Thừa phát lại - Văn bản Quy phạm Pháp luật
 
 
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Nội dung
Phân loại
  
  
  
Công tác thi hành án dân sự theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020TinCông tác thi hành án dân sự theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/22/2020 3:00 PMNoĐã ban hành
Tiến trình cải cách tư pháp ở nước ta trong thời gian qua luôn song hành và gắn liền với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện. Cùng với đó, là yêu cầu về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, lấy thượng tôn pháp luật làm nguyên tắc nền tảng cho các hoạt động tổ chức, quản lý xã hội; bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành.
Như vậy, một trong những yêu cầu cụ thể mà cải cách tư pháp hướng đến chính là khẳng định vị trí, vai trò, ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác thi hành án nói chung và thi hành án dân sự nói riêng - đây là công đoạn cuối cùng, liên tục của quá trình tố tụng nhằm hiện thực hóa bản án, quyết định của Tòa án; thực thi công lý, bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, công dân; góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
1. Lần đầu tiên Đảng ta ban hành văn kiện chuyên đề, ghi nhận một cách toàn diện về công tác cải cách tư pháp, trong đó có lĩnh vực thi hành án dân sự
Từ những đòi hỏi cấp bách của thực tiễn, chính thức khẳng định vị trí, tầm quan trọng của công tác này, ngày 02/01/2002, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”. Trên cơ sở tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, ngày 02/6/2005, Bộ Chính trị tiếp tục ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 49-NQ/TW), với một vị thế và tầm nhìn mới, dài lâu hơn; đặt mục tiêu “xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao”. 
Liên quan trực tiếp đến công tác thi hành án, Nghị quyết yêu cầu: (i) Chuẩn bị điều kiện về cán bộ, cơ sở vật chất để giao cho Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thống nhất quản lý công tác thi hành án; (ii) Từng bước thực hiện việc xã hội hóa và quy định những hình thức, thủ tục để giao cho tổ chức không phải là cơ quan nhà nước thực hiện một số công việc thi hành án; (iii) Nghiên cứu chế định thừa phát lại (thừa hành viên); trước mắt, có thể tổ chức thí điểm tại một số địa phương, sau vài năm, trên cơ sở tổng kết, đánh giá thực tiễn sẽ có bước đi tiếp theo.
Nghị quyết cũng đã đề ra những nhiệm vụ, giải pháp thực hiện gồm: (i) Hoàn thiện chính sách, pháp luật bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức khi tham gia giao dịch, thúc đẩy các quan hệ dân sự phát triển lành mạnh; hoàn thiện chế định hợp đồng, bồi thường, bồi hoàn…; xây dựng cơ chế bảo đảm mọi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật phải được thi hành, các cơ quan hành chính vi phạm bị xử lý theo phán quyết của Tòa án phải nghiêm chỉnh chấp hành; (ii) Chuẩn bị điều kiện về cán bộ, cơ sở vật chất để giao cho Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thống nhất quản lý công tác thi hành án; nghiên cứu mô hình tổ chức để phù hợp với định hướng tổ chức hệ thống Tòa án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính; (iii) Xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp, nhất là cán bộ có chức danh tư pháp, theo hướng đề cao quyền hạn, trách nhiệm pháp lý, nâng cao và cụ thể hóa tiêu chuẩn về chính trị, phẩm chất, đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm, kiến thức xã hội đối với từng loại cán bộ; tiến tới thực hiện chế độ thi tuyển đối với một số chức danh; (iv) Tổ chức các cơ quan tư pháp và các chế định bổ trợ tư pháp hợp lý, khoa học và hiện đại về cơ cấu tổ chức và điều kiện, phương tiện làm việc.
Để phù hợp với tình hình thực tế, ngày 12/3/2014, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 92-KL/TW về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW và điều chỉnh một số nội dung của Nghị quyết, trong đó: “Dừng việc thực hiện chủ trương chuẩn bị điều kiện về cán bộ, cơ sở vật chất để giao Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thống nhất quản lý công tác thi hành án. Tiếp tục thực hiện mô hình tổ chức các cơ quan thi hành án như hiện nay…” và không thực hiện việc “xây dựng Bộ luật Thi hành án điều chỉnh tất cả các lĩnh vực thi hành án…” theo tinh thần Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020.
2. Một số kết quả nổi bật đã đạt được trong việc triển khai thực hiện chủ trương cải cách tư pháp đối với công tác thi hành án dân sự thời gian qua
Thứ nhất, chính sách pháp luật và hành lang pháp lý về thi hành án dân sự ngày càng được hoàn thiện, đồng bộ tạo cơ sở vững chắc, ổn định và điều kiện thuận lợi cho hoạt động thi hành án dân sự.
Đến nay, pháp luật về thi hành án dân sự (THADS) đã tương đối hoàn chỉnh, đồng bộ, gồm: Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), 03 nghị định, 02 chỉ thị, 10 thông tư liên tịch và 17 thông tư hướng dẫn thi hành Luật Thi hành án dân sự. Cùng với đó, các quy định pháp luật có liên quan trực tiếp đến hoạt động THADS cũng từng bước được hoàn thiện, đồng bộ, thống nhất như Luật Giá năm 2012, Luật Phá sản năm 2014, Luật Đấu giá tài sản năm 2016, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2019 và năm 2017, Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng...
Thứ hai, tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức được kiện toàn, chuyên nghiệp hóa, từng bước ngang tầm với nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước giao.
Từ năm 2008 đến nay, cơ quan THADS được tổ chức thành hệ thống dọc từ trung ương đến địa phương, bảo đảm nguyên tắc tập trung thống nhất. Cơ cấu ngạch công chức đã được quan tâm, bổ sung tăng tỷ lệ công chức giữ chức danh tư pháp để đảm bảo nguồn lực tổ chức thi hành án. Đến nay, số lượng công chức giữ chức danh tư pháp, trực tiếp làm công tác THADS trong toàn hệ thống là 9.088 biên chế, trong đó có 4.214 chấp hành viên; 788 thẩm tra viên; 1.702 thư ký, còn lại chuyên viên và các ngạch công chức khác. Công tác thi tuyển, thi nâng ngạch, chuyển ngạch được thực hiện theo hình thức tập trung, đảm bảo tính chất cạnh tranh, chuẩn hóa cán bộ, chú trọng tuyển dụng nguồn nhân lực có chất lượng cao. Công tác đào tạo, bồi dưỡng tiếp tục được quan tâm với nội dung, chương trình phù hợp hơn với từng đối tượng và thực tiễn công tác thi hành án, theo đúng yêu cầu về điều kiện, tiêu chuẩn từng vị trí việc làm. Chế độ chính sách, đãi ngộ đối công chức, người lao động từng bước được quan tâm thực hiện, góp phần khuyến khích, động viên công chức yên tâm công tác, gắn bó với nghề. Kỷ luật, kỷ cương hành chính được tăng cường, bảo đảm nguyên tắc tập trung thống nhất trong quản lý ngành dọc, đề cao trách nhiệm người đứng đầu.
Thứ ba, các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc, công cụ hỗ trợ và công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý, chỉ đạo điều hành cơ bản được quan tâm đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự.
Đến hết năm 2019, Bộ Tư pháp đã đầu tư xây dựng được 770/773 trụ sở làm việc cơ quan THADS gồm: 63/63 trụ sở cơ quan cấp tỉnh; 707/710 trụ sở cơ quan cấp huyện. Đối với trụ sở kho vật chứng, đã đầu tư 318/773 trụ sở kho vật chứng, trong đó có 61/63 trụ sở kho vật chứng cấp tỉnh và 257/710 trụ sở kho vật chứng cấp huyện, bước đầu bảo đảm cơ sở vật chất cho hoạt động của cơ quan THADS theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW. Ðể hiện đại hóa hoạt động quản lý, từ năm 2018, Tổng cục Thi hành án dân sự đã tích cực triển khai trên toàn quốc phần mềm về quản lý nghiệp vụ THADS. Bộ Tư pháp đã xây dựng và đang tiếp tục phát triển hệ thống truyền hình trực tuyến đa phương tiện đến 63 địa phương, tiến tới đang nghiên cứu phương án chuẩn bị điều kiện để tổ chức giao ban, hội nghị trực tuyến đến cấp Chi cục trên toàn quốc.
Thứ tư, cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác chuyên môn nghiệp vụ được đẩy mạnh, góp phần tạo sự minh bạch, công khai trong hoạt động thi hành án.
Thực hiện chủ trương về hiện đại hóa điều kiện, phương tiện làm việc đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, Bộ Tư pháp, hệ thống THADS đã tập trung triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức thi hành án, coi đây là giải pháp đột phá trong công tác THADS; vận hành hiệu quả cổng, trang thông tin điện tử, đăng tải công khai danh sách người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án, rà soát, công bố các thủ tục hành chính, phần mềm quản lý quá trình thụ lý, tổ chức thi hành án và báo cáo thống kê THADS. Từ ngày 01/6/2017, đã thống nhất trên toàn quốc thực hiện cơ chế một cửa, hỗ trợ trực tuyến và tiếp nhận hồ sơ, trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính qua dịch vụ bưu chính công ích; qua đó góp phần rút ngắn thời gian thi hành án, nêu cao tinh thần phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Thứ năm, kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị thi hành án về việc, về tiền ngày càng cao, có xu hướng bền vững và cơ bản đạt, vượt các chỉ tiêu Quốc hội giao.
Có thể khẳng định rằng, phản ánh trực tiếp và rõ nét nhất về thực hiện các chủ trương về cải cách tư pháp trong lĩnh vực THADS phải kể đến đó chính là kết quả thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao; thu về cho cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân hàng ngàn tỷ đồng mỗi năm. Cụ thể, theo báo cáo thống kê trong những năm gần đây cho thấy: Năm 2011, thi hành xong 379.990 việc và trên 10.167 tỷ đồng; năm 2012, thi hành xong 395.284 việc và trên 10.344 tỷ đồng; năm 2013, thi hành xong 492.975 việc và trên 28.965 tỷ đồng; năm 2014, thi hành xong 531.095 việc và trên 38.981 tỷ đồng; năm 2015, thi hành xong 533.985 việc và trên 42.819 tỷ đồng; năm 2016, thi hành xong 530.428 việc và trên 29.097 tỷ đồng; năm 2017, thi hành xong 549.415 việc và trên 35.242 tỷ đồng; năm 2018, thi hành xong 571.708 việc và trên 34.520 tỷ đồng; năm 2019, thi hành xong  579.256 việc và trên 52.715 tỷ đồng.
Việc kiên quyết thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát trong các vụ án tham nhũng, kinh tế trong thời gian qua đã và đang nhận được nhiều sự đồng tình, ủng hộ của dư luận xã hội (năm 2017 thu hồi trên 07 nghìn tỷ đồng, năm 2018 là gần 03 nghìn tỷ đồng, năm 2019 là trên 16.504 tỷ đồng). Công tác THADS cũng trực tiếp góp phần tích cực xử lý nợ xấu, giải phóng các nguồn lực “đóng băng” trong tranh chấp (năm 2017 đã giải phóng trên 27 nghìn tỷ đồng, năm 2018 là trên 24 nghìn tỷ đồng, năm 2019 và sáu tháng đầu năm 2020 là trên 24.250).
3. Những vấn đề đang đặt ra - thách thức đối với công tác thi hành án dân sự
Mặc dù đã được hoàn thiện một bước, song thể chế, pháp luật về THADS và một số lĩnh vực có liên quan (đất đai, tín dụng, đấu giá tài sản...) còn thiếu đồng bộ, khả thi. Chính sách pháp luật về công khai, minh bạch, đăng ký và quản lý tài sản, quản lý dòng tiền đang trong quá trình hoàn thiện; công tác quản lý, sử dụng vốn nhà nước còn một số kẽ hở; hoạt động tín dụng phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh của một số tổ chức tín dụng còn thiếu chặt chẽ; còn thiếu quy định về chính sách đãi ngộ, cơ chế bảo vệ cho chấp hành viên, công chức thi hành án khi thi hành công vụ; chế tài xử lý đối với việc trốn tránh, chống đối việc thi hành án chưa đủ mạnh, nhất là trong lĩnh vực thi hành án hành chính… Một số chủ trương lớn về cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW chưa được hiện thực hóa đồng bộ.
Thực tế cho thấy, số việc và tiền thụ lý tại các cơ quan THADS ngày càng nhiều và tiếp tục tăng cao qua các năm; tính chất, quy mô các vụ việc đa dạng và phức tạp, đặc biệt là các tranh chấp có yếu tố nước ngoài có xu hướng gia tăng, các loại tội phạm tham nhũng, kinh tế ngày càng tinh vi, quy mô lớn, ở diện rộng. Tổng số việc còn phải thi hành chuyển sang kỳ sau qua các năm tuy có giảm nhưng vẫn cao. Một số lượng án có điều kiện nhưng chưa tổ chức thi hành xong; số không có điều kiện thi hành án, nhất là về tiền vẫn chiếm tỷ lệ cao so với tổng số tiền phải thi hành. Nhiều vụ án tham nhũng, thu hồi tài sản cho Nhà nước, giá trị phải thi hành lớn nhưng khả năng thi hành thấp. Công tác phối hợp giữa các cơ quan, ban ngành chưa thật sự nhịp nhàng, hiệu quả. Nhiều vụ việc đương sự lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo, khiếu nại nhiều lần, vượt cấp, gửi đơn đến nhiều cơ quan, ban ngành với nội dung không chính xác để kéo dài tiến độ giải quyết án, nhưng chưa có biện pháp xử lý dứt điểm. Hoạt động thừa phát lại còn nhiều lúng túng, hiệu quả  công tác THADS chưa cao. Vẫn còn có tình trạng chấp hành viên, lãnh đạo quản lý chưa sát sao công việc, còn để xảy ra sai sót, vi phạm trong thực hiện trình tự, thủ tục thi hành án. Ý thức chấp hành pháp luật của người phải thi hành án còn chưa cao. Cơ sở vật chất của các cơ quan THADS còn khó khăn, nhất là tình trạng thiếu kho vật chứng, trụ sở làm việc…
4. Hướng tới sự phát triển ổn định, bền vững hơn, trong thời gian tới, công tác thi hành án dân sự cần tiếp tục thực hiện đồng bộ, hiệu quả một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu như sau:
Một là, triển khai nhất quán việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng trong công tác thi hành án dân sự.
Tiếp tục quán triệt, tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả những chủ trương, chính sách lớn trong hoạt động THADS, đặc biệt là các nghị quyết về tăng cường, xây dựng chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; Nghị quyết về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Nghị quyết về việc tiếp tục cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, gắn với chỉ thị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, qua đó tiếp tục xây dựng các cơ quan THADS trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, góp phần cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và nâng cao mức độ tín nhiệm của nền kinh tế.
Tập trung nghiên cứu sâu sắc, tham mưu hiệu quả, chất lượng về công tác cải cách tư pháp gắn với việc tổng kết 15 năm (2005 - 2020) thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW, qua đó tiếp tục khẳng định vai trò của công tác THADS trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội, quyền con người, quyền công dân; đề xuất hoàn thiện đường lối lãnh đạo của Đảng đối với công tác THADS nói chung và cơ chế thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát trong các vụ án hình sự, các vụ án tham nhũng, kinh tế.
Hai là, hoàn thiện thể chế và tổ chức thi hành hiệu quả các văn bản pháp luật về thi hành án dân sự.
Tập trung nghiên cứu, tổng hợp những khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thi hành pháp luật về THADS để kịp thời hướng dẫn, tháo gỡ  những vướng mắc từ thực tiễn; đồng thời tham mưu kịp thời sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự, bảo đảm hiệu quả, rút ngắn thời gian, quy trình thủ tục thực hiện. Tiếp tục nghiên cứu, đề xuất hoàn thiện thể chế nhằm bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất, nâng cao hiệu quả công tác THADS như các quy định về xử lý nợ xấu; sử dụng tiền mặt; kiểm soát tài sản, thu nhập cá nhân; thẩm định giá tài sản, bán đấu giá tài sản; áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong quá trình tố tụng; xử lý nợ xấu; phòng, chống tham nhũng; đăng ký tài sản; quản lý dòng tiền; giá; giám định tư pháp; phá sản; tương trợ tư pháp...
Ba là, đẩy mạnh việc hoàn thành chỉ tiêu, nhiệm vụ thi hành án dân sự.
Tập trung chỉ đạo quyết liệt việc tổ chức thi hành án, nhất là đối với những vụ việc trọng điểm, phức tạp, những vụ án liên quan đến tham nhũng, tín dụng, ngân hàng, những địa bàn, địa phương có lượng án lớn. Có giải pháp cụ thể, hữu hiệu thu hẹp dần lượng án tồn đọng hằng năm, chú trọng nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng, bảo đảm hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ THADS được Quốc hội giao tại Nghị quyết số 96/2019/QH14 ngày 27/11/2019 về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án.
Bốn là, công tác tổ chức cán bộ.
Tiếp tục quán triệt triển khai và tổ chức thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ban cán sự Đảng Bộ Tư pháp... về kỷ luật, kỷ cương hành chính, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; Quy định số 101-QĐ/TW ngày 07/6/2012 của Ban Bí thư về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp; Quy định số 55-QĐ/TW ngày 19/12/2016 của Bộ Chính trị về một số vấn đề cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên; Chỉ thị số 26/CT-TTg ngày 05/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong các cơ quan hành chính nhà nước các cấp; Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 22/4/2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường xử lý, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp trong giải quyết công việc và Chỉ thị số 02/CT-BTP ngày 25/3/2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc cán bộ, công chức, viên chức Ngành Tư pháp không uống rượu, bia trong ngày làm việc.
Bám sát các nhiệm vụ, giải pháp theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW liên quan đến cải cách hành chính; sắp xếp, thu gọn đầu mối bên trong các tổ chức của hệ thống THADS; tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống THADS, bảo đảm thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được giao. Chú trọng công tác bố trí, sử dụng cán bộ ở các khâu, các bước: Giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống; tuyển dụng, sắp xếp vị trí việc làm, bổ nhiệm, quy hoạch, đào tạo, điều động, luân chuyển, biệt phái; chính sách thu hút nhân tài… Nghiên cứu mô hình tổ chức cơ quan THADS khu vực sau khi có chủ trương thành lập các Tòa án khu vực. Tiếp tục nghiên cứu, đề xuất mô hình thống nhất đầu mối cơ quan quản lý nhà nước về công tác vào thời điểm thích hợp.
Năm là, tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương và công tác phối hợp liên ngành.
 Kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn công tác phối hợp THADS ở cấp trung ương và cấp địa phương, đặc biệt là phối hợp trong hướng dẫn nghiệp vụ, cưỡng chế thi hành án và thống kê liên ngành. Phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương trong quán triệt, tổ chức thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng trong hoạt động THADS; kịp thời uốn nắn các tổ chức cơ sở Đảng tại các Cục, Chi cục có biểu hiện vi phạm Điều lệ Đảng, thiếu ổn định, đoàn kết. Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, kiểm tra, giám sát việc tu dưỡng rèn luyện của công chức đảng viên trên địa bàn. Chỉ đạo công tác phối hợp với các cơ quan liên quan trên địa bàn và tổ chức cưỡng chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.
Sáu là, nâng cao hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành.
Tiếp tục đổi mới công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Bộ Tư pháp, Tổng cục Thi hành án dân sự theo phương châm “hướng về cơ sở”. Củng cố và tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính và lề lối làm việc đáp ứng yêu cầu của mô hình quản lý tập trung thống nhất theo hệ thống ngành dọc. Tăng cường trách nhiệm người đứng đầu trong thực hiện kỷ luật, kỷ cương hành chính và hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ tại đơn vị. Chú trọng công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát. Bố trí dự toán ngân sách hợp lý cho hoạt động THADS; đảm bảo điều kiện cần thiết, tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện làm việc, trụ sở và kho vật chứng; hướng dẫn, điều hành dự toán thu chi ngân sách hàng năm bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả. Tiếp tục tăng cường hợp tác quốc tế, chủ động, tích cực, tranh thủ hiệu quả kinh nghiệm của một số quốc gia có hệ thống pháp luật phát triển và các chuẩn mực quốc tế góp phần hoàn thiện chính sách pháp luật về THADS trong thời gian tới. Đẩy mạnh cải cách hành chính gắn với ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động chuyên môn nghiệp vụ và quản lý, chỉ đạo, điều hành, góp phần rút ngắn thời gian thi hành án; xây dựng, đưa vào ứng dụng nền hành chính điện tử thông suốt, hiệu quả./.
Mai Lương Khôi
Ủy viên Ban cán sự, Thứ trưởng Bộ Tư pháp
(Nguồn từ Tạp chí Dân chủ và Pháp luật: https://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/thi-hanh-phap-luat.aspx)
Thông tinFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Thông báo về việc thay đổi nội dung đăng ký hoạt động của Văn phòng Thừa phát lại Tân UyênTinThông báo về việc thay đổi nội dung đăng ký hoạt động của Văn phòng Thừa phát lại Tân Uyên/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/3/2020 11:00 AMNoĐã ban hành

  Ngày 02/6/2020, Sở Tư pháp đã cấp lại Giấy đăng ký hoạt động số 04/TP-ĐKHĐ-TPL cho Văn phòng Thừa phát lại Tân Uyên. Sở Tư pháp thông báo nội dung đăng ký hoạt động của Văn phòng Thừa phát lại Tân Uyên, cụ thể như sau:

TB TPLTU HINH 1.jpgTB TPLTU HINH 2.jpg

1. Tên gọi Văn phòng Thừa phát lại:

VĂN PHÒNG THỪA PHÁT LẠI TÂN UYÊN

2. Địa chỉ trụ sở: Số 280, Khu phố 4, phường Uyên Hưng, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Điện thoại: 02743.639.393               Fax:

Email: thuaphatlaitanuyen@gmail.com

Website: thuaphatlaitanuyen.com

3. Quyết định cho phép thành lập số: 2545/QĐ-UBND ngày 05/10/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương

4. Trưởng Văn phòng Thừa phát lại:

Họ và tên: Đoàn Sinh Viên     Nam/Nữ: Nam            Sinh ngày: 19/9/1986

Chứng minh nhân dân số: 025438791

Ngày cấp: 29/9/2014                  Nơi cấp: Công an Thành phố Hồ Chí Minh

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 27/3, Khu phố 2, phường Trung Mỹ Tây, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

Chỗ ở hiện nay: Tổ 8, Khu phố 4, phường Tân Định, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

5. Danh sách Thừa phát lại (trừ Trưởng Văn phòng):

STT

Họ và tên 

Chỗ ở hiện nay

Thừa phát lại hợp danh/Thừa phát lại làm việc theo chế độ hợp đồng

01

Nguyễn Hà

Căn hộ chung cư số 7.1, Lầu 7, Khối D1, Chung cư Tam Phú, đường Cây Keo, Tổ 6, Khu phố 1, phường Tam Phú, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh

Thừa phát lại hợp danh

02

Nguyễn Thị Phương Hà

Số 15/87/1 Phạm Ngọc Thạch, phường Hiệp Thành, thành phố Thủ Dầu Một, tình Bình Dương

Thừa phát lại làm việc theo chế độ hợp đồng

03

Hoàng Thị Nguyệt Nga

Tổ 8, khu phố 4, phường Tân Định, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương

Thừa phát lại làm việc theo chế độ hợp đồng

04

Ngô Văn Thuần

Tổ 10, ấp 2, xã Thạnh Phú, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai

Thừa phát lại làm việc theo chế độ hợp đồng


Nội dung thay đổi là việc bổ sung thêm 01 Thừa phát lại theo chế độ hợp đồng là ông Ngô Văn Thuần vào danh sách Thừa phát lại của Văn phòng.

