh đã nộp phí thẩm định tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề công chứng theo quy định, với các thông tin như sau:

Tên tài khoản: Cục Bổ trợ tư pháp.

Số tài khoản: 3511.0.1118188, tại Kho bạc nhà nước Ba Đình, Hà Nội.

Số tiền: 3.500.000 đồng/trường hợp.

Nội dung: Nộp phí thẩm định tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề công chứng lần thứ 4 năm 2020 cho Ông/Bà...., đăng ký tập sự tại tỉnh/thành phố...... (Người nộp phí tự chịu trách nhiệm nếu trên giấy tờ không đủ thông tin để có thể xác định được người đăng ký tham dự kiểm tra).

4. Thời gian tiếp nhận hồ sơ: từ ngày 17/7/2020 đến ngày 21/7/2020.

5. Lưu ý:

- Các trường hợp Báo cáo kết quả tập sự sơ sài, không đầy đủ nội dung theo quy định, Báo cáo không thể hiện được kết quả của quá trình tập sự hoặc sao chép Báo cáo của người khác, xác nhận sai về thời gian, kết quả tập sự hoặc có các hành vi không trung thực, gian dối khác… trong hồ sơ đăng ký tham dự kiểm tra thì sẽ không được tham dự kỳ kiểm tra và tùy theo tính chất, mức độ sẽ bị xem xét, xử lý theo quy định.

- Đối với những người tập sự đã nộp hồ sơ đăng ký tham dự kiểm tra về Sở Tư pháp mà chưa nộp phí, đề nghị gửi bổ sung bản sao giấy tờ chứng minh đã nộp phí để hoàn thiện hồ sơ./.

bttp-giahannophs-2020.jpg

File đính kèm CV 2510-BTP.pdf

                       CV_1205_STP-BTTP.pdf

Thông tin; Tin ngành tư phápFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Danh sách tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 14/7/2019)Danh sách tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 14/7/2019)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
7/14/2020 1:00 PMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Tọa đàm góp ý kiến dự thảo Nghị quyết về chính sách phát triển nghề công chứngTinTọa đàm góp ý kiến dự thảo Nghị quyết về chính sách phát triển nghề công chứng/bo-tro-tu-phap/PublishingImages/2020-07/bttp-ToadamBT-2020-1_Key_08072020161554.jpg
7/7/2020 5:00 PMNoĐã ban hành

Sáng ngày 24/6/2020, tại thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, Cục Bộ Tư pháp - Bộ Tư pháp đã tổ chức Tọa đàm góp ý kiến dự thảo Nghị quyết về chính sách phát triển nghề công chứng. Bà Đặng Kim Hoa - Phó Cục trưởng Cục Bổ trợ tư pháp chủ trì buổi Tọa đàm; cùng tham gia có đại diện Hiệp Hội Công chứng viên Việt Nam, các Sở Tư pháp, Hội Công chứng viên tỉnh, thành phố thuộc khu vực phía Nam và một số tổ chức hành nghề công chứng. Về phía tỉnh Bình Dương có sự tham gia của bà Nguyễn Anh Hoa - Giám đốc Sở Tư pháp, bà Nguyễn Thị Phương Ngọc - Chủ tịch Hội Công chứng viên tỉnh và b​à Phạm Thị Mỹ Lệ - Phó Chủ tịch Hội Công chứng viên tỉnh​.

bttp-ToadamBT-2020-1.jpg

Phát biểu khai mạc Tọa đàm, bà Đặng Kim Hoa nhấn mạnh sự cần thiết ban hành Nghị quyết về chính sách phát triển nghề công chứng trong bối cảnh quy hoạch công chứng đã bãi bỏ. Theo đó, Luật Công chứng năm 2014 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 Luật liên quan đến Quy hoạch đã giao Bộ Tư pháp "Xây dựng, trình Chính phủ ban hành chính sách phát triển nghề công chứng". Triển khai thực hiện các Luật nêu trên và để khắc phục thực trạng các Văn phòng công chứng phát triển tự do, phân bổ không hợp lý, tập trung nhiều tại một địa bàn cấp huyện, đồng thời bảo đảm tính ổn định, bền vững của nghề công chứng thì việc xây dựng Nghị quyết về chính sách phát triển nghề công chứng là cần thiết nhằm giúp các địa phương có định hướng trong công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động công chứng phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội tại từng địa phương.

bttp-ToadamBT-2020-3.jpg

Sau khi nghe đại diện Cục Bổ trợ tư pháp thông qua nội dung chính của dự thảo Tờ trình Chính phủ, dự thảo Nghị quyết về chính sách phát triển nghề công chứng, các đại biểu đã tập trung thảo luận về các vấn đề như: mục tiêu phát triển nghề công chứng, các nhiệm vụ, giải pháp và tổ chức thực hiện,…

bttp-ToadamBT-2020-2.jpg

Kết luận buổi Tọa đàm, bà Đặng Kim Hoa ghi nhận các ý kiến đóng góp của các đại biểu, Ban soạn thảo Nghị quyết về chính sách phát triển nghề công chứng sẽ nghiên cứu, tiếp thu, hoàn thiện dự thảo và sớm tham mưu lãnh đạo Bộ Tư pháp trình Chính phủ ban hành./.

Thông tin; Tin ngành tư phápFalseTăng Thị Hà Chi
Danh sách các tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 01/7/2020)Danh sách các tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 01/7/2020)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
7/1/2020 5:00 PMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về tập sự hành nghề công chứngBài viếtKiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về tập sự hành nghề công chứng/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/25/2020 11:00 AMNoĐã ban hành

Theo quy định của Luật Công chứng năm 2014, người có giấy chứng nhận tốt nghiệp khóa đào tạo nghề công chứng hoặc giấy chứng nhận bồi dưỡng nghề công chứng phải tập sự hành nghề tại một tổ chức hành nghề công chứng. Thời gian tập sự hành nghề công chứng là 12 tháng đối với người có giấy chứng nhận tốt nghiệp khóa đào tạo nghề công chứng và 06 tháng đối với người có giấy chứng nhận bồi dưỡng nghề công chứng. Đây là giai đoạn có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình để trở thành một công chứng viên. Qua quá trình tập sự hành nghề công chứng, người tập sự được tiếp cận, cọ xát với các tình huống trên thực tế, từ đó trang bị cho mình các kỹ năng cần thiết để hành nghề công chứng.

