Công chứng - Văn bản Quy phạm Pháp luật
 
 
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Nội dung
Phân loại
  
  
  
Tọa đàm góp ý kiến dự thảo Nghị quyết về chính sách phát triển nghề công chứngTinTọa đàm góp ý kiến dự thảo Nghị quyết về chính sách phát triển nghề công chứng/bo-tro-tu-phap/PublishingImages/2020-07/bttp-ToadamBT-2020-1_Key_08072020161554.jpg
7/7/2020 5:00 PMNoĐã ban hành

Sáng ngày 24/6/2020, tại thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, Cục Bộ Tư pháp - Bộ Tư pháp đã tổ chức Tọa đàm góp ý kiến dự thảo Nghị quyết về chính sách phát triển nghề công chứng. Bà Đặng Kim Hoa - Phó Cục trưởng Cục Bổ trợ tư pháp chủ trì buổi Tọa đàm; cùng tham gia có đại diện Hiệp Hội Công chứng viên Việt Nam, các Sở Tư pháp, Hội Công chứng viên tỉnh, thành phố thuộc khu vực phía Nam và một số tổ chức hành nghề công chứng. Về phía tỉnh Bình Dương có sự tham gia của bà Nguyễn Anh Hoa - Giám đốc Sở Tư pháp, bà Nguyễn Thị Phương Ngọc - Chủ tịch Hội Công chứng viên tỉnh và b​à Phạm Thị Mỹ Lệ - Phó Chủ tịch Hội Công chứng viên tỉnh​.

bttp-ToadamBT-2020-1.jpg

Phát biểu khai mạc Tọa đàm, bà Đặng Kim Hoa nhấn mạnh sự cần thiết ban hành Nghị quyết về chính sách phát triển nghề công chứng trong bối cảnh quy hoạch công chứng đã bãi bỏ. Theo đó, Luật Công chứng năm 2014 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 Luật liên quan đến Quy hoạch đã giao Bộ Tư pháp "Xây dựng, trình Chính phủ ban hành chính sách phát triển nghề công chứng". Triển khai thực hiện các Luật nêu trên và để khắc phục thực trạng các Văn phòng công chứng phát triển tự do, phân bổ không hợp lý, tập trung nhiều tại một địa bàn cấp huyện, đồng thời bảo đảm tính ổn định, bền vững của nghề công chứng thì việc xây dựng Nghị quyết về chính sách phát triển nghề công chứng là cần thiết nhằm giúp các địa phương có định hướng trong công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động công chứng phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội tại từng địa phương.

bttp-ToadamBT-2020-3.jpg

Sau khi nghe đại diện Cục Bổ trợ tư pháp thông qua nội dung chính của dự thảo Tờ trình Chính phủ, dự thảo Nghị quyết về chính sách phát triển nghề công chứng, các đại biểu đã tập trung thảo luận về các vấn đề như: mục tiêu phát triển nghề công chứng, các nhiệm vụ, giải pháp và tổ chức thực hiện,…

bttp-ToadamBT-2020-2.jpg

Kết luận buổi Tọa đàm, bà Đặng Kim Hoa ghi nhận các ý kiến đóng góp của các đại biểu, Ban soạn thảo Nghị quyết về chính sách phát triển nghề công chứng sẽ nghiên cứu, tiếp thu, hoàn thiện dự thảo và sớm tham mưu lãnh đạo Bộ Tư pháp trình Chính phủ ban hành./.

Thông tin; Tin ngành tư phápFalseTăng Thị Hà Chi
Danh sách các tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 01/7/2020)Danh sách các tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 01/7/2020)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
7/1/2020 5:00 PMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về tập sự hành nghề công chứngBài viếtKiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về tập sự hành nghề công chứng/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/25/2020 11:00 AMNoĐã ban hành

Theo quy định của Luật Công chứng năm 2014, người có giấy chứng nhận tốt nghiệp khóa đào tạo nghề công chứng hoặc giấy chứng nhận bồi dưỡng nghề công chứng phải tập sự hành nghề tại một tổ chức hành nghề công chứng. Thời gian tập sự hành nghề công chứng là 12 tháng đối với người có giấy chứng nhận tốt nghiệp khóa đào tạo nghề công chứng và 06 tháng đối với người có giấy chứng nhận bồi dưỡng nghề công chứng. Đây là giai đoạn có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình để trở thành một công chứng viên. Qua quá trình tập sự hành nghề công chứng, người tập sự được tiếp cận, cọ xát với các tình huống trên thực tế, từ đó trang bị cho mình các kỹ năng cần thiết để hành nghề công chứng.

Ngày 15/4/2015, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 04/2015/TT-BTP hướng dẫn tập sự hành nghề công chứng. Thông tư đã cụ thể hóa quy định về tập sự hành nghề công chứng của Luật Công chứng, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng, chặt chẽ cho công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng Thông tư số 04/2015/TT-BTP cũng đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập, cụ thể như sau:

1. Về mẫu Giấy đăng ký tập sự hành nghề công chứng

Tại khoản 1 Điều 2 Thông tư số 04/2015/TT-BTP quy định hồ sơ đăng ký tập sự hành nghề công chứng bao gồm giấy đăng ký tập sự hành nghề công chứng và giấy chứng nhận tốt nghiệp khóa đào tạo nghề công chứng hoặc giấy chứng nhận hoàn thành khóa bồi dưỡng nghề công chứng. Mẫu giấy đăng ký tập sự hành nghề công chứng (mẫu TP-TSCC-01) không có nội dung về công chứng viên hướng dẫn tập sự và xác nhận đồng ý của tổ chức hành nghề công chứng về việc nhận tập sự như quy định trước đây tại Thông tư số 01/2014/TT-BTP, vì vậy đã gây khó khăn cho Sở Tư pháp trong việc quản lý tập sự hành nghề công chứng. Có trường hợp người đề nghị đăng ký tập sự chưa được sự đồng ý của tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên nhận hướng dẫn tập sự nhưng vẫn có văn bản đề nghị Sở Tư pháp đăng ký tập sự.

Bên cạnh đó, cũng có trường hợp tổ chức hành nghề công chứng phân công công chứng viên không đủ điều kiện hướng dẫn tập sự theo quy định tại khoản 3 Điều 11 Luật Công chứng nên dẫn đến việc Sở Tư pháp phải thu hồi bãi bỏ văn bản thông báo về việc đăng ký tập sự.

2. Về từ chối đăng ký tập sự

Theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Thông tư số 04/2015/TT-BTP, người tập sự có các nghĩa vụ:

"…c) Thực hiện các công việc thuộc nội dung tập sự quy định tại Điều 7 của Thông tư này theo sự phân công của công chứng viên hướng dẫn tập sự".

d) Chịu trách nhiệm trước công chứng viên hướng dẫn tập sự và tổ chức hành nghề công chứng nhận tập sự về kết quả và tiến độ của các công việc được phân công...".

Điều 7 Thông tư số 04/2015/TT-BTP quy định nội dung tập sự hành nghề công chứng bao gồm kỹ năng hành nghề công chứng và các công việc liên quan đến công chứng sau đây:

"a) Kỹ năng tiếp nhận, phân loại yêu cầu công chứng; kỹ năng kiểm tra tính xác thực, tính hợp pháp của các giấy tờ có trong hồ sơ yêu cầu công chứng; kỹ năng xem xét, nhận dạng chủ thể, năng lực hành vi dân sự của người tham gia ký kết hợp đồng, giao dịch;

b) Kỹ năng ứng xử với người yêu cầu công chứng, ứng xử theo Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng; kỹ năng giải thích cho người yêu cầu công chứng hiểu rõ quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của họ, ý nghĩa và hậu quả pháp lý của việc công chứng; kỹ năng giải thích lý do khi từ chối yêu cầu công chứng;

c) Kỹ năng nghiên cứu và đề xuất hướng giải quyết hồ sơ yêu cầu công chứng;

d) Kỹ năng soạn thảo hợp đồng, giao dịch theo yêu cầu của người yêu cầu công chứng; kỹ năng kiểm tra tính xác thực, tính hợp pháp của dự thảo hợp đồng, giao dịch do người yêu cầu công chứng soạn thảo sẵn; kỹ năng xác minh;

đ) Kỹ năng công chứng bản dịch; kỹ năng chứng thực bản sao, chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản;

e) Kỹ năng soạn thảo lời chứng;

g) Kiểm tra, sắp xếp, phân loại hồ sơ đã được công chứng, chứng thực để đưa vào lưu trữ;

h) Các kỹ năng và công việc liên quan đến công chứng khác theo sự phân công của công chứng viên hướng dẫn tập sự".

Theo các quy định nêu trên, để việc tập sự hành nghề công chứng đạt chất lượng tốt đòi hỏi người tập sự phải có mặt tại trụ sở tổ chức hành nghề công chứng và trực tiếp thực hiện các công việc liên quan đến nghiệp vụ công chứng theo sự phân công của công chứng viên hướng dẫn tập sự.

Thực tế hiện nay, một số cá nhân đăng ký tập sự hành nghề công chứng trong khi đang hành nghề luật sư, đấu giá, thừa phát lại, quản tài viên, hòa giải viên thương mại. Tuy nhiên, các cá nhân này lại không thuộc trường hợp không được đăng ký tập sự theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Thông tư số 04/2015/TT-BTP[1], do đó Sở Tư pháp không có đủ cơ sở để từ chối đăng ký tập sự.

3. Về cơ chế kiểm tra, giám sát

Khoản 4 Điều 28 Thông tư số 04/2015/TT-BTP quy định Sở Tư pháp có nhiệm vụ, quyền hạn "Kiểm tra việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hướng dẫn tập sự và Người tập sự theo quy định của Thông tư này".

Khoản 2 Điều 29 Thông tư số 04/2015/TT-BTP quy định, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên có trách nhiệm "Giám sát tổ chức hành nghề công chứng nhận tập sự, công chứng viên hướng dẫn tập sự và Người tập sự trong quá trình tập sự..." (ở cấp tỉnh, trách nhiệm này thuộc Hội Công chứng viên).

Tuy nhiên, Thông tư số 04/2015/TT-BTP lại chưa quy định cụ thể cơ chế kiểm tra của Sở Tư pháp và cơ chế giám sát của Hội Công chứng viên đối với việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hướng dẫn tập sự và người tập sự, dẫn đến các quy định này khó được triển khai thực hiện.

Nhằm đảm bảo việc tập sự hành nghề công chứng đạt hiệu quả và đi vào thực chất, qua đó góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ công chứng viên, kiến nghị Bộ Tư pháp sửa đổi, bổ sung Thông tư 04/2015/TT-BTP theo hướng:

- Sửa đổi mẫu giấy đăng ký tập sự hành nghề công chứng (mẫu TP-TSCC-01) theo hướng bổ sung nội dung về công chứng viên hướng dẫn tập sự và xác nhận đồng ý của tổ chức hành nghề công chứng về việc nhận tập sự để công tác quản lý tập sự hành nghề công chứng của Sở Tư pháp được chặt chẽ, thuận tiện hơn.

- Quy định các cá nhân là luật sư, đấu giá viên, thừa phát lại, quản tài viên, hòa giải viên thương mại khi đăng ký tập sự hành nghề công chứng thì phải tạm ngưng hành nghề luật sư, đấu giá, thừa phát lại, quản tài viên, hòa giải viên thương mại.

- Bổ sung quy định về cơ chế kiểm tra của Sở Tư pháp và cơ chế giám sát của Hội Công chứng viên đối với việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hướng dẫn tập sự và người tập sự.



[1] Người thuộc một trong các trường hợp sau đây thì không được đăng ký tập sự:

a) Thuộc trường hợp không được bổ nhiệm công chứng viên theo quy định tại Điều 13 của Luật công chứng gồm: i) Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đã bị kết tội bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về tội phạm do vô ý mà chưa được xóa án tích hoặc về tội phạm do cố ý; ii) Người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; iii) Người bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; iv) Cán bộ bị kỷ luật bằng hình thức bãi nhiệm, công chức, viên chức bị kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc hoặc sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, sỹ quan, hạ sỹ quan, công nhân, viên chức trong đơn vị thuộc Công an nhân dân bị kỷ luật bằng hình thức tước danh hiệu quân nhân, danh hiệu Công an nhân dân hoặc đưa ra khỏi ngành; v) Người bị thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư do bị xử lý kỷ luật bằng hình thức xóa tên khỏi danh sách của Đoàn luật sư, người bị tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư mà chưa hết thời hạn 03 năm kể từ ngày quyết định thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư có hiệu lực hoặc kể từ ngày chấp hành xong quyết định tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư.

b) Người đang là cán bộ, công chức, viên chức (trừ viên chức làm việc tại Phòng công chứng), sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sỹ quan, hạ sỹ quan, công nhân trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân./.

 

Thông tinFalseTăng Thị Hà Chi
Một số vấn đề về người làm chứng cho việc lập di chúcTinMột số vấn đề về người làm chứng cho việc lập di chúc/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/22/2020 12:00 PMNoĐã ban hành
Tóm tắt: Trong bài viết này, tác giả phân tích những điều kiện về người làm chứng cho việc lập di chúc từ góc độ pháp luật và thực tiễn, từ đó đưa ra một số kiến nghị cụ thể.
 
Abstract: In this article, the author analyzes conditions of witnesses for making wills from a perspective of law and practice, thereby making some specific recommendations.
 
