Công chứng
Cơ sở dữ liệu công chứng bao gồm các thông tin đương sự, tài sản, hợp đồng, giao dịch và ngăn ngặn, giải tỏa ngăn chặn được chia sẻ giữa các tổ chức hành nghề công chứng, sẽ giúp công chứng viên tìm kiếm dữ liệu nhanh chóng, chính xác và thuận tiện, thông tin cập nhật được bảo mật tối đa, đã góp phần bảo đảm an toàn pháp lý các hợp đồng, giao dịch.  Vừa qua, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành ...
Hiện nay, Cơ sở dữ liệu công chứng được lưu trữ tập trung tại Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông tỉnh Bình Dương, được chia sẻ đến tất cả các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh truy cập nhằm phục vụ cho quá trình tra cứu thông tin ngăn chặn, giải tỏa: tài sản, đương sự được kịp t​hời đã ngăn chặn hiệu quả đối tượng lừa đảo và các giao dịch bất hợp pháp, góp phần ...
Vừa qua, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 29/2019/QĐ-UBND ngày 03/12/2019 về việc ban hành Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương, theo đó, Quyết định số 29/2019/QĐ-UBND có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2020. Nội dung chủ yếu của Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương quy ...
 
Thực hiện ​Công văn số 4639/BTP-HĐKT ngày 22/11/2019 của Hội đồng kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ ba - Bộ Tư pháp, ngày 11/12/2019, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương đã ban hành Công văn số 2223/STP-BTTP về việc thông báo kết quả phúc tra kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ ba. Theo đó, tỉnh Bình Dương có 06 thí sinh đề nghị phúc tra và kết ...
 
 
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Nội dung
Phân loại
  
  
  
Danh sách tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 07/02/2020)Danh sách tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 07/02/2020)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
2/7/2020 11:00 AMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Danh sách tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 31/01/2020)Danh sách tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 31/01/2020)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
1/31/2020 10:00 AMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Thực hiện Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứngTinThực hiện Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng/bo-tro-tu-phap/PublishingImages/2020-01/bttp-CSDLCC-2020_Key_31012020171126.jpg
1/30/2020 6:00 PMNoĐã ban hành

Cơ sở dữ liệu công chứng bao gồm các thông tin đương sự, tài sản, hợp đồng, giao dịch và ngăn ngặn, giải tỏa ngăn chặn được chia sẻ giữa các tổ chức hành nghề công chứng, sẽ giúp công chứng viên tìm kiếm dữ liệu nhanh chóng, chính xác và thuận tiện, thông tin cập nhật được bảo mật tối đa, đã góp phần bảo đảm an toàn pháp lý các hợp đồng, giao dịch.  

Vừa qua, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 29/2019/QĐ-UBND ngày 03/12/2019 về việc quy định Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Sở Tư pháp đã chỉ đạo Hội công chứng viên tỉnh triển khai, quán triệt Quyết định số 29/2019/QĐ-UBND đến các TCHNCC trên địa bàn tỉnh.   

Để tiếp tục triển khai thực hiện Quy chế được đồng bộ, thống nhất và có hiệu quả, ngày 22/01/2020​, Sở Tư pháp đã có Công văn số 99/STP-BTTP , theo đó đề nghị Hội Công chứng viên tỉnh Bình Dương quán triệt công chứng viên là thành viên của Hội và các tổ chức hành nghề công chứng thực hiện nghiêm Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng; theo dõi, nắm bắt thông tin về những khó khăn, vướng mắc và hành vi vi phạm liên quan đến Cơ sở dữ liệu công chứng, kịp thời phản ánh, báo cáo Sở Tư pháp. Các tổ chức hành nghề công chứng phổ biến, giới thiệu nội dung, triển khai và thực hiện đầy đủ, nghiêm túc Quyết định số 29/2019/QĐ-UBND đến toàn thể công chứng viên, chuyên viên, người lao động tại tổ chức mình, đặc biệt là trách nhiệm và nghĩa vụ của Trưởng TCHNCC, công chứng viên và người sử dụng cơ sở dữ liệu công chứng. Đồng thời, Sở Tư pháp hướng dẫn quy trình tra cứu thông tin ngăn chặn, giải tỏa ngăn chặn và thông tin hợp đồng, giao dịch đã công chứng trên Cơ sở dữ liệu công chứng và có một số lưu ý về cấp, quản lý, sử dụng tài khoản.

Nội dung chi tiết xem tại file đính kèm CV_99_STP-BTTP.signed.pdf

Thông tin; Tin ngành tư phápFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Thực hiện phối hợp cung cấp thông tin ngăn chặn, giải tỏa ngăn chặn cho Cơ sở dữ liệu công chứng TinThực hiện phối hợp cung cấp thông tin ngăn chặn, giải tỏa ngăn chặn cho Cơ sở dữ liệu công chứng /bo-tro-tu-phap/PublishingImages/2020-01/bttp-cungcapthongtin-2020_Key_31012020171914.jpg
1/30/2020 2:00 PMNoĐã ban hành

Hiện nay, Cơ sở dữ liệu công chứng được lưu trữ tập trung tại Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông tỉnh Bình Dương, được chia sẻ đến tất cả các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh truy cập nhằm phục vụ cho quá trình tra cứu thông tin ngăn chặn, giải tỏa: tài sản, đương sự được kịp t​hời đã ngăn chặn hiệu quả đối tượng lừa đảo và các giao dịch bất hợp pháp, góp phần bảo đảm lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân cũng như lợi ích của các tổ chức hành nghề công chứng.

Thời gian qua, Sở Tư pháp đã nhận được sự phối hợp của các cơ quan về việc cung cấp thông tin ngăn chặn, giải tỏa: đương sự, tài sản, tuy nhiên một số trường hợp văn bản thông tin ngăn chặn, giải tỏa chưa đầy đủ như: đương sự thì chỉ cung cấp họ và tên, chưa cung cấp số chứng minh nhân dân/căn cước công dân; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất chưa cung cấp số phát hành, số vào sổ, cơ quan cấp, ngày cấp; Giấy chứng nhận đăng ký xe: thiếu số, cơ quan cấp, ngày cấp, … đã gây khó khăn cho công tác nhận dữ liệu để chia sẻ cho các tổ chức hành nghề công chứng.

Thực hiện Quyết định số 29/2019/QĐ-UBND ngày 03/12/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc ban hành Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương, để việc cung cấp thông tin ngăn chặn, giải tỏa ngăn chặn cho Cơ sở dữ liệu công chứng được kịp thời, đầy đủ và chính xác, Sở Tư pháp đã ban hành Công văn số 98/STP-BTTP ngày ​22/01/2020. Theo đó, Sở Tư pháp đề nghị các cơ quan: Tòa án nhân dân tỉnh, Công an tỉnh, Cục Thi hành án dân sự tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh Bình Dương, Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã và thành phố​​ lưu ý một số nội dung khi ​thực hiện phối hợp cung cấp thông tin ngăn chặn, giải tỏa ngăn chặn cho Cơ sở dữ liệu công chứng.

Nội dung chi tiết xem tại file đính kèm CV_98_STP-BTTP.signed.pdf

Thông tin; Tin ngành tư phápFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Danh sách tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 07/01/2020)Danh sách tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 07/01/2020)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
1/7/2020 10:00 AMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Triển khai thực hiện Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng tại các sở, ngành và Ủy ban nhân dân cấp huyệnTinTriển khai thực hiện Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng tại các sở, ngành và Ủy ban nhân dân cấp huyện/bo-tro-tu-phap/PublishingImages/2020-01/bttp-trienkhaiQD29-2020_Key_10012020100244.jpg
1/2/2020 10:00 AMNoĐã ban hành

Vừa qua, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 29/2019/QĐ-UBND ngày 03/12/2019 về việc ban hành Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương, theo đó, Quyết định số 29/2019/QĐ-UBND có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2020. Nội dung chủ yếu của Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương quy định về cung cấp thông tin, khai thác, sử dụng và chia sẻ thông tin về hợp đồng, giao dịch trong Cơ sở dữ liệu công chứng; quy trình vận hành và sử dụng Cơ sở dữ liệu công chứng tại Sở Tư pháp và các tổ chức hành nghề công chứng; trách nhiệm của Sở Tư pháp, các tổ chức hành nghề công chứng và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc thực hiện Quy chế,…

Để việc triển khai thực hiện Quy chế được đồng bộ, thống nhất và có hiệu quả, ngày 27/12/2019, Sở Tư pháp đã ban hành Công văn số 2306/STP-BTTP triển khai thực hiện Quy chế tại các sở, ngành và Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh./.

Nội dung chi tiết xem tại file đính kèm Cong_van_2306_STP-BTTP.signed.pdf​ 

Thông tinFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Danh sách tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 25/12/2019)Danh sách tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 25/12/2019)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/25/2019 2:00 PMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Quyết định số 29/2019/QĐ-UBND ban hành Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh Bình DươngQuyết định số 29/2019/QĐ-UBND ban hành Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/12/2019 6:00 PMNoĐã ban hànhVăn bản Quy phạm Pháp luậtFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Danh sách các tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 11/12/2019)Danh sách các tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 11/12/2019)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/11/2019 10:00 PMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Thông báo kết quả phúc tra kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề  công chứng lần thứ baTinThông báo kết quả phúc tra kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề  công chứng lần thứ ba/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/11/2019 4:00 PMNoĐã ban hành

Thực hiện ​Công văn số 4639/BTP-HĐKT ngày 22/11/2019 của Hội đồng kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ ba - Bộ Tư pháp, ngày 11/12/2019, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương đã ban hành Công văn số 2223/STP-BTTP về việc thông báo kết quả phúc tra kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ ba. Theo đó, tỉnh Bình Dương có 06 thí sinh đề nghị phúc tra và kết quả như sau:​

SttHọ và tênNơi tập sựKết quả phúc tra
1Nguyễn Thị Thúy HồngVPCC Mỹ Phước (nay đổi tên thành VPCC Nguyễn Duy Linh)Không đạt
2Nguyễn Tấn LộcVPCC Thanh TuyềnKhông đạt
3Trần Trọng NghĩaVPCC Phạm Văn CảnhKhông đạt
4Nguyễn Thị OanhVPCC Rồng ViệtKhông đạt
5Nguyễn Văn Sơn

VPCC Rồng Việt

 

Không đạt
6Mai Đức ThanhVPCC Mỹ Phước (nay đổi tên thành VPCC Nguyễn Duy Linh)Không đạt​

Xem chi tiết điểm phúc tra tại file đính kèm CV 4639-BTP.pdf

Thông tinFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Quyết định số 28/2019/QĐ-UBND sửa đổi, bổ sung một số Điều tại Quyết định số 25/2017/QĐ-UBND ngày 27/9/2017 của UBND tỉnh quy định diện tích tối thiểu được phép tách thửa đối với các loại đất trên địa bàn tỉnh Bình DươngQuyết định số 28/2019/QĐ-UBND sửa đổi, bổ sung một số Điều tại Quyết định số 25/2017/QĐ-UBND ngày 27/9/2017 của UBND tỉnh quy định diện tích tối thiểu được phép tách thửa đối với các loại đất trên địa bàn tỉnh Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/11/2019 2:00 PMNoĐã ban hànhVăn bản Quy phạm Pháp luậtFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Bình Dương ban hành Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứngTinBình Dương ban hành Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng/bo-tro-tu-phap/PublishingImages/2020-01/bttp-quyche-CSDLCC_Key_10012020084449.jpg
12/11/2019 9:00 AMNoĐã ban hành

Ngày 03/12/2019, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương (kèm theo Quyết định số 29/2019/QĐ-UBND). Quy chế được bố cục 05 Chương, 25 Điều. Nội dung chủ yếu của Quy chế gồm những quy định chung như: nguyên tắc cung cấp thông tin, phương thức cập nhật, chỉnh sửa, khai thác và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng; những hành vi bị nghiêm cấm,…. Theo đó, việc nhập thông tin ngăn chặn, thông tin giải tỏa ngăn chặn, thông tin về hợp đồng, giao dịch đã công chứng vào Cơ sở dữ liệu công chứng phải bảo đảm tính chính xác, đầy đủ, kịp thời, bảo đảm an toàn, an ninh thông tin và lưu trữ lâu dài; tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức hành nghề công chứng tra cứu thông tin. Tổ chức hành nghề công chứng có trách nhiệm cập nhật tất cả các hợp đồng, giao dịch đã công chứng vào Cơ sở dữ liệu công chứng. Cá nhân, tổ chức khai thác, sử dụng, quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng phải đúng mục đích, không sử dụng Cơ sở dữ liệu công chứng vào những mục đích trái pháp luật hay mục đích khác không phải phục vụ cho hoạt động công chứng của tổ chức mình hay hoạt động quản lý nhà nước về công chứng.

bttp-Quyet dinh29.jpg

Quy chế cũng quy định về cung cấp thông tin, khai thác, sử dụng và chia sẻ thông tin về hợp đồng, giao dịch trong Cơ sở dữ liệu công chứng; quy trình vận hành và sử dụng Cơ sở dữ liệu công chứng tại Sở Tư pháp và các tổ chức hành nghề công chứng; trách nhiệm của Sở Tư pháp, các tổ chức hành nghề công chứng và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc thực hiện Quy chế.

