Đang cập nhật dữ liệu ...
 
  
Phân loại
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Nội dung
  
  
Công văn số 813/STP-HCTP ngày 01/6/2021 của Sở tư Pháp tỉnh Bình Dương về hướng dẫn thực hiện công tác đăng ký và quản lý hộ tịchVăn bản hướng dẫn nghiệp vụTinCông văn số 813/STP-HCTP ngày 01/6/2021 của Sở tư Pháp tỉnh Bình Dương về hướng dẫn thực hiện công tác đăng ký và quản lý hộ tịch/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/15/2021 4:00 PMNoĐã ban hành

     ​Qua theo dõi công tác đăng ký và quản lý hộ tịch, Sở Tư pháp nhận được một số khó khăn, vướng mắc của cán bộ làm công tác hộ tịch tại địa phương khi tiếp nhận, giải quyết các thủ tục như: cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người đã sống chung với nhau như vợ chồng trước ngày 03/01/1987; giám sát giám hộ.       Qua nghiên cứu các quy định của pháp luật liên quan; các văn bản hướng dẫn của Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực (Bộ Tư pháp), Sở Tư pháp đã có công văn hướng dẫn Phòng Tư pháp các huyện, thị xã, thành phố các nội dung trên để đảm bảo thực hiện thống nhất trên phạm vi tỉnh.

Kèm theo Công văn : CV_813_STP-HCTP.signed.pdf

FalsePhòng Hành chính Tư pháp
KẾ HOẠCH SỐ 1828/KH-UBND VỀ VIỆC TRIỂN KHAI THỰC HIỆN SỐ HÓA SỔ HỘ TỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNGVăn bản hướng dẫn nghiệp vụBài viếtKẾ HOẠCH SỐ 1828/KH-UBND VỀ VIỆC TRIỂN KHAI THỰC HIỆN SỐ HÓA SỔ HỘ TỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG/hanhchinhtuphap/PublishingImages/2021-05/11_Key_18052021150157.jpg
Ngày 05 tháng 05 năm 2021, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương đã ban hành Kế hoạch số 1828/KH-UBND về việc triển khai thực hiện số hóa Sổ hộ tịch trên địa bàn tỉnh Bình Dương
5/18/2021 3:00 PMYesĐã ban hành

    Ngày 05 tháng 05 năm 2021, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương đã ban hành Kế hoạch số 1828/KH-UBND về việc triển khai thực hiện số hóa Sổ hộ tịch trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Theo đó, việc số hóa Sổ hộ tịch trên địa bàn tỉnh được thực hiện theo 05 giai đoạn, cụ thể:

- Giai đoạn 1: Số hóa các sổ hộ tịch đã được đăng ký theo quy định của Luật Hộ tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành có hiệu lực từ ngày 01/01/2016 đến ngày đến hết ngày 30/5/2017 (trước ngày các cơ quan đăng ký và quản lý hộ tịch trên địa bàn tỉnh Bình Dương triển khai Hệ thống thông tin quản lý hộ tịch của Bộ Tư pháp).

- Giai đoạn 2: Số hóa các sổ hộ tịch được đăng ký theo quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch (dữ liệu đăng ký hộ tịch từ năm 2006 đến hết năm 2015).

- Giai đoạn 3: Số hóa các sổ hộ tịch đã được đăng ký theo quy định của Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ về đăng ký hộ tịch (dữ liệu đăng ký hộ tịch từ năm 1999 đến năm 2006).

- Giai đoạn 4: Số hóa các sổ hộ tịch đã được đăng ký từ năm 1976 đến năm 1999.

- Giai đoạn 5: Số hóa các sổ hộ tịch đã đăng ký từ năm 1975 trở về trước.

   Kế hoạch thực hiện số hóa sổ hộ tịch trên địa bàn tỉnh nhằm chuyển đổi dữ liệu hộ tịch từ sổ giấy sang dữ liệu số theo hướng hình thành hệ thống thông tin hộ tịch với cấu trúc chuẩn tại các cơ quan đăng ký hộ tịch trên địa bàn tỉnh, đáp ứng yêu cầu đăng ký, quản lý hộ tịch theo Luật Hộ tịch và giải quyết thủ tục hành chính trong đăng ký hộ tịch trực tuyến, có khả năng kết nối để cung cấp thông tin hộ tịch cho cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác có liên quan; đồng thời hoàn thiện việc xây dựng cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử của tỉnh và kết nối cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử toàn quốc, bảo đảm tối đa lợi ích của người dân.

Đính kèm Kế hoạch số 1828/KH-UBND​ ​​1828-KH.signed.pdf

FalsePhòng Hành chính Tư pháp
Công văn số 444/STP-HCTP ngày 01/42021 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc lưu trữ Sổ hộ tịch Văn bản hướng dẫn nghiệp vụTinCông văn số 444/STP-HCTP ngày 01/42021 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc lưu trữ Sổ hộ tịch /Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
4/5/2021 3:00 PMNoĐã ban hành
FalsePhòng Hành chính Tư pháp
Công văn số 390/STP-HCTP ngày 25/3/2021 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc tiếp tục cung cấp thông tin liên quan đến giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài; thông tin đăng ký khai tử cho công dân Việt Nam tại Trung Quốc (Đài Loan)Văn bản hướng dẫn nghiệp vụTinCông văn số 390/STP-HCTP ngày 25/3/2021 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc tiếp tục cung cấp thông tin liên quan đến giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài; thông tin đăng ký khai tử cho công dân Việt Nam tại Trung Quốc (Đài Loan)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
4/5/2021 3:00 PMNoĐã ban hành
FalsePhòng Hành chính Tư pháp
Công văn số 451/STP-HCTP ngày 01/4/2021 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc thông báo tình hình lưu trữ Sổ hộ tịch trên địa bàn tỉnh Bình DươngThông báoTinCông văn số 451/STP-HCTP ngày 01/4/2021 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc thông báo tình hình lưu trữ Sổ hộ tịch trên địa bàn tỉnh Bình Dương/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
4/5/2021 2:00 PMNoĐã ban hành
FalsePhòng Hành chính Tư pháp
Công văn số 120/STP-HCTP ngày 25/01/2021 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc xử lý một số vướng mắc liên quan đến số định danh cá nhân của trẻ em đăng ký khai sinh từ ngày 01/01/2016 Văn bản hướng dẫn nghiệp vụTinCông văn số 120/STP-HCTP ngày 25/01/2021 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc xử lý một số vướng mắc liên quan đến số định danh cá nhân của trẻ em đăng ký khai sinh từ ngày 01/01/2016 /Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
2/3/2021 3:00 PMNoĐã ban hành
FalsePhòng Hành chính Tư pháp
Công văn số 79/STP-HCTP ngày 18/01/2021 về việc phối hợp báo cáo kết quả thực hiện Quyết định 1299/QĐ-TTgVăn bản điều hànhTinCông văn số 79/STP-HCTP ngày 18/01/2021 về việc phối hợp báo cáo kết quả thực hiện Quyết định 1299/QĐ-TTg/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
1/20/2021 9:00 AMNoĐã ban hành
FalsePhòng Hành chính Tư pháp
Hỏi - đáp: Về dự án Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và dự án Sản xuất, cấp và quản lý Căn cước công dânThông báoTinHỏi - đáp: Về dự án Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và dự án Sản xuất, cấp và quản lý Căn cước công dân/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Trước yêu cầu nhiệm vụ bảo đảm an ninh, trật tự trong tình hình mới, yêu cầu quản lý nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân và chủ trương đơn giản hoá thủ tục hành chính, giấy tờ công dân liên quan đến quản lý dân cư, ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến; thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Công an được giao trọng trách xây dựng dự án Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và dự án Sản xuất, cấp và quản lý Căn cước công dân (CCCD).
12/21/2020 9:00 AMNoĐã ban hành

Đây là 02 dự án có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình xây dựng Chính phủ điện tử, góp phần cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, phục vụ hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh phòng, chống tội phạm.

I. VỀ DỰ ÁN CƠ SỞ DỮ LIỆU QUỐC GIA VỀ DÂN CƯ

Hỏi: Sự cần thiết của việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư?

Đáp: Hiện nay, ở nước ta việc quản lý dân cư mang tính đơn lẻ, từng bộ, ngành quản lý, theo dõi riêng biệt. Để phục vụ công tác quản lý nhà nước của bộ, ngành mình, đồng thời bảo đảm quyền và nghĩa vụ của công dân trong từng bộ, ngành, lĩnh vực, các cơ quan quản lý nhà nước đều cấp cho công dân một số loại giấy tờ nên mỗi công dân có thể sở hữu nhiều loại giấy tờ khác nhau (giấy khai sinh, chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu, giấy đăng ký kết hôn, thẻ bảo hiểm y tế, hộ chiếu, giấy phép lái xe, các loại thẻ, chứng chỉ...). Cùng với việc cấp các giấy tờ cho công dân, việc nghiên cứu, xây dựng các cơ sở dữ liệu mới chỉ tập trung vào mục tiêu quản lý nhà nước của từng bộ, ngành, lĩnh vực mà chưa đặt vấn đề kết nối, chia sẻ thông tin chung về công dân giữa các cơ sở dữ liệu nên không khắc phục được tình trạng cục bộ, chia cắt thông tin về công dân, không thống nhất về thông tin cơ bản của một công dân trong các cơ sở dữ liệu. Từ việc quản lý đơn lẻ dẫn tới gây lãng phí về kinh tế, nguồn nhân lực, khi thực hiện thủ tục hành chính người dân phải mất thời gian đi sao, chứng thực các giấy tờ để chứng minh nhân thân, trong khi những loại giấy tờ liên quan đều chỉ sử dụng chung những thông tin về công dân giống nhau.

Cùng với quá trình phát triển của khoa học kỹ thuật, nhất là cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang phát triển mạnh mẽ như hiện nay, việc ứng dụng khoa học công nghệ trong các mặt công tác quản lý nhà nước nói chung và công tác nghiệp vụ của ngành Công an là xu hướng không thể đảo ngược, nhiều nước trên thế giới đã có bước tiến rất xa trong lĩnh vực này. Muốn làm được điều này, cần phải xây dựng và kết nối được hệ thống các cơ sở dữ liệu với nhau, trong đó cốt lõi là Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Như vậy, việc xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư thống nhất trên toàn quốc để thu thập, cập nhật được thông tin cơ bản của công dân Việt Nam nhằm phục vụ quản lý nhà nước và giao dịch của cơ quan, tổ chức, cá nhân, khắc phục được các hạn chế, bất cập nêu trên là cần thiết, có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng thành công Chính phủ điện tử, hướng tới nền kinh tế số.

Hỏi: Vị trí, vai trò của Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư?

Đáp: Vị trí, vai trò của Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư đối với công tác quản lý nhà nước và phục vụ Nhân dân.

- Thông qua việc tổ chức thu thập, cập nhật các thông tin cơ bản của công dân sẽ tạo lập nên một hệ cơ sở dữ liệu về dân cư tập trung, thống nhất trên toàn quốc để dùng chung cho các bộ, ngành và chính quyền các cấp nhằm cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời thông tin về dân cư (số liệu, cơ cấu, phân bổ và biến động dân cư...) phục vụ công tác quản lý nhà nước, hoạch định các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an sinh xã hội.

- Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư chính là căn cứ quan trọng để các cơ quan quản lý nhà nước nghiên cứu, đề xuất lộ trình đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm giấy tờ công dân, khắc phục tình trạng một người dân phải sử dụng quá nhiều giấy tờ cá nhân nhưng lại không đem lại hiệu quả trong công tác giải quyết thủ tục hành chính. Việc tra cứu thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư khi giải quyết các thủ tục hành chính sẽ thay thế cho việc phải xuất trình hoặc nộp bản sao có chứng thực các giấy tờ công dân khi thực hiện thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian xử lý, giảm chi phí và thời gian đi lại của Nhân dân, nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân.