Di chúc có thể được hiểu một cách khái quát nhất là phương tiện ghi nhận ý chí của cá nhân về việc định đoạt tài sản của mình sau khi chết.
Người làm chứng cho việc lập di chúc là người hỗ trợ cho người để lại di sản trong quá trình lập di chúc, là người chứng kiến cho quá trình lập di chúc, thông qua đó, họ sẽ xác nhận năng lực nhận thức của người lập di chúc và bảo đảm nội dung di chúc là ý nguyện thực của người để lại di sản thông qua việc ký tên hay điểm chỉ vào bản di chúc.
Về những loại di chúc yêu cầu phải có người làm chứng: Bên cạnh di chúc do người lập di chúc tự viết tay và ký tên là hợp pháp thì pháp luật quy định một số loại di chúc yêu cầu phải có sự hỗ trợ của người làm chứng mới được xem là hợp pháp như: Di chúc do người lập di chúc tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác viết hộ hoặc đánh máy bản di chúc; di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ và di chúc miệng. Điều kiện để các loại di chúc này phát sinh hiệu lực là phải được làm chứng bởi ít nhất hai người làm chứng đủ điều kiện theo luật định.
1. Điều kiện về người làm chứng cho việc lập di chúc
Di chúc là hình thức thể hiện ý chí của chủ sở hữu về việc định đoạt tài sản của mình sau khi chết. Thời điểm di chúc phát sinh hiệu lực là người lập di chúc đã chết nên không thể xác minh được nội dung di chúc có phải là ý chí thực sự của họ và được lập khi người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt, không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hay không. Do đó, trong một số trường hợp nhất định, để bảo đảm tính khách quan, chính xác và phản ánh đúng ý chí của người lập di chúc, pháp luật đòi hỏi phải có người làm chứng cho việc lập di chúc theo luật định. Người làm chứng là một trong những yếu tố quan trọng để di chúc có thể phát sinh hiệu lực trên thực tế, nếu người làm chứng không đáp ứng điều kiện thì sẽ dẫn đến hậu quả pháp lý là di chúc vô hiệu. Để làm chứng cho việc lập di chúc đòi hỏi người làm chứng cũng phải thỏa mãn những điều kiện cơ bản sau:
Thứ nhất, người làm chứng không phải là người thừa kế
Pháp luật loại trừ quyền làm chứng của những người thừa kế (khoản 1 Điều 632 Bộ luật Dân sự năm 2015) để bảo đảm tính khách quan của di chúc, tránh trường hợp những người này chỉnh sửa, giả mạo di chúc hoặc làm cho di chúc vô hiệu. Người thừa kế bao gồm người thừa kế theo di chúc và người thừa kế theo pháp luật.
Đối với người thừa kế theo di chúc thì việc không cho phép họ làm chứng về việc định đoạt tài sản cho chính bản thân mình là điều hoàn toàn hợp lý, vì việc làm chứng để định đoạt tài sản cho chính mình của họ không bảo đảm tính khách quan, độ tin cậy. Tuy nhiên, đối với quy định người làm chứng không phải là người thừa kế theo pháp luật thì còn chưa hợp lý vì người thừa kế theo pháp luật gồm ba hàng thừa kế là rất rộng, nhưng trong một số trường hợp khẩn cấp, việc tìm kiếm một người làm chứng rất khó khăn. Ví dụ như đối với loại di chúc miệng được lập trong tình trạng “khẩn cấp” thì rất khó để tìm người làm chứng đủ điều kiện. Thiết nghĩ, nếu pháp luật hạn chế quyền làm chứng của tất cả những người thừa kế theo pháp luật thuộc ba hàng thừa kế thì quá rộng, thông thường, người thừa kế được hưởng di sản thường dừng lại ở hàng thừa kế thứ hai, do đó, có lẽ nên xem xét cân nhắc để hàng thừa kế thứ ba được làm chứng bởi lẽ có những trường hợp người lập di chúc không thể tìm được hai người làm chứng có đủ điều kiện làm chứng cho việc lập di chúc miệng. Trong trường hợp này, người lập di chúc thường lập dưới dạng lời dặn dò những người thân trước khi chết, những người này lại không đủ điều kiện trở thành người làm chứng nên làm cho di chúc vô hiệu mặc dù họ rất khách quan, mong muốn thực hiện đúng di chỉ của người chết. Vì vậy, pháp luật nên sửa đổi là trong một số trường hợp thì người thừa kế theo pháp luật cũng có thể trở thành người làm chứng nếu có căn cứ cho rằng họ khách quan khi làm chứng cho di chúc.
Thứ hai, người làm chứng không phải là người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc
Người có quyền và nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc không được quyền làm chứng có thể là những chủ thể như người nhận thế chấp di sản; người thuê mướn di sản; con nợ, chủ nợ của người lập di chúc… nếu cho họ làm chứng có thể làm di chúc không khách quan, thay đổi nội dung di chúc theo hướng có lợi cho họ (ví dụ như nhằm trốn tránh nghĩa vụ) nên không cho phép những người này làm chứng cho việc lập di chúc là hợp lý.
Bên cạnh đó, pháp luật về thừa kế một số nước có quy định không cho phép vợ và chồng cùng làm chứng cho một di chúc (Điều 980 Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp), vì theo pháp luật dân sự về thừa kế, tất cả loại di chúc yêu cầu người làm chứng tối thiểu là hai người làm chứng để họ có thể kiểm soát việc lập di chúc, đối chất với nhau khi cần thiết. Thế nhưng vợ, chồng là mối quan hệ hôn nhân và gia đình rất khăng khít, nên việc họ cùng làm chứng cho một di chúc dễ dẫn đến việc họ thống nhất ý chí, bảo vệ nhau nếu một trong hai bên làm sai, do đó, pháp luật thừa kế Việt Nam nên tiếp thu kinh nghiệm về vấn đề này. Đặc biệt, đối với hình thức di chúc miệng được lập trong tình trạng nguy cấp của người lập di chúc, có thể sau khi “trăn trối” thì người lập di chúc chết và người làm chứng phải ghi chép lại di chúc, công chứng hoặc chứng thực di chúc. Vì vậy, nếu chỉ có hai vợ chồng họ có mặt tại thời điểm lập di chúc và cùng ghi chép lại, mang di chúc đi công chứng hoặc chứng thực thì khó thuyết phục những người liên quan.
Tuy nhiên, đối với trường hợp di chúc miệng thì về quy định người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc không được làm chứng cũng cần được xem xét nghiên cứu cho phù hợp. Bởi lẽ, trong trường hợp lập di chúc miệng thì rất khan hiếm khi tìm người làm chứng, hơn nữa, có những trường hợp mà bản thân người làm chứng cũng không biết mình là người có quyền hay nghĩa vụ tài sản.
Thứ ba, người làm chứng không phải là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
Quy định điều kiện về độ tuổi và nhận thức của người làm chứng có sự khác biệt giữa Bộ luật Dân sự năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015.
Quy định tại khoản 3 Điều 632 Bộ luật Dân sự năm 2015 có sự tiến bộ khi không cho phép “người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi” làm chứng cho việc lập di chúc. Quy định như vậy là hợp lý vì những chủ thể này có vấn đề trong nhận thức nên việc làm chứng của họ không chính xác và độ tin cậy kém. Tuy nhiên, quy định này vẫn còn thiếu trường hợp người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và người khiếm khuyết về thể chất ảnh hưởng đến khả năng nhận thức (như mù, câm, điếc...) hay người nước ngoài không thành thạo tiếng Việt, những người không nghe, nói, đọc, viết được tiếng dân tộc của nhau thì không nên làm chứng cho một loại ngôn ngữ mà mình không thành thạo, việc hạn chế quyền làm chứng của những người đó là hợp lý vì khả năng xác nhận, kiểm tra việc lập di chúc và nội dung di chúc của họ thiếu khả thi.
Thứ tư, người làm chứng cho di chúc miệng phải là người biết chữ
Hiện nay chưa có bất kỳ một khái niệm chính xác nào về “người biết chữ” trong tiếng Việt. Tuy nhiên, chúng ta có thể hiểu về “người biết chữ” theo phương pháp loại trừ trong cuốn “Từ điển tiếng Việt”, đó là từ “mù chữ” được giải thích là tình trạng “không biết đọc, biết viết (tuy ở tuổi đáng lẽ đã được học)”[1]. Vậy “biết chữ” là khái niệm ngược lại với “mù chữ”, ta có thể khái quát: Người biết chữ là người có khả năng đọc, hiểu và khả diễn đạt ý chí bằng cách viết.
Đối với di chúc miệng thì người làm chứng có nghĩa vụ sau khi nghe di nguyện của người chết phải ghi chép lại bằng văn bản thì di chúc mới có thể hợp pháp, nên đòi hỏi người làm chứng phải biết chữ mới diễn đạt lại ý chí người lập di chúc thông qua chữ viết. Tuy nhiên, pháp luật dân sự không quy định rõ điều kiện này mà chỉ được rút ra từ việc suy luận quy định về di chúc miệng tại khoản 5 Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo quan điểm tác giả, điều kiện đó là hoàn toàn hợp lý vì tính chất của di chúc là chỉ có hiệu lực khi người lập di chúc chết, không thể đối chất nên đòi hỏi người làm chứng phải có khả năng xác nhận nội dung bản di chúc bằng khả năng nhận thức của mình.
Từ những phân tích trên, tác giả kiến nghị bổ sung những đối tượng sau đây không được làm chứng cho việc lập di chúc:
- Người bị hạn chế về thể chất đến mức ảnh hưởng đến khả năng nhận thức, quá trình truyền đạt và thu nhận thông tin dẫn đến hạn chế khả năng xác nhận, kiểm tra việc lập di chúc hoặc ghi chép lại di chúc.
- Người nước ngoài không đọc, nói, viết thành thạo tiếng Việt (nếu di chúc được lập bằng tiếng Việt) và người không đọc, nói, viết được tiếng dân tộc khác (nếu di chúc được lập bằng tiếng dân tộc thiểu số).
- Người không biết chữ không được phép làm chứng cho việc lập di chúc. Đối với di chúc miệng thì điều kiện người làm chứng phải biết chữ mới có thể ghi chép lại di chúc miệng mặc dù trong tình trạng khẩn cấp. Trong điều kiện thông thường thì việc tìm kiếm một người làm chứng biết chữ dễ dàng hơn, người làm chứng biết chữ mới có thể tự đọc lại bản di chúc và xác minh nó đúng với những gì mình nghe. Vì vậy, cần bổ sung yêu cầu về người làm chứng cho di chúc phải là người biết chữ.
- Cả hai vợ chồng không được cùng làm chứng cho một di chúc. Pháp luật dân sự yêu cầu đối với loại di chúc phải có người làm chứng thì phải có ít nhất là hai người làm chứng nhằm mục đích tránh sai lệch nội dung di chúc, những người làm chứng này sẽ kiểm soát hành vi của nhau bảo đảm tính khách quan của di chúc. Tuy nhiên, vợ chồng là mối quan hệ mật thiết, gần gũi với nhau, nên dễ dẫn đến thống nhất ý chí và bao che cho nhau nếu một trong hai bên có sai sót.
Một số ví dụ thực tế về trường hợp di chúc có người làm chứng không đủ điều kiện luật định:
Ví dụ 1: Tranh chấp về hiệu lực của di chúc bằng văn bản và di chúc miệng[2]
Tóm tắt nội dung vụ án: Cụ T có ba người con là bà N, bà M, ông Q. Năm 1993, cụ T lập tờ di chúc để lại căn nhà cho cháu là chị H (con của bà N) có bà G làm chứng và di chúc đã được công chứng. Ngày 08/10/1994, cụ T chết. Ngày 21/10/1994, ông Q lập “tờ đồng thuận” có nội dung là trước khi chết, cụ T căn dặn để lại căn nhà cho cháu nội là anh B thờ cúng. “Tờ đồng thuận” có bà M ký tên đồng ý, còn chị H thì ký xác nhận đang giữ giấy chủ quyền căn nhà trên. Năm 1997, chị H khởi kiện yêu cầu được thừa kế theo tờ di chúc, buộc anh B giao nhà. Tại Tòa, chị H thừa nhận cụ T có căn dặn căn nhà trên để lại cho anh B quản lý thờ cúng nhưng chị cho rằng chị mới là chủ sở hữu theo tờ di chúc có công chứng, còn ông Q thì cho rằng anh Bình là chủ sở hữu theo “tờ đồng thuận”. Bản án dân sự phúc thẩm chấp nhận “tờ đồng thuận” hay di chúc miệng có hiệu lực.
Ví dụ 2: Công nhận di chúc miệng
Tóm tắt nội dung vụ án: Năm 1952, vợ chồng ông B và bà H có một căn nhà chung. Sau đó, bà H bỏ sang Campuchia sống. Ông B chung sống với bà T trên nhà và đất trên. Năm 1970, bà T đứng tên mua thêm căn nhà liền kề. Hiện tại cả hai phần nhà cùng mang chung số nhà. Năm 1962, bà T nhận anh K là cháu ruột về nuôi. Năm 1992, bà T chết. Anh K cho rằng bà T đã di chúc miệng cho anh nhà và đất tạo lập năm 1970 (căn nhà mua liền kề). Ông B thừa nhận bà T có ý nguyện để lại tài sản là một phần căn nhà cho anh K. Tại tờ di chúc lập ngày 12/8/1993, ông B xác nhận: “Tr­ước khi chết, vợ tôi là T có trăn trối cho cháu trai của bà là K, 31 tuổi (nuôi từ bé) một phần căn nhà đứng ngoài nhìn vào phía bên trái (sát vách nhà ông M­) được hưởng phần căn nhà đó”. Quan điểm của Tòa án cho rằng có căn cứ xác định bà T­­ có di chúc miệng để anh K hưởng thừa kế phần nhà, đất tạo lập năm 1970 nên đã chấp nhận di chúc miệng.
Như vậy, trong hai ví dụ trên thì di chúc miệng được lập khi Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 đang có hiệu lực, Pháp lệnh không yêu cầu di chúc miệng phải có người làm chứng và ghi chép lại. Vì vậy, Tòa án nhân dân tối cao đã chấp nhận di chúc miệng vì cho rằng có căn cứ để xác định di chúc miệng là có thật. Chứng cứ để xác định di chúc miệng trên đúng với ý nguyện người chết là “tờ đồng thuận” và “tờ di chúc” được những người làm chứng lập lại và các bên đã thừa nhận tại phiên tòa. Mặc dù việc xét xử dựa vào Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 nhưng chúng ta có thể bình luận một số vấn đề liên quan về người làm chứng cho di chúc miệng như sau: Trong di chúc miệng tại ví dụ 1 thì người làm chứng gồm ông Q, bà M (đều là người thừa kế theo hàng thừa kế thứ nhất) và chị H (người thừa kế theo di chúc bằng văn bản) ký xác nhận vào di chúc. Trong ví dụ 2 thì người làm chứng cho việc lập di chúc là ông B - người thừa kế theo hàng thừa kế thứ nhất. Nếu xét điều kiện về người làm chứng theo Điều 632 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì tất cả những người làm chứng trên đều không đủ điều kiện làm chứng vì họ đều là người thừa kế. Quan điểm của Tòa án trong trường hợp này chấp nhận di chúc miệng có giá trị pháp lý. Hướng xét xử của Tòa án theo tác giả là rất hợp lý, vì thông qua lời khai của người làm chứng có thể dễ dàng chứng minh có tồn tại bản di chúc miệng và việc làm chứng của những người làm chứng rất khách quan. Thêm vào đó, các bên tranh chấp cũng đã thừa nhận nội dung di chúc miệng là có thật tại Tòa. Qua đó có thể thấy, mặc dù những người làm chứng trên không đủ điều kiện để làm chứng nhưng việc làm chứng của họ rất khách quan và đáng tin cậy. Vì vậy, đối với di chúc miệng được lập trong điều kiện cấp bách, người lập di chúc trong tình trạng nguy kịch, họ không thể tự mình tìm kiếm được người làm chứng đủ điều kiện thì để bảo vệ quyền lập di chúc miệng thì nhà làm luật nên mở rộng hơn chủ thể được làm chứng cho di chúc miệng.
2. Chi phí cho người làm chứng cho việc lập di chúc miệng
Trong các loại di chúc có người làm chứng thì đối với di chúc miệng, vai trò của người làm chứng rất quan trọng và những công việc họ phải làm để di chúc miệng phát sinh hiệu lực khá phức tạp và tốn kém về thời gian, công sức, tiền bạc. Họ là người trực tiếp nghe, thấy, chứng kiến việc người lập di chúc miệng tuyên bố ý nguyện, đồng thời phải ghi chép lại nội dung di chúc, ra cơ quan công chứng, chứng thực để làm thủ tục công chứng, chứng thực đảm bảo tính hợp pháp, có hiệu lực của di chúc miệng. Do đó, người làm chứng cho di chúc miệng cần được hưởng một khoản phí hợp lý tương xứng với thời gian, công sức mà họ bỏ ra để làm chứng. Vì vậy, pháp luật cần bổ sung điều khoản về chủ thể yêu cầu công chứng, chứng thực di chúc miệng và khoản phí mà người yêu cầu công chứng, chứng thực nhận, khoản phí đó bao gồm những chi phí cần thiết (như phí di chuyển tàu xe, ngày công lao động bị mất, phí công chứng, chứng thực, những chi phí liên quan khác), một khoản thù lao cho việc làm chứng và thực hiện nhiệm vụ công chứng, chứng thực di chúc miệng. Khoản phí này sẽ được trích từ di sản của người lập di chúc miệng. Bên cạnh đó, cũng cần bổ sung khoản phí này vào Điều 658 Bộ luật Dân sự năm 2015 về thứ tự thanh toán và phân chia di sản theo thứ tự thanh toán tương đương vị trí với chi phí bảo quản di sản. Theo đó, bổ sung khoản 3 Điều 658 Bộ luật Dân sự năm 2015 như sau: “Chi phí cho việc bảo quản di sản; chi phí cho việc làm chứng cho việc lập di chúc miệng”.
ThS. Nguyễn Thị Hồng Vân
Đại học Đồng Tháp​
[1]. Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học (1992), tr. 642.
[2]. Tưởng Bằng Lượng (2002), Di chúc bằng văn bản hay di chúc miệng có hiệu lực pháp lý, Tạp chí Tòa án nhân dân số 02/2002.
(Nguồn từ ​Tạp chí Dân chủ và Pháp luật: https://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=587​)
Thông tinFalsePhòng Hành chính Tư pháp
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 2013 - Bất cập và kiến nghịTinHợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 2013 - Bất cập và kiến nghị/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/22/2020 12:00 PMNoĐã ban hành
Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo pháp luật hiện hành và chỉ ra một số điểm bất cập của Luật Đất đai năm 2013 về vấn đề này.
 