Ngày 15/4/2015, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 04/2015/TT-BTP hướng dẫn tập sự hành nghề công chứng. Thông tư đã cụ thể hóa quy định về tập sự hành nghề công chứng của Luật Công chứng, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng, chặt chẽ cho công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng Thông tư số 04/2015/TT-BTP cũng đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập, cụ thể như sau:

1. Về mẫu Giấy đăng ký tập sự hành nghề công chứng

Tại khoản 1 Điều 2 Thông tư số 04/2015/TT-BTP quy định hồ sơ đăng ký tập sự hành nghề công chứng bao gồm giấy đăng ký tập sự hành nghề công chứng và giấy chứng nhận tốt nghiệp khóa đào tạo nghề công chứng hoặc giấy chứng nhận hoàn thành khóa bồi dưỡng nghề công chứng. Mẫu giấy đăng ký tập sự hành nghề công chứng (mẫu TP-TSCC-01) không có nội dung về công chứng viên hướng dẫn tập sự và xác nhận đồng ý của tổ chức hành nghề công chứng về việc nhận tập sự như quy định trước đây tại Thông tư số 01/2014/TT-BTP, vì vậy đã gây khó khăn cho Sở Tư pháp trong việc quản lý tập sự hành nghề công chứng. Có trường hợp người đề nghị đăng ký tập sự chưa được sự đồng ý của tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên nhận hướng dẫn tập sự nhưng vẫn có văn bản đề nghị Sở Tư pháp đăng ký tập sự.

Bên cạnh đó, cũng có trường hợp tổ chức hành nghề công chứng phân công công chứng viên không đủ điều kiện hướng dẫn tập sự theo quy định tại khoản 3 Điều 11 Luật Công chứng nên dẫn đến việc Sở Tư pháp phải thu hồi bãi bỏ văn bản thông báo về việc đăng ký tập sự.

2. Về từ chối đăng ký tập sự

Theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Thông tư số 04/2015/TT-BTP, người tập sự có các nghĩa vụ:

"…c) Thực hiện các công việc thuộc nội dung tập sự quy định tại Điều 7 của Thông tư này theo sự phân công của công chứng viên hướng dẫn tập sự".

d) Chịu trách nhiệm trước công chứng viên hướng dẫn tập sự và tổ chức hành nghề công chứng nhận tập sự về kết quả và tiến độ của các công việc được phân công...".

Điều 7 Thông tư số 04/2015/TT-BTP quy định nội dung tập sự hành nghề công chứng bao gồm kỹ năng hành nghề công chứng và các công việc liên quan đến công chứng sau đây:

"a) Kỹ năng tiếp nhận, phân loại yêu cầu công chứng; kỹ năng kiểm tra tính xác thực, tính hợp pháp của các giấy tờ có trong hồ sơ yêu cầu công chứng; kỹ năng xem xét, nhận dạng chủ thể, năng lực hành vi dân sự của người tham gia ký kết hợp đồng, giao dịch;

b) Kỹ năng ứng xử với người yêu cầu công chứng, ứng xử theo Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng; kỹ năng giải thích cho người yêu cầu công chứng hiểu rõ quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của họ, ý nghĩa và hậu quả pháp lý của việc công chứng; kỹ năng giải thích lý do khi từ chối yêu cầu công chứng;

c) Kỹ năng nghiên cứu và đề xuất hướng giải quyết hồ sơ yêu cầu công chứng;

d) Kỹ năng soạn thảo hợp đồng, giao dịch theo yêu cầu của người yêu cầu công chứng; kỹ năng kiểm tra tính xác thực, tính hợp pháp của dự thảo hợp đồng, giao dịch do người yêu cầu công chứng soạn thảo sẵn; kỹ năng xác minh;

đ) Kỹ năng công chứng bản dịch; kỹ năng chứng thực bản sao, chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản;

e) Kỹ năng soạn thảo lời chứng;

g) Kiểm tra, sắp xếp, phân loại hồ sơ đã được công chứng, chứng thực để đưa vào lưu trữ;

h) Các kỹ năng và công việc liên quan đến công chứng khác theo sự phân công của công chứng viên hướng dẫn tập sự".

Theo các quy định nêu trên, để việc tập sự hành nghề công chứng đạt chất lượng tốt đòi hỏi người tập sự phải có mặt tại trụ sở tổ chức hành nghề công chứng và trực tiếp thực hiện các công việc liên quan đến nghiệp vụ công chứng theo sự phân công của công chứng viên hướng dẫn tập sự.

Thực tế hiện nay, một số cá nhân đăng ký tập sự hành nghề công chứng trong khi đang hành nghề luật sư, đấu giá, thừa phát lại, quản tài viên, hòa giải viên thương mại. Tuy nhiên, các cá nhân này lại không thuộc trường hợp không được đăng ký tập sự theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Thông tư số 04/2015/TT-BTP[1], do đó Sở Tư pháp không có đủ cơ sở để từ chối đăng ký tập sự.

3. Về cơ chế kiểm tra, giám sát

Khoản 4 Điều 28 Thông tư số 04/2015/TT-BTP quy định Sở Tư pháp có nhiệm vụ, quyền hạn "Kiểm tra việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hướng dẫn tập sự và Người tập sự theo quy định của Thông tư này".

Khoản 2 Điều 29 Thông tư số 04/2015/TT-BTP quy định, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên có trách nhiệm "Giám sát tổ chức hành nghề công chứng nhận tập sự, công chứng viên hướng dẫn tập sự và Người tập sự trong quá trình tập sự..." (ở cấp tỉnh, trách nhiệm này thuộc Hội Công chứng viên).

Tuy nhiên, Thông tư số 04/2015/TT-BTP lại chưa quy định cụ thể cơ chế kiểm tra của Sở Tư pháp và cơ chế giám sát của Hội Công chứng viên đối với việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hướng dẫn tập sự và người tập sự, dẫn đến các quy định này khó được triển khai thực hiện.

Nhằm đảm bảo việc tập sự hành nghề công chứng đạt hiệu quả và đi vào thực chất, qua đó góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ công chứng viên, kiến nghị Bộ Tư pháp sửa đổi, bổ sung Thông tư 04/2015/TT-BTP theo hướng:

- Sửa đổi mẫu giấy đăng ký tập sự hành nghề công chứng (mẫu TP-TSCC-01) theo hướng bổ sung nội dung về công chứng viên hướng dẫn tập sự và xác nhận đồng ý của tổ chức hành nghề công chứng về việc nhận tập sự để công tác quản lý tập sự hành nghề công chứng của Sở Tư pháp được chặt chẽ, thuận tiện hơn.

- Quy định các cá nhân là luật sư, đấu giá viên, thừa phát lại, quản tài viên, hòa giải viên thương mại khi đăng ký tập sự hành nghề công chứng thì phải tạm ngưng hành nghề luật sư, đấu giá, thừa phát lại, quản tài viên, hòa giải viên thương mại.

- Bổ sung quy định về cơ chế kiểm tra của Sở Tư pháp và cơ chế giám sát của Hội Công chứng viên đối với việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hướng dẫn tập sự và người tập sự.



