Thừa phát lại - Văn bản Quy phạm Pháp luật
 
 
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Nội dung
Phân loại
  
  
  
Danh sách các văn phòng thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương TinDanh sách các văn phòng thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương /Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/6/2019 5:00 PMNoĐã ban hành
Danh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Danh sách Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương (Tính đến ngày 31/5/2019)TinDanh sách Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương (Tính đến ngày 31/5/2019)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/6/2019 4:00 PMNoĐã ban hành
Danh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Tình hình triển khai Nghị quyết số 107/2015/QH13 trên địa bàn tỉnh Bình Dương – Kết quả đạt được và những khó khăn, vướng mắcBài viếtTình hình triển khai Nghị quyết số 107/2015/QH13 trên địa bàn tỉnh Bình Dương – Kết quả đạt được và những khó khăn, vướng mắc/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/20/2018 9:00 AMNoĐã ban hành

I. ĐỘI NGŨ THỪA PHÁT LẠI VÀ HỆ THỐNG VĂN PHÒNG THỪA PHÁT LẠI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG

1. Về tổ chức

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 05 Văn phòng Thừa phát lại được thành lập tại địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, thị xã Thuận An, thị xã Dĩ An, thị xã Tân Uyên, thị xã Bến Cát, (thành lập sớm nhất là VPTPL Dĩ An, thành lập ngày 17/01/2014, VPTPL Bến Cát thành lập ngày 26/12/2017).

Tỉnh đã có 36 Thừa phát lại, trong đó: 15 Thừa phát lại đang hành nghề tại các văn phòng Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh, các Thừa phát lại còn lại thuộc trường hợp chưa đăng ký hành nghề, chuyển hành nghề đến địa phương khác, nghỉ việc tại tổ chức hành nghề Thừa phát lại tại Bình Dương và miễn nhiệm hành nghề Thừa phát lại.

2. Kết quả hoạt động các Văn phòng thừa phát lại

- Năm 2016:​

+ Tống đạt văn bản, giấy tờ theo yêu cầu của Tòa án và cơ quan thi hành án dân sự: 10,124 văn bản; xác minh điều kiện thi hành án: 07 vụ việc; trực tiếp tổ chức thi hành bản án, quyết định: 06 vụ việc với giá trị Thi hành án về tiền là 285.660.000 và tài sản là 886 m2 đất; lập vi bằng: 3.171 vi bằng;

+ Doanh thu: Các Văn phòng Thừa phát lại đã thu được: 7.800.093.000 đồng, trong đó: chi phí lập vi bằng 6.587.580.000 đồng; chi phí tống đạt: 990.803.000 đồng; xác minh điều kiện thi hành án 121.000.000 đồng; trực tiếp tổ chức thi hành án: 100.710.000 đồng;

- Năm 2017:

+ Tống đạt văn bản, giấy tờ theo yêu cầu của Tòa án và cơ quan thi hành án dân sự: 21.515 văn bản, tăng 11.391 văn bản so với năm 2016; xác minh điều kiện thi hành án: Chưa phát sinh. So với năm 2016 giảm 07 việc; trực tiếp tổ chức thi hành bản án, quyết định: 05 vụ việc với giá trị thi hành án về tiền là 225.000.000 đồng, tài sản là quyền sử dụng đất với diện tích 5.206,4 m2 đất, 57 cây cao su, giảm 01 vụ việc so với năm 2016; lập vi bằng: 5.338 vi bằng, tăng 2.167 vi bằng so với năm 2016.

+ Doanh thu: Các Văn phòng Thừa phát lại đã thu được 12.171.277.000 đồng, tăng 4.371.184.000 đồng so với năm 2016, trong đó: chi phí lập vi bằng 10.174.896.000 đồng; chi phí tống đạt: 1.889.631.000 đồng; xác minh điều kiện thi hành án 0 đồng; trực tiếp tổ chức thi hành án: 106.750.000 đồng.

- Từ 01/01/2018 đến 30/10/2018:

+ Tống đạt văn bản, giấy tờ theo yêu cầu của Tòa án và cơ quan thi hành án dân sự: 16.209 văn bản; xác minh điều kiện thi hành án, tổ chức thi hành bản án, quyết định: Chưa phát sinh; Lập vi bằng: 4991 vi bằng.

+ Doanh thu: Các Văn phòng Thừa phát lại đã thu được 7.407.676.000 đồng, , trong đó: chi phí lập vi bằng 5.981.550.000 đồng; chi phí tống đạt: 1.426.126.000 đồng; xác minh điều kiện thi hành án, trực tiếp tổ chức thi hành án: 0 đồng.

II. TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI NGHỊ QUYẾT SỐ 107/2015/NQ-QH13

1. Việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 107/2015/NQ-QH13

Thực hiện Nghị quyết số 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 về việc thực hiện chế định Thừa phát lại và Quyết định số 101/QĐ-TTg ngày 14/01/2016 của Thủ tướng chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 107/2015/QH13, Sở Tư pháp đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành ban hành Kế hoạch số 905/KH-UBND ngày 30/3/2016 triển khai thực hiện Nghị quyết 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 của Quốc hội về việc thực hiện chế định Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

 Sở Tư pháp cũng đã xây dựng dự thảo đề án thực hiện chế định Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương, thay thế Đề án Thừa phát lại trong giai đoạn thí điểm tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh gửi Bộ Tư pháp phê duyệt, đưa chế định Thừa phát lại thực hiện chính thức trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Trong đó, xác định lộ trình phát triển các Văn phòng Thừa phát lại đến năm 2020 đảm bảo tất cả các địa bàn cấp huyện đều có Văn phòng Thừa phát lại.

Ngày 25/8/2017, Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định số 1334/QĐ-BTP ngày về phê duyệt "Đề án thành lập Văn phòng Thừa phát lại của tỉnh Bình Dương giai đoạn 2017-2018". Ngày  05/10/2017 , Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Công văn số 4444/UBND-NC về việc triển khai thực hiện Quyết định phê duyệt đề án thừa phát lại giai đoạn 2017 – 2018. Trên cơ sở đó, Sở Tư pháp đã thực hiện các trình tự, thủ tục thành lập thêm 01 tổ chức hành nghề thừa trên địa bàn tỉnh theo đề án được phê duyệt. Kết quả: Ngày 26/12/2017, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 3629/QĐ-UBND cho phép thành lập theo Văn phòng Thừa phát lại Bến Cát. Trên cơ sở đó, ngày 01/2/2018, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương cấp Giấy Đăng ký hoạt động số 05/ĐKHĐ/TP.

2. Về công tác tuyên truyền, phổ biến về Nghị quyết số 107/2015/NQ-QH13 và các nội dung, các văn bản liên quan về thừa phát lại  

Sở Tư pháp đã triển khai, tuyên truyền phổ biến sâu rộng chế định thừa phát lại, các nội dung văn bản liên quan thừa phát lại, về kế hoạch triển khai Nghị quyết 107/2015/QH13 trên toàn tỉnh và bằng nhiều hình thức, cụ thể:

- Ủy ban nhân dân tỉnh phối hợp tổ chức Hội nghị trực tuyến triển khai Nghị quyết số 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 của Quốc hội về việc thực hiện chế định Thừa phát lại.

- Trong năm 2016, năm 2017, Sở Tư pháp đã phối hợp Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh thực hiện các chương trình "pháp luật và cuộc sống" với số chuyên đề về Thừa phát lại; phối hợp thực hiện tư vấn trực tiếp qua đài phát thanh; biên soạn phát hành 40.000 tờ gấp pháp luật về chế định Thừa phát lại. Đồng thời, Sở Tư pháp đã đăng nhiều tin, bài về Thừa phát lại trên Báo Bình Dương, Trang thông tin điện tử của Sở và Tổng Cục thi hành án dân sự; Sở Tư pháp đã xây dựng chuyên trang về Thừa phát lại trên trang tin điện tử của Sở, qua đó đã đăng tải các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản chỉ đạo của Trung ương và địa phương về Thừa phát lại; tin tức hoạt động của Thừa phát lại và các thủ tục hành chính có liên quan.

- Phòng Tư pháp, các Văn phòng Thừa phát lại cũng đã tích cực, chủ động in tờ rơi, hỏi đáp có nội dung về các hoạt động của Thừa phát lại để cấp phát miễn phí cho người dân.

3. Công tác xây dựng và giải quyết thủ tục hành chính

Sở Tư pháp công khai đầy đủ, kịp thời các thủ tục hành chính liên quan đến lĩnh vực Thừa phát lại thuộc phạm vi, thẩm quyền giải quyết của Sở Tư pháp như: Cấp giấy đăng ký hoạt động, thay đổi nội dung đăng ký hoạt động, chuyển hồ sơ đề nghị bổ nhiệm Thừa phát lại, cấp thẻ Thừa phát lại…đồng thời giải quyết đúng pháp luật cho các cá nhân, tổ chức đến liên hệ thực hiện thủ tục hành chính. Trong năm 2017, Sở Tư pháp đã sửa đổi, bổ sung các thủ tục hành chính về Thừa phát lại cho phù hợp với các quy định pháp luật về Phí và Lệ phí; đồng thời đăng tải đầy đủ, lên trang dịch vụ công của tỉnh và Trang thông tin điện tử của Sở.