Cơ sở dữ liệu công chứng là hệ thống cơ sở dữ liệu bao gồm thông tin ngăn chặn và Phần mềm quản lý hồ sơ công chứng. Kết quả tra cứu từ Cơ sở dữ liệu công chứng là nguồn thông tin để công chứng viên kiểm tra, xem xét trước khi quyết định công chứng hoặc tạm dừng thực hiện việc công chứng hợp đồng, giao dịch.

Việc ban hành Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương nhằm tạo khung pháp lý rõ ràng, thống nhất cho việc khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh, qua đó góp phần đảm bảo tính an toàn pháp lý trong hoạt động công chứng.

Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2020.

Thông tin; Tin ngành tư phápFalseTăng Thị Hà Chi
Nhìn lại 05 năm triển khai thi hành Luật Công chứng năm 2014Bài viếtNhìn lại 05 năm triển khai thi hành Luật Công chứng năm 2014/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/6/2019 2:00 PMNoĐã ban hành

Luật Công chứng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 20/6/2014 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2015. Xuất phát từ nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của hoạt động công chứng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, trong 05 năm qua, các cấp, các ngành trên địa bàn tỉnh đã quan tâm, chỉ đạo triển khai thực hiện Luật Công chứng và đạt được nhiều kết quả tích cực.

Công tác lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thi hành Luật Công chứng

Để triển khai thi hành Luật Công chứng được đồng bộ, thống nhất và có hiệu quả, Sở Tư pháp đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 4477/KH-UBND ngày 19/12/2014 về việc triển khai thi hành Luật Công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Trên cơ sở đó, Ủy ban nhân dân các cấp địa phương tích cực chỉ đạo triển khai thi hành Luật thông qua việc tuyên truyền, phổ biến Luật Công chứng, cũng như tạo điều kiện cho cán bộ, công chức, viên chức tại các cơ quan, đơn vị có liên quan và công chức tư pháp hộ tịch xã, phường, thị trấn tham gia đầy đủ các lớp tập huấn nghiệp vụ về lĩnh vực công chứng, chứng thực do Sở Tư pháp, Hội Công chứng viên tỉnh tổ chức. Sở Tư pháp đã chỉ đạo các Phòng Tư pháp giao ban tư pháp mời tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn cấp huyện tham dự theo định kỳ tháng, quý để nắm bắt tình hình hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng, đồng thời tháo gỡ những khó khăn trong thực tiễn thi hành Luật Công chứng.

Công tác tổ chức triển khai thi hành Luật Công chứng

Việc tuyên truyền, phổ biến Luật Công chứng được các cấp, các ngành, các địa phương và tổ chức hành nghề công chứng chú trọng và thực hiện thường xuyên. Đối với cấp tỉnh, Sở Tư pháp tổ chức Hội nghị triển khai Luật cho khoảng hơn 500 đại biểu là lãnh đạo Ủy ban nhân dân các cấp cùng đại diện các cơ quan, sở, ban, ngành, đoàn thể và công chứng viên của các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh; chủ động phối hợp với Đài phát thanh - Truyền hình tỉnh, Báo Bình Dương thực hiện các chương trình giới thiệu, phỏng vấn, phóng sự, tọa đàm…về đề tài công chứng, trung bình mỗi năm phát hành 20.000 tờ gấp pháp luật về công chứng; phổ biến quy định pháp luật về công chứng qua việc trợ giúp pháp lý,... Các sở, ban, ngành, đoàn thể đã lồng ghép việc tuyên truyền Luật Công chứng trong sinh hoạt "Ngày pháp luật" hàng tháng đến toàn thể công chức, viên chức, người lao động tại đơn vị mình; tuyên truyền, hướng dẫn người dân biết và thực hiện pháp luật về công chứng khi giải quyết thủ tục hành chính có liên quan đến hoạt động công chứng (Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trường, Cục Thi hành án dân sự tỉnh, Ban Quản lý các khu nghiệp công nghiệp tỉnh,...).

Đối với cấp huyện, Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã và thành phố Thủ Dầu Một đã chỉ đạo Phòng Tư pháp tổ chức Hội nghị triển khai thi hành Luật, phối hợp với Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn tổ chức phổ biến rộng rãi quy định pháp luật về công chứng qua hệ thống loa, đài truyền thanh.

Tại các tổ chức hành nghề công chứng, việc tuyên truyền, phổ biến Luật Công chứng đến người dân được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: niêm yết bộ thủ tục hành chính về công chứng, mức trần thù lao công chứng, thù lao dịch thuật tại trụ sở, nội quy, quy trình công chứng; trong quá trình hành nghề, các công chứng viên tuyên truyền về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên, giải thích cho người dân hiểu rõ quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp, ý nghĩa và hậu quả pháp lý của việc công chứng. Ngoài ra, một số tổ chức hành nghề công chứng còn tích cực tham gia các hoạt động tuyên truyền, phổ biến Luật công chứng trong Ngày hội pháp luật do Sở Tư pháp tổ chức, tham gia chương trình tư vấn pháp luật trực tiếp trên sóng phát thanh 92,5 MHz nhằm kịp thời đáp ứng nhu cầu tìm hiểu pháp luật và giải đáp các khó khăn, vướng mắc của người dân liên quan đến công chứng (Phòng công chứng số 1, Phòng công chứng số 2, Văn phòng công chứng Tân Uyên,…).

Thông qua các hình thức tuyên truyền, phổ biến Luật công chứng đa đạng nêu trên, nhận thức của các cơ quan, tổ chức, cá nhân về ý nghĩa, vai trò và tầm quan trọng của hoạt động công chứng được nâng lên rõ rệt, tạo tiền đề cho việc triển khai có hiệu quả Luật Công chứng trên địa bàn tỉnh.

 Sau khi Luật Công chứng có hiệu lực thi hành, Sở Tư pháp thường xuyên rà soát các văn bản do địa phương ban hành liên quan đến tổ chức và hoạt động công chứng để kịp thời kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tế tại địa phương. Năm 2015, Sở Tư pháp đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 41/2015/QĐ-UBND ngày 30/9/2015 về sửa đổi, bổ sung Quyết định số 17/2013/QĐ-UBND ngày 20/6/2013 về chuyển giao thẩm quyền chứng thực hợp đồng, giao dịch sang tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương, đã được bổ sung bởi Quyết định số 36/2013/QĐ-UBND ngày 11/11/2013; Quyết định số 2544/QĐ-UBND ngày 05/10/2015 về việc ban hành Quy định tiêu chí xét duyệt hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

         Hàng năm, công tác tổ chức tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng hành nghề và đạo đức nghề nghiệp công chứng luôn được Sở Tư pháp, Hội Công chứng viên tỉnh phối hợp tổ chức thực hiện đúng theo quy định của Thông tư số 06/2015/TT-BTP ngày 15/6/2015 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng. Nội dung bồi dưỡng tập trung vào những vấn đề thiết thực, sát sườn với thực tiễn hành nghề công chứng tại địa phương như: quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 2013, những điểm mới của Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015, kỹ năng tiếp xúc khách hàng, kỹ năng nhận diện giấy tờ giả,...

Công tác phối hợp giữa Sở Tư pháp với các sở, ban, ngành, Uỷ ban nhân dân cấp huyện và các tổ chức, đơn vị có liên quan trong quản lý nhà nước về công chứng được thực hiện nhịp nhàng, chặt chẽ và có hiệu quả. Sở Tư pháp đã tích cực, chủ động xây dựng, ký kết Quy chế phối hợp với các cơ quan có liên quan, cụ thể:

- Quy chế phối hợp trong công tác quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương ký ngày 04/5/2016 giữa Sở Tư pháp và Hội Công chứng viên tỉnh. Sau hơn 03 năm triển khai thực hiện Quy chế, công tác phối hợp giữa Sở Tư pháp và Hội Công chứng viên tỉnh đạt được hiệu quả cao, góp phần tăng cường công tác quản lý nhà nước gắn với việc phát huy vai trò tự quản của Hội Công chứng viên trong tổ chức và hoạt động công chứng trên địa bàn tỉnh.

- Quy chế phối hợp công tác ký kết ngày 10/10/2016 giữa Sở Tư pháp và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương. Theo đó, hai cơ quan có sự phối hợp trong công tác chỉ đạo các đơn vị trực thuộc cung cấp, trao đổi thông tin quyết định kê biên xử lý tài sản; quyết định tạm dừng/chấm dứt tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản và xác minh các thông tin có liên quan nhằm tạm dừng công chứng các hợp đồng, giao dịch theo quy định để kịp thời ngăn chặn việc tẩu tán tài sản thi hành án, đồng thời đảm bảo giá trị pháp lý của các văn bản công chứng.

- Quy chế phối hợp số 427/QCPH/STP-CAT về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về công chứng, chứng thực trên địa bàn tỉnh Bình Dương ký ngày 06/4/2018, Sở Tư pháp và Công an tỉnh Bình Dương. Việc ký kết Quy chế phối hợp tạo ra sự thống nhất, kịp thời trong quy trình tiếp nhận, xử lý thông tin, vụ việc có dấu hiệu tội phạm liên quan đến công chứng, chứng thực. Qua hơn 01 năm triển khai thực hiện, Quy chế đã góp phần tăng cường sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả trong công tác, thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của hai cơ quan trong phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về công chứng, chứng thực, góp phần đảm bảo an ninh, trật tự, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.

- Ngày 21/4/2017, Sở Tư pháp tổ chức Tọa đàm về hoạt động công chứng, chứng thực với sự tham gia của đại diện Ban Pháp chế Hội đồng nhân dân tỉnh, Phòng Nội chính Ủy ban nhân dân tỉnh, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Ngân hàng nhà nước Chi nhánh tỉnh Bình Dương, Sở Tài nguyên và Môi trường, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai cấp huyện và các tổ chức hành nghề công chứng nhằm trao đổi, thảo luận và giải quyết một số khó khăn, vướng mắc trong hoạt động công chứng, chứng thực như: việc cung cấp thông tin đất đai, sửa lỗi kỹ thuật trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, công chứng hợp đồng thế chấp, xác nhận, chứng thực các giấy tờ về hộ tịch,...Thông qua buổi Tọa đàm đã góp phần tháo gỡ một số khó khăn vướng mắc, thống nhất cách giải quyết đảm bảo trong công tác phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, Hội công chứng viên, tạo thuận lợi giải quyêt nhanh hơn cho người dân. Các tổ chức hành nghề công chứng nghiêm túc rà soát, rút kinh nghiệm, chấn chỉnh một số hạn chế trong quá trình hành nghề; Ngân hàng nhà nước Chi nhánh tỉnh Bình Dương, Sở Tài nguyên và Môi trường rà soát, chấn chỉnh và tiếp tục phối hợp chặt chẽ hơn nữa với Sở Tư pháp, tổ chức hành nghề công chứng nhằm tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động công chứng.