[1] Người thuộc một trong các trường hợp sau đây thì không được đăng ký tập sự:

a) Thuộc trường hợp không được bổ nhiệm công chứng viên theo quy định tại Điều 13 của Luật công chứng gồm: i) Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đã bị kết tội bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về tội phạm do vô ý mà chưa được xóa án tích hoặc về tội phạm do cố ý; ii) Người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; iii) Người bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; iv) Cán bộ bị kỷ luật bằng hình thức bãi nhiệm, công chức, viên chức bị kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc hoặc sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, sỹ quan, hạ sỹ quan, công nhân, viên chức trong đơn vị thuộc Công an nhân dân bị kỷ luật bằng hình thức tước danh hiệu quân nhân, danh hiệu Công an nhân dân hoặc đưa ra khỏi ngành; v) Người bị thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư do bị xử lý kỷ luật bằng hình thức xóa tên khỏi danh sách của Đoàn luật sư, người bị tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư mà chưa hết thời hạn 03 năm kể từ ngày quyết định thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư có hiệu lực hoặc kể từ ngày chấp hành xong quyết định tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư.

b) Người đang là cán bộ, công chức, viên chức (trừ viên chức làm việc tại Phòng công chứng), sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sỹ quan, hạ sỹ quan, công nhân trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân./.

 

Thông tinFalseTăng Thị Hà Chi
Một số vấn đề về người làm chứng cho việc lập di chúcTinMột số vấn đề về người làm chứng cho việc lập di chúc/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/22/2020 12:00 PMNoĐã ban hành
Tóm tắt: Trong bài viết này, tác giả phân tích những điều kiện về người làm chứng cho việc lập di chúc từ góc độ pháp luật và thực tiễn, từ đó đưa ra một số kiến nghị cụ thể.
 
Abstract: In this article, the author analyzes conditions of witnesses for making wills from a perspective of law and practice, thereby making some specific recommendations.
 