4. Công tác hướng dẫn nghiệp vụ, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc

- Trong quá trình hoạt động, Sở Tư pháp thường xuyên theo dõi, nắm bắt tình hình tổ chức, hoạt động, khó khăn, vướng mắc của lĩnh vực Thừa phát lại, có sự hướng dẫn nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong hoạt động Thừa phát lại qua các hình thức điện thoại, thư điện tử, tổ chức họp với các sở, ngành có liên quan và các Văn phòng Thừa phát lại; ban hành các văn bản hướng dẫn, như:

+ Đối với hoạt động lập vi bằng, Sở Tư pháp đã ban hành các văn bản như sau: Năm 2016, ban hành Công văn số 1165/STP-BTTP ngày 30/9/2016 về lập vi bằng; Năm 2017, ban hành Công văn số 1590/STP-BTTP ngày 10/11/2017 về một số lưu ý hoạt động công chứng, chứng thực và Thừa phát lại đề nghị các Văn phòng Thừa phát lại chú ý đảm bảo một số nội dung trong việc lập vi bằng, giải thích rõ ràng quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc yêu cầu lập vi bằng, giá trị pháp lý của vi bằng; Năm 2018, ban hành Công văn số 1050/STP-BTTP ngày 12/7/2018 về hướng dẫn hoạt động Thừa phát lại

+ Đối với hoạt động tống đạt văn bản, xác minh điều kiện thi hành án, trực tiếp tổ chức thi hành án: Sở có sự trao đổi, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan thi hành án, tòa án, tổ chức các cuộc họp liên ngành tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc như việc việc chậm chuyển giao văn bản và chậm thanh toán của một số cơ quan Tòa án và Thi hành án dân sự tại địa phương, việc phân chia địa hạt tống đạt văn bản. Đến nay, tình hình chuyển giao và thanh toán chi phí tống đạt đã ổn định. Ngày 09/3/2018, Sở Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan, ngành có liên quan tổ chức cuộc họp đánh giá hoạt động Thừa phát lại, trong đó có nội dung về phân chia địa hạt tống đạt của các văn phòng Thừa phát lại. Kết quả ngày 16/3/2018, Sở Tư pháp ban hành Thông báo số 303/TB-STP về địa hạt tống đạt văn bản của các văn phòng Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

+ Kịp thời xin ý kiến của cấp trên (UBND tỉnh, Bộ Tư pháp): Đối với các vấn đề chưa được quy định cụ thể và trên cơ sở tổng hợp các khó khăn, vướng mắc của các Văn phòng Thừa phát lại, ngày 24/2/2017, Sở Tư pháp ban hành công văn số 259/BTTP-TPL về khó khăn, vướng mắc về Thừa phát lại gửi Bộ Tư pháp xin ý kiến chỉ đạo, xin ý kiến về việc triển khai đề án thực hiện Nghị quyết số 107 của Quốc hội.

5. Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát

Trong quá trình quản lý, thường xuyên kiểm tra tình hình hoạt động của các Văn phòng Thừa phát lại, giải đáp các khó khăn, vướng mắc của các Thừa phát lại kịp thời. Trong công tác kiểm tra về tổ chức, hoạt động các Văn phòng thừa phát lại, Sở Tư pháp luôn phối hợp mời đại diện Tòa án nhân dân tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh và Cục Thi hành án dân sự tỉnh cùng tham gia Đoàn Kiểm tra. Từ năm 2016 đến nay, Sở đã chủ trì, phối hợp các ngành liên quan tiến hành 01 cuộc kiểm tra tình hình tổ chức và hoạt động của tất cả các Văn phòng Thừa phát lại, tham gia 01 cuộc giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh về Thừa phát lại, tham gia 01 cuộc kiểm tra của Cục Bổ trợ tư pháp – Bộ Tư pháp. Qua kiểm tra, giám sát thấy rằng các Văn phòng Thừa phát lại cơ bản đáp ứng các điều kiện về cơ sở vật chất, tình hình nhân sự ổn định, đảm bảo hoạt động. Về hoạt động chuyên môn, nhìn chung các văn phòng điều chấp hành quy định pháp luật, tuy nhiên trong quá trình hoạt động cũng phát sinh một số hạn chế, thiếu sót, như: Một số hồ sơ tống đạt quyết định thi hành án cho đương sự còn chậm, chưa đúng theo quy định; Hoạt động Tống đạt văn bản  một số trường hợp chậm trả kết quả, có trường hợp tống đạt không đạt yêu cầu; Một số trường hợp hình thức vi bằng chưa đúng mẫu.

Kết quả tích cực của việc thực hiện Nghị quyết 107/2015/QH13  

 

- Hoạt động của các Văn phòng thừa phát lại được xã hội, người dân đón nhận tích cực, khẳng định mô hình thừa phát lại ra đời là cần thiết và phù hợp đúng theo chủ trương xã hội hóa, chủ trương cải cách hành chính, cải cách tư pháp.

- Hoạt động Thừa phát lại đã góp phần giảm tải công việc của Tòa án và Cơ quan Thi hành án dân sự. Đối với Tòa án, việc tống đạt văn bản của Thừa phát lại đã giúp Tòa án tập trung vào việc xét xử, việc lập vi bằng giúp tạo lập nguồn chứng cứ góp phần bảo đảm cho việc xét xử khách quan, kịp thời và chính xác. Đối với Cơ quan Thi hành án dân sự, việc thực hiện các công việc về tống đạt văn bản thi hành án, xác minh điều kiện thi hành án, trực tiếp tổ chức thi hành án của Thừa phát lại đã nâng cao ý thức, trách nhiệm của các cơ quan thi hành án dân sự, tạo cơ chế vừa phối hợp, hỗ trợ vừa cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vực thi hành án.

- Việc thực hiện chế định Thừa phát lại đã góp phần nâng cao nhận thức không những đối với cơ quan nhà nước mà còn đối với người dân về một chủ trương mới của Đảng, Nhà nước. Việc lập vi bằng của Thừa phát lại đã tạo thêm một công cụ pháp lý để người dân tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong thực hiện các giao dịch dân sự và trong các quá trình tố tụng tư pháp. Bên cạnh đó, sự ra đời của các Văn phòng Thừa phát lại đã tạo điều kiện để người dân có thêm sự lựa chọn phù hợp với năng lực, điều kiện của cá nhân khi có yêu cầu thi hành án dân sự.

III. KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC, NGUYÊN NHÂN VÀ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ

1. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân

- Về việc phân định nội dung, phạm vi lập vi bằng: Công văn số 4003/BTP-TCTHADS ngày 19/9/2014 của Tổng cục Thi hành án dân sự hướng dẫn một số nội dung trong hoạt động TPL đã nêu tương đối cụ thể phạm vi, thẩm quyền lập vi bằng. Tuy nhiên, trên thực tế, việc xác định các trường hợp không thuộc phạm vi lập vi bằng còn gặp nhiều khó khăn phân định giữa chứng thực chữ ký, công chứng và lập vi bằng trong một số trường hợp còn mơ hồ.  

- Về hồ sơ, tài liệu đính kèm theo vi bằng: 

Tại Khoản 2 Điều 27 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ (được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 của Chính phủ) quy định: "Kèm theo vi bằng có thể có hình ảnh, băng hình và các tài liệu chứng minh khác". Trên thực tế phát sinh các trường hợp lập vi bằng ghi nhận lời trình bày, cam kết hoặc sự tồn tại 01 văn bản giữa các bên mà nội dung chính nhắc đến các giấy tờ, văn bản, tài liệu khác. Để đảm bảo vi bằng "không ghi nhận các hành vi, sự kiện nhằm thực hiện các giao dịch dân sự trái pháp luật", Sở Tư pháp đã yêu cầu các Văn phòng Thừa phát lại đính kèm các tài liệu chứng minh, tuy nhiên theo quy định của pháp luật chưa quy định bắt buộc trong trường hợp này.

- Về xử lý các vi bằng không đủ điều kiện theo quy định nhưng đã được đăng ký tại Sở Tư pháp

Tại Khoản 5 Điều 26 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ (được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 của Chính phủ) quy định: "Trong thời hạn không quá 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được vi bằng, Sở Tư pháp phải vào sổ đăng ký vi bằng Thừa phát lại. Sở Tư pháp có quyền từ chối đăng ký nếu phát hiện thấy việc lập vi bằng không đúng thẩm quyền, không thuộc phạm vi lập vi bằng theo quy định tại Điều 25 của Nghị định này; vi bằng không được gửi đúng thời hạn để đăng ký theo quy định tại khoản 4, Điều 26 của Nghị định này. Việc từ chối phải được thông báo ngay bằng văn bản cho Văn phòng Thừa phát lại và người yêu cầu lập vi bằng trong đó nêu rõ lý do từ chối đăng ký".

Theo quy định trên, Sở Tư pháp có quyền từ chối đăng ký nếu phát hiện thấy việc lập vi bằng không đúng thẩm quyền, không thuộc phạm vi lập vi bằng theo quy định tại Điều 25 của Nghị định nhưng không quy định rõ thời hạn từ chối. Trên thực tế, một số vi bằng được đăng ký tại Sở Tư pháp, tuy nhiên trong quá trình quản lý, phát hiện có các căn cứ cho thấy vi bằng không đảm bảo các điều kiện về trình tự, thủ tục, thẩm quyền thì sẽ bị xử lý như thế nào? Hiện tại chưa có quy định về việc hủy vi bằng.

- Pháp luật chưa có quy định cụ thể về thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm đối với hoạt động Thừa phát lại, chỉ quy định chung chung các hình thức xử lý vi phạm đối với Thừa phát lại và Văn phòng Thừa phát, không quy định từng loại việc và mức độ vi phạm cụ thể. Ví dụ trường hợp Sở Tư pháp phát hiện nội dung lập vi bằng không đúng quy định pháp luật thì hậu quả pháp lý chỉ là vi bằng không được đăng ký và không có giá trị pháp lý, chưa có chế tài đảm bảo tính răn đe.

2. Đề xuất, kiến nghị

- Hoàn thiện thể chế pháp lý về lĩnh vực Thừa phát lại, Bộ Tư pháp có văn bản hướng dẫn các trường hợp bất cập cụ thể đã nêu trên trong thời gian chờ đợi pháp luật về Thừa phát lại hoàn thiện.

- Sửa đổi, bổ sung Nghị định 110/2013/NĐ-CP (được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 67/2015/NĐ-CP ngày 14/8/2015) theo hướng quy định rõ các hành vi vi phạm của Thừa phát lại, Văn phòng Thừa phát lại và hình thức xử phạt cụ thể để đảm bảo tính răn đe.

- Xem xét phê duyệt toàn bộ Đề án Thực hiện chế định Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương để việc việc triển khai thực hiện đảm bảo theo đúng lộ trình đã đề ra./.