Ngoài ra, Sở Tư pháp cũng đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện tốt các nhiệm vụ đã đề ra tại Kế hoạch số 4477/KH-UBND ngày 19/12/2014. Bình Dương là một trong những tỉnh đầu tiên trong cả nước ban hành mức trần thù lao công chứng (Quyết định số 04/2015/QĐ-UBND ngày 26/02/2015 về việc ban hành mức trần thù lao công chứng và thù lao dịch thuật trên địa bàn tỉnh Bình Dương). Quyết định số 04/2015/QĐ-UBND đã được các tổ chức hành nghề công chứng, Phòng Tư pháp và các tổ chức, cá nhân có liên thực hiện nghiêm túc. Việc áp dụng mức trần thù lao công chứng và thù lao dịch thuật góp phần giảm thiểu tình trạng thu thù lao tùy tiện và cạnh tranh không lành mạnh giữa các tổ chức hành nghề công chứng.

Ngày 21/12/2015, Hội Công chứng viên tỉnh Bình Dương được thành lập theo Quyết định số 3341/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh. Đây là tổ chức xã hội - nghề nghiệp của các công chứng viên đang hành nghề tại tỉnh Bình Dương, được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tự quản, công khai, minh bạch, không vì mục đích lợi nhuận, tự chịu trách nhiệm về kinh phí hoạt động, chịu sự quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân tỉnh và hướng dẫn của Hiệp hội công chứng viên Việt Nam. Sự ra đời của Hội Công chứng viên có ý nghĩa quan trọng, đánh dấu sự lớn mạnh trong hoạt động công chứng của tỉnh. Sở Tư pháp đã phối hợp với Sở Nội vụ trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 301/QĐ-UBND ngày 15/02/2016 về việc phê duyệt Điều lệ Hội Công chứng viên tỉnh Bình Dương, làm cơ sở quan trọng cho hoạt động của Hội.

Xây dựng dữ liệu công chứng và ban hành quy chế khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu công chứng. Thời gian qua, Sở Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp với Sở Tài chính, Sở Thông tin và Truyền thông, Công ty TNHH MTV HTTT Giải Pháp Việt (nhà thầu) và chỉ đạo Phòng công chứng số 1 (chủ đầu tư) cùng với các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh tiến hành xây dựng và triển khai Phần mềm quản lý công chứng (Cơ sở dữ liệu công chứng). Phần mềm có chức năng soạn thảo hợp đồng, giao dịch, tra cứu, ngăn chặn và chia sẻ dữ liệu công chứng giữa các tổ chức hành nghề công chứng giúp tổ chức hành nghề công chứng ngăn chặn các đối tượng lừa đảo và hạn chế tối đa những rủi ro trong hoạt động công chứng, bảo đảm lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức cũng như lợi ích các tổ chức hành nghề công chứng. Ngày 03/12/2019, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 29/2019/QĐ-UBND về việc ban hành Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương nhằm tạo khung pháp lý rõ ràng, thống nhất cho việc khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng tại địa phương.

Khó khăn, vướng mắc, bất cập trong quá trình triển khai thực hiện Luật Công chứng

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, việc triển khai thi hành Luật Công chứng vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc.

Về thể chế, hệ thống pháp luật liên quan đến hoạt động công chứng hiện nay vẫn còn một số quy định chồng chéo, mâu thuẫn nhau như Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Hôn nhân và Gia đình. Một số quy định còn chưa rõ ràng, cụ thể, được hiểu chưa thống nhất, việc hướng dẫn, giải thích pháp luật liên quan đến đất đai còn chậm khiến cho việc vận dụng, áp dụng pháp luật trong hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ công chứng có khó khăn, ví dụ như: công chứng giao dịch về tài sản hình thành trong tương lai, quyền tài sản,...

Quy định về việc thay đổi tên gọi của Văn phòng công chứng trong trường hợp thay đổi tên gọi, trụ sở hoặc Trưởng Văn phòng công chứng theo Khoản 3 Điều 22 Luật Công chứng là không hợp lý, bởi tên gọi là tài sản, là thương hiệu của Văn phòng công chứng được nhiều người biết đến. Việc thay đổi tên sẽ phần nào ảnh hưởng thương hiệu đã xây dựng của Văn phòng công chứng, người dân cũng khó khăn trong việc xác định Văn phòng công chứng mà mình đã từng công chứng. Mặt khác, hầu hết trụ sở Văn phòng công chứng đều được thuê khi bên cho thuê chấm dứt hợp đồng cho thuê thì Văn phòng đó sẽ phải thay đổi tên gọi (vấn đề thay đổi tên văn phòng phải thực hiện thủ tục hành chính thay đổi nội dung đăng ký hoạt động theo quy định pháp luật, khi đó, kéo theo thay đổi bảng hiệu, con dấu, in ấn lại hóa đơn,... làm tốn kém kinh phí và thời gian).

Luật Công chứng không có quy định giới hạn độ tuổi của công chứng viên nên thực tế có một số trường hợp công chứng viên tuổi đã cao (trên 65 tuổi) vẫn hành nghề công chứng. Đây là một bất cập bởi vì hoạt động công chứng dòi hỏi nghiệp vụ, kỹ năng và còn đòi hỏi phải có sự nghiên cứu, cập nhật pháp luật thường xuyên, sự nhanh nhạy cập nhập các thông tin về pháp luật cũng như các vấn đề phát sinh trong xã hội liên quan đến công chứng.

Hiện nay, tình hình tội phạm liên quan đến hoạt động công chứng đang diễn biến phức tạp. Trình độ tinh vi công nghệ làm giả ngày càng hiện đại, nhiều giấy tờ, tài liệu giả bằng mắt thường thì khó có thể phân biệt. Trong khi đó chế tài xử phạt đối với các hành vi này chưa cao, chưa đủ sức răn đe. Theo quy định của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 67/2015/NĐ-CP) thì mức phạt tiền cao nhất đối với hành vi "làm giả giấy tờ, văn bản hoặc giả mạo, thuê hoặc nhờ người khác giả mạo người yêu cầu công chứng để được công chứng hợp đồng, giao dịch; làm giả giấy tờ, văn bản để được công chứng bản dịch" chỉ là 10.000.000 đồng.

Về thực tiễn hoạt động công chứng, cơ sở vật chất về công nghệ thông tin có liên quan chưa được đáp ứng kịp thời trong hoạt động hành nghề công chứng. Hiện nay, Cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Duơng đã đi vào hoạt động, tuy nhiên Cơ sở dữ liệu công chứng chưa được liên thông với Cơ sở dữ liệu về hộ tịch, đất đai, đăng ký biện pháp bảo đảm,… Do vậy, để có căn cứ chứng nhận hợp đồng, giao dịch thì công chứng viên đề nghị người yêu cầu công chứng cung cấp thông tin hoặc phải xác minh thông tin dẫn đến mất thời gian, kéo dài thời gian chứng nhận hợp đồng, giao dịch của người dân, làm ảnh hưởng đến hoạt động công chứng.

Kiến nghị, đề xuất

Để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc nêu trên, Sở Tư pháp kiến nghị Ủy ban nhân dân tỉnh đề xuất, kiến nghị Trung ương nghiên cứu sửa đổi, bổ sung một số quy định bất cập trong Luật Công chứng, đồng thời, rà soát hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến hoạt động công chứng còn chồng chéo, mâu thuẫn giữa Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Hôn nhân và Gia đình,...;

Kiến nghị có chế tài xử lý nghiêm khắc hơn nữa đối với các trường hợp người yêu cầu công chứng cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật; sử dụng giấy tờ, văn bản giả mạo hoặc bị tẩy xóa, sửa chữa trái pháp luật để yêu cầu công chứng; thông báo, thông tin rộng rãi kết quả xử lý, thủ đoạn làm giả,... đề người dân biết, phòng ngừa.

Kiến nghị UBND tỉnh chỉ đạo Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh xây dựng cơ sở dữ liệu về bất động sản và liên thông với cơ sở dữ liệu công chứng của Sở Tư pháp nhằm đảm bảo cho công tác quản lý nhà nước về công chứng được hiệu quả, tạo thuận lợi cho việc tra cứu và khai thác thông tin về bất động sản.

Thông tinFalseTăng Thị Hà Chi
Danh sách các tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 03/12/2019)Danh sách các tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 03/12/2019)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/3/2019 10:00 PMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Nghị định số 87/2019/NĐ-CP: Sửa đổi một số quy định về phòng, chống rửa tiềnTinNghị định số 87/2019/NĐ-CP: Sửa đổi một số quy định về phòng, chống rửa tiền/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Ngày 14/11/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 87/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 116/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng, chống rửa tiền. Nghị định có hiệu lực cùng ngày ký.
11/20/2019 2:00 PMNoĐã ban hành
Nghị định số 87/2019/NĐ-CP bổ sung khoản 5 vào Điều 6 quy định về phân loại khách hàng theo mức độ rủi ro như sau: Căn cứ kết quả đánh giá rủi ro rửa tiền và tài trợ khủng bố tại đối tượng báo cáo, đối tượng báo cáo được áp dụng các biện pháp nhận biết khách hàng đơn giản đối với những khách hàng được xác định có mức rủi ro rửa tiền hoặc tài trợ khủng bố thấp gồm một hoặc tất cả các biện pháp sau: Không thu thập thông tin về mục đích, bản chất mối quan hệ kinh doanh nếu có cơ sở nhận biết được mục đích và bản chất từ các loại giao dịch hoặc mối quan hệ kinh doanh đã được thực hiện, thiết lập; xác thực nhận dạng khách hàng và chủ sở hữu hưởng lợi sau khi thiết lập mối quan hệ kinh doanh; giảm tần suất cập nhật nhận dạng khách hàng; giảm mức độ theo dõi và kiểm soát giao dịch.
Đối tượng báo cáo không được áp dụng các biện pháp nhận biết khách hàng đơn giản trong trường hợp nghi ngờ liên quan đến rửa tiền hoặc tài trợ khủng bố.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan hướng dẫn tiêu chí đánh giá rủi ro rửa tiền, tài trợ khủng bố để đối tượng báo cáo thực hiện.
Bên cạnh đó, Nghị định số 87/2019/NĐ-CP cũng sửa đổi điều 5 về chủ sở hữu hưởng lợi quy định tại Nghị định số 116/2013/NĐ-CP như sau: Đối tượng báo cáo phải xác định chủ sở hữu hưởng lợi cuối cùng của khách hàng và áp dụng các biện pháp để nhận biết và cập nhật thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi thông qua các tiêu chí sau: cá nhân sở hữu thực tế đối với một tài khoản hoặc một giao dịch: chủ tài khoản, đồng chủ tài khoản hoặc bất kỳ người nào chi phối hoạt động của tài khoản hoặc thụ hưởng từ giao dịch đó; cá nhân có quyền chi phối pháp nhân: cá nhân nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp từ 25% trở lên vốn điều lệ của pháp nhân đó; chủ doanh nghiệp tư nhân; cá nhân khác thực tế chi phối, kiểm soát pháp nhân đó; cá nhân có quyền chi phối một ủy thác đầu tư, thỏa thuận ủy quyền: cá nhân ủy thác, ủy quyền; cá nhân có quyền chi phối cá nhân, pháp nhân hoặc tổ chức ủy thác, ủy quyền.
Ngoài ra, Nghị định số 87/2019/NĐ-CP cũng bổ sung khoản 5 vào Điều 17 về trách nhiệm báo cáo, cung cấp thông tin quy định tại Nghị định số 116/2013/NĐ-CP như sau: Đối tượng báo cáo có trách nhiệm cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan điều tra các cấp kể từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, kể cả các thông tin thuộc bí mật nhà nước. Cơ quan điều tra khi tiếp nhận các thông tin thuộc bí mật nhà nước có trách nhiệm lưu trữ, bảo quản, sử dụng theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước./.
(Nguồn Cổng Thông tin điện tử Bộ Tư pháp:https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/van-ban-chinh-sach-moi.aspx?ItemID=3027​)