Di chúc có thể được hiểu một cách khái quát nhất là phương tiện ghi nhận ý chí của cá nhân về việc định đoạt tài sản của mình sau khi chết.
Người làm chứng cho việc lập di chúc là người hỗ trợ cho người để lại di sản trong quá trình lập di chúc, là người chứng kiến cho quá trình lập di chúc, thông qua đó, họ sẽ xác nhận năng lực nhận thức của người lập di chúc và bảo đảm nội dung di chúc là ý nguyện thực của người để lại di sản thông qua việc ký tên hay điểm chỉ vào bản di chúc.
Về những loại di chúc yêu cầu phải có người làm chứng: Bên cạnh di chúc do người lập di chúc tự viết tay và ký tên là hợp pháp thì pháp luật quy định một số loại di chúc yêu cầu phải có sự hỗ trợ của người làm chứng mới được xem là hợp pháp như: Di chúc do người lập di chúc tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác viết hộ hoặc đánh máy bản di chúc; di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ và di chúc miệng. Điều kiện để các loại di chúc này phát sinh hiệu lực là phải được làm chứng bởi ít nhất hai người làm chứng đủ điều kiện theo luật định.
1. Điều kiện về người làm chứng cho việc lập di chúc
Di chúc là hình thức thể hiện ý chí của chủ sở hữu về việc định đoạt tài sản của mình sau khi chết. Thời điểm di chúc phát sinh hiệu lực là người lập di chúc đã chết nên không thể xác minh được nội dung di chúc có phải là ý chí thực sự của họ và được lập khi người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt, không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hay không. Do đó, trong một số trường hợp nhất định, để bảo đảm tính khách quan, chính xác và phản ánh đúng ý chí của người lập di chúc, pháp luật đòi hỏi phải có người làm chứng cho việc lập di chúc theo luật định. Người làm chứng là một trong những yếu tố quan trọng để di chúc có thể phát sinh hiệu lực trên thực tế, nếu người làm chứng không đáp ứng điều kiện thì sẽ dẫn đến hậu quả pháp lý là di chúc vô hiệu. Để làm chứng cho việc lập di chúc đòi hỏi người làm chứng cũng phải thỏa mãn những điều kiện cơ bản sau:
Thứ nhất, người làm chứng không phải là người thừa kế
Pháp luật loại trừ quyền làm chứng của những người thừa kế (khoản 1 Điều 632 Bộ luật Dân sự năm 2015) để bảo đảm tính khách quan của di chúc, tránh trường hợp những người này chỉnh sửa, giả mạo di chúc hoặc làm cho di chúc vô hiệu. Người thừa kế bao gồm người thừa kế theo di chúc và người thừa kế theo pháp luật.
Đối với người thừa kế theo di chúc thì việc không cho phép họ làm chứng về việc định đoạt tài sản cho chính bản thân mình là điều hoàn toàn hợp lý, vì việc làm chứng để định đoạt tài sản cho chính mình của họ không bảo đảm tính khách quan, độ tin cậy. Tuy nhiên, đối với quy định người làm chứng không phải là người thừa kế theo pháp luật thì còn chưa hợp lý vì người thừa kế theo pháp luật gồm ba hàng thừa kế là rất rộng, nhưng trong một số trường hợp khẩn cấp, việc tìm kiếm một người làm chứng rất khó khăn. Ví dụ như đối với loại di chúc miệng được lập trong tình trạng “khẩn cấp” thì rất khó để tìm người làm chứng đủ điều kiện. Thiết nghĩ, nếu pháp luật hạn chế quyền làm chứng của tất cả những người thừa kế theo pháp luật thuộc ba hàng thừa kế thì quá rộng, thông thường, người thừa kế được hưởng di sản thường dừng lại ở hàng thừa kế thứ hai, do đó, có lẽ nên xem xét cân nhắc để hàng thừa kế thứ ba được làm chứng bởi lẽ có những trường hợp người lập di chúc không thể tìm được hai người làm chứng có đủ điều kiện làm chứng cho việc lập di chúc miệng. Trong trường hợp này, người lập di chúc thường lập dưới dạng lời dặn dò những người thân trước khi chết, những người này lại không đủ điều kiện trở thành người làm chứng nên làm cho di chúc vô hiệu mặc dù họ rất khách quan, mong muốn thực hiện đúng di chỉ của người chết. Vì vậy, pháp luật nên sửa đổi là trong một số trường hợp thì người thừa kế theo pháp luật cũng có thể trở thành người làm chứng nếu có căn cứ cho rằng họ khách quan khi làm chứng cho di chúc.
Thứ hai, người làm chứng không phải là người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc
Người có quyền và nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc không được quyền làm chứng có thể là những chủ thể như người nhận thế chấp di sản; người thuê mướn di sản; con nợ, chủ nợ của người lập di chúc… nếu cho họ làm chứng có thể làm di chúc không khách quan, thay đổi nội dung di chúc theo hướng có lợi cho họ (ví dụ như nhằm trốn tránh nghĩa vụ) nên không cho phép những người này làm chứng cho việc lập di chúc là hợp lý.
Bên cạnh đó, pháp luật về thừa kế một số nước có quy định không cho phép vợ và chồng cùng làm chứng cho một di chúc (Điều 980 Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp), vì theo pháp luật dân sự về thừa kế, tất cả loại di chúc yêu cầu người làm chứng tối thiểu là hai người làm chứng để họ có thể kiểm soát việc lập di chúc, đối chất với nhau khi cần thiết. Thế nhưng vợ, chồng là mối quan hệ hôn nhân và gia đình rất khăng khít, nên việc họ cùng làm chứng cho một di chúc dễ dẫn đến việc họ thống nhất ý chí, bảo vệ nhau nếu một trong hai bên làm sai, do đó, pháp luật thừa kế Việt Nam nên tiếp thu kinh nghiệm về vấn đề này. Đặc biệt, đối với hình thức di chúc miệng được lập trong tình trạng nguy cấp của người lập di chúc, có thể sau khi “trăn trối” thì người lập di chúc chết và người làm chứng phải ghi chép lại di chúc, công chứng hoặc chứng thực di chúc. Vì vậy, nếu chỉ có hai vợ chồng họ có mặt tại thời điểm lập di chúc và cùng ghi chép lại, mang di chúc đi công chứng hoặc chứng thực thì khó thuyết phục những người liên quan.
Tuy nhiên, đối với trường hợp di chúc miệng thì về quy định người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc không được làm chứng cũng cần được xem xét nghiên cứu cho phù hợp. Bởi lẽ, trong trường hợp lập di chúc miệng thì rất khan hiếm khi tìm người làm chứng, hơn nữa, có những trường hợp mà bản thân người làm chứng cũng không biết mình là người có quyền hay nghĩa vụ tài sản.
Thứ ba, người làm chứng không phải là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
Quy định điều kiện về độ tuổi và nhận thức của người làm chứng có sự khác biệt giữa Bộ luật Dân sự năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015.
Quy định tại khoản 3 Điều 632 Bộ luật Dân sự năm 2015 có sự tiến bộ khi không cho phép “người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi” làm chứng cho việc lập di chúc. Quy định như vậy là hợp lý vì những chủ thể này có vấn đề trong nhận thức nên việc làm chứng của họ không chính xác và độ tin cậy kém. Tuy nhiên, quy định này vẫn còn thiếu trường hợp người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và người khiếm khuyết về thể chất ảnh hưởng đến khả năng nhận thức (như mù, câm, điếc...) hay người nước ngoài không thành thạo tiếng Việt, những người không nghe, nói, đọc, viết được tiếng dân tộc của nhau thì không nên làm chứng cho một loại ngôn ngữ mà mình không thành thạo, việc hạn chế quyền làm chứng của những người đó là hợp lý vì khả năng xác nhận, kiểm tra việc lập di chúc và nội dung di chúc của họ thiếu khả thi.
Thứ tư, người làm chứng cho di chúc miệng phải là người biết chữ
Hiện nay chưa có bất kỳ một khái niệm chính xác nào về “người biết chữ” trong tiếng Việt. Tuy nhiên, chúng ta có thể hiểu về “người biết chữ” theo phương pháp loại trừ trong cuốn “Từ điển tiếng Việt”, đó là từ “mù chữ” được giải thích là tình trạng “không biết đọc, biết viết (tuy ở tuổi đáng lẽ đã được học)”[1]. Vậy “biết chữ” là khái niệm ngược lại với “mù chữ”, ta có thể khái quát: Người biết chữ là người có khả năng đọc, hiểu và khả diễn đạt ý chí bằng cách viết.
Đối với di chúc miệng thì người làm chứng có nghĩa vụ sau khi nghe di nguyện của người chết phải ghi chép lại bằng văn bản thì di chúc mới có thể hợp pháp, nên đòi hỏi người làm chứng phải biết chữ mới diễn đạt lại ý chí người lập di chúc thông qua chữ viết. Tuy nhiên, pháp luật dân sự không quy định rõ điều kiện này mà chỉ được rút ra từ việc suy luận quy định về di chúc miệng tại khoản 5 Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo quan điểm tác giả, điều kiện đó là hoàn toàn hợp lý vì tính chất của di chúc là chỉ có hiệu lực khi người lập di chúc chết, không thể đối chất nên đòi hỏi người làm chứng phải có khả năng xác nhận nội dung bản di chúc bằng khả năng nhận thức của mình.