Nội dung thông báo đã được gửi đến các cơ quan chức năng có liên quan để phối hợp quản lý.

TB TPLTU HINH 3.jpgTB TPLTU HINH 4.jpg



Thông tinFalseNguyễn Thị Vân Anh
Quyết định về việc cấp Thẻ Thừa phát lại cho ông Ngô Văn Thuần hành nghề Thừa phát lại tại Văn phòng Thừa phát lại Tân UyênTinQuyết định về việc cấp Thẻ Thừa phát lại cho ông Ngô Văn Thuần hành nghề Thừa phát lại tại Văn phòng Thừa phát lại Tân Uyên/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/3/2020 11:00 AMNoĐã ban hành

Căn cứ vào Điều 15 Nghị định số 08/2020/NĐ- CP ngày 08/01/2020 của Chính phủ về Tổ chức và hoạt động Thừa Phát lại, ngày 04/6/2020, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương đã ban hành Quyết định số 61/QĐ-STP về việc Cấp thẻ Thừa phát lại số 01/TPL cho ông Ngô Văn Thuần.

Nội dung quyết định cấp Thẻ Thừa phát lại cho ông Ngô Văn Thuần với nội dung như sau:

- Họ và tên: Ngô Văn Thuần

- Sinh ngày: 06 tháng 4 năm 1991

- Nơi hành nghề: Văn phòng Thừa phát lại Tân Uyên

- QĐ bổ nhiệm số: 73/QĐ-BTP ngày 14/01/2020

- Số thẻ Thừa phát lại: 01/TPL ngày 03/6/2020

Thong Tin cap the TPL hinh 1.jpg

Sở Tư pháp đã đăng tải danh sách người hành nghề Thừa phát lại lên trang thông tin điện tử của Sở và thông báo đến các cơ quan chức năng có liên quan để phối hợp quản lý theo quy định của pháp luật./.

Thông tinFalseNguyễn Thị Vân Anh
Thông báo về việc thay đổi nội dung đăng ký hoạt động của Văn phòng Thừa phát lại Thuận AnTinThông báo về việc thay đổi nội dung đăng ký hoạt động của Văn phòng Thừa phát lại Thuận An/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
5/13/2020 2:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 13/05/2020, Sở Tư pháp đã cấp lại Giấy đăng ký hoạt động số 03/TP-ĐKHĐ cho Văn phòng Thừa phát lại Thuận An. Sở Tư pháp thông báo nội dung đăng ký hoạt động của Văn phòng Thừa phát lại Thuận An, cụ thể như sau:

TB TPL THUAN AN  HINH1.jpg

1. Tên đầy đủ của Văn phòng Thừa phát lại: VĂN PHÒNG THỪA PHÁT LẠI THUẬN AN

Tên giao dịch tiếng Anh:

Tên viết tắt:

2. Địa chỉ trụ sở:

- Trước khi thay đổi: Số 96, đường Ngô Quyền, khu phố Long Thới, phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Sau khi thay đổi: Số 96, đường Ngô Quyền, khu phố Long Thới, phường Lái Thiêu, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Điện thoại: 02743.754.155              Fax:

Email: NgocQuang302@yahoo.com.vn Website:

3. Trưởng Văn phòng Thừa phát lại:

Họ và tên: Trần Thị Ngọc Quang     Nam, nữ: Nữ

Sinh ngày: 20/11/1956

Chứng minh nhân dân số: 280325123 Ngày cấp: 05/8/2016

Nơi cấp: Công an tỉnh Bình Dương.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 96, đường Ngô Quyền, khu phố Long Thới, phường Lái Thiêu, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Quyết định bổ nhiệm Thừa phát lại số: 2885/QĐ-BTP ngày 21/11/2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

4. Quyết định cho phép thành lập Văn phòng Thừa phát lại số: 347/QĐ-UBND ngày 13/02/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương.

Nội dung thay đổi: Thay đổi địa chỉ trụ sở Văn phòng Thừa phát lại Dĩ An từ thị xã Dĩ An sang thành phố Dĩ An do thay đổi địa giới hành chính. Thông báo thay đổi đã được gửi đến các cơ quan chức năng có liên quan để phối hợp quản lý theo quy định của pháp luật.

TB TPL THUAN AN  HINH 2.jpgTB TPL THUAN AN  HINH 3.jpg

Thông tinFalseNguyễn Thị Vân Anh
Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch Triển khai thực hiện Nghị định số 08/2020/NĐ-CP ngày 08/01/2020 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình DươngTinUỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch Triển khai thực hiện Nghị định số 08/2020/NĐ-CP ngày 08/01/2020 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Ngày 20/4/2020, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 1901/KH-UBND Triển khai thực hiện Nghị định số 08/2020/NĐ-CP ngày 08/01/2020 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương
4/21/2020 6:00 PMNoĐã ban hành

​Nhằm bảo đảm triển khai thực hiện thống nhất, hiệu quả và nâng cao nhận thức của các tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc tổ chức triển khai và thực hiện Nghị định số 08/2020/NĐ-CP ngày 08/01/2020 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động Thừa phát lại, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương đã ban hành Kế hoạch số 1901/KH-UBND Triển khai thực hiện Nghị định số 08/2020/NĐ-CP ngày 08/01/2020 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương với các nội dung cụ thể sau: 

KH TRIEN KHAI THUA PHAT LAI TINH BD Hinh 1.jpgKH TRIEN KHAI THUA PHAT LAI TINH BD Hinh 2.jpg

II. NỘI DUNG THỰC HIỆN

1. Tuyên truyền, phổ biến, quán triệt nội dung của Nghị định số 08/2020/NĐ-CP

1.1. Phổ biến, quán triệt nội dung Nghị định số 08/2020/NĐ-CP bằng nhiều hình thức: xây dựng tờ gấp pháp luật, cập nhật thông tin về Thừa phát lại lên trang thông tin điện tử, thực hiện các chương trình pháp luật trên báo, đài, thực hiện chương trình ngày pháp luật, văn bản thông tin, phối hợp triển khai… đến các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân có liên quan.

1.1.1 Ở cấp tỉnh

- Cơ quan chủ trì: Sở Tư pháp.

- Cơ quan phối hợp: Sở Thông tin và Truyền thông (Cổng thông tin điện tử của tỉnh), Báo Bình Dương, Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Dương và các sở, ngành có liên quan.

- Thời gian thực hiện: hàng năm.

1.1.2. Ở cấp huyện

- Cơ quan chủ trì tham mưu Ủy ban nhân dân cấp huyện: Phòng Tư pháp.

- Thời gian thực hiện: hàng năm.

1.2. Hướng dẫn, quán triệt các Thừa phát lại, Văn phòng Thừa phát lại trong việc thực hiện các quy định của Nghị định số 08/2020/NĐ-CP và các quy định pháp luật khác có liên quan

- Cơ quan chủ trì: Sở Tư pháp.

- Cơ quan phối hợp: Cục Thi hành án dân sự, Tòa án nhân dân tỉnh, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh, và các sở, ngành có liên quan.

- Thời gian thực hiện: Hàng năm.

1.3. Rà soát các văn bản pháp luật của địa phương đã ban hành liên quan đến lĩnh vực Thừa phát lại để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với quy định của Nghị định số 08/2020/NĐ-CP

- Cơ quan chủ trì: Sở Tư pháp.

- Cơ quan phối hợp: Cục Thi hành án dân sự, Tòa án nhân dân tỉnh, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh, và các sở, ngành có liên quan.

- Thời gian thực hiện: Quý II năm 2020.

2. Rà soát, cập nhật và công bố danh sách Thừa phát lại, Văn phòng Thừa phát lại trên Trang Thông tin điện tử

- Cơ quan chủ trì tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh: Sở Tư pháp.

- Cơ quan phối hợp: Các sở, ngành, đơn vị có liên quan.

- Thời gian thực hiện: Hàng năm.

3. Xây dựng, Phê duyệt Đề án phát triển Văn phòng Thừa phát lại ở địa phương phù hợp với tiêu chí được quy định trong Nghị định và tình hình thực tiễn tại địa phương trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt theo quy định pháp luật

- Cơ quan tham mưu xây dựng: Sở Tư pháp.

- Cơ quan phê duyệt Đề án: Ủy ban nhân dân tỉnh.

- Cơ quan phối hợp: Các sở, ngành, địa phương, đơn vị có liên quan.

- Thời gian thực hiện: Năm 2020 và các năm tiếp theo.

4. Xây dựng cơ sở dữ liệu về vi bằng và quy chế khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu về vi bằng

- Cơ quan chủ trì: Sở Tư pháp.

- Cơ quan phối hợp: Các sở, ngành, đơn vị có liên quan.

- Thời gian thực hiện: Năm 2020 -2021.

5. Rà soát, công bố thủ tục hành chính

- Cơ quan chủ trì: Sở Tư pháp.

- Cơ quan phối hợp: Các sở, ngành, đơn vị có liên quan.

- Thời gian thực hiện: Sau khi Bộ Tư pháp công bố thủ tục hành chính về lĩnh vực Thừa phát lại.

6. Theo dõi, hướng dẫn, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức và thực hiện Nghị định số 08/2020/NĐ-CP

- Cơ quan chủ trì tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh: Sở Tư pháp.

- Cơ quan phối hợp: Cục Thi hành án dân sự, Tòa án nhân dân tỉnh, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh, và các sở, ngành có liên quan.

- Thời gian thực hiện: Hàng năm.

7. Kiểm tra, thanh tra tình hình tổ chức và hoạt động Thừa phát lại

- Nội dung thực hiện: Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra tình hình tổ chức, hoạt động Thừa phát lại tại các Văn phòng Thừa phát lại tại địa phương.

- Cơ quan chủ trì: Sở Tư pháp.

- Cơ quan phối hợp: Cục Thi hành án dân sự, Tòa án nhân dân tỉnh, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh, và các sở, ngành có liên quan.

- Thời gian thực hiện: Hàng năm.

8. Sơ kết, tổng kết việc thực hiện Nghị định

- Nội dung thực hiện: Sơ kết, tổng kết việc thực hiện theo yêu cầu của Bộ Tư pháp, Ủy ban nhân dân tỉnh.

- Cơ quan chủ trì: Sở Tư pháp.

- Cơ quan phối hợp: Các cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan.

- Thời gian thực hiện: Dự kiến Sơ kết vào năm 2023, tổng kết vào năm 2025 theo Kế hoạch của Bộ Tư pháp.

KH TRIEN KHAI THUA PHAT LAI TINH BD Hinh 3.jpg



Thông tinFalseNguyễn Thị Vân Anh
Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương triển khai Nghị định số 08/2020/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động Thừa phát lạiTinSở Tư pháp tỉnh Bình Dương triển khai Nghị định số 08/2020/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động Thừa phát lại/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Sau khi Nghị định số 08/2020/NĐ-CP ngày 08/01/2020 về tổ chức và hoạt động Thừa phát lại được Chính phủ ban hành, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 24/02/2020 (Thay thế nghị định số 61/2009/NĐ-CP và Nghị định số 135/2013/NĐ-CP); để việc triển khai các quy định của Nghị định đạt hiệu quả, đồng thời đảm bảo việc áp dụng các quy định pháp luật về Thừa phát lại được đồng bộ, thống nhất, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương đã ban hành Công văn số 245/BTTP-STP ngày 21/4/2020 về việc triển khai Nghị định số 08/2020/NĐ-CP ngày 08/01/2020 về tổ chức và hoạt động Thừa phát lại.
4/21/2020 2:00 PMNoĐã ban hành

Sở Tư pháp yêu cầu các Văn phòng Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh triển khai thực hiện nghiêm túc các nội dung của Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, trong đó chú ý các nội dung sau:

1. Về đăng ký hành nghề, trang phục và Thẻ Thừa phát lại

Theo quy định tại Điều 15 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP:"Văn phòng Thừa phát lại nộp trực tiếp hoặc gửi qua hệ thống bưu chính 01 bộ hồ sơ đăng ký hành nghề và cấp Thẻ cho Thừa phát lại của Văn phòng mình đến Sở Tư pháp nơi đặt trụ sở.""Thẻ Thừa phát lại là căn cứ chứng minh tư cách hành nghề của Thừa phát lại. Thừa phát lại chỉ được hành nghề sau khi được đăng ký hành nghề và cấp Thẻ."

Để thực hiện nghiêm túc quy định trên, đề nghị các Văn phòng Thừa phát lại tiến hành rà soát Thẻ Thừa phát lại của các Thừa phát lại đang hành nghề tại Văn phòng. Trong trường hợp các Thừa phát lại đang hành nghề chưa làm hồ sơ cấp Thẻ hoặc Thẻ Thừa phát lại bị mất, bị hỏng thì kịp thời báo cáo bằng văn bản đến Sở Tư pháp để được hướng dẫn.

Các Thừa phát lại lưu ý khi hành nghề phải mặc trang phục Thừa phát lại theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định, đeo Thẻ Thừa phát lại khi hành nghề.

2. Về việc mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho Thừa phát lại

Các Văn phòng Thừa phát lại tiến hành rà soát và thực hiện việc mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho Thừa phát lại theo quy định tại Điều 18 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP. Đây là quy định bắt buộc, đề nghị các Văn phòng Thừa phát lại nghiêm túc thực hiện.

3. Về tống đạt​

Tại Khoản 1 Điều 33 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP quy định:

"Thừa phát lại tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân trong việc giải quyết các vụ việc dân sự, vụ án hành chính, việc dân sự trong vụ án hình sự và khiếu nại, tố cáo; tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn cấp tỉnh nơi Văn phòng Thừa phát lại đặt trụ sở theo hợp đồng dịch vụ tống đạt được ký kết giữa Văn phòng Thừa phát lại với Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự.

Trường hợp tống đạt ngoài địa bàn cấp tỉnh hoặc ở vùng đảo, quần đảo ngoài địa bàn cấp huyện nơi Văn phòng Thừa phát lại đặt trụ sở thì Văn phòng Thừa phát lại có thể thỏa thuận với Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự bằng hợp đồng riêng cho từng việc cụ thể.".

Các Văn phòng Thừa phát lại căn cứ vào quy định nêu trên chủ động liên hệ thực hiện việc ký hợp động với các cơ quan tòa án, viện kiểm sát, thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh nếu có nhu cầu; đồng thời gửi thông báo về Sở Tư pháp để biết và quản lý theo quy định.

4. Về việc lập vi bằng

- Thừa phát lại được lập vi bằng ghi nhận các sự kiện, hành vi có thật theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi toàn quốc theo quy định tại Khoản 1 Điều 36 Nghị định 08/2020/NĐ-CP.

- Trong quá trình lập vi bằng, đề nghị các Văn phòng Thừa phát lại thực hiện nghiêm túc việc lập vi bằng theo đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền, phạm vi lập vi bằng, không được lập vi bằng trong các trường hợp theo quy định tại Điều 37 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, trong đó lưu ý các trường hợp không được lập vi bằng.

- Hình thức và nội dung của vi bằng: Các Văn phòng Thừa phát lại nghiên cứu, điều chỉnh cách thức trình bày nội dung vi bằng, phải đảm bảo theo Điều 40 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP.

- Trong quá trình lập vi bằng, tiếp tục giải thích cho người yêu cầu về giá trị pháp lý của vi bằng quy định tại Điều 36 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP. Trong đó lưu ý nội dung giải thích "Vi bằng không thay thế văn bản công chứng, văn bản chứng thực, văn bản hành chính khác."

- Các Văn phòng Thừa phát lại thực hiện việc đăng ký vi bằng tại Sở Tư pháp theo quy định tại Khoản 4 Điều 39 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP: "Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc việc lập vi bằng, Văn phòng Thừa phát lại phải gửi vi bằng, tài liệu chứng minh (nếu có) đến Sở Tư pháp nơi Văn phòng Thừa phát lại đặt trụ sở để vào sổ đăng ký. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được vi bằng, Sở Tư pháp phải vào s đăng ký vi bng."

- Về xây dựng xây dựng cơ sở dữ liệu về vi bằng; thực hiện đăng ký và quản lý cơ sở dữ liệu về vi bằng: Trước mắt, các Văn phòng vẫn tiếp tục "Nhập dữ liệu tóm tắt nội dung vi bằng qua ứng dụng Excel trực tuyến của Google" theo Công văn 1875/STP-BTTP ngày 10/10/2019, Sở Tư pháp sẽ thông tin và triển khai thực hiện đến các Văn phòng Thừa phát lại ngay sau khi có hướng dẫn của Bộ Tư pháp.

5. Về chi phí thực hiện công việc của Thừa phát lại

- Chi phí thực hiện công việc của Thừa phát lại bao gồm chi phí tống đạt, lập vi bằng, xác minh điều kiện thi hành án, tổ chức thi hành án dân sự phải được ghi nhận trong hợp đồng giữa Văn phòng Thừa phát lại và người yêu cầu.

- Chi phí thực hiện các công việc của Thừa phát lại phải đảm bảo theo đúng quy định tại Điều 62, Điều 63, Điều 64 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP. Trong đó lưu ý phải thực hiện việc niêm yết công khai đúng quy định của pháp luật, nội dung niêm yết phải xác định rõ mức tối đa, mức tối thiểu  và nguyên tắc tính.

6. Về chế độ thông tin, báo cáo

Các Văn phòng Thừa phát lại thực hiện chế độ thông tin, báo cáo bao gồm: báo cáo định kỳ (06 tháng và hàng năm), báo cáo đột xuất và các báo cáo khác theo quy định tại Điều 20 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP.

7. Về các quy định khác

Đối với các nội dung còn lại của Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, đề nghị các Văn phòng Thừa phát lại thực hiện theo đúng quy định.

STP BD TRIEN KHAI NGHI DINH 08 HINH 1.jpgSTP BD TRIEN KHAI NGHI DINH 08 HINH 2.jpg

STP BD TRIEN KHAI NGHI DINH 08 HINH 3.jpg

Hướng dẫn nghiệp vụFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Danh sách Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương (Cập nhật đến ngày 20/4/2020)Danh sách Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương (Cập nhật đến ngày 20/4/2020)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
4/20/2020 3:00 PMNoĐã ban hành
Danh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Danh sách các văn phòng thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương năm 2020Danh sách các văn phòng thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương năm 2020/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
4/20/2020 3:00 PMNoĐã ban hành
Danh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
So sánh những điểm giống và khác nhau của 04 công việc của Thừa phát lại quy định tại Nghị định số 08/2020/NĐ-CP và Nghị định số 61/2009/NĐ-CP và Nghị định số 135/2013/NĐ-CP Bài viếtSo sánh những điểm giống và khác nhau của 04 công việc của Thừa phát lại quy định tại Nghị định số 08/2020/NĐ-CP và Nghị định số 61/2009/NĐ-CP và Nghị định số 135/2013/NĐ-CP /Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Ngày 08/01/2020, Chính phủ ban hành Nghị định số 08/2020/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 24/02/2020 (Thay thế nghị định số 61/2009/NĐ-CP và Nghị định số 135/2013/NĐ-CP).
3/15/2020 2:00 PMNoĐã ban hành

Theo Điều 3 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP những công việc Thừa phát lại được làm bao gồm:

1. Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan.

2. Lập vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của Nghị định này.

3. Xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan.

4. Tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự theo quy định của Nghị định 08/2020/NĐ-CP và pháp luật có liên quan.

Sau đây là một số nội dung giống và khác nhau của 04 công việc của Thừa phát lại quy định tại Nghị định số 08/2020/NĐ-CP và Nghị định số 61/2009/NĐ-CP và Nghị định số 135/2013/NĐ-CP:

I. TỐNG ĐẠT VĂN BẢN

Nội dung so sánhNghị định 61/2009/NĐ-CP và Nghị định 135/2013/NĐ-CPNghị định 08/2020/NĐ-CPKết quả so sánh
Thẩm quyền tống đạtTống đạt văn bản của Tòa án, Cơ quan thi hành án dân sự các cấpGiấy tờ, hồ sơ, tài liệu của Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sựMở rộng thẩm quyền tống đạt văn bản của Viện Kiểm sát
Phạm vi tống đạt

Trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi đặt Văn phòng Thừa phát lại

Thừa phát lại có quyền thực hiện việc tống đạt các văn bản của Tòa án và Cơ quan thi hành án dân sự tại Khoản 1 của Điều này ngoài địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi đặt Văn phòng Thừa phát lại

Trên địa bàn cấp tỉnh nơi Văn phòng Thừa phát lại đặt trụ sở theo hợp đồng dịch vụ tống đạt được ký kết giữa Văn phòng Thừa phát lại với Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự.