- Thông tin về dân cư được thu thập, cập nhật thường xuyên sẽ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý dân cư, quản lý chắc biến động dân cư, quản lý các loại đối tượng hỗ trợ công tác tra cứu, xác minh về nhân thân của công dân, góp phần đảm bảo an ninh, trật tự, đấu tranh phòng, chống tội phạm.

- Cơ sở dữ liệu dân cư được xây dựng với mục tiêu kết nối, chia sẻ thông tin về dân cư với các cơ sở dữ liệu chuyên ngành của các ngành, lĩnh vực trên toàn quốc, làm tăng khả năng khai thác, cập nhật thông tin về dân cư, hạn chế tối đa sự trùng lặp thông tin, giảm chi phí ngân sách nhà nước trong xây dựng cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin của các cơ sở dữ liệu chuyên ngành. Đồng thời, Cơ sở dữ liệu về dân cư ra đời cũng sẽ góp phần làm giảm khối lượng hồ sơ giấy tờ đang được lưu trữ quản lý tại cơ quan hành chính.

(*) Ý nghĩa, vai trò trong công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm

Thông qua việc tổ chức thu thập, cập nhật các thông tin cơ bản của công dân sẽ tạo lập nên một hệ cơ sở dữ liệu về dân cư tập trung, thống nhất từ Trung ương đến địa phương. Từ hệ thống cơ sở dữ liệu dân cư đó, sẽ giúp hỗ trợ công tác tra cứu, xác minh về nhân thân của công dân, góp phần đảm bảo an ninh, trật tự, đấu tranh phòng, chống tội phạm.

(*) Ý nghĩa, vai trò trong việc hoạch định, phát triển kinh tế của Nhà nước

Từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, các bộ, ngành có thể tra cứu các thông tin như: Di biến động về tình hình dân cư, số lượng người đến độ tuổi lao động tại các địa phương, từ đó có thể bố trí, sắp xếp các khu kinh tế trọng điểm tại địa phương mình; số lượng trẻ dưới 14 tuổi và trên 14 tuổi để sắp xếp xây dựng các trường học…

(*) Ý nghĩa của Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư đối với việc bỏ Sổ hộ khẩu theo Luật Cư trú (sửa đổi)

Ngày 30/10/2017, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 112/NQ-CP về đơn giản hoá thủ tục hành chính, giấy tờ công dân liên quan đến quản lý dân cư thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Công an. Trong đó, quy định "Bãi bỏ hình thức quản lý dân cư đăng ký thường trú bằng "Sổ hộ khẩu" và thay thế bằng hình thức quản lý thông qua mã số định danh cá nhân". Việc bãi bỏ hình thức quản lý dân cư bằng Sổ hộ khẩu là thay đổi phương thức quản lý, từ quản lý thủ công bằng Sổ hộ khẩu sang quản lý hiện đại thông qua mã số định danh cá nhân để phục vụ tốt hơn cho người dân, phục vụ mục tiêu dùng chung trong công tác quản lý nhà nước, cải cách thủ tục hành chính, phục vụ giao dịch của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, hướng tới xây dựng Chính phủ điện tử. Việc xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư nhằm tiến tới quản lý dân cư dựa trên ứng dụng khoa học kỹ thuật thông qua mã số định danh cá nhân. Do đó, khi công dân có các giao dịch chỉ cần có số định danh cá nhân để chứng minh nhân thân, không cần thiết xuất trình Sổ hộ khẩu.

Hỏi: Mã số định danh cá nhân được hình thành như thế nào? Phương thức quản lý cư trú sau khi bỏ Sổ hộ khẩu sang quản lý số hoá thông qua mã định danh cá nhân?

Đáp: Số định danh cá nhân được sinh ra sau khi thông tin về công dân được thu thập vào hệ thống một cách đồng bộ, thống nhất. Số định danh cá nhân được xác lập từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư dùng để kết nối, cập nhật, chia sẻ, khai thác thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành. Số định danh cá nhân do Bộ Công an thống nhất quản lý trên toàn quốc cấp cho công dân Việt Nam, không lặp lại ở người khác. Số định danh cá nhân có vai trò rất quan trọng trong việc kết nối, liên thông giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, trong đó hệ thống quản lý dân cư trên toàn quốc được coi là hệ thống thông tin chủ đạo kết nối với các hệ thống thông tin chuyên ngành khác của bộ, ngành thông qua mã số định danh cá nhân.

Việc bãi bỏ Sổ hộ khẩu là bước đột phá trong việc quản lý dân cư, thay thế phương thức quản lý dân cư từ thủ công sang quản lý điện tử bằng mã số định danh cá nhân xác lập từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Số định danh cá nhân được ghi trên giấy khai sinh và thẻ Căn cước công dân để phục vụ công dân khi thực hiện các thủ tục hành chính.

Khi đó, quy trình thực hiện các thủ tục hành chính về quản lý dân cư cũng sẽ được nghiên cứu, thay đổi cho phù hợp. Với việc khi Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (thực hiện các thủ tục về đăng ký, quản lý cư trú) kết nối với Cơ sở dữ liệu căn cước công dân (thực hiện thủ tục về cấp, quản lý Căn cước công dân, Chứng minh nhân dân) và Cơ sở dữ liệu hộ tịch (khai sinh, khai tử, đăng ký kết hôn…) và kết nối đến các cơ sở dữ liệu quốc gia khác. Việc thực hiện các thủ tục hành chính sẽ được khai thác thông qua Số định danh cá nhân để chứng minh của công dân.

Theo đó, Luật Căn cước công dân tại Khoản 3, Điều 10 cũng quy định: "Thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư là căn cứ để cơ quan, tổ chức kiểm tra, thống nhất thông tin về công dân. Khi công dân đã sử dụng thẻ Căn cước công dân của mình, cơ quan, tổ chức không được yêu cầu công dân xuất trình giấy tờ hoặc cung cấp thông tin đã có trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư".

Sau khi dự án Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư được hoàn thành và đưa vào khai thác, Bộ Công an sẽ chủ trì phối hợp với các bộ, ngành có liên quan đề xuất lộ trình đơn giản hoá thủ tục hành chính, giấy tờ công dân thuộc lĩnh vực đăng ký, quản lý cư trú, cấp và quản lý Chứng minh nhân dân. Chứng minh nhân dân sẽ dần được thay thế bằng Căn cước công dân. Việc quản lý và khai thác thông tin dân cư sẽ thông qua mã số định danh cá nhân thay thế cho việc xuất trình Sổ hộ khẩu như hiện nay.

Hỏi: Tính bảo mật của thông tin công dân, hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư như thế nào?

Đáp: Theo quy định của Luật Căn cước công dân thì công dân có quyền được đảm bảo bí mật cá nhân, gia đình và trách nhiệm của cơ quan quản lý phải đảm bảo an toàn, bí mật thông tin cá nhân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Chính vì vậy, ngay từ khi triển khai, đầu tư xây dựng, Bộ Công an đã chỉ đạo thiết kế xây dựng hạ tầng, đường truyền riêng thông suốt từ Trung ương đến địa phương, có phương án để kết nối, chia sẻ thông tin với các bộ, ngành liên quan. Hệ thống được trang bị bảo mật tiên tiến, nhiều lớp như: Chia vùng phần cứng và phần mềm chuyên dụng, bảo mật đường truyền, mã hoá dữ liệu thông tin kết hợp với quản lý người dùng. Vì vậy đảm bảo thông tin của công dân được an toàn, bảo mật tuyệt đối.

Hỏi: Quyền, nghĩa vụ của công dân trong việc thực hiện thu thập, cập nhật thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư?

Đáp: Công dân có quyền:

+ Được đảm bảo bí mật cá nhân, bí mật gia đình trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư trừ trường hợp phải cung cấp thông tin, tài liệu theo luật định.

+ Yêu cầu cơ quan quản lý Căn cước công dân cập nhật, chỉnh sửa thông tin khi thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và Cơ sở dữ liệu Căn cước công dân hoặc thẻ Căn cước công dân chưa có, chưa chính xác hoặc có thay đổi theo quy định của pháp luật.

- Công dân có nghĩa vụ:

+ Cung cấp đầy đủ, chính xác, đúng thời hạn thông tin, tài liệu của bản thân để cập nhật vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Bên cạnh việc chấp hành nghiêm quyền và nghĩa vụ của mình, công dân cần nâng cao nhận thức về mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của việc xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Từ đó, vận động người thân, bạn bè chấp hành nghiêm, phối hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho các lực lượng chức năng thực thi nhiệm vụ, bảo đảm xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư đúng tiến độ và đạt hiệu quả cao.

Hỏi: Việc chia sẻ các bộ, ngành về thông tin công dân để phục vụ công tác quản lý của bộ, ngành được thực hiện như thế nào?

Đáp: Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư sẽ bao gồm tập hợp 18 trường thông tin cơ bản của toàn bộ công dân Việt Nam. Hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư được tích hợp với hệ thống căn cước công dân, hệ thống đăng ký khai sinh, khai tử, thay đổi, cải chính hộ tịch của Bộ Tư pháp và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành… Đây là "chìa khoá" để Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư trao đổi, chia sẻ hồ sơ dữ liệu gốc của công dân với các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành của các cơ quan nhà nước khác khi có nhu cầu đảm bảo tính nhất quán, chính xác, kịp thời và tránh trùng lặp thông tin về công dân trong các cơ sở dữ liệu; cung cấp thông tin tổng hợp về công dân theo yêu cầu khai thác của Chính phủ và cung cấp dịch vụ xác thực nhân thân theo nhu cầu của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân.

Hỏi: Các cách thức để Nhân dân biết, khai thác thông tin của mình trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư

Đáp: Trong dự án Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư đã xây dựng các chức năng cho phép công dân được tra cứu các thông tin của mình qua cổng dịch vụ công quốc gia. Do vậy, sẽ tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn công dân cách thức thực hiện việc tự tra cứu thông tin trên cổng này.

Ngoài ra, công dân có nhu cầu khai thác thông tin thì làm văn bản yêu cầu nêu rõ mục đích, nội dung thông tin cần khai thác và đến Công an địa phương (cấp huyện, xã thuộc hệ lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính), xuất trình thẻ Căn cước công dân để cơ quan Công an kiểm tra, xác định đúng người trước khi yêu cầu tra cứu, xác minh thông tin của mình.  

II. VỀ DỰ ÁN SẢN XUẤT, CẤP VÀ QUẢN LÝ CCCD

Hỏi: Vị trí, vai trò của dự án Sản xuất, cấp và quản lý CCCD đối với công tác quản lý nhà nước, phục vụ Nhân dân và ý nghĩa, vai trò trong công tác phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm?

Đáp: Dự án Sản xuất, cấp và quản lý CCCD có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình xây dựng Chính phủ điện tử, góp phần cải cách hành chính phục vụ Nhân dân, nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự; phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và các hoạt động nghiệp vụ khác của lực lượng Công an nhân dân, cụ thể:

(1). Góp phần cải cách hành chính, phục vụ Nhân dân: Bộ Công an xây dựng hệ thống sản xuất, cấp và quản lý CCCD tập trung, thống nhất, đồng bộ, hiện đại từ Trung ương tới Công an các địa phương và kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư nên các thông tin của công dân thường xuyên được thu thập, cập nhật, khai thác, chia sẻ nên khi công dân làm thủ tục đề nghị cấp, đổi, cấp lại thẻ CCCD rất thuận tiện, công dân có thể đến bất cứ điểm tiếp dân nào của cơ quan Công an cũng có thể thực hiện việc cấp CCCD mà không nhất thiết phải về nơi đăng ký thường trú. Bộ Công an đồng thời triển khai các dịch vụ công trực tuyến cấp CCCD, cấp Giấy xác nhận số CMND trực tuyến, cấp thẻ CCCD có gắn chíp điện tử... Do đó sẽ tạo điều kiện rất thuận lợi cho công dân và tiết kiệm thời gian, công sức, chi phí, đồng thời khi thực hiện các giao dịch khác cũng rất thuận tiện và nhanh chóng.