Từ những phân tích trên, tác giả kiến nghị bổ sung những đối tượng sau đây không được làm chứng cho việc lập di chúc:
- Người bị hạn chế về thể chất đến mức ảnh hưởng đến khả năng nhận thức, quá trình truyền đạt và thu nhận thông tin dẫn đến hạn chế khả năng xác nhận, kiểm tra việc lập di chúc hoặc ghi chép lại di chúc.
- Người nước ngoài không đọc, nói, viết thành thạo tiếng Việt (nếu di chúc được lập bằng tiếng Việt) và người không đọc, nói, viết được tiếng dân tộc khác (nếu di chúc được lập bằng tiếng dân tộc thiểu số).
- Người không biết chữ không được phép làm chứng cho việc lập di chúc. Đối với di chúc miệng thì điều kiện người làm chứng phải biết chữ mới có thể ghi chép lại di chúc miệng mặc dù trong tình trạng khẩn cấp. Trong điều kiện thông thường thì việc tìm kiếm một người làm chứng biết chữ dễ dàng hơn, người làm chứng biết chữ mới có thể tự đọc lại bản di chúc và xác minh nó đúng với những gì mình nghe. Vì vậy, cần bổ sung yêu cầu về người làm chứng cho di chúc phải là người biết chữ.
- Cả hai vợ chồng không được cùng làm chứng cho một di chúc. Pháp luật dân sự yêu cầu đối với loại di chúc phải có người làm chứng thì phải có ít nhất là hai người làm chứng nhằm mục đích tránh sai lệch nội dung di chúc, những người làm chứng này sẽ kiểm soát hành vi của nhau bảo đảm tính khách quan của di chúc. Tuy nhiên, vợ chồng là mối quan hệ mật thiết, gần gũi với nhau, nên dễ dẫn đến thống nhất ý chí và bao che cho nhau nếu một trong hai bên có sai sót.
Một số ví dụ thực tế về trường hợp di chúc có người làm chứng không đủ điều kiện luật định:
Ví dụ 1: Tranh chấp về hiệu lực của di chúc bằng văn bản và di chúc miệng[2]
Tóm tắt nội dung vụ án: Cụ T có ba người con là bà N, bà M, ông Q. Năm 1993, cụ T lập tờ di chúc để lại căn nhà cho cháu là chị H (con của bà N) có bà G làm chứng và di chúc đã được công chứng. Ngày 08/10/1994, cụ T chết. Ngày 21/10/1994, ông Q lập “tờ đồng thuận” có nội dung là trước khi chết, cụ T căn dặn để lại căn nhà cho cháu nội là anh B thờ cúng. “Tờ đồng thuận” có bà M ký tên đồng ý, còn chị H thì ký xác nhận đang giữ giấy chủ quyền căn nhà trên. Năm 1997, chị H khởi kiện yêu cầu được thừa kế theo tờ di chúc, buộc anh B giao nhà. Tại Tòa, chị H thừa nhận cụ T có căn dặn căn nhà trên để lại cho anh B quản lý thờ cúng nhưng chị cho rằng chị mới là chủ sở hữu theo tờ di chúc có công chứng, còn ông Q thì cho rằng anh Bình là chủ sở hữu theo “tờ đồng thuận”. Bản án dân sự phúc thẩm chấp nhận “tờ đồng thuận” hay di chúc miệng có hiệu lực.
Ví dụ 2: Công nhận di chúc miệng
Tóm tắt nội dung vụ án: Năm 1952, vợ chồng ông B và bà H có một căn nhà chung. Sau đó, bà H bỏ sang Campuchia sống. Ông B chung sống với bà T trên nhà và đất trên. Năm 1970, bà T đứng tên mua thêm căn nhà liền kề. Hiện tại cả hai phần nhà cùng mang chung số nhà. Năm 1962, bà T nhận anh K là cháu ruột về nuôi. Năm 1992, bà T chết. Anh K cho rằng bà T đã di chúc miệng cho anh nhà và đất tạo lập năm 1970 (căn nhà mua liền kề). Ông B thừa nhận bà T có ý nguyện để lại tài sản là một phần căn nhà cho anh K. Tại tờ di chúc lập ngày 12/8/1993, ông B xác nhận: “Tr­ước khi chết, vợ tôi là T có trăn trối cho cháu trai của bà là K, 31 tuổi (nuôi từ bé) một phần căn nhà đứng ngoài nhìn vào phía bên trái (sát vách nhà ông M­) được hưởng phần căn nhà đó”. Quan điểm của Tòa án cho rằng có căn cứ xác định bà T­­ có di chúc miệng để anh K hưởng thừa kế phần nhà, đất tạo lập năm 1970 nên đã chấp nhận di chúc miệng.
Như vậy, trong hai ví dụ trên thì di chúc miệng được lập khi Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 đang có hiệu lực, Pháp lệnh không yêu cầu di chúc miệng phải có người làm chứng và ghi chép lại. Vì vậy, Tòa án nhân dân tối cao đã chấp nhận di chúc miệng vì cho rằng có căn cứ để xác định di chúc miệng là có thật. Chứng cứ để xác định di chúc miệng trên đúng với ý nguyện người chết là “tờ đồng thuận” và “tờ di chúc” được những người làm chứng lập lại và các bên đã thừa nhận tại phiên tòa. Mặc dù việc xét xử dựa vào Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 nhưng chúng ta có thể bình luận một số vấn đề liên quan về người làm chứng cho di chúc miệng như sau: Trong di chúc miệng tại ví dụ 1 thì người làm chứng gồm ông Q, bà M (đều là người thừa kế theo hàng thừa kế thứ nhất) và chị H (người thừa kế theo di chúc bằng văn bản) ký xác nhận vào di chúc. Trong ví dụ 2 thì người làm chứng cho việc lập di chúc là ông B - người thừa kế theo hàng thừa kế thứ nhất. Nếu xét điều kiện về người làm chứng theo Điều 632 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì tất cả những người làm chứng trên đều không đủ điều kiện làm chứng vì họ đều là người thừa kế. Quan điểm của Tòa án trong trường hợp này chấp nhận di chúc miệng có giá trị pháp lý. Hướng xét xử của Tòa án theo tác giả là rất hợp lý, vì thông qua lời khai của người làm chứng có thể dễ dàng chứng minh có tồn tại bản di chúc miệng và việc làm chứng của những người làm chứng rất khách quan. Thêm vào đó, các bên tranh chấp cũng đã thừa nhận nội dung di chúc miệng là có thật tại Tòa. Qua đó có thể thấy, mặc dù những người làm chứng trên không đủ điều kiện để làm chứng nhưng việc làm chứng của họ rất khách quan và đáng tin cậy. Vì vậy, đối với di chúc miệng được lập trong điều kiện cấp bách, người lập di chúc trong tình trạng nguy kịch, họ không thể tự mình tìm kiếm được người làm chứng đủ điều kiện thì để bảo vệ quyền lập di chúc miệng thì nhà làm luật nên mở rộng hơn chủ thể được làm chứng cho di chúc miệng.
2. Chi phí cho người làm chứng cho việc lập di chúc miệng
Trong các loại di chúc có người làm chứng thì đối với di chúc miệng, vai trò của người làm chứng rất quan trọng và những công việc họ phải làm để di chúc miệng phát sinh hiệu lực khá phức tạp và tốn kém về thời gian, công sức, tiền bạc. Họ là người trực tiếp nghe, thấy, chứng kiến việc người lập di chúc miệng tuyên bố ý nguyện, đồng thời phải ghi chép lại nội dung di chúc, ra cơ quan công chứng, chứng thực để làm thủ tục công chứng, chứng thực đảm bảo tính hợp pháp, có hiệu lực của di chúc miệng. Do đó, người làm chứng cho di chúc miệng cần được hưởng một khoản phí hợp lý tương xứng với thời gian, công sức mà họ bỏ ra để làm chứng. Vì vậy, pháp luật cần bổ sung điều khoản về chủ thể yêu cầu công chứng, chứng thực di chúc miệng và khoản phí mà người yêu cầu công chứng, chứng thực nhận, khoản phí đó bao gồm những chi phí cần thiết (như phí di chuyển tàu xe, ngày công lao động bị mất, phí công chứng, chứng thực, những chi phí liên quan khác), một khoản thù lao cho việc làm chứng và thực hiện nhiệm vụ công chứng, chứng thực di chúc miệng. Khoản phí này sẽ được trích từ di sản của người lập di chúc miệng. Bên cạnh đó, cũng cần bổ sung khoản phí này vào Điều 658 Bộ luật Dân sự năm 2015 về thứ tự thanh toán và phân chia di sản theo thứ tự thanh toán tương đương vị trí với chi phí bảo quản di sản. Theo đó, bổ sung khoản 3 Điều 658 Bộ luật Dân sự năm 2015 như sau: “Chi phí cho việc bảo quản di sản; chi phí cho việc làm chứng cho việc lập di chúc miệng”.
ThS. Nguyễn Thị Hồng Vân
Đại học Đồng Tháp​
[1]. Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học (1992), tr. 642.
[2]. Tưởng Bằng Lượng (2002), Di chúc bằng văn bản hay di chúc miệng có hiệu lực pháp lý, Tạp chí Tòa án nhân dân số 02/2002.
(Nguồn từ ​Tạp chí Dân chủ và Pháp luật: https://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=587​)
Thông tinFalsePhòng Hành chính Tư pháp
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 2013 - Bất cập và kiến nghịTinHợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 2013 - Bất cập và kiến nghị/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/22/2020 12:00 PMNoĐã ban hành
Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo pháp luật hiện hành và chỉ ra một số điểm bất cập của Luật Đất đai năm 2013 về vấn đề này.
 
