1. Sửa đổi, bổ sung Điều 5 của Nghị định số
19/2011/NĐ-CP như sau:
Điều 5. Thời hạn và giá trị sử dụng của giấy
tờ
1. Giấy khám sức khỏe, Văn bản xác nhận hoàn
cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh
tế của người nhận con nuôi trong nước theo
quy định tại Điều 17 của Luật Nuôi con nuôi và
Giấy khám sức khoẻ theo quy định tại điểm đ
khoản 1 Điều 21 của Nghị định này có giá trị
sử dụng nếu được cấp chưa quá 06 tháng, tính
đến ngày nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân cấp
xã.
2. Văn bản xác nhận tình trạng sức khoẻ, Bản
điều tra về tâm lý, gia đình, Văn bản xác nhận
thu nhập và tài sản theo quy định tại khoản 1
Điều 31 của Luật Nuôi con nuôi, Giấy khám
sức khoẻ và Văn bản về đặc điểm, sở thích, thói
quen đáng lưu ý của trẻ em theo quy định
tại khoản 1 Điều 32 của Luật Nuôi con nuôi có
giá trị sử dụng nếu được lập, cấp, xác nhận
chưa quá 12 tháng, tính đến ngày nộp hồ sơ tại
cơ quan có thẩm quyền
2. Nghị định sửa đổi, bổ sung quy định về rà soát, tìm người nhận trẻ em làm con nuôi (Sửa đổi, bổ sung Điều 6 của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 4 Điều 1 của Nghị định số 24/2019/NĐ-CP):
“Điều 6. Rà soát, tìm người nhận trẻ em làm con nuôi
1. Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em mồ côi cả cha và mẹ, trẻ em không nơi nương tựa đang được cá nhân, gia đình, tổ chức tạm thời nuôi dưỡng hoặc chăm sóc thay thế theo quy định của pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã định kỳ 06 tháng rà soát, đánh giá việc trẻ em cần được nhận làm con nuôi. Nếu có công dân Việt Nam thường trú ở trong nước nhận trẻ em làm con nuôi, Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét, giải quyết hoặc hướng dẫn giải quyết việc nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật. Nếu không có công dân Việt Nam thường trú ở trong nước nhận trẻ em làm con nuôi, Ủy ban nhân dân cấp xã có văn bản kèm theo hồ sơ trẻ em gửi Sở Tư pháp để tìm người nhận trẻ em làm con nuôi theo quy định tại khoản 3 của Điều này, đồng thời báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện để biết.
2. Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em mồ côi cả cha và mẹ, trẻ em không nơi nương tựa sống ở cơ sở nuôi dưỡng thì cơ sở nuôi dưỡng đánh giá việc trẻ em cần được nhận làm con nuôi, lập hồ sơ trẻ em bao gồm các giấy tờ, tài liệu theo quy định tại khoản 1 Điều 18 của Luật Nuôi con nuôi, xin ý kiến của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội đối với cơ sở thuộc trách nhiệm quản lý cấp tỉnh hoặc Ủy ban nhân dân cấp huyện đối với cơ sở thuộc trách nhiệm quản lý cấp huyện. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội hoặc Ủy ban nhân dân cấp huyện có ý kiến gửi Sở Tư pháp kèm theo hồ sơ trẻ em để thông báo tìm người nhận con nuôi theo quy định tại khoản 3 Điều này.
3. Việc tìm người nhận trẻ em làm con nuôi được thực hiện như sau:
a) Khi tiếp nhận hồ sơ trẻ em theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, nếu có công dân Việt Nam thường trú ở trong nước đăng ký nhu cầu nhận con nuôi theo quy định tại Điều 16 của Luật Nuôi con nuôi, Sở Tư pháp kiểm tra điều kiện của người nhận con nuôi trước khi giao 01 bộ hồ sơ trẻ em cho người nhận con nuôi và giới thiệu người nhận con nuôi đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có thẩm quyền giải quyết việc nuôi con nuôi để xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp không có công dân Việt Nam thường trú ở trong nước đăng ký nhu cầu nhận con nuôi, Sở Tư pháp thông báo tìm người nhận trẻ em làm con nuôi theo phương thức và thời hạn quy định tại điểm c khoản 2 Điều 15 của Luật Nuôi con nuôi;
b) Trong thời hạn thông báo trên phạm vi cấp tỉnh, nếu có công dân Việt Nam thường trú ở trong nước đăng ký nhu cầu nhận con nuôi theo quy định tại Điều 16 của Luật Nuôi con nuôi, Sở Tư pháp thực hiện theo quy định tại điểm a khoản này. Sau khi hết thời hạn thông báo, nếu không có công dân Việt Nam thường trú ở trong nước nhận trẻ em làm con nuôi, Sở Tư pháp gửi danh sách trẻ em cho Bộ Tư pháp để thông báo tìm người nhận con nuôi theo phương thức và thời hạn quy định tại điểm d khoản 2 Điều 15 của Luật Nuôi con nuôi;
c) Trong thời hạn thông báo trên phạm vi toàn quốc, nếu công dân Việt Nam thường trú ở trong nước có nguyện vọng và đủ điều kiện nhận trẻ em làm con nuôi thì liên hệ với Sở Tư pháp để thực hiện theo quy định tại điểm a khoản này.