Thông tinFalsePhòng Hành chính Tư pháp
Danh sách tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 20/11/2019)Danh sách tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 20/11/2019)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
11/20/2019 10:00 AMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Kết quả triển khai thực hiện Quyết định số 2104/QĐ-TTg ngày 29/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng đến năm 2020” trên địa bàn tỉnh Bình DươngBài viếtKết quả triển khai thực hiện Quyết định số 2104/QĐ-TTg ngày 29/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng đến năm 2020” trên địa bàn tỉnh Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
11/19/2019 11:00 AMNoĐã ban hành

Ngày 29/12/2013, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt "Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng đến năm 2020". Để triển khai thực hiện Quyết định số 2104/QĐ-TTg, Sở Tư pháp đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 2657/KH-UBND ngày 12/8/2014 triển khai thực hiện "Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng đến năm 2020" trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Theo chỉ đạo, định hướng của Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Tư pháp đã tích cực chủ động phối hợp với các sở, ngành, đơn vị có liên quan tổ chức thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ được giao, như: nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, cán bộ, công chức và các tầng lớp nhân dân về vai trò, vị trí của nghề công chứng và công chứng viên trong xã hội; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về hoạt động công chứng, về thực hiện Quy hoạch thông qua việc củng cố, kiện toàn, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ tham mưu quản lý nhà nước về công chứng; tiếp tục thực hiện việc chuyển giao thẩm quyền chứng thực các hợp đồng, giao dịch về bất động sản từ Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã sang tổ chức hành nghề công chứng phù hợp với tình hình thực tiễn tại địa phương; xây dựng và triển khai Phần mềm quản lý công chứng; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra về công chứng để kịp thời chấn chỉnh các sai phạm; phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ công chứng viên; củng cố, phát triển tổ chức hành nghề công chứng; thành lập Hội Công chứng viên tỉnh Bình Dương,...

Sau 05 năm triển khai thực hiện, kết quả đạt được như sau:

1. Tình hình tổ chức và hoạt động công chứng

a) Về tổ chức hành nghề công chứng

Theo Quyết định số 2104/QĐ-TTg, chỉ tiêu thành lập tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương đến năm 2020 là 31 tổ chức. Tuy nhiên, Bình Dương có tốc độ phát triển kinh tế nhanh, tốc độ đô thị hóa mạnh, tập trung nhiều khu công nghiệp, khu dân cư, khu đô thị, sự phát triển nhanh của thị trường bất động sản, thị trường vốn (tài chính, ngân hàng…), kéo theo nhu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch và chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký của cá nhân, tổ chức tại địa phương ngày càng nhiều. Xuất phát từ tình hình thực tiễn, Sở Tư pháp đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh đề xuất Bộ Tư pháp điều chỉnh Quy hoạch phát triển tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương, theo đó bổ sung thêm 02 tổ chức, nâng tổng số tổ chức được quy hoạch là 33 tổ chức.

Tính đến ngày 30/6/2019, tỉnh Bình Dương đã phát triển 32 tổ chức hành nghề công chứng, gồm 02 Phòng công chứng và 30 Văn phòng công chứng được phân bổ tại 9/9 đơn vị hành chính cấp huyện. So với thời điểm trước khi Luật Công chứng năm 2014 có hiệu lực thi hành, số lượng tổ chức hành nghề công chứng tăng thêm được 12 tổ chức (tăng 1,6 lần). Như vậy, tỉnh Bình Dương đã hoàn thành việc phát triển tổ chức hành nghề công chứng sớm hơn so với thời gian dự kiến tại Quy hoạch.  

NămSố tổ chức hành nghề công chứng/công chứng viên
Tổng số TCHNCC/CCVPhòng công chứngVăn phòng công chứng
201420/25218
201521/45219
201626/61224
201726/59224
201829/69227
6 tháng đầu năm 201932/76230

Các Văn phòng công chứng được thành lập theo chủ trương xã hội hóa đã hoạt động ổn định. Công tác quản trị, điều hành tổ chức, hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng ngày càng được cải tiến theo hướng chuyên nghiệp hóa. Việc phát triển các tổ chức hành nghề công chứng rộng khắp gắn với địa bàn dân cư theo chủ trương xã hội hóa đã tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, tổ chức trong việc thực hiện yêu cầu công chứng.

b) Về đội ngũ công chứng viên

Trước thời điểm Luật Công chứng năm 2014 có hiệu lực thi hành, toàn tỉnh có 42 công chứng viên. Đến nay, tổng số công chứng viên đang hành nghề tại các tổ chức hành nghề công chứng là 76 người (tăng 34 người). Nhìn chung, số lượng các công chứng viên hành nghề tăng dần theo từng năm: năm 2015: 45 người; năm 2016: 61 người; năm 2017: 59 người (giảm do công chứng viên thay đổi nơi hành nghề); năm 2018: 69 người; 6 tháng đầu năm 2019: 76 người.

Sở Tư pháp thực hiện việc tiếp nhận, thẩm tra hồ sơ đề nghị bổ nhiệm 24 công chứng viên, Sự phát triển đội ngũ công chứng viên hiện nay về cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu công chứng, hầu hết công chứng viên được bổ nhiệm sau ngày 01/01/2015 đều đã qua đào tạo nghề công chứng, được bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng hàng năm.

c) Về kết quả hoạt động công chứng

- Số lượng việc công chứng

NămSố lượng việc công chứng
Tổng sốPhòng công chứngVăn phòng công chứng
2014102.21818.03284.186
2015160.62217.206143.416
2016204.10111.353192.748
2017282.69810.337272.361
2018276.3209.650266.670
6 tháng đầu năm 201999.2353.47795.758

- Phí, thù lao công chứng và số tiền nộp ngân sách nhà nước

NămPhí công chứngThù lao công chứngSố tiền nộp ngân sách nhà nước/nộp thuế
PCCVPCCPCCVPCCPCCVPCC
20148.025.223.00025.190.987.520  3.768.126.5003.268.107.721
20159.297.894.00038,568,641,402222.778.0005,056,447,1544.701.345.5004,863,143,473
20167.975.366.00060.214.085.968707.378.01711.847.134.5453.987.683.0006.970.141.743
20178.891.399.00083.420.856.840705.001.67514.810.506.3602.268.851.50010.070.480.526
201810.079.345.00092.102.217.099497.453.66819.190.349.2162.519.836.25010.149.919.778
6 tháng đầu năm 20193.620.767.00040.270.750.149199.394.4285.897.516.000965.817.9143.818.336.825

2. Việc thực hiện Kế hoạch số 2657/KH-UBND ngày 12/8/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh triển khai thực hiện Quyết định số 2104/QĐ-TTg

Trên tinh thần bám sát các nhiệm vụ theo Kế hoạch số 2657/KH-UBND, Sở Tư pháp kịp thời phát triển tổ chức hành nghề công chứng đảm bảo theo Quy hoạch, có các biện pháp hỗ trợ phát triển tổ chức hành nghề công chứng như: đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về công chứng; tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành các quyết định về chuyển giao thẩm quyền chứng thực hợp đồng, giao dịch sang tổ chức hành nghề công chứng (có sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với từng giai đoạn), mức trần thù lao công chứng và thù lao dịch thuật trên địa bàn tỉnh Bình Dương, tiêu chí xét duyệt hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương; phê duyệt Đề án xây dựng và triển khai Phần mềm quản lý công chứng,... Đồng thời, Sở Tư pháp luôn tăng cường công tác thanh, kiểm tra việc tổ chức và hoạt động công chứng theo định kỳ hoặc đột xuất nhằm phát hiện và xử lý kịp thời những vi phạm trong hoạt động công chứng, cụ thể như:

- Sở Tư pháp luôn quan tâm chú trọng thực hiện tốt công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về công chứng, chính sách phát triển nghề công chứng tại địa phương bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú, qua đó, đưa các quy định pháp luật đến gần hơn với các tầng lớp nhân dân. Việc hướng dẫn chỉ đạo tháo gỡ các vướng mắc, khó khăn trong hoạt động hành nghề công chứng được Sở Tư pháp thực hiện thường xuyên thông qua: các cuộc họp giao ban định kỳ với các tổ chức hành nghề công chứng; thông qua việc trả lời các văn bản kiến nghị của các tổ chức hành nghề công chứng; tổ chức họp với một số sở, ngành có liên quan như Sở Tài nguyên và Môi trường, cơ quan Tòa án, cơ quan Viện kiểm sát, cơ quan Công an,...để thống nhất trong việc áp dụng pháp luật trong hoạt động công chứng.

- Việc chuyển giao thẩm quyền chứng thực các hợp đồng, giao dịch từ Ủy ban nhân dân sang các tổ chức hành nghề công chứng

Thực hiện chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 và Luật Công chứng, bên cạnh việc tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt các Đề án phát triển tổ chức hành nghề công chứng tại Bình Dương, Sở Tư pháp còn sớm tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành các quyết định chuyển giao thẩm quyền chứng thực các hợp đồng, giao dịch cho tổ chức hành nghề công chứng trên cơ sở rà soát, đánh giá nguồn nhân lực công chức làm công tác tư pháp - hộ tịch tại cấp xã cũng như kết quả hoạt động chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã, từ đó tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành các quyết định chuyển giao thẩm quyền chứng thực hợp đồng, giao dịch sang tổ chức hành nghề công chứng. Theo đó, chuyển giao việc chứng thực toàn bộ các hợp đồng, giao dịch thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện, gồm 9/9 huyện, thị xã, thành phố và chuyển giao việc chứng thực các hợp đồng, giao dịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã, gồm 78/91 xã, phường, thị trấn sang tổ chức hành nghề công chứng thực hiện (Các xã chưa chuyển giao gồm: xã Hiếu Liêm, Đất Cuốc, Tân Định, Lạc An và Tân Thành của huyện Bắc Tân Uyên; An Long, An Thái và An Linh của huyện Phú Giáo; Minh Hòa, Minh Tân, Minh Thạnh, Long Tân và Long Hòa của huyện Dầu Tiếng).  

Nhằm đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai và tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp khi thực hiện thủ tục hành chính phù hợp với quy định của Luật Đất đai năm 2013, Luật Công chứng năm 2014 và các văn bản hướng dẫn của Trung ương, Sở Tư pháp đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 41/2015/QĐ-UBND ngày 05/10/2015 sửa đổi, bổ sung Quyết định số 17/2013/QĐ-UBND theo hướng giao thêm thẩm quyền chứng thực một số hợp đồng, giao dịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện.

Sự chuyển giao về thẩm quyền chứng thực đối với các giao dịch từ Ủy ban nhân dân sang tổ chức hành nghề công chứng đã tăng cường bảo đảm an toàn pháp lý cho người dân khi thực hiện các giao dịch. Đồng thời, tạo điều kiện cho cán bộ của Ủy ban nhân dân tập trung vào việc thực hiện các công việc chuyên môn khác.

3. Tác động của hoạt động công chứng đến sự phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương

 Công tác xã hội hóa hoạt động công chứng trong những năm qua đã có nhiều đóng góp tích cực, quan trọng vào sự phát triển chung của Tỉnh.