Abstract: The paper examines a land use right transfer contract under current law and points out some shortcomings of the 2013 Land Law on this issue.
 
1. Một số bất cập của pháp luật Việt Nam về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Thứ nhất, Luật Đất đai năm 2013 chưa quy định cụ thể về khái niệm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Khái niệm hợp đồng chuyển nhượng sử dụng đất được các nhà làm luật chính thức ghi nhận trong Bộ luật Dân sự năm 2005. Bộ luật Dân sự năm 2015 không quy định cụ thể khái niệm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà quy định chung cho tất cả các hợp đồng liên quan đến chuyển quyển sử dụng đất. Theo đó, hợp đồng về quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó người sử dụng đất chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất hoặc thực hiện quyền khác theo quy định của Luật Đất đai cho bên kia; bên kia thực hiện quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng với người sử dụng đất (Điều 500 Bộ luật Dân sự năm 2015).
Bộ luật Dân sự năm 2015 đã bỏ quy định các hợp đồng cụ thể về quyền sử dụng đất như chuyển nhượng, tặng cho, chuyển đổi, thế chấp... thay vào đó là quy định hợp đồng về quyền sử dụng đất nói chung. Tuy nhiên, quy định hợp đồng về quyền sử dụng đất tại Điều 500 Bộ luật Dân sự năm 2015 mới chỉ mang tính chất liệt kê các quan hệ chuyển quyền sử dụng đất theo pháp luật đất đai hiện hành, chưa nêu được những đặc trưng pháp lý của từng hình thức chuyển quyền sử dụng đất. Về mặt thực tiễn, việc thiếu vắng khái niệm chuyển nhượng quyền sử dụng đất có thể làm người áp dụng pháp luật bị nhầm lẫn. Ví dụ như, nhầm lẫn giữa hợp đồng chuyển nhượng với chuyển quyền sử dụng đất, hay như không phân biệt được sự khác nhau giữa hợp đồng chuyển nhượng với hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất. Về mặt kỹ thuật xây dựng văn bản pháp luật, yêu cầu các khái niệm (thuật ngữ) phải được hiểu theo một nghĩa, nhằm tránh tình trạng mỗi người, mỗi nơi hiểu và vận dụng một cách khác nhau.
Khái niệm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không được Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2013 đề cập nhưng có thể được tìm thấy trong văn bản luật chuyên ngành khác là Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 và Luật Nhà ở năm 2014. Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 mặc dù có đề cập đến hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhưng quy định này chỉ áp dụng với các hợp đồng thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật kinh doanh bất động sản. Tương tự, quy định về hợp đồng mua bán nhà ở chỉ áp dụng riêng với các hợp đồng thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Nhà ở năm 2014. Xét tính chất phức tạp của các hợp đồng về quyền sử dụng đất, tác giả cho rằng đây là điểm hạn chế cần khắc phục. Bởi hợp đồng là cơ sở để đảm bảo cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên, giải quyết tranh chấp, tránh xảy ra sai sót và hạn chế rủi ro. Đối với một loại tài sản chịu sự điều chỉnh của nhiều ngành luật như quyền sử dụng đất, việc xây dựng một khái niệm pháp lý hoàn chỉnh thống nhất chung trong hệ thống văn bản pháp luật là yếu tố cần thiết để hoạt động áp dụng và thực hiện pháp luật được thông suốt, hiệu quả.
Thứ hai, thuật ngữ “tranh chấp đất đai” chưa được quy định cụ thể, dẫn đến khó khăn khi thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Khi quyền sử dụng đất có tranh chấp, đồng nghĩa với việc tại thời điểm đó giá trị quyền sử dụng đất vẫn đang thuộc một đối tượng cụ thể, nhưng khả năng định đoạt chuyển nhượng quyền sử dụng đất của đối tượng này có thể bị ảnh hưởng bởi tình trạng kiện tụng tranh chấp. Bởi vì, để bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng cho các chủ thể khác có liên quan, đồng thời, nhằm tránh tình trạng tranh chấp về sau này, pháp luật thường không cho phép các chủ thể chuyển nhượng giá trị quyền sử dụng đất đang có tranh chấp. Tuy nhiên, cần phải xác định thế nào là đất có tranh chấp, bản chất của tranh chấp đó là để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của người đang tranh chấp hay việc “tranh chấp” đó chỉ với mục đích làm cho người có quyền sử dụng đất không thể chuyển nhượng được quyền sử dụng đất đó cần phải được xem xét.
Khái niệm tranh chấp đất đai được ghi nhận tại khoản 24 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”. Nội dung tranh chấp trong tranh chấp đất đai là quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, tuy nhiên, “quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất” là khái niệm rất rộng và sự quy định thiếu cụ thể này đã dẫn đến tình trạng khó xác định thế nào là tranh chấp đất đai. Cho tới nay, đã có nhiều định nghĩa về tranh chấp đất đai, chẳng hạn như: “Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai”[1] hoặc “tranh chấp đất đai là sự bất đồng mâu thuẫn giữa các chủ thể (sử dụng đất) trong việc xác định ai là người có quyền sử dụng đối với một (hoặc những) thửa đất nhất định… Tranh chấp đất đai có thể bao hàm cả các tranh chấp về địa giới giữa các đơn vị hành chính”[2]. Tuy nhiên, các định nghĩa trên vẫn chưa chỉ ra nội hàm/bản chất của tranh chấp đất đai.
Pháp luật về đất đai hiện hành cũng quy định rằng, khi có tranh chấp đất đai thì khuyến khích các bên tự hòa giải, khi các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải (Điều 202 Luật Đất đai năm 2013). Trường hợp đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành, thì các bên có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Khi các bên có sự bất đồng về quyền và nghĩa vụ đối với nhau nhưng sau đó tự hòa giải và không bên nào gửi đơn yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết thì có được gọi là tranh chấp không? Về mặt thực tiễn, tranh chấp đất đai chính là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ giữa các bên đương sự nên thủ tục giải quyết tranh chấp này phải thông qua con đường tố tụng. Do vậy, chúng ta vẫn hiểu rằng, chỉ khi nào một bên đã gửi đơn yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp cơ sở giải quyết tranh chấp quyền và nghĩa vụ liên quan đến đất đai mới bị coi là đất đang có tranh chấp. Mặt khác, người sử dụng đất chỉ không được chuyển nhượng quyền sử dụng đất nếu tranh chấp đó đang được Tòa án có thẩm quyền thụ lý để giải quyết. Trong khi đó, về mặt lý luận, mặc dù đã được giải thích rằng tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai nhưng cần phải có sự xác định rõ ràng thế nào là quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
Thứ ba, quy định về hình thức, thủ tục xác lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chưa hợp lý
Qua thực tiễn cho thấy, nhiều người dân đã gặp không ít rắc rối khi đến cơ quan có thẩm quyền để thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất vì mỗi nơi hiểu và áp dụng một cách khác nhau. Thông thường, sau khi bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng thực hiện hoàn tất thủ tục công chứng, hoặc chứng thực hợp đồng thì tiếp tục thực hiện việc đăng ký trước bạ, sang tên quyền sử dụng đất đứng tên bên nhận chuyển quyền tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất. Vậy, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là khi nào là câu hỏi không ít người thắc mắc trong quá trình thực thi pháp luật. Điều 502 và Điều 503 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về thủ tục thực hiện hợp đồng về quyền sử dụng đất và hiệu lực của việc chuyển quyền sử dụng đất. Theo đó, hợp đồng về quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản theo hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan. Việc thực hiện hợp đồng về quyền sử dụng đất phải đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan (Điều 502). Việc chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký theo quy định của Luật Đất đai (Điều 503).
Về hiệu lực của hợp đồng, Điều 401 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác. Từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo cam kết. Hợp đồng chỉ có thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật”. Thêm vào đó, Điều 5 Luật Công chứng năm 2014 quy định: “Văn bản công chứng có hiệu lực kể từ ngày được công chứng viên ký và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng”.
Với các quy định trên, tác giả cho rằng, hoàn toàn không có sự mâu thuẫn hay chồng chéo trong các quy định của pháp luật về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi pháp luật quy định phải công chứng, chứng thực. Theo Điều 385 Bộ luật Dân sự năm 2015, thì hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Sau khi các bên đã giao kết hợp đồng dưới một hình thức nhất định phù hợp với pháp luật và hợp đồng đó đáp ứng đầy đủ các điều kiện mà pháp luật yêu cầu thì hợp đồng có hiệu lực bắt buộc đối với các bên. Điều đó có nghĩa là, từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực, các bên trong hợp đồng bắt đầu có quyền và nghĩa vụ đối với nhau. Khi thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, các bên bao gồm chuỗi các hành vi: Giao kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng (các bên thực hiện các quyền và nghĩa vụ được xác định trong hợp đồng), đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và cơ quan có thẩm quyền ghi vào sổ địa chính. Như vậy, cần phải hiểu việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai, có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính tức là việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã hoàn thành chứ không phải có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký này.
Tuy nhiên, hiện nay, việc yêu cầu công chứng, chứng thực các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đang là nguyên nhân của nhiều giao dịch bị tuyên bố vô hiệu mặc dù ý chí của các bên là hoàn toàn tự nguyện và rất rõ ràng. Theo điểm a, b khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013, thì việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:
“a. Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này.
b. Hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên”.
Tuy nhiên, tác giả cho rằng, công chứng, chứng thực bắt buộc hiện nay gây ra quá nhiều bất cập nên việc chuyển công chứng, chứng thực bắt buộc thành công chứng, chứng thực tự nguyện (quyền công chứng, chứng thực) nên được phát triển. Thực tiễn xét xử đã chứng minh, đôi khi Tòa án đã phải “bỏ qua” quy định yêu cầu phải công chứng, chứng thực giao dịch về quyền sử dụng đất. Ở đây, Tòa án xử lý giao dịch về quyền sử dụng đất như không tồn tại quy định yêu cầu công chứng, chứng thực bởi rất khó xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi phải công chứng. Xin đưa ra một giả thuyết để cho thấy điều vừa nêu: Trước khi chết, A chuyển nhượng 600m2 đất cho ông V và bà H với giá 36 cây vàng. Bên bán đã nhận 22 cây vàng và chưa hoàn tất thủ tục chuyển nhượng. Đối chiếu với khoản 2 Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015, “giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó”, thì trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực theo quy định của Luật Đất đai năm 2013. Như vậy, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không được công chứng, chứng thực nhưng vẫn được công nhận để ổn định các quan hệ, tôn trọng ý chí của người đã khuất.
 Thứ tư, Luật Đất đai năm 2013 chưa quy định cụ thể điều kiện đối với từng phương thức chuyển nhượng quyền sử dụng đất dẫn đến tình trạng thiếu cơ sở pháp lý trong việc xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng chuyển nhượng
Do đất đai và quyền sử dụng đất có những đặc tính hết sức riêng biệt nên có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Đất đai luôn cố định, bất biến và chịu ảnh hưởng sâu sắc về tập quán sinh hoạt, điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi vùng miền. Về điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất, Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:
a. Có giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;
b. Đất không có tranh chấp;
c. Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;
d. Trong thời hạn sử dụng đất”.
Ngoài ra, người sử dụng đất khi thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất còn phải có đủ điều kiện theo quy định tại các điều 189, 190, 191,192, 193 và 194 Luật Đất đai năm 2013. Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính.
Chuyển quyền sử dụng đất nói chung là sự dịch chuyển quyền sử dụng đất và giao đất từ chủ thể này sang chủ thể khác nhưng với hai hậu quả pháp lý khác nhau và tính chất đền bù khác nhau. Cho thuê quyền sử dụng đất thì sự chuyển dịch quyền sử dụng đất chỉ là tạm thời mặc dù giao dịch này là có tính chất đền bù (phải trả tiền thuê trong thời gian sử dụng đất). Tặng cho quyền sử dụng đất thì sự chuyển dịch quyền sử dụng đất là vĩnh viễn nhưng giao dịch này không có tính chất đền bù (người nhận quyền sử dụng đất không phải trả tiền). Đặc biệt, chuyển đổi quyền sử dụng đất, nhất là đối với đất nông nghiệp thường là nhằm thuận tiện hơn trong việc sản xuất giữa hai bên chuyển đổi, nên việc chuyển đổi không nhất thiết phải có đủ các điều kiện như chuyển nhượng. Chuyển nhượng quyền sử dụng đất là một giao dịch mà trong đó, quyền sử dụng đất được chuyển dịch từ bên này sang bên kia một cách vĩnh viễn vì người nhận chuyển nhượng đã trả cho người chuyển nhượng một khoản tiền tương ứng với giá trị quyền sử dụng đất. Điều này có nghĩa là, tất cả các giao dịch nào mà trong đó có sự chuyển dịch quyền sử dụng đất vĩnh viễn và có thu tiền đều là phương thức chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Trong thực tế, quyền sử dụng đất được chuyển giao vĩnh viễn có thu tiền được thực hiện thông qua nhiều phương thức khác nhau (hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; hợp đồng mua bán nhà ở; hợp đồng mua bán công trình xây dựng trên đất; hợp đồng mua bán cây lâu năm trên đất; hợp đồng mua bán rừng sản xuất là rừng trồng) và trong mỗi phương thức đó, việc xác định diện tích đất được chuyển quyền sử dụng, thời điểm xác lập quyền sử dụng đất rất khác nhau. Trong khi đó, theo pháp luật hiện hành chỉ có duy nhất một điều luật quy định về điều kiện chuyển quyền sử dụng đất cho tất cả các phương thức là chưa hợp lý.
2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Thứ nhất, bổ sung quy định khái niệm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Như đã phân tích ở trên, tác giả cho rằng cần nghiên cứu khôi phục lại quy định đối với từng loại hợp đồng về quyền sử dụng đất, trong đó có hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Đồng thời, để phù hợp với các quy định pháp luật về các loại hợp đồng chuyên ngành, hợp đồng về chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên được quy định trong Luật Đất đai.
Thứ hai, Luật Đất đai cần xác định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các bên trong tranh chấp đất đai là gì để tránh làm cản trở quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Việc quy định cụ thể này sẽ giúp giải quyết tình trạng khó khăn trong việc xác định như thế nào là đất không có tranh chấp và không ảnh hưởng rất lớn đến quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất của người có quyền sử dụng đất.
Thứ ba, cần hoàn thiện các quy định về hình thức, thủ tục xác lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Luật Đất đai nên quy định “việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được thực hiện theo nhu cầu của các bên” nhằm khắc phục các hạn chế trên, đồng thời giảm chi phí cũng như thủ tục rườm rà cho người dân. Chúng ta không thể phủ nhận việc công chứng bắt buộc hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là cần thiết. Về mặt quy định của pháp luật thì các giao dịch về bất động sản được công chứng sẽ đảm bảo về hình thức theo quy định tạo điều kiện để các giao dịch đó tiếp tục được các cơ quan có thẩm quyền thực hiện các bước tiếp theo. Việc công chứng các giao dịch về bất động sản mang lại lợi ích cho các bên không chỉ về pháp lý mà còn về kinh tế, thương mại, hạn chế được những ảnh hưởng, thậm chí là phá sản do những hợp đồng, giao dịch dân sự, thương mại tiềm ẩn những rủi ro do không được công chứng. Hợp đồng, giao dịch được công chứng có giá trị chứng cứ, những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch được công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu. Các hoạt động giao dịch được kiểm soát, hạn chế thất thu về thuế cho Nhà nước, các tranh chấp, khiếu kiện ít xảy ra hơn, giảm gánh nặng cho Tòa án và giúp thị trường bất động sản ổn định hơn rất nhiều.
Thực ra, không có giải pháp nào mang lại ưu điểm tuyệt đối, nhưng việc quy định công chứng, chứng thực bắt buộc như hiện nay có nhiều nhược điểm hơn việc chuyển sang công chứng, chứng thực tự nguyện. Khi người tham gia giao dịch có sự nghi ngờ đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà họ muốn xác lập, họ vẫn có thể yêu cầu sự trợ giúp của công chứng viên bằng cách yêu cầu công chứng giao dịch của họ. Bởi lẽ, Luật Công chứng đã quy định rõ “công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng”. Hơn nữa, nếu có sự gian lận trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì hiện nay chúng ta đã có cơ chế để bảo vệ người ngay tình vì pháp luật dân sự đã có chế tài cho người gian lận thông qua quy định về giao dịch vô hiệu do nhầm lẫn, do lừa dối hay do giả tạo.   
Thư tư, Luật Đất đai nên quy định cụ thể điều kiện đối với từng phương thức trong chuyển quyền sử dụng đất. Việc tách riêng các điều kiện đối với từng phương thức chuyển quyền sử dụng đất khỏi các quy định về quyền và nghĩa vụ chung sẽ đảm bảo người sử dụng đất có thể dễ dàng nắm được quy định mà tuân thủ thực hiện. Ngoài ra, trong các điều kiện để quyền sử dụng đất có thể được chuyển nhượng tại Luật Đất đai thì điều kiện phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là một trong những điều kiện gây ra những khó khăn cho sự phát triển của thị trường quyền sử dụng đất. Kể cả khi tất cả các thửa đất ở Việt Nam đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì điều kiện này vẫn gây ra những khó khăn nhất định. Đó là các trường hợp chuyển nhượng một phần thửa đất, hoặc đang trong quá trình chờ lấy giấy chứng nhận nhưng lại có nhu cầu chuyển nhượng ngay, các bên không thể công chứng để thực hiện các giao dịch. Do đó, về điều kiện chuyển nhượng trong Luật Đất đai cần tính đến cả những tiến bộ trong tương lai của ngành địa chính, đó là việc số hóa việc quản lý các thông tin địa chính trong đó có cả việc đăng ký quyền sử dụng đất. Khi đó, người sử dụng đất cũng không cần phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cơ quan đăng ký chỉ cần đối chiếu thông tin trong hợp đồng và đăng ký trên hệ thống điện tử. Do đó, theo tác giả, Luật Đất đai nên sửa đổi điều kiện chuyển nhượng này thành “có quyền sử dụng đất hợp pháp”.
ThS. Tạ Thị Thùy Trang
Đại học Thương mại
[1]. Giáo trình Luật Đất đai, Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), tr. 455.
[2]. Giáo trình Luật Đất đai, Trường Đại học Luật  TP. Hồ Chí Minh (2012), tr. 357 - 358.
(Nguồn Từ Tạp chí Dân chủ và Pháp luật: https://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=588​)​
Thông tinFalsePhòng Hành chính Tư pháp
Danh sách các tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 15/6/2020)Danh sách các tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 15/6/2020)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/15/2020 6:00 PMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho hoạt động công chứngTinTháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho hoạt động công chứng/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Đây là lời nhấn mạnh của đồng chí Phan Chí Hiếu, Thứ trưởng Bộ Tư pháp tại buổi Tọa đàm góp ý kiến dự thảo Nghị quyết về chính sách phát triển nghề công chứng được diễn ra vào sáng nay (12/6).
6/14/2020 8:00 PMNoĐã ban hành
toa dam nq cspt cong chung 1.jpg
​Nhằm triển khai thực hiện Luật công chứng 2014 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 Luật có liên quan đến Quy hoạch; để khắc phục một số hạn chế còn tồn tại, đảm bảo tính ổn định, bền vững nghề công chứng thì việc xây dựng Nghị quyết về Chính sách phát triển nghề công chứng là cần thiết giúp các địa phương có định hướng trong phát triển nghề công chứng phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế, xã hội tại địa phương. Tại buổi tọa đàm, các đại biểu tham dự đã trao đổi, thảo luận một số vấn đề quan trọng như: sự cần thiết ban hành nghị quyết, mục tiêu, định hướng chính sách, nhiệm vụ và giải pháp phát triển nghề công chứng… nhằm góp ý dự thảo Nghị quyết.​
toa dam nq cspt cong chung 2.jpg
Phát biểu kết luận tại tọa đàm, Thứ trưởng Phan Chí Hiếu khẳng định hoạt động công chứng có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, đã đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh, an toàn và ổn định trật tự của đất nước. Vì vậy, cần phải phát triển đúng mục tiêu, định hướng nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng nghề công chứng. Thứ trưởng Phan Chí Hiếu cũng yêu cầu Cục Bổ trợ tư pháp tổng hợp đầy đủ các ý kiến góp ý từ các đại biểu tham dự trực tiếp buổi tọa đàm và các đại biểu góp ý qua văn bản; đồng thời, nghiên cứu, tiếp thu, lấy ý kiến rộng rãi từ các Bộ, ngành và các cơ quan có liên quan để hoàn thành bản dự thảo chất lượng trình Chính phủ phê duyệt.
Một số hình ảnh khác tại tọa đàm:
toa dam nq cspt cong chung 3.jpg