(2). Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước: Việc triển khai thành công dự án sẽ tạo dựng được cơ sở dữ liệu về thông tin của công dân trong toàn quốc với độ chính xác cao, đầy đủ và khả năng truy nguyên đồng nhất mỗi công dân được cấp 01 số thẻ CCCD cũng là Số định danh cá nhân; trên thẻ CCCD được gắn chíp điện để lưu trữ thông tin cá nhân của công dân để các Bộ, ngành, đơn vị có thể khai thác thông tin và ghi thông tin trên chíp phục vụ quản lý nhà nước.

(3). Hiệu quả về kinh tế và xã hội: Việc triển khai thành công dự án Sản xuất, cấp và quản lý CCCD sẽ mang lại hiệu quả về kinh tế, xã hội rõ rệt. Công dân được đảm bảo quyền lợi về CCCD phục vụ giao dịch cá nhân nhanh chóng, thuận tiện, tiết kiệm chi phí, công sức đi lại; cơ quan nhà nước sẽ được hưởng những dịch vụ công tốt nhất, được kết nối, khai thác thông tin phục vụ công tác quản lý của mình nhanh chóng, chính xác, độ tin cậy cao; các giao dịch của người dân rất thuận tiện (sử dụng chíp điện tử, dữ liệu dân cư liên thông các Bộ, ngành) dần tiến tới các giao dịch trong Chính phủ điện tử, nền kinh tế số hỗ trợ rất lớn cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong phát triển các hoạt động kinh tế, xã hội; minh bạch hóa các thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian trả kết quả của các dịch vụ hành chính công.

(4). Nâng cao hiệu công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm; các hoạt động nghiệp vụ của lực lượng CAND: Qua triển khai dự án Sản xuất, cấp và quản lý CCCD, thông tin của người dân từ đủ 14 tuổi trở lên sẽ được thu thập, cập nhật vào cơ sở dữ liệu CCCD và trao đổi với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để thống nhất, quản lý. Thông tin có độ chính xác cao, có ảnh chân dung, vân tay lăn và các thông tin cơ bản của công dân do vậy phục vụ rất đắc lực cho công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, truy nguyên các thông tin như truy tìm tung tích nạn nhân, mất tích, chết không rõ nguyên nhân, nhận diện khuôn mặt, đối sánh vân tay, quản lý danh sách đối tượng theo quy định; phục vụ cơ quan điều tra thực thi các hoạt động điều tra, truy xét theo quy định một cách nhanh chóng, chính xác.     

Hệ thống được thiết kế mở có khả năng kết nối, chia sẻ dữ liệu với các hệ thống khác của ngành Công an như Cơ sở dữ liệu về tội phạm, nhận diện khuôn mặt, hộ chiếu, truy nã, truy tìm... và tạo thành một cơ sở dữ liệu liên thông, thống nhất, đầy đủ của Bộ Công an góp phần xây dựng các chương trình, kế hoạch để Bộ Công an ra được các quyết nghị về tác chiến, đấu tranh phòng, chống tội phạm, tổ chức các đợt cao điểm tấn công trấn áp tội phạm, truy nã, truy tìm, thực hiện các biện pháp nghiệp vụ của lực lượng CAND...

Hỏi: Tiến độ, thời gian hoàn thành các hạng mục chính của dự án?

Đáp: (1). Tháng 11/2020, triển khai thu nhận, cấp CCCD gắn chíp điện tử, thu nhận vân tay lăn của công dân trên toàn quốc.

(2). Tháng 12/2020, Bộ Công an sản xuất, cấp thẻ CCCD có gắn chíp điện tử trên toàn quốc.

(3). Ngày 26/02/2021, tổ chức Lễ bấm nút, công bố Hệ thống sản xuất, cấp và quản lý CCCD và CSDL quốc gia về dân cư.

(4). Tháng 6/2021, Bộ Công an tổ chức Hội nghị Tổng kết Dự án và thực hiện các thủ tục quyết toán dự án theo quy định.

Hỏi: Việc thực hiện thu nhận vân tay lăn có những ưu điểm, nhược điểm gì?

Đáp:

- Ưu điểm: Có thể thu nhận được vùng vân tay rộng hơn kết nối với tàng thư thủ công giúp cho việc truy nguyên hiệu quả hơn vân tay phẳng (khi lăn đầy đủ ngón tay).

- Nhược điểm: Công tác thu nhận hồ sơ khi thu nhận vân tay lăn phức tạp hơn vân tay phẳng; đầu tư lớn hơn; cán bộ cần có kinh nghiệm, chuyên môn để có thể đảm bảo năng suất thu nhận, cấp CCCD; tốc độ, công suất tiếp nhận hồ sơ ở địa phương chậm; tăng chi phí đầu tư; cần phải đầu tư nhiều thời gian đào tạo nhân lực và nguồn nhân lực cũng phải có chuyên môn cao. Cần hình thành một đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp lấy vân tay. Do vân tay lăn được thu nhận bằng phương pháp lăn ngón tay trên mặt phẳng của thiết bị nên ngón tay dễ bị trượt, dẫn đến các vân bị chồng nhau, tạo ra các khoảng đen vân tay.

Hỏi: Việc thực hiện song hành và tiết kiệm khi thực hiện với dự án Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư?

Đáp: Cơ sở dữ liệu CCCD và Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư độc lập nhau về cơ sở pháp lý; đối tượng sử dụng, đối tượng phục vụ và mục tiêu dự án là khác nhau nhưng được lãnh đạo Bộ Công an chỉ đạo về việc xây dựng hệ thống CCCD thống nhất thành một hệ thống với hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Do đó, dự án Sản xuất, cấp và quản lý CCCD sử dụng chung với dự án Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư về nhiều hạng mục đầu tư để nâng cao hiệu quả và tiết kiệm chi phí như: Dùng chung đường truyền;  thiết bị tường lửa, định tuyến cấp Trung ương tại Hà Nội và trung tâm dự phòng tại Tp. HCM; dùng chung máy trạm tại địa phương; đối với 16 địa phương đã triển khai cấp CCCD thì sử dụng hạ tầng, máy móc, thiết bị sẵn có...

Hỏi: Tính ưu việt của thẻ CCCD có gắn chíp?

Đáp: Thẻ CCCD có gắn chíp điện tử có độ bảo mật cao, dung lượng lưu trữ lớn, cho phép tích hợp nhiều ứng dụng đi kèm như: Ứng dụng chữ ký số, ứng dụng sinh trắc học, ứng dụng mật khẩu một lần…có thể được sử dụng và kết nối rộng rãi cho các dịch vụ công cộng và tư nhân. Đáng chú ý, khi thẻ CCCD gắn chíp điện tử có tích hợp đầy đủ các thông tin, lúc đó người dân đi giao dịch và làm các thủ tục sẽ không phải mang nhiều loại giấy tờ mà chỉ cần dùng thẻ CCCD có gắn chíp thì sẽ thực hiện được các giao dịch. Ngoài ra, việc tích hợp chíp trên CCCD đem lại tính linh hoạt khi cần bổ sung hoặc sửa đổi thông tin trên thẻ sau khi phát hành bởi cơ quan công an. Dữ liệu trên chíp có thể truy cập ngay lập tức mà không bị phụ thuộc vào kết nối mạng thông qua các thiết bị cho phép đọc thông tin trên chíp, giúp cho việc xác thực danh tính được thực hiện ngay lập tức, hạn chế tối đa việc giả mạo danh tính. 

Thẻ CCCD gắn chíp cũng là xu thế nhiều nước trên thế giới áp dụng vì tính tiện dụng, cũng như tạo sự thuận lợi cho công dân khi thực hiện các giao dịch dịch vụ trực tuyến. Hiện nay, đã có tổng số 70 nước sử dụng thẻ CCCD có gắn chíp, trong đó các nước ứng dụng điển hình như: Malaysia, Thái Lan, Campuchia, Philipin, Brunei, Ấn Độ, Isarel, Pakistan, UAE, Bangladesh, Tây Ban Nha, Estonia, Cộng hoà Séc, Ý, Hungary, Lithuania, Ba Lan, Latvia, Thuỵ Điển, Bồ Đào Nha, Mexico, Peru, Brazil, Guatemala, Urugoay, Nigeria, Malawi, Ghana, Cameroon.

Hỏi: Phương án bảo mật thông tin cá nhân khi sử dụng thẻ CCCD gắn chíp; khả năng định vị được người sử dụng của loại chíp gắn trên CCCD?

Đáp: Chíp sử dụng trên thẻ CCCD tuân thủ quy định bảo mật của thế giới và Việt Nam, trên chíp có thực hiện ký số do vậy khó có thể làm giả, đảm bảo độ tin cậy trong thực hiện các giao dịch.

Chíp có khả năng lưu trữ thông tin sinh trắc học (như dấu vân tay) cho phép xác thực đảm bảo chính xác con người. Qua đó, thông tin chủ thẻ được định danh một cách chính xác, giảm thiểu mọi nguy cơ về giả mạo thẻ, đảm bảo an toàn bảo mật nhất là trong các giao dịch tài chính.

Khi đề xuất sử dụng thẻ CCCD có gắn chíp điện tử, Bộ Công an đã xây dựng phương án đảm bảo tính bảo mật thông tin được lưu trữ trên chíp; phương án này được các đơn vị chuyên môn đánh giá, nghiệm thu đảm bảo bảo mật trước khi đưa vào phát hành sử dụng rộng rãi trong xã hội.

Hỏi: Việc đảm bảo quyền tự do cá nhân cho công dân khi sử dụng thẻ CCCD gắn chíp điện tử?

Đáp: Việc gắn chíp điện tử trên thẻ CCCD với mục đích là thuận tiện trong các giao dịch hành chính của công dân cũng như phục vụ công tác quản lý nhà nước; nâng cao hiệu quả công tác cải cách hành chính, hướng tới nền Chính phủ số, chuyển đổi số và xây dựng Chính phủ điện tử, đây là xu hướng tất yếu trong việc phát triển xã hội hiện nay.

Chíp được gắn trên thẻ CCCD là để lưu trữ các thông tin của công dân trên thẻ CCCD với mục tiêu là tạo điều kiện thuận lợi cho công dân thực hiện các giao dịch hành chính, đi lại, nâng cao hiệu quả của Chính phủ điện tử, Chính phủ số; chíp gắn trên thẻ CCCD không có chức năng định vị, theo dõi để xác định vị trí của công dân. Việc tích hợp, sử dụng thông tin trên chíp tuân thủ quy định của pháp luật Việt Nam, đảm bảo an ninh, an toàn thông tin.

Hỏi: Các trường hợp cần thiết phải cấp, đổi, cấp lại CCCD; các trường hợp không cần thiết cấp, đổi, cấp lại CCCD?

Đáp: Ngày 03/9/2020, Dự án sản xuất, cấp và quản lý CCCD đã được Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định phê duyệt chủ trương đầu tư dự án và đang thực hiện các công việc phục vụ cho việc cấp thẻ CCCD có gắn chíp điện tử trên phạm vi toàn quốc, dự kiến từ tháng 11/2020. Để tránh lãng phí, góp phần tiết kiệm ngân sách Nhà nước, giảm phiền hà cho công dân khi chuyển từ CMND và thẻ CCCD đang cấp hiện nay sang thẻ CCCD gắn chíp trên phạm vi toàn quốc, trong thời gian này, người dân nếu chưa cần thiết phải cấp, đổi, cấp lại CMND, CCCD thì hãy tạm dừng lại để chờ cấp CCCD có gắn chíp; đối với những trường hợp thực sự cần thiết thì thực hiện cấp, đổi CMND, CCCD, cụ thể:

- Những trường hợp cần thiết phải cấp, đổi CMND, CCCD: Là những trường hợp công dân chưa được cấp CMND, CCCD hoặc đã được cấp nhưng bị hỏng, mất, hết thời hạn mà phải thực hiện các giao dịch buộc phải có CMND, CCCD.

- Các trường hợp chưa cần thiết: Công dân đã được cấp CMND 9 số, CMND 12 số, thẻ CCCD còn nguyên vẹn và còn thời hạn sử dụng.