Hết thời hạn thông báo trên phạm vi toàn quốc mà không có công dân Việt Nam thường trú trong nước nhận trẻ em làm con nuôi, đối với trẻ em quy định tại khoản 2 Điều này, Bộ Tư pháp thông báo cho Sở Tư pháp để thực hiện xác nhận trẻ em đủ điều kiện làm con nuôi nước ngoài.
Đối với trẻ em thuộc diện quy định tại khoản 1 Điều này, trường hợp không có công dân Việt Nam thường trú trong nước nhận trẻ em làm con nuôi, Bộ Tư pháp thông báo cho Sở Tư pháp đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã lập hồ sơ đưa trẻ em vào cơ sở nuôi dưỡng nếu trẻ em không được chăm sóc thay thế bằng hình thức phù hợp khác theo quy định pháp luật. Trường hợp cơ sở nuôi dưỡng đánh giá việc trẻ em cần được nhận làm con nuôi, lập hồ sơ trẻ em theo quy định tại khoản 2 Điều này thì không phải thực hiện lại việc thông báo tìm người trong nước nhận trẻ em làm con nuôi;
d) Nội dung thông báo tìm người nhận trẻ em làm con nuôi phải bảo đảm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của trẻ em theo quy định pháp luật.”
3.Sửa đổi, bổ sung Điều 7 của Nghị định số
19/2011/NĐ-CP như sau:
“Điều 7. Hồ sơ của người nhận con nuôi
Hồ sơ của người nhận con nuôi trong nước
được lập thành 01 bộ, gồm các giấy tờ quy định
tại Điều 17 của Luật Nuôi con nuôi và được
thực hiện như sau:
1. Người nhận con nuôi nộp hồ sơ cho Ủy ban
nhân dân cấp xã nơi có thẩm quyền giải quyết
việc nuôi con nuôi thông qua hình thức nộp
trực tiếp, gửi hồ sơ qua hệ thống bưu chính
hoặc nộp trực tuyến theo quy định của pháp
luật về thực hiện thủ tục hành chính trên môi
trường điện tử.
Đối với Phiếu lý lịch tư pháp quy định
tại khoản 3 Điều 17 của Luật Nuôi con nuôi,
người nhận con nuôi nộp Phiếu lý lịch tư pháp
số 1.
2. Trường hợp người nhận con nuôi nộp Phiếu
lý lịch tư pháp điện tử, Ủy ban nhân dân cấp xã
nơi có thẩm quyền giải quyết việc nuôi con
nuôi tra cứu được thông tin, dữ liệu về nhân
thân, về tình trạng hôn nhân của người nhận
con nuôi từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư,
cơ sở dữ liệu chuyên ngành thì người nhận con
nuôi không phải nộp bản giấy của giấy tờ quy
định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 17
của Luật Nuôi con nuôi.
Kết quả tra cứu được Ủy ban nhân dân cấp xã
lưu trữ dưới dạng điện tử hoặc bản giấy, phản
ánh đầy đủ, chính xác thông tin tại thời điểm
tra cứu và đính kèm hồ sơ của người nhận con
nuôi.