\1206 toa dam nq cspt cong chung 4.jpg
Ngọc Dung - Trung tâm Thông tin
                                                           (Nguồn từ Cổng Thông tin điện tử Bộ Tư pháp)

Thông tinFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Danh sách tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên đang hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 25/5/2019)Danh sách tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên đang hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 25/5/2019)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
5/25/2020 12:00 PMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Phải niêm yết đầy đủ theo quy định biểu phí, thù lao công chứng và nguyên tắc tính chi phí khác tại trụ sở của tổ chức hành nghề công chứngTinPhải niêm yết đầy đủ theo quy định biểu phí, thù lao công chứng và nguyên tắc tính chi phí khác tại trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng/bo-tro-tu-phap/PublishingImages/2020-06/bttp-2020-tochuchoatdongCC_Key_15062020144816.jpg
5/15/2020 3:00 PMNoĐã ban hành

Đây là một trong những chỉ đạo của Sở Tư pháp tại Công văn số 812/STP-BTTP ngày 13/5/2020 về tổ chức và hoạt động công chứng.

Thời gian qua, hoạt động công chứng trên địa bàn tỉnh đã đạt được nhiều kết quả tích cực, chất lượng và tính chuyên nghiệp của các tổ chức hành nghề công chứng, đội ngũ công chứng viên từng bước được nâng cao, cơ bản đáp ứng nhu cầu công chứng của các cá nhân, tổ chức và góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Để hoạt động công chứng trên địa bàn tỉnh ngày càng nề nếp, hiệu quả, Sở Tư pháp đã ban hành văn bản đề nghị các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh lưu ý thực hiện các nội dung sau:​

1. Thực hiện việc công chứng đúng theo quy định của Luật Công chứng và các quy định pháp luật khác có liên quan. Trước khi công chứng hợp đồng, giao dịch cần phải kiểm tra kỹ hồ sơ công chứng, đặc biệt là thông tin về tài sản, đương sự đảm bảo tính hợp pháp, chính xác của hồ sơ. Đồng thời, thực hiện tra cứu Phần mềm tích hợp dữ liệu công chứng trên phần mềm Master của tất cả các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh và Cơ sở dữ liệu công chứng. Sau khi hoàn thiện việc đồng bộ dữ liệu công chứng trên phần mềm Master lên Cơ sở dữ liệu công chứng, Sở Tư pháp sẽ có văn bản hướng dẫn công chứng viên chỉ thực hiện tra cứu Cơ sở dữ liệu công chứng.

Trưởng tổ chức hành nghề công chứng quán triệt đến các công chứng viên, chuyên viên của tổ chức thường xuyên nghiên cứu, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng hành nghề công chứng. Trong quá trình hành nghề, công chứng viên phải tuân thủ Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng.

2. Phải niêm yết đầy đủ theo quy định biểu phí, thù lao công chứng và nguyên tắc tính chi phí khác tại trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng. Thực hiện thu, ghi hóa đơn, phiếu thu cụ thể từng khoản thu (phí công chứng, thù lao công chứng, chi phí khác,...) và có trách nhiệm giải thích rõ về các khoản thu (khi người yêu cầu công chứng đề nghị).

Trường hợp qua công tác kiểm tra, thanh tra phát hiện hoặc có phản ánh của người dân về việc tổ chức hành nghề công chứng không niêm yết phí, thù lao công chứng và nguyên tắc tính chi phí khác tại trụ sở; thu thù lao công chứng không đúng quy định; không ghi hóa đơn, phiếu thu hoặc không ghi cụ thể từng khoản thu trên hóa đơn, phiếu thu, Sở Tư pháp xem xét, xử lý nghiêm theo quy định pháp luật.

3. Thực hiện việc nhận tập sự hành nghề công chứng theo quy định của Luật Công chứng và Thông tư số 04/2015/TT-BTP ngày 15/4/2015 của Bộ Tư pháp hướng dẫn tập sự hành nghề công chứng, đảm bảo việc tập sự hành nghề công chứng nghiêm túc, chất lượng.

4. Mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công chứng viên của tổ chức kịp thời, đầy đủ. Định kỳ hàng năm báo cáo Sở Tư pháp về việc mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp (lồng ghép vào báo cáo năm về tình hình tổ chức và hoạt động công chứng).

5. Thường xuyên kiểm tra, sửa chữa, nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị đảm bảo phục vụ tốt hoạt động công chứng tại đơn vị; phải lắp đặt hệ thống phòng cháy, chữa cháy theo đúng quy định pháp luật; cần thiết lắp đặt camera tại trụ sở tổ chức hành nghề công chứng./.

File đính kèm CV_812_STP-BTTP.pdf

Thông tinFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Danh sách các tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 11/5/2020)Danh sách các tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 11/5/2020)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
5/11/2020 11:00 AMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Danh sách các tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 21/4/2020)Danh sách các tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 21/4/2020)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
4/21/2020 9:00 AMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Danh sách các tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 10/4/2020)Danh sách các tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 10/4/2020)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
4/10/2020 12:00 PMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Thực trạng áp dụng một số giấy tờ thay thế giấy chứng tử trong việc công chứng văn bản thừa kếTinThực trạng áp dụng một số giấy tờ thay thế giấy chứng tử trong việc công chứng văn bản thừa kếQ
3/20/2020 10:00 AMNoĐã ban hành

Tóm tắt: Trong bài viết này, tác giả nêu giá trị pháp lý của giấy chứng tử trong hoạt động công chứng, việc áp dụng một số giấy tờ thay thế trong thực tế và từ đó, đề xuất ý kiến đối với vấn đề này.

 Abstract: In this article, the author stated the legal validity of the death certificate in the notary operation, the application of some replacement documents in practice and from there, suggesting opinions on this issue.