Hỏi: Về việc đổi thẻ CCCD gắn chíp điện tử?

Đáp: Theo quy định của Luật CCCD và pháp luật hiện hành, công dân vẫn được sử dụng 03 loại thẻ (CMND 9 số, CMND 12 số và CCCD mã vạch) đến khi thẻ hết giá trị sử dụng.

Tuy nhiên, để tạo điều kiện thuận lợi cho công dân trong thực hiện các giao dịch, cải cách hành chính hướng tới thực hiện Chính phủ điện tử, Chính phủ số, Bộ Công an khuyến khích công dân thực hiện đổi sang sử dụng thẻ CCCD gắn chíp điện tử khi dự án Sản xuất, cấp và quản lý CCCD được triển khai.

                                                                                                                                          Nguồn: Cổng thông tin điện tử - Công an tỉnh Thái Bình



FalsePhòng Hành chính Tư pháp
Một số lưu ý khi thực hiện các quy định về biểu mẫu, Sổ Hộ tịch theo Thông tư số 04/2020/TT-BTPVăn bản hướng dẫn nghiệp vụBài viếtMột số lưu ý khi thực hiện các quy định về biểu mẫu, Sổ Hộ tịch theo Thông tư số 04/2020/TT-BTP/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Ngày 28/5/2020, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 04/2020/TT-BTP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch (Thông tư có hiệu lực kể từ ngày 16/7/2020, thay thế Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015).
12/11/2020 3:00 PMNoĐã ban hành

Để bảo đảm thực hiện thống nhất một số quy định của Thông tư số 04/2020/TT-BTP về sử dụng, biểu mẫu Sổ hộ tịch, Sở Tư pháp đề nghị Phòng Tư pháp các huyện, thị xã, thành phố lưu ý triển khai những nội dung sau:

1. Về sử dụng mẫu giấy tờ, Sổ hộ tịch.

2. Việc mở, khóa Sổ hộ tịch tại cơ quan đăng ký hộ tịch.

3. Lưu trữ Sổ hộ tịch, hồ sơ đăng ký hộ tịch.

CV_2107_STP-HCTP.signed.pdf


FalsePhòng Hành chính Tư pháp
Sở Tư pháp triển khai Nghị định số 87/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định về cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, đăng ký hộ tịch trực tuyếnVăn bản hướng dẫn nghiệp vụBài viếtSở Tư pháp triển khai Nghị định số 87/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định về cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, đăng ký hộ tịch trực tuyến/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Nghị định số 87/2020/NĐ-CP quy định về việc xây dựng, quản lý, cập nhật, khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử; kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cổng dịch vụ công quốc gia, Cổng dịch vụ công, Hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp tỉnh, Cơ sở dữ liệu khác của bộ, ngành, địa phương; cấp bản sao trích lục hộ tịch, xác nhận thông tin hộ tịch; đăng ký hộ tịch trực tuyến.
12/8/2020 10:00 AMNoĐã ban hành

Ngày 28/7/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 87/2020/NĐ-CP quy định về cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, đăng ký hộ tịch trực tuyến.

Nghị định số 87/2020/NĐ-CP quy định về việc xây dựng, quản lý, cập nhật, khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử; kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cổng dịch vụ công quốc gia, Cổng dịch vụ công, Hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp tỉnh, Cơ sở dữ liệu khác của bộ, ngành, địa phương; cấp bản sao trích lục hộ tịch, xác nhận thông tin hộ tịch; đăng ký hộ tịch trực tuyến.

Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 15/9/2020 và bãi bỏ quy định về việc chứng thực 01 bản sao Sổ hộ tịch để chuyển lưu tại cơ quan quản lý hộ tịch cấp trên trực tiếp quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 12 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch.

Để nội dung Nghị định số 87/2020/NĐ-CP được triển khai có hiệu quả và đảm bảo đúng quy định của pháp luật, ngày 20/10/2020, Sở Tư pháp đã ban hành Công văn số 1779/STP-HCTP về việc triển khai thực hiện Nghị định số 87/2020/NĐ-CP quy định về cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, đăng ký hộ tịch trực tuyến. Theo đó, Sở Tư pháp đề nghị UBND các huyện, thị xã, thành phố quan tâm chỉ đạo triển khai thực hiện các nội dung sau đây:

1. Chỉ đạo các phòng chuyên môn, các bộ phận có liên quan; Ủy ban nhân các xã, phường, thị trấn trong phạm vi địa phương quản lý tổ chức triển khai thực hiện Nghị định số 87/2020/NĐ-CP ngày 28/7/2020 của Chính phủ.

2. Bảo đảm trang thiết bị, cơ sở hạ tầng, kinh phí xây dựng, cập nhật, khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử trong phạm vị địa phương quản lý quản lý đảm bảo theo đúng quy định hiện hành.

3. Chỉ đạo Phòng Tư pháp chỉ đề nghị Sở Tư  pháp cấp tài khoản người dùng là công chức làm công tác hộ tịch tại các Phòng Tư pháp, công chức tư pháp hộ tịch tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn khi có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 72 của Luật Hộ tịch. Người dùng được cấp tài khoản có trách nhiệm bảo mật thông tin tài khoản theo quy định pháp luật về an toàn thông tin; trường hợp nghi ngờ hoặc phát hiện bị lộ thông tin tài khoản phải liên hệ ngay với Sở Tư pháp. 

4. Chỉ đạo cơ quan đăng ký hộ tịch tại địa phương khi thực hiện việc khóa Sổ hộ tịch cần lưu ý:

- Đối với các Sổ hộ tịch đã mở trước ngày Nghị định số 87/2020/NĐ-CP có hiệu lực thì vẫn thực hiện khóa sổ khi hết sổ, chứng thực bản sao và chuyển lưu theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 12 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ.

- Đối với các Sổ hộ tịch mở sau ngày Nghị định số 87/2020/NĐ-CP có hiệu lực, cơ quan đăng ký hộ tịch không thực hiện việc chứng thực bản sao Sổ hộ tịch để chuyển lưu tại cơ quan quản lý hộ tịch cấp trên trực tiếp theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 12 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ.


CV_1779_STP-HCTP.signed.pdf
FalsePhòng Hành chính Tư pháp
Ký kết quy chế phối hợp trong việc thực hiện kết nối liên thông dữ liệu đăng ký khai sinh để cấp thẻ BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổiThông báoBài viếtKý kết quy chế phối hợp trong việc thực hiện kết nối liên thông dữ liệu đăng ký khai sinh để cấp thẻ BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Để tăng cường sự phối hợp, nâng cao hiệu quả thực hiện liên thông thủ tục hành chính đăng ký khai sinh, cấp thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) cho trẻ em dưới 6 tuổi trên địa bàn tỉnh Bình Dương, ngày 03 tháng 11 năm 2020, Sở Tư pháp và Bảo hiểm xã hội (BHXH) tỉnh đã ký kết Quy chế phối hợp thực hiện kết nối liên thông dữ liệu đăng ký khai sinh, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
11/13/2020 9:00 AMNoĐã ban hành

Theo đó, hai ngành thống nhất thực hiện kết nối liên thông dữ liệu đăng ký khai sinh, cấp thẻ BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi được thực hiện bằng phương thức trao đổi thông tin qua hệ thống kết nối tự động trên Hệ thống thông tin đăng ký và quản lý hộ tịch với Hệ thống cấp thẻ BHYT qua trục NGSP (Hệ thống kết nối, liên thông các hệ thống thông tin ở Trung ương và địa phương).

Theo nội dung ký kết, công chức tư pháp hộ tịch của UBND cấp xã, phòng Tư pháp cấp huyện được phân công làm đầu mối tiếp nhận hồ sơ tiến hành đăng ký khai sinh cho trẻ em trên phần mềm đăng ký khai sinh điện tử dùng chung. Cán bộ đầu mối cập nhật phần mềm đăng ký khai sinh và chuyển dữ liệu sang Hệ thống cấp thẻ BHYT. Cơ quan BHXH thực hiện tiếp nhận dữ liệu đăng ký khai sinh để xử lý hồ sơ, cấp thẻ BHYT cho trẻ em theo thẩm quyền và chuyển thẻ BHYT của trẻ em qua dịch vụ bưu chính công ích cho cán bộ đầu mối thực hiện liên thông để trả kết quả cho người đăng ký.

Thời hạn cơ quan bảo hiểm xã hội thực hiện tiếp nhận dữ liệu, cấp thẻ BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi và bàn giao Thẻ BHYT cho Phòng Tư pháp và UBND cấp xã: trong thời hạn 04 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Trong trường hợp trẻ em bị bệnh nặng, bệnh hiểm nghèo cần phải điều trị tại cơ sở y tế, có xác nhận của Cơ sở y tế điều trị, việc cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi sẽ được cấp ngay trong ngày khi nhận hồ sơ theo quy định).

Việc cấp thẻ BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi thông qua kết nối liên thông dữ liệu giúp cho việc giải quyết thủ tục hành chính liên thông: Khai sinh – cấp thẻ BHYT được nhanh chóng, thuận lợi.

QCPH_01_BHXH-STP.pdf
FalsePhòng Hành chính Tư pháp
Một số nội dung cơ bản của Nghị định số 87/2020/NĐ-CP về Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, đăng ký hộ tịch trực tuyếnVăn bản điều hànhBài viếtMột số nội dung cơ bản của Nghị định số 87/2020/NĐ-CP về Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, đăng ký hộ tịch trực tuyến/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Ngày 28 tháng 7 năm 2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 87/2020/NĐ-CP quy định về Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, đăng ký hộ tịch trực tuyến (sau đây gọi là Nghị định), có hiệu lực thi hành từ ngày 15/9/2020.
8/18/2020 4:00 PMNoĐã ban hành


Nghị định quy định các hoạt động liên quan đến việc xây dựng, quản lý, cập nhật, khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử (sau đây gọi tắt là CSDLHTĐT); quy định chi tiết việc kết nối, cung cấp, trao đổi dữ liệu giữa CSDLHTĐT với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (sau đây gọi tắt là CSDLQGDC) cũng như nguyên tắc kết nối, chia sẻ dữ liệu với các Cơ sở dữ liệu khác của bộ, ngành, địa phương, bảo đảm phù hợp, thống nhất với Nghị định số 47/2020/NĐ-CP ngày 09/4/2020 của Chính phủ về quản lý, kết nối, chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước. Trong đó, những nội dung  đáng chú ý gồm:

1. Quy định cụ thể hơn khái niệm CSDLHTĐT, các thông tin cần được xác lập trong CSDLHTĐT

Khoản 4 Điều 4 Luật hộ tịch đưa ra khái niệm CSDLHTĐT là cơ sở dữ liệu ngành, được lập trên cơ sở tin học hóa công tác đăng ký hộ tịch. Cụ thể hóa khái niệm CSDLHTĐT, Nghị định đã giải thích rõ: "Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử là Cơ sở dữ liệu được lập trên cơ sở tin học hóa công tác đăng ký hộ tịch, nhằm lưu giữ thông tin hộ tịch của cá nhân được đăng ký theo quy định pháp luật, bằng thiết bị số, trong môi trường mạng, thông qua Phần mềm đăng ký, quản lý hộ tịch điện từ dùng chung" (Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 87/2020/NĐ-CP).