Abstract: The paper examines a land use right transfer contract under current law and points out some shortcomings of the 2013 Land Law on this issue.
 
1. Một số bất cập của pháp luật Việt Nam về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Thứ nhất, Luật Đất đai năm 2013 chưa quy định cụ thể về khái niệm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Khái niệm hợp đồng chuyển nhượng sử dụng đất được các nhà làm luật chính thức ghi nhận trong Bộ luật Dân sự năm 2005. Bộ luật Dân sự năm 2015 không quy định cụ thể khái niệm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà quy định chung cho tất cả các hợp đồng liên quan đến chuyển quyển sử dụng đất. Theo đó, hợp đồng về quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó người sử dụng đất chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất hoặc thực hiện quyền khác theo quy định của Luật Đất đai cho bên kia; bên kia thực hiện quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng với người sử dụng đất (Điều 500 Bộ luật Dân sự năm 2015).
Bộ luật Dân sự năm 2015 đã bỏ quy định các hợp đồng cụ thể về quyền sử dụng đất như chuyển nhượng, tặng cho, chuyển đổi, thế chấp... thay vào đó là quy định hợp đồng về quyền sử dụng đất nói chung. Tuy nhiên, quy định hợp đồng về quyền sử dụng đất tại Điều 500 Bộ luật Dân sự năm 2015 mới chỉ mang tính chất liệt kê các quan hệ chuyển quyền sử dụng đất theo pháp luật đất đai hiện hành, chưa nêu được những đặc trưng pháp lý của từng hình thức chuyển quyền sử dụng đất. Về mặt thực tiễn, việc thiếu vắng khái niệm chuyển nhượng quyền sử dụng đất có thể làm người áp dụng pháp luật bị nhầm lẫn. Ví dụ như, nhầm lẫn giữa hợp đồng chuyển nhượng với chuyển quyền sử dụng đất, hay như không phân biệt được sự khác nhau giữa hợp đồng chuyển nhượng với hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất. Về mặt kỹ thuật xây dựng văn bản pháp luật, yêu cầu các khái niệm (thuật ngữ) phải được hiểu theo một nghĩa, nhằm tránh tình trạng mỗi người, mỗi nơi hiểu và vận dụng một cách khác nhau.
Khái niệm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không được Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2013 đề cập nhưng có thể được tìm thấy trong văn bản luật chuyên ngành khác là Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 và Luật Nhà ở năm 2014. Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 mặc dù có đề cập đến hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhưng quy định này chỉ áp dụng với các hợp đồng thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật kinh doanh bất động sản. Tương tự, quy định về hợp đồng mua bán nhà ở chỉ áp dụng riêng với các hợp đồng thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Nhà ở năm 2014. Xét tính chất phức tạp của các hợp đồng về quyền sử dụng đất, tác giả cho rằng đây là điểm hạn chế cần khắc phục. Bởi hợp đồng là cơ sở để đảm bảo cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên, giải quyết tranh chấp, tránh xảy ra sai sót và hạn chế rủi ro. Đối với một loại tài sản chịu sự điều chỉnh của nhiều ngành luật như quyền sử dụng đất, việc xây dựng một khái niệm pháp lý hoàn chỉnh thống nhất chung trong hệ thống văn bản pháp luật là yếu tố cần thiết để hoạt động áp dụng và thực hiện pháp luật được thông suốt, hiệu quả.
Thứ hai, thuật ngữ “tranh chấp đất đai” chưa được quy định cụ thể, dẫn đến khó khăn khi thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Khi quyền sử dụng đất có tranh chấp, đồng nghĩa với việc tại thời điểm đó giá trị quyền sử dụng đất vẫn đang thuộc một đối tượng cụ thể, nhưng khả năng định đoạt chuyển nhượng quyền sử dụng đất của đối tượng này có thể bị ảnh hưởng bởi tình trạng kiện tụng tranh chấp. Bởi vì, để bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng cho các chủ thể khác có liên quan, đồng thời, nhằm tránh tình trạng tranh chấp về sau này, pháp luật thường không cho phép các chủ thể chuyển nhượng giá trị quyền sử dụng đất đang có tranh chấp. Tuy nhiên, cần phải xác định thế nào là đất có tranh chấp, bản chất của tranh chấp đó là để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của người đang tranh chấp hay việc “tranh chấp” đó chỉ với mục đích làm cho người có quyền sử dụng đất không thể chuyển nhượng được quyền sử dụng đất đó cần phải được xem xét.
Khái niệm tranh chấp đất đai được ghi nhận tại khoản 24 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”. Nội dung tranh chấp trong tranh chấp đất đai là quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, tuy nhiên, “quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất” là khái niệm rất rộng và sự quy định thiếu cụ thể này đã dẫn đến tình trạng khó xác định thế nào là tranh chấp đất đai. Cho tới nay, đã có nhiều định nghĩa về tranh chấp đất đai, chẳng hạn như: “Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai”[1] hoặc “tranh chấp đất đai là sự bất đồng mâu thuẫn giữa các chủ thể (sử dụng đất) trong việc xác định ai là người có quyền sử dụng đối với một (hoặc những) thửa đất nhất định… Tranh chấp đất đai có thể bao hàm cả các tranh chấp về địa giới giữa các đơn vị hành chính”[2]. Tuy nhiên, các định nghĩa trên vẫn chưa chỉ ra nội hàm/bản chất của tranh chấp đất đai.
Pháp luật về đất đai hiện hành cũng quy định rằng, khi có tranh chấp đất đai thì khuyến khích các bên tự hòa giải, khi các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải (Điều 202 Luật Đất đai năm 2013). Trường hợp đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành, thì các bên có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Khi các bên có sự bất đồng về quyền và nghĩa vụ đối với nhau nhưng sau đó tự hòa giải và không bên nào gửi đơn yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết thì có được gọi là tranh chấp không? Về mặt thực tiễn, tranh chấp đất đai chính là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ giữa các bên đương sự nên thủ tục giải quyết tranh chấp này phải thông qua con đường tố tụng. Do vậy, chúng ta vẫn hiểu rằng, chỉ khi nào một bên đã gửi đơn yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp cơ sở giải quyết tranh chấp quyền và nghĩa vụ liên quan đến đất đai mới bị coi là đất đang có tranh chấp. Mặt khác, người sử dụng đất chỉ không được chuyển nhượng quyền sử dụng đất nếu tranh chấp đó đang được Tòa án có thẩm quyền thụ lý để giải quyết. Trong khi đó, về mặt lý luận, mặc dù đã được giải thích rằng tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai nhưng cần phải có sự xác định rõ ràng thế nào là quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
Thứ ba, quy định về hình thức, thủ tục xác lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chưa hợp lý
Qua thực tiễn cho thấy, nhiều người dân đã gặp không ít rắc rối khi đến cơ quan có thẩm quyền để thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất vì mỗi nơi hiểu và áp dụng một cách khác nhau. Thông thường, sau khi bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng thực hiện hoàn tất thủ tục công chứng, hoặc chứng thực hợp đồng thì tiếp tục thực hiện việc đăng ký trước bạ, sang tên quyền sử dụng đất đứng tên bên nhận chuyển quyền tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất. Vậy, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là khi nào là câu hỏi không ít người thắc mắc trong quá trình thực thi pháp luật. Điều 502 và Điều 503 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về thủ tục thực hiện hợp đồng về quyền sử dụng đất và hiệu lực của việc chuyển quyền sử dụng đất. Theo đó, hợp đồng về quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản theo hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan. Việc thực hiện hợp đồng về quyền sử dụng đất phải đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan (Điều 502). Việc chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký theo quy định của Luật Đất đai (Điều 503).