 1. Giá trị pháp lý và ý nghĩa của giấy chứng tử trong hoạt động công chứng

Giấy chứng tử là một loại giấy tờ hộ tịch của cá nhân được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho gia đình, người thân, người đại diện hoặc cá nhân, tổ chức có liên quan để xác định một người là đã chết, trong đó xác định các thông tin về người chết như thời gian chết, địa điểm chết và nguyên nhân chết… Cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký khai tử là Ủy ban nhân dân cấp xã[1] đối với người Việt Nam, còn đối với người nước ngoài hoặc công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài chết tại Việt Nam thì thẩm quyền đăng ký khai tử thuộc về Ủy ban nhân dân cấp huyện[2].

Giấy chứng tử được dùng trong hồ sơ yêu cầu công chứng để chứng minh một người đã chết và dựa vào thông tin liên quan đến người chết để xác định thời điểm mở thừa kế, xác định người thừa kế, thời điểm chấm dứt hiệu lực của giao dịch… Giấy chứng tử là một loại giấy tờ rất cần thiết khi thực hiện công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản hoặc khai nhận di sản thừa kế. Trong trường hợp người để lại di sản chết, giấy chứng tử là căn cứ chứng minh sự kiện tử của người để lại di sản, chứng minh những người có quyền hưởng di sản và xác định những di sản để lại của người chết. Trong trường hợp người được quyền hưởng di sản chết, giấy chứng tử là căn cứ giúp những người thừa kế còn lại chứng minh không còn người thừa kế nào khác (nếu người này đang không có quan hệ hôn nhân với ai và không có con), hoặc là căn cứ để xác định thừa kế thế vị (nếu người này đã có con và chết trước người để lại di sản) hay những người được hưởng thừa kế thay người này (nếu có vợ chồng, con và chết sau người để lại di sản).

Tuy nhiên, hiện nay nhiều người dân vẫn chưa nhận thức được tầm quan trọng của các giấy tờ hộ tịch dẫn đến xem nhẹ việc đăng ký khai tử cho người chết, còn tâm lý e ngại làm việc với cán bộ tư pháp - hộ tịch, chỉ khi nào có công việc liên quan cần đến thì họ mới đi đăng ký khai tử. Mặt khác, pháp luật hộ tịch cho phép người dân được đăng ký khai tử quá hạn dẫn đến tình trạng người dân chủ quan, thiếu tự giác. Nếu trong trường hợp người thân của họ chết quá lâu không còn căn cứ chứng minh sự kiện chết thì việc cấp giấy chứng tử sẽ khá khó khăn, phức tạp.

2. Những vấn đề khi sử dụng một số giấy tờ để thay thế giấy chứng tử

Theo quy định tại khoản 1 Điều 34 Luật Hộ tịch năm 2014: "Người có trách nhiệm đi đăng ký khai tử nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy báo tử hoặc giấy tờ khác thay giấy báo tử cho cơ quan đăng ký hộ tịch". Đối với những trường hợp chết tại nhà, chết đã quá lâu, chết trong thời kỳ chiến tranh loạn lạc hoặc thiên tai, lũ lụt, hay không rõ chết nơi nào… người thân của người chết không thực hiện đăng ký khai tử cũng như không còn lưu giữ được bất cứ giấy tờ nào để chứng minh sự kiện chết, dẫn đến cơ quan có thẩm quyền rất khó để đăng ký khai tử do không có đủ căn cứ chứng minh sự kiện chết. Trong trường hợp này thì người yêu cầu công chứng có thể cung cấp cho công chứng viên các giấy tờ thay thế nào khác để chứng minh người đó đã chết, thời điểm chết của người đó. Sau đây là một số giấy tờ được áp dụng trong thực tế:

- Lý lịch đảng viên có xác nhận của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền: Có thể nói, đây là giấy tờ có tính an toàn pháp lý cao bởi lẽ thủ tục xem xét kết nạp Đảng rất chặt chẽ, việc khai phải đầy đủ, rõ ràng, trung thực. Ở đây không chỉ yêu cầu kê khai lý lịch về bản thân của người xin vào Đảng mà còn cả của những người thân thích như ông bà nội ngoại, cha mẹ, vợ chồng, anh chị em ruột của người đó. Vì vậy, người xin kết nạp Đảng phải kê khai kỹ về người thân mình, cả việc chết và mất tích của người thân, thông tin về thời gian, địa điểm chết của người đó. Lý lịch phải được thẩm tra, kết luận trước khi ghi nội dung chứng nhận, ký tên, đóng dấu. Do những tình tiết trong lý lịch đã được các cơ quan, tổ chức điều tra xác minh và xác nhận, công chứng viên có thể căn cứ vào giấy tờ này để xác định một người là đã chết.

- Đơn xác nhận việc tử được Ủy ban nhân dân có thẩm quyền xác nhận, trong đó có nội dung người thân của người chết trình bày các thông tin về địa điểm, thời gian chết và cam đoan lời khai của mình, nếu Ủy ban nhân dân có thẩm quyền biết thông tin về việc tử trong đơn là đúng thì sẽ xác nhận nội dung là đúng sự thật. Tuy nhiên, thực tế không ít trường hợp yêu cầu đăng ký khai tử cho người chết đã quá lâu nên cơ quan hộ tịch không có cơ sở để giải quyết, cũng không có cơ sở để từ chối và né tránh bằng cách chứng thực chữ ký hoặc xác nhận những nội dung không liên quan đến sự kiện tử trong đơn yêu cầu xác nhận việc tử. Việc chứng thực chữ ký trong văn bản có nội dung trình bày, đề nghị xác nhận một người là đã chết thì không có giá trị xác nhận một người là đã chết. Một vấn đề rủi ro nữa là nếu người viết đơn xác nhận việc tử có quan hệ thân thiết với Ủy ban nhân dân có thẩm quyền, thì việc xác nhận đơn đó có thể không chính xác vì có khả năng Ủy ban nhân dân vì tin tưởng người đó, không kiểm tra kỹ thông tin mà vẫn ký và đóng dấu xác nhận việc tử.

- Bản khai lý lịch quan hệ nhân thân trong giải quyết giao dịch dân sự về thừa kế, trong đó người thân của người chết khai các thông tin về họ tên, năm sinh, thời điểm, địa điểm chết của người để lại di sản, thông tin về cha mẹ, vợ chồng, con… của người để lại di sản. Bản khai lý lịch có thể được xác nhận nội dung nếu Ủy ban nhân dân có thẩm quyền biết rõ và yên tâm, tin tưởng vào nội dung đã khai trong lý lịch. Ở một số địa phương, công chứng viên thường căn cứ vào bản khai lý lịch đã được xác nhận nội dung để xác định một người đã chết mà không yêu cầu người thân người đó phải chứng minh sự kiện tử. Thực tế thì rất ít Ủy ban nhân dân có thẩm quyền xác nhận được nội dung mà hầu hết là chứng thực chữ ký người khai vì bản khai lý lịch được phép chứng thực chữ ký theo Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch. Tuy nhiên, người khai bản khai lý lịch phải chịu trách nhiệm về nội dung, Ủy ban nhân dân chỉ chịu trách nhiệm xác nhận chữ ký trong giấy tờ, văn bản là chữ ký của người khai, dẫn đến nếu người khai cố tình giấu giếm, lừa dối thông tin như năm mất của người được hưởng di sản thừa kế (ví dụ ghi cha mẹ người để lại di sản chết trước) thì Ủy ban nhân dân nơi chứng thực cũng không chịu trách nhiệm, do đó, công chứng viên rất khó xác định được có đúng là người được hưởng di sản thừa kế đã chết hay không và chết trước hay chết sau người để lại di sản. Do vậy, việc chứng thực chữ ký trong bản khai lý lịch không phải là căn cứ để chứng minh một người đã chết.

- Giấy cam kết việc tử của người thân người chết trong trường hợp không có cơ quan nào xác nhận được việc tử: Để thực hiện việc đăng ký khai tử đối với những trường hợp chết đã lâu là rất khó khăn, do sự kiện chết đã lâu, tình hình lúc đó có nhiều biến động, nên khó xác định được thời điểm, địa điểm, nguyên nhân chết, do đó, để có hướng giải quyết đối với những trường hợp người thân người chết không thể cung cấp được các tài liệu, chứng cứ như Bộ Tư pháp hướng dẫn (ảnh chụp bia mộ nơi an táng người đã chết, có xác nhận của Ban Quản lý nghĩa trang và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có nghĩa trang về người chết, thời điểm chết; văn bản xác nhận của người làm chứng) dù đã làm hết khả năng, có ý kiến sẽ thực hiện theo hướng linh động cho phép người dân được tự cam kết và chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với những trường hợp sự việc chết xảy ra đã quá lâu.

Qua phân tích các loại giấy tờ trên, có thể thấy lý lịch đảng viên là có tính xác thực rõ ràng nhất, đơn xác nhận việc tử cũng là một loại giấy tờ thường xuyên được áp dụng trong thực tế, bản khai lý lịch có tính rủi ro cao và giấy cam kết việc tử của người thân là giấy tờ có mức độ xác thực thấp nhất.

3. Một số đề xuất, kiến nghị

Điều 59 Luật Công chứng năm 2014 quy định, người thừa kế khi yêu cầu công chứng văn bản từ chối nhận di sản có thể cung cấp giấy chứng tử hoặc giấy tờ khác chứng minh người để lại di sản đã chết. Như vậy, không phải trường hợp nào công chứng viên cũng yêu cầu người yêu cầu công chứng phải xuất trình giấy chứng tử mà có thể thay thế bằng giấy tờ khác nếu chứng minh được sự kiện tử của người để lại di sản. Tuy nhiên, pháp luật công chứng quy định như vậy trong trường hợp công chứng văn bản từ chối di sản, còn trong trường hợp công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản và khai nhận di sản thừa kế, công chứng viên cần phải xem xét thận trọng hồ sơ vì trường hợp này hồ sơ rất phức tạp, dễ xảy ra tranh chấp, dễ bỏ sót người thừa kế. Ngoài ra, văn bản thỏa thuận phân chia hoặc khai nhận di sản là căn cứ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký việc chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản cho người được hưởng di sản. Để đảm bảo tính an toàn pháp lý của văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, tác giả có một số ý kiến trong những trường hợp này như sau:

- Đối với người để lại di sản thì giấy chứng tử bắt buộc phải có trong hồ sơ yêu cầu công chứng. Bởi lẽ, khi công chứng viên thực hiện bất kỳ thủ tục công chứng nào về thừa kế thì việc đầu tiên công chứng viên cần xác định đó là phải có sự kiện chết của người để lại di sản mà chỉ có giấy chứng tử mới xác định chính xác nhất sự kiện tử của một người; tiếp đến, công chứng viên cần xác định thời điểm chết của người để lại di sản, việc xác định thời điểm chết có ý nghĩa hết sức quan trọng vì đó là mốc thời điểm để xác định những người được hưởng di sản thừa kế, có phát sinh người được hưởng di sản thừa kế thay hoặc thừa kế thế vị hay không. Ngoài ra, thời điểm chết còn xác định được di sản để lại là tài sản riêng hay phần tài sản trong tài sản chung với người khác.

- Đối với những người được quyền hưởng di sản thừa kế, nếu xét độ tuổi đến hiện tại quá cao (trên 100 tuổi) hoặc xét thấy không có khả năng nào mà những người đó còn sống thì công chứng viên có thể linh động tùy trường hợp mà yêu cầu xuất trình giấy tờ chứng minh sự kiện tử, nên ưu tiên các loại giấy tờ được cơ quan có thẩm quyền xác nhận để có căn cứ pháp lý chặt chẽ nhất.

Qua những phân tích trên, có thể thấy, từ các quan điểm khác nhau dẫn tới yêu cầu giấy tờ mỗi nơi một khác, việc hướng dẫn giấy tờ thiếu thống nhất dẫn đến việc áp dụng pháp luật tùy tiện sẽ làm giá trị pháp lý của văn bản thừa kế thiếu chặt chẽ. Ngoài ra, tình trạng khai tử cho người còn sống ngày càng phổ biến, nhiều trường hợp người còn sống nhưng bị người nhà khai là đã chết để chiếm đoạt di sản thừa kế, thậm chí vợ khai tử chồng để bán rẫy là vụ việc mới nhất xảy ra tại xã Ea Kênh, huyện Krông Păk, tỉnh Đăk Lăk như Báo Tiền Phong đã đưa tin ngày 20/9/2019[3]. Vì vậy, việc nghiên cứu bổ sung quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục đăng ký khai tử là một vấn đề cấp thiết cần sớm được quy định hướng dẫn cụ thể, nhằm hạn chế ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan. Cần nhanh chóng có văn bản hướng dẫn các địa phương để thực hiện thống nhất vấn đề về giấy tờ chứng minh việc tử để những người thân của người chết có thể thực hiện một cách nhanh chóng và hạn chế được những khó khăn, phiền hà. Trong đó, cơ quan thực hiện đăng ký hộ tịch cần kiểm tra, xác minh chặt chẽ, bảo đảm thông tin, xác nhận sự kiện tử là đúng sự thật để hạn chế sai sót hay tạo điều kiện cho kẻ xấu lợi dụng kẽ hở quản lý để hợp thức hóa giấy tờ.

                                                                                                Nguyễn Thị Xuân Nhi

                                                                                      Phòng Công chứng số 1 tỉnh Gia Lai

 

​[1]. Điều 32 Luật Hộ tịch năm 2014.

[2]. Điều 51 Luật Hộ tịch năm 2014.

[3]. Hy hữu vợ 'quyết' khai tử cho chồng dù đang vô cùng khỏe mạnh (https://www.tienphong.vn/xa-hoi/hy-huu-vo-quyet-khai-tu-cho-chong-du-dang-vo-cung-khoe-manh-1466335.tpo).


​(Nguồn: Tap chí Dân chủ và Pháp luật)


Thông tinFalseTăng Thị Hà Chi
Tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham dự kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ baTinTiếp nhận hồ sơ đăng ký tham dự kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ ba/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
3/11/2020 4:00 PMNoĐã ban hành

​Thực hiện Công văn số 654/BTP-BTTP ngày 28/02/2020 của Bộ Tư pháp về việc tổ chức kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ tư, ngày 11/3/2020, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương đã ​có Công văn số ​403/STP-BTTP về việc tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham dự kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ tư. Theo đó:​​

1. Thời gian tổ chức kỳ kiểm tra: dự kiến cuối Quý II hoặc đầu Quý III năm 2020.

2. Đối tượng được đăng ký tham dự kiểm tra:

a) Người đã hoàn thành tập sự theo quy định của Luật công chứng và Thông tư số 04/2015/TT-BTP và người sẽ hoàn thành tập sự chậm nhất là ngày 30/5/2020;

b) Người không đạt yêu cầu trong kỳ kiểm tra kết quả tập sự trước, trừ trường hợp không đạt yêu cầu trong cả ba kỳ kiểm tra đã được tổ chức.