Theo quy định của Nghị định, thông tin hộ tịch của cá nhân được xác lập trong CSDLHTĐT là các thông tin được thu thập khi cá nhân đăng ký khai sinh thông qua Hệ thống thông tin đăng ký và quản lý hộ tịch của Bộ Tư pháp, bao gồm các thông tin hộ tịch của cá nhân như: họ, chữ đệm và tên; giới tính, ngày, tháng, năm sinh; nơi sinh; quê quán; dân tộc; quốc tịch; số định danh cá nhân của người được đăng ký khai sinh; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, dân tộc, quốc tịch, quê quán, nơi cư trú, số định danh cá nhân, giấy tờ tùy thân của cha, mẹ của người được đăng ký khai sinh; ngoài ra còn có các thông tin về họ tên, số định danh cá nhân, giấy tờ tùy thân của người đi đăng ký khai sinh, mối quan hệ với người được khai sinh; số đăng ký, quyển số, ngày, tháng, năm đăng ký, tên cơ quan đăng ký khai sinh; họ tên, chức vụ của người ký Giấy khai sinh. Các thông tin này được thu thập nhằm bảo đảm sự đồng bộ, đầy đủ dữ liệu trong CSDLHTĐT, bảo đảm cung cấp đủ các trường dữ liệu có liên quan cho CSDLQGVDC. Trên cơ sở các thông tin hộ tịch gốc của cá nhân được xác lập khi đăng ký khai sinh, thì CSDLHTĐT sẽ tiếp tục cập nhật các thông tin hộ tịch khác của cá nhân như: kết hôn, thay đổi, cải chính hộ tịch, bổ sung thông tin hộ tịch, xác định lại dân tộc, giám hộ, nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi, khai tử; ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch theo bản án, quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; ghi vào Sổ hộ tịch việc hộ tịch của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài;...việc tự động cập nhật thông tin vừa không tốn thời gian trong việc phải nhập lại các thông tin đã có trước đó khi cá nhân thực hiện việc đăng ký khai sinh (như họ, chữ đệm, tên, ngày tháng năm sinh, dân tộc, quốc tịch, quê quán, thông tin về cha mẹ …), vừa bảo đảm dữ liệu hộ tịch của cá nhân được cập nhật đồng bộ, nhanh chóng, đầy đủ, kịp thời.

2. Bảo đảm tập trung, thống nhất trong xây dựng, quản lý CSDLHTĐT

Nhằm bảo đảm tính thống nhất trong việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác đăng ký và quản lý hộ tịch được xây dựng, quản lý tập trung, thống nhất từ Trung ương đến địa phương theo quy định của Luật Hộ tịch, Nghị định số 87/2020/NĐ-CP đã quy định việc xây dựng CSDLHTĐT bao gồm các hoạt động: bảo đảm cơ sở hạ tầng kỹ thuật, thông tin; thiết kế, tổ chức Cơ sở dữ liệu; triển khai, nâng cấp, phát triển, mở rộng Phần mềm đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử dùng chung; thu thập, chuẩn hóa, nhập dữ liệu; lưu trữ, bảo mật, bảo đảm an toàn, an ninh thông tin cho cơ sở dữ liệu; có giải pháp bảo đảm tính toàn vẹn, chống chối bỏ của dữ liệu; đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng, tổ chức bộ máy nhân sự, vận hành, quản lý, cập nhật, khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu; vận hành, hiệu chỉnh Cơ sở dữ liệu; Các hoạt động khác theo quy định pháp luật (Khoản 1 Điều 6).

Ngoài ra, tại Khoản 1 Điều 24 Nghị định cũng xác định: Các cơ quan đăng ký, quản lý hộ tịch ở địa phương sử dụng thống nhất Phần mềm  đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử dùng chung kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành.  

3. Quy định rõ nguồn thông tin cung cấp cho CSDLHTĐT

 Khoản 2 Điều 3 Nghị định xác định có các nguồn cung cấp thông tin cho CSDLHTĐT gồm:

- Thông tin hộ tịch của cá nhân được đăng ký thông qua Phần mềm đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử dùng chung;

- Thông tin hộ tịch được số hóa, chuẩn hóa từ sổ hộ tịch;

- Thông tin được kết nối, chia sẻ từ CSDLQGVDC;

- Thông tin hộ tịch được chia sẻ, chuyển đổi, chuẩn hóa từ các phần mềm, cơ sở dữ liệu điện tử được thiết lập trước đây.

4. Quy định về những hành vi không được làm

Điều 5 Nghị định nêu rõ về những hành vi không được làm như: Cung cấp thông tin không đúng sự thật khi đăng ký hộ tịch trực tuyến; Truy cập trái phép vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử; làm sai lệch thông tin, thay đổi, xóa, hủy dữ liệu trái pháp luật trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử; khai thác, sử dụng hoặc tiết lộ thông tin từ Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử không đúng quy định, xâm phạm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình; Phá hoại cơ sở hạ tầng thông tin hoặc cản trở quá trình vận hành, duy trì ổn định, liên tục của Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử.

5. Việc khai thác, sử dụng CSDLHTĐT

Nghị định quy định theo hướng cho phép cá nhân, cơ quan có thẩm quyền đăng ký và quản lý hộ tịch, cơ quan có chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực hộ tịch, cơ quan, tổ chức khác đều có quyền khai thác, sử dụng CSDLHTĐT, cụ thể:

- Cơ quan đăng ký hộ tịch (UBND cấp xã, UBND cấp huyện, Cơ quan đại diện) khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử để đăng ký hộ tịch theo thẩm quyền; cấp bản sao trích lục hộ tịch; cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân; thống kê số liệu đăng ký hộ tịch và thực hiện các hoạt động quản lý nhà nước khác trong lĩnh vực hộ tịch theo quy định pháp luật.

- Cơ quan quản lý hộ tịch ở Trung ương (Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao), cơ quan quản lý hộ tịch ở địa phương (Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp) khai thác, sử dụng CSDLHTĐT thông qua các hoạt động: cấp bản sao trích lục hộ tịch, xác nhận thông tin hộ tịch theo yêu cầu của cá nhân.

- Cơ quan, tổ chức khác được cung cấp thông tin hộ tịch từ CSDLHTĐT trong trường hợp phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước, thông qua các cơ quan quản lý hộ tịch có thẩm quyền. Các yêu cầu khai thác, sử dụng CSDLHTĐT nhằm các mục đích khác (điều tra xã hội học, cung cấp dịch vụ ...) đều không được giải quyết.

- Cá nhân khai thác CSDLHTĐT thông qua việc thực hiện thủ tục hành chính; Cá nhân có yêu cầu khai thác thông tin hộ tịch của mình trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử thì gửi yêu cầu cấp bản sao trích lục hộ tịch, xác nhận thông tin hộ tịch tới cơ quan đăng ký, quản lý hộ tịch có thẩm quyền.

6. Quy định về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có yêu cầu khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có yêu cầu khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử phải có trách nhiệm:

- Tuân thủ quy định pháp luật hộ tịch và các quy định pháp luật hiện hành về sử dụng thông tin trên mạng; khai thác và sử dụng dữ liệu trong môi trường mạng; bảo vệ đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình.

-Tổ chức, cá nhân có yêu cầu cấp bản sao trích lục hộ tịch, xác nhận thông tin hộ tịch, khai thác, sử dụng thông tin trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch phải trả phí theo quy định pháp luật.

7. Quy định về đăng ký trực tuyến; cấp bản sao trích lục hộ tịch, văn bản xác nhận thông tin hộ tịch

Việc đăng ký trực tuyến là một phương thức giúp cá nhân và cơ quan có thẩm quyền có thêm lựa chọn khi thực hiện thủ tục hành chính, bên cạnh phương thức: nộp hồ sơ trực tiếp tại trụ sở cơ quan có thẩm quyền và gửi hồ sơ qua hệ thống bưu chính. Do trình tự, thủ tục giải quyết các yêu cầu đăng ký hộ tịch vẫn phải thực hiện theo quy định của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP, nên Nghị định chỉ quy định về nguyên tắc, cách thức tiếp nhận, giải quyết yêu cầu đăng ký hộ tịch trực tuyến, bảo đảm thống nhất với Nghị định số 45/2020/NĐ-CP ngày 07/4/2020 về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử, theo đó, người có yêu cầu đăng ký hộ tịch trực tuyến sẽ phải truy cập vào Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc Cổng dịch vụ công cấp tỉnh (không phụ thuộc vào nơi cư trú) để đăng ký tài khoản, xác thực người dùng theo hướng dẫn và yêu cầu của Cổng dịch vụ công. Sau khi có tài khoản, đăng nhập thành công, người có yêu cầu sẽ cung cấp thông tin vào biểu mẫu điện tử tương tác trên Cổng dịch vụ công, đính kèm bản chụp/bản sao điện tử các giấy tờ, tài liệu mà thủ tục đăng ký hộ tịch yêu cầu, nộp phí/lệ phí trực tuyến. Theo đó, khi nhận kết quả đối với các việc hộ tịch pháp luật quy định người có yêu cầu đăng ký hộ tịch phải có mặt tại cơ quan đăng ký hộ tịch để ký vào Sổ hộ tịch và nhận kết quả bao gồm: khai sinh; kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch; khai tử, thì người có yêu cầu đăng ký hộ tịch chỉ được nhận kết quả theo phương thức nhận kết quả là giấy tờ hộ tịch tại cơ quan đăng ký hộ tịch. và người có yêu cầu đăng ký hộ tịch phải nộp, xuất trình các giấy tờ, tài liệu là thành phần hồ sơ đăng ký hộ tịch theo quy định pháp luật hộ tịch.

Đối với các việc hộ tịch mà người có yêu cầu đăng ký hộ tịch không phải có mặt tại cơ quan đăng ký hộ tịch để ký vào Sổ hộ tịch và nhận kết quả, nhưng vẫn phải nộp, xuất trình các giấy tờ, tài liệu là thành phần hồ sơ đăng ký hộ tịch theo quy định pháp luật hộ tịch, bao gồm: xác nhận thông tin hộ tịch; ghi vào Sổ hộ tịch việc khai sinh, kết hôn, ly hôn, hủy việc kết hôn, giám hộ, nhận cha, mẹ, con, xác định cha, mẹ, con, nuôi con nuôi, thay đổi hộ tịch, khai tử của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì người có yêu cầu đăng ký hộ tịch được lựa chọn nhận kết quả theo một trong các phương thức như: Nhận bản điện tử giấy tờ hộ tịch gửi qua thư điện tử, Kho quản lý dữ liệu điện tử của tổ chức, cá nhân đó; Nhận bản điện tử giấy tờ hộ tịch gửi vào thiết bị số, thông qua phương pháp truyền số liệu phù hợp, đảm bảo an toàn, bảo mật thông tin; Nhận kết quả là giấy tờ hộ tịch thông qua hệ thống bưu chính; Nhận kết quả là giấy tờ hộ tịch tại cơ quan đăng ký hộ tịch nhưng phải thực hiện việc nộp, xuất trình các giấy tờ, tài liệu theo quy định trước khi nhận kết quả. Trường hợp phải nộp bản sao hoặc xuất trình giấy tờ không phải là giấy tờ tùy thân mà người yêu cầu đăng ký hộ tịch đã có bản sao điện tử giấy tờ hoặc đã có thông tin trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử thì không phải nộp, xuất trình.

Do điều kiện cơ sở hạ tầng thông tin ở các địa phương chưa đồng bộ, việc sử dụng phương thức đăng ký trực tuyến của người dân còn chưa cao nên phạm vi, mức độ, thời điểm triển khai phương thức đăng ký hộ tịch trực tuyến đối với do các địa phương quyết định, không bắt buộc phải triển khai tại tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khi Nghị định 87/2020/NĐ-CP có hiệu lực.

FalsePhòng Hành chính Tư pháp
Bỏ quy định phạt cảnh cáo khi làm giấy khai sinh muộnThông báoTinBỏ quy định phạt cảnh cáo khi làm giấy khai sinh muộn/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Hiện hành, người có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em mà không thực hiện việc đăng ký đúng thời hạn quy định sẽ bị phạt cảnh cáo (theo khoản 1 Điều 27 Nghị định 110/2013/NĐ-CP).
7/23/2020 5:00 PMNoĐã ban hành

Tuy nhiên, Nghị định 82/2020/NĐ-CP đã bỏ quy định phạt cảnh cáo đối với hành vi không thực hiện việc đăng ký khai sinh đúng thời hạn quy định.

Theo khoản 1 Điều 15 Luật hộ tịch 2014: "Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh con, cha hoặc mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho con; trường hợp cha, mẹ không thể đăng ký khai sinh cho con thì ông hoặc bà hoặc người thân thích khác hoặc cá nhân, tổ chức đang nuôi dưỡng trẻ em có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em."