Trường hợp tống đạt ngoài địa bàn cấp tỉnh hoặc ở vùng đảo, quần đảo ngoài địa bàn cấp huyện nơi Văn phòng Thừa phát lại đặt trụ sở thì Văn phòng Thừa phát lại có thể thỏa thuận với Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự bằng hợp đồng riêng cho từng việc cụ thể

Quy định chi tiết hơn về việc thực hiện tống đạt đối với các văn bản ở ngoài địa bàn cấp tỉnh
Loại văn bản tống đạt

Giấy báo, giấy triệu tập, giấy mời, quyết định đưa vụ án ra xét xử, bản án, quyết định trong trường hợp xét xử vắng mặt đương sự của Tòa án; quyết định về thi hành án, giấy báo, giấy triệu tập của Cơ quan thi hành án dân sự. Trong trường hợp cần thiết, trên cơ sở đề nghị của Tòa án, Cơ quan thi hành án dân sự, Văn phòng Thừa phát lại có thể thỏa thuận để tống đạt các loại văn bản, giấy tờ khác.

 

Giấy tờ, hồ sơ, tài liệu thỏa thuận tống đạt bao gồm: Giấy báo, giấy triệu tập, giấy mời, thông báo, quyết định đưa vụ án ra xét xử, bản án, quyết định, quyết định kháng nghị của Tòa án; thông báo, quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân; quyết định về thi hành án, giấy báo, giấy triệu tập, thông báo của cơ quan thi hành án dân sự. Trong trường hợp cần thiết, Thừa phát lại có thể tống đạt các loại giấy tờ, hồ sơ, tài liệu khác theo đề nghị của Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự.

Ngoài ra còn có giấy tờ, hồ sơ, tài liệu có liên quan đến tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài

Mở rộng thêm các loại giấy tờ, hồ sơ, tài liệu có liên quan đến tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài

II. LẬP VI BẰNG

Nội dung so sánhNghị định 61/2009/NĐ-CP và Nghị định 135/2013/NĐ-CPNghị định 08/2020/NĐ-CPKết quả so sánh
Phạm vi lập vi bằngThừa phát lại được lập vi bằng các sự kiện, hành vi xảy ra trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi đặt Văn phòng Thừa phát lại

Thừa phát lại được lập vi bằng ghi nhận các sự kiện, hành vi có thật theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi toàn quốc

.

Mở rộng phạm vi

Giá trị pháp lý của vi bằng

Vi bằng có giá trị chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ án.

Vi bằng là căn cứ để thực hiện các giao dịch hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.

 

Quy định rõ thêm, trong có nội dung

"Vi bằng không thay thế văn bản công chứng, văn bản chứng thực, văn bản hành chính khác."

 

Quy định rõ ràng hơn giá trị pháp lý
Quy định các trường hợp không được lập vi bằngCác trường hợp vi phạm quy định về bảo đảm an ninh, quốc phòng; vi phạm bí mật đời tư theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật dân sự; các trường hợp thuộc thẩm quyền công chứng của tổ chức hành nghề công chứng hoặc thuộc thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân các cấp và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.Quy định 9 trường hợp không được lập vi bằngMở rộng thêm và quy định rõ các trường hợp

 

Nội dung và hình thức

Chỉ quy định có 03 bản chính

Số lượng bản chính của mỗi vi bằng do các bên tự thỏa thuận.

Bổ sung thêm quy định về đánh số thứ tự; đóng dấu giáp.

Kèm theo vi bằng có thể có các tài liệu chứng minh; trường hợp tài liệu chứng minh do Thừa phát lại lập thì phải phù hợp với thẩm quyền, phạm vi theo quy định tại khoản 1 Điều 36 của Nghị định này.

 
Quy định cấp bản saoKhông quy địnhQuy định thêm về việc cấp bản sao vi bằngQuy định mới
Quy định thời gian gửi vi bằngTrong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày lập vi bằngTrong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc việc lập vi bằng 
Về từ chối đăng ký vi bằngSở Tư pháp có quyền từ chối đăng ký nếu phát hiện thấy việc lập vi bằng không đúng thẩm quyền, không thuộc phạm vi lập vi bằng theo quy định tại Điều 25 của Nghị định này; vi bằng không được gửi đúng thời hạn để đăng ký theo quy định tại khoản 4, Điều 26 của Nghị định này. Việc từ chối phải được thông báo ngay bằng văn bản cho Văn phòng Thừa phát lại và người yêu cầu lập vi bằng trong đó nêu rõ lý do từ chối đăng ký.Không quy định 

III. XÁC MINH ĐIỀU KIỆN THI HÀNH ÁN

Nội dung so sánhNghị định 61/2009/NĐ-CP và Nghị định 135/2013/NĐ-CPNghị định 08/2020/NĐ-CPKết quả so sánh
Thủ tục xác minh điều kiện thi hành ánTrên cơ sở yêu cầu và thỏa thuận xác minh về điều kiện thi hành án, Trưởng Văn phòng Thừa phát lại ra quyết định xác minh; quyết định phải ghi rõ căn cứ, nội dung xác minh và được vào sổ thụ lý.Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ký kết hợp đồng dịch vụ, Trưởng Văn phòng Thừa phát lại phải ra quyết định xác minh điều kiện thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Quyết định xác minh phải ghi rõ căn cứ, nội dung xác minh và được ghi vào sổQuy định chi tiết thủ tục xác minh chặt chẽ hơn trong Nghị định.
  

Quy định thêm về Bảo mật thông tin xác minh điều kiện thi hành án; Ủy quyền xác minh điều kiện thi hành án.

Quy định cụ thể hơn về việc Phối hợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc xác minh điều kiện thi hành án

 

 

 

IV. THI HÀNH BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH THEO YÊU CẦU CỦA ĐƯƠNG SỰ

Nội dung so sánhNghị định 61/2009/NĐ-CP và Nghị định 135/2013/NĐ-CPNghị định 08/2020/NĐ-CPKết quả so sánh
Thẩm quyền

 Thừa phát lại được quyền trực tiếp tổ chức thi hành theo đơn yêu cầu của đương sự đối với các bản án, quyết định:

Bản án, quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực của Tòa án cấp huyện nơi Thừa phát lại đặt văn phòng;

Bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án cấp tỉnh đối với bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án cấp huyện nơi Thừa phát lại đặt văn phòng;

Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án cấp tỉnh đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp huyện nơi Thừa phát lại đặt văn phòng

Quy định rõ thêm các trường hợp được quyền trực tiếp tổ chức thi hành án.

Quy định thêm trường hợp Thừa phát lại không tổ chức thi hành phần bản án, quyết định thuộc diện Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 36 của Luật Thi hành án dân sự.

 

 
Nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức thi hành án của Thừa phát lạiChưa quy định rõ

Quy định cụ thể, chi tiết ở một điều riêng:

Điều 52

 

Thủ tục chung về thi hành án của Thừa phát lại

 

Đối với các vụ việc đã được tổ chức thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự nhưng sau đó đương sự có văn bản yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự không tiếp tục việc thi hành án và yêu cầu Văn phòng Thừa phát lại tổ chức thi hành hoặc ngược lại thì nội dung yêu cầu phải nêu rõ kết quả thi hành trước đó, những nội dung yêu cầu tổ chức thi hành tiếp và nội dung bảo lưu kết quả thi hành trước đó (nếu có). Văn phòng Thừa phát lại, cơ quan thi hành án dân sự có thể chấp thuận đề nghị bảo lưu kết quả thi hành trước đó của đương sự để làm căn cứ tiếp tục tổ chức thi hành án.

 

2. Xử lý trường hợp chuyển vụ việc từ cơ quan thi hành án dân sự sang Văn phòng Thừa phát lại và ngược lại:

a) Đối với các vụ việc đang do cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành nhưng sau đó đương sự có văn bản yêu cầu không tiếp tục và đình chỉ thi hành án để Văn phòng Thừa phát lại tổ chức thi hành thì đương sự không có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tiếp tục thi hành đối với các khoản đã được cơ quan thi hành án ra quyết định đình chỉ thi hành án;

b) Đối với các vụ việc đang do Văn phòng Thừa phát lại tổ chức thi hành nhưng sau đó đương sự có văn bản yêu cầu không tiếp tục thi hành án và chấm dứt hợp đồng với Văn phòng Thừa phát lại thì người được thi hành án có thể yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự, Văn phòng Thừa phát lại khác có thẩm quyền tiếp tục tổ chức thi hành, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản này;

c) Yêu cầu thi hành án mới của đương sự phải nêu rõ kết quả thi hành án trước đó; những nội dung yêu cầu tổ chức thi hành án tiếp và thông tin, tài liệu có liên quan đến nội dung yêu cầu. Trình tự, thủ tục, kết quả quá trình thi hành án trước đó nếu thực hiện đúng quy định của pháp luật vẫn có giá trị pháp lý, được công nhận và được sử dụng làm căn cứ để tiếp tục tổ chức thi hành án.

 

Quy định rõ ràng hơn từng trường hợp


Trên đây là một số điểm giống và khác nhau cơ bản của các công việc của Thừa phát lại Nghị định số 08/2020/NĐ-CP và Nghị định số 61/2009/NĐ-CP và Nghị định số 135/2013/NĐ-CP.

Thông tinFalseNguyễn Thị Vân Anh
Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương thông tin về thẩm quyền, phạm vi tống đạt của Thừa phát lại quy định tại Nghị định số 08/2020/NĐ-CPTinSở Tư pháp tỉnh Bình Dương thông tin về thẩm quyền, phạm vi tống đạt của Thừa phát lại quy định tại Nghị định số 08/2020/NĐ-CP/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
2/25/2020 3:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 16/03/2018, Sở Tư pháp có Thông báo số 303/TB-STP Về địa hạt tống đạt văn bản của các văn phòng Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương, theo thông báo địa hạt tống đạt như sau:

"- Văn phòng Thừa phát lại thành phố Thủ Dầu Một thực hiện tống đạt văn bản cho Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, Tòa án nhân dân nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một.

- Văn phòng Thừa phát lại Dĩ An thực hiện tống đạt văn bản cho Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Dĩ An.

- Văn phòng Thừa phát lại Tân Uyên thực hiện tống đạt văn bản cho Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Uyên.

- Văn phòng Thừa phát lại Thuận An thực hiện tống đạt văn bản cho Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận An.

- Văn phòng Thừa phát lại Bến Cát thực hiện tống đạt văn bản cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương, Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát."


Ngày 08/01/2020, Chính phủ ban hành Nghị định số 08/2020/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 24/02/2020. Để việc triển khai các quy định của Nghị định đạt hiệu quả, đồng thời đảm bảo việc áp dụng các quy định pháp luật về Thừa phát lại được đồng bộ, thống nhất, Sở Tư pháp đã có Công văn triển khai thực hiện đến tất các các Văn phòng Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh.


Theo Khoản 1 Điều 33 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, quy định tống đạt của Thừa phát lại như sau: "Thừa phát lại tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân trong việc giải quyết các vụ việc dân sự, vụ án hành chính, việc dân sự trong vụ án hình sự và khiếu nại, tố cáo; tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn cấp tỉnh nơi Văn phòng Thừa phát lại đặt trụ sở theo hợp đồng dịch vụ tống đạt được ký kết giữa Văn phòng Thừa phát lại với Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự.".


Như vậy theo quy định nêu trên, Các Văn phòng Thừa phát lại được mở rộng địa hạt tống đạt.


Nhằm giảm tải công việc tống đạt cho các cơ quan tòa án, viện kiểm sát, thi hành án dân sự, Sở Tư pháp thông tin đến Quý cơ quan nội dung quy định nêu trên để thực hiện việc ký hợp đồng tống đạt với các Văn phòng Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh theo quy định tại Điều 33 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP.

Sở Tư pháp thông tin về thẩm quyền, phạm vi tống đạt của Thừa phát lại quy định tại Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, kính gửi các cơ quan tham khảo và thực hiện theo quy định pháp luật.

Trong quá trình thực hiện, nếu cần trao đổi, phối hợp xin liên hệ Phòng Bổ trợ tư pháp – Sở Tư pháp qua số điện thoại: 02743.822.881 hoặc địa chỉ thư điện tử: phongbotrotuphap.stpbd@gmail.com.

Thong tin ky hop dong tong dat 1.jpgThong tin ky hop dong tong dat 2.jpg

Thong tin ky hop dong tong dat 3.jpgThong tin ky hop dong tong dat 4.jpg


Thông tin; Hướng dẫn nghiệp vụFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Thông báo về việc thay đổi nội dung đăng ký hoạt động của Văn phòng Thừa phát lại Dĩ AnTinThông báo về việc thay đổi nội dung đăng ký hoạt động của Văn phòng Thừa phát lại Dĩ An/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
2/25/2020 1:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 25/02/2020, Sở Tư pháp đã cấp lại Giấy đăng ký hoạt động số 02/TP-ĐKHĐ cho Văn phòng Thừa phát lại Dĩ An. Sở Tư pháp thông báo nội dung đăng ký hoạt động của Văn phòng Thừa phát lại Dĩ An, cụ thể như sau:

TB TPLDA HINH1.jpgTB TPLDA HINH 2.jpg

1. Tên đầy đủ của Văn phòng Thừa phát lại: VĂN PHÒNG THỪA PHÁT LẠI DĨ AN

Tên giao dịch tiếng Anh:

Tên viết tắt:

2. Địa chỉ trụ sở:

- Trước khi thay đổi: Số 02, đường B, khu đô thị Trung tâm hành chính Dĩ An, phường Dĩ An, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Sau khi thay đổi: Số 02, đường B, khu đô thị Trung tâm hành chính Dĩ An, phường Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Điện thoại: 06503.568.686              Fax:

Email: Thuaphatlaidian@gmail.com Website: Thuaphatlaidian.com.vn

3. Trưởng Văn phòng Thừa phát lại:

Họ và tên: Nguyễn Hồng Quang      Nam, nữ: Nam

Sinh ngày: 10/5/1953

Chứng minh nhân dân số: 280473049  Ngày cấp: 12/8/2012

Nơi cấp: Công an tỉnh Bình Dương.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số 186/3, khu phố Thạnh Hòa B, phường An Thạnh, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Quyết định bổ nhiệm Thừa phát lại số: 2886/QĐ-BTP ngày 21/11/2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

4. Quyết định cho phép thành lập Văn phòng Thừa phát lại số: 144/QĐ-UBND ngày 17/01/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương.

5. Danh sách thành viên:

STT

Họ và tên

 

Năm sinh

Quyết định bổ nhiệm Thừa phát lại

01

Nguyễn Hồng Quang

1953

2886/QĐ-BTP

ngày 21/11/2013

02

Lê Hồng Sương

1956

2888/QĐ-BTP

ngày 21/11/2013


Nội dung thay đổi: Thay đổi địa chỉ trụ sở Văn phòng Thừa phát lại Dĩ An từ thị xã Dĩ An sang thành phố Dĩ An do thay đổi địa giới hành chính. Thông báo thay đổi đã được gửi đến các cơ quan chức năng có liên quan để phối hợp quản lý theo quy định của pháp luật.

TB TPLDA HINH 3.jpgTB TPLDA HINH 4.jpg


Thông tinFalseNguyễn Thị Vân Anh
Những quy định mới của Nghị định số 08/2020/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động Thừa phát lạiTinNhững quy định mới của Nghị định số 08/2020/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động Thừa phát lại/CMSImageNew/2020-06/KH TRIEN KHAI THUA PHAT LAI TINH BD Hinh 1_Key_12062020172059.jpg
Ngày 08/01/2020, Chính phủ ban hành Nghị định số 08/2020/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 24/02/2020 (Thay thế nghị định số 61/2009/NĐ-CP và Nghị định số 135/2013/NĐ-CP).
2/24/2020 6:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 08/01/2020, Chính phủ ban hành Nghị định số 08/2020/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 24/02/2020 (Thay thế nghị định số 61/2009/NĐ-CP và Nghị định số 135/2013/NĐ-CP).

Nghị định có 6 Chương và 75 Điều bao gồm: Chương I Những quy định chung, Chương II Thừa phát lại, Chương III Văn phòng Thừa phát lại, Chương IV Thẩm quyền, phạm vi, thủ tục thực hiện công việc của Thừa phát lại, Chương V Quản lý nhà nước, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo, giải quyết tranh chấp và kiểm sát hoạt động của Thừa phát lại, Chương VI Hiệu lực thi hành và điều khoản chuyển tiếp.

So với Nghị định nghị định số 61/2009/NĐ-CP và Nghị định số 135/2013/NĐ-CP, Nghị định số 08/2020/NĐ-CP có một số điểm mới nổi bật như sau:

KH TRIEN KHAI THUA PHAT LAI TINH BD Hinh 1.jpg

1. Tiêu chuẩn bổ nhiệm Thừa phát lại có nhiều điểm mới

Theo Điều 6 Nghị định 08/2020/NĐ-CP, Thừa phát lại phải đáp ứng được những tiêu chuẩn sau:

- Là công dân Việt Nam không quá 65 tuổi, thường trú tại Việt Nam, chấp hành tốt Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt;

- Có bằng tốt nghiệp đại học hoặc sau đại học chuyên ngành luật;

- Có thời gian công tác pháp luật từ 03 năm trở lên tại các cơ quan, tổ chức sau khi đã có bằng tốt nghiệp đại học hoặc sau đại học chuyên ngành luật;

- Tốt nghiệp khóa đào tạo, được công nhận tương đương đào tạo hoặc hoàn thành khóa bồi dưỡng nghề Thừa phát lại;

- Đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề Thừa phát lại.

2. 08 trường hợp không được bổ nhiệm Thừa phát lại

Theo Điều 11 Nghị định 08/2020/NĐ-CP, 08 trường hợp sau không được bổ nhiệm Thừa phát lại:

- Người bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi;

- Người đã được bổ nhiệm công chứng viên, được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư, đấu giá, quản tài viên, được cấp thẻ thẩm định viên về giá mà chưa miễn nhiệm công chứng viên, thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư, đấu giá, quản tài viên, thẻ thẩm định viên về giá;

- Người đang là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân;

- Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; người đã bị kết án về tội phạm do vô ý, tội phạm ít nghiêm trọng do cố ý mà chưa được xóa án tích; người đã bị kết án về tội phạm liên quan đến chiếm đoạt tài sản, trục lợi, gian lận, gian dối, xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, kể cả trường hợp đã được xóa án tích;

- Người là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân bị bãi nhiệm, bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cách chức, buộc thôi việc, tước danh hiệu hoặc đưa ra khỏi ngành;

- Người bị xử lý kỷ luật bằng hình thức xóa tên khỏi danh sách luật sư của Đoàn luật sư do vi phạm pháp luật hoặc vi phạm quy tắc đạo đức nghề nghiệp luật sư; người bị tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư mà chưa hết thời hạn 03 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính đó;

- Người bị tước quyền sử dụng thẻ công chứng viên, thẻ thẩm định viên về giá, chứng chỉ hành nghề đấu giá, chứng chỉ hành nghề quản tài viên mà chưa hết thời hạn 03 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính đó;

- Người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc.

3. Vi bằng không có giá trị thay thế bản công chứng, chứng thực

Theo Điều 36 Nghị định 08/2020/NĐ-CP, vi bằng không thay thế văn bản công chứng, văn bản chứng thực, văn bản hành chính khác.

Vi bằng là nguồn chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ việc dân sự và hành chính theo quy định của pháp luật; là căn cứ để thực hiện giao dịch giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật.

4. Phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho Thừa phát lại

Theo quy định tại Điều 18 Nghị định 08/2020/NĐ-CP, Văn phòng Thừa phát lại có trách nhiệm mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho Thừa phát lại của Văn phòng mình.

5. Mỗi quận không có quá 02 văn phòng Thừa phát lại

Theo Điều 21 Nghị định 08/2020/NĐ-CP, việc thành lập Văn phòng Thừa phát lại phải căn cứ vào các tiêu chí sau đây:

- Điều kiện về kinh tế - xã hội của địa bàn cấp huyện nơi dự kiến thành lập Văn phòng Thừa phát lại;

- Số lượng vụ việc thụ lý của Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự ở địa bàn cấp huyện nơi dự kiến thành lập Văn phòng Thừa phát lại;

- Mật độ dân cư và nhu cầu của người dân ở địa bàn cấp huyện nơi dự kiến thành lập Văn phòng Thừa phát lại;

- Không quá 02 Văn phòng Thừa phát lại tại 01 đơn vị hành chính cấp huyện là quận, thành phố thuộc tỉnh, thị xã; không quá 01 Văn phòng Thừa phát lại tại 01 đơn vị hành chính huyện.

KH TRIEN KHAI THUA PHAT LAI TINH BD Hinh 2.jpg

6. Thừa phát lại được lập vi bằng trong phạm vi toàn quốc

Theo Điều 36 Nghị định 08/2020/NĐ-CP, Thừa phát lại được lập vi bằng ghi nhận các sự kiện, hành vi có thật theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi toàn quốc, trừ các trường hợp không được lập vi bằng. 

7. Bị áp mức khung chi phí tống đạt giấy tờ hồ sơ, tài liệu

Theo Điều 62 Nghị định 08/2020/NĐ-CP, chi phí tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự do Tòa án, viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự thỏa thuận với Văn phòng Thừa phát lại trên cơ sở khung mức chi phí.

 Khung mức chi phí tống đạt được quy định như sau:

- Tối thiểu là 65.000 đồng/việc và tối đa là 130.000 đồng/việc;

- Trường hợp tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu ngoài địa bàn cấp tỉnh hoặc ở vùng đảo, quần đảo ngoài địa bàn cấp huyện nơi Văn phòng Thừa phát lại đặt trụ sở thì phải thỏa thuận về chi phí tống đạt.