3. Hồ sơ đăng ký tham dự kiểm tra:

a) Giấy đăng ký tham dự kiểm tra theo mẫu ban hành kèm theo Thông tư số 04/2015/TT-BTP (trường hợp đã từng tham dự kiểm tra hoặc được hoãn tham dự kỳ kiểm tra trước thì ghi rõ trong Giấy đăng ký tham dự kiểm tra);

b) Báo cáo kết quả tập sự hành nghề công chứng quy định tại Điều 8 của Thông tư số 04/2015/TT-BTP;

c) Bản sao giấy tờ chứng minh đã nộp phí thẩm định tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề công chứng theo quy định, với các thông tin như sau:

Tên tài khoản: Cục Bổ trợ tư pháp.

Số tài khoản: 3511.0.1118188, tại Kho bạc nhà nước Ba Đình, Hà Nội.

Số tiền: 3.500.000 đồng/trường hợp.

Nội dung: Nộp phí thẩm định tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề công chứng lần thứ 4 năm 2020 cho Ông/Bà...., đăng ký tập sự tại tỉnh/thành phố...... (Người nộp phí tự chịu trách nhiệm nếu trên giấy tờ không đủ thông tin để có thể xác định được người đăng ký tham dự kiểm tra).

4. Thời gian tiếp nhận hồ sơ: từ ngày 11/3/2020 đến ngày 03/6/2020.

5. Lưu ý:

- Các trường hợp Báo cáo kết quả tập sự sơ sài, không đầy đủ nội dung theo quy định, Báo cáo không thể hiện được kết quả của quá trình tập sự hoặc sao chép Báo cáo của người khác, xác nhận sai về thời gian, kết quả tập sự hoặc có các hành vi không trung thực, gian dối khác… trong hồ sơ đăng ký tham dự kiểm tra thì sẽ không được tham dự kỳ kiểm tra và tùy theo tính chất, mức độ sẽ bị xem xét, xử lý theo quy định.

- Đối với những người tập sự đã nộp hồ sơ đăng ký tham dự kiểm tra về Sở Tư pháp mà chưa nộp phí, đề nghị gửi bổ sung bản sao giấy tờ chứng minh đã nộp phí để hoàn thiện hồ sơ.

Sở Tư pháp đề nghị các tổ chức hành nghề công chứng thông báo cho những người tập sự tại tổ chức mình được biết và thực hiện./.

Nội dung chi tiết xem tại file đính kèm

CV 654-BTP-BTTP.pdf

CV_403_STP-BTTP.signed.pdf

Thông tinFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Danh sách tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 06/3/2020)Danh sách tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 06/3/2020)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
3/6/2020 9:00 AMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Triển khai thực hiện Chỉ thị số 02/CT-UBND ngày 03/02/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh về tăng cường kiểm tra, xử lý việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất không đúng quy định tại các dự án nhà ở trên địa bàn tỉnh Bình DươngTinTriển khai thực hiện Chỉ thị số 02/CT-UBND ngày 03/02/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh về tăng cường kiểm tra, xử lý việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất không đúng quy định tại các dự án nhà ở trên địa bàn tỉnh Bình Dương/bo-tro-tu-phap/PublishingImages/2020-03/bttp_2020_CNQSDD_Key_03032020105641.jpg
3/3/2020 11:00 AMNoĐã ban hành

​Ngày 03/02/2020, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Chỉ thị số 02/CT-UBND về tăng cường kiểm tra, xử lý việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất không đúng quy định tại các dự án nhà ở trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Theo đó, Ủy ban nhân dân tỉnh giao Sở Tư pháp "Chỉ đạo, quán triệt các Phòng công chứng, Văn phòng công chứng chỉ được công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất khi Chủ đầu tư đảm bảo các điều kiện theo quy định tại Điều 41, Điều 72 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai".

Thực hiện chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh, ngày 19/02/2020, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương đã có Công văn số 226/STP-BTTP triển khai Chỉ thị số 02/CT-UBND, theo đó Sở Tư pháp yêu cầu:

1. Các Trưởng tổ chức hành nghề công chứng nghiên cứu, phổ biến, quán triệt nội dung của Chỉ thị số 02/CT-UBND đến toàn thể công chứng viên, nhân viên, người lao động tại tổ chức mình; thực hiện công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại các dự án nhà ở phải đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật về đất đai, nhà ở và các quy định pháp luật khác có liên quan.

2. Hội Công chứng viên tỉnh Bình Dương theo dõi, nắm bắt thông tin về việc công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại các dự án nhà ở trên địa bàn tỉnh, kịp thời phản ánh, báo cáo Sở Tư pháp khi phát hiện những trường hợp công chứng hợp đồng nêu trên không đúng  quy định của pháp luật./.

Nội dung chi tiết xem tại file đính kèm

02-CT-UBND.signed.pdf

CV_226_STP-BTTP.signed.pdf

Thông tin; Tin ngành tư phápFalseTăng Thị Hà Chi
Tình hình tổ chức và hoạt động công chứng tại Bình Dương năm 2019TinTình hình tổ chức và hoạt động công chứng tại Bình Dương năm 2019/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
2/26/2020 4:00 PMNoĐã ban hành

1. Tình hình tổ chức và hoạt động

Về tổ chức, tính đến ngày 31/12/2019, trên địa bàn tỉnh Bình Dương có tổng số 32 tổ chức hành nghề công chứng (tăng 03 tổ chức so với năm 2018), gồm: 02 Phòng công chứng và 30 Văn phòng công chứng. Số công chứng viên đang hành nghề tại các tổ chức hành nghề công chứng: 75 (tăng 6 công chứng viên so với năm 2018).

Về kết quả hoạt động, năm 2019 các tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện công chứng 261.376 vụ việc với tổng số phí và thù lao công chứng thu được hơn 136 tỷ đồng. Tổng số tiền nộp vào ngân sách Nhà nước đối với Phòng công chứng gần 2,5 tỷ đồng; tổng số tiền nộp thuế đối với Văn phòng công chứng hơn 12 tỷ đồng.

2. Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động công chứng tại địa phương

a) Việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật về công chứng

Để tiếp tục triển khai thi hành đồng bộ, thống nhất và có hiệu quả Luật Công chứng và các văn bản pháp luật có liên quan, Sở Tư pháp luôn quan tâm, chú trọng công tác tuyên truyền, phổ biến các quy định pháp luật về công chứng. Sở Tư pháp đã phát hành 13.200 tờ gấp pháp luật phổ biến quy định về mua bán nhà ở hình thành trong tương lai. Phối hợp với Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh Bình Dương thực hiện chương trình tư vấn pháp luật trực tiếp trên sóng phát thanh 92,5 MHz nhằm kịp thời đáp ứng nhu cầu tìm hiểu pháp luật và giải đáp các khó khăn, vướng mắc của người dân liên quan đến công chứng.

Sở Tư pháp thường xuyên tuyên truyền rộng rãi qua hệ thống loa, đài truyền thanh của các xã, phường, thị trấn; lồng ghép việc phổ biến quy định pháp luật qua việc trợ giúp pháp lý.

b) Việc phát triển tổ chức hành nghề công chứng tại địa phương

Thực hiện Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 Luật có liên quan đến quy hoạch năm 2018, Luật Công chứng năm 2014 và hướng dẫn của Bộ Tư pháp tại Công văn số 449/BTP-BTTP ngày 12/02/2019, để định hướng phát triển tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, đáp ứng tốt nhu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch của cá nhân, tổ chức trên địa bàn tỉnh, Sở Tư pháp đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 2252/KH-UBND ngày 17/5/2019 về việc tổng kết Luật Công chứng năm 2014 và việc xã hội hóa hoạt động công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Trên cơ sở tổng hợp báo cáo của các cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan, ngày 11/11/2019, Sở Tư pháp đã có Văn bản số 170/BC-STP báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh, Bộ Tư pháp về kết quả thực hiện.

Bên cạnh đó, ngày 02/5/2019, Sở Tư pháp đã ban hành Thông báo số 726/TB-STP về việc chưa tiếp nhận hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Vì vậy, trong năm 2019, Sở Tư pháp chưa thành lập thêm Văn phòng công chứng mới.

c) Việc ban hành, tham mưu ban hành các văn bản liên quan đến tổ chức và hoạt động công chứng

Trong năm 2019, Sở Tư pháp đã ban hành nhiều văn bản về lĩnh vực công chứng, như: công văn về công tác phối hợp liên quan ngăn chặn giao dịch; trả lời, phúc đáp các sở, ngành và tổ chức về khó khăn, vướng mắc liên quan đến công chứng; trả lời kiến nghị cử tri trước kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh; phúc đáp Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về việc áp dụng biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật,…

Thực hiện quy định của Luật Công chứng và chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh, thời gian qua, Sở Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan tiến hành xây dựng và triển khai Cơ sở dữ liệu công chứng. Cơ sở dữ liệu công chứng bao gồm các thông tin đương sự, tài sản, hợp đồng, giao dịch và ngăn ngặn, giải tỏa ngăn chặn được chia sẻ giữa các tổ chức hành nghề công chứng, góp phần bảo đảm an toàn pháp lý các hợp đồng, giao dịch. Ngày 03/12/2019, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 29/2019/QĐ-UBND về việc ban hành Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

Để việc triển khai thực hiện Quy chế được đồng bộ, thống nhất và có hiệu quả, Sở Tư pháp đã ban hành các văn bản hướng dẫn, triển khai thực hiện Quy chế đến các sở, ngành, tổ chức, đơn vị có liên quan như: Tòa án nhân dân tỉnh, Công an tỉnh, Cục Thi hành án dân sự tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh Bình Dương, Hội Công chứng viên tỉnh và các tổ chức hành nghề công chứng.

d) Công tác phối hợp với các cơ quan có liên quan đến tổ chức và hoạt động công chứng

- Tổ chức họp theo Quy chế phối hợp giữa Sở Tư pháp và Hội Công chứng viên tỉnh nhằm nắm bắt tình hình tổ chức và hoạt động của Hội, đánh giá công tác phối hợp giữa Sở Tư pháp và Hội Công chứng viên tỉnh trong năm 2018 và đề ra phương hướng hoạt động cụ thể của Hội Công chứng viên tỉnh trong năm 2019.

- Hội Công chứng viên tỉnh đã chủ trì, phối hợp với Sở Tư pháp tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng cho đội ngũ công chứng viên và chuyên viên của các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng diễn ra trong 3,5 ngày với 06 chuyên đề.

- Sơ kết 01 năm thực hiện Quy chế phối hợp giữa Sở Tư pháp và Công an tỉnh Bình Dương

Ngày 06/4/2018, Sở Tư pháp và Công an tỉnh đã ký kết Quy chế phối hợp số 427/QCPH/STP-CAT về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về công chứng, chứng thực trên địa bàn tỉnh Bình Dương (sau đây gọi tắt là Quy chế). Để có cơ sở đánh giá toàn diện hiệu quả của Quy chế sau 01 năm triển khai thực hiện và báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Tư pháp đã chủ động ban hành Công văn số 916/STP-BTTP ngày 27/5/2019 yêu cầu Hội Công chứng viên tỉnh và Phòng Tư pháp các huyện, thị xã, thành phố triển khai thực hiện báo cáo sơ kết 01 năm thực hiện Quy chế; đồng thời ban hành Công văn số 1545/STP-BTTP ngày 21/8/2019 đề nghị Công an tỉnh báo cáo tình hình kết quả một năm thực hiện Quy chế phối hợp của Ngành Công an các cấp trên địa bàn tỉnh.

Báo cáo của các đơn vị đã tập trung làm rõ công tác triển khai thực hiện Quy chế phối hợp, những kết quả đạt được sau 01 năm thực hiện Quy chế phối hợp và những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện, từ đó đề xuất các kiến nghị, giải pháp.

- Ngoài ra, Sở Tư pháp còn tổ chức 01 cuộc họp giao ban công chứng định kỳ nhằm kịp thời nắm bắt các khó khăn, vướng mắc trong hoạt động công chứng; chỉ đạo Phòng Tư pháp khi giao ban hàng tháng mời các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn cấp huyện tham dự để tạo mối quan hệ phối hợp tốt giữa tổ chức hành nghề công chứng với các cơ quan quản lý tại địa phương.

e) Chế độ kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo về tổ chức hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng

- Về thanh tra, kiểm tra

Trong năm 2019, Sở Tư pháp đã tổ chức 03 cuộc thanh tra chuyên ngành  đối với 03 Văn phòng công chứng, 01 cuộc thanh tra đột xuất đối với 01 Văn phòng công chứng. Qua thanh tra, Chánh Thanh tra Sở Tư pháp ban hành 04 quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với 01 công chứng viên và 03 Văn phòng công chứng với tổng số tiền phạt là 42.000.000 đồng, kèm theo biện pháp khắc phục hậu quả với số tiền 5.170.000 đồng.

Công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng bị xử phạt đã nghiêm túc chấp hành quyết định xử phạt của Sở Tư pháp; khắc phục những sai sót theo kết luận của Sở Tư pháp; tổ chức họp rút kinh nghiệm đối với công chứng viên và chuyên viên thuộc tổ chức hành nghề công chứng.     

- Về giải quyết khiếu nại, tố cáo

Trong năm 2019, Sở Tư pháp tiếp nhận 07 đơn (05 tố cáo, 02 kiến nghị) thuộc thẩm quyền giải quyết của Giám đốc Sở. Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo được Sở Tư pháp thực hiện theo quy định pháp luật./.

Thông tinFalseTăng Thị Hà Chi
Danh sách tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 07/02/2020)Danh sách tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 07/02/2020)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
2/7/2020 11:00 AMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Danh sách tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 31/01/2020)Danh sách tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 31/01/2020)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
1/31/2020 10:00 AMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Thực hiện Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứngTinThực hiện Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng/bo-tro-tu-phap/PublishingImages/2020-01/bttp-CSDLCC-2020_Key_31012020171126.jpg
1/30/2020 6:00 PMNoĐã ban hành

Cơ sở dữ liệu công chứng bao gồm các thông tin đương sự, tài sản, hợp đồng, giao dịch và ngăn ngặn, giải tỏa ngăn chặn được chia sẻ giữa các tổ chức hành nghề công chứng, sẽ giúp công chứng viên tìm kiếm dữ liệu nhanh chóng, chính xác và thuận tiện, thông tin cập nhật được bảo mật tối đa, đã góp phần bảo đảm an toàn pháp lý các hợp đồng, giao dịch.  

Vừa qua, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 29/2019/QĐ-UBND ngày 03/12/2019 về việc quy định Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Sở Tư pháp đã chỉ đạo Hội công chứng viên tỉnh triển khai, quán triệt Quyết định số 29/2019/QĐ-UBND đến các TCHNCC trên địa bàn tỉnh.   