3. Đối với Văn bản xác nhận hoàn cảnh gia
đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế của
người nhận con nuôi quy định tại khoản 5 Điều
17 của Luật Nuôi con nuôi: Trường hợp người
nhận con nuôi có nơi thường trú và nơi ở hiện
tại khác nhau, trong 02 ngày làm việc kể từ
ngày nhận được đề nghị của người nhận con
nuôi, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người nhận
con nuôi thường trú trực tiếp xác minh trong 05
ngày làm việc hoặc có văn bản đề nghị Ủy ban
nhân dân cấp xã nơi ở hiện tại của người nhận
con nuôi thực hiện xác minh, đánh giá hoàn
cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh
tế của người nhận con nuôi. Trong thời hạn 05
ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản
đề nghị, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi ở hiện tại
của người nhận con nuôi thực hiện xác minh,
đánh giá theo nội dung Văn bản xác nhận hoàn
cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh
tế của người nhận con nuôi và có văn bản thông
báo kết quả đánh giá cho Ủy ban nhân dân cấp
xã nơi người nhận con nuôi thường trú.”
4. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 10 của Nghị
định số 19/2011/NĐ-CP như sau:
“1. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ thời
điểm kết thúc thời hạn thay đổi ý kiến theo quy
định tại khoản 3 Điều 9 của Nghị định này, Ủy
ban nhân dân cấp xã tiến hành đăng ký nuôi
con nuôi và tổ chức giao nhận con nuôi. Việc
giao nhận con nuôi được tổ chức tại trụ sở Ủy
ban nhân dân cấp xã nơi đăng ký việc nuôi con
nuôi với sự có mặt của cha, mẹ nuôi, cha, mẹ
đẻ, người giám hộ hoặc đại diện cơ sở nuôi
dưỡng và người được nhận làm con nuôi.
Trường hợp cha, mẹ nuôi hoặc cha, mẹ đẻ của
trẻ em mà một trong hai người vì lý do khách
quan không thể có mặt tại buổi giao nhận con
nuôi thì phải có ủy quyền cho người kia.
Công chức tư pháp - hộ tịch ghi vào Sổ đăng ký
nuôi con nuôi và trao Giấy chứng nhận nuôi
con nuôi trong nước cho bên giao, bên nhận.
Bản điện tử Giấy chứng nhận nuôi con nuôi
trong nước được gửi qua Kho quản lý dữ liệu
điện tử của cá nhân hoặc qua hộp thư điện tử cá
nhân. Việc giao nhận con nuôi phải được lập
thành biên bản, có chữ ký hoặc điểm chỉ của
các bên và đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi
giải quyết việc nuôi con nuôi.”
6. Bổ sung Điều 10a vào sau Điều 10 của Nghị
định số 19/2011/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ
sung tại khoản 5 Điều 1 của Nghị định số
24/2019/NĐ-CP như sau:
“Điều 10a. Thông báo tình hình phát triển
của con nuôi
1. Trường hợp cha, mẹ nuôi thay đổi nơi
thường trú khi chưa hết thời hạn phải thông báo
tình hình phát triển của con nuôi, cha, mẹ nuôi
có trách nhiệm tiếp tục thông báo tình hình
phát triển của con nuôi cho Ủy ban nhân dân
cấp xã nơi chuyển đến cho đến khi hết thời hạn
thông báo theo quy định tại khoản 1 Điều 23
của Luật Nuôi con nuôi.
2. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cha, mẹ nuôi
chuyển đến có trách nhiệm kiểm tra, theo dõi
tình hình thực hiện việc nuôi con nuôi theo quy
định tại khoản 2 Điều 23 của Luật Nuôi con
nuôi.”
5. Sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 13 của Nghị
định số 19/2011/NĐ-CP như sau:
“5. Giấy xác nhận của Công an cấp xã nơi
người nhận con nuôi cư trú tại Việt Nam và
giấy tờ, tài liệu khác chứng minh người nhận
con nuôi thuộc diện là người nước ngoài đang
làm việc, học tập liên tục tại Việt Nam trong
thời gian ít nhất là 01 năm, tính đến ngày nộp
hồ sơ tại Bộ Tư pháp.”
6. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 27 của Nghị
định số 19/2011/NĐ-CP như sau:
“1. Người nhận con nuôi nộp hồ sơ của mình
và hồ sơ của người được nhận làm con nuôi tại
Cơ quan đại diện theo quy định tại khoản 3
Điều 2 của Nghị định này thông qua hình thức
nộp trực tiếp, gửi hồ sơ qua hệ thống bưu chính
hoặc nộp trực tuyến theo quy định của pháp
luật về thực hiện thủ tục hành chính trên môi
trường điện tử.”
Tải về
ND 06_2025_ND-CP.pdf