Đồng thời, tăng mức phạt đối với các hành vi vi phạm quy định về đăng ký khai sinh như sau:

- Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi tẩy xoá, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy tờ do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền cấp để làm thủ tục đăng ký khai sinh. (Hiện hành, phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng).

- Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

Cam đoan, làm chứng sai sự thật về việc sinh;

Cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật về nội dung khai sinh;

Sử dụng giấy tờ của người khác để làm thủ tục đăng ký khai sinh.

(Hiện hành, phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng, riêng hành vi làm giả giấy tờ để làm thủ tục đăng ký khai sinh bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng).

Nghị định 82/2020/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/9/2020 và thay thế Nghị định 110/2013/NĐ-CP  và Nghị định 27/2015/NĐ-CP.​

​​(Sưu tầm: Trang thông tin điện tử Thư viện pháp luật)

FalseNguyễn Thị Bảo Khuyên
03 trường hợp không được ủy quyền đăng ký hộ tịchThông báoTin03 trường hợp không được ủy quyền đăng ký hộ tịch/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Khi thực hiện các thủ tục đăng ký hộ tịch sau đây sẽ không được ủy quyền cho người khác thực hiện thay theo quy định tại Thông tư 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020:
7/23/2020 5:00 PMNoĐã ban hành

- Đăng ký kết hôn;

- Đăng ký lại việc kết hôn;

- Đăng ký nhận cha, mẹ, con.

Tuy những trường hợp trên không được ủy quyền đăng ký nhưng một bên có thể trực tiếp nộp hồ sơ tại cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền, không phải có văn bản ủy quyền của bên còn lại.

Liên quan đến việc ủy quyền đăng ký hộ tịch, Thông tư 04 cũng quy định về các trường hợp được ủy quyền sau đây:

- Người yêu cầu cấp bản sao trích lục hộ tịch, cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, yêu cầu đăng ký các việc hộ tịch theo quy định tại Điều 3 Luật hộ tịch được uỷ quyền cho người khác thực hiện thay (trừ 03 trường hợp đã nêu ở trên).

- Việc ủy quyền phải lập thành văn bản, được chứng thực theo quy định của pháp luật. Trường hợp người được ủy quyền là ông, bà, cha, mẹ, con, vợ, chồng, anh, chị, em ruột của người ủy quyền thì văn bản ủy quyền không phải chứng thực.

- Trường hợp người đi đăng ký khai sinh cho trẻ em là ông, bà, người thân thích khác theo quy định tại khoản 1 Điều 15 Luật hộ tịch thì không phải có văn bản ủy quyền của cha, mẹ trẻ em, nhưng phải thống nhất với cha, mẹ trẻ em về các nội dung khai sinh.​

​​(Sưu tầm: Trang thông tin điện tử Thư viện pháp luật)


FalseNguyễn Thị Bảo Khuyên
Đốt/xé giấy chứng nhận kết hôn: Có thể bị phạt tới 20 triệu đồngThông báoTinĐốt/xé giấy chứng nhận kết hôn: Có thể bị phạt tới 20 triệu đồng/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Đây là mức phạt hành chính đối với hành vi hủy hoại giấy tờ hộ tịch (trong đó có giấy chứng nhận kết hôn) quy định tại Nghị định 82/2020/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 01/9/2020).
7/23/2020 5:00 PMNoĐã ban hành

​​​

Theo khoản 1 Điều 2, điểm b khoản 1, khoản 3 Điều 3, khoản 7 Điều 4 Luật Hộ tịch 2014, Giấy chứng nhận kết hôn là một loại giấy tờ hộ tịch, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho hai bên nam, nữ khi đăng ký kết hôn.

Tại điểm a khoản 4 Điều 45 Nghị định 82/2020 quy định:

"Điều 45. Hành vi vi phạm nguyên tắc đăng ký, quản lý hộ tịch, sử dụng giấy tờ hộ tịch; xây dựng, quản lý và khai thác cơ sở dữ liệu hộ tịch

...

4. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Huỷ hoại giấy tờ hộ tịch; sổ hộ tịch;..."

Như vậy, hành vi hủy hoại (xé, đốt,...) giấy chứng nhận kết hôn có thể bị phạt đến 20 triệu đồng.

(Hiện hành, hành vi huỷ hoại giấy tờ hộ tịch bị phạt từ 03 - 05 triệu đồng, theo điểm b khoản 3 Điều 36 Nghị định 110/2013/NĐ-CP).

Ngoài ra, Nghị định 82/2020 cũng quy định mức xử phạt đối với một số hành vi vi phạm khi sử dụng giấy tờ hộ tịch như:

- Phạt tiền từ 01 - 03 triệu đồng đối với hành vi tẩy xoá, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy tờ hộ tịch (Hiện hành, phạt tiền từ 300 - 500 nghìn đồng).

- Phạt tiền từ 03 - 05 triệu đồng đối với hành vi cho người khác sử dụng giấy tờ hộ tịch của mình để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.

​​(Sưu tầm: Trang thông tin điện tử Thư viện pháp luật)

FalseNguyễn Thị Bảo Khuyên
Từ 01/9/2020, thách cưới quá cao có thể bị phạt tới 05 triệu đồngThông báoTinTừ 01/9/2020, thách cưới quá cao có thể bị phạt tới 05 triệu đồng/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Theo Nghị định 82/2020/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 01/9/2020), phạt tiền từ 03 - 05 triệu đồng đối với hành vi yêu sách của cải trong kết hôn.
7/23/2020 4:00 PMNoĐã ban hành

Cụ thể, phạt tiền từ 03 - 05 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau:

- Cản trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn hoặc cản trở ly hôn;

- Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

- Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

- Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

- Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

Theo khoản 2 Điều 55 Nghị định 167/2013/NĐ-CP phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100 - 300 nghìn đồng đối với hành vi cản trở người khác kết hôn, ly hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác.

Bên cạnh đó, phạt tiền từ 10 - 20 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau:

- Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ hoặc giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;

- Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi;

- Cưỡng ép kết hôn hoặc lừa dối kết hôn; cưỡng ép ly hôn hoặc lừa dối ly hôn;

- Lợi dụng việc kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình;

- Lợi dụng việc ly hôn để trốn tránh nghĩa vụ tài sản, vi phạm chính sách, pháp luật về dân số hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích chấm dứt hôn nhân.

(Sưu tầm: Trang thông tin điện tử Thư viện pháp luật)​​​​​

FalseNguyễn Thị Bảo Khuyên
Từ 1-9, tăng mức phạt cho hành vi ngoại tìnhTin ngành tư phápTinTừ 1-9, tăng mức phạt cho hành vi ngoại tình/hanhchinhtuphap/PublishingImages/2020-07/710ccde66d7e8920d06f_Key_22072020134121.jpg
Từ ngày 1-9, hành vi ngoại tình sẽ có thể bị phạt đến 5 triệu đồng, thay vì 1-3 triệu đồng như hiện nay.
7/22/2020 2:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 15-7, Chính phủ đã ban hành Nghị định 82/2020 thay thế Nghị định 110/2013 quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực hôn nhân gia đình.

Một điểm mới đáng chú ý tại Nghị định 82/2020 là việc quy định tăng gần gấp đôi mức phạt đối với hành vi ngoại tình.​

Theo đó, khoản 1 Điều 59 Nghị định 82/2020 quy định phạt tiền 3-5 triệu đồng đối với cá nhân vi phạm một trong các hành vi sau:

- Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ.

- Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác.

- Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ.

Hiện tại, mức phạt với các hành vi trên theo Nghị định 110/2013 là 1-3 triệu đồng.

​​​                                                                                                                                         Sưu tầm ​​​- Báo Pháp luật TP.Hồ Chí Minh


FalsePhòng Hành chính Tư pháp
Bộ Tư pháp lý giải quy định cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhânTin ngành tư phápTinBộ Tư pháp lý giải quy định cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân/hanhchinhtuphap/PublishingImages/2020-07/cuc-truong-nguyen-cong-khanh-1594785010337_Key_16072020160433.jpg
Ông Nguyễn Công Khanh - Cục trưởng Cục Hộ tịch, Quốc tịch và Chứng thực - lý giải quy định ghi tên người dự định cưới vào Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân và lộ trình loại bỏ thủ tục hành chính này.
7/16/2020 4:00 PMNoĐã ban hànhhttps://dantri.com.vn/xa-hoi/bo-tu-phap-ly-giai-quy-dinh-cap-giay-xac-nhan-tinh-trang-hon-nhan-20200715105533112.htm

​PV Dân trí trao đổi với ông Nguyễn Công Khanh - Cục trưởng Cục Hộ tịch, Quốc tịch và Chứng thực (Bộ Tư pháp) xung quanh Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân quy định tại Thông tư 04/2020/TT-BTP của Bộ Tư pháp (có hiệu lực thi hành từ ngày 16/7/2020) đang gây xôn xao dư luận.

Bộ Tư pháp lý giải quy định cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân - 1 

ông Nguyễn Công Khanh


- Thưa ông, quy định của Thông tư 04/2020/TT-BTP về việc ghi tên người dự định kết hôn vào Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đang nhận được sự quan tâm của dư luận. Đây có phải quy định mới không?

- Tại khoản 3 Điều 12 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ Tư pháp quy định: “Trường hợp yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để sử dụng vào mục đích kết hôn thì cơ quan đăng ký hộ tịch chỉ cấp 1 bản cho người yêu cầu. Trong Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân phải ghi rõ họ tên, năm sinh, quốc tịch, giấy tờ tùy thân của người dự định kết hôn, nơi dự định đăng ký kết hôn”.

Thực chất, đây không phải quy định mới. Bởi vấn đề này đã được quy định và thực hiện ổn định hơn 10 năm nay mà không phát sinh khó khăn, vướng mắc gì, cũng không để lại hệ lụy gì cho người dân và xã hội.

Cụ thể, tại khoản 2 Điều 10 Thông tư số 08.a/2010/TT-BTP của Bộ Tư pháp về việc ban hành và hướng dẫn việc ghi chép, lưu trữ, sử dụng sổ, biểu mẫu hộ tịch đã quy định: “Trong trường hợp sử dụng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để làm thủ tục đăng ký kết hôn, thì phải ghi rõ kết hôn với ai, ở đâu”.

Tại khoản 5 Điều 25 Thông tư số 15/2015/TT-BTP của Bộ Tư pháp cũng quy định: “Trường hợp sử dụng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để làm thủ tục đăng ký kết hôn thì phải ghi rõ họ tên, năm sinh, giấy tờ tùy thân của người dự định kết hôn, nơi dự định làm thủ tục kết hôn”.

Do đó, quy định tại khoản 3 Điều 12 Thông tư số 04/2020 của Bộ Tư pháp sẽ có hiệu lực từ ngày 16/7/2020 chỉ là kế thừa quy định hợp lý của 2 Thông tư trước đó.

Qua hơn 10 năm thực hiện và mỗi năm có hàng triệu người yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân theo quy định tại Thông tư số 08.a/2010/TT-BTP và Thông tư số 15/2015/TT-BTP, Bộ Tư pháp chưa nhận được phản ánh nào của cơ quan đăng ký hộ tịch cũng như người dân liên quan đến vấn đề này.

Bộ Tư pháp lý giải quy định cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân - 2 

Mẫu giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã thực hiện hơn 10 năm qua (Ảnh minh hoạ).

- Ngoài việc đăng ký kết hôn, Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân còn được sử dụng cho những mục đích gì, thưa ông?

- Hiện nay, Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân là loại giấy tờ được nhiều cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước yêu cầu phải nộp khi giải quyết các công việc cho người dân như: đăng ký kết hôn, giao dịch dân sự, ngân hàng, du học, du lịch, lao động....

Để thuận lợi cho việc sử dụng, Thông tư 04/2020 đã quy định rõ hơn và yêu cầu khai đúng, sử dụng đúng mục đích cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Mục đích là nhằm bảo vệ quyền lợi của người được cấp giấy, cũng như những người có liên quan, nhất là phụ nữ trong quan hệ hôn nhân với người nước ngoài.