Để tiếp tục triển khai thực hiện Quy chế được đồng bộ, thống nhất và có hiệu quả, ngày 22/01/2020​, Sở Tư pháp đã có Công văn số 99/STP-BTTP , theo đó đề nghị Hội Công chứng viên tỉnh Bình Dương quán triệt công chứng viên là thành viên của Hội và các tổ chức hành nghề công chứng thực hiện nghiêm Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng; theo dõi, nắm bắt thông tin về những khó khăn, vướng mắc và hành vi vi phạm liên quan đến Cơ sở dữ liệu công chứng, kịp thời phản ánh, báo cáo Sở Tư pháp. Các tổ chức hành nghề công chứng phổ biến, giới thiệu nội dung, triển khai và thực hiện đầy đủ, nghiêm túc Quyết định số 29/2019/QĐ-UBND đến toàn thể công chứng viên, chuyên viên, người lao động tại tổ chức mình, đặc biệt là trách nhiệm và nghĩa vụ của Trưởng TCHNCC, công chứng viên và người sử dụng cơ sở dữ liệu công chứng. Đồng thời, Sở Tư pháp hướng dẫn quy trình tra cứu thông tin ngăn chặn, giải tỏa ngăn chặn và thông tin hợp đồng, giao dịch đã công chứng trên Cơ sở dữ liệu công chứng và có một số lưu ý về cấp, quản lý, sử dụng tài khoản.

Nội dung chi tiết xem tại file đính kèm CV_99_STP-BTTP.signed.pdf

Thông tin; Tin ngành tư phápFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Thực hiện phối hợp cung cấp thông tin ngăn chặn, giải tỏa ngăn chặn cho Cơ sở dữ liệu công chứng TinThực hiện phối hợp cung cấp thông tin ngăn chặn, giải tỏa ngăn chặn cho Cơ sở dữ liệu công chứng /bo-tro-tu-phap/PublishingImages/2020-01/bttp-cungcapthongtin-2020_Key_31012020171914.jpg
1/30/2020 2:00 PMNoĐã ban hành

Hiện nay, Cơ sở dữ liệu công chứng được lưu trữ tập trung tại Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông tỉnh Bình Dương, được chia sẻ đến tất cả các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh truy cập nhằm phục vụ cho quá trình tra cứu thông tin ngăn chặn, giải tỏa: tài sản, đương sự được kịp t​hời đã ngăn chặn hiệu quả đối tượng lừa đảo và các giao dịch bất hợp pháp, góp phần bảo đảm lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân cũng như lợi ích của các tổ chức hành nghề công chứng.

bttp-2020-VBnganchan.jpg

(Hình ảnh mang tính chất minh họa)

Thời gian qua, Sở Tư pháp đã nhận được sự phối hợp của các cơ quan về việc cung cấp thông tin ngăn chặn, giải tỏa: đương sự, tài sản, tuy nhiên một số trường hợp văn bản thông tin ngăn chặn, giải tỏa chưa đầy đủ như: đương sự thì chỉ cung cấp họ và tên, chưa cung cấp số chứng minh nhân dân/căn cước công dân; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất chưa cung cấp số phát hành, số vào sổ, cơ quan cấp, ngày cấp; Giấy chứng nhận đăng ký xe: thiếu số, cơ quan cấp, ngày cấp, … đã gây khó khăn cho công tác nhận dữ liệu để chia sẻ cho các tổ chức hành nghề công chứng.

Thực hiện Quyết định số 29/2019/QĐ-UBND ngày 03/12/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc ban hành Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương, để việc cung cấp thông tin ngăn chặn, giải tỏa ngăn chặn cho Cơ sở dữ liệu công chứng được kịp thời, đầy đủ và chính xác, Sở Tư pháp đã ban hành Công văn số 98/STP-BTTP ngày ​22/01/2020. Theo đó, Sở Tư pháp đề nghị các cơ quan: Tòa án nhân dân tỉnh, Công an tỉnh, Cục Thi hành án dân sự tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh Bình Dương, Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã và thành phố​​ lưu ý một số nội dung khi ​thực hiện phối hợp cung cấp thông tin ngăn chặn, giải tỏa ngăn chặn cho Cơ sở dữ liệu công chứng.

Nội dung chi tiết xem tại file đính kèm CV_98_STP-BTTP.signed.pdf

Thông tin; Tin ngành tư phápFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Danh sách tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 07/01/2020)Danh sách tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 07/01/2020)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
1/7/2020 10:00 AMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Triển khai thực hiện Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng tại các sở, ngành và Ủy ban nhân dân cấp huyệnTinTriển khai thực hiện Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng tại các sở, ngành và Ủy ban nhân dân cấp huyện/bo-tro-tu-phap/PublishingImages/2020-01/bttp-trienkhaiQD29-2020_Key_10012020100244.jpg
1/2/2020 10:00 AMNoĐã ban hành

Vừa qua, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 29/2019/QĐ-UBND ngày 03/12/2019 về việc ban hành Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương, theo đó, Quyết định số 29/2019/QĐ-UBND có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2020. Nội dung chủ yếu của Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương quy định về cung cấp thông tin, khai thác, sử dụng và chia sẻ thông tin về hợp đồng, giao dịch trong Cơ sở dữ liệu công chứng; quy trình vận hành và sử dụng Cơ sở dữ liệu công chứng tại Sở Tư pháp và các tổ chức hành nghề công chứng; trách nhiệm của Sở Tư pháp, các tổ chức hành nghề công chứng và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc thực hiện Quy chế,…

Để việc triển khai thực hiện Quy chế được đồng bộ, thống nhất và có hiệu quả, ngày 27/12/2019, Sở Tư pháp đã ban hành Công văn số 2306/STP-BTTP triển khai thực hiện Quy chế tại các sở, ngành và Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh./.

Nội dung chi tiết xem tại file đính kèm Cong_van_2306_STP-BTTP.signed.pdf​ 

Thông tinFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Danh sách tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 25/12/2019)Danh sách tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 25/12/2019)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/25/2019 2:00 PMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Quyết định số 29/2019/QĐ-UBND ban hành Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh Bình DươngQuyết định số 29/2019/QĐ-UBND ban hành Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/12/2019 6:00 PMNoĐã ban hànhVăn bản Quy phạm Pháp luậtFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Danh sách các tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 11/12/2019)Danh sách các tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên hành nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương (tính đến ngày 11/12/2019)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/11/2019 10:00 PMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Thông báo kết quả phúc tra kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề  công chứng lần thứ baTinThông báo kết quả phúc tra kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề  công chứng lần thứ ba/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/11/2019 4:00 PMNoĐã ban hành

Thực hiện ​Công văn số 4639/BTP-HĐKT ngày 22/11/2019 của Hội đồng kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ ba - Bộ Tư pháp, ngày 11/12/2019, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương đã ban hành Công văn số 2223/STP-BTTP về việc thông báo kết quả phúc tra kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ ba. Theo đó, tỉnh Bình Dương có 06 thí sinh đề nghị phúc tra và kết quả như sau:​

SttHọ và tênNơi tập sựKết quả phúc tra
1Nguyễn Thị Thúy HồngVPCC Mỹ Phước (nay đổi tên thành VPCC Nguyễn Duy Linh)Không đạt
2Nguyễn Tấn LộcVPCC Thanh TuyềnKhông đạt
3Trần Trọng NghĩaVPCC Phạm Văn CảnhKhông đạt
4Nguyễn Thị OanhVPCC Rồng ViệtKhông đạt
5Nguyễn Văn Sơn

VPCC Rồng Việt

 

Không đạt
6Mai Đức ThanhVPCC Mỹ Phước (nay đổi tên thành VPCC Nguyễn Duy Linh)Không đạt​

Xem chi tiết điểm phúc tra tại file đính kèm CV 4639-BTP.pdf

Thông tinFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Quyết định số 28/2019/QĐ-UBND sửa đổi, bổ sung một số Điều tại Quyết định số 25/2017/QĐ-UBND ngày 27/9/2017 của UBND tỉnh quy định diện tích tối thiểu được phép tách thửa đối với các loại đất trên địa bàn tỉnh Bình DươngQuyết định số 28/2019/QĐ-UBND sửa đổi, bổ sung một số Điều tại Quyết định số 25/2017/QĐ-UBND ngày 27/9/2017 của UBND tỉnh quy định diện tích tối thiểu được phép tách thửa đối với các loại đất trên địa bàn tỉnh Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/11/2019 2:00 PMNoĐã ban hànhVăn bản Quy phạm Pháp luậtFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Bình Dương ban hành Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứngTinBình Dương ban hành Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng/bo-tro-tu-phap/PublishingImages/2020-01/bttp-quyche-CSDLCC_Key_10012020084449.jpg
12/11/2019 9:00 AMNoĐã ban hành

Ngày 03/12/2019, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương (kèm theo Quyết định số 29/2019/QĐ-UBND). Quy chế được bố cục 05 Chương, 25 Điều. Nội dung chủ yếu của Quy chế gồm những quy định chung như: nguyên tắc cung cấp thông tin, phương thức cập nhật, chỉnh sửa, khai thác và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng; những hành vi bị nghiêm cấm,…. Theo đó, việc nhập thông tin ngăn chặn, thông tin giải tỏa ngăn chặn, thông tin về hợp đồng, giao dịch đã công chứng vào Cơ sở dữ liệu công chứng phải bảo đảm tính chính xác, đầy đủ, kịp thời, bảo đảm an toàn, an ninh thông tin và lưu trữ lâu dài; tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức hành nghề công chứng tra cứu thông tin. Tổ chức hành nghề công chứng có trách nhiệm cập nhật tất cả các hợp đồng, giao dịch đã công chứng vào Cơ sở dữ liệu công chứng. Cá nhân, tổ chức khai thác, sử dụng, quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng phải đúng mục đích, không sử dụng Cơ sở dữ liệu công chứng vào những mục đích trái pháp luật hay mục đích khác không phải phục vụ cho hoạt động công chứng của tổ chức mình hay hoạt động quản lý nhà nước về công chứng.

bttp-Quyet dinh29.jpg

Quy chế cũng quy định về cung cấp thông tin, khai thác, sử dụng và chia sẻ thông tin về hợp đồng, giao dịch trong Cơ sở dữ liệu công chứng; quy trình vận hành và sử dụng Cơ sở dữ liệu công chứng tại Sở Tư pháp và các tổ chức hành nghề công chứng; trách nhiệm của Sở Tư pháp, các tổ chức hành nghề công chứng và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc thực hiện Quy chế.

Cơ sở dữ liệu công chứng là hệ thống cơ sở dữ liệu bao gồm thông tin ngăn chặn và Phần mềm quản lý hồ sơ công chứng. Kết quả tra cứu từ Cơ sở dữ liệu công chứng là nguồn thông tin để công chứng viên kiểm tra, xem xét trước khi quyết định công chứng hoặc tạm dừng thực hiện việc công chứng hợp đồng, giao dịch.

Việc ban hành Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương nhằm tạo khung pháp lý rõ ràng, thống nhất cho việc khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh, qua đó góp phần đảm bảo tính an toàn pháp lý trong hoạt động công chứng.

Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2020.

Thông tin; Tin ngành tư phápFalseTăng Thị Hà Chi
Nhìn lại 05 năm triển khai thi hành Luật Công chứng năm 2014Bài viếtNhìn lại 05 năm triển khai thi hành Luật Công chứng năm 2014/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/6/2019 2:00 PMNoĐã ban hành

Luật Công chứng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 20/6/2014 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2015. Xuất phát từ nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của hoạt động công chứng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, trong 05 năm qua, các cấp, các ngành trên địa bàn tỉnh đã quan tâm, chỉ đạo triển khai thực hiện Luật Công chứng và đạt được nhiều kết quả tích cực.

Công tác lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thi hành Luật Công chứng

Để triển khai thi hành Luật Công chứng được đồng bộ, thống nhất và có hiệu quả, Sở Tư pháp đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 4477/KH-UBND ngày 19/12/2014 về việc triển khai thi hành Luật Công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Trên cơ sở đó, Ủy ban nhân dân các cấp địa phương tích cực chỉ đạo triển khai thi hành Luật thông qua việc tuyên truyền, phổ biến Luật Công chứng, cũng như tạo điều kiện cho cán bộ, công chức, viên chức tại các cơ quan, đơn vị có liên quan và công chức tư pháp hộ tịch xã, phường, thị trấn tham gia đầy đủ các lớp tập huấn nghiệp vụ về lĩnh vực công chứng, chứng thực do Sở Tư pháp, Hội Công chứng viên tỉnh tổ chức. Sở Tư pháp đã chỉ đạo các Phòng Tư pháp giao ban tư pháp mời tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn cấp huyện tham dự theo định kỳ tháng, quý để nắm bắt tình hình hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng, đồng thời tháo gỡ những khó khăn trong thực tiễn thi hành Luật Công chứng.

Công tác tổ chức triển khai thi hành Luật Công chứng

Việc tuyên truyền, phổ biến Luật Công chứng được các cấp, các ngành, các địa phương và tổ chức hành nghề công chứng chú trọng và thực hiện thường xuyên. Đối với cấp tỉnh, Sở Tư pháp tổ chức Hội nghị triển khai Luật cho khoảng hơn 500 đại biểu là lãnh đạo Ủy ban nhân dân các cấp cùng đại diện các cơ quan, sở, ban, ngành, đoàn thể và công chứng viên của các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh; chủ động phối hợp với Đài phát thanh - Truyền hình tỉnh, Báo Bình Dương thực hiện các chương trình giới thiệu, phỏng vấn, phóng sự, tọa đàm…về đề tài công chứng, trung bình mỗi năm phát hành 20.000 tờ gấp pháp luật về công chứng; phổ biến quy định pháp luật về công chứng qua việc trợ giúp pháp lý,... Các sở, ban, ngành, đoàn thể đã lồng ghép việc tuyên truyền Luật Công chứng trong sinh hoạt "Ngày pháp luật" hàng tháng đến toàn thể công chức, viên chức, người lao động tại đơn vị mình; tuyên truyền, hướng dẫn người dân biết và thực hiện pháp luật về công chứng khi giải quyết thủ tục hành chính có liên quan đến hoạt động công chứng (Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trường, Cục Thi hành án dân sự tỉnh, Ban Quản lý các khu nghiệp công nghiệp tỉnh,...).

Đối với cấp huyện, Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã và thành phố Thủ Dầu Một đã chỉ đạo Phòng Tư pháp tổ chức Hội nghị triển khai thi hành Luật, phối hợp với Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn tổ chức phổ biến rộng rãi quy định pháp luật về công chứng qua hệ thống loa, đài truyền thanh.