 

Thông tinFalseNguyễn Thị Vân Anh
Khai trương Văn phòng Thừa phát lại Bến CátTinKhai trương Văn phòng Thừa phát lại Bến Cát/CMSImageNew/2018-03/khaitruongtplbencat1_Key_12032018110042.jpg
3/12/2018 12:00 PMYesĐã ban hành

​     Thực hiện Quyết định số 1334/QĐ-BTP ngày 25/8/2017 của Bộ Tư pháp về phê duyệt “Đề án thành lập Văn phòng Thừa phát lại của tỉnh Bình Dương giai đoạn 2017-2018” và Công văn số 4444/UBND-NC ngày 05/10/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc triển khai thực hiện Quyết định phê duyệt đề án thừa phát lại giai đoạn 2017 – 2018, ngày 26/12/2017, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Quyết định số 3629/QĐ-UBND cho phép thành lập Văn phòng Thừa phát lại Bến Cát. Trên cơ sở đó, ngày 01/2/2018, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương cấp Giấy Đăng ký hoạt động số 05/ĐKHĐ/TP cho Văn phòng Thừa phát lại Bến Cát

khaitruongtplbencat1.jpg

khaitruongtplbencat2.jpg

     Ngày 06/3/2018, Văn phòng Thừa phát lại Bến Cát tiến hành khai trương, đi vào hoạt động chính thức. Đến dự Lễ Khai trương có sự tham dự của ông Nguyễn Thanh Bình – Cục trưởng Cục Công tác phía Nam – Bộ Tư pháp, bà Nguyễn Anh Hoa – Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương, cùng các đại diện là lãnh đạo Đảng, Ủy ban nhân dân thị xã Bến Cát, các cơ quan Viện kiểm sát, Tòa án, Thi hành án dân sự cấp huyện, các Văn phòng Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh…

khaitruongtplbencat3.jpg

     Văn phòng Thừa phát lại Bến Cát là văn phòng Thừa phát lại thứ 5 trong tổng số các tổ chức Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương và là Văn phòng đầu tiên của tỉnh được thành lập theo Nghị Quyết số 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 của Quốc hội về việc thực hiện chế định Thừa phát lại (triển khai thực hiện chính thức trên phạm vi cả nước). Việc thành lập và đi vào hoạt động của Văn phòng Thừa phát lại Bến Cát, sẽ tiếp tục góp phần tích cực vào việc giảm tải một phần công việc cho hệ thống cơ quan nhà nước (cơ quan tòa án, thi hành án dân sự), đồng thời cho thấy hiệu quả, sự cần thiết và đã khẳng định mô hình Thừa phát lại phù hợp với chủ trương cải cách hành chính, cải cách tư pháp.

Vân Anh – Phòng Bổ trợ tư pháp.   


Tin ngành tư pháp; Thông tinFalseNguyễn Thị Vân Anh
Tình hình tổ chức và hoạt động Thừa phát lại  trên địa bàn tỉnh Bình Dương năm 2017TinTình hình tổ chức và hoạt động Thừa phát lại  trên địa bàn tỉnh Bình Dương năm 2017/CMSImageNew/2018-12/tinhhinhtochucvahoatdongtpl_Key_31122018174705.jpg
1/20/2018 8:00 AMNoĐã ban hành

tinhhinhtochucvahoatdongtpl.jpg

I. CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THỪA PHÁT LẠI

1. Việc ban hành các văn bản triển khai thực hiện chế định Thừa phát lại

Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 của Quốc hội về việc thực hiện chế định Thừa phát lại, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Đề án Thừa phát lại trình Bộ Tư pháp. Ngày 25/8/2017, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1334/QĐ-BTP Phê duyệt Đề án thành lập Văn phòng Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương giai đoạn 2017 – 2018. Ngày 05/10/2017, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Công văn số 4444/UBND-NC về việc triển khai thực hiện quyết định Phê duyệt Đề án thành lập Văn phòng Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương giai đoạn 2017 – 2018.

Trên cơ sở các văn bản nêu trên, ngày 01/11/2017, Sở Tư pháp ban hành Thông báo số 1542/TB-STP về việc tiếp nhận hồ sơ thành lập Văn phòng Thừa phát lại. Sau khi tiếp nhận hồ sơ, Sở Tư pháp đã thực hiện các trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, kết quả đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh cho phép thành lập mới 01 Văn phòng Thừa phát lại theo đúng Đề án đã được phê duyệt.

Trong năm 2017, để tăng cường công tác quản lý nhà nước về Thừa phát lại, Sở Tư pháp ban hành Công văn số 1590/STP-BTTP ngày 10/11/2017 về một số lưu ý về hoạt động công chứng, chứng thực và thừa phát lại, theo đó lưu ý các Văn phòng về một số nội dung lập vi bằng liên quan đến diện tích đất tối thiểu cho tách thửa theo Quyết định số 25/2017/QĐ-UBND ngày 27/9/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc quy định diện tích tối thiểu được phép tách thửa đối với các loại đất trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

2. Về công tác tuyên truyền phổ biến

Nhằm tiếp tục tuyên truyền sâu rộng chế định Thừa phát lại, trong năm 2017, Sở Tư pháp tiếp tục duy trì chuyên mục Thừa phát lại trên Trang thông tin điện tử của Sở, thường xuyên cập nhật các thông tin mới về Thừa phát lại. Ngoài ra, đã phát hành 20.000 tờ gấp pháp luật về Thừa phát lại, trong đó trọng tâm giới thiệu về các loại việc được lập vi bằng.

3. Công tác giải quyết các thủ tục hành chính và thanh tra, kiểm tra

Tiếp tục công khai và giải quyết các thủ tục hành chính liên quan đến lĩnh vực Thừa phát lại thuộc phạm vi, thẩm quyền giải quyết của Sở Tư pháp như: Cấp giấy đăng ký hoạt động, thay đổi nội dung đăng ký hoạt động, chuyển hồ sơ đề nghị bổ nhiệm Thừa phát lại, cấp thẻ Thừa phát lại…một cách nhanh chóng, kịp thời, đúng pháp luật cho các cá nhân, tổ chức đến liên hệ thực hiện thủ tục. Trong năm 2017, Sở Tư pháp đã sửa đổi, bổ sung các thủ tục hành chính về Thừa phát lại cho phù hợp với các quy định pháp luật về Phí và Lệ phí; đồng thời đăng tải đầy đủ, kịp thời lên trang dịch vụ công của tỉnh và Trang thông tin điện tử của Sở.

Từ ngày 01/1/2017 đến 31/12/2017, Sở đã thực hiện 15 thủ tục hành chính về Thừa phát lại.

Công tác thanh tra, kiểm tra: Trong quá trình quản lý, thường xuyên kiểm tra tình hình hoạt động của các Văn phòng Thừa phát lại, giải đáp các khó khăn, vướng mắc của các Thừa phát lại kịp thời.

Công tác giải quyết phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo: Trong năm 2017, không phát sinh phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo.

II. TÌNH HÌNH TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG THỪA PHÁT LẠI

1. Về đội ngũ Thừa phát lại và hệ thống các Văn phòng Thừa phát lại

Từ ngày 01/01/2017 đến ngày 31/12/2017, trên địa bàn tỉnh Bình Dương có 21 Thừa phát lại, trong đó: 16 Thừa phát lại đang hành nghề tại 04 Văn phòng Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương, 03 Thừa phát lại đã nghỉ việc, 02 Thừa phát lại bổ nhiệm nhưng chưa hành nghề (01 Thừa phát lại đã hết thời hạn 06 tháng, 01 Thừa phát lại còn thời hạn)

Ngày 26/12/2017, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Quyết định số 3629/QĐ-UBND về việc cho phép thành lập Văn phòng Thừa phát lại Bến Cát; hiện tại Văn phòng đang hoàn thiện các thủ tục đăng ký hoạt động để đi vào hoạt động trong thời gian sớm nhất.

2. Kết quả hoạt động của các Văn phòng Thừa phát lại (tính từ ngày 01/01/2017 đến 31/12/2017)

a) Số lượng các vụ việc

- Tống đạt văn bản, giấy tờ theo yêu cầu của Tòa án và cơ quan thi hành án dân sự: 21.515 văn bản, tăng 11.391 văn bản so với năm 2016 (tống đạt cho Tòa án nhân dân, Chi cục Thi hành án dân sự các địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, thị xã Thuận An, Dĩ An và Tân Uyên; Tòa án nhân dân tỉnh và Cục Thi hành án dân sự tỉnh), trong đó tống đạt văn bản, giấy tờ theo yêu cầu của cơ quan Tòa án là 17.078 văn bản và cơ quan Thi hành án 4.437 văn bản;

- Xác minh điều kiện thi hành án: Chưa phát sinh. So với năm 2016 giảm 07 việc;

- Tổ chức thi hành bản án, quyết định: 05 vụ việc với giá trị thi hành án về tiền là 225.000.000 đồng, tài sản là quyền sử dụng đất với diện tích 5.206,4 m2 đất, 57 cây cao su, giảm 01 vụ việc so với năm 2016;

- Lập vi bằng: 5.338 vi bằng, tăng 2.167 vi bằng so với năm 2016.

b) Doanh thu

Các Văn phòng Thừa phát lại đã thu được: 12.171.277.000 đồng, tăng 4.371.184.000 đồng so với năm 2016, trong đó: chi phí lập vi bằng 10.174.896.000 đồng; chi phí tống đạt: 1.889.631.000 đồng (1.532.309.000 đồng của Tòa án và 357.322.000 đồng của cơ quan thi hành án dân sự); xác minh điều kiện thi hành án 0 đồng; trực tiếp tổ chức thi hành án: 106.750.000 đồng.

III. NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CHUNG

1. Thuận lợi

Được sự quan tâm, chỉ đạo của Bộ Tư pháp, Tỉnh ủy, UBND tỉnh và sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, các cấp và các đơn vị có liên quan, nhìn chung công tác triển khai thực hiện chế định Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh được đồng bộ, thống nhất và đạt hiệu quả như sau:

- Công tác quán triệt, tuyên truyền phổ biến về chủ trương của Đảng và Nhà nước về việc thực hiện chế định Thừa phát lại và các văn bản quy phạm pháp luật về Thừa phát lại được các ngành, các cấp chú trọng thực hiện, qua đó đã góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức và nhân dân về mục đích, ý nghĩa của chủ trương này, về chức năng, nhiệm vụ của Thừa phát lại, tạo được sự thống nhất trong nhận thức và hành động của các ngành, các cấp về triển khai chế định Thừa phát lại ở địa phương; số lượng tổ chức, cá nhân tin tưởng, sử dụng dịch vụ Thừa phát lại ngày càng tăng.