- Tại sao phải ghi rõ họ tên, năm sinh, quốc tịch, nơi dự định kết hôn, giấy tờ tùy thân của người dự định kết hôn vào Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân (dùng để kết hôn)? Điều đó có làm hạn chế quyền của người dân hay ảnh hưởng đến bí mật đời tư không, thưa ông?

- Việc pháp luật yêu cầu ghi thông tin của người dự định kết hôn vào Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân (dùng để kết hôn), trước hết nhằm đề cao tính nghiêm túc, ý thức trách nhiệm của mỗi bên đối với hôn nhân vì mục tiêu Xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc” như Luật Hôn nhân và gia đình khẳng định.

Thứ hai là nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên, nhất là phụ nữ khi yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để kết hôn với người nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.

Thứ ba là có cơ sở để kiểm tra, xác minh trong trường hợp người dân yêu cầu cấp lại giấy này mà không nộp lại được Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã cấp trước đó.

Việc ghi rõ thông tin của người dự định kết hôn trên Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân không làm hạn chế quyền của cá nhân, bởi giấy này chỉ xác nhận về tình trạng hôn nhân của cá nhân (là hiện tại người đó đã kết hôn hay chưa kết hôn với ai…), mà không có giá trị ràng buộc các bên phải kết hôn với nhau.

Giấy tờ hộ tịch nói chung, Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân nói riêng là giấy tờ xác nhận về thông tin nhân thân của cá nhân, nên cá nhân có trách nhiệm bảo quản, giữ gìn bí mật thông tin của mình và của những người liên quan.

Cơ quan đăng ký hộ tịch và công chức tư pháp - hộ tịch cũng có trách nhiệm bảo vệ bí mật này theo quy định của Luật Hộ tịch và Bộ luật dân sự.

- Bộ Tư pháp có biện pháp gì để hiện đại hóa quá trình đăng ký hộ tịch nói chung, cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân nói riêng hay không?

- Hiện nay Bộ Tư pháp đã cơ bản hoàn thiện Phần mềm đăng ký, quản lý hộ tịch dùng chung và triển khai đồng bộ đến tất cả các cơ quan đăng ký hộ tịch trên cả nước.

Trong bối cảnh khi Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử của Bộ Tư pháp và Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư của Bộ Công an mà xây dựng xong để vận hành đồng bộ, thống nhất trên cả nước, thì thông tin về tình trạng hôn nhân của công dân sẽ được cập nhật, quản lý chặt chẽ trên hệ thống.

Khi ấy, việc khai thác tình trạng hôn nhân (để giải quyết thủ tục hành chính) sẽ không chỉ do cơ quan đăng ký hộ tịch, mà còn do cơ quan thực hiện thủ tục hành chính tiến hành thông qua việc kết nối, chia sẻ, khai thác dữ liệu từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Đó là lúc có thể tuyên bố loại bỏ Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân trong thành phần hồ sơ của các thủ tục hành chính.

- Xin cảm ơn ông!

                                                                                                                                                                                          Thế Kha (thực hiện)- Báo Dân Trí



FalsePhòng Hành chính Tư pháp
Công văn số 1150/STP-HCTP ngày 13/7/2020 của Sở Tư pháp về việc triển khai thực hiện các quy định của Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020Văn bản hướng dẫn nghiệp vụTinCông văn số 1150/STP-HCTP ngày 13/7/2020 của Sở Tư pháp về việc triển khai thực hiện các quy định của Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
7/14/2020 10:00 AMNoĐã ban hànhFalsePhòng Hành chính Tư pháp
Những điểm mới của Thông tư số 04/2020/TT-BTP quy định chi tiết một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CPVăn bản điều hànhBài viếtNhững điểm mới của Thông tư số 04/2020/TT-BTP quy định chi tiết một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
7/14/2020 10:00 AMNoĐã ban hành

        Ngày 28/5/2020, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 04/2020/TT-BTP quy định chi tiết một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ; Thông tư có hiệu lực từ ngày 16/7/2020. Thông tư có một số điểm mới như sau:

        1. Việc ủy quyền đăng ký hộ tịch.

       Kế thừa quy định tại Thông tư số 15/2015/TT-BTP về ủy quyền trong đăng ký hộ tịch đối với một số trường hợp được ủy quyền cho người khác làm thay (trừ trường hợp đăng ký kết hôn, đăng ký lại kết hôn, đăng ký nhận cha mẹ con). Việc ủy quyền phải lập thành văn bản, được chứng thực theo quy định của pháp luật.

Trường hợp người được ủy quyền là ông, bà, cha, mẹ, con, vợ, chồng, anh, chị, em ruột của người ủy quyền thì văn bản ủy quyền không phải công chứng, chứng thực, nhưng phải có giấy tờ chứng minh mối quan hệ với người uỷ quyền.

       Tuy nhiên, Thông tư 04 đã quy định rõ hơn việc ủy quyền đăng ký khai sinh cho trẻ em, cụ thể: Trường hợp người đi đăng ký khai sinh cho trẻ em là ông, bà, người thân thích khác theo quy định tại khoản 1 Điều 15 Luật Hộ tịch thì không phải có văn bản ủy quyền của cha, mẹ trẻ em, nhưng phải thống nhất với cha, mẹ trẻ em về các nội dung khai sinh.

       Do vậy, kể từ ngày 16/7/2020, ông, bà hoặc người thân thích khác hoặc cá nhân, tổ chức đang nuôi dưỡng trẻ em đi đăng ký khai sinh cho trẻ không cần có văn bản ủy quyền của cha, mẹ trẻ.

       2. Quy định về đặt tên và xác định họ, dân tộc, quê quán của con.

       Nội dung khai sinh được xác định theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật Hộ tịch, khoản 1 Điều 4 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP và hướng dẫn sau đây:

       - Việc xác định họ, dân tộc, đặt tên cho trẻ em phải phù hợp với pháp luật và yêu cầu giữ gìn bản sắc dân tộc, tập quán, truyền thống văn hóa tốt đẹp của Việt Nam; không đặt tên quá dài, khó sử dụng.

       - Trường hợp cha, mẹ không thỏa thuận được về họ, dân tộc, quê quán của con khi đăng ký khai sinh thì họ, dân tộc, quê quán của con được xác định theo tập quán nhưng phải bảo đảm theo họ, dân tộc, quê quán của cha hoặc mẹ.

       3. Giải quyết yêu cầu đăng ký hộ tịch khi không nhận được kết quả xác minh

       Trường hợp việc đăng ký hộ tịch cần xác minh theo quy định, sau thời hạn 20 ngày kể từ ngày gửi văn bản yêu cầu xác minh mà không nhận được văn bản trả lời, thì cơ quan đăng ký hộ tịch tiếp tục giải quyết hồ sơ theo quy định. Đối với trường hợp xác minh về tình trạng hôn nhân thì cho phép người yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có văn bản cam đoan về tình trạng hôn nhân của mình.

       4. Giấy tờ, tài liệu là cơ sở đăng ký lại khai sinh

      Ngoài các quy định về giấy tờ, tài liệu là cở sở đăng ký lại khai sinh theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 26 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP, Thông tư số 04/2020/TT-BTP đã hướng dẫn cụ thể về trường hợp giấy tờ của người yêu cầu đăng ký lại khai sinh không có thông tin chứng minh quan hệ cha, mẹ, con thì cơ quan đăng ký hộ tịch có văn bản đề nghị cơ quan công an có thẩm quyền xác minh.

      Trường hợp cơ quan công an trả lời không có thông tin thì cơ quan đăng ký hộ tịch cho người yêu cầu đăng ký lại khai sinh lập văn bản cam đoan về thông tin của cha, mẹ và xác định nội dung khai sinh theo văn bản cam đoan.

      5. Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân

      Thông tư hướng dẫn cụ thể về việc cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân như sau:

     - Trường hợp người yêu cầu cấp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để kết hôn mà không nộp lại được Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã được cấp trước đây, thì người yêu cầu phải trình bày rõ lý do không nộp lại được Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, cơ quan đăng ký hộ tịch có văn bản trao đổi với nơi dự định đăng ký kết hôn trước đây để xác minh. Trường hợp không xác minh được hoặc không nhận được kết quả xác minh thì cơ quan đăng ký hộ tịch cho phép người yêu cầu lập văn bản cam đoan về tình trạng hôn nhân.

      - Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị đến thời điểm thay đổi tình trạng hôn nhân hoặc 06 tháng kể từ ngày cấp, tùy theo thời điểm nào đến trước.

      - Số lượng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để sử dụng vào mục đích kết hôn: Trường hợp yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để sử dụng vào mục đích kết hôn thì cơ quan đăng ký hộ tịch chỉ cấp một (01) bản cho người yêu cầu. Trong Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân phải ghi rõ họ tên, năm sinh, quốc tịch, giấy tờ tùy thân của người dự định kết hôn, nơi dự định đăng ký kết hôn.

      - Số lượng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân sử dụng vào mục đích khác: Trường hợp yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để sử dụng vào mục đích khác, không phải để đăng ký kết hôn, thì người yêu cầu không phải đáp ứng điều kiện kết hôn; trong Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân phải ghi rõ mục đích sử dụng, không có giá trị sử dụng để đăng ký kết hôn. Số lượng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được cấp theo yêu cầu.

      - Trường hợp yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để kết hôn với người cùng giới tính hoặc kết hôn với người nước ngoài tại Cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam thì cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối giải quyết.

      6. Đơn giản hóa chứng cứ chứng minh cha, mẹ, con

Chứng cứ để chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại khoản 1 Điều 25 và khoản 1 Điều 44 của Luật Hộ tịch gồm một trong các giấy tờ, tài liệu sau đây:

      - Văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan, tổ chức khác có thẩm quyền ở trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con, quan hệ mẹ con.

      - Trường hợp không có chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại khoản 1 Điều này thì các bên nhận cha, mẹ, con lập văn bản cam đoan về mối quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại Điều 5 Thông tư này, có ít nhất hai người làm chứng về mối quan hệ cha, mẹ, con (trước đây, ngoài văn bản cam đoan thì phải có thư từ, phim ảnh, băng, đĩa, đồ dùng, vật dụng khác chứng minh mối quan hệ cha con, quan hệ mẹ con và có ít nhất hai người thân thích của cha, mẹ làm chứng).

      7. Bổ sung trường hợp con do người vợ sinh ra hoặc có thai trong thời ký hôn nhân nhưng không được thừa nhận là con chung

     Trường hợp con do người vợ sinh ra hoặc có thai trong thời kỳ hôn nhân nhưng vợ hoặc chồng không thừa nhận là con chung hoặc người khác muốn nhận con thì do Tòa án nhân dân xác định theo quy định pháp luật.

Trường hợp Tòa án nhân dân từ chối giải quyết thì cơ quan đăng ký hộ tịch tiếp nhận, giải quyết yêu cầu đăng ký khai sinh cho trẻ em chưa xác định được cha hoặc đăng ký nhận cha, con, hồ sơ phải có văn bản từ chối giải quyết của Tòa án và chứng cứ chứng minh quan hệ cha, con.

      8. Biểu mẫu giấy tờ hộ tịch

     Các giấy tờ hộ tịch do Bộ Tư pháp in ấn, phát hành, bao gồm: 

  • Giấy khai sinh (bản chính);
  • Giấy khai sinh (bản sao);
  • Giấy chứng nhận kết hôn (bản chính).

      (Trước đây theo Thông tư số 15/2015/TT-BTP, không có Giấy khai sinh (bản sao) mà sử dụng Trích lục khai sinh (bản sao)).