Về hiệu lực của hợp đồng, Điều 401 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác. Từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo cam kết. Hợp đồng chỉ có thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật”. Thêm vào đó, Điều 5 Luật Công chứng năm 2014 quy định: “Văn bản công chứng có hiệu lực kể từ ngày được công chứng viên ký và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng”.
Với các quy định trên, tác giả cho rằng, hoàn toàn không có sự mâu thuẫn hay chồng chéo trong các quy định của pháp luật về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi pháp luật quy định phải công chứng, chứng thực. Theo Điều 385 Bộ luật Dân sự năm 2015, thì hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Sau khi các bên đã giao kết hợp đồng dưới một hình thức nhất định phù hợp với pháp luật và hợp đồng đó đáp ứng đầy đủ các điều kiện mà pháp luật yêu cầu thì hợp đồng có hiệu lực bắt buộc đối với các bên. Điều đó có nghĩa là, từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực, các bên trong hợp đồng bắt đầu có quyền và nghĩa vụ đối với nhau. Khi thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, các bên bao gồm chuỗi các hành vi: Giao kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng (các bên thực hiện các quyền và nghĩa vụ được xác định trong hợp đồng), đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và cơ quan có thẩm quyền ghi vào sổ địa chính. Như vậy, cần phải hiểu việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai, có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính tức là việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã hoàn thành chứ không phải có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký này.
Tuy nhiên, hiện nay, việc yêu cầu công chứng, chứng thực các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đang là nguyên nhân của nhiều giao dịch bị tuyên bố vô hiệu mặc dù ý chí của các bên là hoàn toàn tự nguyện và rất rõ ràng. Theo điểm a, b khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013, thì việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:
“a. Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này.
b. Hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên”.
Tuy nhiên, tác giả cho rằng, công chứng, chứng thực bắt buộc hiện nay gây ra quá nhiều bất cập nên việc chuyển công chứng, chứng thực bắt buộc thành công chứng, chứng thực tự nguyện (quyền công chứng, chứng thực) nên được phát triển. Thực tiễn xét xử đã chứng minh, đôi khi Tòa án đã phải “bỏ qua” quy định yêu cầu phải công chứng, chứng thực giao dịch về quyền sử dụng đất. Ở đây, Tòa án xử lý giao dịch về quyền sử dụng đất như không tồn tại quy định yêu cầu công chứng, chứng thực bởi rất khó xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi phải công chứng. Xin đưa ra một giả thuyết để cho thấy điều vừa nêu: Trước khi chết, A chuyển nhượng 600m2 đất cho ông V và bà H với giá 36 cây vàng. Bên bán đã nhận 22 cây vàng và chưa hoàn tất thủ tục chuyển nhượng. Đối chiếu với khoản 2 Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015, “giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó”, thì trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực theo quy định của Luật Đất đai năm 2013. Như vậy, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không được công chứng, chứng thực nhưng vẫn được công nhận để ổn định các quan hệ, tôn trọng ý chí của người đã khuất.
 Thứ tư, Luật Đất đai năm 2013 chưa quy định cụ thể điều kiện đối với từng phương thức chuyển nhượng quyền sử dụng đất dẫn đến tình trạng thiếu cơ sở pháp lý trong việc xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng chuyển nhượng
Do đất đai và quyền sử dụng đất có những đặc tính hết sức riêng biệt nên có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Đất đai luôn cố định, bất biến và chịu ảnh hưởng sâu sắc về tập quán sinh hoạt, điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi vùng miền. Về điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất, Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:
a. Có giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;
b. Đất không có tranh chấp;
c. Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;
d. Trong thời hạn sử dụng đất”.
Ngoài ra, người sử dụng đất khi thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất còn phải có đủ điều kiện theo quy định tại các điều 189, 190, 191,192, 193 và 194 Luật Đất đai năm 2013. Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính.
Chuyển quyền sử dụng đất nói chung là sự dịch chuyển quyền sử dụng đất và giao đất từ chủ thể này sang chủ thể khác nhưng với hai hậu quả pháp lý khác nhau và tính chất đền bù khác nhau. Cho thuê quyền sử dụng đất thì sự chuyển dịch quyền sử dụng đất chỉ là tạm thời mặc dù giao dịch này là có tính chất đền bù (phải trả tiền thuê trong thời gian sử dụng đất). Tặng cho quyền sử dụng đất thì sự chuyển dịch quyền sử dụng đất là vĩnh viễn nhưng giao dịch này không có tính chất đền bù (người nhận quyền sử dụng đất không phải trả tiền). Đặc biệt, chuyển đổi quyền sử dụng đất, nhất là đối với đất nông nghiệp thường là nhằm thuận tiện hơn trong việc sản xuất giữa hai bên chuyển đổi, nên việc chuyển đổi không nhất thiết phải có đủ các điều kiện như chuyển nhượng. Chuyển nhượng quyền sử dụng đất là một giao dịch mà trong đó, quyền sử dụng đất được chuyển dịch từ bên này sang bên kia một cách vĩnh viễn vì người nhận chuyển nhượng đã trả cho người chuyển nhượng một khoản tiền tương ứng với giá trị quyền sử dụng đất. Điều này có nghĩa là, tất cả các giao dịch nào mà trong đó có sự chuyển dịch quyền sử dụng đất vĩnh viễn và có thu tiền đều là phương thức chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Trong thực tế, quyền sử dụng đất được chuyển giao vĩnh viễn có thu tiền được thực hiện thông qua nhiều phương thức khác nhau (hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; hợp đồng mua bán nhà ở; hợp đồng mua bán công trình xây dựng trên đất; hợp đồng mua bán cây lâu năm trên đất; hợp đồng mua bán rừng sản xuất là rừng trồng) và trong mỗi phương thức đó, việc xác định diện tích đất được chuyển quyền sử dụng, thời điểm xác lập quyền sử dụng đất rất khác nhau. Trong khi đó, theo pháp luật hiện hành chỉ có duy nhất một điều luật quy định về điều kiện chuyển quyền sử dụng đất cho tất cả các phương thức là chưa hợp lý.
2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Thứ nhất, bổ sung quy định khái niệm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Như đã phân tích ở trên, tác giả cho rằng cần nghiên cứu khôi phục lại quy định đối với từng loại hợp đồng về quyền sử dụng đất, trong đó có hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Đồng thời, để phù hợp với các quy định pháp luật về các loại hợp đồng chuyên ngành, hợp đồng về chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên được quy định trong Luật Đất đai.