- Phần lớn các cơ quan, đơn vị có liên quan phối hợp tốt trong các hoạt động của Thừa phát lại như tống đạt, công tác thi hành án và xác minh điều kiện thi hành án.

- Chế định Thừa phát lại đã được người dân đón nhận tích cực, khẳng định mô hình Thừa phát lại phù hợp với chủ trương cải cách hành chính, cải cách tư pháp. Việc thực hiện chế định Thừa phát lại góp phần nâng cao nhận thức của cơ quan, tổ chức, nhân dân về chủ trương mới của Đảng, Nhà nước.

2. Khó khăn

- Về việc phân định nội dung, phạm vi lập vi bằng: Hiện tại, các văn bản pháp luật hướng dẫn về nội dung, phạm vi lập vi bằng đã có, tuy nhiên trên thực tế các nội dung lập vi bằng rất đa dạng, còn nhiều cách hiểu, quan điểm khác nhau về phạm vi lập vi bằng giữa các địa phương; chưa có một văn bản thống nhất chung trên toàn quốc, từ đó dẫn đến việc xác định các trường hợp không thuộc phạm vi lập vi bằng còn gặp nhiều khó khăn, ranh giới phân định giữa chứng thực chữ ký, công chứng và lập vi bằng trong một số trường hợp còn khó khăn.  

- Pháp luật về Thừa phát lại chỉ quy định chung các hình thức xử lý vi phạm đối với Thừa phát lại và Văn phòng Thừa phát, tuy nhiên lại không quy định từng loại việc và mức độ vi phạm cụ thể. Ví dụ trong trường hợp Sở Tư pháp phát hiện nội dung lập vi bằng không đúng quy định pháp luật hoặc các sai phạm của các Thừa phát lại, Văn phòng Thừa phát lại trong việc lập vi bằng, hậu quả pháp lý chỉ dừng lại ở việc vi bằng không có giá trị pháp lý, chưa có chế tài đảm bảo tính răn đe.

- Về công tác lưu trữ: Hiện tại vi bằng sau khi đăng ký sẽ được lưu trữ 01 bản tại Sở Tư pháp. Số lượng vi bằng ngày càng nhiều (trung bình mỗi tháng 444 vi bằng), mỗi vi bằng thường đính kèm tài liệu, văn bản, giấy tờ nên độ dày của các vi bằng khá lớn, pháp luật hiện hành chưa có quy định cụ thể về chế độ và kinh phí lưu trữ vi bằng.

IV. ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ

1. Các Bộ, ngành Trung ương có liên quan tiếp tục chỉ đạo các cơ quan, đơn vị theo hệ thống ngành dọc chủ động, tích cực thực hiện các nhiệm vụ thuộc ngành mình nhằm góp phần thực hiện thành công việc thực hiện chế định Thừa phát lại tại địa phương.

2. Nghiên cứu hoàn thiện, khắc phục những bất cập trên thực tế và ghi nhận chính thức các quy định về Thừa phát lại trong văn bản quy phạm pháp luật ở tầm luật, để công tác quản lý nhà nước về Thừa phát lại đạt hiệu quả trên thực tế, đưa chế định Thừa phát lại đi sâu vào cuộc sống, góp phần hoàn thiện các mục tiêu, chiến lược cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước đề ra.

3. Sửa đổi, bổ sung Nghị định 110/2013/NĐ-CP (được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 67/2015/NĐ-CP ngày 14/8/2015) theo hướng quy định rõ các hành vi vi phạm của Thừa phát lại, Văn phòng Thừa phát lại và hình thức xử phạt cụ thể để đảm bảo tính răn đe; đồng thời có văn bản hướng dẫn cụ thể về nội dung, phạm vi lập vi bằng thống nhất trên toàn quốc.

4. Sửa đổi quy định "Vi bằng lập thành 03 bản chính: 01 bản giao người yêu cầu; 01 bản gửi Sở Tư pháp để đăng ký trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày lập vi bằng; 01 bản lưu trữ tại văn phòng Thừa phát lại theo quy định của pháp luật về chế độ lưu trữ đối với văn bản công chứng" theo hướng để các Thừa phát lại tự chịu trách nhiệm về tính pháp lý của vi bằng do mình lập và lưu trữ tại Văn phòng Thừa phát lại, tương tự như quy định pháp luật về công chứng.

5. Tổ chức tọa đàm về công tác quản lý nhà nước về Thừa phát lại. 


Thông tinFalseNguyễn Thị Vân Anh
Lễ trao quyết định cho phép thành lập văn phòng Thừa phát lại Bến CátTinLễ trao quyết định cho phép thành lập văn phòng Thừa phát lại Bến Cát/CMSImageNew/2018-01/tpl_bencat_2018_hdd_Key_09012018152300.jpg
1/9/2018 3:00 PMNoĐã ban hành

​Trao quyết ​định cho phép thành lập văn phòng Thừa phát lại Bến Cát

Thực hiện Quyết định số 1334/QĐ-BTP ngày 25/8/2017 của Bộ Tư pháp về phê duyệt "Đề án thành lập Văn phòng Thừa phát lại của tỉnh Bình Dương giai đoạn 2017-2018" và Công văn số 4444/UBND-NC ngày 05/10/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc triển khai thực hiện Quyết định phê duyệt đề án thừa phát lại giai đoạn 2017 – 2018, Sở Tư pháp đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh cho phép thành lập Văn phòng Thừa phát lại Bến Cát theo đúng trình tự, thủ tục theo quy định. Kết quả, ngày 26/12/2017, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 3629/QĐ-UBND về việc cho phép thành lập Văn phòng Thừa phát lại Bến Cát.

tpl_bencat_2018_1.jpg 

Ngày 04/01/2018, Sở Tư pháp tiến hành trao Quyết định cho Văn phòng Thừa phát lại Bến Cát. Về thành phần tham dự gồm có: Bà Nguyễn Anh Hoa – Giám đốc Sở Tư pháp, phòng Bổ trợ tư pháp và các thành viên hợp danh của Văn phòng Thừa phát lại Bến Cát.

tpl_bencat_2018_2.jpg 

Bà Nguyễn Anh Hoa chúc mừng và trao Quyết định cho các thành viên. Cũng trong Buổi trao quyết định, bà Hoa đề nghị Văn phòng Thừa phát lại Bến Cát trong quá trình hoạt động sẽ chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về Thừa phát lại để góp phần ngày càng nâng cao uy tín, vai trò của Thừa phát lại, đóng góp vào kết quả chung của hoạt động Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh nói riêng và cả nước nói chung. Về phía Sở Tư pháp, sẽ tạo điều kiện và hỗ trợ tốt nhất cho Văn phòng.

tpl_bencat_2018_3.jpg 

Bà Chu Thị Ngọc Duyên – Trưởng Văn phòng đại diện phát biểu cảm ơn sự quan tâm, tạo điều kiện của Ủy ban nhân dân tỉnh và Sở Tư pháp đối với Văn phòng; đồng thời cam kết sẽ tuân thủ đúng các quy định pháp luật trong quá trình hành nghề để góp phần xây dựng hình ảnh, uy tín của đội ngũ Thừa phát lại tỉnh nhà./.

Phòng Bổ trợ Tư pháp


Tin ngành tư pháp; Thông tinFalseNguyễn Thị Vân Anh
Tình hình tổ chức và hoạt động Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương năm 2016TinTình hình tổ chức và hoạt động Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương năm 2016/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
5/15/2017 4:00 PMNoĐã ban hành

I. CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THỪA PHÁT LẠI

1. Việc ban hành các văn bản triển khai thực hiện chế định Thừa phát lại

Để triển khai có hiệu quả Nghị quyết 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 của Quốc hội về việc thực hiện chế định Thừa phát lại, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 905/KH-UBND ngày 30/3/2016 triển khai thực hiện Nghị quyết 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 của Quốc hội về việc thực hiện chế định Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

Trên cơ sở Kế hoạch số 905/KH-UBND ngày 30/3/2016, Sở Tư pháp tham mưu xây dựng Đề án Thừa phát lại trình Bộ Tư pháp phê duyệt.

Trong năm 2016, để tăng cường công tác quản lý nhà nước về Thừa phát lại,Sở Tư pháp ban hành các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ các mặt công tác của Thừa phát lại.

2. Về công tác tuyên truyền phổ biến

 Sau khi Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành kế hoạch số 905/KH-UBND ngày 30/3/2016, Sở Tư pháp đã triển khai, tuyên truyền đến các Văn phòng Thừa phát lại trên toàn tỉnh và đăng tải trên trang thông tin điện tử của Sở Tư pháp.

Ngày 11/7/2016, Ủy ban nhân dân tỉnh đã phối hợp với Bộ Tư pháp tổ chức Hội nghị trực tuyến triển khai Nghị quyết 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 của Quốc hội về việc thực hiện chế định Thừa phát lại.

Trong năm 2016, Sở Tư pháp đã phối hợp với Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh thực hiện chương trình "pháp luật và cuộc sống" với 03 số chuyên đề về Thừa phát lại; phát hành tờ gấp pháp luật về chế định Thừa phát lại.

3. Công tác giải quyết các thủ tục hành chính và thanh tra, kiểm tra

Sở Tư pháp đã tham mưu giúp Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện tốt vai trò, chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về Thừa phát lại, cụ thể:

Tiếp tục công khai và giải quyết các thủ tục hành chính liên quan đến lĩnh vực Thừa phát lại thuộc phạm vi, thẩm quyền giải quyết của Sở Tư pháp như: Cấp giấy đăng ký hoạt động, thay đổi nội dung đăng ký hoạt động, chuyển hồ sơ đề nghị bổ nhiệm Thừa phát lại, cấp thẻ Thừa phát lại…một cách nhanh chóng, kịp thời, đúng pháp luật cho các cá nhân, tổ chức đến liên hệ thực hiện thủ tục.