      Với một số quy định mới, Thông tư số 04/2020/TT-BTP đã khắc phục được những vướng mắc, bất cập phát sinh trong thời gian qua, đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người yêu cầu đăng ký hộ tịch./.​

FalsePhòng Hành chính Tư pháp
Mẫu giấy tờ, sổ hộ tịch theo Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ Tư pháp Văn bản hướng dẫn nghiệp vụTinMẫu giấy tờ, sổ hộ tịch theo Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ Tư pháp /Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
7/9/2020 11:00 PMNoĐã ban hành
FalsePhòng Hành chính Tư pháp
Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịchVăn bản hướng dẫn nghiệp vụTinThông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
7/9/2020 10:00 AMNoĐã ban hành
FalsePhòng Hành chính Tư pháp
Một số điểm mới của Thông tư số 04/2020/TT-BTP về hộ tịchVăn bản hướng dẫn nghiệp vụTinMột số điểm mới của Thông tư số 04/2020/TT-BTP về hộ tịch/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
7/9/2020 10:00 AMNoĐã ban hành

Một số điểm mới của Thông tư số 04/2020/TT-BTP về hộ tịch


Bắt đầu có hiệu lực từ ngày 16/7/2020, Thông tư số 04/2020/TT-BTP hướng dẫn Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP, góp phần khắc phục những khó khăn, bất cập trong công tác đăng ký, quản lý hộ tịch, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân trong việc thực hiện quyền, nghĩa vụ đăng ký hộ tịch.

Theo đó, Thông tư 04/2020 có một số điểm mới nổi bật sau đây:

- Không đặt tên con quá dài, khó sử dụng

Cụ thể, việc xác định họ, dân tộc, đặt tên cho trẻ em phải phù hợp với pháp luật và yêu cầu giữ gìn bản sắc dân tộc, tập quán, truyền thống văn hóa tốt đẹp của Việt Nam; không đặt tên quá dài, khó sử dụng.

Trường hợp cha, mẹ không thỏa thuận được về họ, dân tộc, quê quán của con khi đăng ký khai sinh thì họ, dân tộc, quê quán của con được xác định theo tập quán nhưng phải bảo đảm theo họ, dân tộc, quê quán của cha hoặc mẹ.

- Quy định mới về giá trị sử dụng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân

Hiện hành, Khoản 1 Điều 23 Nghị định 123/2015 thì Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị 6 tháng kể từ ngày cấp.

Thông tư 04/2020 quy định chi tiết hơn: Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị đến thời điểm thay đổi tình trạng hôn nhân hoặc 06 tháng kể từ ngày cấp, tùy theo thời điểm nào đến trước.

Ví dụ: Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được cấp ngày 03/02/2020 nhưng ngày 10/02/2020, người được cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã đăng ký kết hôn thì Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân chỉ có giá trị sử dụng đến ngày 10/02/2020.

- Ông bà không cần giấy ủy quyền khi khai sinh cho cháu

Theo đó, trường hợp người đi đăng ký khai sinh cho trẻ em là ông, bà, người thân thích khác theo quy định tại khoản 1 Điều 15 Luật Hộ tịch thì không phải có văn bản ủy quyền của cha, mẹ trẻ em, nhưng phải thống nhất với cha, mẹ trẻ em về các nội dung khai sinh.

Hiện hành, trường hợp người được ủy quyền là ông, bà, cha, mẹ, con, vợ, chồng, anh, chị, em ruột của người ủy quyền thì văn bản ủy quyền không phải công chứng, chứng thực, nhưng phải có giấy tờ chứng minh mối quan hệ với người uỷ quyền.

- Hướng dẫn chi tiết việc xác minh trong thủ tục đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài

Cụ thể, việc xác minh trong thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 38 Luật hộ tịch, khoản 1 Điều 31 Nghị định 123/2015 được thực hiện theo hướng dẫn sau đây:

Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Phòng Tư pháp có trách nhiệm nghiên cứu, thẩm tra hồ sơ đăng ký kết hôn.

Trường hợp có khiếu nại, tố cáo việc kết hôn không đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình hoặc xét thấy có vấn đề cần làm rõ về nhân thân của bên nam, bên nữ hoặc giấy tờ trong hồ sơ đăng ký kết hôn thì Phòng Tư pháp phối hợp với cơ quan có liên quan xác minh làm rõ.

Trong quá trình thẩm tra, xác minh hồ sơ, nếu thấy cần thiết, Phòng Tư pháp làm việc trực tiếp với các bên để làm rõ về nhân thân, sự tự nguyện kết hôn, mục đích kết hôn.

- Chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con đơn giản hơn

Chứng cứ để chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại khoản 1 Điều 25 và khoản 1 Điều 44 của Luật Hộ tịch gồm một trong các giấy tờ, tài liệu sau đây:

+ Văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan, tổ chức khác có thẩm quyền ở trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con, quan hệ mẹ con.

+ Trường hợp không có chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại khoản 1 Điều này thì các bên nhận cha, mẹ, con lập văn bản cam đoan về mối quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại Điều 5 Thông tư 04/2020, có ít nhất hai người làm chứng về mối quan hệ cha, mẹ, con.

Hiện hành, ngoài văn bản cam đoan có ít nhất hai người thân thích của cha, mẹ làm chứng, còn phải có thư từ, phim ảnh, băng, đĩa, đồ dùng, vật dụng khác chứng minh mối quan hệ cha con, quan hệ mẹ con.

- Bổ sung quy định về cải chính hộ tịch

Việc cải chính hộ tịch chỉ được giải quyết sau khi xác định có sai sót khi đăng ký hộ tịch; không cải chính nội dung trên giấy tờ hộ tịch đã được cấp hợp lệ nhằm hợp thức hóa thông tin trên hồ sơ, giấy tờ cá nhân khác.

Sai sót trong đăng ký hộ tịch là sai sót của người đi đăng ký hộ tịch hoặc sai sót của cơ quan đăng ký hộ tịch.

Việc cải chính nội dung đăng ký khai tử thuộc thẩm quyền của cơ quan đã đăng ký khai tử, theo đề nghị của người có trách nhiệm đăng ký khai tử quy định tại Điều 33 Luật hộ tịch.

Nguồn: thuvienphapluat.vn​

FalsePhòng Hành chính Tư pháp
Công văn số 576/TB-HVTP ngày 11/6/2020 của Học viện Tư pháp về việc chiêu sinh lớp bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch cho công chức làm công tác hộ tịch tại UBND cấp xã, cấp huyện (đợt 2)Thông báoTinCông văn số 576/TB-HVTP ngày 11/6/2020 của Học viện Tư pháp về việc chiêu sinh lớp bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch cho công chức làm công tác hộ tịch tại UBND cấp xã, cấp huyện (đợt 2)/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
6/18/2020 4:00 PMNoĐã ban hành
FalsePhòng Hành chính Tư pháp
cập nhật tên đơn vị hành chính trên Hệ thống thông tin đăng ký và quản lý hộ tịchVăn bản hướng dẫn nghiệp vụTincập nhật tên đơn vị hành chính trên Hệ thống thông tin đăng ký và quản lý hộ tịch/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
4/16/2020 4:00 PMNoĐã ban hànhFalsePhòng Hành chính Tư pháp
Ghi quốc tịch trong Giấy khai sinh và thẩm quyền đăng ký lại việc sinh, tử, kết hônVăn bản hướng dẫn nghiệp vụTinGhi quốc tịch trong Giấy khai sinh và thẩm quyền đăng ký lại việc sinh, tử, kết hôn/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
4/14/2020 11:00 AMNoĐã ban hànhFalsePhòng Hành chính Tư pháp
Thông báo tổ chức lớp bồi dưỡng và cấp chứng chỉ nghiệp vụ hộ tịchVăn bản điều hànhTinThông báo tổ chức lớp bồi dưỡng và cấp chứng chỉ nghiệp vụ hộ tịch/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
3/2/2020 11:00 AMNoĐã ban hànhFalsePhòng Hành chính Tư pháp
Công văn số 188/STP-HCTP ngày 14/02/2020 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc thay đổi tài khoản người dùng trên Phần mềm hộ tịch của Bộ Tư phápVăn bản điều hànhTinCông văn số 188/STP-HCTP ngày 14/02/2020 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương về việc thay đổi tài khoản người dùng trên Phần mềm hộ tịch của Bộ Tư pháp/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
2/24/2020 9:00 AMNoĐã ban hành
FalsePhòng Hành chính Tư pháp
Công chức tư pháp hộ tịch phải có bằng trung cấp luật trở lên?Văn bản điều hànhTinCông chức tư pháp hộ tịch phải có bằng trung cấp luật trở lên?/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/3/2019 8:00 PMNoĐã ban hành

Công chức tư pháp hộ tịch phải có bằng trung cấp luật trở lên?

Để khắc phục những yếu kém, hạn chế trong đội ngũ công chức tư pháp hộ tịch hiện nay, Luật Hộ tịch đã nêu rõ điều kiện, tiêu chuẩn của chức danh này.


Điều kiện trở thành công chức tư pháp hộ tịch hiện nay

Theo quy định tại Điều 72 Luật Hộ tịch hiện hành, công chức làm công tác hộ tịch gồm: Công chức tư pháp, hộ tịch ở cấp xã, ở phòng tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện.

Trong đó, điều kiện, tiêu chuẩn để trở thành công chức tư pháp hộ tịch cấp xã gồm:

- Có trình độ từ trung cấp luật trở lên và đã được bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch;

- Có chữ viết rõ ràng và trình độ tin học phù hợp theo yêu cầu công việc.

Với công chức làm việc ở Phòng tư pháp thì phải có trình độ cử nhân luật trở lên và được bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch.

Do đó, yêu cầu tối thiểu về trình độ đào tạo để có thể trở thành công chức tư pháp, hộ tịch là phải có bằng trung cấp luật trở lên.

Như vậy, từ ngày 01/01/2016, người có thẩm quyền chỉ được bố trí, tuyển dụng mới người có đủ tiêu chuẩn đã nêu ở trên làm công tác hộ tịch.

h.jpg 
Tiêu chuẩn trở thành công chức tư pháp, hộ tịch (Ảnh minh họa)

 

Sắp tới, công chức tư pháp, hộ tịch có thể do 2 người đảm nhiệm?

Theo quy định hiện nay, tại Thông tư liên tịch số 03/2010/TTLT-BNV-BTC-BLĐTB&XH, căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể của từng xã, phường, thị trấn thì có 02 chức danh được bố trí 02 người đảm nhiệm:

- Chức danh văn hóa, xã hội;

- Chức danh địa chính, nông nghiệp, xây dựng và môi trường (với các xã) hoặc địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (với các phường, thị trấn).

Tuy nhiên, hiện nay, Bộ Nội vụ đang lấy ý kiến về dự thảo Thông tư hướng dẫn cán bộ, công chức cấp xã trong đó có đề xuất thêm 02 chức danh cấp xã có thể bố trí 02 người đảm nhiệm là chức danh tư pháp, hộ tịch và văn phòng, thống kê.

Dù vậy, vẫn phải bảo đảm tổng số lượng cán bộ, công chức cấp xã được bố trí theo quyết định phân loại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn bằng hoặc thấp hơn số lượng quy định tại Điều 4 Nghị định 92/2009 sửa đổi năm 2019:

- Loại xã cấp 1: Tối đa 23 người;

- Loại xã cấp 2: Tối đa 21 người;

- Loại xã cấp 3: Tối đa 19 người.

Lưu ý rằng: Những chức danh công chức cấp xã bố trí 02 người đảm nhiệm, khi tuyển dụng, ghi hồ sơ lý lịch và sổ bảo hiểm xã hội phải thống nhất theo đúng tên gọi của chức danh công chức cấp xã.

Như vậy, nếu dự thảo này được thông qua, công chức tư pháp, hộ tịch có thể được bố trí 02 người đảm nhiệm.

Nguồn: luatvietnam.vn

FalsePhòng Hành chính Tư pháp
Hướng dẫn gửi dữ liệu đăng ký khai sinh của trẻ em dưới 6 tuổi sang cơ quan bảo hiểm xã hộiVăn bản điều hànhHướng dẫn gửi dữ liệu đăng ký khai sinh của trẻ em dưới 6 tuổi sang cơ quan bảo hiểm xã hội/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/31/2019 11:00 AMNoĐã ban hànhFalsePhòng Hành chính Tư pháp
1 - 30Next
Ảnh
Video
Audio