- Tác động về kinh tế - xã hội 

Hiện tại, tỉnh Bình Dương có 32 tổ chức hành nghề công chứng, gồm 2 Phòng công chứng và 30 Văn phòng công chứng được phân bố hợp lý tại 9/9 đơn vị hành chính cấp huyện với tổng số 77 công chứng viên đang hành nghề (tăng 12 Văn phòng công chứng và 39 công chứng viên so với trước năm 2014).

Theo tổng hợp số liệu báo cáo từ ngày 01/01/2014 đến ngày 30/6/2019, các tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện chứng nhận 1.125.194 việc, thu được trên 450 tỷ đồng, đóng góp gần 57 tỷ đồng vào ngân sách nhà nước và giải quyết được việc làm cho 365 lao động. Nhìn chung, số lượng việc do các tổ chức hành nghề công chứng giải quyết tăng đều qua từng năm (chỉ riêng năm 2018, giảm 6.378 việc so với năm 2017).

 - Tác động đối với người dân

Các Văn phòng công chứng đã thực hiện khá tốt chức năng, nhiệm vụ, đáp ứng nhu cầu công chứng, chứng thực của người dân, không để xảy ra tình trạng quá tải, ùn ứ tại các tổ chức hành nghề công chứng. Việc đầu tư cho cơ sở vật chất được các Văn phòng công chứng quan tâm, chất lượng dịch vụ được nâng cao, phục vụ thuận tiện, nhanh chóng cho người có yêu cầu công chứng. Tại trụ sở niêm yết đầy đủ các thủ tục hành chính trong lĩnh vực công chứng, chứng thực; quy định thành phần hồ sơ yêu cầu công chứng, chứng thực; công khai, minh bạch các mức thu phí công chứng, phí chứng thực, thù lao công chứng, thù lao dịch thuật để khách hàng thực hiện hợp đồng, giao dịch.

- Tác động đối với hoạt động tư pháp

Hoạt động công chứng góp phần quan trọng trong tiến trình cải cách hành chính, giúp giảm tải áp lực công tác chứng thực tại Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp, khiếu nại trong giao kết hợp đồng, giao dịch về kinh tế, dân sự, ... đảm bảo tính an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch, tiết kiệm thời gian, chi phí cho xã hội.   

Thông tinFalseTăng Thị Hà Chi
Sơ kết 01 năm thực hiện Quy chế phối hợp giữa Sở Tư pháp và Công an tỉnh về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về công chứng, chứng thực trên địa bàn tỉnh Bình DươngBài viếtSơ kết 01 năm thực hiện Quy chế phối hợp giữa Sở Tư pháp và Công an tỉnh về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về công chứng, chứng thực trên địa bàn tỉnh Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
11/15/2019 10:00 AMNoĐã ban hành
Ngày 06/4/2018, Sở Tư pháp và Công an tỉnh đã ký kết Quy chế phối hợp số 427/QCPH/STP-CAT về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về công chứng, chứng thực trên địa bàn tỉnh Bình Dương (sau đây gọi tắt là Quy chế). Để có cơ sở đánh giá toàn diện hiệu quả của Quy chế sau 01 năm triển khai thực hiện và báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Tư pháp đã chủ động ban hành Công văn 916/STP-BTTP ngày 27/5/2019 (kèm theo biểu mẫu báo cáo thống kê), theo đó, yêu cầu Hội Công chứng viên tỉnh và Phòng Tư pháp các huyện, thị xã, thành phố triển khai thực hiện báo cáo sơ kết 01 năm thực hiện Quy chế; đồng thời ban hành Công văn số 1545/STP-BTTP ngày 21/8/2019 đề nghị Công an tỉnh báo cáo tình hình kết quả một năm thực hiện Quy chế phối hợp của Ngành Công an các cấp trên địa bàn tỉnh.

Báo cáo của các đơn vị đã tập trung làm rõ công tác triển khai thực hiện Quy chế phối hợp, những kết quả đạt được sau 01 năm thực hiện Quy chế phối hợp và những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện, từ đó đề xuất các kiến nghị, giải pháp.

Ngành Tư pháp, Ngành Công an tích cực triển khai thực hiện Quy chế phối hợp

Đối với Ngành Tư pháp, Sở Tư pháp đã ban hành Công văn số 443/STP-BTTP ngày 10/4/2018 để triển khai thực hiện Quy chế đến Phòng Tư pháp cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã, Hội Công chứng viên tỉnh và các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh. Theo đó, Sở Tư pháp đề nghị các cơ quan, đơn vị tổ chức triển khai, quán triệt nội dung Quy chế này tại cơ quan, đơn vị mình; chủ động phối hợp với cơ quan hữu quan khi phát hiện có thông tin, tài liệu hoặc vụ việc, hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực công chứng, chứng thực. Yêu cầu Hội Công chứng viên cụ thể hóa quy trình thực hiện ở cơ sở, đồng thời thường xuyên nắm bắt thông tin, tình hình vi phạm, những khó khăn, vướng mắc trong quá trình các tổ chức hành nghề công chứng thực hiện Quy chế phối hợp để báo cáo, kiến nghị Sở Tư pháp. Ngoài ra, Sở Tư pháp cũng thường xuyên chỉ đạo, quán triệt việc thực hiện Quy chế trong các cuộc giao ban công chứng, giao ban công tác tư pháp định kỳ.

Phòng Tư pháp, Ủy ban nhân các xã, phường, thị trấn đã quán triệt các nội dung của Quy chế đến toàn thể cán bộ công chức, người lao động tại đơn vị mình thông qua các cuộc họp giao ban, sinh hoạt "Ngày pháp luật"; phổ biến rộng rãi cho các tầng lớp nhân dân pháp luật về công chứng, chứng thực, đồng thời lồng ghép tuyên truyền về nội dung, ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực công chứng, chứng thực bằng nhiều hình thức phù hợp với điều kiện, đặc thù của từng địa phương. Kết quả, các địa phương đã tổ chức tuyên truyền được 201 cuộc với 9.147 lượt người tham dự; phát thanh được 526 lần với thời lượng 20 giờ 25 phút. Có 01 địa phương đã ban hành Quy chế phối hợp với cơ quan Công an tại địa phương (Phòng Tư pháp thị xã Bến Cát và Công an thị xã Bến Cát ký kết Quy chế phối hợp số 04/QCPH/CATX-PTP ngày 17/5/2018).

Hội Công chứng viên tỉnh đã thực hiện tốt vai trò, chức năng của Hội trong việc triển khai thực hiện Quy chế, như: ban hành Công văn số 10/CV-HCCV ngày 13/3/2018 về việc tăng cường công tác kiểm tra trong hoạt động công chứng, chứng thực; lập một group Zalo chung tạo môi trường cho các công chứng viên, chuyên viên chia sẻ thông tin lưu ý (giấy tờ giả, đối tượng nghi vấn...) hoặc chia sẻ những thông tin về giấy tờ, văn bản giả mạo đã được cơ quan, tổ chức khác phát hiện để mọi người nhận biết, nhận dạng, rút kinh nghiệm trong thực tiễn hoạt động công chứng, chứng thực; định kỳ hàng năm tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ công chứng viên, chuyên viên của tổ chức hành nghề công chứng, trong đó chú trọng bồi dưỡng kỹ năng phát hiện giấy tờ giả, giả mạo chủ thể.

Thực hiện chỉ đạo của Sở Tư pháp và Hội Công chứng viên, các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh đã phổ biến, quán triệt đến toàn thể công chứng viên, chuyên viên, người lao động tại đơn vị mình cũng như tuyên truyền, phổ biến cho người dân đến thực hiện công chứng, chứng thực biết về nội dung Quy chế phối hợp; niêm yết số điện thoại của cơ quan công an để người dân tiện liên hệ khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực công chứng, chứng thực; tham dự cuộc họp giao ban công tác tư pháp tại địa bàn cấp huyện nơi tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở để thảo luận, chia sẻ kinh nghiệm nhận biết giấy tờ giả. Các công chứng viên nâng cao tinh thần cảnh giác trong quá trình kiểm tra, đối chiếu giấy tờ, tài liệu đồng thời kiên quyết đấu tranh khi phát hiện giấy tờ, tài liệu có dấu hiệu giả mạo, chủ động phối hợp với Cơ quan công an để xử lý các giấy tờ, tài liệu có dấu hiệu giả mạo theo quy định của pháp luật.

Đối với Công an tỉnh và cơ quan Công an các đơn vị, địa phương, sau khi Quy chế được ký kết, Công an tỉnh đã tổ chức triển khai thực hiện và giao Phòng PC03 là cơ quan thường trực tham mưu thực hiện Quy chế, đồng thời chỉ đạo Công an 9 huyện, thị xã, thành phố và các Phòng nghiệp vụ: PC01, PC02, PC03, PC04, PA09 căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được giao để thực hiện các nội dung có liên quan trong Quy chế phối hợp.

Phòng PC03 đã tham mưu Ban Giám đốc triển khai các văn bản chỉ đạo, thống kê báo cáo và theo dõi quá trình thực hiện Quy chế. Công an các đơn vị, địa phương nghiêm túc triển khai thực hiện Quy chế, theo đó đã ban hành 14 Kế hoạch để thực hiện Quy chế và 14 báo cáo về kết quả thực hiện Quy chế. Trong quá trình triển khai thực hiện, tích cực, chủ động trao đổi thông tin với Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp xã và các tổ chức hành nghề công chứng về các phương thức, thủ đoạn phạm tội, các quy định mới về công chứng, chứng thực,... để chủ động trong công tác phòng, chống tội phạm.

Nhìn chung Ngành Tư pháp, Công an các cấp ở địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã, Hội Công chứng viên tỉnh và các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh ngày càng nhận thức rõ hơn vai trò, trách nhiệm trong công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực công chứng, chứng thực, vì vậy đã có sự quan tâm, tích cực triển khai thực hiện Quy chế phối hợp. Lãnh đạo Công an, Tư pháp các đơn vị, địa phương có sự chỉ đạo sâu sát, thể hiện vai trò người đứng đầu trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và trong thực hiện Quy chế phối hợp nói riêng.

Kết quả thực hiện Quy chế phối hợp

Trao đổi, cung cấp các thông tin, tài liệu liên quan đến công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về công chứng, chứng thực, trong quá trình thực hiện công tác công chứng, chứng thực, khi phát hiện có thông tin, tài liệu hoặc vụ việc, hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực công chứng, chứng thực, Phòng Tư pháp cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã, Hội Công chứng viên tỉnh và các tổ chức hành nghề công chứng đã kịp thời trao đổi, cung cấp thông tin cho cơ quan công an.

Các hoạt động phục vụ công tác phát hiện vụ việc, điều tra, xác minh, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về công chứng, chứng thực

Kết quả phối hợp giữa Sở Tư pháp và Công an tỉnh: từ ngày 06/4/2018 đến ngày 30/4/2019, Sở Tư pháp nhận được 06 Công văn của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dương đề nghị thẩm định tính pháp lý của 25 văn bản công chứng do 04 Văn phòng công chứng trên địa bàn tỉnh chứng nhận. Sở Tư pháp đã yêu cầu các Văn phòng công chứng cung cấp hồ sơ, báo cáo giải trình và tiến hành thẩm định hồ sơ, tài liệu. Trên cơ sở đó có văn bản phúc đáp Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh. Bên cạnh đó, Sở Tư pháp cũng yêu cầu 07 Văn phòng công chứng rà soát hồ sơ lưu trữ và báo cáo về Sở Tư pháp để cung cấp hồ sơ kịp thời phục vụ cho công tác điều tra theo đề nghị của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh.    

Kết quả phối hợp giữa Phòng Tư pháp cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã, các tổ chức hành nghề công chứng và cơ quan công an đơn vị, địa phương: Phòng Tư pháp và Ủy ban nhân dân các phường đã phát hiện 146 vụ việc có dấu hiệu nghi ngờ giả mạo, cơ quan thực hiện chứng thực đã từ chối chứng thực theo quy định pháp luật. Ngành Công an phát hiện 17 vụ việc.

Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về công chứng, chứng thực, Sở Tư pháp luôn quan tâm, chú trọng công tác bồi dưỡng kỹ năng công chứng, chứng thực cho đội ngũ công chứng viên, chuyên viên công chứng của các tổ chức hành nghề công chứng, đội ngũ cán bộ tư pháp cấp huyện, cấp xã, đặc biệt là kỹ năng phát hiện giấy tờ giả, giả mạo chủ thể. Vì vậy, Sở Tư pháp định hướng chỉ đạo Hội Công chứng viên tỉnh đưa chuyên đề này vào nội dung bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng hàng năm.

Hàng năm, Sở Tư pháp, Hội Công chứng viên tỉnh đều tổ chức lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng cho đội ngũ công chứng viên trên địa bàn tỉnh, trong đó có mời báo cáo viên là cán bộ Phòng Cảnh sát hình sự và Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh triển khai nội dung bồi dưỡng "Kỹ năng phát hiện giấy tờ giả, giả mạo chủ thể trong hoạt động công chứng và các biện pháp phòng ngừa". Đặc biệt năm 2019 Sở Tư pháp đã tổ chức lớp tập huấn nhận dạng hồ sơ, giấy tờ thật - giả cho đội ngủ cán bộ, công chứng tiếp nhận hồ sơ thủ tục hành chính một cửa của các sở ngành cấp tỉnh, toàn bộ công chức tư pháp cấp huyện và cấp xã trên địa bàn tỉnh.

Công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về công chứng, chứng thực: đang thực hiện theo từng ngành.

Chế độ giao ban, hội họp, theo Quy chế phối hợp, định kỳ hàng năm, Sở Tư pháp và Công an tỉnh luân phiên nhau chủ trì tổ chức giao ban để đánh giá tình hình, kết quả thực hiện Quy chế, đồng thời trao đổi, thống nhất biện pháp tăng cường phối hợp thực hiện Quy chế trong thời gian tiếp theo. Tuy nhiên, căn cứ tình hình cụ thể, việc đánh giá kết quả 01 năm thực hiện Quy chế phối hợp được thực hiện trên cơ sở tổng hợp báo cáo của các đơn vị có liên quan.

Nhìn chung, sau khi Quy chế phối hợp giữa Sở Tư pháp và Công an tỉnh được ban hành, các Phòng Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp xã, tổ chức hành nghề công chứng và cơ quan công an đã nghiêm túc thực hiện Quy chế phối hợp. Công tác phối hợp giữa các cơ quan thực hiện công chứng, chứng thực với cơ quan công an được kịp thời và đạt kết quả tốt trong công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về công chứng, chứng thực trên địa bàn tỉnh. Số lượng vụ việc vi phạm pháp luật về công chứng, chứng thực chuyển sang cơ quan công an khá nhiều, thời gian xử lý vụ việc nhanh hơn; phạm vi, nội dung, phương pháp, lĩnh vực trao đổi ngày càng được mở rộng. Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động công chứng, chứng thực phát hiện nhiều trường hợp sử dụng giấy tờ, tài liệu có dấu hiệu giả mạo, khi thấy cơ quan, đơn vị thực hiện công chứng, chứng thực có dấu hiệu nghi ngờ và thông báo đến cơ quan công an, các đối tượng này lập tức bỏ đi. Vì vậy, số vụ việc phát hiện trên thực tế và số vụ việc được ghi nhận, lập biên bản có sự chênh lệch khá lớn. Bên cạnh đó, số vụ bị khởi tố vụ án hình sự và bị xử phạt vi phạm hành chính ít so với số vụ bị phát hiện.

Khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện Quy chế phối hợp

Về thời gian, quy trình, kết quả phối hợp, theo quy định của Quy chế, khi phát hiện, tiếp nhận thông tin, tài liệu, vụ việc có dấu hiệu tội phạm liên quan đến lĩnh vực công chứng, chứng thực cơ quan công an phải kịp thời phân công lực lượng xác minh giải quyết theo quy định pháp luật. Thực tế, có nơi tiếp nhận, thụ lý vụ việc nhanh, ngay sau khi nhận được tin báo của tổ chức hành nghề công chứng (ví dụ như: Công an phường Phú Cường, Công an thị xã Thuận An,…). Tuy nhiên, vẫn có một số nơi cơ quan công an tiếp nhận, thụ lý vụ việc còn chậm, khi đó người dân gây áp lực cho cán bộ tư pháp, công chứng viên hoặc nếu trường hợp đó là đối tượng làm giả giấy tờ thì đối tượng đã bỏ trốn.

Về quy trình xử lý vụ việc: theo đánh giá của Sở Tư pháp và Công an tỉnh, quy trình xử lý vụ việc hiện nay tương đối tốt. Khi cơ quan tư pháp, tổ chức hành nghề công chứng phát hiện vi phạm thì liên hệ và chuyển hồ sơ cho cơ quan công an kịp thời xử lý theo quy định pháp luật.

Trong một số trường hợp, sau khi tiếp nhận và phối hợp với cơ quan công an lập biên bản xử lý hành vi sử dụng giấy tờ, tài liệu giả mạo thì các tổ chức hành nghề công chứng không nhận được phản hồi bằng văn bản về kết quả giải quyết, xử lý hành vi vi phạm, dẫn đến các tổ chức hành nghề công chứng không nắm bắt được hành vi vi phạm đó có bị xử lý không, xử lý bằng hình thức gì, giấy tờ, văn bản phát hiện có đúng là giả mạo không để từ đó rút kinh nghiệm cho những lần tiếp nhận, giải quyết về sau.

Về tình trạng giả mạo giấy tờ và khó khăn trong việc đối chiếu bản sao từ bản chính, hiện nay tình trạng giả mạo giấy tờ trong hoạt động công chứng ngày càng đa dạng, tinh vi và rất khó phát hiện. Trình độ làm giả giấy tờ của các đối tượng này ngày càng cao, công nghệ làm giả ngày càng hiện đại, nhiều giấy tờ, tài liệu làm giả tinh vi từ dấu giáp lai, dấu nổi cho đến dấu chìm trên giấy đều giống thật nếu nhìn bằng mắt thường thì khó phân biệt thật giả. Nạn làm giả bằng cấp, chứng chỉ đã trở thành một vấn nạn của xã hội khi việc rao bán, làm giả bằng cấp, chứng chỉ được quảng cáo tràn lan trên mạng internet, ví dụ: chỉ cần đánh máy cụm từ "mua bằng đại học" trên Google thì xuất hiện rất nhiều trang quảng cáo về việc mua bán bằng cấp đại học như trang: https://lambangdaihoctoanquoc.com, https://lambangphoithat.com, https://lambangdaihocgiare.org…Nguyên nhân của thực trạng này chủ yếu là do chế tài xử phạt hành vi làm giả, sử dụng giấy tờ giả chưa cao, chưa đủ sức răn đe. Vì vậy, người thực hiện công chứng, chứng thực luôn phải đối mặt với rủi ro vì khó đủ trình độ, máy móc, phương tiện, kỹ thuật hỗ trợ để giám định, không có hệ thống dữ liệu cũng như không có phôi gốc (về chữ ký, con dấu, mẫu giấy…) để kiểm tra, so sánh nhận biết được hết các loại giấy chứng nhận về tài sản, bằng cấp, chứng chỉ,… đa dạng như hiện nay.

Kiến nghị, giải pháp       

Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả Quy chế phối hợp trong thời gian tới và tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc nêu trên, Sở Tư pháp và Công an tỉnh thống nhất một số giải pháp sau:

Đối với Sở Tư pháp, tiếp tục thường xuyên quán triệt các Phòng Tư pháp và tổ chức hành nghề công chứng thực hiện nghiêm các quy định pháp luật về công chứng, chứng thực và các quy định khác của pháp luật; chủ động thông báo cho cơ quan công an khi phát hiện vi phạm hoặc dấu hiệu bất thường trong hoạt động công chứng, chứng thực. Định kỳ thống kê các vụ việc vi phạm pháp luật về công chứng, chứng thực gửi về Công an tỉnh để nắm diễn biến tình hình vi phạm trong lĩnh vực này để từ đó có biện pháp phòng chống, ngăn chặn kịp thời. Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng phát hiện giấy tờ giả, giả mạo chủ thể trong hoạt động công chứng, chứng thực cho đội ngũ công chứng viên, chuyên viên công chứng của các tổ chức hành nghề công chứng, đội ngũ cán bộ tư pháp cấp huyện, cấp xã, cán bộ tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả tại bộ phận một cửa, một cửa liên thông của các sở, ban, ngành.

Đối với Công an tỉnh, tiếp tục thường xuyên quán triệt cán bộ chiến sĩ trong ngành thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các nội dung phối hợp giữa Công an tỉnh và Sở Tư pháp về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về công chứng, chứng thực trên địa bàn tỉnh Bình Dương, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật về công chứng, chứng thực. Quan tâm xác minh làm rõ các vụ việc vi phạm về công chứng, chứng thực do các Phòng Tư pháp, UBND cấp xã và các tổ chức hành nghề công chứng đã phát hiện và chuyển cho cơ quan công an xử lý theo quy định; sau khi kết thúc vụ án, vụ việc thì thông tin lại bằng văn bản về kết quả xử lý cho đơn vị, tổ chức đã phát hiện chuyển vụ việc. Tăng cường công tác phối hợp trao đổi thông tin giữa các đơn vị công an tỉnh và công an cấp huyện với Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, UBND cấp xã và các tổ chức hành nghề công chứng để nắm bắt tình hình vi phạm pháp luật về công chứng, chứng thực để chủ động có biện pháp ngăn chặn kịp thời.

 Sở Tư pháp và Công an tỉnh tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các cơ quan thông tin đại chúng đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, phổ biến để nâng cao nhận thức người dân về việc làm và sử dụng giấy tờ, tài liệu giả là hành vi vi phạm pháp luật, để người dân tự giác, nghiêm túc thực hiện theo quy định pháp luật, đồng thời tố giác đến cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý hành vi sử dụng và làm giả giấy tờ theo quy định của pháp luật./.

Thông tinFalseTăng Thị Hà Chi
Danh sách người tập sự hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương (Tính đến ngày 14/11/2019) Danh sách người tập sự hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương (Tính đến ngày 14/11/2019) /Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
11/14/2019 1:00 PMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Thông tư số 48/2019/TT-BCA sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2016/TT-BCA ngày 04 tháng 3 năm 2016 quy định về trình tự cấp, đổi, cấp lại thẻ Căn cước công dânThông tư số 48/2019/TT-BCA sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2016/TT-BCA ngày 04 tháng 3 năm 2016 quy định về trình tự cấp, đổi, cấp lại thẻ Căn cước công dân/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
11/1/2019 1:00 PMNoĐã ban hànhVăn bản Quy phạm Pháp luậtFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Danh sách người tập sự hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương (Tính đến ngày 25/10/2019) Danh sách người tập sự hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương (Tính đến ngày 25/10/2019) /Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/25/2019 1:00 PMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Danh sách tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 25/10/2019)Danh sách tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 25/10/2019)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/25/2019 11:00 AMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Thông báo kết quả của kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ baTinThông báo kết quả của kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ ba/bo-tro-tu-phap/PublishingImages/2019-10/tb-diem-thi_Key_11102019152606.jpg
10/11/2019 3:00 PMNoĐã ban hành

​Thực hiện Công văn số 3850/BTP-HĐKT ngày 04/10/2019 của Hội đồng kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ ba - Bộ Tư pháp​, ngày 11/10/2019, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương đã ban hành Công văn số 1885/STP-BTTP về việc thông báo kết quả của kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ ba. Theo đó, tỉnh Bình Dương có 34 thí sinh đăng ký tham dự kỳ kiểm tra. Kết quả có 15 thí sinh đạt yêu cầu, 18 thí sinh không đạt yêu cầu và 01 thí sinh hoãn thi (Chi tiết xem tại file đính kèm CV 3850-BTP.pdf).