Công tác thanh tra, kiểm tra: Trong năm 2016, tiến hành 01 cuộc kiểm tra đối với 04 tổ chức hành nghề Thừa phát lại. Qua kiểm tra, đã ghi nhận các kết quả tích cực đạt được của các Văn phòng; đồng thời kịp thời phát hiện những hạn chế, tồn tại trong công tác thừa phát lại để có các biện pháp khắc phục.

Công tác giải quyết phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo: Trong năm 2016, Sở Tư pháp nhận được 02 phản ánh về thừa phát lại. Tất cả các phản ánh đều đã được giải quyết kịp thời, theo đúng quy định của pháp luật.

II. TÌNH HÌNH TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG THỪA PHÁT LẠI

1. Về đội ngũ Thừa phát lại và hệ thống các Văn phòng Thừa phát lại

Từ ngày 01/01/2016 đến ngày 31/12/2016, trên địa bàn tỉnh Bình Dương có 26 Thừa phát lại, trong đó: 16 Thừa phát lại đang hành nghề, 03 Thừa phát lại đã nghỉ việc nhưng chưa miễn nhiệm, 07 Thừa phát lại bổ nhiệm nhưng chưa hành nghề (04 Thừa phát lại đã hết thời hạn 06 tháng, 03 Thừa phát lại còn thời hạn)

Theo Đề án được duyệt, trên địa bàn tỉnh Bình Dương có 04 Văn phòng Thừa phát lại được thành lập tại địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, thị xã Thuận An, thị xã Dĩ An và huyện Tân Uyên (nay là thị xã Tân Uyên), đến nay 04 Văn phòng được thành lập và đi vào hoạt động (thành lập và đi vào hoạt động sớm nhất là VPTPL Dĩ An, thành lập ngày 17/01/2014 và muộn nhất là VPTPL Tân Uyên thành lập ngày  08/5/2014).

2. Kết quả hoạt động của các Văn phòng Thừa phát lại (tính từ ngày 01/01/2016 đến 31/12/2016)

a) Số lượng các vụ việc

- Lập vi bằng: 3,171 vi bằng;

- Tống đạt văn bản, giấy tờ theo yêu cầu của Tòa án và cơ quan thi hành án dân sự: 10,124 văn bản (tống đạt cho Tòa án nhân dân, Chi cục Thi hành án dân sự các địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, thị xã Thuận An, Dĩ An và Tân Uyên; Tòa án nhân dân tỉnh và Cục Thi hành án dân sự tỉnh), trong đó tống đạt văn bản, giấy tờ theo yêu cầu của cơ quan Tòa án là 8,581 văn bản và cơ quan Thi hành án  1,543 văn bản;

- Xác minh điều kiện thi hành án: 07 vụ việc.

- Tổ chức thi hành bản án, quyết định: 06 vụ việc với giá trị Thi hành án về tiền là 285.660.000 và tài sản là 886 m2 đất.

b) Doanh thu

Các Văn phòng Thừa phát lại đã thu được: 7,800,093,000 đồng, trong đó: chi phí lập vi bằng 6,587,580,000 đồng; chi phí tống đạt: 990,803,000 đồng (855,104,000 đồng của Tòa án và 135,699,000 đồng của cơ quan thi hành án dân sự); xác minh điều kiện thi hành án 121,000,000 đồng; trực tiếp tổ chức thi hành án: 100.710.000 đồng; ​

Thông tinFalseNguyễn Thị Vân Anh
Tổ chức và hoạt động Thừa phát lại – kinh nghiệm của Cộng hòa Pháp và thực tiễn của Việt Nam​TinTổ chức và hoạt động Thừa phát lại – kinh nghiệm của Cộng hòa Pháp và thực tiễn của Việt Nam​/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
5/4/2017 9:00 PMNoĐã ban hành

1.jpg

 

Sáng 05/3, bà Đỗ Hoàng Yến - Cục trưởng Cục Bổ trợ tư pháp, ngài Patrick Safar và ngài Jean Francois Richard - Phó Chủ tịch Hội đồng Thừa phát lại quốc gia Pháp đã đồng chủ trì tọa đàm "Tổ chức và hoạt động Thừa phát lại – kinh nghiệm của Cộng hòa Pháp và thực tiễn của Việt Nam".

Phát biểu khai mạc tọa đàm, bà Đỗ Hoàng Yến - Cục trưởng Cục Bổ trợ tư pháp cho biết: vượt qua nhiều khó khăn thách thức ban đầu, hoạt động Thừa phát lại tại Việt Nam đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên, đội ngũ Thừa phát lại vẫn còn hạn chế về trình độ, năng lực và kinh nghiệm nghề nghiệp, một số văn phòng Thừa phát lại còn có biểu hiện chạy theo lợi nhuận, xem nhẹ việc nâng cao chất lượng hoạt động, uy tín, thanh danh nghề nghiệp. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng đội ngũ Thừa phát lại cả về chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp là hết sức cần thiết. Bà Yến nhấn mạnh: cũng giống như nghề luật sư, công chứng, Bộ quy tắc đạo đức nghề nghiệp Thừa phát lại rất quan trọng để đảm bảo sự phát triển ổn định của nghề này. Bộ Tư pháp đang triển khai xây dựng Bộ quy tắc và mong muốn học tập kinh nghiệm của bạn bè quốc tế, đặc biệt là Cộng hòa Pháp trong lĩnh vực này.

2.jpg3.jpg 

Ngài Jean Francois Richard - Phó Chủ tịch Hội đồng Thừa phát lại quốc gia Pháp cũng cho rằng việc đào tạo nguồn nhân lực và ban hành Bộ quy tắc đạo đức nghề nghiệp Thừa phát lại là hai "trụ cột" có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động Thừa phát lại. Hội đồng Thừa phát lại quốc gia Pháp sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm của mình để đóng góp vào sự phát triển lâu dài của chế định Thừa phát lại tại Việt Nam.

4.jpg5.jpg 

Tại Tọa đàm, các đại biểu được giới thiệu kinh nghiệm của Cộng hòa Pháp liên quan đến việc xây dựng đội ngũ Thừa phát lại và quy tắc đạo đức nghề nghiệp, nghe trình bày báo cáo định hướng xây dựng dự thảo Thông tư quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại; dự thảo Thông tư ban hành Quy tắc đạo đức hành nghề Thừa phát lại và trao đổi, thảo luận về các nội dung có liên quan.

P.V

(Trích nguồn từ moj.gov.vn)

 

Thông tinFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Công văn số 1194/BTTP-TPL ngày 28/11/2016 của Cục Bổ trợ tư pháp về việc hướng dẫn thực hiện Thông tư liên tịch về thủ tục thi hành án dân sựTinCông văn số 1194/BTTP-TPL ngày 28/11/2016 của Cục Bổ trợ tư pháp về việc hướng dẫn thực hiện Thông tư liên tịch về thủ tục thi hành án dân sự/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
1/13/2017 4:00 PMNoĐã ban hành
Văn bản Quy phạm Pháp luậtFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC quy định một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sựTinThông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC quy định một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
1/13/2017 3:00 PMNoĐã ban hành
Văn bản Quy phạm Pháp luậtFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Thông tư  quy định Mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí trong lĩnh vực hoạt động hành nghề Thừa phát lạiTinThông tư  quy định Mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí trong lĩnh vực hoạt động hành nghề Thừa phát lại/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/30/2016 4:00 PMNoĐã ban hành

4e821ca068da8584dccb.jpg

Ngày 11/11/2016, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 223/2016/TT-BTC Quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thẩm định  tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề trong lĩnh vực thừa phát lại. Theo đó, Thông tư quy định các nội dung cơ bản như sau:

Về người nộp phí, lệ phí: 1. Cá nhân khi yêu cầu bổ nhiệm thừa phát lại phải nộp phí theo quy định tại Thông tư; Thừa phát lại khi đề nghị thành lập Văn phòng Thừa phát lại phải nộp phí theo quy định tại Thông tư này.

Về tổ chức thu phí, lệ phí: Cục Bổ trợ tư pháp (Bộ Tư pháp) thực hiện thu phí thẩm định tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề thừa phát lại quy định tại mục 1 Điều 4 của Thông tư này. Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện thu phí thẩm định điều kiện thành lập Văn phòng Thừa phát lại quy định tại mục 2 Điều 4 của Thông tư này.

Về mức thu phí, lệ phí: Mức thu phí thẩm định tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề trong lĩnh vực thừa phát lại theo quy định tại Thông tư này như sau: Thẩm định tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề thừa phát lại 800.000; Thẩm định điều kiện thành lập, hoạt động Văn phòng Thừa phát lại 1.000.000

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2017./.

Thông tinFalseNguyễn Thị Vân Anh
Kế hoạch số 905/KH-UBND ngày 30/3/2016 triển khai thực hiện Nghị quyết số 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 của Quốc hội về chế độ Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình DươngTinKế hoạch số 905/KH-UBND ngày 30/3/2016 triển khai thực hiện Nghị quyết số 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 của Quốc hội về chế độ Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/30/2016 1:00 PMNoĐã ban hành
Văn bản Quy phạm Pháp luậtFalseNguyễn Thị Vân Anh
Nghị định 61/2009/NĐ- CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ Về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí MinhTinNghị định 61/2009/NĐ- CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ Về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/15/2016 11:00 AMNoĐã ban hành
Văn bản Quy phạm Pháp luậtFalseNguyễn Thị Vân Anh
Kiểm tra tình hình tổ chức và hoạt động các văn phòng thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương năm 2016TinKiểm tra tình hình tổ chức và hoạt động các văn phòng thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương năm 2016/CMSImageNew/2016-12/vananh-6_Key_05122016101956.bmp
12/5/2016 11:00 AMNoĐã ban hành

     Nhằm triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 của Quốc hội về thực hiện chế định Thừa phát lại; Kế hoạch số 905/KH-UBND ngày 30/3/2016 về việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 của Quốc hội về thực hiện chế định Thừa phát lại;

vananh-3.jpg

vananh-4.jpg

​      Đồng thời góp phần nâng cao ý thức chấp hành các quy định của pháp luật về việc thực hiện chế định Thừa phát lại của đội ngũ Thừa phát lại và các cá nhân, tổ chức có liên quan, nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương, Giám đốc Sở Tư pháp đã thành lập Đoàn Kiểm tra tình hình tổ chức và hoạt động của các Văn phòng Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bình Dương năm 2016 theo Quyết định số 134/QĐ-STP.