Chi phí này bao gồm: Chi phí phát sinh thực tế nhưng không vượt quá chế độ công tác phí áp dụng đối với các cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập; tiền công theo ngày làm việc của người thực hiện việc tống đạt nhưng không vượt quá mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc tại cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập.

8. Chi phí lập vi bằng phải được niêm yết công khai

Theo Điều 64 Nghị định mới về Thừa phát lại, chi phí lập vi bằng và xác minh điều kiện thi hành án do người yêu cầu và Văn phòng Thừa phát lại thỏa thuận theo công việc thực hiện hoặc theo giờ làm việc.

Phải niêm yết công khai chi phí lập vi bằng và xác minh điều kiện thi hành án, trong đó xác định rõ mức tối đa, mức tối thiểu và nguyên tắc tính.

KH TRIEN KHAI THUA PHAT LAI TINH BD Hinh 3.jpg

Thông tinFalseNguyễn Thị Vân Anh
Tình hình tổ chức và hoạt động Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương năm 2019TinTình hình tổ chức và hoạt động Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương năm 2019/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
1/31/2020 2:00 PMNoĐã ban hành

I. TÌNH HÌNH TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG THỪA PHÁT LẠI

BC NAM TPL 2019 HINH 1.pngBC NAM TPL 2019 HINH 2.jpg

BC NAM TPL 2019 HINH 3.jpg

1. Về tổ chức 

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 05 Văn phòng Thừa phát lại được thành lập tại địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, thị xã Thuận An, thị xã Dĩ An, thị xã Tân Uyên, thị xã Bến Cát, (thành lập và đi vào hoạt động sớm nhất là VPTPL Dĩ An, thành lập ngày 17/01/2014 và muộn nhất là VPTPL Bến Cát thành lập ngày 26/12/2017).

Từ ngày 01/01/2019 đến ngày 31/12/2019, trên địa bàn tỉnh Bình Dương có 14 Thừa phát lại đang hành nghề tại 05 Văn phòng Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Các Thừa phát lại được đào tạo bài bản, có nhiều kinh nghiệm trong các mảng hoạt động hành nghề Thừa phát lại như tống đạt văn bản, thi hành án…Các Văn phòng Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh đều có trụ sở thuận lợi, trang thiết bị và cơ sở vật chất đầy đủ, đảm bảo đáp ứng quá trình hoạt động.

2. Kết quả hoạt động

Kết quả hoạt động của các Văn phòng Thừa phát lại từ ngày 01/01/2019 đến 30/6/2019:

- Số lượng các vụ việc:

+ Lập vi bằng: 4394 vi bằng, giảm 1.458 vi bằng so với năm 2018;

+ Tống đạt văn bản, giấy tờ theo yêu cầu của Tòa án và cơ quan thi hành án dân sự: 24.749 văn bản (trong đó tống đạt văn bản, giấy tờ theo yêu cầu của cơ quan Tòa án là 24.579 văn bản và cơ quan Thi hành án 170 văn bản); tăng 4.379 văn bản so với 6 tháng đầu năm 2018. Tống đạt cho Tòa án nhân dân tỉnh và Cục Thi hành án dân sự tỉnh, Tòa án nhân dân và Chi cục Thi hành án dân sự các địa bàn: thành phố Thủ Dầu Một, thị xã Thuận An, Dĩ An, Tân Uyên, Bến Cát;

+ Xác minh điều kiện thi hành án: 02 vụ việc, tăng 02 vụ so với năm 6 tháng đầu năm 2018;

+ Tổ chức thi hành bản án, quyết định: 01 vụ việc với giá trị thi hành án về tiền là 1.232.194.000 đồng, tăng 01 vụ việc so với 6 tháng đầu năm 2018;

- Doanh thu: Các Văn phòng Thừa phát lại đã thu được: 9.223.136.000 đồng, giảm 691.504.000 đồng so với năm 2018, trong đó: chi phí lập vi bằng: 6.626.240.000 đồng; chi phí tống đạt: 2.552.927.000 đồng (2.520.712.000 đồng của Tòa án và 32.215.000 đồng của cơ quan thi hành án dân sự); xác minh điều kiện thi hành án 7.000.000 đồng; trực tiếp tổ chức thi hành án: 36.969.000 đồng.

BC NAM TPL 2019 HINH 4.jpg

I. CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THỪA PHÁT LẠI

Sở Tư pháp đã tham mưu giúp Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện tốt vai trò, chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về Thừa phát lại, cụ thể:

Tiếp tục công khai và giải quyết các thủ tục hành chính liên quan đến lĩnh vực Thừa phát lại thuộc phạm vi, thẩm quyền giải quyết của Sở Tư pháp như: Cấp giấy đăng ký hoạt động, thay đổi nội dung đăng ký hoạt động, chuyển hồ sơ đề nghị bổ nhiệm Thừa phát lại, cấp thẻ Thừa phát lại…một cách nhanh chóng, kịp thời, đúng pháp luật cho các cá nhân, tổ chức đến liên hệ thực hiện thủ tục. Kịp thời sửa đổi, bổ sung các thủ tục hành chính về Thừa phát lại cho phù hợp với các quy định pháp luật về Phí và Lệ phí; đồng thời đăng tải đầy đủ, kịp thời lên trang dịch vụ công của tỉnh và Trang thông tin điện tử của Sở.

Từ ngày 01/01/2019 đến 30/6/2019, Sở đã thực hiện 03 thủ tục hành chính về Thừa phát lại; Xác nhận hành nghề Thừa phát lại cho 03 cá nhân.

Công tác thanh tra, kiểm tra: Trong quá trình quản lý, thường xuyên kiểm tra tình hình hoạt động của các Văn phòng Thừa phát lại, giải đáp các khó khăn, vướng mắc của các Thừa phát lại kịp thời.

Công tác giải quyết phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo: Trong năm 2019, có 01 kiến nghị về Thừa phát lại. Sở Tư pháp đã tiến hành xác minh và có công văn trả lời theo đúng quy định của pháp luật.

III. KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC VÀ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ

1. Khó khăn, vướng mắc

- Các mảng hoạt động của Thừa phát lại phát triển chưa đều, chủ yếu là mảng lập vi bằng và tống đạt văn bản. Hoạt động xác minh điều kiện thi hành án và trực tiếp tổ chức thi hành án ít phát sinh trong 6 tháng đầu năm 2019.

- Pháp luật về Thừa phát lại chỉ quy định chung các hình thức xử lý vi phạm đối với Thừa phát lại và Văn phòng Thừa phát lại, tuy nhiên luật không quy định từng loại việc và mức độ vi phạm cụ thể. Ví dụ trong trường hợp Sở Tư pháp phát hiện nội dung lập vi bằng không đúng quy định pháp luật hoặc các sai phạm của các Thừa phát lại, Văn phòng Thừa phát lại trong việc lập vi bằng, hậu quả pháp lý chỉ dừng lại ở việc vi bằng không có giá trị pháp lý, chưa có chế tài đảm bảo tính răn đe.

2. Đề xuất, kiến nghị

- Đề xuất Bộ Tư pháp tiếp tục mở các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ về xác minh điều kiện thi hành án và trực tiếp tổ chức thi hành án để trang bị các kiến thức pháp luật và kinh nghiệm cho Thừa phát lại trong các hoạt động này.

- Sửa đổi, bổ sung Nghị định 110/2013/NĐ-CP (được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 67/2015/NĐ-CP ngày 14/8/2015) theo hướng quy định rõ các hành vi vi phạm của Thừa phát lại, Văn phòng Thừa phát lại và hình thức xử phạt cụ thể để đảm bảo tính răn đe.


Thông tinFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Một số kinh nghiệm nước ngoài trong lĩnh vực giám định, công chứng, thừa phát lại có thể tham khảo tại Việt NamTinMột số kinh nghiệm nước ngoài trong lĩnh vực giám định, công chứng, thừa phát lại có thể tham khảo tại Việt Nam/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
1/2/2020 12:00 PMNoĐã ban hành