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 26 Thông tư số 04/2015/TT-BTP, thí sinh có quyền đề nghị phúc tra đối với bài kiểm tra viết. Đơn đề nghị phúc tra gửi về Cục Bổ trợ tư pháp - Bộ Tư pháp, số 58 - 60 Trần Phú, Ba Đình, Hà Nội trước ngày 20/10/2019.​/.​


cv1.png

cv2.png

Thông tin; Tin ngành tư phápFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Danh sách người tập sự hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương (Tính đến ngày 10/10/2019) Danh sách người tập sự hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương (Tính đến ngày 10/10/2019) /Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/10/2019 1:00 PMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Chế định về công chứng và chứng thực theo pháp luật Việt Nam - Bất cập và kiến nghị hoàn thiệnTinChế định về công chứng và chứng thực theo pháp luật Việt Nam - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/1/2019 4:00 PMNoĐã ban hành

1 Khái niệm và phân biệt hoạt động công chứng với chứng thực 

1.1. Khái niệm công chứng

Hoạt động công chứng xuất hiện tại Việt Nam từ khá lâu và được ghi nhận lần đầu tiên vào thời kỳ Pháp thuộc[1]. Sau cách mạng tháng tám năm 1945 và khi đất nước thống nhất thì các chế định về công chứng và hoạt động công chứng đã có nhiều sửa đổi, bổ sung để kịp thời điều chỉnh các quan hệ xã hội. Tuy trải qua nhiều thời kỳ, nhiều văn bản điều chỉnh khác nhau nhưng trong các nội dung chỉ quy định chung về hoạt động công chứng, chứng nhận, chứng thực mà không nêu rõ thế nào là công chứng, là chứng nhận, là chứng thực.

Hiện nay, hoạt động công chứng chịu sự điều chỉnh của Luật Công chứng năm 2014, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015, theo đó, "Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản, tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng"[2]. Có thể thấy, khái niệm công chứng bao gồm các yếu tố sau đây:

Thứ nhất, người có thẩm quyền thực hiện công chứng phải là công chứng viên, bởi họ là những người được Nhà nước trao quyền thực hiện chức năng công chứng thông qua việc bổ nhiệm công chứng viên của Bộ Tư pháp.

Thứ hai, công chứng là việc chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch. Trong đó, tính hợp pháp nghĩa là không trái với các quy định pháp luật. Tính xác thực theo một số nghiên cứu[3] được chia thành ba cấp độ khác nhau, bao gồm:

(i) Xác định đúng người: Nghĩa là xác định đúng người yêu cầu công chứng thông qua giấy tờ tùy thân của họ. Đồng thời, xác định họ phải trong trạng thái tinh thần thoải mái, tự nguyện, không chịu bất kỳ một sức ép nào từ phía bên ngoài và họ hoàn toàn ý thức được hậu quả việc làm của mình.

(ii) Xác định đúng việc: Người yêu cầu công chứng phải xuất trình đủ các giấy tờ, tài liệu có liên quan đến hợp đồng, giao dịch đó.

(iii) Xác định bản chất thực của các hợp đồng, giao dịch: Công chứng viên phải xác định xem những thoả thuận của các bên đương sự có phản ánh đúng ý chí, nguyện vọng của họ hay không, các thoả thuận này có nhằm che giấu bất kỳ một mục đích nào khác hay không.

Thứ ba, hợp đồng, giao dịch được công chứng phải là các hợp đồng, giao dịch bắt buộc phải công chứng hoặc là các hợp đồng, giao dịch không bắt buộc phải công chứng nhưng do các bên yêu cầu công chứng nên công chứng viên thực hiện công chứng đối với các hợp đồng, giao dịch đó.

Thứ tư, việc công chứng chỉ được thực hiện đối với các hợp đồng, giao dịch, giấy tờ, tài liệu bằng văn bản. Bởi lẽ, theo pháp luật hiện hành, công chứng viên không được công chứng đối với các hợp đồng, giao dịch là lời nói, hành vi cụ thể mà phải được thể hiện ở dạng văn bản.

Thứ năm, hợp đồng, giao dịch được công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch được công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu[4]. Như vậy, khi hợp đồng, giao dịch đã được công chứng thì về nguyên tắc những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng không cần phải chứng minh và đương nhiên có giá trị chứng cứ đối với các bên, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu.

1.2. Khái niệm chứng thực

Bên cạnh hoạt động công chứng, hoạt động chứng thực cũng được pháp luật ghi nhận, điều chỉnh bởi những văn bản chuyên ngành. Tuy trải qua nhiều thời kỳ với các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau nhưng cho đến thời điểm hiện nay chưa có quy định nào chính thức khái niệm, định nghĩa thế nào là chứng thực. Theo Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch (Nghị định 23/2015/NĐ-CP)  thì hoạt động chứng thực gồm có: Chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch. Nội dung quan trọng nhất của Nghị định này là điều chỉnh về hoạt động chứng thực hợp đồng, giao dịch. Theo đó "chứng thực hợp đồng, giao dịch"  là việc cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Nghị định này chứng thực về thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch[5]. Theo quy định của pháp luật về chứng thực hợp đồng, giao dịch thì người yêu cầu chứng thực phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch còn người thực hiện chứng thực chịu trách nhiệm về thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch.

1.3. Phân biệt công chứng với chứng thực

a. Sự giống nhau giữa công chứng và chứng thực

- Công chứng, chứng thực là hoạt động dịch vụ công, được nhà nước uỷ quyền và do những người có thẩm quyền theo quy định pháp luật thực hiện.

- Người yêu cầu công chứng, chứng thực đều phải đóng phí theo khung quy định của pháp luật.

- Hợp đồng, giao dịch được công chứng hoặc được chứng thực đều có giá trị pháp lý và ràng buộc trách nhiệm đối với các bên tham gia hợp đồng, giao dịch.

- Việc công chứng, chứng thực phải tuân theo trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật.

b. Sự khác nhau giữa công chứng và chứng thực

- Về bản chất: Công chứng là chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch; còn chứng thực là chứng thực về thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch.

- Về cơ quan thực hiện: Đối với công chứng thì cơ quan thực hiện là phòng công chứng, văn phòng công chứng; còn đối với chứng thực thì đó là phòng tư pháp cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã.

- Về người có thẩm quyền: Đối với công chứng thì người có thẩm quyền là công chứng viên; đối với chứng thực thì đó là trưởng phòng, phó phòng tư pháp cấp huyện; chủ tịch, phó chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã.

- Về trách nhiệm của người thực hiện: Đối với công chứng thì công chứng viên phải chịu trách nhiệm về tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch; còn đối với chứng thực thì người yêu cầu chứng thực phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch; tính hợp lệ, hợp pháp của các giấy tờ; người thực hiện chứng thực chịu trách nhiệm về thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch.

- Về giá trị pháp lý văn bản được công chứng, chứng thực: Đối với công chứng thì hợp đồng, giao dịch được công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch được công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu. Còn đối với chứng thực thì

hợp đồng, giao dịch được chứng thực có giá trị chứng cứ chứng minh về thời gian, địa điểm các bên đã ký kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch.

- Về trách nhiệm bồi thường: Đối với công chứng thì tổ chức hành nghề công chứng phải bồi thường cho người yêu cầu công chứng; công chứng viên phải hoàn trả lại một khoản tiền cho tổ chức hành nghề công chứng đã chi trả khoản tiền bồi thường. Còn đối với chứng thực thì người thực hiện chứng thực gây thiệt hại thì sẽ bị xử lý kỷ luật, bồi thường theo quy định của pháp luật.

- Về pháp luật điều chỉnh: Đối với công chứng thì pháp luật điều chỉnh là Luật Công chứng năm 2014; còn đối với chứng thực thì đó là Nghị định 23/2015/NĐ-CP.

2. Bất cập trong các quy định về công chứng, chứng thực và kiến nghị hoàn thiện

2.1. Một số bất cập trong các quy định về công chứng, chứng thực

Với những quy định về công chứng và chứng thực đã được phân tích nêu trên, thực trạng áp dụng pháp luật đã dẫn đến những bất cập sau đây:

Thứ nhất, quy định về công chứng và chứng thực hiện hành chưa đảm bảo được nguyên tắc bình đẳng, không được phân biệt đối xử

Hợp đồng, giao dịch khi được công chứng hoặc chứng thực đều có giá trị chứng cứ và phát sinh hiệu lực về quyền, nghĩa vụ đối với các bên. Luật Công chứng quy định công chứng viên phải chịu trách nhiệm về tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch mà mình công chứng, nếu công chứng viên gây ra lỗi thì tổ chức hành nghề công chứng sẽ có trách nhiệm bồi thường theo quy định pháp luật. Quy định này đòi hỏi công chứng viên phải nắm vững các quy định pháp luật khi thực hiện hoạt động công chứng, nếu công chứng có lỗi thì phải có trách nhiệm bồi thường. Tuy nhiên, đối với hoạt động chứng thực thì người chứng thực chỉ chịu trách nhiệm về thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch. Đây là sự bất cập, bất bình đẳng giữa hai chế định về công chứng và chứng thực.

Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định nguyên tắc "Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản"[6]. Tổ chức hành nghề công chứng và các cơ quan có thẩm quyền chứng thực theo Nghị định số 23/2015/NĐ-CP đều là những pháp nhân được Nhà nước trao quyền công chứng, chứng thực các hợp đồng, giao dịch, do đó cần có sự bình đẳng trong hoạt động chuyên môn. Cùng là một hợp đồng, giao dịch nhưng nếu thực hiện công chứng thì công chứng viên phải chịu trách nhiệm về tính xác thực, hợp pháp và phải bồi thường nếu có lỗi. Tuy nhiên, nếu hợp đồng, giao dịch đó được thực hiện chứng thực thì người thực hiện chứng thực lại không có nghĩa vụ phải xem xét tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch và không phải có nghĩa vụ bồi thường.

Như vậy, chế định về công chứng và chứng thực hiện nay đã phát sinh hai trường phái chứng nhận tính pháp lý của các hợp đồng, giao dịch: Chứng nhận nội dung (về tính xác thực, tính hợp pháp) và chứng nhận về hình thức (về thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên). Quy định này không đảm bảo được sự bình đẳng, không được phân biệt đối xử theo nguyên tắc chung của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Thứ hai, quy định về chứng thực không đảm bảo cho các hợp đồng, giao dịch được giao kết đúng theo quy định pháp luật

Nghị định số 23/2015/NĐ-CP quy định, khi thực hiện chứng thực thì người yêu cầu chứng thực phải xuất trình dự thảo hợp đồng, giao dịch, bản sao giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu còn giá trị sử dụng và bản sao giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản (nếu hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản đó)[7]. Đối với những hợp, đồng giao dịch liên quan đến tài sản là quyền sử dụng đất của hộ gia đình theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 hay tài sản chung của vợ chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì Nghị định số 23/2015/NĐ-CP không quy định người thực hiện chứng thực được quyền yêu cầu cung cấp các giấy tờ cần thiết liên quan và người yêu cầu chứng thực cũng không có nghĩa vụ phải cung cấp bởi pháp luật không quy định.