vananh-5.jpg

     Trong 03 ngày từ 16-18/11/2016, Đoàn Kiểm tra đã tiến hành kiểm tra theo Kế hoạch tại 04 Văn phòng Thừa phát lại: Thành phố Thủ Dầu Một, Dĩ An, Thuận An, Tân Uyên. Qua kiểm tra, Đoàn kiểm tra đã kịp thời nắm bắt tình hình tổ chức, hoạt động của các Văn phòng, ghi nhận các kết quả đạt được của các Văn phòng Thừa phát lại trong thời gian qua; đồng thời, nắm bắt các phản ánh, kiến nghị, những bất cập của cơ chế, chính sách để có biện pháp tháo gỡ vướng mắc, khó khăn hỗ trợ các Văn phòng Thừa phát lại trong quá trình hoạt động.

vananh-6.bmp​​

Vân Anh – Phòng Bổ trợ tư pháp

 

Thông tinFalseNguyễn Thị Vân Anh
Nghị định 62/2015/NĐ- CP ngày 18/7/2015 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sựTinNghị định 62/2015/NĐ- CP ngày 18/7/2015 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
11/15/2016 1:00 PMNoĐã ban hành
Văn bản Quy phạm Pháp luậtFalseNguyễn Thị Vân Anh
Căn cứ định số 135/2013/NĐ- CP ngày 18/10/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung tên gọi và một số điều của Nghị định số 61/2009/NĐ- CP ngày 24/7/2009 về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại Thành phố Hồ Chí MinhTinCăn cứ định số 135/2013/NĐ- CP ngày 18/10/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung tên gọi và một số điều của Nghị định số 61/2009/NĐ- CP ngày 24/7/2009 về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
11/15/2016 11:00 AMNoĐã ban hành
Văn bản Quy phạm Pháp luậtFalseNguyễn Thị Vân Anh
Công văn số 4003/BTP-TCTHADS ngày 19/9/2014 của Bộ Tư pháp về việc hướng dẫn một số nội dung trong hoạt động Thừa phát lạiTinCông văn số 4003/BTP-TCTHADS ngày 19/9/2014 của Bộ Tư pháp về việc hướng dẫn một số nội dung trong hoạt động Thừa phát lại/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
11/15/2016 11:00 AMNoĐã ban hành
Văn bản Quy phạm Pháp luậtFalseNguyễn Thị Vân Anh
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi án dân sựTinLuật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi án dân sự/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
11/15/2016 10:00 AMNoĐã ban hành
Văn bản Quy phạm Pháp luậtFalseNguyễn Thị Vân Anh
Nghị quyết số 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 của Quốc hội về chế độ Thừa phát lạiTinNghị quyết số 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 của Quốc hội về chế độ Thừa phát lại/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
11/15/2016 10:00 AMNoĐã ban hành
Văn bản Quy phạm Pháp luậtFalseNguyễn Thị Vân Anh
Luật Thi hành án dân sự năm 2008TinLuật Thi hành án dân sự năm 2008/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
11/15/2016 9:00 AMNoĐã ban hành
Văn bản Quy phạm Pháp luậtFalseNguyễn Thị Vân Anh
Công văn số 2104/BTP-BCĐ ngày 17/6/2015 của Bộ Tư pháp về việc triển khai thí điểm Thừa phát lạiTinCông văn số 2104/BTP-BCĐ ngày 17/6/2015 của Bộ Tư pháp về việc triển khai thí điểm Thừa phát lại/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
11/15/2016 8:00 AMNoĐã ban hành
Văn bản Quy phạm Pháp luậtFalseNguyễn Thị Vân Anh
Tài liệu Hội nghị quán triệt, triển khai Nghị quyết số 107/2015/QH13 của Quốc hội về Thừa phát lạiTinTài liệu Hội nghị quán triệt, triển khai Nghị quyết số 107/2015/QH13 của Quốc hội về Thừa phát lại/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
7/8/2016 9:35 AMNoĐã ban hànhThông tinFalseVăn phòng Sở
DANH SÁCH CÁC VĂN PHÒNG THỪA PHÁT LẠI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG (tính đến ngày 31/10/2016)DANH SÁCH CÁC VĂN PHÒNG THỪA PHÁT LẠI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG (tính đến ngày 31/10/2016)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/14/2016 10:00 AMNoĐã ban hànhDanh sáchFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI  VIỆC KIỂM TRA VIỆC LẬP VI BẰNGBài viếtCÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI  VIỆC KIỂM TRA VIỆC LẬP VI BẰNG/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Bài tham luận của Sở Tư pháp tại Tọa đàm Trao đổi rút kinh nghiệm trong công tác quản lý nhà nước và phát triển hoạt động Thừa phát lại tại khu vực phía Nam (ngày 03/6/2016, tại Thành phố Hồ Chí Minh)
6/10/2016 10:00 AMNoĐã ban hành

I. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ LẬP VI BẰNG VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LẬP VI BẰNG

Theo quy định của pháp luật hiện hành, việc quản lý nhà nước về Thừa phát lại được thực hiện theo cơ chế: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về Thừa phát lại, Bộ Tư pháp giúp Chính phủ quản lý nhà nước về Thừa phát lại, Ủy ban nhân dân tỉnh (thành phố trực thuộc trung ương) quản lý nhà nước về Thừa phát lại tại địa phương mình, Sở tư pháp giúp Ủy ban nhân dân quản lý nhà nước về Thừa phát lại. Trong đó, Sở Tư pháp có nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với việc kiểm tra việc lập vi bằng được quy định cụ thể tại Điều 25, 26 Nghị định 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 của Chính phủ).

Sở Tư pháp có trách nhiệm "phải vào sổ đăng ký vi bằng Thừa phát lại"; đồng thời có quyền từ chối lập vi bằng nếu thuộc các trường hợp phát hiện thấy việc lập vi bằng không đúng thẩm quyền, không thuộc phạm vi lập vi bằng, vi bằng không được gửi đúng thời hạn theo quy định tại Khoản 9, Điều 2 Nghị định 135/2013/NĐ-CP.

II. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VI BẰNG TẠI BÌNH DƯƠNG

Trên địa bàn tỉnh Bình Dương hiện có 04 Văn phòng Thừa phát lại phân bổ trên 04 địa bàn cấp huyện, đáp ứng kịp thời nhu cầu sử dụng các dịch vụ thừa phát lại cho người dân và các cơ quan tòa án, cơ quan thi hành án dân sự. Trong các hoạt động của Thừa phát lại, lập vi bằng là hoạt động nổi bật của các Văn phòng Thừa phát lại. Tính đến thời điểm hiện tại(số liệu đến ngày 30/4/2016), các Văn phòng trên địa bàn tỉnh đã lập được 2884 vi bằng, doanh thu đạt 5.716.312.000 đồng. Với kết quả hoạt động trên, công tác quản lý nhà nước đạt được một số thuận lợi, khó khăn sau:

1. Thuận lợi

Các Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh đều nắm vững các quy định của pháp luật về thẩm quyền, phạm vi lập vi bằng quy định tại Điều 25 Nghị định 61/2009/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 135/2013/NĐ-CP), hướng dẫn tại Công văn số 4003/BTP-TCTHADS ngày 19/9/2014 của Tổng cục Thi hành án dân sự về việc hướng dẫn một số nội dung trong hoạt động TPL và Công văn số 2104/BTP-BCĐ ngày 17/6/2015 của Ban chỉ đạo thực hiện thí điểm chế định thừa phát lại  về việc triển khai thí điểm Thừa phát lại. Vì vậy hầu hết nội dung các vi bằng đều đúng pháp luật, được đăng ký tại Sở Tư pháp. Các vi bằng có sửa chữa lỗi kỹ thuật được thực hiện theo đúng quy định hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 09/2014/TTLT TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC- BTC ngày 28/02/2014 Hướng dẫn thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại theo Nghị quyết số 36/2012/QH13 ngày 23/11/2012 của Quốc hội, đảm bảo tính pháp lý của vi bằng.

Nội dung lập vi bằng ngày càng đa dạng, đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao trên thực tiễn của cá nhân, tổ chức có nhu cầu.

2. Khó khăn

- Về trình tự đăng ký vi bằng: 

Tại Khoản 4, Điều 26 Nghị định 61/2009/NĐ-CP quy định: "4. Vi bằng lập thành 03 bản chính: 01 bản giao người yêu cầu; 01 bản gửi Sở Tư pháp để đăng ký trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày lập vi bằng; 01 bản lưu trữ tại văn phòng Thừa phát lại theo quy định của pháp luật về chế độ lưu trữ đối với văn bản công chứng".

Theo Khoản 9, Điều 2 Nghị định 135/2013/NĐ-CP quy định: Sửa đổi, bổ sung khoản 5, Điều 26 như sau: "5. Trong thời hạn không quá 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được vi bằng, Sở Tư pháp phải vào sổ đăng ký vi bằng Thừa phát lại. Sở Tư pháp có quyền từ chối đăng ký nếu phát hiện thấy việc lập vi bằng không đúng thẩm quyền, không thuộc phạm vi lập vi bằng theo quy định tại Điều 25 của Nghị định này; vi bằng không được gửi đúng thời hạn để đăng ký theo quy định tại khoản 4, Điều 26 của Nghị định này. Việc từ chối phải được thông báo ngay bằng văn bản cho Văn phòng Thừa phát lại và người yêu cầu lập vi bằng trong đó nêu rõ lý do từ chối đăng ký.

Vi bằng được coi là hợp lệ khi được đăng ký tại Sở Tư pháp".

 Đồng thời, Tại mục 1.2 Công văn số 4003/BTP-TCTHADS ngày 19/9/2014 của Tổng cục Thi hành án dân sự hướng dẫn một số nội dung trong hoạt động TPL quy định: Sau khi nhận được vi bằng do Văn phòng Thừa phát lại gửi đến, Sở Tư pháp căn cứ vào quy định tại Điều 25, Điều 26 Nghị định 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 của Chính phủ) để kiểm tra về thẩm quyền, phạm vi và thời hạn gửi đăng ký vi bằng. Việc đăng ký vi bằng được coi là hoàn thành và vi bằng được coi là hợp lệ sau khi vào sổ đăng ký. Sở Tư pháp đóng dấu xác nhận "đã đăng ký" lên vi bằng được đăng ký.