1. Lĩnh vực giám định tư pháp
1.1. Về khái niệm giám định tư pháp
Quan niệm chung của các nước về giám định tư pháp là giám định được thực hiện bởi nhà chuyên môn (người am hiểu, tinh thông về lĩnh vực cần giám định) để làm sáng tỏ vấn đề có liên quan, theo trưng cầu của cơ quan điều tra, truy tố và xét xử đến vụ án dưới góc độ chuyên môn nhằm phục vụ cho việc giải quyết vụ án. Chẳng hạn như: (1) ở Pháp có quy định rất rõ rằng việc giám định được thực hiện theo trưng cầu của thẩm phán (có thẩm phán điều tra, thẩm phán xét xử và thẩm phán thi hành án) thì được coi là giám định tư pháp; (2) pháp l​uật của Thụy Điển lại cho rằng, chỉ cần xác định việc giám định đó có được đánh giá và sử dụng làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án hay không, nếu kết luận giám định nào phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án và được Hội đồng xét xử chấp nhận làm căn cứ để giải quyết vụ án thì được coi là giám định tư pháp.
1.2. Về khái niệm người giám định
Nhìn chung, các nước đều quan niệm, bất kỳ một chuyên gia nào không phân biệt là công chức nhà nước hay người hành nghề tự do đều có thể là người giám định nếu như người đó thực sự am hiểu, tinh thông trong lĩnh vực cần giám định và được các cơ quan tiến hành tố tụng trưng cầu giám định.        Tuy nhiên, hầu hết các nước đều có phân loại người giám định thành giám định viên (người được cơ quan hoặc tổ chức có thẩm quyền bổ nhiệm hoặc công nhận và ghi danh) và người giám định vụ việc.
1.3. Căn cứ bổ nhiệm, công nhận giám định viên và tiêu chuẩn giám định viên
Việc bổ nhiệm, công nhận giám định viên của các nước đều phải căn cứ vào nhu cầu thực tế của hoạt động tố tụng. Trình tự, thủ tục bổ nhiệm hoặc công nhận giám định viên được tiến hành rất chặt chẽ nhằm bảo đảm chất lượng giám định viên.
Mặc dù, có sự khác nhau về cách thức, thủ tục bổ nhiệm hoặc công nhận, ghi danh giám định viên giữa các nước nhưng các tiêu chí về điều kiện để trở thành giám định viên của các nước về cơ bản là giống nhau. Cụ thể là các điều kiện về: trình độ chuyên môn và khả năng nghiệp vụ (hầu hết các nước còn yêu cầu người được bổ nhiệm hoặc công nhận phải qua đào tạo nghiệp vụ giám định của từng lĩnh vực); kinh nghiệm thực tế; điều kiện về sức khoẻ; về phẩm chất; thời gian và những điều kiện cần thiết cho việc tham gia hoạt động giám định tư pháp.
1.4. Danh sách giám định viên và việc lựa chọn người giám định của cơ quan tiến hành tố tụng
Hầu hết các nước đều lập Danh sách người giám định hoặc các nhà chuyên môn ở các lĩnh vực và phổ biến cho các cơ quan tiến hành tố tụng biết để trưng cầu giám định. Chẳng hạn như, ở Đức, ngoài lĩnh vực pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự có giám định viên là các cán bộ chuyên môn nhà nước, còn ở các lĩnh vực khác thì các tổ chức, hiệp hội nghề nghiệp như Phòng Thủ công nghiệp, Phòng thương mại, Phòng xây dựng,... lựa chọn người để lập, công bố danh sách giám định viên ở các lĩnh vực ngành nghề đó để phổ biến cho các cơ quan tiến hành tố tụng. Ở Pháp, Toà án là cơ quan có thẩm quyền lựa chọn và công nhận, lập Danh sách giám định viên ở tất cả các lĩnh vực chuyên môn, ngành nghề.
Nhìn chung pháp luật các nước không bắt buộc các cơ quan tiến hành tố tụng phải trưng cầu giám định viên được bổ nhiệm hoặc công nhận nhưng một số nước đã có quy định trong pháp luật tố tụng mang tính khuyến nghị cơ quan tiến hành tố tụng ưu tiên trưng cầu các giám định viên đã có trong danh sách.
1.5. Về tổ chức giám định
Các nước không thành lập hệ thống tổ chức giám định tư pháp ở tất cả các lĩnh vực. Tuy nhiên, tất cả các nước đều có cơ quan giám định pháp y (chỉ về tử thi), pháp y tâm thần và kỹ thuật hình sự theo hệ thống tổ chức của cơ quan tiến hành tố tụng. Riêng về giám định kỹ thuật hình sự, thì tất cả các nước trên thế giới đều duy trì tổ chức giám định kỹ thuật hình sự trong cơ quan cảnh sát. Hầu hết các nước đều đặt giám định pháp y ở cơ quan y tế. Còn ở các lĩnh vực khác, các nước không thành lập tổ chức mà chỉ bổ nhiệm hoặc công nhận và lập Danh sách giám định viên.
1.6. Về hoạt động giám định tư pháp
Về trưng cầu giám định tư pháp: Theo quy định của pháp luật các nước, chỉ có cơ quan tiến hành tố tụng (cơ quan điều tra, truy tố và xét xử) mới có quyền trưng cầu giám định tư pháp cả trong tố tụng hình sự và tố tụng dân sự. Tuy nhiên, thông thường thì trong án hình sự thì việc trưng cầu giám định chủ yếu do cơ quan điều tra thực hiện. Còn trong tố tụng dân sự thì các bên có quyền tự do lựa chọn giám định viên và có thể yêu cầu Toà án đứng ra trưng cầu giám định hoặc tự họ thoả thuận với nhau về việc mời một người giám định nào đó.
Về đánh giá, sử dụng kết luận giám định: Pháp luật của các nước quy định kết luận giám định là một nguồn chứng cứ. Việc đánh giá và sử dụng chứng cứ thuộc thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng. Vì thế, việc đánh giá và sử dụng kết luận giám định thuộc thẩm quyền và trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng.
Nếu có sự khác nhau thì cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm xem xét, đánh giá độ tin cậy của các kết luận giám định đó.
Pháp luật của các nước không có quy định về giám định cuối cùng vì việc có cần trưng cầu giám định hay không là tuỳ thuộc sự cần thiết trong quá trình giải quyết vụ án. Tuy nhiên, với hoạt động giám định của các nước thì rất nề nếp, chặt chẽ, chất lượng, cộng với cách thức đánh giá kết luận giám định như đã nêu trên nên ít có mâu thuẫn kết luận giám định và nếu có thì đều được cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết thoả đáng, hầu như không có khiếu kiện và không phải trưng cầu giám định nhiều lần.
2. Lĩnh vực công chứng
2.1. Khái niệm công chứng
Nhìn chung các nước đều quy định công chứng là hoạt động của cơ quan công chứng xác nhận tính xác thực và tính hợp pháp của các hành vi pháp lý dân sự, sự kiện pháp lý và các văn bản pháp lý theo các trình tự quy định của pháp luật.
2.2. Chức năng của công chứng
Hệ thống công chứng có hai chức năng chính. Thứ nhất là để ngăn chặn các tranh chấp pháp lý: việc chuẩn bị các văn bản công chứng mang lại bằng chứng rõ ràng liên quan đến các quyền lợi hợp pháp và giúp ngăn chặn tranh chấp pháp lý. Thứ hai là để giải quyết các tranh chấp pháp lý: các văn bản công chứng đáp ứng được những yêu cầu nhất định sẽ cấu thành văn bản quy phạm có hiệu lực thi hành hoặc là cơ sở để một bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết khi một bên không thực hiện nghĩa vụ của mình.   
2.3. Căn cứ để thực hiện công chứng
Pháp luật của nhiều nước có quy định tương đối thống nhất về vấn đề này, đó là có hai căn cứ để thực hiện việc công chứng: công chứng theo yêu cầu và công chứng bắt buộc. Theo đó, một số loại hợp đồng, giao dịch sẽ bắt buộc phải công chứng, số còn lại thì được thực hiện trên cơ sở tự nguyện.
Pháp luật Tây Ban Nha quy định một số hợp đồng, giao dịch nhất định phải bắt buộc phải công chứng, nếu không qua thủ tục công chứng thì hợp đồng không có hiệu lực thi hành, như hợp đồng hôn nhân, hợp đồng liên quan đến tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, tặng cho tài sản… được quy định rõ trong Bộ Luật dân sự để bảo đảm an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch. Tương tự như vậy, tại Nhật Bản các hợp đồng cho thuê thương mại hoặc sắp xếp giám hộ tự nguyện phải được CCV soạn thảo và chứng nhận thì mới có giá trị pháp lý và tính ràng buộc.
Tuy nhiên, ngoài các hợp đồng bắt buộc phải công chứng, các hợp đồng, giao dịch khác do sự tự nguyện của người dân (hợp đồng tùy nghi) thì văn bản công chứng sẽ không được Tòa án coi là một chứng cứ hiển nhiên mà chỉ coi đó là một sự kiện pháp lý. Trung Quốc là một trong các nước đi theo hướng quy định này.
2.4. Về công chứng viên
Về khái niệm: Mặc dù cách thể hiện khác nhau, song về cơ bản công chứng viên (sau đây gọi tắt là CCV) được hiểu là viên chức công được bổ nhiệm để lập các hợp đồng và văn bản mà theo đó các bên phải hoặc muốn đảm bảo tính xác thực của văn bản đó giống như văn bản của các cơ quan công quyền khác và đảm bảo việc lưu giữ, cấp bản sao của văn bản đó (Pháp, Đức, Ba Lan, Tây Ban Nha...)
Về chức năng: Về chức năng cơ bản, CCV có chức năng soạn thảo chứng thư liên quan đến kiện tụng hoặc luật tư pháp, chứng nhận giấy chứng nhận cá nhân và các giấy tờ số và xử lý các trường hợp theo quy định của Luật này và các quy định khác.
  Pháp luật công chứng của Pháp ghi nhận CCV là các công chức được Bộ trưởng Bộ tư pháp bổ nhiệm, vì thế CCV được trao cho công quyền. CCV là người hợp thức hóa thỏa thuận của các bên và có thẩm quyền đóng con dấu xác thực vào toàn bộ các văn bản mà mình tiếp nhận. CCV cũng đảm bảo lưu giữ toàn bộ các dự thảo biên bản. Ngoài chức năng xác thực tính hợp lệ và bảo đảm an toàn cho các văn bản nói trên, các CCV còn có thể can thiệp với phạm vi rộng hơn: họ là các chuyên gia về pháp luật tổng quát với một tầm nhìn tổng thể về các vấn đề pháp lý. Họ có thể can thiệp vào khuôn khổ pháp lý nói chung và khuôn khổ pháp lý về thuế, điều đó khiến họ trở nên đặc biệt hiệu quả trong việc tư vấn cho khách hàng của mình. Do đó, các CCV có thể được mô tả là các "bác sĩ về tài sản".
Tại Đức, CCV là công chức do nhà nước bổ nhiệm, chuyên tư vấn một cách độc lập, trung lập và khách quan cho các giao dịch pháp lý quan trọng. CCV đóng vai trò then chốt trong luật về bất động sản, luật thế chấp, luật về hợp đồng, luật công ty cũng như các luật khác về gia đình và thừa kế.
Theo quy định của Tây Ban Nha, CCV là công chức có thẩm quyền cung cấp bằng chứng (niềm tin công chúng) theo quy định của pháp luật về các hợp đồng và các hoạt động ngoại tụng khác. Để thực hiện vai trò này, CCV là một người hành nghề luật độc lập, có nhiệm vụ đánh giá một cách công tâm không thiên vị những người yêu cầu cung cấp dịch vụ và tư vấn cho họ những công cụ pháp lý phù hợp nhất để đạt được kết quả hợp pháp mà họ mong muốn. Sau đó, CCV có thẩm quyền hành động và chứng từ hóa toàn bộ các tình tiết, hành vi và nói chung là mọi hoạt động kinh doanh hợp pháp trong phạm vi luật pháp ngoài tố tụng. Như vậy, có thể thấy rằng không có loại công chức nào khác có thể hành động với phạm vi rộng như CCV trong các lĩnh vực vừa nêu.
Tại Tây Ban Nha và rất nhiều nước khác, CCV được đặt dưới sự quản lý chặt chẽ của Bộ Tư pháp và được coi như công chức dù không hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Nói cách khác, CCV là một công chức đặc biệt vì CCV do nhà nước bổ nhiệm nhưng lại hành nghề với tư cách tự do (tự hành nghề, tự đầu tư cơ sở vật chất, tự nuôi bộ máy giúp việc, thu nhập từ nguồn khách hàng…) mà vẫn phải tuân theo quy định của Nhà nước, đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của nhà nước.
Về vai trò của công chứng viên:
 Hệ thống công chứng của Pháp, Tây Ban Nha, Đức và Trung Quốc quy định CCV có vai trò "thẩm phán hợp đồng", công lý phòng ngừa. Bốn hệ thống pháp luật này mang lại giá trị chứng minh và hiệu lực thi hành cho văn bản công chứng, điều này rất quan trọng đối với hòa bình xã hội vì chúng mang đến cho người dân sự đảm bảo về pháp luật cho tất cả các thủ tục dân sự cần thiết: hôn nhân, thừa kế, quyền sở hữu đất và thành lập kinh doanh. CCV không chỉ soạn văn bản mà còn là nhân chứng có đặc quyền của văn bản công chứng được các bên nhất trí. CCV cũng không phải là nhân viên tư vấn của một bên để gây thiệt hại cho bên kia mà là chuyên gia khách quan và không thiên vị để lập ra những hợp đồng công bằng vì lợi ích của tất cả mọi người. Về quyền sở hữu, CCV đảm bảo sự an toàn gần như tuyệt đối cho người nắm giữ quyền này. Nhờ đó, ở các nước phương Tây, các tranh chấp về quyền sở hữu gần như không tồn tại.
Ở Nhật Bản và Hàn Quốc, hệ thống công chứng đem lại cho CCV vai trò của nhân chứng và cán bộ chứng nhận. Họ chỉ có quyền yêu cầu thi hành nghĩa vụ trả tiền.
Về tiêu chuẩn công chứng viên:
Tuy có những điểm khác nhau về thể chế, hầu hết các nước đều công nhận công chứng là một nghề rất khó. CCV đều là những nhà luật học giỏi, là những chuyên gia pháp luật, có kiến thức pháp lý sâu rộng và biết cách áp dụng pháp luật nhuần nhuyễn, linh hoạt. Do vậy, việc gia nhập đội ngũ CCV là một quy trình có tính cạnh tranh rất cao; tương tự như các lĩnh vực dịch vụ công khác, việc lựa chọn các ứng viên tốt nhất là quá trình cực kỳ nghiêm ngặt (Đức, Pháp, Tây Ban Nha, Trung Quốc...).
Do thống nhất quan điểm về nghề công chứng, pháp luật các nước có khá nhiều điểm tương đồng trong quy định về tiêu chuẩn CCV. Cụ thể CCV phải là công dân của nước đó, có nhân cách và năng lực phù hợp với chức danh, đã trải qua khoá đào tạo nghề dài và chuyên sâu, hoàn thành thời gian tập sự hành nghề công chứng và vượt qua kỳ thi tuyển CCV.
Để khẳng định vị trí của chức danh CCV, một số nước quy định tất cả các CCV phải đủ điều kiện chuyên môn làm thẩm phán và luật sư (Đức) hoặc đã làm CCV dự bị với một thời gian nhất định (ít nhất 2 năm theo pháp luật Ba Lan) hoặc phải là người đã được bổ nhiệm trong hơn 10 năm vào các công việc được quy định theo luật (Hàn Quốc).... Với một số đối tượng nhất định như giáo sư, tiến sỹ luật học, thẩm phán, luật sư, tư vấn pháp luật có thâm niên ít nhất 3 năm.... thì một số tiêu chuẩn có thể được xem xét giảm bớt, ví dụ như tiêu chuẩn về thời gian làm CCV dự bị hoặc được miễn khoá đào tạo nghề, miễn giảm thời gian tập sự hành nghề (Ba Lan, Trung Quốc).
2.5. Tổ chức hành nghề công chứng
Về khái niệm: Tổ chức hành nghề công chứng, với các tên gọi khác nhau theo quy định của mỗi nước, là nơi để CCV hành nghề, được thành lập theo quy định của pháp luật không vì mục đích tìm kiếm lợi nhuận, thực hiện chức năng công chứng một cách độc lập, chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật.
Về các hình thức tổ chức:
Có hai mô hình tổ chức hành nghề phổ biến, đó là Văn phòng công chứng của một CCV hoặc Văn phòng công chứng của hai CCV trở lên. Một số nước như Đức, Indonexia.... chỉ cho phép loại hình thứ nhất; Trung Quốc thì lại yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng phải có ít nhất hai CCV, trong khi một số nước khác cho phép tồn tại cả hai loại hình (Tây Ban Nha, ...).
Về nguyên tắc, Văn phòng công chứng không phải là một công ty, doanh nghiệp, song thường hoạt động theo mô hình doanh nghiệp: Văn phòng công chứng một CCV thường hoạt động theo mô hình doanh nghiệp tư nhân; CCV Trưởng Văn phòng chịu trách nhiệm toàn bộ và vô hạn về hoạt động của tổ chức mình. Một mô hình khác là công ty dân sự do nhiều CCV hợp thành. Trong trường hợp này mỗi thành viên chỉ chịu trách nhiệm cá nhân về văn bản do mình thực hiện.
Trong khi tổ chức hành nghề công chứng tại hầu hết các nước là của tư nhân, thì ở một số nước như Trung quốc, Đức vẫn duy trì mô hình tổ chức hành nghề công chứng nhà nước.
2.6. Mối quan hệ giữa cơ quan công chứng và các cơ quan khác
Công chứng luôn có mối quan hệ rất chặt chẽ với các cơ quan khác như thuế, cơ quan đăng ký nhà đất.... Để đảm bảo cho tính an toàn của hoạt động công chứng và sự thuận tiện cho người dân, cơ chế liên thông giữa các cơ quan này thường được xây dựng và hoạt động rất hiệu quả.
Một trong những cơ quan mà công chứng thường có quan hệ mật thiết nhất chính là cơ quan đăng ký nhà, đất và các tài sản khác cần đăng ký quyền sở hữu. Tại Tây Ban Nha, mối quan hệ giữa hoạt động công chứng và đăng ký ở Tây Ban Nha là rất khăng khít. Về mặt quản lý nhà nước, Tổng cục quản lý Đăng ký và Công chứng có chức năng quản lý hai mảng lớn, đó là quản lý đăng ký và quản lý công chứng; mỗi mảng do 01 Phó Tổng cục trưởng phụ trách. Hai mảng này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Với các hợp đồng, giao dịch thì giai đoạn công chứng và đăng ký là hai giai đoạn gắn liền với nhau, sau khi công chứng phải đăng ký thì giấy tờ sở hữu đó mới có giá trị, chịu sự kiểm soát song trùng
Một cấp độ cao của cơ chế liên thông chính là cơ chế một cửa: Tại Tây Ban Nha, trong nhiều trường hợp CCV có thể thay nhà nước thu thuế. CCV ở Tây Ban Nha và Pháp đều có chức năng thu thuế thay cho nhà nước từ khách hàng. Khách hàng chỉ cần đến một đầu mối (cơ quan công chứng/cơ quan đăng ký), theo đó, cơ quan công chứng/cơ quan đăng ký thu thuế, sau đó sẽ trả cho nhà nước. Tại Đức cũng tương tự như vậy, CCV sẽ thay mặt khách hàng thực hiện toàn bộ các dịch vụ có liên quan như nộp thuế, lệ phí, đăng ký chuyển dịch tài sản tại Sở địa chính....
2.7. Giá trị pháp lý của văn bản công chứng
Pháp luật công chứng của tất cả các nước đều thừa nhận giá trị pháp lý cao của văn bản công chứng, mà thông thường các nước đều quy định văn bản công chứng mang tính chất của văn bản công, có giá trị chứng cứ hiển nhiên và không phải chứng minh việc lập văn bản đó hoặc tính trung thực của các tình tiết được nêu ra trong văn bản đó (Ba Lan, Nhật Bản....).
  Mức độ giá trị được thừa nhận phổ biến nhất của văn bản công chứng là giá trị khẳng định tính xác thực của sự việc, ngoại trừ có những chứng cứ ngược lại phủ nhận văn bản công chứng này. Đối với văn bản liên quan đến nghĩa vụ đã được công chứng mà người có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, người có quyền có thể gửi yêu cầu giải quyết tới Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật (Trung Quốc, ...).
  Ở một cấp độ cao hơn, một số nước quy định các văn bản công chứng có thể được thi hành ngay. Quy định này tạo nên giá trị quan trọng đặc biệt của văn bản công chứng mặc dù nó không phải là bản án hay quyết định của Tòa án. Lý do là nó giúp giảm gánh nặng đặt lên vai tòa án, vai trò quan trọng của CCV đã được thừa nhận trong xã hội và nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng sự thỏa thuận, cam kết giữa các bên.
  Pháp luật Tây Ban Nha thừa nhận văn bản công chứng có giá trị chứng cứ vật chất nên được Tòa án coi là “chứng cứ hiển nhiên”; khi được trình lên Thẩm phán thì không cần phải qua giám định hoặc xác minh, điều tra. Cũng vì được thừa nhận là chứng cứ hiển nhiên nên các bên khi đã ký vào văn bản thì không có quyền khiếu nại về nội dung của văn bản đã được công chứng mà văn bản công chứng có “giá trị thi hành ngay”, có giá trị như một phán quyết của Tòa án. Nếu một hợp đồng, giao dịch đã công chứng mà có tranh chấp thì chỉ cần chuyển một bản sao của văn bản công chứng đến là Tòa án có thể cho thi hành ngay mà không cần xem lại hợp đồng, giao dịch gốc. Với việc mua bán bất động sản, hợp đồng mua bán có công chứng được coi là giấy tờ sở hữu. Văn bản công chứng được coi là văn bản được cơ quan công quyền xác thực.
  Tương tự như Tây Ban Nha, tại Pháp văn bản công chứng có giá trị cưỡng chế thi hành trên toàn lãnh thổ, trừ trường hợp bị đình chỉ thi hành bởi Tòa án CCV có thể ban hành lệnh thực thi trong một số vấn đề đặc biệt theo yêu cầu tự nguyện của các bên có liên quan. Lệnh thực thi này cho phép tịch thu tài sản của bên có nghĩa vụ (là bên đi vay, bên đi thuê v.v...) mà không cần phải ra tòa.
  Tại Nhật Bản, các văn bản công chứng đáp ứng được những yêu cầu nhất định sẽ trở thành văn bản quy phạm có hiệu lực thi hành (văn bản gắn với việc thanh toán một số tiền cụ thể và các bên đã thỏa thuận với nhau về việc văn bản sẽ được thi hành ngày). Trong trường họp này, không giống như các trường hợp khi đơn khiếu nại đã nộp và bản án đã được đưa ra, các văn bản công chứng có hiệu lực thi hành có thể được đem ra thi hành mà không cần đến tòa án và được sử dụng khi cần cưỡng chế thi hành.
  Luật công chứng Hàn Quốc không có một quy định nào về giá trị chứng minh và hiệu lực thi hành của các văn bản công chứng; tuy nhiên Luật lại có quy định cho phép CCV có thể soạn thảo văn bản cho phép cưỡng chế thi hành và gắn nó vào hối phiếu hoặc séc.
  Tại Đức, bên cạnh sự đảm bảo về tính chắc chắn và chính xác về mặt pháp lý, một giao dịch dưới hình thức văn bản công chứng đem lại cho các bên những lợi ích khác nữa. Cụ thể là văn bản công chứng còn được coi là bằng chứng và có khả năng thực thi ngay lập tức. Điều này có nghĩa là một văn bản công chứng là bằng chứng đầy đủ về việc các bên đã chấp nhận các cam kết được đưa ra. Hơn nữa, người phải thực hiện một yêu cầu thanh toán tiền có thể tuyên bố trong một văn bản công chứng gọi là "thực thi ngay lập tức tài sản của mình". Trong trường hợp này, chủ nợ có thể tịch thu và khai thác tài sản của người phải thi hành mà không phải nộp đơn khởi kiện. Như vậy, các văn bản công chứng được xác lập bởi một CCV có thể so sánh được với một bản án có hiệu lực thi hành của tòa.
  Qua nghiên cứu kinh nghiệm của các nước Pháp, Đức, Tây Ban Nha, An-giê-ri, Trung Quốc, có thể thấy công chứng viên có vai trò rất quan trọng, được coi như “thẩm pháp hợp đồng”, góp phần bảo đảm an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch, phòng ngừa và hạn chế các rủi ro, tranh chấp. Các văn bản công chứng có giá trị pháp lý cao, có thể so sánh được với một bản án có hiệu lực thi hành của tòa.
3. Lĩnh vực thừa phát lại
Nghề thừa phát lại ở An-giê-ri hiện được điều chỉnh bởi Luật về tổ chức nghề thừa phát lại năm 2006. Đạo luật này gồm 68 điều được chia thành 5 chương: Chương 1 “Những quy định chung” (từ Điều 1 tới Điều 7). Chương 2 “Gia nhập nghề thừa phát lại và phương thức hành nghề” (từ Điều 8 đến Điều 38). Chương 3 “Tổ chức nghề thừa phát lại và việc thanh tra, kiểm tra” (từ Điều 39 đến Điều 48). Chương 4 “Kỷ luật” (từ Điều 49 đến Điều 63). Chương 5 “Các quy định chuyển tiếp và hiệu lực thi hành” (từ Điều 64 đến Điều 68).
Nghề thừa phát lại ở An-giê-ri chính thức được thành lập năm 1991, thừa phát lại khi đó được chuyển đổi từ các nhân viên lục sự (các thư ký Tòa án). Như vậy, nghề thừa phát lại ở An-giê-ri cũng phải trải qua giai đoạn chuyển đổi từ nhà nước thành tư nhân. Ban đầu cũng gặp rất nhiều nghi ngại nhưng đến nay, thừa phát lại trở thành nghề trụ cột trong hệ thống tư pháp ở An-giê-ri, có mối quan hệ phối hợp rất tốt với các cơ quan, tổ chức khác cũng như với các nghề tư pháp khác.
Nghề thừa phát lại ở An-giê-ri là một nghề tự do nhưng thừa phát lại thì được coi là “công lại”. Người muốn hành nghề thừa phát lại phải là cử nhân luật, có chứng chỉ đào tạo thừa phát lại, trải qua 02 năm tập sự và phải vượt qua kỳ thi tuyển. Người hành nghề thừa phát lại do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Thừa phát lại được quy định trong Luật về tổ chức nghề thừa phát lại năm 2006 và trong luật tố tụng dân sự là rất rộng. Theo đó, thừa phát lại có trách nhiệm: (i) thi hành các phán quyết dân sự của tòa án (có quyền bán đấu giá tài sản thi hành án theo quy định của luật tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu thẩm phán giải thích về bản án dân sự, công tố viên giải thích bản án hình sự); (ii) tống đạt giấy tờ của tòa án (dân sự, hành chính và cả hình sự), của cá nhân, tổ chức (văn bản thực hiện nghĩa vụ pháp lý của Ngân hàng, công chứng...), văn bản tương trợ tư pháp; (iii) lập vi bằng (theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân đối với tài sản của chính người yêu cầu và chỉ định của Tòa án cũng như các cơ quan nhà nước đối với tài sản là bất động sản của người thứ 3); đặc biệt còn được tham gia vào quá trình tố tụng. Gần đây, thừa phát lại còn được bổ sung thêm một nhiệm vụ, quyền hạn nữa là giám sát việc bỏ phiếu ở các cuộc bầu cử. Mức phí dịch vụ thừa phát lại được ấn định cụ thể, không được quyền thỏa thuận. Tỷ lệ thi hành án (do thừa phát lại thực hiện) đạt trên 90%, trung bình một vụ thi hành án trong 03 tháng, tối đa theo quy định là 06 tháng.
Hiện tại, số lượng người hành nghề thừa phát lại ở An-giê-ri là 1.500 người, sắp tới sẽ tổ chức thêm 1 kỳ thi quốc gia, bổ sung thêm khoảng 1.500 thừa phát lại nữa. Bộ Tư pháp An-giê-ri đang có đề án thành lập trường đào tạo thừa phát lại riêng. Trước khi hành nghề, thừa phát lại cũng phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp.
Văn phòng thừa phát lại ở An-giê-ri có thể do một hoặc nhiều thừa phát lại thành lập, hoạt động tương ứng theo loại hình doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty hợp danh (có văn phòng, cơ sở vật chất, thư ký nghiệp vụ...). Các văn phòng thừa phát lại không được quảng cáo về dịch vụ của mình.
Hội đồng thừa phát lại Quốc gia An-giê-ri bao gồm 25 thành viên (kể cả Chủ tịch), có 03 Văn phòng thừa phát lại vùng quản lý các Văn phòng thừa phát lại và chịu sự quản lý trực tiếp của Hội đồng thừa phát lại quốc gia (mỗi Văn phòng thừa phát lại vùng sẽ cử ra 15 thừa phát lại để bầu lấy 8 thừa phát lại tham gia vào Hội đồng thừa phát lại Quốc gia). Thừa phát lại An-giê-ri đã gia nhập Liên minh thừa phát lại quốc tế./.
CỤC BỔ TRỢ TƯ PHÁP
(Nguồn từ Công thông tin điện tử của Bộ Tư pháp)
Thông tinFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI ĐỀ ÁN THỰC HIỆN CHẾ ĐỊNH THỪA PHÁT LẠI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG – KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC  VÀ NHỮNG KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮCBài viếtTÌNH HÌNH TRIỂN KHAI ĐỀ ÁN THỰC HIỆN CHẾ ĐỊNH THỪA PHÁT LẠI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG – KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC  VÀ NHỮNG KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/6/2019 4:00 PMNoĐã ban hành

thamluantpl2019.jpg

I. TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI THỰC HIỆN ĐỀ ÁN THỪA PHÁT LẠI

1. Việc xây dựng các cơ sở pháp lý

Ngày 24/6/2013, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1531/QĐ-BTP về việc chọn địa phương thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại, theo đó Bình Dương là một trong 13 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được chọn mở rộng thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại. Để có cơ sở thực hiện thí điểm, tỉnh Bình Dương đã xây dựng Đề án"Thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại Bình Dương" và được Bộ Tư pháp phê duyệt theo Quyết định số 2281/QĐ-BTP ngày 12/9/2013.

Trên cơ sở các kết quả đạt được trong việc thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại, sau khi Quốc hội ban hành Nghị quyết 107/2015/QH13 về việc thực hiện chế định Thừa phát lại, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 905/KH-UBND ngày 30/3/2016 triển khai thực hiện Nghị quyết 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 của Quốc hội về việc thực hiện chế định Thừa phát lại trên địa bản tỉnh Bình Dương; đồng thời xây dựng Đề án thực hiện chế định Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương, thay thế Đề án Thừa phát lại trong giai đoạn thí điểm tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh gửi Bộ Tư pháp phê duyệt, đưa chế định Thừa phát lại thực hiện chính thức trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Trong đó, xác định lộ trình phát triển các Văn phòng Thừa phát lại đến năm 2020 đảm bảo tất cả các địa bàn cấp huyện đều có Văn phòng Thừa phát lại.

Ngày 25/8/2017, Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định số 1334/QĐ-BTP ngày về phê duyệt "Đề án thành lập Văn phòng Thừa phát lại của tỉnh Bình Dương giai đoạn 2017-2018". Ngày  05/10/2017 , Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Công văn số 4444/UBND-NC về việc triển khai thực hiện Quyết định phê duyệt đề án thừa phát lại giai đoạn 2017 – 2018. Trên cơ sở đó, Sở Tư pháp đã thực hiện các trình tự, thủ tục thành lập thêm 01 tổ chức hành nghề thừa trên địa bàn tỉnh theo đề án được phê duyệt. Kết quả: Ngày 26/12/2017, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 3629/QĐ-UBND cho phép thành lập theo Văn phòng Thừa phát lại Bến Cát. Trên cơ sở đó, ngày 01/2/2018, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương cấp Giấy Đăng ký hoạt động số 05/ĐKHĐ/TP.

2. Về công tác tuyên truyền, phổ biến về chế định thừa phát lại  

Nhằm tuyên truyền, phổ biến sâu rộng chế định thừa phát lại, các nội dung văn bản liên quan đến thừa phát lại đến tất cả các tầng lớp nhân dân trên địa bàn tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương đã tổ chức kịp thời các hội nghị triển khai, phổ biến các văn bản liên quan đến thừa phát lại; ban hành các văn bản chỉ đạo, điều hành trong lĩnh vực thừa phát lại.

Sở Tư pháp đã tham mưu giúp Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện tốt vai trò, chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về Thừa phát lại; phối hợp Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh thực hiện các chương trình "Pháp luật và cuộc sống" với các số chuyên đề về Thừa phát lại; phối hợp thực hiện tư vấn trực tiếp qua đài phát thanh; hàng năm, biên soạn và phát hành các tờ gấp pháp luật về chế định Thừa phát lại. Đồng thời, Sở Tư pháp đã xây dựng chuyên trang về Thừa phát lại trên trang tin điện tử của Sở, qua đó đã đăng tải các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản chỉ đạo của Trung ương và địa phương về Thừa phát lại; tin tức hoạt động của Thừa phát lại và các thủ tục hành chính có liên quan.

Cục Thi hành án dân sự tỉnh và các Chi cục bố trí cán bộ trực tiếp công dân gồm 01 Chấp hành viên và 01 thư ký, trong quá trình tiếp công dân giải quyết các vấn đề thắc mắc của dân, lồng ghép giải thích việc xác minh và trực tiếp tổ chức thi hành án của Thừa phát lại cho người dân, đồng thời tại phòng tiếp công dân của các cơ quan Thi hành án đều có bảng thông tin về chức năng, nhiệm vụ của Thừa phát lại, địa chỉ văn phòng Thừa phát lại để người dân biết liên hệ và hướng dẫn người dân trực tiếp lựa chọn yêu cầu.

Tòa án nhân dân tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh và các sở, ngành có liên quan khác cũng đã ban hành Kế hoạch, tổ chức phổ biến, quán triệt quy định pháp luật về Thừa phát lại trong ngành, đơn vị mình thông qua hội nghị, các cuộc họp cơ quan, ngày pháp luật.

Phòng Tư pháp, các Văn phòng Thừa phát lại cũng đã tích cực, chủ động in tờ rơi, hỏi đáp có nội dung về các hoạt động của Thừa phát lại để cấp phát miễn phí cho người dân.

3. Công tác xây dựng và giải quyết thủ tục hành chính

Sở Tư pháp công khai đầy đủ, kịp thời các thủ tục hành chính liên quan đến lĩnh vực Thừa phát lại thuộc phạm vi, thẩm quyền giải quyết của Sở Tư pháp như: Cấp giấy đăng ký hoạt động, thay đổi nội dung đăng ký hoạt động, chuyển hồ sơ đề nghị bổ nhiệm Thừa phát lại, cấp thẻ Thừa phát lại…đồng thời giải quyết đúng pháp luật cho các cá nhân, tổ chức đến liên hệ thực hiện thủ tục hành chính. Thường xuyên cập nhật các văn bản quy phạm pháp luật mới để điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung kịp thời các các thủ tục hành chính về Thừa phát lại cho phù hợp; đồng thời đăng tải đầy đủ, lên trang dịch vụ công của tỉnh và Trang thông tin điện tử của Sở.