Ví dụ, khi thực hiện các hợp đồng, giao dịch về quyền sử dụng đất của hộ gia đình sử dụng đất thì theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 phải được sự đồng ý của các thành viên trong hộ. Do đó, cần phải có văn bản xác nhận hoặc chứng minh thành viên hộ gia đình sử dụng đất tại thời điểm cấp giấy chứng nhận[8] và phải có đủ những thành viên này tham gia vào trong hợp đồng, giao dịch. Tuy nhiên, nếu chủ hộ gia đình sử dụng đất là người yêu cầu chứng thực hợp đồng, giao dịch thì người thực hiện chứng thực không được quyền yêu cầu chủ hộ gia đình phải cung cấp những giấy tờ chứng minh thành viên hộ gia đình và cũng không được yêu cầu phải có những thành viên trong hộ gia đình sử dụng đất phải cùng tham gia vào trong hợp đồng, giao dịch bởi Nghị định số 23/2015/NĐ-CP không quy định.

Ví dụ tương tự, đối với những tài sản chung được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân được xác định là tài sản chung vợ chồng[9], việc định đoạt tài sản là bất động sản; động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu và tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình thì phải có sự chấp thuận của cả hai vợ chồng[10]. Tuy nhiên, nếu người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng, quyền sở hữu tài sản là người yêu cầu chứng thực thì người thực hiện chứng thực không được quyền yêu cầu chứng minh tình trạng hôn nhân, không có quyền yêu cầu chứng minh tài sản giao dịch là tài sản chung hay riêng và không được yêu cầu phải có sự đồng ý của người chồng/vợ còn lại (nếu là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân) bởi Nghị định số 23/2015/NĐ-CP không quy định.

Tương tự, đối với các trường hợp chứng thực văn bản thừa kế (khai nhận, thỏa thuận phân chia, từ chối nhận di sản thừa kế) thì theo quy định của pháp luật phải bắt buộc có những giấy tờ liên quan như: Di chúc, giấy khai sinh, chứng tử người để lại di sản, xác nhận quan hệ nhân thân… để chứng minh tư cách pháp lý của người nhận thừa kế. Tuy nhiên, Nghị định số 23/2015/NĐ-CP không quy định người thực hiện chứng thực có quyền yêu cầu cung cấp và người yêu cầu chứng thực phải có nghĩa vụ cung cấp nên không thể đảm bảo được nội dung, tính pháp lý của hồ sơ thừa kế.

Như vậy, với quy định của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP không đảm bảo được hợp đồng, giao dịch được giao kết đúng theo quy định pháp luật bởi các bên giao kết hợp đồng chịu trách nhiệm về nội dung, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch. Trong khi đó, người thực hiện chứng thực không có nghĩa vụ phải xác định hợp đồng, giao dịch đó được giao kết hợp pháp, đúng quy định pháp luật hay không mà chỉ chứng nhận thời gian, địa điểm, năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch. Quy định này tạo ra sự rủi ro, tiềm ẩn tranh chấp và không đáp ứng đượcđiều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự[11] khi nội dung của giao dịch hoàn toàn có thể không tuân thủ đúng các quy định pháp luật.

2.2. Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về chứng thực

Trước thực trạng bất cập trong các quy định về chứng thựchợp đồng, giao dịch được phân tích nêu trên, thiết nghĩ cầnnhanh chóng sửa đổi, bổ sung quy định của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP về chứng thực hợp đồng, giao dịch. Để đảm bảo nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa các chế định về công chứng và chứng thực, đồng thời đảm bảo cho công tác chứng thực đáp ứng đúng các quy định pháp luật về điều kiện để cho giao dịch dân sự có hiệu lực, người viết kiến nghị sửa đổi, bổ sungcác quy định sau đây của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP, cụ thể:

- Sửa đổi Điều 35 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP thành:

"Điều 35. Trách nhiệm của người thực hiện chứng thực hợp đồng, giao dịch

Người thực hiện chứng thực chịu trách nhiệm về tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự".

- Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 36 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP thành:

"2. Người thực hiện chứng thực kiểm tra giấy tờ, sự tự nguyện, nhận thức, làm chủ được hành vi của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch, nội dung hợp đồng, giao dịch không vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội thì thực hiện chứng thực".

                                                                                                        ThS. Nguyễn Huy Cường

                                                                                            Văn phòng Công chứng Công Lý Trà Vinh

 

[1] Bộ Tư pháp (2018), Báo cáo chính trị thành lập Hiệp hội Công chứng viên Việt Nam; Học viện Tư pháp (2018), Giáo trình Kỹ năng hành nghề công chứng, tập 1, tr. 22.

[2] Điều 2 Luật Công chứng năm 2014.

[3] Tuấn Đạo Thanh (2009), Về tính xác thực trong hoạt động công chứng, https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2009/07/20/3346/, truy cập ngày 20/7/2019.

[4] Điều 5 Luật Công chứng năm 2014.

[5] Khoản 5 Điều 2 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP.

[6] Khoản 1 Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[7] Khoản 1 Điều 36 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP.

[8] Khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013.

[9] Khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[10] Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[11] Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015.​

Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/dien-dan-cong-tac-tu-phap.aspx?ItemID=305​)

Thông tinFalseTăng Thị Hà Chi
Danh sách người tập sự hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương (Tính đến ngày 01/10/2019) Danh sách người tập sự hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương (Tính đến ngày 01/10/2019) /Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/1/2019 1:00 PMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Bình Dương hoàn thành chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng năm 2019TinBình Dương hoàn thành chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng năm 2019/bo-tro-tu-phap/PublishingImages/2019-09/bttp-bdcc2019-6_Key_24092019231803.jpg
9/24/2019 3:00 PMNoĐã ban hành

​Thực hiện Thông tư số 06/2015/TT-BTP ngày 15/6/2015 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng về việc bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng hàng năm cho công chứng viên, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương phối hợp với Hội Công chứng viên tỉnh tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng tại Hội trường D1 Trường Chính trị tỉnh Bình Dương. Lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng được tổ chức thành 2 đợt vào Thứ Bảy và Chủ nhật các ngày: 14, 15 và 21, 22 tháng 9 năm 2019. Tham dự lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng có ông Lý Thanh Thoại - Trưởng Phòng Bổ trợ tư pháp, Sở Tư pháp, Ban Chấp hành Hội công chứng viên, báo cáo viên và hơn 100 công chứng viên, chuyên viên tại 32 tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh.

 bttp-bdcc2019-1.jpg

Phát biểu khai giảng lớp học, bà Nguyễn Thị Phương Ngọc - Chủ tịch Hội Công chứng viên tỉnh khẳng định sự cần thiết và tầm quan trọng của việc bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng, vừa nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng hành nghề của bản thân mỗi công chứng viên và vừa góp phần nâng cao vai trò, vị trí của hoạt động công chứng trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, phòng ngừa tranh chấp và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.

bttp-bdcc2019-2.jpg

Chương trình bồi dưỡng gồm có 06 chuyên đề về: Quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động công chứng; Việc chuyển nhượng dự án và các vấn đề liên quan đến công chứng hợp đồng chuyển nhượng dự án; Quyền tài sản, thế chấp quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán; Chuyển nhượng hợp đồng mua bán, thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai; Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng; Kỹ năng phát hiện giấy tờ giả, giả mạo chủ thể trong hoạt động công chứng, các biện pháp phòng ngừa xử lý và hướng dẫn phân biệt các loại giấy tờ, văn bằng, chứng chỉ giả được trình bày bởi các báo cáo viên là công chứng viên, chuyên gia đầu ngành gồm: PGS.TS Lê Thị Nam Giang, Giám đốc Trung tâm Sở hữu trí tuệ Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh; TS. Tuấn Đạo Thanh - Chủ tịch Hiệp hội Công chứng viên Việt Nam; Thượng tá Trần Tuấn Điền - Phó Phân viện trưởng Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Công an; ông Hoàng Mạnh Thắng - Trưởng Phòng công chứng số 7 Thành phố Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó, báo cáo viên còn giải đáp các khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn hoạt động công chứng, chứng thực.

bttp-bdcc2019-6.jpg

Các học viên tham dự lớp học đầy đủ, nghiêm túc và tích cực trao đổi, thảo luận, chia sẻ những kinh nghiệm trong quá trình hành nghề, công tác tổ chức lớp học chu đáo, chặt chẽ, chương trình bồi dưỡng có nhiều điểm mới, thu hút được sự quan tâm của tất cả các học viên. Lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng năm 2019 đã thành công tốt đẹp./.


Thông tin; Tin ngành tư phápFalseTăng Thị Hà Chi
Danh sách tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 18/9/2019)Danh sách tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 18/9/2019)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
9/18/2019 5:00 PMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng năm 2019TinBồi dưỡng nghiệp vụ công chứng năm 2019/bo-tro-tu-phap/PublishingImages/2019-09/cc2_Key_18092019093709.jpg
9/18/2019 10:00 AMNoĐã ban hành
    Ngày 14 và 15 tháng 09 năm 2019 tại hội trường D1 Trường Chính trị tỉnh Bình Dương, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương phối hợp Hội công chứng viên tỉnh tổ chức lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng năm 2019 đợt 1.

    Đây là sự kiện tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng hàng năm theo quy định của Luật Công chứng và Thông tư số 06/2015/TT-BTP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng ngày 15 tháng 06 năm 2015 dành cho công chứng viên và chuyên viên nghiệp vụ đang hành nghề tại các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh.

cc1.jpg 

 ​ Bà Nguyễn Thị Phương Ngọc - Chủ tịch Hội công chứng viên phát biểu khai mạc lớp bồi dưỡng nghiệp vụ

    Tham dự lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng đợt 1 lần này có sự hiện diện của đại diện Sở Tư pháp, Ban chấp hành Hội công chứng viên, Báo cáo viên và hơn 100 công chứng viên cùng các chuyên viên nghiệp vụ.

    Trong suốt thời gian diễn ra lớp bồi dưỡng nghiệp vụ, học viên đã được báo cáo viên là chuyên gia đầu ngành về quyền sở hữu trí tuệ là PGS.TS bà Lê Thị Nam Giang, Giám đốc Trung tâm Sở hữu Trí tuệ trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh trình bày, trao đổi về các vấn đề mang tính mới, tính thời sự là Quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động công chứng, quyền sở hữu trí tuệ là đối tượng của hợp đồng dân sự theo quy định của pháp luật hiện hành và những điều cần lưu ý. Bên cạnh đó lớp bồi dưỡng còn được báo cáo viên là ông Hoàng Mạnh Thắng - Trưởng Phòng công chứng số 7 thành  phố Hồ Chí Minh, công chứng viên có nhiều kinh nghiệm thực tiễn trong hoạt động công chứng hệ thống lại các kiến thức chuyên môn về vấn đề chuyển nhượng dự án và các vấn đề liên quan đến công chứng hợp đồng chuyển nhượng dự án, vấn đề tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đứng tên quyền sử dụng đất và nhà ở tại Việt Nam và quyền tài sản, thế chấp quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán, chuyển nhượng hợp đồng mua bán, thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai; đồng thời ông Thắng cũng giải đáp các khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn hoạt động công chứng, chứng thực.

cc2.jpg

Hình ảnh học viên tham dự lớp học bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng

    ​Không khí tại lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng diễn ra nghiêm túc, sôi nổi, các báo cáo viên và học viên không chỉ nhiệt tình trao đổi, thảo luận những kiến thức chuyên môn và quy định của pháp luật mà còn chia sẻ những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động thực tiễn cũng như những kinh nghiệp hay, cách làm tốt trong quá trình hoạt động công chứng, chứng thực.

    Lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng đợt 1 đã kết thúc thành công tốt đẹp.

 

(Thanh Linh – Phòng Công chứng số 1)

Thông tin; Tin ngành tư phápFalseVăn phòng Sở
Danh sách người tập sự hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương (Tính đến ngày 06/9/2019) Danh sách người tập sự hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương (Tính đến ngày 06/9/2019) /Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
9/6/2019 1:00 PMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
1 - 30Next
Ảnh
Video
Audio