Ngoài ra, pháp luật hiện hành không quy định phải hoàn thành việc đăng ký vi bằng tại Sở Tư pháp thì mới giao cho người yêu cầu. Người yêu cầu và Văn phòng Thừa phát lại có thể thỏa thuận về việc giao vi bằng cho người yêu cầu ngay sau khi lập vi bằng hoặc sau khi vi bằng đã được đăng ký tại Sở Tư pháp.

Do đó, trường hợp người yêu cầu lập vi bằng và Văn phòng Thừa phát lại thỏa thuận về việc giao vi bằng ngay cho người yêu cầu sau khi lập, dẫn đến vi bằng mà đương sự sử dụng không được đóng dấu xác nhận "đã đăng ký" của Sở Tư pháp. Cơ quan tiến hành tố tụng sẽ khó khăn trong việc xác định được vi bằng đó đã được đăng ký hợp pháp tại Sở Tư pháp theo quy định tại Khoản 9, Điều 2 Nghị định 135/2013/NĐ-CP: "…Vi bằng được coi là hợp lệ khi được đăng ký tại Sở Tư pháp".        

- Về việc phân định nội dung phạm vi lập vi bằng:

Công văn số 4003/BTP-TCTHADS ngày 19/9/2014 của Tổng cục Thi hành án dân sự về việc hướng dẫn một số nội dung trong hoạt động TPL đã hướng dẫn tương đối cụ thể phạm vi, thẩm quyền lập vi bằng. Tuy nhiên, trên thực tế, việc xác định các trường hợp không thuộc phạm vi lập vi bằng còn gặp nhiều khó khăn, ranh giới phân định giữa chứng thực chữ ký, công chứng và lập vi bằng trong một số trường hợp còn mơ hồ.   

Ví dụ: Thừa phát lại lập vi bằng về sự kiện ông Trần Văn N giao cho bà Phạm Thị H một phần diện tích (diện tích 45 m2). Diện tích này không đủ điều kiện để hai bên thực hiện công chứng hợp đồng chuyển nhượng/tặng cho quyền sử dụng đất theo quy định. Như vậy, vi bằng này có thuộc trường hợp lập vi bằng sự kiện, hành vi nhằm thực hiện các giao dịch trái pháp luật của người yêu cầu lập vi bằng hay không? Hoặc có trường hợp Thừa phát lại ghi nhận có sự tồn tại của văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế do các bên tự lập và ký tên.

Cùng một vấn đề nhưng tùy thuộc vào cách diễn đạt, trình bày mà vi bằng do Thừa phát lại này lập được coi là hợp pháp, vi bằng do Thừa phát lại kia lập được coi là không hợp pháp.

Ví dụ: Ngày 10/6/2016, Thừa phát lại lập vi bằng về việc "xác nhận hành vi của ông Nguyễn Văn A và bà Trần Thị B cùng ký tên và lăn tay vào bản cam kết nhà và đất ngày 09/6/2016". Nếu vi bằng ghi nhận như vậy là không hợp pháp bởi vì bản cam kết nhà và đất đã được các bên lập ngày 09/6/2016 mà tới ngày 10/6/2016 Thừa phát lại mới xác nhận hành vi các bên ký tên, lăn tay vào bản cam kết là không đúng với quy định "Vi bằng chỉ ghi nhận những sự kiện, hành vi mà Thừa phát lại trực tiếp chứng kiến". Trong trường hợp này, Thừa phát lại chỉ cần căn cứ vào nội dung bản cam kết, ghi nhận lại thỏa thuận của các bên hoặc ghi nhận việc các bên trình bày trước Thừa phát lại rằng ngày 09/6/2016, các bên đã cùng ký tên và lăn tay vào bản cam kết nhà và đất.

Tại Khoản 2 Điều 27 Nghị định 61/2009/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung quy định: "Kèm theo vi bằng có thể có hình ảnh, băng hình và các tài liệu chứng minh khác". Pháp luật không bắt buộc khi đăng ký vi bằng phải có hình ảnh, băng hình và các tài liệu chứng minh khác, do đó, khi đăng ký vi bằng các Văn phòng Thừa phát lại chỉ gửi kèm theo giấy tờ tùy thân của người yêu cầu lập vi bằng, gây khó khăn cho việc đăng ký.

- Về cách thức trình bày vi bằng:  

Được quy định Theo biểu mẫu số B02/VB.TPL ban hành kèm theo Thông tư liên tịch số 09/2014/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BTC  ngày 28/2/2014, tuy nhiên các Văn phòng Thừa phát lại trình bày vi bằng còn chưa thống nhất, cách diễn đạt, trình bày chưa ngắn gọn, súc tích và dễ hiểu, dẫn đến vi bằng vừa tăng số trang vừa không khoa học, tốn diện tích lưu trữ.

- Về công tác lưu trữ:  

Hiện tại vi bằng sau khi đăng ký sẽ được lưu trữ 01 bản tại Sở Tư pháp. Số lượng vi bằng ngày càng nhiều (trung bình mỗi tháng từ 130 vi bằng, tháng cao nhất gần 200 vi bằng), mỗi vi bằng thường đính kèm tài liệu, văn bản, giấy tờ nên độ dày của các vi bằng khá lớn, tuy nhiên pháp luật hiện hành chưa có quy định cụ thể về chế độ và kinh phí lưu trữ vi bằng.

- Về biên chế:  

Công chức phụ trách quản lý về thừa phát lại, trong đó có việc vừa kiểm tra tính pháp lý của vi bằng, vừa đăng ký vi bằng vào sổ đăng ký và trực tiếp thực hiện công tác lưu trữ vi bằng trong khi lại vừa kiêm nhiệm các công tác tư pháp khác, vì vậy áp lực công việc rất lớn.

Việc quy định trong thời hạn không quá 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được vi bằng, Sở Tư pháp phải vào sổ đăng ký vi bằng Thừa phát lại (Khoản 9, Điều 2 Nghị định 135/2013/NĐ-CP) dẫn đến công chức kiểm tra, đăng ký vào sổ và lưu trữ vi bằng sẽ không kịp tiến độ theo quy định.

Nguyên nhân: do biên chế ít nên không bố trí được công chức chuyên trách, đồng thời, trong thời gian tới trên địa bàn tỉnh sẽ thành lập nhiều Văn phòng Thừa phát lại tại các huyện còn lại, vì vậy, số lượng đăng ký vi bằng sẽ tăng lên so với hiện nay (thực trạng trên địa bàn tỉnh có 04 VPTPL trung bình mỗi ngày phải đăng ký từ 10 đến 15 vi bằng, thời gian tới sẽ tăng thêm 05 VPTPL và dự đoán mỗi ngày phải đăng ký từ 30 đến 35 vi bằng).

III. ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ

Phạm vi lập vi bằng rất rộng, vụ việc trên thực tế rất đa dạng. Do đó, công tác quản lý nhà nước đối với việc kiểm tra lập vi bằng là một công tác phức tạp, đòi hỏi người kiểm tra cần vận dụng các quy định pháp luật trong nhiều lĩnh vực khác nhau để xác định tính hợp pháp của vi bằng.

Tuy nhiên, hiện nay về thể chế, lĩnh vực thừa phát lại chỉ được quy định trong các văn bản dưới luật, nội dung điều chỉnh chưa đầy đủ, đặc biệt là các quy định trong việc xác định nội dung lập vi bằng, có nhiều trường hợp nội dung vi bằng không phân định rõ ràng với các lĩnh vực khác như công chứng, chứng thực (như các ví dụ nêu trên).

Ngoài ra, phát luật chưa quy định các chế tài xử lý vi phạm trong trường hợp Sở Tư pháp phát hiện nội dung lập vi bằng không đúng quy định pháp luật hoặc các sai phạm của các Thừa phát lại, văn phòng Thừa phát lại trong việc lập vi bằng. Hậu quả pháp lý chỉ dừng lại ở việc vi bằng không có giá trị pháp lý, chưa có chế tài đảm bảo tính răn đe cao.

Trong thời gian tới, hy vọng các quy định pháp luật về vi bằng nói riêng và về thừa phát lại nói chung được hoàn thiện, khắc phục những bất cập trên thực tế và được ghi nhận chính thức trong văn bản quy phạm pháp luật ở tầm luật,để công tác quản lý nhà nước về thừa phát lại đạt hiệu quả trên thực tế, đưa chế định thừa phát lại đi sâu vào cuộc sống, góp phần hoàn thiện các mục tiêu, chiến lược cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước đề ra. 

Danh sáchFalseNguyễn Thị Vân Anh
Cho thực hiện chế định Thừa phát lại trong phạm vi cả nước kể từ ngày 01/01/2016TinCho thực hiện chế định Thừa phát lại trong phạm vi cả nước kể từ ngày 01/01/2016/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
11/25/2015 9:00 AMNoĐã ban hành

 
Sáng nay (25/11), QH đã biểu quyết thông qua Nghị quyết về thực hiện chế định Thừa phát lại, ghi nhận kết quả đạt được trong việc thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại theo Nghị quyết số 24/2008/QH12 và Nghị quyết số 36/2012/QH12 của Quốc hội. Đồng thời, quyết định chấm dứt việc thí điểm và cho thực hiện chế định Thừa phát lại trong phạm vi cả nước kể từ ngày 01/01/2016.

Báo cáo giải trình về vấn đề này, UBTVQH nhận thấy, việc thí điểm chế định Thừa phát lại là nội dung quan trọng trong Chiến lược cải cách tư pháp. Mặc dù còn có những hạn chế, bất cập nhưng qua hai giai đoạn thí điểm, hoạt động Thừa phát lại đã thu được những kết quả bước đầu quan trọng, phù hợp với chủ trương, định hướng của Đảng và yêu cầu của Hiến pháp 2013. Các tổ chức Thừa phát lại đã xác lập được vị trí nhất định trong đời sống xã hội, tạo lập một loại hình dịch vụ pháp lý mới để người dân và cơ quan Nhà nước lựa chọn.