4. Công tác hướng dẫn nghiệp vụ, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc

Trong quá trình hoạt động, Sở Tư pháp thường xuyên theo dõi, nắm bắt tình hình tổ chức, hoạt động, khó khăn, vướng mắc của lĩnh vực Thừa phát lại, có sự hướng dẫn nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong hoạt động Thừa phát lại qua các hình thức điện thoại, thư điện tử, tổ chức họp với các sở, ngành có liên quan và các Văn phòng Thừa phát lại; ban hành các văn bản hướng dẫn, như:

- Đối với hoạt động lập vi bằng, Sở Tư pháp đã ban hành các văn bản như sau: Năm 2016, ban hành Công văn số 1165/STP-BTTP ngày 30/9/2016 về lập vi bằng; Năm 2017, ban hành Công văn số 1590/STP-BTTP ngày 10/11/2017 về một số lưu ý hoạt động công chứng, chứng thực và Thừa phát lại đề nghị các Văn phòng Thừa phát lại chú ý đảm bảo một số nội dung trong việc lập vi bằng, giải thích rõ ràng quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc yêu cầu lập vi bằng, giá trị pháp lý của vi bằng; Năm 2018, ban hành Công văn số 1050/STP-BTTP ngày 12/7/2018 về hướng dẫn hoạt động Thừa phát lại. Năm 2019, tiếp tục theo dõi quá trình hoạt động của các Văn phòng để kịp thời có hướng dẫn tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc.

- Đối với hoạt động tống đạt văn bản, xác minh điều kiện thi hành án, trực tiếp tổ chức thi hành án: Sở có sự trao đổi, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan thi hành án, tòa án, tổ chức các cuộc họp liên ngành tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc như việc việc chậm chuyển giao văn bản và chậm thanh toán của một số cơ quan Tòa án và Thi hành án dân sự tại địa phương, việc phân chia địa hạt tống đạt văn bản. Đến nay, tình hình chuyển giao và thanh toán chi phí tống đạt đã ổn định. Ngày 09/3/2018, Sở Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan, ngành có liên quan tổ chức cuộc họp đánh giá hoạt động Thừa phát lại, trong đó có nội dung về phân chia địa hạt tống đạt của các văn phòng Thừa phát lại. Kết quả ngày 16/3/2018, Sở Tư pháp ban hành Thông báo số 303/TB-STP về địa hạt tống đạt văn bản của các văn phòng Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

- Kịp thời xin ý kiến của cấp trên (UBND tỉnh, Bộ Tư pháp): Đối với các vấn đề chưa được quy định cụ thể và trên cơ sở tổng hợp các khó khăn, vướng mắc của các Văn phòng Thừa phát lại, ngày 24/2/2017, Sở Tư pháp ban hành công văn số 259/BTTP-TPL về khó khăn, vướng mắc về Thừa phát lại gửi Bộ Tư pháp xin ý kiến chỉ đạo, xin ý kiến về việc triển khai đề án thực hiện Nghị quyết số 107/2016/NQ-QH của Quốc hội.

5. Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát

Trong quá trình quản lý, thường xuyên kiểm tra tình hình hoạt động của các Văn phòng Thừa phát lại, giải đáp các khó khăn, vướng mắc của các Thừa phát lại kịp thời. Trong công tác kiểm tra về tổ chức, hoạt động các Văn phòng thừa phát lại, Sở Tư pháp luôn phối hợp mời đại diện Tòa án nhân dân tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh và Cục Thi hành án dân sự tỉnh cùng tham gia Đoàn Kiểm tra. Từ năm 2016 đến nay, Sở đã chủ trì, phối hợp các ngành liên quan tiến hành 01 cuộc kiểm tra tình hình tổ chức và hoạt động của tất cả các Văn phòng Thừa phát lại, tham gia 01 cuộc giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh về Thừa phát lại, tham gia 01 cuộc kiểm tra của Cục Bổ trợ tư pháp – Bộ Tư pháp. Qua kiểm tra, giám sát thấy rằng các Văn phòng Thừa phát lại cơ bản đáp ứng các điều kiện về cơ sở vật chất, tình hình nhân sự ổn định, đảm bảo hoạt động. Về hoạt động chuyên môn, nhìn chung các văn phòng điều chấp hành quy định pháp luật, tuy nhiên trong quá trình hoạt động cũng phát sinh một số hạn chế như: Một số hồ sơ tống đạt quyết định thi hành án cho đương sự còn chậm; Hoạt động Tống đạt văn bản một số trường hợp chậm trả kết quả, có trường hợp tống đạt không đạt yêu cầu; Một số trường hợp hình thức vi bằng chưa đúng mẫu.

II. VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG THỪA PHÁT LẠI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG

1. Về tổ chức

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 05 Văn phòng Thừa phát lại được thành lập tại địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, thị xã Thuận An, thị xã Dĩ An, thị xã Tân Uyên, thị xã Bến Cát, (thành lập sớm nhất là VPTPL Dĩ An, thành lập ngày 17/01/2014, VPTPL Bến Cát thành lập ngày 26/12/2017).

Trên địa bàn tỉnh Bình Dương có 14 Thừa phát lại đang hành nghề tại 05 Văn phòng Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Các Thừa phát lại được đào tạo bài bản, có nhiều kinh nghiệm trong các mảng hoạt động hành nghề Thừa phát lại như tống đạt văn bản, thi hành án… Các Văn phòng Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh đều có trụ sở thuận lợi, trang thiết bị và cơ sở vật chất đầy đủ, đảm bảo đáp ứng quá trình hoạt động.

2. Kết quả hoạt động các Văn phòng thừa phát lại

- Trong giai đoạn thí điểm: Về tống đạt văn bản, giấy tờ theo yêu cầu của Tòa án và cơ quan Thi hành án dân sự đạt: 42.653 vụ việc, trong đó tống đạt văn bản, giấy tờ theo yêu cầu của cơ quan Tòa án là: 34.654 vụ việc và Thi hành án 7.999 vụ việc; Xác minh điều kiện Thi hành án: 78 vụ việc; Tổ chức thi hành bản án, quyết định: 27 vụ việc với giá trị Thi hành án về tiền là 9.568.819.605 và tài sản là 6682.5 m² đất; Lập vi bằng: 2.045  vụ việc. Tổng doanh thu : 7.904.400.000 đồng

- Năm 2016: Tống đạt văn bản, giấy tờ theo yêu cầu của Tòa án và cơ quan thi hành án dân sự: 10,124 văn bản, trong đó tống đạt văn bản, giấy tờ theo yêu cầu của cơ quan Tòa án là 8,581 văn bản và cơ quan Thi hành án  1,543 văn bản;; xác minh điều kiện thi hành án: 07 vụ việc; trực tiếp tổ chức thi hành bản án, quyết định: 06 vụ việc với giá trị Thi hành án về tiền là 285.660.000 và tài sản là 886 m2 đất; lập vi bằng: 3.171 vi bằng. Tổng Doanh thu: 7.800.093.000 đồng

- Năm 2017: Tống đạt văn bản, giấy tờ theo yêu cầu của Tòa án và cơ quan thi hành án dân sự: 21.515 văn bản, trong đó tống đạt văn bản, giấy tờ theo yêu cầu của cơ quan Tòa án là 17.078 văn bản và cơ quan Thi hành án 4.437 văn bản; xác minh điều kiện thi hành án: Chưa phát sinh; trực tiếp tổ chức thi hành bản án, quyết định: 05 vụ việc với giá trị thi hành án về tiền là 225.000.000 đồng, tài sản là quyền sử dụng đất với diện tích 5.206,4 m2 đất, 57 cây cao su, giảm 01 vụ việc so với năm 2016; lập vi bằng: 5.338 vi bằng. Tổng Doanh thu: 12.171.277.000 đồng.

- Năm 2018: Tống đạt văn bản, giấy tờ theo yêu cầu của Tòa án và cơ quan thi hành án dân sự: 22,506 văn bản, trong đó tống đạt văn bản, giấy tờ theo yêu cầu của cơ quan Tòa án là 21,479 văn bản và cơ quan Thi hành án 1,027 văn bản; Lập vi bằng: 5,534 vi bằng. Tổng doanh thu: 11,377,760,000 đồng.

- Từ 01/01/2019 đến 30/6/2019: Tống đạt văn bản, giấy tờ theo yêu cầu của Tòa án và cơ quan thi hành án dân sự: 15.387 văn bản, trong đó tống đạt văn bản, giấy tờ theo yêu cầu của cơ quan Tòa án là 15.313 văn bản và cơ quan Thi hành án 74 văn bản; Lập vi bằng: 2.275 vi bằng; Xác minh điều kiện thi hành án: 02 vụ việc; Tổ chức thi hành bản án, quyết định: 01 vụ việc với giá trị thi hành án về tiền là 1.232.194.000 đồng. Tổng Doanh thu: 4.395.142.000 đồng.

III. KẾT QUẢ TÍCH CỰC CỦA VIỆC THỰC HIỆN CHẾ ĐỊNH THỪA PHÁT LẠI TẠI TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Hoạt động của các Văn phòng thừa phát lại được xã hội, người dân đón nhận tích cực, khẳng định mô hình thừa phát lại ra đời là cần thiết và phù hợp đúng theo chủ trương xã hội hóa, chủ trương cải cách hành chính, cải cách tư pháp.

- Hoạt động Thừa phát lại đã góp phần giảm tải công việc của Tòa án và Cơ quan Thi hành án dân sự. Đối với Tòa án, việc tống đạt văn bản của Thừa phát lại đã giúp Tòa án tập trung vào việc xét xử, việc lập vi bằng giúp tạo lập nguồn chứng cứ góp phần bảo đảm cho việc xét xử khách quan, kịp thời và chính xác. Đối với Cơ quan Thi hành án dân sự, việc thực hiện các công việc về tống đạt văn bản thi hành án, xác minh điều kiện thi hành án, trực tiếp tổ chức thi hành án của Thừa phát lại đã nâng cao ý thức, trách nhiệm của các cơ quan thi hành án dân sự, tạo cơ chế vừa phối hợp, hỗ trợ vừa cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vực thi hành án.

- Việc thực hiện chế định Thừa phát lại đã góp phần nâng cao nhận thức không những đối với cơ quan nhà nước mà còn đối với người dân về một chủ trương mới của Đảng, Nhà nước. Việc lập vi bằng của Thừa phát lại đã tạo thêm một công cụ pháp lý để người dân tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong thực hiện các giao dịch dân sự và trong các quá trình tố tụng tư pháp. Bên cạnh đó, sự ra đời của các Văn phòng Thừa phát lại đã tạo điều kiện để người dân có thêm sự lựa chọn phù hợp với năng lực, điều kiện của cá nhân khi có yêu cầu thi hành án dân sự.

IV. KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC, NGUYÊN NHÂN VÀ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ

1. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân

- Về việc phân định nội dung, phạm vi lập vi bằng: Công văn số 4003/BTP-TCTHADS ngày 19/9/2014 của Tổng cục Thi hành án dân sự hướng dẫn một số nội dung trong hoạt động TPL đã nêu tương đối cụ thể phạm vi, thẩm quyền lập vi bằng. Tuy nhiên, trên thực tế, việc xác định các trường hợp không thuộc phạm vi lập vi bằng còn gặp nhiều khó khăn phân định giữa chứng thực chữ ký, công chứng và lập vi bằng trong một số trường hợp còn mơ hồ.  

- Về hồ sơ, tài liệu đính kèm theo vi bằng: 

Tại Khoản 2 Điều 27 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ (được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 của Chính phủ) quy định: "Kèm theo vi bằng có thể có hình ảnh, băng hình và các tài liệu chứng minh khác". Trên thực tế phát sinh các trường hợp lập vi bằng ghi nhận lời trình bày, cam kết hoặc sự tồn tại 01 văn bản giữa các bên mà nội dung chính nhắc đến các giấy tờ, văn bản, tài liệu khác. Để đảm bảo vi bằng "không ghi nhận các hành vi, sự kiện nhằm thực hiện các giao dịch dân sự trái pháp luật", Sở Tư pháp đã yêu cầu các Văn phòng Thừa phát lại đính kèm các tài liệu chứng minh, tuy nhiên theo quy định của pháp luật chưa quy định bắt buộc trong trường hợp này.

- Về xử lý các vi bằng không đủ điều kiện theo quy định nhưng đã được đăng ký tại Sở Tư pháp

Tại Khoản 5 Điều 26 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ (được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 của Chính phủ) quy định: "Trong thời hạn không quá 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được vi bằng, Sở Tư pháp phải vào sổ đăng ký vi bằng Thừa phát lại. Sở Tư pháp có quyền từ chối đăng ký nếu phát hiện thấy việc lập vi bằng không đúng thẩm quyền, không thuộc phạm vi lập vi bằng theo quy định tại Điều 25 của Nghị định này; vi bằng không được gửi đúng thời hạn để đăng ký theo quy định tại khoản 4, Điều 26 của Nghị định này. Việc từ chối phải được thông báo ngay bằng văn bản cho Văn phòng Thừa phát lại và người yêu cầu lập vi bằng trong đó nêu rõ lý do từ chối đăng ký".

Theo quy định trên, Sở Tư pháp có quyền từ chối đăng ký nếu phát hiện thấy việc lập vi bằng không đúng thẩm quyền, không thuộc phạm vi lập vi bằng theo quy định tại Điều 25 của Nghị định nhưng không quy định rõ thời hạn từ chối. Trên thực tế, một số vi bằng được đăng ký tại Sở Tư pháp, tuy nhiên trong quá trình quản lý, phát hiện có các căn cứ cho thấy vi bằng không đảm bảo các điều kiện về trình tự, thủ tục, thẩm quyền thì sẽ bị xử lý như thế nào? Hiện tại chưa có quy định về việc hủy vi bằng.

- Pháp luật chưa có quy định cụ thể về thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm đối với hoạt động Thừa phát lại, chỉ quy định chung chung các hình thức xử lý vi phạm đối với Thừa phát lại và Văn phòng Thừa phát, không quy định từng loại việc và mức độ vi phạm cụ thể. Ví dụ trường hợp Sở Tư pháp phát hiện nội dung lập vi bằng không đúng quy định pháp luật thì hậu quả pháp lý chỉ là vi bằng không được đăng ký và không có giá trị pháp lý, chưa có chế tài đảm bảo tính răn đe.

2. Đề xuất, kiến nghị

- Nghiên cứu hoàn thiện, khắc phục những bất cập trên thực tế và ghi nhận chính thức các quy định về Thừa phát lại trong văn bản quy phạm pháp luật ở tầm luật, để công tác quản lý nhà nước về Thừa phát lại đạt hiệu quả trên thực tế, đưa chế định Thừa phát lại đi sâu vào cuộc sống, góp phần hoàn thiện các mục tiêu, chiến lược cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước đề ra.

- Bộ Tư pháp có văn bản hướng dẫn các trường hợp bất cập cụ thể đã nêu trên trong thời gian chờ hoàn thiện pháp luật về Thừa phát lại.

- Sửa đổi, bổ sung Nghị định 110/2013/NĐ-CP (được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 67/2015/NĐ-CP ngày 14/8/2015) theo hướng quy định rõ các hành vi vi phạm của Thừa phát lại, Văn phòng Thừa phát lại và hình thức xử phạt cụ thể để đảm bảo tính răn đe./.

Thông tinFalseNguyễn Thị Vân Anh
Danh sách Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh (Tính đến ngày 31/7/2019)TinDanh sách Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh (Tính đến ngày 31/7/2019)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
8/6/2019 4:00 PMNoĐã ban hành
Danh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Danh sách các văn phòng thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương TinDanh sách các văn phòng thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương /Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/6/2019 5:00 PMNoĐã ban hành
Danh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Danh sách Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương (Tính đến ngày 31/5/2019)TinDanh sách Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương (Tính đến ngày 31/5/2019)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/6/2019 4:00 PMNoĐã ban hành
Danh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Tình hình triển khai Nghị quyết số 107/2015/QH13 trên địa bàn tỉnh Bình Dương – Kết quả đạt được và những khó khăn, vướng mắcBài viếtTình hình triển khai Nghị quyết số 107/2015/QH13 trên địa bàn tỉnh Bình Dương – Kết quả đạt được và những khó khăn, vướng mắc/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/20/2018 9:00 AMNoĐã ban hành

I. ĐỘI NGŨ THỪA PHÁT LẠI VÀ HỆ THỐNG VĂN PHÒNG THỪA PHÁT LẠI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG

1. Về tổ chức

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 05 Văn phòng Thừa phát lại được thành lập tại địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, thị xã Thuận An, thị xã Dĩ An, thị xã Tân Uyên, thị xã Bến Cát, (thành lập sớm nhất là VPTPL Dĩ An, thành lập ngày 17/01/2014, VPTPL Bến Cát thành lập ngày 26/12/2017).

Tỉnh đã có 36 Thừa phát lại, trong đó: 15 Thừa phát lại đang hành nghề tại các văn phòng Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh, các Thừa phát lại còn lại thuộc trường hợp chưa đăng ký hành nghề, chuyển hành nghề đến địa phương khác, nghỉ việc tại tổ chức hành nghề Thừa phát lại tại Bình Dương và miễn nhiệm hành nghề Thừa phát lại.

2. Kết quả hoạt động các Văn phòng thừa phát lại

- Năm 2016:​

+ Tống đạt văn bản, giấy tờ theo yêu cầu của Tòa án và cơ quan thi hành án dân sự: 10,124 văn bản; xác minh điều kiện thi hành án: 07 vụ việc; trực tiếp tổ chức thi hành bản án, quyết định: 06 vụ việc với giá trị Thi hành án về tiền là 285.660.000 và tài sản là 886 m2 đất; lập vi bằng: 3.171 vi bằng;

+ Doanh thu: Các Văn phòng Thừa phát lại đã thu được: 7.800.093.000 đồng, trong đó: chi phí lập vi bằng 6.587.580.000 đồng; chi phí tống đạt: 990.803.000 đồng; xác minh điều kiện thi hành án 121.000.000 đồng; trực tiếp tổ chức thi hành án: 100.710.000 đồng;

- Năm 2017:

+ Tống đạt văn bản, giấy tờ theo yêu cầu của Tòa án và cơ quan thi hành án dân sự: 21.515 văn bản, tăng 11.391 văn bản so với năm 2016; xác minh điều kiện thi hành án: Chưa phát sinh. So với năm 2016 giảm 07 việc; trực tiếp tổ chức thi hành bản án, quyết định: 05 vụ việc với giá trị thi hành án về tiền là 225.000.000 đồng, tài sản là quyền sử dụng đất với diện tích 5.206,4 m2 đất, 57 cây cao su, giảm 01 vụ việc so với năm 2016; lập vi bằng: 5.338 vi bằng, tăng 2.167 vi bằng so với năm 2016.

+ Doanh thu: Các Văn phòng Thừa phát lại đã thu được 12.171.277.000 đồng, tăng 4.371.184.000 đồng so với năm 2016, trong đó: chi phí lập vi bằng 10.174.896.000 đồng; chi phí tống đạt: 1.889.631.000 đồng; xác minh điều kiện thi hành án 0 đồng; trực tiếp tổ chức thi hành án: 106.750.000 đồng.

- Từ 01/01/2018 đến 30/10/2018:

+ Tống đạt văn bản, giấy tờ theo yêu cầu của Tòa án và cơ quan thi hành án dân sự: 16.209 văn bản; xác minh điều kiện thi hành án, tổ chức thi hành bản án, quyết định: Chưa phát sinh; Lập vi bằng: 4991 vi bằng.

+ Doanh thu: Các Văn phòng Thừa phát lại đã thu được 7.407.676.000 đồng, , trong đó: chi phí lập vi bằng 5.981.550.000 đồng; chi phí tống đạt: 1.426.126.000 đồng; xác minh điều kiện thi hành án, trực tiếp tổ chức thi hành án: 0 đồng.

II. TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI NGHỊ QUYẾT SỐ 107/2015/NQ-QH13

1. Việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 107/2015/NQ-QH13

Thực hiện Nghị quyết số 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 về việc thực hiện chế định Thừa phát lại và Quyết định số 101/QĐ-TTg ngày 14/01/2016 của Thủ tướng chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 107/2015/QH13, Sở Tư pháp đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành ban hành Kế hoạch số 905/KH-UBND ngày 30/3/2016 triển khai thực hiện Nghị quyết 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 của Quốc hội về việc thực hiện chế định Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

 Sở Tư pháp cũng đã xây dựng dự thảo đề án thực hiện chế định Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương, thay thế Đề án Thừa phát lại trong giai đoạn thí điểm tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh gửi Bộ Tư pháp phê duyệt, đưa chế định Thừa phát lại thực hiện chính thức trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Trong đó, xác định lộ trình phát triển các Văn phòng Thừa phát lại đến năm 2020 đảm bảo tất cả các địa bàn cấp huyện đều có Văn phòng Thừa phát lại.

Ngày 25/8/2017, Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định số 1334/QĐ-BTP ngày về phê duyệt "Đề án thành lập Văn phòng Thừa phát lại của tỉnh Bình Dương giai đoạn 2017-2018". Ngày  05/10/2017 , Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Công văn số 4444/UBND-NC về việc triển khai thực hiện Quyết định phê duyệt đề án thừa phát lại giai đoạn 2017 – 2018. Trên cơ sở đó, Sở Tư pháp đã thực hiện các trình tự, thủ tục thành lập thêm 01 tổ chức hành nghề thừa trên địa bàn tỉnh theo đề án được phê duyệt. Kết quả: Ngày 26/12/2017, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 3629/QĐ-UBND cho phép thành lập theo Văn phòng Thừa phát lại Bến Cát. Trên cơ sở đó, ngày 01/2/2018, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương cấp Giấy Đăng ký hoạt động số 05/ĐKHĐ/TP.

2. Về công tác tuyên truyền, phổ biến về Nghị quyết số 107/2015/NQ-QH13 và các nội dung, các văn bản liên quan về thừa phát lại  

Sở Tư pháp đã triển khai, tuyên truyền phổ biến sâu rộng chế định thừa phát lại, các nội dung văn bản liên quan thừa phát lại, về kế hoạch triển khai Nghị quyết 107/2015/QH13 trên toàn tỉnh và bằng nhiều hình thức, cụ thể:

- Ủy ban nhân dân tỉnh phối hợp tổ chức Hội nghị trực tuyến triển khai Nghị quyết số 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 của Quốc hội về việc thực hiện chế định Thừa phát lại.