Thứ hai, Luật Đất đai cần xác định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các bên trong tranh chấp đất đai là gì để tránh làm cản trở quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Việc quy định cụ thể này sẽ giúp giải quyết tình trạng khó khăn trong việc xác định như thế nào là đất không có tranh chấp và không ảnh hưởng rất lớn đến quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất của người có quyền sử dụng đất.
Thứ ba, cần hoàn thiện các quy định về hình thức, thủ tục xác lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Luật Đất đai nên quy định “việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được thực hiện theo nhu cầu của các bên” nhằm khắc phục các hạn chế trên, đồng thời giảm chi phí cũng như thủ tục rườm rà cho người dân. Chúng ta không thể phủ nhận việc công chứng bắt buộc hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là cần thiết. Về mặt quy định của pháp luật thì các giao dịch về bất động sản được công chứng sẽ đảm bảo về hình thức theo quy định tạo điều kiện để các giao dịch đó tiếp tục được các cơ quan có thẩm quyền thực hiện các bước tiếp theo. Việc công chứng các giao dịch về bất động sản mang lại lợi ích cho các bên không chỉ về pháp lý mà còn về kinh tế, thương mại, hạn chế được những ảnh hưởng, thậm chí là phá sản do những hợp đồng, giao dịch dân sự, thương mại tiềm ẩn những rủi ro do không được công chứng. Hợp đồng, giao dịch được công chứng có giá trị chứng cứ, những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch được công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu. Các hoạt động giao dịch được kiểm soát, hạn chế thất thu về thuế cho Nhà nước, các tranh chấp, khiếu kiện ít xảy ra hơn, giảm gánh nặng cho Tòa án và giúp thị trường bất động sản ổn định hơn rất nhiều.
Thực ra, không có giải pháp nào mang lại ưu điểm tuyệt đối, nhưng việc quy định công chứng, chứng thực bắt buộc như hiện nay có nhiều nhược điểm hơn việc chuyển sang công chứng, chứng thực tự nguyện. Khi người tham gia giao dịch có sự nghi ngờ đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà họ muốn xác lập, họ vẫn có thể yêu cầu sự trợ giúp của công chứng viên bằng cách yêu cầu công chứng giao dịch của họ. Bởi lẽ, Luật Công chứng đã quy định rõ “công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng”. Hơn nữa, nếu có sự gian lận trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì hiện nay chúng ta đã có cơ chế để bảo vệ người ngay tình vì pháp luật dân sự đã có chế tài cho người gian lận thông qua quy định về giao dịch vô hiệu do nhầm lẫn, do lừa dối hay do giả tạo.   
Thư tư, Luật Đất đai nên quy định cụ thể điều kiện đối với từng phương thức trong chuyển quyền sử dụng đất. Việc tách riêng các điều kiện đối với từng phương thức chuyển quyền sử dụng đất khỏi các quy định về quyền và nghĩa vụ chung sẽ đảm bảo người sử dụng đất có thể dễ dàng nắm được quy định mà tuân thủ thực hiện. Ngoài ra, trong các điều kiện để quyền sử dụng đất có thể được chuyển nhượng tại Luật Đất đai thì điều kiện phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là một trong những điều kiện gây ra những khó khăn cho sự phát triển của thị trường quyền sử dụng đất. Kể cả khi tất cả các thửa đất ở Việt Nam đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì điều kiện này vẫn gây ra những khó khăn nhất định. Đó là các trường hợp chuyển nhượng một phần thửa đất, hoặc đang trong quá trình chờ lấy giấy chứng nhận nhưng lại có nhu cầu chuyển nhượng ngay, các bên không thể công chứng để thực hiện các giao dịch. Do đó, về điều kiện chuyển nhượng trong Luật Đất đai cần tính đến cả những tiến bộ trong tương lai của ngành địa chính, đó là việc số hóa việc quản lý các thông tin địa chính trong đó có cả việc đăng ký quyền sử dụng đất. Khi đó, người sử dụng đất cũng không cần phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cơ quan đăng ký chỉ cần đối chiếu thông tin trong hợp đồng và đăng ký trên hệ thống điện tử. Do đó, theo tác giả, Luật Đất đai nên sửa đổi điều kiện chuyển nhượng này thành “có quyền sử dụng đất hợp pháp”.
ThS. Tạ Thị Thùy Trang
Đại học Thương mại
[1]. Giáo trình Luật Đất đai, Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), tr. 455.
[2]. Giáo trình Luật Đất đai, Trường Đại học Luật  TP. Hồ Chí Minh (2012), tr. 357 - 358.
(Nguồn Từ Tạp chí Dân chủ và Pháp luật: https://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=588​)​
Thông tinFalsePhòng Hành chính Tư pháp
Danh sách các tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 15/6/2020)Danh sách các tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 15/6/2020)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/15/2020 6:00 PMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho hoạt động công chứngTinTháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho hoạt động công chứng/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Đây là lời nhấn mạnh của đồng chí Phan Chí Hiếu, Thứ trưởng Bộ Tư pháp tại buổi Tọa đàm góp ý kiến dự thảo Nghị quyết về chính sách phát triển nghề công chứng được diễn ra vào sáng nay (12/6).
6/14/2020 8:00 PMNoĐã ban hành
toa dam nq cspt cong chung 1.jpg
​Nhằm triển khai thực hiện Luật công chứng 2014 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 Luật có liên quan đến Quy hoạch; để khắc phục một số hạn chế còn tồn tại, đảm bảo tính ổn định, bền vững nghề công chứng thì việc xây dựng Nghị quyết về Chính sách phát triển nghề công chứng là cần thiết giúp các địa phương có định hướng trong phát triển nghề công chứng phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế, xã hội tại địa phương. Tại buổi tọa đàm, các đại biểu tham dự đã trao đổi, thảo luận một số vấn đề quan trọng như: sự cần thiết ban hành nghị quyết, mục tiêu, định hướng chính sách, nhiệm vụ và giải pháp phát triển nghề công chứng… nhằm góp ý dự thảo Nghị quyết.​
toa dam nq cspt cong chung 2.jpg
Phát biểu kết luận tại tọa đàm, Thứ trưởng Phan Chí Hiếu khẳng định hoạt động công chứng có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, đã đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh, an toàn và ổn định trật tự của đất nước. Vì vậy, cần phải phát triển đúng mục tiêu, định hướng nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng nghề công chứng. Thứ trưởng Phan Chí Hiếu cũng yêu cầu Cục Bổ trợ tư pháp tổng hợp đầy đủ các ý kiến góp ý từ các đại biểu tham dự trực tiếp buổi tọa đàm và các đại biểu góp ý qua văn bản; đồng thời, nghiên cứu, tiếp thu, lấy ý kiến rộng rãi từ các Bộ, ngành và các cơ quan có liên quan để hoàn thành bản dự thảo chất lượng trình Chính phủ phê duyệt.
Một số hình ảnh khác tại tọa đàm:
toa dam nq cspt cong chung 3.jpg

\1206 toa dam nq cspt cong chung 4.jpg
Ngọc Dung - Trung tâm Thông tin
                                                           (Nguồn từ Cổng Thông tin điện tử Bộ Tư pháp)

Thông tinFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Danh sách tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên đang hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 25/5/2019)Danh sách tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên đang hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 25/5/2019)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
5/25/2020 12:00 PMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
1 - 30Next
Ảnh
Video
Audio