Với tính chất là một loại hình dịch vụ pháp lý được thí điểm, trong điều kiện thể chế chưa đầy đủ lại chịu tác động của nhiều yếu tố không thuận lợi cả về chủ quan lẫn khách quan, nên khó tránh khỏi những hạn chế, bất cập. Tuy nhiên, kết quả thí điểm (kể cả mặt ưu điểm và các tồn tại, hạn chế) đã cung cấp khá đầy đủ, toàn diện cơ sở thực tiễn để quyết định về vấn đề này. Do đó, UBTVQH đã đề nghị Quốc hội cho phép chấm dứt việc thí điểm và cho phép Thừa phát lại chính thức hoạt động trong phạm vi cả nước.  

QH giao Chính phủ căn cứ tình hình thực tế ở địa phương, tổ chức thực hiện chế định Thừa phát lại trong phạm vi hành nghề theo quy định hiện hành, có sự sửa đổi, bổ sung cần thiết để khắc phục những tồn tại, hạn chế trong hoạt động Thừa phát lại và chịu trách nhiệm tổ chức đào tạo nghề Thừa phát lại.

Các tổ chức Thừa phát lại được thành lập theo Nghị quyết số 24/2008/QH12 và Nghị quyết số 36/2012/QH12 của Quốc hội tiếp tục hoạt động theo quy định của Nghị quyết này cho đến khi Quốc hội ban hành Luật Thừa phát lại.

Chính phủ phối hợp với Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao triển khai thi hành Nghị quyết này và chuẩn bị dự án Luật Thừa phát lại, báo cáo Quốc hội xem xét đưa vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội khóa XIV

Cũng theo báo cáo giải trình, thực tiễn thí điểm cho thấy, việc cho phép Thừa phát lại hành nghề ở 4 lĩnh vực như Chính phủ quy định là phù hợp với định hướng cải cách tư pháp. Với tính chất là một loại hình dịch vụ pháp lý, việc một số lĩnh vực hành nghề chưa đạt hiệu quả (xác minh điều kiện, trực tiếp tổ chức thi hành án dân sự) thì cần được đánh giá đầy đủ, khách quan để có giải pháp khắc phục và hoàn thiện về thể chế, nâng cao hiệu quả hoạt động. Vì vậy, UBTVQH đề nghị cho giữ phạm vi hành nghề của Thừa phát lại như hiện hành và giao Chính phủ sửa đổi, bổ sung quy định hiện hành nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế trong hoạt động của Thừa phát lại./.  

                                   Tin: H.GIANG; Ảnh: Chinhphu.vn

​​Nguồn: Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp.

Thông tinFalsePhòng Bổ trợ Tư pháp
Danh sách 12 cá nhân được lựa chọn học lớp tập huấn tạo nguồn bổ nhiệm thừa phát lạiDanh sách 12 cá nhân được lựa chọn học lớp tập huấn tạo nguồn bổ nhiệm thừa phát lại/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/2/2014 4:40 AMNoĐã ban hành
 
                                                  DANH SÁCH 12 CÁ NHÂN ĐƯỢC LỰA CHỌN 
                             HỌC LỚP TẬP HUẤN TẠO NGUỒN BỔ NHIỆM THỪA PHÁT LẠI
           (Ban hành kèm theo Công văn số:    722 /STP-BTTP ngày 25 tháng 7 năm 2013)
 
Stt Họ và tên Năm sinh Nơi sinh Nghề nghiệp Thời gian công tác Trình độ
Chuyên môn
Loại hình đào tạo Xếp loại
Nam Nữ
01 VÕ NGỌC HUỆ   1957 Bình Dương Nghỉ hưu
Nguyên Chấp hành viên
 Trung cấp
Trên 30 năm Cử nhân luật  Trường ĐHL Hà Nội Tại chức
 
T.Bình
 
02 NGUYỄN HỒNG QUANG 10/5/1953   Hà Tĩnh Nghỉ hưu
Nguyên Chấp hành viên
Trên 30 năm Cử nhân luật
Trường ĐHL Hà Nội
Tại chức
 
T.Bình
 
03 LÊ VĂN HẢI 16/6/1967   Hà Nội Công chứng viên Trên 30 năm ĐH Pháp lý Hà Nội Tập trung
 
Trung bình
04  TRẦN MINH THÀNH 17/6/1971   Bình Dương Kinh doanh
Nguyên Điều Tra viên Trung cấp
 
Trên 20 năm Cử nhân luật
Trường ĐHL Hà Nội
Tại chức
 
T.Bình
 
05 NGUYỄN HỮU TÀI 15/4/1975   Bình Dương Công chứng viên Trên 15 năm Cử nhân luật
Trường ĐHL TP. Hồ Chí Minh
Chính quy
 
T.Bình
06 LÊ HỒNG SƯƠNG   05/02/1956 Hà Nội Nhân viên
 
Trên 30 năm Cử nhân luật
ĐH Cảnh sát
Tại chức
 
-
07 NGUYỄN VĂN THÀNH 20/9/1956   Bình Dương Công nhân viên
Nguyên Kiểm sát viên- Viện trưởng VKS QS KV 73 và đã được bổ nhiệm Công chứng viên ngày 16/6/2011
Trên 30 năm Cử nhân luật
Trường ĐHL Hà Nội
Tại chức
 
T.Bình khá
 
08 BÙI HỮU ĐẠT 26/10/1975   Bình Dương Luật sư Trên 10 năm Cử nhân Luật
Trường ĐHL TP. Hồ Chí Minh
Chính quy
 
T.Bình khá
09 NGUYỄN QUỐC THẮNG 04/6/1976   Đồng Nai Công chứng viên Trên 10 năm Cử nhân Luật
Trường ĐHL TP. Hồ Chí Minh
Chính quy
 
T.Bình khá
10 BÙI THÁI GIANG 05/4/1976   Nghệ An Công chứng viên Trên 10 năm Cử nhân Luật
Trường ĐHL TP. Hồ Chí Minh
Chính quy
 
T.Bình khá
11 NGUYỄN BẢO PHÚC 15/8/1970   Đồng Nai Tập sự hành nghề Luật sư
(Đã từng làm thư ký TAND huyện Vĩnh Cửu, Đồng Nai từ 1995-01/01/2002
Trên 15 năm Cử nhân Luật
Trường ĐHL Hà Nội
Tại chức
 
T.Bình
12 NGUYỄN BẢO KHA 20/10/1978   Bình Dương Luật sư Trên 10 năm Cử nhân Luật
Trường ĐHL TP. Hồ Chí Minh
Chính quy
 
T.Bình khá
 
Danh sáchFalse
Thông báo chiêu sinh Lớp tập huấn về nghề Thừa phát lạiThông báo chiêu sinh Lớp tập huấn về nghề Thừa phát lại/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/2/2014 4:39 AMNoĐã ban hành

UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG

                      SỞ TƯ PHÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

                Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

               Số:  629/TB-STP

             Bình Dương, ngày 02  tháng 7 năm 2013

 
THÔNG BÁO 
Chiêu sinh Lớp tập huấn về nghề Thừa phát lại

 
   
         
Được sự ủy quyền của Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương chiêu sinh Lớp tập huấn về nghề Thừa phát lại để trang bị kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp cho những người có đủ điều kiện và nhu cầu đề nghị bổ nhiệm Thừa phát lại.
       1. Thời gian học: Từ ngày 16/8/2013 đến 30/8/2013
       2. Địa điểm học: tại thành phố Hồ Chí Minh (sẽ có thông báo địa chỉ cụ thể sau)
       3. Số lượng chiêu sinh12 học viên
       4. Hình thức chiêu sinh: xét duyệt
       5. Điều kiện tham gia:
       - Là công dân Việt Nam, có sức khỏe, có phẩm chất đạo đức tốt; không có tiền án;
       - Có bằng cử nhân luật.
       - Đã công tác trong ngành pháp luật trên 05 năm hoặc đã từng là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư, Công chứng viên; Chấp hành viên, Điều tra viên từ Trung cấp trở lên.
       - Có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bình Dương.
       6. Thời hạn nhận hồ sơ đăng ký học: Từ ngày ra thông báo đến 17 giờ ngày 15/7/2013.
       7. Địa điểm nhận hồ sơ đăng ký học: Nộp hồ sơ trực tiếp tại Phòng Bổ trợ tư pháp-Sở Tư pháp, địa chỉ 469, Đại lộ Bình Dương, phường Phú Cường, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
       8. Hồ sơ đăng ký học gồm có: 
       - Đơn đăng ký học (theo mẫu)
      - Chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu và hộ khẩu thường trú (bản sao có chứng thực hoặc bản photocopy kèm bản chính để đối chiếu);
      - Lý lịch cá nhân (theo mẫu);
      - Phiếu lý lịch tư pháp (bản chính) hoặc Giấy cam kết không có tiền án (theo mẫu). Trường hợp cam kết không có tiền án thì phải bổ sung Phiếu lý lịch tư pháp khi cấp Chứng chỉ đã hoàn thành khóa tập huấn.
- Bằng cử nhân luật (bản sao có chứng thực hoặc bản photocopy kèm bản chính để đối chiếu);
- Giấy tờ chứng minh về thời gian công tác trong ngành pháp luật trên 05 năm hoặc đã từng là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư; Chấp hành viên, Công chứng viên, Điều tra viên từ Trung cấp trở lên (bản sao có chứng thực hoặc bản photocopy kèm bản chính để đối chiếu).
9. Số hồ sơ phải nộp: 02 bộ
         Ghi chú:
       - Mẫu đính kèm: Đơn đăng ký học, Lý lịch cá nhân và Giấy cam kết không có tiền án.
       - Kết quả xét duyệt hồ sơ sẽ đăng trên Trang thông tin điện tử Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; 
       - Không hoàn trả hồ sơ đã nộp. 
 
Nơi nhận:
- Tổng cục THADS-BTP;
- Đăng Website;
- Lưu: VT, BTTP.
GIÁM ĐỐC
(Đã kỹ)



Trần Hồng Long
 
                                                                                    
Thông tinFalse
Ảnh
Video
Audio