- Trong năm 2016, năm 2017, Sở Tư pháp đã phối hợp Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh thực hiện các chương trình "pháp luật và cuộc sống" với số chuyên đề về Thừa phát lại; phối hợp thực hiện tư vấn trực tiếp qua đài phát thanh; biên soạn phát hành 40.000 tờ gấp pháp luật về chế định Thừa phát lại. Đồng thời, Sở Tư pháp đã đăng nhiều tin, bài về Thừa phát lại trên Báo Bình Dương, Trang thông tin điện tử của Sở và Tổng Cục thi hành án dân sự; Sở Tư pháp đã xây dựng chuyên trang về Thừa phát lại trên trang tin điện tử của Sở, qua đó đã đăng tải các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản chỉ đạo của Trung ương và địa phương về Thừa phát lại; tin tức hoạt động của Thừa phát lại và các thủ tục hành chính có liên quan.

- Phòng Tư pháp, các Văn phòng Thừa phát lại cũng đã tích cực, chủ động in tờ rơi, hỏi đáp có nội dung về các hoạt động của Thừa phát lại để cấp phát miễn phí cho người dân.

3. Công tác xây dựng và giải quyết thủ tục hành chính

Sở Tư pháp công khai đầy đủ, kịp thời các thủ tục hành chính liên quan đến lĩnh vực Thừa phát lại thuộc phạm vi, thẩm quyền giải quyết của Sở Tư pháp như: Cấp giấy đăng ký hoạt động, thay đổi nội dung đăng ký hoạt động, chuyển hồ sơ đề nghị bổ nhiệm Thừa phát lại, cấp thẻ Thừa phát lại…đồng thời giải quyết đúng pháp luật cho các cá nhân, tổ chức đến liên hệ thực hiện thủ tục hành chính. Trong năm 2017, Sở Tư pháp đã sửa đổi, bổ sung các thủ tục hành chính về Thừa phát lại cho phù hợp với các quy định pháp luật về Phí và Lệ phí; đồng thời đăng tải đầy đủ, lên trang dịch vụ công của tỉnh và Trang thông tin điện tử của Sở.

4. Công tác hướng dẫn nghiệp vụ, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc

- Trong quá trình hoạt động, Sở Tư pháp thường xuyên theo dõi, nắm bắt tình hình tổ chức, hoạt động, khó khăn, vướng mắc của lĩnh vực Thừa phát lại, có sự hướng dẫn nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong hoạt động Thừa phát lại qua các hình thức điện thoại, thư điện tử, tổ chức họp với các sở, ngành có liên quan và các Văn phòng Thừa phát lại; ban hành các văn bản hướng dẫn, như:

+ Đối với hoạt động lập vi bằng, Sở Tư pháp đã ban hành các văn bản như sau: Năm 2016, ban hành Công văn số 1165/STP-BTTP ngày 30/9/2016 về lập vi bằng; Năm 2017, ban hành Công văn số 1590/STP-BTTP ngày 10/11/2017 về một số lưu ý hoạt động công chứng, chứng thực và Thừa phát lại đề nghị các Văn phòng Thừa phát lại chú ý đảm bảo một số nội dung trong việc lập vi bằng, giải thích rõ ràng quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc yêu cầu lập vi bằng, giá trị pháp lý của vi bằng; Năm 2018, ban hành Công văn số 1050/STP-BTTP ngày 12/7/2018 về hướng dẫn hoạt động Thừa phát lại

+ Đối với hoạt động tống đạt văn bản, xác minh điều kiện thi hành án, trực tiếp tổ chức thi hành án: Sở có sự trao đổi, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan thi hành án, tòa án, tổ chức các cuộc họp liên ngành tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc như việc việc chậm chuyển giao văn bản và chậm thanh toán của một số cơ quan Tòa án và Thi hành án dân sự tại địa phương, việc phân chia địa hạt tống đạt văn bản. Đến nay, tình hình chuyển giao và thanh toán chi phí tống đạt đã ổn định. Ngày 09/3/2018, Sở Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan, ngành có liên quan tổ chức cuộc họp đánh giá hoạt động Thừa phát lại, trong đó có nội dung về phân chia địa hạt tống đạt của các văn phòng Thừa phát lại. Kết quả ngày 16/3/2018, Sở Tư pháp ban hành Thông báo số 303/TB-STP về địa hạt tống đạt văn bản của các văn phòng Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

+ Kịp thời xin ý kiến của cấp trên (UBND tỉnh, Bộ Tư pháp): Đối với các vấn đề chưa được quy định cụ thể và trên cơ sở tổng hợp các khó khăn, vướng mắc của các Văn phòng Thừa phát lại, ngày 24/2/2017, Sở Tư pháp ban hành công văn số 259/BTTP-TPL về khó khăn, vướng mắc về Thừa phát lại gửi Bộ Tư pháp xin ý kiến chỉ đạo, xin ý kiến về việc triển khai đề án thực hiện Nghị quyết số 107 của Quốc hội.

5. Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát

Trong quá trình quản lý, thường xuyên kiểm tra tình hình hoạt động của các Văn phòng Thừa phát lại, giải đáp các khó khăn, vướng mắc của các Thừa phát lại kịp thời. Trong công tác kiểm tra về tổ chức, hoạt động các Văn phòng thừa phát lại, Sở Tư pháp luôn phối hợp mời đại diện Tòa án nhân dân tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh và Cục Thi hành án dân sự tỉnh cùng tham gia Đoàn Kiểm tra. Từ năm 2016 đến nay, Sở đã chủ trì, phối hợp các ngành liên quan tiến hành 01 cuộc kiểm tra tình hình tổ chức và hoạt động của tất cả các Văn phòng Thừa phát lại, tham gia 01 cuộc giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh về Thừa phát lại, tham gia 01 cuộc kiểm tra của Cục Bổ trợ tư pháp – Bộ Tư pháp. Qua kiểm tra, giám sát thấy rằng các Văn phòng Thừa phát lại cơ bản đáp ứng các điều kiện về cơ sở vật chất, tình hình nhân sự ổn định, đảm bảo hoạt động. Về hoạt động chuyên môn, nhìn chung các văn phòng điều chấp hành quy định pháp luật, tuy nhiên trong quá trình hoạt động cũng phát sinh một số hạn chế, thiếu sót, như: Một số hồ sơ tống đạt quyết định thi hành án cho đương sự còn chậm, chưa đúng theo quy định; Hoạt động Tống đạt văn bản  một số trường hợp chậm trả kết quả, có trường hợp tống đạt không đạt yêu cầu; Một số trường hợp hình thức vi bằng chưa đúng mẫu.

Kết quả tích cực của việc thực hiện Nghị quyết 107/2015/QH13  

 

- Hoạt động của các Văn phòng thừa phát lại được xã hội, người dân đón nhận tích cực, khẳng định mô hình thừa phát lại ra đời là cần thiết và phù hợp đúng theo chủ trương xã hội hóa, chủ trương cải cách hành chính, cải cách tư pháp.

- Hoạt động Thừa phát lại đã góp phần giảm tải công việc của Tòa án và Cơ quan Thi hành án dân sự. Đối với Tòa án, việc tống đạt văn bản của Thừa phát lại đã giúp Tòa án tập trung vào việc xét xử, việc lập vi bằng giúp tạo lập nguồn chứng cứ góp phần bảo đảm cho việc xét xử khách quan, kịp thời và chính xác. Đối với Cơ quan Thi hành án dân sự, việc thực hiện các công việc về tống đạt văn bản thi hành án, xác minh điều kiện thi hành án, trực tiếp tổ chức thi hành án của Thừa phát lại đã nâng cao ý thức, trách nhiệm của các cơ quan thi hành án dân sự, tạo cơ chế vừa phối hợp, hỗ trợ vừa cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vực thi hành án.

- Việc thực hiện chế định Thừa phát lại đã góp phần nâng cao nhận thức không những đối với cơ quan nhà nước mà còn đối với người dân về một chủ trương mới của Đảng, Nhà nước. Việc lập vi bằng của Thừa phát lại đã tạo thêm một công cụ pháp lý để người dân tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong thực hiện các giao dịch dân sự và trong các quá trình tố tụng tư pháp. Bên cạnh đó, sự ra đời của các Văn phòng Thừa phát lại đã tạo điều kiện để người dân có thêm sự lựa chọn phù hợp với năng lực, điều kiện của cá nhân khi có yêu cầu thi hành án dân sự.

III. KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC, NGUYÊN NHÂN VÀ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ

1. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân

- Về việc phân định nội dung, phạm vi lập vi bằng: Công văn số 4003/BTP-TCTHADS ngày 19/9/2014 của Tổng cục Thi hành án dân sự hướng dẫn một số nội dung trong hoạt động TPL đã nêu tương đối cụ thể phạm vi, thẩm quyền lập vi bằng. Tuy nhiên, trên thực tế, việc xác định các trường hợp không thuộc phạm vi lập vi bằng còn gặp nhiều khó khăn phân định giữa chứng thực chữ ký, công chứng và lập vi bằng trong một số trường hợp còn mơ hồ.  

- Về hồ sơ, tài liệu đính kèm theo vi bằng: 

Tại Khoản 2 Điều 27 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ (được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 của Chính phủ) quy định: "Kèm theo vi bằng có thể có hình ảnh, băng hình và các tài liệu chứng minh khác". Trên thực tế phát sinh các trường hợp lập vi bằng ghi nhận lời trình bày, cam kết hoặc sự tồn tại 01 văn bản giữa các bên mà nội dung chính nhắc đến các giấy tờ, văn bản, tài liệu khác. Để đảm bảo vi bằng "không ghi nhận các hành vi, sự kiện nhằm thực hiện các giao dịch dân sự trái pháp luật", Sở Tư pháp đã yêu cầu các Văn phòng Thừa phát lại đính kèm các tài liệu chứng minh, tuy nhiên theo quy định của pháp luật chưa quy định bắt buộc trong trường hợp này.

- Về xử lý các vi bằng không đủ điều kiện theo quy định nhưng đã được đăng ký tại Sở Tư pháp

Tại Khoản 5 Điều 26 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ (được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 của Chính phủ) quy định: "Trong thời hạn không quá 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được vi bằng, Sở Tư pháp phải vào sổ đăng ký vi bằng Thừa phát lại. Sở Tư pháp có quyền từ chối đăng ký nếu phát hiện thấy việc lập vi bằng không đúng thẩm quyền, không thuộc phạm vi lập vi bằng theo quy định tại Điều 25 của Nghị định này; vi bằng không được gửi đúng thời hạn để đăng ký theo quy định tại khoản 4, Điều 26 của Nghị định này. Việc từ chối phải được thông báo ngay bằng văn bản cho Văn phòng Thừa phát lại và người yêu cầu lập vi bằng trong đó nêu rõ lý do từ chối đăng ký".

Theo quy định trên, Sở Tư pháp có quyền từ chối đăng ký nếu phát hiện thấy việc lập vi bằng không đúng thẩm quyền, không thuộc phạm vi lập vi bằng theo quy định tại Điều 25 của Nghị định nhưng không quy định rõ thời hạn từ chối. Trên thực tế, một số vi bằng được đăng ký tại Sở Tư pháp, tuy nhiên trong quá trình quản lý, phát hiện có các căn cứ cho thấy vi bằng không đảm bảo các điều kiện về trình tự, thủ tục, thẩm quyền thì sẽ bị xử lý như thế nào? Hiện tại chưa có quy định về việc hủy vi bằng.

- Pháp luật chưa có quy định cụ thể về thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm đối với hoạt động Thừa phát lại, chỉ quy định chung chung các hình thức xử lý vi phạm đối với Thừa phát lại và Văn phòng Thừa phát, không quy định từng loại việc và mức độ vi phạm cụ thể. Ví dụ trường hợp Sở Tư pháp phát hiện nội dung lập vi bằng không đúng quy định pháp luật thì hậu quả pháp lý chỉ là vi bằng không được đăng ký và không có giá trị pháp lý, chưa có chế tài đảm bảo tính răn đe.

2. Đề xuất, kiến nghị

- Hoàn thiện thể chế pháp lý về lĩnh vực Thừa phát lại, Bộ Tư pháp có văn bản hướng dẫn các trường hợp bất cập cụ thể đã nêu trên trong thời gian chờ đợi pháp luật về Thừa phát lại hoàn thiện.

- Sửa đổi, bổ sung Nghị định 110/2013/NĐ-CP (được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 67/2015/NĐ-CP ngày 14/8/2015) theo hướng quy định rõ các hành vi vi phạm của Thừa phát lại, Văn phòng Thừa phát lại và hình thức xử phạt cụ thể để đảm bảo tính răn đe.

- Xem xét phê duyệt toàn bộ Đề án Thực hiện chế định Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương để việc việc triển khai thực hiện đảm bảo theo đúng lộ trình đã đề ra./.

 

Thông tinFalseNguyễn Thị Vân Anh
Khai trương Văn phòng Thừa phát lại Bến CátTinKhai trương Văn phòng Thừa phát lại Bến Cát/CMSImageNew/2018-03/khaitruongtplbencat1_Key_12032018110042.jpg
3/12/2018 12:00 PMYesĐã ban hành

​     Thực hiện Quyết định số 1334/QĐ-BTP ngày 25/8/2017 của Bộ Tư pháp về phê duyệt “Đề án thành lập Văn phòng Thừa phát lại của tỉnh Bình Dương giai đoạn 2017-2018” và Công văn số 4444/UBND-NC ngày 05/10/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc triển khai thực hiện Quyết định phê duyệt đề án thừa phát lại giai đoạn 2017 – 2018, ngày 26/12/2017, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Quyết định số 3629/QĐ-UBND cho phép thành lập Văn phòng Thừa phát lại Bến Cát. Trên cơ sở đó, ngày 01/2/2018, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương cấp Giấy Đăng ký hoạt động số 05/ĐKHĐ/TP cho Văn phòng Thừa phát lại Bến Cát

khaitruongtplbencat1.jpg

khaitruongtplbencat2.jpg

     Ngày 06/3/2018, Văn phòng Thừa phát lại Bến Cát tiến hành khai trương, đi vào hoạt động chính thức. Đến dự Lễ Khai trương có sự tham dự của ông Nguyễn Thanh Bình – Cục trưởng Cục Công tác phía Nam – Bộ Tư pháp, bà Nguyễn Anh Hoa – Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương, cùng các đại diện là lãnh đạo Đảng, Ủy ban nhân dân thị xã Bến Cát, các cơ quan Viện kiểm sát, Tòa án, Thi hành án dân sự cấp huyện, các Văn phòng Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh…

khaitruongtplbencat3.jpg

     Văn phòng Thừa phát lại Bến Cát là văn phòng Thừa phát lại thứ 5 trong tổng số các tổ chức Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương và là Văn phòng đầu tiên của tỉnh được thành lập theo Nghị Quyết số 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 của Quốc hội về việc thực hiện chế định Thừa phát lại (triển khai thực hiện chính thức trên phạm vi cả nước). Việc thành lập và đi vào hoạt động của Văn phòng Thừa phát lại Bến Cát, sẽ tiếp tục góp phần tích cực vào việc giảm tải một phần công việc cho hệ thống cơ quan nhà nước (cơ quan tòa án, thi hành án dân sự), đồng thời cho thấy hiệu quả, sự cần thiết và đã khẳng định mô hình Thừa phát lại phù hợp với chủ trương cải cách hành chính, cải cách tư pháp.

Vân Anh – Phòng Bổ trợ tư pháp.   


Tin ngành tư pháp; Thông tinFalseNguyễn Thị Vân Anh
Tình hình tổ chức và hoạt động Thừa phát lại  trên địa bàn tỉnh Bình Dương năm 2017TinTình hình tổ chức và hoạt động Thừa phát lại  trên địa bàn tỉnh Bình Dương năm 2017/CMSImageNew/2018-12/tinhhinhtochucvahoatdongtpl_Key_31122018174705.jpg
1/20/2018 8:00 AMNoĐã ban hành

tinhhinhtochucvahoatdongtpl.jpg

I. CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THỪA PHÁT LẠI

1. Việc ban hành các văn bản triển khai thực hiện chế định Thừa phát lại

Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 của Quốc hội về việc thực hiện chế định Thừa phát lại, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Đề án Thừa phát lại trình Bộ Tư pháp. Ngày 25/8/2017, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1334/QĐ-BTP Phê duyệt Đề án thành lập Văn phòng Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương giai đoạn 2017 – 2018. Ngày 05/10/2017, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Công văn số 4444/UBND-NC về việc triển khai thực hiện quyết định Phê duyệt Đề án thành lập Văn phòng Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương giai đoạn 2017 – 2018.

Trên cơ sở các văn bản nêu trên, ngày 01/11/2017, Sở Tư pháp ban hành Thông báo số 1542/TB-STP về việc tiếp nhận hồ sơ thành lập Văn phòng Thừa phát lại. Sau khi tiếp nhận hồ sơ, Sở Tư pháp đã thực hiện các trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, kết quả đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh cho phép thành lập mới 01 Văn phòng Thừa phát lại theo đúng Đề án đã được phê duyệt.

Trong năm 2017, để tăng cường công tác quản lý nhà nước về Thừa phát lại, Sở Tư pháp ban hành Công văn số 1590/STP-BTTP ngày 10/11/2017 về một số lưu ý về hoạt động công chứng, chứng thực và thừa phát lại, theo đó lưu ý các Văn phòng về một số nội dung lập vi bằng liên quan đến diện tích đất tối thiểu cho tách thửa theo Quyết định số 25/2017/QĐ-UBND ngày 27/9/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc quy định diện tích tối thiểu được phép tách thửa đối với các loại đất trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

2. Về công tác tuyên truyền phổ biến

Nhằm tiếp tục tuyên truyền sâu rộng chế định Thừa phát lại, trong năm 2017, Sở Tư pháp tiếp tục duy trì chuyên mục Thừa phát lại trên Trang thông tin điện tử của Sở, thường xuyên cập nhật các thông tin mới về Thừa phát lại. Ngoài ra, đã phát hành 20.000 tờ gấp pháp luật về Thừa phát lại, trong đó trọng tâm giới thiệu về các loại việc được lập vi bằng.

3. Công tác giải quyết các thủ tục hành chính và thanh tra, kiểm tra

Tiếp tục công khai và giải quyết các thủ tục hành chính liên quan đến lĩnh vực Thừa phát lại thuộc phạm vi, thẩm quyền giải quyết của Sở Tư pháp như: Cấp giấy đăng ký hoạt động, thay đổi nội dung đăng ký hoạt động, chuyển hồ sơ đề nghị bổ nhiệm Thừa phát lại, cấp thẻ Thừa phát lại…một cách nhanh chóng, kịp thời, đúng pháp luật cho các cá nhân, tổ chức đến liên hệ thực hiện thủ tục. Trong năm 2017, Sở Tư pháp đã sửa đổi, bổ sung các thủ tục hành chính về Thừa phát lại cho phù hợp với các quy định pháp luật về Phí và Lệ phí; đồng thời đăng tải đầy đủ, kịp thời lên trang dịch vụ công của tỉnh và Trang thông tin điện tử của Sở.

Từ ngày 01/1/2017 đến 31/12/2017, Sở đã thực hiện 15 thủ tục hành chính về Thừa phát lại.

Công tác thanh tra, kiểm tra: Trong quá trình quản lý, thường xuyên kiểm tra tình hình hoạt động của các Văn phòng Thừa phát lại, giải đáp các khó khăn, vướng mắc của các Thừa phát lại kịp thời.

Công tác giải quyết phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo: Trong năm 2017, không phát sinh phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo.

II. TÌNH HÌNH TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG THỪA PHÁT LẠI

1. Về đội ngũ Thừa phát lại và hệ thống các Văn phòng Thừa phát lại

Từ ngày 01/01/2017 đến ngày 31/12/2017, trên địa bàn tỉnh Bình Dương có 21 Thừa phát lại, trong đó: 16 Thừa phát lại đang hành nghề tại 04 Văn phòng Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương, 03 Thừa phát lại đã nghỉ việc, 02 Thừa phát lại bổ nhiệm nhưng chưa hành nghề (01 Thừa phát lại đã hết thời hạn 06 tháng, 01 Thừa phát lại còn thời hạn)

Ngày 26/12/2017, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Quyết định số 3629/QĐ-UBND về việc cho phép thành lập Văn phòng Thừa phát lại Bến Cát; hiện tại Văn phòng đang hoàn thiện các thủ tục đăng ký hoạt động để đi vào hoạt động trong thời gian sớm nhất.

2. Kết quả hoạt động của các Văn phòng Thừa phát lại (tính từ ngày 01/01/2017 đến 31/12/2017)

a) Số lượng các vụ việc

- Tống đạt văn bản, giấy tờ theo yêu cầu của Tòa án và cơ quan thi hành án dân sự: 21.515 văn bản, tăng 11.391 văn bản so với năm 2016 (tống đạt cho Tòa án nhân dân, Chi cục Thi hành án dân sự các địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, thị xã Thuận An, Dĩ An và Tân Uyên; Tòa án nhân dân tỉnh và Cục Thi hành án dân sự tỉnh), trong đó tống đạt văn bản, giấy tờ theo yêu cầu của cơ quan Tòa án là 17.078 văn bản và cơ quan Thi hành án 4.437 văn bản;

- Xác minh điều kiện thi hành án: Chưa phát sinh. So với năm 2016 giảm 07 việc;

- Tổ chức thi hành bản án, quyết định: 05 vụ việc với giá trị thi hành án về tiền là 225.000.000 đồng, tài sản là quyền sử dụng đất với diện tích 5.206,4 m2 đất, 57 cây cao su, giảm 01 vụ việc so với năm 2016;

- Lập vi bằng: 5.338 vi bằng, tăng 2.167 vi bằng so với năm 2016.

b) Doanh thu

Các Văn phòng Thừa phát lại đã thu được: 12.171.277.000 đồng, tăng 4.371.184.000 đồng so với năm 2016, trong đó: chi phí lập vi bằng 10.174.896.000 đồng; chi phí tống đạt: 1.889.631.000 đồng (1.532.309.000 đồng của Tòa án và 357.322.000 đồng của cơ quan thi hành án dân sự); xác minh điều kiện thi hành án 0 đồng; trực tiếp tổ chức thi hành án: 106.750.000 đồng.

III. NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CHUNG

1. Thuận lợi

Được sự quan tâm, chỉ đạo của Bộ Tư pháp, Tỉnh ủy, UBND tỉnh và sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, các cấp và các đơn vị có liên quan, nhìn chung công tác triển khai thực hiện chế định Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh được đồng bộ, thống nhất và đạt hiệu quả như sau:

- Công tác quán triệt, tuyên truyền phổ biến về chủ trương của Đảng và Nhà nước về việc thực hiện chế định Thừa phát lại và các văn bản quy phạm pháp luật về Thừa phát lại được các ngành, các cấp chú trọng thực hiện, qua đó đã góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức và nhân dân về mục đích, ý nghĩa của chủ trương này, về chức năng, nhiệm vụ của Thừa phát lại, tạo được sự thống nhất trong nhận thức và hành động của các ngành, các cấp về triển khai chế định Thừa phát lại ở địa phương; số lượng tổ chức, cá nhân tin tưởng, sử dụng dịch vụ Thừa phát lại ngày càng tăng.

- Phần lớn các cơ quan, đơn vị có liên quan phối hợp tốt trong các hoạt động của Thừa phát lại như tống đạt, công tác thi hành án và xác minh điều kiện thi hành án.

- Chế định Thừa phát lại đã được người dân đón nhận tích cực, khẳng định mô hình Thừa phát lại phù hợp với chủ trương cải cách hành chính, cải cách tư pháp. Việc thực hiện chế định Thừa phát lại góp phần nâng cao nhận thức của cơ quan, tổ chức, nhân dân về chủ trương mới của Đảng, Nhà nước.

2. Khó khăn

- Về việc phân định nội dung, phạm vi lập vi bằng: Hiện tại, các văn bản pháp luật hướng dẫn về nội dung, phạm vi lập vi bằng đã có, tuy nhiên trên thực tế các nội dung lập vi bằng rất đa dạng, còn nhiều cách hiểu, quan điểm khác nhau về phạm vi lập vi bằng giữa các địa phương; chưa có một văn bản thống nhất chung trên toàn quốc, từ đó dẫn đến việc xác định các trường hợp không thuộc phạm vi lập vi bằng còn gặp nhiều khó khăn, ranh giới phân định giữa chứng thực chữ ký, công chứng và lập vi bằng trong một số trường hợp còn khó khăn.  

- Pháp luật về Thừa phát lại chỉ quy định chung các hình thức xử lý vi phạm đối với Thừa phát lại và Văn phòng Thừa phát, tuy nhiên lại không quy định từng loại việc và mức độ vi phạm cụ thể. Ví dụ trong trường hợp Sở Tư pháp phát hiện nội dung lập vi bằng không đúng quy định pháp luật hoặc các sai phạm của các Thừa phát lại, Văn phòng Thừa phát lại trong việc lập vi bằng, hậu quả pháp lý chỉ dừng lại ở việc vi bằng không có giá trị pháp lý, chưa có chế tài đảm bảo tính răn đe.

- Về công tác lưu trữ: Hiện tại vi bằng sau khi đăng ký sẽ được lưu trữ 01 bản tại Sở Tư pháp. Số lượng vi bằng ngày càng nhiều (trung bình mỗi tháng 444 vi bằng), mỗi vi bằng thường đính kèm tài liệu, văn bản, giấy tờ nên độ dày của các vi bằng khá lớn, pháp luật hiện hành chưa có quy định cụ thể về chế độ và kinh phí lưu trữ vi bằng.

IV. ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ

1. Các Bộ, ngành Trung ương có liên quan tiếp tục chỉ đạo các cơ quan, đơn vị theo hệ thống ngành dọc chủ động, tích cực thực hiện các nhiệm vụ thuộc ngành mình nhằm góp phần thực hiện thành công việc thực hiện chế định Thừa phát lại tại địa phương.

2. Nghiên cứu hoàn thiện, khắc phục những bất cập trên thực tế và ghi nhận chính thức các quy định về Thừa phát lại trong văn bản quy phạm pháp luật ở tầm luật, để công tác quản lý nhà nước về Thừa phát lại đạt hiệu quả trên thực tế, đưa chế định Thừa phát lại đi sâu vào cuộc sống, góp phần hoàn thiện các mục tiêu, chiến lược cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước đề ra.

3. Sửa đổi, bổ sung Nghị định 110/2013/NĐ-CP (được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 67/2015/NĐ-CP ngày 14/8/2015) theo hướng quy định rõ các hành vi vi phạm của Thừa phát lại, Văn phòng Thừa phát lại và hình thức xử phạt cụ thể để đảm bảo tính răn đe; đồng thời có văn bản hướng dẫn cụ thể về nội dung, phạm vi lập vi bằng thống nhất trên toàn quốc.

4. Sửa đổi quy định "Vi bằng lập thành 03 bản chính: 01 bản giao người yêu cầu; 01 bản gửi Sở Tư pháp để đăng ký trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày lập vi bằng; 01 bản lưu trữ tại văn phòng Thừa phát lại theo quy định của pháp luật về chế độ lưu trữ đối với văn bản công chứng" theo hướng để các Thừa phát lại tự chịu trách nhiệm về tính pháp lý của vi bằng do mình lập và lưu trữ tại Văn phòng Thừa phát lại, tương tự như quy định pháp luật về công chứng.

5. Tổ chức tọa đàm về công tác quản lý nhà nước về Thừa phát lại. 


Thông tinFalseNguyễn Thị Vân Anh
Lễ trao quyết định cho phép thành lập văn phòng Thừa phát lại Bến CátTinLễ trao quyết định cho phép thành lập văn phòng Thừa phát lại Bến Cát/CMSImageNew/2018-01/tpl_bencat_2018_hdd_Key_09012018152300.jpg
1/9/2018 3:00 PMNoĐã ban hành

​Trao quyết ​định cho phép thành lập văn phòng Thừa phát lại Bến Cát

Thực hiện Quyết định số 1334/QĐ-BTP ngày 25/8/2017 của Bộ Tư pháp về phê duyệt "Đề án thành lập Văn phòng Thừa phát lại của tỉnh Bình Dương giai đoạn 2017-2018" và Công văn số 4444/UBND-NC ngày 05/10/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc triển khai thực hiện Quyết định phê duyệt đề án thừa phát lại giai đoạn 2017 – 2018, Sở Tư pháp đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh cho phép thành lập Văn phòng Thừa phát lại Bến Cát theo đúng trình tự, thủ tục theo quy định. Kết quả, ngày 26/12/2017, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 3629/QĐ-UBND về việc cho phép thành lập Văn phòng Thừa phát lại Bến Cát.

tpl_bencat_2018_1.jpg 

Ngày 04/01/2018, Sở Tư pháp tiến hành trao Quyết định cho Văn phòng Thừa phát lại Bến Cát. Về thành phần tham dự gồm có: Bà Nguyễn Anh Hoa – Giám đốc Sở Tư pháp, phòng Bổ trợ tư pháp và các thành viên hợp danh của Văn phòng Thừa phát lại Bến Cát.

tpl_bencat_2018_2.jpg 

Bà Nguyễn Anh Hoa chúc mừng và trao Quyết định cho các thành viên. Cũng trong Buổi trao quyết định, bà Hoa đề nghị Văn phòng Thừa phát lại Bến Cát trong quá trình hoạt động sẽ chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về Thừa phát lại để góp phần ngày càng nâng cao uy tín, vai trò của Thừa phát lại, đóng góp vào kết quả chung của hoạt động Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh nói riêng và cả nước nói chung. Về phía Sở Tư pháp, sẽ tạo điều kiện và hỗ trợ tốt nhất cho Văn phòng.

tpl_bencat_2018_3.jpg 

Bà Chu Thị Ngọc Duyên – Trưởng Văn phòng đại diện phát biểu cảm ơn sự quan tâm, tạo điều kiện của Ủy ban nhân dân tỉnh và Sở Tư pháp đối với Văn phòng; đồng thời cam kết sẽ tuân thủ đúng các quy định pháp luật trong quá trình hành nghề để góp phần xây dựng hình ảnh, uy tín của đội ngũ Thừa phát lại tỉnh nhà./.

Phòng Bổ trợ Tư pháp


Tin ngành tư pháp; Thông tinFalseNguyễn Thị Vân Anh
Tình hình tổ chức và hoạt động Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương năm 2016TinTình hình tổ chức và hoạt động Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương năm 2016/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
5/15/2017 4:00 PMNoĐã ban hành

I. CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THỪA PHÁT LẠI

1. Việc ban hành các văn bản triển khai thực hiện chế định Thừa phát lại

Để triển khai có hiệu quả Nghị quyết 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 của Quốc hội về việc thực hiện chế định Thừa phát lại, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 905/KH-UBND ngày 30/3/2016 triển khai thực hiện Nghị quyết 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 của Quốc hội về việc thực hiện chế định Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

Trên cơ sở Kế hoạch số 905/KH-UBND ngày 30/3/2016, Sở Tư pháp tham mưu xây dựng Đề án Thừa phát lại trình Bộ Tư pháp phê duyệt.

Trong năm 2016, để tăng cường công tác quản lý nhà nước về Thừa phát lại,Sở Tư pháp ban hành các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ các mặt công tác của Thừa phát lại.

2. Về công tác tuyên truyền phổ biến

 Sau khi Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành kế hoạch số 905/KH-UBND ngày 30/3/2016, Sở Tư pháp đã triển khai, tuyên truyền đến các Văn phòng Thừa phát lại trên toàn tỉnh và đăng tải trên trang thông tin điện tử của Sở Tư pháp.

Ngày 11/7/2016, Ủy ban nhân dân tỉnh đã phối hợp với Bộ Tư pháp tổ chức Hội nghị trực tuyến triển khai Nghị quyết 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 của Quốc hội về việc thực hiện chế định Thừa phát lại.

Trong năm 2016, Sở Tư pháp đã phối hợp với Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh thực hiện chương trình "pháp luật và cuộc sống" với 03 số chuyên đề về Thừa phát lại; phát hành tờ gấp pháp luật về chế định Thừa phát lại.

3. Công tác giải quyết các thủ tục hành chính và thanh tra, kiểm tra

Sở Tư pháp đã tham mưu giúp Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện tốt vai trò, chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về Thừa phát lại, cụ thể:

Tiếp tục công khai và giải quyết các thủ tục hành chính liên quan đến lĩnh vực Thừa phát lại thuộc phạm vi, thẩm quyền giải quyết của Sở Tư pháp như: Cấp giấy đăng ký hoạt động, thay đổi nội dung đăng ký hoạt động, chuyển hồ sơ đề nghị bổ nhiệm Thừa phát lại, cấp thẻ Thừa phát lại…một cách nhanh chóng, kịp thời, đúng pháp luật cho các cá nhân, tổ chức đến liên hệ thực hiện thủ tục.

Công tác thanh tra, kiểm tra: Trong năm 2016, tiến hành 01 cuộc kiểm tra đối với 04 tổ chức hành nghề Thừa phát lại. Qua kiểm tra, đã ghi nhận các kết quả tích cực đạt được của các Văn phòng; đồng thời kịp thời phát hiện những hạn chế, tồn tại trong công tác thừa phát lại để có các biện pháp khắc phục.

Công tác giải quyết phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo: Trong năm 2016, Sở Tư pháp nhận được 02 phản ánh về thừa phát lại. Tất cả các phản ánh đều đã được giải quyết kịp thời, theo đúng quy định của pháp luật.

II. TÌNH HÌNH TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG THỪA PHÁT LẠI

1. Về đội ngũ Thừa phát lại và hệ thống các Văn phòng Thừa phát lại

Từ ngày 01/01/2016 đến ngày 31/12/2016, trên địa bàn tỉnh Bình Dương có 26 Thừa phát lại, trong đó: 16 Thừa phát lại đang hành nghề, 03 Thừa phát lại đã nghỉ việc nhưng chưa miễn nhiệm, 07 Thừa phát lại bổ nhiệm nhưng chưa hành nghề (04 Thừa phát lại đã hết thời hạn 06 tháng, 03 Thừa phát lại còn thời hạn)

Theo Đề án được duyệt, trên địa bàn tỉnh Bình Dương có 04 Văn phòng Thừa phát lại được thành lập tại địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, thị xã Thuận An, thị xã Dĩ An và huyện Tân Uyên (nay là thị xã Tân Uyên), đến nay 04 Văn phòng được thành lập và đi vào hoạt động (thành lập và đi vào hoạt động sớm nhất là VPTPL Dĩ An, thành lập ngày 17/01/2014 và muộn nhất là VPTPL Tân Uyên thành lập ngày  08/5/2014).

2. Kết quả hoạt động của các Văn phòng Thừa phát lại (tính từ ngày 01/01/2016 đến 31/12/2016)

a) Số lượng các vụ việc

- Lập vi bằng: 3,171 vi bằng;

- Tống đạt văn bản, giấy tờ theo yêu cầu của Tòa án và cơ quan thi hành án dân sự: 10,124 văn bản (tống đạt cho Tòa án nhân dân, Chi cục Thi hành án dân sự các địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, thị xã Thuận An, Dĩ An và Tân Uyên; Tòa án nhân dân tỉnh và Cục Thi hành án dân sự tỉnh), trong đó tống đạt văn bản, giấy tờ theo yêu cầu của cơ quan Tòa án là 8,581 văn bản và cơ quan Thi hành án  1,543 văn bản;

- Xác minh điều kiện thi hành án: 07 vụ việc.

- Tổ chức thi hành bản án, quyết định: 06 vụ việc với giá trị Thi hành án về tiền là 285.660.000 và tài sản là 886 m2 đất.

b) Doanh thu

Các Văn phòng Thừa phát lại đã thu được: 7,800,093,000 đồng, trong đó: chi phí lập vi bằng 6,587,580,000 đồng; chi phí tống đạt: 990,803,000 đồng (855,104,000 đồng của Tòa án và 135,699,000 đồng của cơ quan thi hành án dân sự); xác minh điều kiện thi hành án 121,000,000 đồng; trực tiếp tổ chức thi hành án: 100.710.000 đồng; ​

Thông tinFalseNguyễn Thị Vân Anh
Tổ chức và hoạt động Thừa phát lại – kinh nghiệm của Cộng hòa Pháp và thực tiễn của Việt Nam​TinTổ chức và hoạt động Thừa phát lại – kinh nghiệm của Cộng hòa Pháp và thực tiễn của Việt Nam​/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
5/4/2017 9:00 PMNoĐã ban hành

1.jpg

 

Sáng 05/3, bà Đỗ Hoàng Yến - Cục trưởng Cục Bổ trợ tư pháp, ngài Patrick Safar và ngài Jean Francois Richard - Phó Chủ tịch Hội đồng Thừa phát lại quốc gia Pháp đã đồng chủ trì tọa đàm "Tổ chức và hoạt động Thừa phát lại – kinh nghiệm của Cộng hòa Pháp và thực tiễn của Việt Nam".

Phát biểu khai mạc tọa đàm, bà Đỗ Hoàng Yến - Cục trưởng Cục Bổ trợ tư pháp cho biết: vượt qua nhiều khó khăn thách thức ban đầu, hoạt động Thừa phát lại tại Việt Nam đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên, đội ngũ Thừa phát lại vẫn còn hạn chế về trình độ, năng lực và kinh nghiệm nghề nghiệp, một số văn phòng Thừa phát lại còn có biểu hiện chạy theo lợi nhuận, xem nhẹ việc nâng cao chất lượng hoạt động, uy tín, thanh danh nghề nghiệp. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng đội ngũ Thừa phát lại cả về chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp là hết sức cần thiết. Bà Yến nhấn mạnh: cũng giống như nghề luật sư, công chứng, Bộ quy tắc đạo đức nghề nghiệp Thừa phát lại rất quan trọng để đảm bảo sự phát triển ổn định của nghề này. Bộ Tư pháp đang triển khai xây dựng Bộ quy tắc và mong muốn học tập kinh nghiệm của bạn bè quốc tế, đặc biệt là Cộng hòa Pháp trong lĩnh vực này.

2.jpg3.jpg 

Ngài Jean Francois Richard - Phó Chủ tịch Hội đồng Thừa phát lại quốc gia Pháp cũng cho rằng việc đào tạo nguồn nhân lực và ban hành Bộ quy tắc đạo đức nghề nghiệp Thừa phát lại là hai "trụ cột" có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động Thừa phát lại. Hội đồng Thừa phát lại quốc gia Pháp sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm của mình để đóng góp vào sự phát triển lâu dài của chế định Thừa phát lại tại Việt Nam.

4.jpg5.jpg 

Tại Tọa đàm, các đại biểu được giới thiệu kinh nghiệm của Cộng hòa Pháp liên quan đến việc xây dựng đội ngũ Thừa phát lại và quy tắc đạo đức nghề nghiệp, nghe trình bày báo cáo định hướng xây dựng dự thảo Thông tư quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại; dự thảo Thông tư ban hành Quy tắc đạo đức hành nghề Thừa phát lại và trao đổi, thảo luận về các nội dung có liên quan.

P.V

(Trích nguồn từ moj.gov.vn)

 

Thông tinFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Công văn số 1194/BTTP-TPL ngày 28/11/2016 của Cục Bổ trợ tư pháp về việc hướng dẫn thực hiện Thông tư liên tịch về thủ tục thi hành án dân sựTinCông văn số 1194/BTTP-TPL ngày 28/11/2016 của Cục Bổ trợ tư pháp về việc hướng dẫn thực hiện Thông tư liên tịch về thủ tục thi hành án dân sự/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
1/13/2017 4:00 PMNoĐã ban hành
Văn bản Quy phạm Pháp luậtFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC quy định một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sựTinThông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC quy định một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
1/13/2017 3:00 PMNoĐã ban hành
Văn bản Quy phạm Pháp luậtFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Thông tư  quy định Mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí trong lĩnh vực hoạt động hành nghề Thừa phát lạiTinThông tư  quy định Mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí trong lĩnh vực hoạt động hành nghề Thừa phát lại/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/30/2016 4:00 PMNoĐã ban hành

4e821ca068da8584dccb.jpg

Ngày 11/11/2016, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 223/2016/TT-BTC Quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thẩm định  tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề trong lĩnh vực thừa phát lại. Theo đó, Thông tư quy định các nội dung cơ bản như sau:

Về người nộp phí, lệ phí: 1. Cá nhân khi yêu cầu bổ nhiệm thừa phát lại phải nộp phí theo quy định tại Thông tư; Thừa phát lại khi đề nghị thành lập Văn phòng Thừa phát lại phải nộp phí theo quy định tại Thông tư này.

Về tổ chức thu phí, lệ phí: Cục Bổ trợ tư pháp (Bộ Tư pháp) thực hiện thu phí thẩm định tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề thừa phát lại quy định tại mục 1 Điều 4 của Thông tư này. Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện thu phí thẩm định điều kiện thành lập Văn phòng Thừa phát lại quy định tại mục 2 Điều 4 của Thông tư này.

Về mức thu phí, lệ phí: Mức thu phí thẩm định tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề trong lĩnh vực thừa phát lại theo quy định tại Thông tư này như sau: Thẩm định tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề thừa phát lại 800.000; Thẩm định điều kiện thành lập, hoạt động Văn phòng Thừa phát lại 1.000.000

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2017./.

Thông tinFalseNguyễn Thị Vân Anh
Kế hoạch số 905/KH-UBND ngày 30/3/2016 triển khai thực hiện Nghị quyết số 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 của Quốc hội về chế độ Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình DươngTinKế hoạch số 905/KH-UBND ngày 30/3/2016 triển khai thực hiện Nghị quyết số 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 của Quốc hội về chế độ Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/30/2016 1:00 PMNoĐã ban hành
Văn bản Quy phạm Pháp luậtFalseNguyễn Thị Vân Anh
Nghị định 61/2009/NĐ- CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ Về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí MinhTinNghị định 61/2009/NĐ- CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ Về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/15/2016 11:00 AMNoĐã ban hành
Văn bản Quy phạm Pháp luậtFalseNguyễn Thị Vân Anh
Kiểm tra tình hình tổ chức và hoạt động các văn phòng thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương năm 2016TinKiểm tra tình hình tổ chức và hoạt động các văn phòng thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương năm 2016/CMSImageNew/2016-12/vananh-6_Key_05122016101956.bmp
12/5/2016 11:00 AMNoĐã ban hành

     Nhằm triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 của Quốc hội về thực hiện chế định Thừa phát lại; Kế hoạch số 905/KH-UBND ngày 30/3/2016 về việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 của Quốc hội về thực hiện chế định Thừa phát lại;

vananh-3.jpg

vananh-4.jpg

​      Đồng thời góp phần nâng cao ý thức chấp hành các quy định của pháp luật về việc thực hiện chế định Thừa phát lại của đội ngũ Thừa phát lại và các cá nhân, tổ chức có liên quan, nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương, Giám đốc Sở Tư pháp đã thành lập Đoàn Kiểm tra tình hình tổ chức và hoạt động của các Văn phòng Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương năm 2016 theo Quyết định số 134/QĐ-STP.

vananh-5.jpg

     Trong 03 ngày từ 16-18/11/2016, Đoàn Kiểm tra đã tiến hành kiểm tra theo Kế hoạch tại 04 Văn phòng Thừa phát lại: Thành phố Thủ Dầu Một, Dĩ An, Thuận An, Tân Uyên. Qua kiểm tra, Đoàn kiểm tra đã kịp thời nắm bắt tình hình tổ chức, hoạt động của các Văn phòng, ghi nhận các kết quả đạt được của các Văn phòng Thừa phát lại trong thời gian qua; đồng thời, nắm bắt các phản ánh, kiến nghị, những bất cập của cơ chế, chính sách để có biện pháp tháo gỡ vướng mắc, khó khăn hỗ trợ các Văn phòng Thừa phát lại trong quá trình hoạt động.

vananh-6.bmp​​

Vân Anh – Phòng Bổ trợ tư pháp

 

Thông tinFalseNguyễn Thị Vân Anh
1 - 30Next
Ảnh
Video
Audio