Tại các tổ chức hành nghề công chứng, việc tuyên truyền, phổ biến Luật Công chứng đến người dân được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: niêm yết bộ thủ tục hành chính về công chứng, mức trần thù lao công chứng, thù lao dịch thuật tại trụ sở, nội quy, quy trình công chứng; trong quá trình hành nghề, các công chứng viên tuyên truyền về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên, giải thích cho người dân hiểu rõ quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp, ý nghĩa và hậu quả pháp lý của việc công chứng. Ngoài ra, một số tổ chức hành nghề công chứng còn tích cực tham gia các hoạt động tuyên truyền, phổ biến Luật công chứng trong Ngày hội pháp luật do Sở Tư pháp tổ chức, tham gia chương trình tư vấn pháp luật trực tiếp trên sóng phát thanh 92,5 MHz nhằm kịp thời đáp ứng nhu cầu tìm hiểu pháp luật và giải đáp các khó khăn, vướng mắc của người dân liên quan đến công chứng (Phòng công chứng số 1, Phòng công chứng số 2, Văn phòng công chứng Tân Uyên,…).

Thông qua các hình thức tuyên truyền, phổ biến Luật công chứng đa đạng nêu trên, nhận thức của các cơ quan, tổ chức, cá nhân về ý nghĩa, vai trò và tầm quan trọng của hoạt động công chứng được nâng lên rõ rệt, tạo tiền đề cho việc triển khai có hiệu quả Luật Công chứng trên địa bàn tỉnh.

 Sau khi Luật Công chứng có hiệu lực thi hành, Sở Tư pháp thường xuyên rà soát các văn bản do địa phương ban hành liên quan đến tổ chức và hoạt động công chứng để kịp thời kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tế tại địa phương. Năm 2015, Sở Tư pháp đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 41/2015/QĐ-UBND ngày 30/9/2015 về sửa đổi, bổ sung Quyết định số 17/2013/QĐ-UBND ngày 20/6/2013 về chuyển giao thẩm quyền chứng thực hợp đồng, giao dịch sang tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương, đã được bổ sung bởi Quyết định số 36/2013/QĐ-UBND ngày 11/11/2013; Quyết định số 2544/QĐ-UBND ngày 05/10/2015 về việc ban hành Quy định tiêu chí xét duyệt hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

         Hàng năm, công tác tổ chức tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng hành nghề và đạo đức nghề nghiệp công chứng luôn được Sở Tư pháp, Hội Công chứng viên tỉnh phối hợp tổ chức thực hiện đúng theo quy định của Thông tư số 06/2015/TT-BTP ngày 15/6/2015 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng. Nội dung bồi dưỡng tập trung vào những vấn đề thiết thực, sát sườn với thực tiễn hành nghề công chứng tại địa phương như: quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 2013, những điểm mới của Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015, kỹ năng tiếp xúc khách hàng, kỹ năng nhận diện giấy tờ giả,...

Công tác phối hợp giữa Sở Tư pháp với các sở, ban, ngành, Uỷ ban nhân dân cấp huyện và các tổ chức, đơn vị có liên quan trong quản lý nhà nước về công chứng được thực hiện nhịp nhàng, chặt chẽ và có hiệu quả. Sở Tư pháp đã tích cực, chủ động xây dựng, ký kết Quy chế phối hợp với các cơ quan có liên quan, cụ thể:

- Quy chế phối hợp trong công tác quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương ký ngày 04/5/2016 giữa Sở Tư pháp và Hội Công chứng viên tỉnh. Sau hơn 03 năm triển khai thực hiện Quy chế, công tác phối hợp giữa Sở Tư pháp và Hội Công chứng viên tỉnh đạt được hiệu quả cao, góp phần tăng cường công tác quản lý nhà nước gắn với việc phát huy vai trò tự quản của Hội Công chứng viên trong tổ chức và hoạt động công chứng trên địa bàn tỉnh.

- Quy chế phối hợp công tác ký kết ngày 10/10/2016 giữa Sở Tư pháp và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương. Theo đó, hai cơ quan có sự phối hợp trong công tác chỉ đạo các đơn vị trực thuộc cung cấp, trao đổi thông tin quyết định kê biên xử lý tài sản; quyết định tạm dừng/chấm dứt tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản và xác minh các thông tin có liên quan nhằm tạm dừng công chứng các hợp đồng, giao dịch theo quy định để kịp thời ngăn chặn việc tẩu tán tài sản thi hành án, đồng thời đảm bảo giá trị pháp lý của các văn bản công chứng.

- Quy chế phối hợp số 427/QCPH/STP-CAT về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về công chứng, chứng thực trên địa bàn tỉnh Bình Dương ký ngày 06/4/2018, Sở Tư pháp và Công an tỉnh Bình Dương. Việc ký kết Quy chế phối hợp tạo ra sự thống nhất, kịp thời trong quy trình tiếp nhận, xử lý thông tin, vụ việc có dấu hiệu tội phạm liên quan đến công chứng, chứng thực. Qua hơn 01 năm triển khai thực hiện, Quy chế đã góp phần tăng cường sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả trong công tác, thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của hai cơ quan trong phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về công chứng, chứng thực, góp phần đảm bảo an ninh, trật tự, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.

- Ngày 21/4/2017, Sở Tư pháp tổ chức Tọa đàm về hoạt động công chứng, chứng thực với sự tham gia của đại diện Ban Pháp chế Hội đồng nhân dân tỉnh, Phòng Nội chính Ủy ban nhân dân tỉnh, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Ngân hàng nhà nước Chi nhánh tỉnh Bình Dương, Sở Tài nguyên và Môi trường, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai cấp huyện và các tổ chức hành nghề công chứng nhằm trao đổi, thảo luận và giải quyết một số khó khăn, vướng mắc trong hoạt động công chứng, chứng thực như: việc cung cấp thông tin đất đai, sửa lỗi kỹ thuật trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, công chứng hợp đồng thế chấp, xác nhận, chứng thực các giấy tờ về hộ tịch,...Thông qua buổi Tọa đàm đã góp phần tháo gỡ một số khó khăn vướng mắc, thống nhất cách giải quyết đảm bảo trong công tác phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, Hội công chứng viên, tạo thuận lợi giải quyêt nhanh hơn cho người dân. Các tổ chức hành nghề công chứng nghiêm túc rà soát, rút kinh nghiệm, chấn chỉnh một số hạn chế trong quá trình hành nghề; Ngân hàng nhà nước Chi nhánh tỉnh Bình Dương, Sở Tài nguyên và Môi trường rà soát, chấn chỉnh và tiếp tục phối hợp chặt chẽ hơn nữa với Sở Tư pháp, tổ chức hành nghề công chứng nhằm tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động công chứng.

Ngoài ra, Sở Tư pháp cũng đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện tốt các nhiệm vụ đã đề ra tại Kế hoạch số 4477/KH-UBND ngày 19/12/2014. Bình Dương là một trong những tỉnh đầu tiên trong cả nước ban hành mức trần thù lao công chứng (Quyết định số 04/2015/QĐ-UBND ngày 26/02/2015 về việc ban hành mức trần thù lao công chứng và thù lao dịch thuật trên địa bàn tỉnh Bình Dương). Quyết định số 04/2015/QĐ-UBND đã được các tổ chức hành nghề công chứng, Phòng Tư pháp và các tổ chức, cá nhân có liên thực hiện nghiêm túc. Việc áp dụng mức trần thù lao công chứng và thù lao dịch thuật góp phần giảm thiểu tình trạng thu thù lao tùy tiện và cạnh tranh không lành mạnh giữa các tổ chức hành nghề công chứng.

Ngày 21/12/2015, Hội Công chứng viên tỉnh Bình Dương được thành lập theo Quyết định số 3341/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh. Đây là tổ chức xã hội - nghề nghiệp của các công chứng viên đang hành nghề tại tỉnh Bình Dương, được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tự quản, công khai, minh bạch, không vì mục đích lợi nhuận, tự chịu trách nhiệm về kinh phí hoạt động, chịu sự quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân tỉnh và hướng dẫn của Hiệp hội công chứng viên Việt Nam. Sự ra đời của Hội Công chứng viên có ý nghĩa quan trọng, đánh dấu sự lớn mạnh trong hoạt động công chứng của tỉnh. Sở Tư pháp đã phối hợp với Sở Nội vụ trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 301/QĐ-UBND ngày 15/02/2016 về việc phê duyệt Điều lệ Hội Công chứng viên tỉnh Bình Dương, làm cơ sở quan trọng cho hoạt động của Hội.

Xây dựng dữ liệu công chứng và ban hành quy chế khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu công chứng. Thời gian qua, Sở Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp với Sở Tài chính, Sở Thông tin và Truyền thông, Công ty TNHH MTV HTTT Giải Pháp Việt (nhà thầu) và chỉ đạo Phòng công chứng số 1 (chủ đầu tư) cùng với các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh tiến hành xây dựng và triển khai Phần mềm quản lý công chứng (Cơ sở dữ liệu công chứng). Phần mềm có chức năng soạn thảo hợp đồng, giao dịch, tra cứu, ngăn chặn và chia sẻ dữ liệu công chứng giữa các tổ chức hành nghề công chứng giúp tổ chức hành nghề công chứng ngăn chặn các đối tượng lừa đảo và hạn chế tối đa những rủi ro trong hoạt động công chứng, bảo đảm lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức cũng như lợi ích các tổ chức hành nghề công chứng. Ngày 03/12/2019, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 29/2019/QĐ-UBND về việc ban hành Quy chế khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương nhằm tạo khung pháp lý rõ ràng, thống nhất cho việc khai thác, sử dụng và quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng tại địa phương.

Khó khăn, vướng mắc, bất cập trong quá trình triển khai thực hiện Luật Công chứng

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, việc triển khai thi hành Luật Công chứng vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc.

Về thể chế, hệ thống pháp luật liên quan đến hoạt động công chứng hiện nay vẫn còn một số quy định chồng chéo, mâu thuẫn nhau như Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Hôn nhân và Gia đình. Một số quy định còn chưa rõ ràng, cụ thể, được hiểu chưa thống nhất, việc hướng dẫn, giải thích pháp luật liên quan đến đất đai còn chậm khiến cho việc vận dụng, áp dụng pháp luật trong hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ công chứng có khó khăn, ví dụ như: công chứng giao dịch về tài sản hình thành trong tương lai, quyền tài sản,...

Quy định về việc thay đổi tên gọi của Văn phòng công chứng trong trường hợp thay đổi tên gọi, trụ sở hoặc Trưởng Văn phòng công chứng theo Khoản 3 Điều 22 Luật Công chứng là không hợp lý, bởi tên gọi là tài sản, là thương hiệu của Văn phòng công chứng được nhiều người biết đến. Việc thay đổi tên sẽ phần nào ảnh hưởng thương hiệu đã xây dựng của Văn phòng công chứng, người dân cũng khó khăn trong việc xác định Văn phòng công chứng mà mình đã từng công chứng. Mặt khác, hầu hết trụ sở Văn phòng công chứng đều được thuê khi bên cho thuê chấm dứt hợp đồng cho thuê thì Văn phòng đó sẽ phải thay đổi tên gọi (vấn đề thay đổi tên văn phòng phải thực hiện thủ tục hành chính thay đổi nội dung đăng ký hoạt động theo quy định pháp luật, khi đó, kéo theo thay đổi bảng hiệu, con dấu, in ấn lại hóa đơn,... làm tốn kém kinh phí và thời gian).

Luật Công chứng không có quy định giới hạn độ tuổi của công chứng viên nên thực tế có một số trường hợp công chứng viên tuổi đã cao (trên 65 tuổi) vẫn hành nghề công chứng. Đây là một bất cập bởi vì hoạt động công chứng dòi hỏi nghiệp vụ, kỹ năng và còn đòi hỏi phải có sự nghiên cứu, cập nhật pháp luật thường xuyên, sự nhanh nhạy cập nhập các thông tin về pháp luật cũng như các vấn đề phát sinh trong xã hội liên quan đến công chứng.

Hiện nay, tình hình tội phạm liên quan đến hoạt động công chứng đang diễn biến phức tạp. Trình độ tinh vi công nghệ làm giả ngày càng hiện đại, nhiều giấy tờ, tài liệu giả bằng mắt thường thì khó có thể phân biệt. Trong khi đó chế tài xử phạt đối với các hành vi này chưa cao, chưa đủ sức răn đe. Theo quy định của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 67/2015/NĐ-CP) thì mức phạt tiền cao nhất đối với hành vi "làm giả giấy tờ, văn bản hoặc giả mạo, thuê hoặc nhờ người khác giả mạo người yêu cầu công chứng để được công chứng hợp đồng, giao dịch; làm giả giấy tờ, văn bản để được công chứng bản dịch" chỉ là 10.000.000 đồng.

Về thực tiễn hoạt động công chứng, cơ sở vật chất về công nghệ thông tin có liên quan chưa được đáp ứng kịp thời trong hoạt động hành nghề công chứng. Hiện nay, Cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Duơng đã đi vào hoạt động, tuy nhiên Cơ sở dữ liệu công chứng chưa được liên thông với Cơ sở dữ liệu về hộ tịch, đất đai, đăng ký biện pháp bảo đảm,… Do vậy, để có căn cứ chứng nhận hợp đồng, giao dịch thì công chứng viên đề nghị người yêu cầu công chứng cung cấp thông tin hoặc phải xác minh thông tin dẫn đến mất thời gian, kéo dài thời gian chứng nhận hợp đồng, giao dịch của người dân, làm ảnh hưởng đến hoạt động công chứng.

Kiến nghị, đề xuất

Để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc nêu trên, Sở Tư pháp kiến nghị Ủy ban nhân dân tỉnh đề xuất, kiến nghị Trung ương nghiên cứu sửa đổi, bổ sung một số quy định bất cập trong Luật Công chứng, đồng thời, rà soát hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến hoạt động công chứng còn chồng chéo, mâu thuẫn giữa Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Hôn nhân và Gia đình,...;

Kiến nghị có chế tài xử lý nghiêm khắc hơn nữa đối với các trường hợp người yêu cầu công chứng cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật; sử dụng giấy tờ, văn bản giả mạo hoặc bị tẩy xóa, sửa chữa trái pháp luật để yêu cầu công chứng; thông báo, thông tin rộng rãi kết quả xử lý, thủ đoạn làm giả,... đề người dân biết, phòng ngừa.

Kiến nghị UBND tỉnh chỉ đạo Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh xây dựng cơ sở dữ liệu về bất động sản và liên thông với cơ sở dữ liệu công chứng của Sở Tư pháp nhằm đảm bảo cho công tác quản lý nhà nước về công chứng được hiệu quả, tạo thuận lợi cho việc tra cứu và khai thác thông tin về bất động sản.

Thông tinFalseTăng Thị Hà Chi
1 - 30Next
Ảnh
Video
Audio